1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số đặc điểm dịch tễ học, sinh học của Fasciola spp truyền lây giữa trâu, bò, dê và người tại hai huyện Gia Viễn, Nho Quan tỉnh Ninh Bình và hiệu lực tẩy sán của phar dectocid

93 498 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 3,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

584.2.1 Sự phát triển của trứng trong điều kiện phòng thí nghiệm 584.2.2 Hình thái cấu tạo, kích thước sức sống của Miracidium 614.2.3 Sự hoạt động của Cercaria trong môi trường nước 624

Trang 1

bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp hà nội

- -

phan hữu mạnh

Một số đặc điểm dịch tễ học, sinh học

của Fasciola spp truyền lây giữa trâu, bò, dê và người tại hai huyện Gia Viễn, Nho Quan tỉnh Ninh Bình

và hiệu lực tẩy sán của phar - dectocid

luận văn thạc sĩ nông nghiệp

Chuyên ngành : Thú y Mã số : 60.62.50

Người hướng dẫn khoa học: Ts Nguyễn Văn Thọ

hà nội - 2009

Trang 2

lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, hình ảnh và kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ luận văn nào khác

Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đ2 được chỉ

rõ nguồn gốc và mọi sự giúp đỡ đ2 được cảm ơn

người viết luận văn

Phan Hữu Mạnh

Trang 3

lời cảm ơn

Tôi xin bầy tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới:

Ts Nguyễn Văn Thọ là người hướng dẫn khoa học trực tiếp đ2 tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, đóng góp nhiều ý kiến quan trọng trong từng bước nghiên cứu của quá trình thực hiện luận văn

Tập thể các thầy, cô trong Bộ môn Ký sinh trùng - Khoa Thú Y, Trường

Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội

Các thầy cô trong Viện Sau Đại Học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội

Ban l2nh đạo và các cán bộ, nhân viên Chi Cục Thú Y tỉnh Ninh Bình Ban l2nh đạo và các cô chú, anh chị cán bộ kỹ thuật tại Trạm Thú y và

Uỷ ban nhân dân các x2 Gia Hoà, x2 Gia Phú huyện Gia Viễn và các x2 Phú Sơn, x2 Phú Long huyện Nho Quan

Cảm ơn các nhà khoa học trong ngành, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp

đ2 giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và công tác

Tác giả

Phan Hữu Mạnh

Trang 4

mục lục

1.3 ý nghĩa khoa học và tính thực tiễn của đề tài 3

2.1 Tình hình chăn nuôi trâu, bò, dê ở nước ta hiện nay 42.2 Bệnh sán lá gan do Fasciola spp trên trâu, bò, dê 42.3 Tình hình nghiên cứu Fasiola spp trên thế giới 102.4 Tình hình nghiên cứu Fasiola spp ở trong nước 12

3 Địa điểm - đối tượng - vật liệu - nội dung và

3.7 Phương pháp nghiên cứu và bố trí thí nghiệm 26

Trang 5

4 kết quả nghiên cứu và thảo luận 384.1 Dịch tễ học của Fasciola spp ở trâu, bò, dê tại địa điểm nghiên

4.1.1 Thành phần loài, tỷ lệ và cường độ nhiễm Fasciola spp ở trâu, bò,

4.1.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm Fasciola spp ở trâu, bò, dê bằng phương

4.1.3 Tình hình nhiễm kén Adolescaria của Fasciola spp trên rau thủy

4.1.4 Tình hình nhiễm Fasciola gigantica trên người ở tỉnh Ninh Bình 574.2 Một vài đặc điểm sinh học của sán lá gan Fasciola gigantica 584.2.1 Sự phát triển của trứng trong điều kiện phòng thí nghiệm 584.2.2 Hình thái cấu tạo, kích thước sức sống của Miracidium 614.2.3 Sự hoạt động của Cercaria trong môi trường nước 624.2.4 Sự hoạt động và hình thái Adolescaria trong môi trường nước 634.2.5 Các giai đoạn phát triển của mầm bệnh sán lá gan Fasciola

gigantica trong ốc Limnaea viridis (vật chủ trung gian) 654.3 Đề xuất biện pháp phòng trị bệnh do Fasciola spp ở trâu, bò, dê 70

Trang 6

danh môc ch÷ viÕt t¾t

F gigantica Fasciola gigantica

F hepatica Fasciola hepatica

Trang 7

4.8 Tỷ lệ nhiễm Adolescaria của Fasciola spp trên rau thủy sinh tại 2

4.9 Tình hình nhiễm Fasciola spp trên người tại 2 huyện Gia Viễn và

4.10 Sự phát triển của trứng trong điều kiện phòng thí nghiệm 594.11 Kích thước, hình thái, mầu sắc của các giai đoạn ấu trùng

Fasciola gigantica ở môi trường ngoại cảnh 644.12 Các giai đoạn ấu trùng của sán lá gan Fasciola gigantica trong

4.13 Kích thước, hình thái, mầu sắc của các giai đoạn ấu trùng 694.14 Mức độ an toàn khi dùng thuốc tẩy Phar-dectocid 734.15 Hiệu lực của thuốc Phar-dectocid tại địa điểm nghiên cứu 74

Trang 8

danh mục đồ thị

4.1 Tỷ lệ nhiễm Fasciola gigantica ở trâu, bò, dê bằng phương pháp

mổ khám tại hai huyện Gia Viễn và Nho Quan 404.2 Tỷ lệ nhiễm Fasciola spp trâu, bò, dê giữa hai vùng sinh thái 464.3a Cường độ nhiễm Fasciola spp ở trâu, bò, dê qua xét nghiệm phân

4.3b Cường độ nhiễm Fasciola spp ở trâu, bò, dê qua xét nghiệm phân

4.4a Tỷ lệ nhiễm Fasciola spp ở trâu theo lứa tuổi tại 2 huyện 534.4b Tỷ lệ nhiễm Fasciola spp ở bò theo lứa tuổi tại 2 huyện 534.4c Tỷ lệ nhiễm Fasciola spp ở dê theo lứa tuổi tại 2 huyện 54

Trang 10

1 Mở đầu

1.1 Đặt vấn đề

Việt Nam là nước nông nghiệp vì vậy để phát triển nền kinh tế thì chúng ta phải chú trọng và quan tâm nhiều hơn nữa tới nông nghiệp về trồng trọt cũng như về công tác chăn nuôi thú y, để góp phần giải quyết về nhu cầu thực phẩm, sức cầy kéo và tăng thêm thu nhập cho người chăn nuôi, đặc biệt

đối với cư dân vùng cao, vùng trung du, miền núi

Trong những năm gần đây nhà nước ta đ2 ban hành nhiều chủ trương, chính sách khuyến khích người cho người chăn nuôi như hỗ trợ cải tạo đàn giống, cho vay vốn ưu đ2i, vệ sinh phòng trừ dịch bệnh và cải tiến quy trình chăn nuôi, vì vậy ngành chăn nuôi của ta đ2 đạt được những thành công nhất

định Bên cạnh những thành công đó ta vẫn phải kể đến những trở ngại do dịch bệnh gây ra, trong đó phải nhắc đến các bệnh ký sinh trùng Các bệnh này ở

điều kiện khí hậu nóng ẩm ở nước ta đ2 diễn ra hết sức đa dạng và phong phú

Đàn gia súc thường bị nhiễm nhiều loài ký sinh trùng với tỷ lệ và cường độ nhiễm cao nó diễn ra không kể mùa vụ và thời tiết Chúng thường làm giảm khả năng sinh trưởng và phát triển của vật nuôi, giảm chất lượng thực phẩm, giảm sức cầy kéo Mặt khác ở dạng trưởng thành và dạng ấu trùng của ký sinh trùng đều gây tổn thương cho nhiều cơ quan trong cơ thể

Đặc biệt nguy hiểm hơn nữa là những ký sinh trùng này còn truyền lây

và gây bệnh cho con người, trên thế giới có khoảng 300.000 người mắc bệnh sán lá gan lớn ở hơn 40 quốc gia ở Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi, Tây Thái Bình Dương, Châu á Bệnh ký sinh trùng này gây những tổn thương ở gan, ở mật người có thể dẫn tới tử vong do vỡ bao gan, xuất huyết hay nhiễm trùng

do viêm phúc mạc Vì vậy bệnh ký sinh trùng truyền lây giữa trâu, bò, dê và người vô cùng phức tạp và nguy hiểm đến sức khỏe của con người

Trang 11

Việt Nam là một nước nhiệt đới và là nước đang phát triển, điều kiện tự nhiên, x2 hội, tập quán sinh hoạt ăn uống đ2 tạo điều kiện thuận lợi cho sự lưu hành và phát triển của giun sán Bệnh sán lá gan truyền lây từ gia súc sang người liên quan chặt chẽ với tập quán sinh hoạt của người Việt Nam là ăn rau sống Bệnh xuất hiện nhiều ở các tỉnh trong cả nước, có tỉnh có 1/3 dân số bị nhiễm sán vì sao ở nước ta có tỷ lệ nhiễm cao như vậy là do việc chẩn đoán, phòng chống và điều trị bệnh sán lá gan còn thấp Do vậy bệnh sán lá gan truyền lây qua thức ăn ở Việt Nam ngày càng phát triển, phát hiện nhiều hơn ở các tỉnh và phân bố trên diện rộng

Tuy nhiên phần lớn các ký sinh trùng truyền lây ở gia súc và người chủ yếu ở thể m2n tính, tác hại do chúng gây ra thường âm thầm và dai dẳng nên ở nhiều địa phương, các cấp chính quyền và người chăn nuôi không hiểu rõ được tầm quan trọng của việc phòng chống và điều trị bệnh sán lá gan lớn cho gia súc Chúng ta đ2 tiến hành nhiều nghiên cứu và điều tra phòng chống bệnh sán lá gan lớn truyền lây qua thức ăn giữa vật nuôi và người đ2 đạt được nhiều kết quả nhất định Tuy vậy bệnh ký sinh trùng truyền lây qua thức ăn ở nhiều địa phương chưa được quan tâm một cách cụ thể và đầy đủ, đặc biệt là ở các cơ sở

y tế trong cả nước chưa quan tâm tới các bệnh do giun sán gây ra

Ninh Bình là tỉnh trung du và miền núi có diện tích tương đối rộng với diện tích là 139,2 nghìn ha và là tỉnh có tiềm năng phát triển ngành chăn nuôi trâu, bò, dê Ngành chăn nuôi đại gia súc này dần dần trở thành ngành kinh tế chính Tuy nhiên các căn bệnh về ký sinh trùng đặc biệt là bệnh sán lá gan lớn truyền lây qua thức ăn giữa vật nuôi và người chưa được các cấp chính quyền

địa phương và người chăn nuôi quan tâm

Xuất phát từ những thực tế trên tôi lựa chọn đề tài: “Một số đặc điểm dịch tễ học, sinh học của Fasciola spp truyền lây giữa trâu, bò, dê và người tại hai huyện Gia Viễn, Nho Quan tỉnh Ninh Bình và biện hiệu lực tẩy sán của Phar - Dectocid” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ của mình

Trang 12

1.2 Mục đích nghiên cứu

- Xác định một số đặc điểm sinh học của sán lá gan Fasciola spp

- Định danh được loài sán lá gan Fasciola spp ký sinh ở vật nuôi

- Xác định biến động tình hình nghiễm sán lá gan Fasciola spp theo lứa tuổi của vật nuôi và theo từng vùng sinh thái khác nhau

- Xác định nguyên nhân người nhiễm sán lá gan Fasciola spp

- Xác định một số loại thuốc tẩy có hiệu lực cao và an toàn khi sử dụng cho vật nuôi

- Xây dựng các biện pháp diệt trừ sán trong phân

1.3 ý nghĩa khoa học và tính thực tiễn của đề tài

- Kết quả nghiên cứu nhằm bổ sung, cung cấp cơ sở lý luận về bệnh ký sinh trùng truyền lây qua thức ăn giữa vật nuôi và người

- Kết quả nghiên cứu góp phần vào công tác chẩn đoán phát hiện nguyên nhân vật nuôi và người bị nhiễm bệnh và xây dựng các biện pháp phòng trừ

- Bổ xung các thông tin về tình hình nhiễm bệnh của vật nuôi và người

và đường truyền lây của căn bệnh

- Xây dựng các biện pháp phòng trị bệnh sán lá gan trên đàn trâu, bò, dê tại địa phương

Trang 13

2 Tổng quan tài liệu

2.1 Tình hình chăn nuôi trâu, bò, dê ở nước ta hiện nay

Trong những năm gần đây vì nhiều lý do khác nhau số lượng đàn trâu,

bò, dê trong cả nước tăng trưởng chậm Theo thống kê mới nhất năm 2008 cả nước có 2996,4 nghìn con trâu, sản lượng thịt trâu năm 2008 là 67505 tấn Các tỉnh có số lượng đàn trâu nhiều nhất nước ta là Cao Bằng, Hà Giang, Sơn La, Tuyên Quang, Hòa Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa [39] Mục tiêu phát triển đàn trâu duy trì độ tăng trưởng 1%/năm Phấn đấu đạt 3.07 triệu con vào năm 2010 và 3.23 triệu con vào năm 2015, sản lượng thịt trâu đạt 72 nghìn tấn năm 2010 và 88 nghìn tấn vào năm 2015 [39]

Theo thống kê cả nước có 6724,7 nghìn con bò trong năm 2008, sản lượng thịt bò năm 2008 đạt 206145 tấn, các tỉnh có số lượng đàn bò nhiều là

Hà Tĩnh, Bình Thuận, Đắk lắk, Gia Lai, Quảng Nam, Quảng Ng2i, Thanh Hóa, Nghệ An [39]

Trong năm 2008 cả nước có 1777,6 nghìn con dê trong đó có 72,5%

được nuôi ở miền Bắc, có 48% ở các vùng trung du và miền núi [39]

Theo chủ trương của nhà nước ta trong những năm tới là phải phát triển

đàn trâu, bò, dê trong cả nước tăng nhanh về số lượng và chất lượng

2.2 Bệnh sán lá gan do Fasciola spp trên trâu, bò, dê

2.2.1 Sơ lược lịch sử phát hiện sán lá gan Fasciola spp

Bệnh sán lá gan lớn là bệnh ký sinh trùng quan trọng ở động vật nhai lại trên khắp thế giới nó gây thiệt hại nghiêm trọng cho nền kinh tế, nhất là trong lĩnh vực chăn nuôi, thú y và gần đây bệnh còn có su hướng gia tăng trên người Tác nhân gây bệnh của các loài sán lá gan lớn khác nhau phụ thuộc rất nhiều vào giống Fasciola, Fascioloides Nhưng 2 loài quan trọng nhất và được biết đến là Fasciola hepatica và Fasciola gigantica [19]

F hepatica có mặt khắp nơi và phân bố rộng r2i trên khắp thế giới,

Trang 14

trước tiên ở vùng ôn đới và vùng bán nhiệt đới có nhiều tài liệu đề cập tới nhễm sán lá gan lớn trên người, trong khi đó F gigantica có xu hướng xuất hiện ngày một nhiều ở vùng nhiệt đới Châu Phi, Châu á và vùng Đông Nam

á, song lại có ít tài liệu đề cập tới sự gia tăng của loài này (Boayr,1982; Mas - Coma và Bargues,1997; Sphithill và cs,1999)

Năm 1977 Phan Thế Việt, Nguyễn Thị Kỳ, Nguyễn Thị Lê, [42] đ2 phân loại 2 loài sán này trong hệ thống phân loài như sau:

Liên ngành: Scolecida (Huxley, 1856; Beklemischev, 1944)

Ngành: Plathelminthes (Schneider, 1873)

Lớp: Trematoda (Rudolphi, 1808)

Bộ: Fasciolida (Skrjabin et Guschanskaja, 1962)

Phân bộ: Fasciolata (Skrjabin et Schulz, 1937)

Họ: Fasciolidae (Railliet, 1895)

Phân họ: Fasciolinae (Stiles et Hassall, 1898)

Giống: Fasciola (Linnaeus, 1758)

Loài: Fasciola hepatica (Linnaeus, 1758)

Fasciola gigantica (Cobbold, 1885) Loài F hepatica còn có đồng những tên sau: F human (Cmelin, 1729), Distoma hepaticum (Linnaeus, 1758), Distomum hepaticum (Retzius, 1786) Flanasis latiuscula (Goeze, 1782), Cladocoelium hepaticum (Stossich, 1892) Loài F gigantica còn có đồng những tên sau: Distomum giganteum (Diescing,1858), F gigantes (Cobbold, 1858), F hepatica var augusta (Railliet, 1895), F hepatica var aegyptrea (Loss, 1896), F hepatica var lineta (Sinitsin, 1905), F indica (Varna, 1953)

F hepatica được Johande phát hiện đầu tiên vào năm 1379 trên cừu

và được gọi là sán lá gan cừu và đến năm 1758 Linnaeus đặt tên latinh là Fasciola hepatica Sau 130 năm sau Thomas (1882) và Leuckart (1882) ở

Trang 15

Anh và Đức đồng thời xác định được vòng đời phát triển của F hepatica Năm 1856 Cobbold đ2 tìm ra loài F gigantica Bệnh sán lá gan lớn được phát hiện phắp nơi trên thê giới, nó xuất hiện ở Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi và Châu á

2.2.2 Hình thái học và vòng đời phát triển của Fasciola spp

2.2.2.1 Hình thái học

- F gigantica sán có hình lá, có chiều dài từ 2 - 7mm, chiều rộng từ 3 - 12mm, hai bên mép dường như song song với nhau, không có vai, phần cuối thân hơi tù, cơ thể có hai giác bám là giác bụng và giác miệng, giác bụng có

đường kính từ 1,491 - 1,785mm, giác miệng có đường kính từ 1,092 - 1,555mm Hệ sinh dục của F gigantica thuộc dạng lưỡng tính hai tinh hoàn phân nhánh xếp trên dưới nhau ở phần sau của cơ thể Mỗi tinh hoàn thông với một ống dẫn tinh riêng rồi gộp lại thành ống dẫn tinh chung đổ vào lỗ sinh sản

ở mặt bụng Buồng trứng phân nhánh ở phía trước tinh hoàn, tử cung uốn khúc thành hình hoa ở giữa Trứng của F gigantica phình rộng ở giữa và thon về 2

đầu, đầu nhỏ hơn có nắp, vỏ mỏng gồm có 4 lớp bên ngoài phẳng có chiều dài

từ 0,125 - 0,170mm, chiều rộng từ 0,060 - 0,100mm, phôi bào phân bố đều và

có màu vàng sáng [9]

- F hepatica thân có hình tam giác, ruột không chia nhánh hoặc ít khi chia nhánh, có chiều dài từ 18 – 51mm, chiều rộng từ 4 - 13mm, thân dẹp hình lá, có màu nâu nhạt, phần đầu hình nón dài từ 3 - 4mm có chứa 2 giác bám, giác bụng lớn hơn giác miệng, phía trước thân phình to và thon dần về cuối tạo thành vai rất rõ Cấu tạo bên trong giống F gigantica trứng hình elip, các đầu hơi giống nhau chiều dài từ 0,130 - 0,145mm, chiều rộng từ 0,070 - 0,090mm, bên trong chứa phôi bào hình hạt, có mầu vàng [9]

2.2.2.2 Vòng đời phát triển của Fasciola spp

Fasciola spp luôn luôn cần vật chủ trung gian là ốc nước ngọt và các cây rau, cỏ thuỷ sinh làm vật môi giới truyền bệnh

Trang 16

Fasciola spp trưởng thành ký sinh trong ống dẫn mật của trâu, bò, dê, cừu… Sau khi thụ tinh mỗi sán đẻ hàng chục vạn trứng, những trứng này cùng dịch mật đổ vào ruột sau đó theo phân ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi như nhiệt độ từ 15 - 30°C, pH = 5 - 7,7 có ánh sáng, độ ẩm thích hợp, sau 10 - 15 ngày trong trứng hình thành Miracidium, dưới tác động của ánh sáng Miracidium đẩy bật nắp trứng chui ra ngoài và bơi lội tự do trong nước không quá 40 giờ Nếu gặp ký chủ trung gian là ốc Limnae auricularia, Limnae viridis, Galba tracatula, Radix ovata Miracidium chui vào cơ thể ốc di chuyển vào gan, mất hết lông và phát triển thành Sporocyst Sporocyst chứa nhiều tế bào phôi, những tế bào phôi này sau 15 - 30 ngày phát triển thành Redia, Redia hình suốt chỉ chứa nhiều tế bào mầm [16]

Bằng lối sinh sản vô tính mỗi Sporocyst sinh ra 5 - 15 Redia, mỗi Redia lại sinh ra nhiều redia con sau 32 - 40 ngày ấu trùng dài tới 1mm và có thể sinh ra 15 - 20 Cercaria Từ khi Miracidium vào ốc đến khi phát triển thành Cercaria cần 50 - 80 ngày, sau khi thành thục Cercaria qua miệng ốc chui ra ngoài môi trường và bơi tự do trong nước Mỗi ốc có thể nhiễm 600 - 800 Cercaria Sau vài giờ bơi lội trong nước Cercaria rụng đuôi và tiết ra chất nhờn dính, sau vài phút chất nhờn đông đặc lại tạo thành vỏ bọc màu nâu, lúc này cercaria biến thành Adolescaria ở trong nước hoặc bám vào cây cỏ xung quanh vùng lầy lội ẩm thấp, những vũng nước trên đồng cỏ [16]

Nếu trâu, bò, dê nuốt phải Adolescaria thì Adolescaria di chuyển đến ống dẫn mật bằng hai cách:

- Một số ấu trùng dùng tuyến chui qua niêm mạc vào tĩnh mạch ruột, tĩnh mạch cửa, di chuyển vào gan, xuyên qua nhu mô gan đi vào ống dẫn mật

- Một số ấu trùng khác xuyên qua thành ruột vào xoang bụng, đến gan, xuyên qua vỏ gan vào ống dẫn mật

Sau khi vào ống dẫn mật, ấu trùng phát triển thành dạng trưởng thành lại tiếp tục đẻ trứng Từ khi Adolescaria được gia súc nuốt vào đến khi phát

Trang 17

triển thành sán trưởng thành cần thời gian từ 3 – 4 tháng Fasciola spp trưởng thành có thể ký sinh trong ống dẫn mật của gia súc từ 3 – 4 năm, có khi tới 11 năm [16]

2.2.2.3 Đặc điểm hình thái các giai đoạn phát triển của Fasciola spp

- Trứng sán: có mầu vàng sẫm, hình bầu dục phình rộng ở giữa, thon dần về hai đầu, đầu nhỏ có nắp Vỏ trứng mỏng có 4 lớp, lớp ngoài phẳng, tế bào no2n hoàng to xếp đều trong trứng, giữa các phôi bào không rõ ranh giới Kích thước của trứng dài 0,125 - 0,175mm, rộng 0,060 - 0,1mm [16]

- ấu trùng Miracidium (Mao ấu) gồm túi đỉnh ở phía đầu, hai bên có tuyến đỉnh, cơ quan bài tiết được tạo thành từ đôi tế bào hình ngọn lửa, khi mao ấu ở trong trứng hay ở bên ngoài thì đôi tế bào này hoạt động rất mạnh Mắt của Miracidium ở mặt lưng cấu tạo theo kiểu dấu nhân chéo nhau tạo thành khối màu đen Xung quanh mao ấu bao bọc bởi lớp lông giúp mao ấu bơi lội, di chuyển trong nước Trong nước khi yếu dần thì Miracidium chuyển

động quay tròn lộn lên, lộn xuống liên tục một lúc thì đứng yên, cơ thể từ dạng mũi mác sang dạng hình trứng, rụng lông và bóc ra các tế bào thân, cuối cùng cơ thể mao ấu rữa dần ra biến thành 1 khối nhạt màu

Kích thước của mao ấu dài 0,19mm, rộng: 0,026mm [16]

- Sporocyst (Bào ấu) là dạng ấu trùng thứ 2 của Fasciola spp, bào ấu có dạng hình túi được bao bọc bởi lớp màng mỏng, các cơ quan ở giai đoạn mao

ấu mất đi và xuất hiện các cơ quan khác, không còn mắt, lông xung quanh và các tuyến đỉnh cũng mất đi và hình thành ống ruột và hầu Các bộ phận này nằm trong khối tế bào thân rất lớn Trong cơ thể bào ấu đôi tế bào ngọn lửa hoạt động mạnh, các đám tế bào phôi do hiện tượng đơn sinh tính về sau phát triển thành các Redia Bào ấu có mầu sáng ít hoạt động

Kích thước của bào ấu dài: 0,272mm, rộng: 0,167mm [16]

- Redia (Lôi ấu) có dạng hình giun hoạt động mạnh và xuất hiện 1 số nét của sán trưởng thành: hầu hai mảnh hình hạt đậu, ống ruột chạy dọc cơ thể, cơ thể có màu vàng đậm, các đám phôi rõ và lớn hơn

Trang 18

Kích thước Redia mẹ dài: 0,333 - 0,582mm, rộng: 0,140 - 0,156mm, trung bình dài: 0,494mm, rộng: 0,134mm Cơ thể chỉ chứa các đám tế bào phôi, số lượng Redia có từ 1 - 3 ấu trùng, thời gian hình thành giai đoạn này từ

8 - 14 ngày Từ ngày thứ 15 kích thước của lôi ấu lớn dần lên và đ2 có hiện tượng ấu trùng sinh Số lượng Redia con sinh ra từ Redia mẹ từ 4 - 5 ấu trùng, cấu tạo của giai đoạn này: hầu còn là 1 khối u tròn toàn bộ cơ thể có mầu sáng, hoạt động chậm chạp, sau 28 ngày đ2 xuất hiện những redia con và có kích thước dài: 0,83 - 1,87mm, rộng: 0,10 - 0,31mm, trung bình dài: 1,43mm, rộng: 1,25mm [16]

- Cercaria (Vĩ ấu) thời gian từ khi mao ấu đến khi phát triển thành vĩ ấu cần khoảng 50 - 80 ngày Vĩ ấu gần giống con nòng nọc, kích thước nhỏ Vĩ

ấu non phần thân dài hơn phần đuôi, vĩ ấu trưởng thành thì phần đuôi dài hơn phần thân Thân vĩ ấu có hình tròn, chiều dài lớn hơn chiều rộng, phần đuôi làm cho vĩ ấu chuyển động Vĩ ấu có giác miệng, giác bụng, hầu, thực quản và ruột phân thành hai manh tràng [16]

Kích thước của vĩ ấu trưởng thành dài: 0,28 - 0,30mm, rộng: 0,23mm

- Adolescaria (Kén) có hình khối tròn có 4 lớp, vỏ màu nâu hung, kích thước: 0,2 - 0,25mm, bên trong chứa phôi bào hoạt động, phôi có giác miệng và giác bụng rõ, ruột phân nhánh và có túi bài tiết Adolescaria thường ở trong nước hay bám vào các cây cỏ thuỷ sinh chờ cơ hôi để xâm nhập vào vật chủ [16] Khi súc vật nuôi mới nhiễm bệnh sán non trong cơ thể di hành làm tổn thương thành ruột, thành mạch máu, nhu mô gan, lách, phổi, tuyến tụy gây xuất huyết nhẹ hay nặng Sán non phá hủy các tổ chức ở gan, trên đường di hành chúng để lại trong gan những đường di hành đầy máu những đường này thường kéo dài đến lớp thanh mạc và các tổ chức gan bị phá hủy kết quả là gan bị tổn thương, bị viêm Khi gia súc bị nhiễm sán nhiều thì gia súc bị viêm gan nặng, thiếu máu do xuất huyết có thể làm gia súc bị chết Sau khi xuyên qua nhu mô gan, sán ký sinh ở ống dẫn mật và phát triển về kích thước trở thành sán trưởng thành Sán trưởng thành thường xuyên kích thích vào thành

Trang 19

niêm mạc ống dẫn mật bằng gai cuticum trên cơ thể, làm viêm ống dẫn mật Nếu trong ống dẫn mật có nhiều sán ký sinh thì gây tắc ống dẫn mật và mật bị

ứ lại thấm vào máu sinh ra hiện tượng hoàng đản [16]

Trong thời gian ký sinh sán thường xuyên tiết ra độc tố làm biến đổi thành ống dẫn mật và nhu mô gan, độc tố thấm vào máu và gây trúng độc toàn thân,

độc tố của sán còn làm cho protein trong máu bị biến chất, làm giảm lượng albumin, làm globulin tăng Trong quá trình hoạt động những mô và tế bào bị phân hủy của sán có chứa men tiêu hủy mạnh protein, lipit, glucoza gây tác hại cho cơ thể, những chất này làm tăng nhiệt độ cơ thể, tăng lượng bạch cầu làm gia súc thiếu máu, gầy còm và có triệu chứng thần kinh Quá trình phân hủy mật bị ứ

đọng do sán làm tắc ống mật cũng làm tăng trúng độc cho gia súc [16]

Trong khi di hành ấu trùng còn mang theo nhiều loại vi trùng vào gan, máu và những cơ quan khác làm cho bệnh nặng hơn, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho các bệnh truyền nhiễm khác phát sinh và phát triển Những vi trùng theo sán non xâm nhập vào những cơ quan gây ra những bọc mủ lớn Trong khi ký sinh ở ống dẫn mật sán còn hút máu của gia súc với khối lượng khá lớn, bằng phương pháp phóng xạ cho thấy mỗi một sán ký sinh ở ống dẫn mật lấy

đi 0,2ml máu mỗi ngày, với những gia súc nhiễm sán với số lượng lớn lên tới hàng trăm con thì số lượng máu bị mất đi mỗi ngày là không nhỏ Gia súc có chửa bị mắc sán lá gan dễ bị đẻ non, con đẻ ra yếu, sinh trưởng chậm

Các triệu chứng thường thấy ở gia súc bị mắc bệnh sán lá gan là gầy còm, ốm yếu, suy nhược cơ thể, phân bị nh2o không thành khuôn, có lúc đi ỉa lỏng, phân đen có mùi khắm thể hiện đường tiêu hóa bị tổn thương nặng Niêm mạc mắt nhợt nhạt, do thiếu máu kéo dài, lông xù, bị rụng nhiều, da mốc, hốc mắt sâu có dử, thùy thũng ở mi mắt, ngực, yếm, gia súc cái dễ bị sảy thai và sản lượng sữa bị giảm tới 50% [16]

2.3 Tình hình nghiên cứu Fasiola spp trên thế giới

Giun sán đ2 được con người phát hiện từ lâu trên vật nuôi nhưng ít được quan tâm Tác hại của chúng gây ra làm tổn thất nặng nề về kinh tế cho người chăn nuôi và sức khoẻ của con người

Trang 20

Nhà triết học Hy Lạp – Aristole, (384 - 322) trước công nguyên đ2 nói

về cơ chế phát sinh ký sinh trùng được sinh ra từ môi trường bên ngoài, về sau

có nhiều công trình nghiên cứu về sán và ký sinh trùng ở gia súc ra đời

Giữa đầu thế kỷ XX theo sự chỉ đạo của viện sĩ K.I.Skrjabin đ2 biên soạn thành công bộ sách bách khoa toàn thư về ký sinh trùng

Bệnh sán lá gan sẩy ra khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là ở gia súc có sừng Việc điều tra sán lá gan ở động vật nhai lại ở các nước trên thế giới cho thấy sán lá gan ở bò do F hepatica và F gigantica rất phổ biến ở Châu Âu, Châu Phi, Châu Mỹ, Châu úc, Châu á (Hansen và Perri, 1994) [46]

Thomas và Leukart, 1882 lần đầu tiên phát hiện được vòng đời phát triển của Fasciola spp phải có ốc nước ngọt tham gia, sau đó Thomas tiếp tục nghiên cứu vòng đời phát triển của F gigantica Tác giả coi đó là vòng phát triển chung của loài sán thuộc lớp Treamtoda [16]

Thời kỳ trưởng thành của sán ở các loài động vật cũng khác nhau: ở bê

là 84 ngày (Alicata, 1938); 111 ngày ở dê, cừu (Kendall và Parfit, 1953); 132 ngày ở trâu [16]

Alicata, 1941 đ2 xác nhận F gigantica có thể ở gan bò 3 năm 4 tháng [16] Hedonleyz, 1954 đ2 chế ra dung môi nuôi sán và đ2 nuôi sán sống được từ

72 - 120 giờ [16]

Rohrbacher, 1957, đ2 nuôi sán đạt tới 21 ngày và giữ được màu sắc tự nhiên hoạt động đến ngày 14 [16]

Theo Taylor, 1965, thì F gigantica và F hepatica có hình thái khác nhau

F gigantica có hình dáng thuôn và dài, thường có phần sau kéo dài, có ruột chia thành nhiều nhánh nhỏ và có giác miệng to hơn F hepatica thân có hình tam giác, ruột không phân nhánh hoặc ít khi chia nhánh [16]

P.Bergeon, 1970, quan sát ở Etiope cho biết: F.hepatica có tinh hoàn chia nhánh hình ống và hơi ngoằn ngoèo, F gigantica thì tinh hoàn hết sức ngoằn ngoèo gấp vào nhau tạo thành 1 búi cuộn lại [16]

Trang 21

ở khu vực Đông Nam á, Châu á các loài sán thường gặp ở bò là F gigantica, F hepatica, Paramphistomata, Gigantocotyle explanatum (Joseph

và Boray, 1994) [47]

ở Cameroun, Cardinale, (1994), cho biết bò nhiễm F gigantica từ 31 - 64%, nhưng với bê tỷ lệ nhiễm thấp hơn chỉ là 1,5% (Chollet và cs , 1994) [50]

Chritian và cs, (2002) [51] nghiên cứu trong 12 năm ở Pháp cho biết tỷ

lệ nhiễm sán lá gan ở bò từ năm 1990 - 1993 tăng 13,6 - 15,2% tới năm 1999 giảm còn 12,6%

Tại Bécnin năm 2002 [52] Youssao và Assogba, cho biết tỷ lệ nhiễm sán lá gan từ 7,5 - 52,4% tùy theo vùng và theo tháng trong năm

Năm 2007 [49] Blaise và Raccurt, nghiên cứu tại Haiti thấy tỷ lệ nhiễm

F hepatica của vật nuôi là 10,7 - 22,78%

Theo Ravichandra, (1986) thì ký chủ trung gian của sán lá gan là các loài ốc nước ngọt

Năm 1994, Hansen và Perri, [46] đ2 mô tả hình thái, cấu tạo của F gigantica, F hepatica

2.4 Tình hình nghiên cứu Fasiola spp ở trong nước

2.4.1 Những nghiên cứu về trứng, ấu trùng, nang kén của sán

Trịnh Văn Thịnh, (1963) cho biết trứng có kích thước chiều dài: 160 - 190àm, chiều rộng: 70 - 90àm [33]

Lương Tố Thu và cs, (1971) nhận xét: kích thước trứng sán lá gan có chiều dài: 125 - 177àm, rộng: 83 - 104àm, trung bình dài 154àm, rộng 93àm Trứng sán lá gan phát triển được ở nhiệt độ từ 10 - 30°C Thời gian phát triển của trứng phụ thuộc vào nhiệt độ, nhiệt độ thấp thời gian nở kéo dài, nhiệt độ cao thời gian nở ngắn lại

Theo Phan Địch Lân, (1978) thì ở nhiệt độ 12 - 14°C trứng sán phát triển thành Miracidium sau 50 ngày, nhiệt độ 16 - 18°C sau 40 - 45 ngày, ở 20

Trang 22

- 22°C là 35 - 37 ngày, ở 24 - 26°C là 26 ngày, ở 28 - 30°C là 14 - 16 ngày, ở

30 - 32°C là 10 ngày [15]

Theo tác giả trứng sán lá gan có tỷ lệ nở khác nhau tuỳ theo cách thu thập trứng khác nhau Trứng lấy bằng cách mổ tử cung có tỷ lệ nở thấp chiếm

9 - 29,04%, trung bình là 17,25% Trứng lấy bằng cách nuôi sán tự đẻ có tỷ lệ

nở cao đạt 45,36 - 73,33%, trung bình là 59,34% Trứng lấy bằng cách gạn rửa túi mật thì được trứng già nên tỷ lệ nở cao hơn cả 39 - 84,6%, trung bình 65,61% [15]

Trong nước cất mao ấu có thể sống được 24 giờ, nước máy, nước ao sống được 36 giờ, trứng Fasciola có thể phát triển ở pH = 7,8 - 8,1, ở độ pH này mao ấu có thể chui ra khỏi trứng để xâm nhập vào ký chủ trung gian, độ

pH thích hợp nhất là pH = 6,5

ở 30°C các giai đoạn phát triển của Fasciola spp như sau: từ trứng thành mao ấu mất 14 - 16 ngày, từ mao ấu thành bào ấu mất 7 ngày, từ bào ấu thành lôi ấu mất 8 - 21 ngày, từ lôi ấu thành vĩ ấu non mất 7 - 14 ngày, từ vĩ

ấu non thành vĩ ấu trưởng thành mất 13 - 14 ngày, từ vĩ ấu trưởng thành ra khỏi ốc thành kén mất 2 giờ [15]

Dinnik và Dinkik, (1959, 1963, 1964) [15] đ2 nghiên cứu vòng đời của Fasciola spp trong phòng thí nghiệm và ở ngoài tự nhiên cho biết:

- Trong phòng thí nghiệm: ở nhiệt độ 28°C không đổi, sau 17 ngày trứng nở thành Miracidium (mao ấu) và sự phát triển của ấu trùng đến Cercaria (vĩ ấu) trong ốc là 33 ngày, số lượng lôi ấu là 18 - 109 ấu trùng, trung bình là 55 ấu trùng

- Trong tự nhiên: sự thay đổi nhiệt độ làm kéo dài ngày nở của mao ấu lên tới 52 - 109 ngày Trong mùa lạnh mao ấu không rời trứng khi nhiệt độ 5,5

- 19,5°C Sự phát triển thành vĩ ấu ở điều kiện nhiệt đới là 69 - 197 ngày tùy theo năm, ở nhiệt độ 16°C và thấp hơn các Redia không sản sinh ra vĩ ấu mà

Trang 23

sản sinh ra các Redia con, trong 1 ốc có từ 216 - 415 Redia, trung bình 314 Redia nhiều hơn 5 - 7 lần so với điều kiện phòng thí nghiệm

2.4.2 Nghiên cứu Fasciola spp trên trâu, bò, dê

Nước ta là nước có khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm, mưa nhiều rất thuận lợi cho bệnh sán lá gan phát triển nên tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở gia súc khá cao Nguồn gieo rắc căn bệnh chủ yếu là súc vật nuôi như trâu, bò, dê và những d2 thú mang Fasciola spp Mỗi sán hàng năm thải theo phân ra môi trường chừng 6000 trứng Sán có thể sống trong ký chủ từ 5 - 11 năm, như vậy mỗi súc vật mang sán mỗi năm thải 1 khối lượng trứng khá lớn ra đồng cỏ, b2i chăn thả Những cánh đồng, b2i chăn thả ẩm thấp, lầy lội tạo điều kiện cho trứng phát triển thành Miracidium vừa tạo điều kiện cho ốc ký chủ trung gian phát triển

Bệnh sán lá gan lớn được người Pháp mô tả từ năm 1928, các nghiên cứu về sán lá gan ở Việt Nam thấy sự có mặt của hai loài F gigantica và F hepatica (Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh, 1978) [31]

Dựa vào hình thái và cấu trúc gene ty lạp thể thì sán lá gan do Fasciola spp ở nước ta chủ yếu là loài F gigantica, gần đây nhất Nguyễn Thế Hùng, Lê Thanh Hòa, Giang Hoàng Hà (2008), [7] cho biết khi kiểm tra 25 mẫu sán lá gan lớn bằng phương pháp Polymerase chain reaction (PCR) qua giám định hệ gen di truyền đ2 xác định là loài F gigantica

Về tình hình dịch tễ bệnh sán lá gan ở Việt Nam có nhiều tác giả cho biết trâu, bò có tỷ lệ nhiễm cao và phụ thuộc vào từng vùng khác nhau

ở Việt Nam đ2 xác định sự lưu hành của 5 loài sán lá gan thuộc 3 họ là: Clonorchis và Opisthorchis viverrini thuộc họ Opisthorchiidae; Loài F hepatica, F gigantica thuộc họ Fasciolidae và loài Dicrocoelium dendriticum thuộc họ Dicrocoeliidae

Theo Phan Địch Lân, (1980) [16] thì hai loài ốc thuộc bộ phụ Pulmonata là Limnaea swinhoei (H.Adams, 1886) và Limnaea viridis (Quay

Trang 24

et Gaimard, 1832) thuộc họ Limnaeadae là ký chủ trung gian của sán lá gan Năm 1963, Trịnh Văn Thịnh cho biết, sán lá gan loài F gigantica có kích thước thân và trứng lớn hơn so với sán lá gan ở các nước khác [33]

Năm 1967, Drozdz và Malczewski, [3] tiến hành mổ khám trâu nhiều vùng khác nhau ở miền Bắc cho biết tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở trâu là 76%, ở bò là 36%, tác giả cũng cho biết đ2 tìm thấy F hepatica ở trâu vùng núi tỉnh Tuyên Quang

Bằng phương pháp mổ khám, Đào Hữu Thanh, (1976) [29] xác định

tỷ lệ nhiễn sán lá gan ở bò thuộc một số cơ sở chăn nuôi miền Bắc nước ta

là 60%, cường độ nhiễm trung bình từ 41 - 53 sán/con, cao nhất là 86 - 95 sán/con

Đào Hữu Thanh, (1976) [29] phát hiện F gigantica ở hươu sao tại tỉnh Hà Tĩnh

Năm 1978, Phan Địch Lân, [15] công bố công trình nghiên cứu đầy đủ

về sán lá gan do loài F gigantica gây ra bao gồm hình thái, sinh thái, chu kỳ sinh học, tác hại của bệnh đối với trâu, bò ở nước ta

Theo Phan Địch Lân, Lê Hồng Căn, (1972) [14] thì ký chủ trung gian của sán lá gan trâu, bò ở Việt Nam là 2 loài ốc nước ngọt: Limnaea swinhoei (H.Adams, 1886) và Limnaea viridis (Quay et Gaimard, 1832) Hai loài ốc này có khả năng tồn tại quanh năm nhưng phát triển mạnh nhất vào vụ đông xuân và giảm vào vụ hè thu Loài Limnaea viridis sống ở nơi nước xăm xắp, còn Limnaea swinhoei thích nơi nước ngập để trôi nổi

Loài ốc Limnaea swinhoei tên địa phương là ốc vành tai, có hình dạng không đồng nhất vỏ mỏng dễ vỡ, không có nắp miệng, có chiều cao trung bình

là 20mm, đỉnh bé và nhọn, thân có 3 - 4 vòng xoắn, vòng xoắn cuối cùng chiếm gần hết phần thân vỏ, vỏ loa như vành tai, chiều dài lỗ miệng gấp 3 lần chiều cao của thân ốc Lỗ rốn nhỏ không rõ, vỏ thường có màu đen hoặc mầu vàng, ốc đẻ trứng quanh năm mỗi ổ trứng có từ 60 - 150 trứng, ốc thường sinh sống ở ao hồ, cống, r2nh

Loài ốc Limnaea viridis có tên địa phương là ốc hạt chanh, kích thước

Trang 25

nhỏ hơn ốc Limnaea swinhoei khoảng 10mm, có vỏ mỏng dễ vỡ, không có nắp miệng, thân có từ 4 - 5 vòng xoắn, vòng xoắn theo chiều phải và lồi, vòng xoắn cuối cùng lớn, lỗ miệng hình bầu dục không loe rộng, ở một số ốc lỗ miệng hẹp lại làm cho ốc có hình thoi, ốc thường có mầu vàng nâu và có lốm

đốm đen ốc thường sinh sống ở nơi xâm xấp nước, thường đẻ trứng quanh năm, mỗi lần đẻ từ 7 - 10 ổ sau 7 ngày trứng nở thành ốc con

Tỷ lệ nhiễm Fasciola spp ở trâu, bò, dê vùng đồng bằng Bắc Bộ là 59,09% và tăng dần theo độ tuổi của gia súc là 30,14% ở gia súc non và 97,93% ở gia súc trưởng thành

Năm 1995, Phan Lục và cs, [22] cho biết: tỷ lệ nhiễm Fasciola spp ở phía Bắc trên trâu là 70%, bò là 61,2%, dê là 20% Và tỷ lệ nhiễm sán khi mổ khám trâu ở 8 tỉnh phía Bắc là 47%

Cũng trong năm 1995, Nguyễn Trọng Kim [11] đ2 điều tra tỷ lệ nhiễm Fasciola spp ở tỉnh Nghệ An cho thấy huyện Nghi Lộc nhiễm 25,27%, huyện Diễn Châu nhiễm 32,65%, tỷ lệ nhiễm tăng dần theo lứa tuổi của vật nuôi, thấp hơn 2 tuổi nhiễm 10,9%, từ 3 - 5 tuổi nhiễm 23,33%, từ 6 - 8 tuổi nhiễm 53,58, trên 9 tuổi nhiễm 76,68%

Phan Lục và cs, (1993) [21] điều tra đàn bò nuôi ở đồng bằng sông Hồng thấy tỷ lệ nhiễm sán lá gan là 61,2%

Vương Đức Chất (1994) [2] cho biết, đàn bò sữa ở ngoại thành Hà Nội

được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt vẫn bị nhiễm sán lá gan với tỷ lệ là 34,42% Năm 1996, Hà Huy Ngọ, Nguyễn Thị Lê, [25] kiểm tra đàn bò sữa ở

Ba Vì cho biết đàn bò sữa ở đây bị nhiễm sán lá gan tới 46,23%

Theo Lương Tố Thu và cs, (1996) [36] thì ở miền Bắc nước ta tỷ lệ nhiễm sán lá gan chung ở trâu, bò là 44,53%, tác giả nhận xét tỷ lệ bò nhiễm sán lá gan là 54,21% nặng hơn trâu là 33,92%

Năm 1997, Nguyễn Văn Diên cho biết: qua mổ khám bò ở Tây Nguyên

bị nhiễm Fasciola spp 58,06%, xét nghiệm phân thấy nhiễm 61,75% Tỉ lệ nhiễm tăng dần theo lứa tuổi, bò nhỏ hơn 6 tháng nhiễm 8,08%, từ 7 - 12 tháng nhiễm 36,79%, từ 13 - 24 tháng nhiễm 70,29% và trên 24 tháng nhiễm

Trang 26

87,09% Tác giả cũng cho biết tỷ lệ nhiễm cao nhất ở vùng trũng là 72,37%, vùng đồi núi, trung du là 63,05%, vùng cao nguyên là 46,09%, [4]

Theo Trần Văn Vũ, (1997) [43] trâu ở các tỉnh phía Bắc nhiễm sán lá gan tăng theo lứa tuổi, trâu nhỏ hơn 2 tuổi nhiễm 14,2%, từ 2 - 8 tuổi nhiễm 50,5% và trên 8 tuổi nhiễm 54,7% Tỷ lệ nhiễm Fasciola spp của trâu ở các vùng sinh thái là khác nhau: miền núi là 35,5%, ven biển là 40,2%, trung du là 45,6%, đồng bằng là 47,3%

Theo Lương Tố Thu và cs, (2000) [37] khi kiểm tra phân trâu, bò ở

Đông Anh - Hà Nội thấy 100% số trâu, bò bị nhiễm Fasciola spp với cường

độ nhiễm 13,8 - 16,5 trứng/1g phân

Kiểm tra đàn dê nuôi ở Ba Vì năm 2003, Vũ Đăng Đồng, Hạ Thuý Hạnh cho biết, đàn dê bị nhiễm Fasciola spp là 14,17% và tỷ lệ nhiễm tăng theo lứa tuổi, dê dưới 1 tuổi là 3,2% dê trên 5 tuổi là 27,5% [5]

Theo Phan Địch Lân và cs, (2005) dê từ 1 - 4 tháng tuổi nhiễm Fasciola spp từ 7,5 - 10%, khi dê trên 24 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm từ 30,8 - 33,3% [18] Theo Nguyễn Thị Giang Thanh, (2007) thì trên các vùng núi cao tỷ lệ trâu, bò nhiễm Fasciola spp lên đến trên 90%

Hà Huy Ngọ, Nguyễn Thị Lê, (1996) xác định loài ốc Paraƒossaralus stratulus là ký chủ trung gian của sán lá gan ở bò ở Ba Vì [25]

Vương Đức Chất, (1995) [2] đ2 xét nghiệm ốc Limnaea swinhoei ở Sơn Tây thuộc Hà Tây (cũ) và vùng phụ cận cho biết tỷ lệ nhiễm ấu trùng Fasciola spp là 14,69% Mẫu ốc ở Phúc Thọ, Phú Xuyên tỉnh Hà Tây (cũ) nhiễm ấu trùng như sau: Limnaea viridis là 26,30% và Limnaea swinhoei là 30,58% Nguyễn Văn Thọ, Phan Lục, (1995) cho biết, ở Đông Anh, Gia Lâm ngoại thành Hà Nội ốc Limnaea swinhoei nhiễm ấu trùng sán lá gan là 13,9% Theo Phan Địch Lân, (2005) [18] thì tỷ lệ nhiễm ấu trùng Fasciola spp của ốc là 17,75% tỷ lệ nhiễm vụ hè thu cao hơn vụ đông xuân

2.4.3 Những nghiên cứu về thuốc tẩy trừ

Lương Tố Thu, Bùi Khánh Linh, (1996) [36], đ2 nghiên cứu và dùng

Trang 27

thuốc Fasinex (Triclobendazol) với liều 12 mg/kg thể trọng để tẩy cho 63 trâu

đ2 đạt hiệu lực 100%, thuốc còn có tác dụng với cả sán non nên thuốc có thời gian tái nhiễm lâu sau 12 tuần

Cũng theo Lương Tố Thu và cs, (2000) [37] thì hiệu lực của thuốc tẩy Fasciolid 25% (Nitroxynil) tẩy sán lá gan cho trâu, bò ở liều 10 mg/kg thể trọng đ2 tẩy sạch 100% sán kể cả sán non và hiệu lực kéo dài đến 28 ngày Theo Phạm Khác Hiếu, (1997) Các thuốc có thể tẩy được sán lá gan như: Dertil B, Tetraclorua carbone, Oxyclozanid, Rafoxanid trong đó Oxyclozanid là thuốc có tác dụng tốt với sán lá ở trâu, bò nhất là đối với sán trưởng thành quan trọng là thuốc không có tác dụng phụ ở liều điều trị [16]

Hiện nay trên thị trường thuốc dùng để tẩy gán lá gan đều có chứa hoạt chất chính là Oxyclozanid, và cũng có nhiều tác giả nghiên cứu về hiệu lực của loại hoạt chất này trong việc tẩy trừ sán lá gan cho trâu, bò, dê (Hồ Thị Thuận, 1987 [38]; Nguyễn Trọng Kim, 1995 [11]; Lê Đức Quyết 1999)

Thuốc tẩy Phar - Dectocid do công ty Pharmavet sản xuất

- Trong mỗi viên có chứa Albendazol: 500mg

- Tá dược Selen, Coban vừa đủ liều

Thuốc tẩy các loại sán lá gan, sán lá ruột, sán dây và giun tròn ở trâu,

Chú ý: - Không dùng thuốc cho vật nuôi trong thời kỳ lấy sữa

- Không dùng liều tẩy sán lá gan cho dê, cừu trong 2 tháng trước

và sau khi mang thai

Trang 28

Sau khi tẩy 10 ngày có thể khai thác được thịt

2.4.4 Những nghiên cứu Fasciola spp truyền lây trên người

Bệnh sán lá gan do Fasciola spp được ghi nhận là bệnh truyền lây từ vật nuôi sang người, bệnh xuất hiện từ lâu nhưng nay nhờ có khoa học kỹ thuật tiên tiến, kỹ thuật chuyên môn được nâng cao mới phát hiện được nhiều trường hợp người bị nhiễm sán lá gan Fasciola spp,

Bệnh sán lá gan do Fasciola spp ở người được coi là dịch địa phương, từ năm 1960 ở Florida nước Mỹ, năm 1968 ở Monmouthshrise của nước Anh, năm 1970 ở Touraine của Pháp, năm 1983 ở Cu Ba, năm 1991 ở Bolivia, năm

1997 ở Tây Ban Nha

Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) cho biết từ năm 1950 - 1995 có tới

60 nước có dịch sán lá gan, trong đó có Việt Nam Theo ước tính trên thế giới

có tới 180 triệu người có nguy cơ nhiễm sán và 2,4 triệu người nhiễm sán, gây thiệt hại kinh tế khoảng 3,2 tỷ USD (Dola) mỗi năm [44]

Đến những năm 1990, bệnh sán lá gan lớn do Fasciola spp phát triển mạnh, lúc đầu chủ yếu ở các nước Châu á sau đó lan rộng ra các nước Châu Phi, Châu Âu, Châu Mỹ, bệnh mang tính toàn cầu Các nghiên cứu chỉ ra mối liên quan giữa bệnh sán lá gan lớn ở động vật và người ở mức cơ bản

Trên thực tế người bị nhiễm sán lá gan lớn không hiếm gặp ở vùng có

động vật có vú ăn cỏ mà tỷ lệ người nhiễm bệnh sán lá gan cao hay thấp không liên quan đến động vật nhiễm cao hay thấp

Người bị nhiễm sán lá gan lớn do ăn các loại rau thủy sinh hay uống nước l2 có ấu trùng sán Khi ăn phải ấu trùng sán lá gan lớn vào đường tiêu hóa sau 1 giờ ấu trùng thoát ra khỏi kén đi xuyên qua thành ruột sau 2 giờ nó xuất hiện trong ổ bụng, chúng tiếp tục đi đến gan vào ngày thứ 6

Sau khi thoát khỏi kén nếu gặp vật chủ thích hợp chúng tiếp tục đi tới và

ký sinh ở mật Thời gian từ khi nhiễm đến khi xuất hiện trứng trong phân tùy thuộc vào vật chủ, ở trâu, bò và cừu thời gian là 2 tháng, ở người từ 3 - 4 tháng, thời gian này còn phụ thuộc vào số lượng và cường độ nhiễm sán, sán càng nhiều thời gian phát triển trưởng thành càng dài, tuổi thọ của sán lá gan

Trang 29

lớn ở người từ 9 - 13 năm [16]

Người là vật chủ chưa thích hợp nên nhiều trường hợp sán lá gan lớn nằm trong nhu mô gan đ2 gây ra những ổ hoại tử lớn mà không đi vào đường mật để đẻ trứng Nên có trường hợp sán non di chuyển xuống đại tràng hoặc ra thành ngực, đến tuyến vú hay chui ra từ khớp gối trường hợp này đ2 xuất hiện

ở Việt Nam

Bệnh sán lá gan lớn ở người do F gigantica thường có phản ứng các mô

và gây canxi hóa đường mật do tồn tại 1 lượng nhỏ sán Người không phải là vật chủ thích hợp hầu hết sán di chuyển đều bị giữ ở nhu mô gan mà không có thời gian đi đến ống dẫn mật (Acosta - Ferreira và cs, 1979)

F gigatica ít nhiễm và ít thích ứng hơn với vật chủ là người so với F hepatica Trong thực tế người ta thống kê F gigantica gây ra các tổn thương tại chỗ hơn F hepatica (Boray, 1966; Hammond, 1974) [47]

Theo điều tra của tổ chức Y tế thế giới (WHO) [44] một số nơi có bệnh sán lá gan lớn ở người được sắp xếp theo mức độ lưu hành và cường độ nhiễm

từ thấp đến cao và nhấn mạnh vấn đề Y tế nghiêm trọng không phải dừng lại ở một quốc gia nào kể cả các quốc gia phát triển như Mỹ, Hàn Quốc, Tây Ban Nha, (Mas Coma và cs, 2006) [45]

ở Việt Nam do mới áp dụng các kỹ thuật sinh học phân tử, công nghệ gen trong 10 năm trở lại đây đ2 có những thành tựu đáng kể trong lĩnh vực ký sinh trùng, đặc biệt là về nghiên cứu sán lá gan lớn

Trịnh Văn Thịnh và Đỗ Dương Thái, (1978) cho biết có 2 trường hợp người bị nhiễm sán lá gan Fasciola gigantica, trong đó có 1 người bị tử vong

do nhiễm tới 700 sán lá gan [31]

Năm 1999 – 2000, Hồ Việt Mỹ và cs, điều tra ở 3 huyện của tỉnh Bình

Định cho thấy: tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn ở cộng đồng là 0,56% [54]

Theo WHO (1995) [44] Việt Nam có khoảng 7 triệu người nằm trong vùng nguy hiểm, có 1 triệu người thực sự nhiễm bệnh, chủ yếu là vùng sông Hồng

Trang 30

Từ năm 1997 – 2000, Trần Văn Hiển, Trần Thị Kim Dung thông báo có

5 trường hợp người mắc sán lá gan lớn tại miền Trung và miền Nam

Nguyễn Văn Đề, (2004) trong hơn 2 năm theo dõi (2002 - 2004) đ2 phát hiện có 35 trường hợp người nhiễm sán lá gan lớn ở 15 tỉnh của miền Bắc nước ta [55]

Theo Phân Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn, điều tra trong cộng đồng tại huyện Vạn Ninh - Khánh Hòa phát hiện có 6,3% trường hợp nhiễm sán lá gan lớn trong phân, 11,1% trường hợp có huyết thanh dương tính với phương pháp huyết thanh miễn dịch liên kết men

Theo Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn Trùng Trung ương Năm 2006 khu vực miền Trung trở thành ổ dịch lớn có 1000 người mắc bệnh Năm 2007

có 4000 người nhập viện

Trong các báo cáo ở các địa phương từ năm 1994 - 6 tháng đầu năm

2009 có 47/64 tỉnh thành có người bị nhiễm sán, một số tỉnh như Nghệ An, Phú Yên, Hà Tĩnh, Hà Nội, Quảng Nam, Bình Định, Khánh Hòa, Gia Lai sán lá gan lớn lưu hành rộng r2i, một số tỉnh chưa có người nhiễm bệnh theo báo cáo nhưng trong những năm gần đây xuất hiện với số ca bệnh đáng được quan tâm như Đắc Lắc, Đà Nẵng, Quảng Bình, Ninh Thuận Cũng trong các báo cáo

từ các địa phương cho thấy các ca nhiễm bệnh đang có xu hướng tăng nhanh Năm 2004 có 27 tỉnh có người nhiễm đến năm 2005 lên tới 32 tỉnh và tháng 7/2008 có tới 47 tỉnh có người nhiễm sán lá gan Fasciola spp Năm 1995 có dưới 100 người bị mắc bệnh thì đến 6 tháng đầu năm 2009 thì số người nhiễm sán lá gan lên tới 10.000 người

Theo Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương thì số người

bị nhiễm sán lá gan tăng nhiều nhất là ở Quảng Ng2i

Do vậy tháng 8/2006 Bộ Y tế đ2 ban hành “Hướng dẫn chẩn đoán và

điều trị sán lá gan lớn ở Việt Nam” trên phạm vi cả nước, đồng thời Tổ chức

Y tế Thế giới (WHO) tài trợ cho phía Việt Nam số lượng thuốc Triclabendasole đủ để cung cấp đến tuyến huyện và mở các lớp tập huấn chuyên môn tới tuyến huyện có thể sử lý được bệnh sán lá gan lớn [44]

Trang 31

3 Địa điểm - đối tượng - vật liệu - nội dung và

phương pháp nghiên cứu

3.1 Địa điểm nghiên cứu

Phòng thí nghiệm Ký sinh trùng thuộc Bộ môn Ký sinh trùng - Khoa Thú y - Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội

Các x2 Gia Hòa, x2 Gia Phú thuộc huyện Gia Viễn, x2 Phú Sơn, x2 Phú Long thuộc huyện Nho Quan của tỉnh Ninh Bình

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xL hội của vùng nghiên cứu

Các đặc điểm tự nhiên, kinh tế, x2 hội đều có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới sự sinh trưởng và phát triển của vật nuôi và của con người Các

đặc điểm trên cũng ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới sự tồn tại và phát triển của Fasciola spp Vì vậy để có cơ sở khoa học trong phòng chống Fasciola spp ở vật nuôi và người thì ta nhất thiết phải tìm hiểu các yếu tố tự nhiên, kinh

tế, x2 hội ở vùng nghiên cứu

3.1.2 Đặc điểm của huyện Gia Viễn

3.1.2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xF hội

Huyện Gia Viễn là huyện đồng bằng nằm ở phía đông bắc của tỉnh Ninh Bình, phía bắc giáp huyện Thanh Liêm (tỉnh Hà Nam) và huyện Lạc Thủy (Hòa Bình), phía tây nam giáp huyện Nho Quan, phía đông giáp huyện

ý Yên (Nam Định) và huyện Hoa Lư Trung tâm huyện cách thành phố Ninh Bình 20km, có mạng lưới giao thông thuận lợi nên Gia Viễn có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất hàng hóa nông nghiệp

Huyện Gia Viễn có tổng diện tích tự nhiên là 178,5 km², có 1 thị trấn

và 20 x2, với dân số 117.356 người, mật độ dân số là 657 người/km² chủ yếu

là lao động nông nghiệp Diện tích đất nông nghiệp có 9.218,6 ha trong đó diện tích cấy lúa là 7.737,2 ha, diện tích trồng cây công nghiệp và trồng màu

là 429,8 ha, toàn huyện có 111,7 ha diện tích cây ăn quả, 13,3 ha trồng cỏ Diện tích rừng tự nhiên có 553,9 ha, rừng trồng là 385,6 ha Diện tích nuôi

Trang 32

trồng thủy sản có 318,6 ha [39]

Về cơ cấu kinh tế: nông lâm nghiệp chiếm 51,6%, thủy sản chiếm 0,9%, công nghiệp chiếm 5,9%, dịch vụ thương mại là 16,5% , Giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2008 về chăn nuôi là 83.457 triệu đồng, trồng trọt 571.155 triệu đồng, dịch vụ nông nghiệp 5.932 triệu đồng Sản xuất công nghiệp 75.417 triệu đồng, thủy sản 4.783 triệu đồng, sản lượng lương thực cả năm đạt 99.505 tấn [39]

Do nằm ở đồng bằng sông Hồng nên huyện Gia Viễn có khí hậu nhiệt

đới gió mùa đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc Bộ, trong năm có 4 mùa rõ ràng, lượng mưa trung bình trong năm từ 1350 - 1650mm, tập trung từ tháng 4

- tháng 9, có nhiệt độ trung bình 23,3°C, độ ẩm trung bình 81 - 87% có hệ thống sông ngòi, ao, hồ, mương máng phong phú [39]

3.1.2.2 Tình hình chăn nuôi và dịch bệnh

Gia Viễn có phong trào chăn nuôi lợn và gia cầm tương đối phát triển, chăn nuôi trâu, bò, dê kém phát triển Tổng đàn trâu, bò, dê toàn huyện có 36.014 con, trong đó trâu là 10.307 con, bò là 16.486 con và dê là 9.251 con Thức ăn chủ yếu là thực vật, chăn nuôi theo phương thức chăn thả ở các bờ ruộng, mương và ven đê là chủ yếu, chuồng trại đảm bảo về kỹ thuật ấm áp mùa đông, thoáng mát mùa hè Đội ngũ cán bộ thú y địa phương năng nổ nhiệt tình trong công việc, công tác tiêm phòng cũng được chú ý, quan tâm Tuy nhiên có nhiều yếu tố làm cho dịch bệnh vẫn ảnh hưởng đến sinh trưởng

và phát triển của vật nuôi

3.1.3 Đặc điểm của huyện Nho Quan

3.1.3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xF hội

Nho Quan là một tỉnh miền núi nằm phía tây bắc của tỉnh Ninh Bình, phía bắc giáp tỉnh Hòa Bình, phía nam giáp thị x2 Tam Điệp, phía đông giáp huyện Gia Viễn, phía tây giáp tỉnh Thanh Hóa Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 45.828,6 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 15.361,3 ha, diện tích đất lâm nghiệp là 14.295,97 ha Huyện có 1 thị trấn và 26 x2 đều được nhà nước công nhận là x2, thị trấn miền núi trong đó có 3 x2 vùng cao là Kỳ

Trang 33

Phú, Phú Long, Cúc Phương Đất đai Nho Quan được chia thành 3 vùng khá rõ ràng vùng núi, vùng bán sơn địa và vùng đồng bằng chiêm trũng, mỗi vùng

đều có thế mạnh riêng về chăn nuôi và trồng trọt [39]

Kinh tế bình quân thu nhập trên đầu người đạt trên 1,5 triệu đồng/năm Tốc độ tăng trưởng trên 9%/năm Tỷ trọng nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 71,42%, công nghiệp, xây dựng chiếm 8%, dịch vụ chiến 20,58% [39]

Nho Quan là huyện miền núi nhưng có hệ thống giao thông đường bộ, thuận lợi, hệ thống các công trình thuỷ lợi nội đồng được huyện và tỉnh quan tâm nên được bê tông hoá và do huyện có rừng nguyên sinh quốc gia Cúc Phương nên có hệ sinh thái động thực vật phong phú Nho Quan còn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình trong năm là 23ºC, lượng mưa trung bình là 1.460mm, độ ẩm trung bình là 81% [39]

3.1.3.2 Tình hình chăn nuôi và dịch bệnh

Nho Quan là huyện miền núi nhưng có phong trào chăn nuôi tương đối phát triển Tổng đàn trâu, bò, dê của huyện có 14.080 con, trong đó có 1342 con trâu, 6923 con bò, 5815 con dê, phương thức chăn nuôi chủ yếu chăn thả

tự do ở ven sườn đồi, ven đê

Đàn gia súc phát triển tốt ít dịch bệnh, công tác phòng trừ tốt, đội ngũ thú y địa phương phát triển Bên cạnh đó vẫn tồn tại 1 số vấn đề cần quan tâm như cơ sở vật chất cho thú y còn nghèo nàn, tỷ lệ tiêm phòng còn thấp

3.2 Thời gian nghiên cứu

- Đề tài được tiến hành từ tháng 10 năm 2008 đến tháng 06 năm 2009 3.3 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu trên trâu, bò, dê và người, các loại rau thuỷ sinh và ốc nước ngọt, sán lá gan lớn Fasciola spp

- Trâu, bò được chia làm 3 độ tuổi: từ 1 - 3 năm, từ 4 - 8 năm, trên 8 năm

- Dê được chia làm 2 độ tuổi: nhỏ hơn 1 năm và lớn hơn 1 năm

- Người

- ốc Limnaea viridis

Trang 34

- Các loại rau thuỷ sinh làm thức ăn cho trâu, bò, dê và thức ăn sống cho người (rau ngổ, rau muống)

- Sán lá gan lớn Fasciola spp

3.4 Nguyên liệu nghiên cứu

- Phân trâu, bò, dê các lứa tuổi ở các địa điểm nghiên cứu

- Gan, túi mật, ống mật trâu, bò, dê ở các địa điểm nghiên cứu

- Trứng Fasciola gigantica

- Rau muống, rau ngổ ở các địa điểm nghiên cứu

3.5 Dụng cụ nghiên cứu

- Kính hiển vi quang học, máy ly tâm, tủ lạnh

- Đĩa lồng, phiến kính, lọ tiêu bản, dao mổ, phanh kẹp, đũa thủy tinh, cốc nhựa, cốc ly tâm, vòng vớt, lưới lọc, găng tay, túi nilon, khay men…

Và các hoá chất cần thiết khác

3.6 Nội dung nghiên cứu

3.6.1 Đặc điểm dịch tễ học của Fasciola spp ở trâu, bò, dê, người

3.6.1.1 Thành phần loài Fasciola spp ở trâu, bò, dê tại địa điểm nghiên cứu 3.6.1.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm Fasciola spp dê qua mổ khám

3.6.1.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm Fasciola spp qua xét nghiệm phân

3.6.1.4 Tỷ lệ nhiễm Fasciola spp trên trâu, bò, dê ở các lứa tuổi theo phương pháp xét nghiệm phân

3.6.1.5 Biến động nhiễm Fasciola spp ở vùng nghiên cứu

Trang 35

3.6.1.6 Khảo sát tình hình và mức độ sử dụng rau thủy sinh dùng làm thức ăn sống ở người

3.6.1.7 Tìm hiểu tình hình nhiễn Adolescaria của Fasciola spp ở một số rau thủy sinh thường được người dùng làm thức ăn sống

3.6.1.8 Tìm hiểu tình hình người nhiễm Fasciola spp ở vùng nghiên cứu

3.6.2 Một số đặc điểm sinh học của Fasciola spp

3.6.2.1 Các giai đoạn phát triển của mầm bệnh Fasciola spp ở ngoại cảnh 3.6.2.2 Các giai đoạn phát triển của mầm bệnh Fasciola spp trong vật chủ trung gian

Chúng tôi chọn địa điểm nghiên cứu theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản, phương pháp lấy mẫu chùm và lấy mẫu phân tầng [16]

Điều tra tỷ lệ nhiễm Fasciola spp theo phương pháp nghiên cứu cắt ngang 3.7.1.1 Phương pháp nuôi ốc Limnaea viridis

- Thu thập ốc: Dùng phương pháp thủ công (bắt bằng tay) ốc Limnaea viridis thường phân bố ở những ruộng mạ xâm xấp nước, r2nh mương cạn, chúng thường bò dưới mặt đất hoặc nổi trên mặt nước, hay bám vào các cây thuỷ sinh nổi trên mặt nước, những cây chìm dưới nước

- Kỹ thuật nuôi ốc: Những con ốc được chọn nuôi là những con to khoẻ, nguyên vẹn về hình dáng ốc được nuôi trong bể nuôi có đường kính 30cm, chiều cao 35cm, dung tích từ 5 – 7 lít nước, đáy bể có phủ một lớp cát sông hay một lớp đất ruộng lúa đ2 sấy khô dày 3 – 4cm Nước dùng nuôi ốc là nước máy

có độ pH = 7,2 Trong bể nuôi làm những đảo đất nhân tạo nhô lên khỏi mặt nước khoảng 3 – 4cm, thả vào bể nuôi một ít cây thuỷ sinh, hàng ngày thêm thức

Trang 36

ăn cho ốc Thức ăn thích hợp cho ốc là rau xà lách, mỡ bò Luôn luôn đảm bảo

đủ thức ăn cho ốc, hai đến ba ngày thay nước một lần để đảm bảo cung cấp đủ oxy cho ốc [20]

Để tạo được ốc thuần khiết, sau mỗi lần ốc mẹ đẻ chúng tôi lại chuyển ốc con sang bể nuôi khác

3.7.1.2 Phương pháp nuôi trứng sán

- Thu thập trứng Fasciola spp bằng hai cách: dội rửa dịch mật của trâu,

bò dê bị mắc sán lá gan và mổ tử cung của sán lá gan loài Fasciola spp trưởng thành [20]

+ Thu thập trứng bằng phương pháp dội rửa dịch mật: lấy túi mật của trâu, bò, dê bị nhiễm sán lá gan loài Fasciola gigantica, cắt túi mật để dịch mật chảy ra và rửa cả túi mật vào cốc có chứa nước máy, gắp hết sán và dội rửa liên tục nhiều lần sau đó gạn bỏ lớp nước trong trên cốc đi giữ lại trứng ở phần đáy cốc

+ Thu thập trứng bằng phương pháp mổ tử cung sán trưởng thành: thu thập sán trưởng thành ở ống dẫn mật, túi mật sau đó tiến hành mổ phần tử cung nằm ngay sau giác miệng được dầm nhẹ bằng đũa thuỷ tinh sau đó cho hết vào cốc sạch chứa nước, sau đó lọc qua phễu lọc sang cốc khác, để lắng cặn 10 - 15 phút gạn bỏ lớp nước trong phía trên giữ lại cặn và làm như vậy nhiều lần đến khi hết mảnh thịt sán thì giữ lại cặn đổ ra đĩa lồng kiểm tra dưới kính hiển vi

- Phương pháp nuôi trứng sán: Sau khi thu thập được trứng đem nuôi trứng ở các đĩa lồng có đường kính 10cm trong môi trường nước máy có độ

pH = 7,2 với số lượng nuôi khoảng 300 trứng/1 đĩa lồng, gạn rửa thay nước

2 ngày 1 lần

- Cách đếm mật độ trứng sán: Đếm bằng phương pháp đặt sợi tóc, tạo thành các ô nhỏ hình tam giác trong đĩa lồng, tiến hành đếm trứng từng ô và tính được tổng số trứng thu được

3.7.1.3 Phương pháp đo kích thước trứng và ấu trùng bằng trắc vi thị kính

Để đo kích thước của trứng và các dạng ấu trùng của Fasciola spp bằng

Trang 37

phương pháp trắc vi thị kính thì ấu trùng trước khi đo phải được hơ nhẹ trên ngọn lửa đèn cồn để ấu trùng bất động mà không làm thay đổi kích thước và hình thái của chúng

Cách sử dụng: Tháo thấu kính mắt của thị kính ra và đặt thước đo thị kính vào gờ chắn bên trong thị kính rồi lắp thấu kính lại Đặt tiêu bản lên bàn kính điều chỉnh tiêu cự cho rõ đối tượng cần quan sát, xác định vạch trên thước đo tương ứng với chiều dài và chiều rộng của ấu trùng ở độ phóng đại của kính hiển vi, kết quả tin cậy phải đo từ 30 ấu trùng trở lên

Muốn xác định giá trị của mỗi vạch trên thước đo thị kính đối với độ phóng đại này ta cần tính để chuyển ra àm thì ta phải sử dụng thước đo vật kính Thước đo vật kính là một bản kim loại có một lỗ nhỏ chính giữa trong đó

có tấm kính là thước đo có chiều dài là 1mm và được chia chính xác thành 100 phần, mỗi phần là 0,01mm tương ứng với 10àm [20]

3.7.1.4 Phương pháp lấy mẫu phân trâu, bò, dê

- Phân trâu, bò, dê lấy để dùng làm xét nghiệm cần phải đảm bảo chính xác đúng con vật để chẩn đoán, phân xét nghiệm phải còn mới, còn tươi và có

lý lịch rõ ràng Để lấy phân xét nghiệm chúng tôi đến tận các gia đình nuôi trâu, bò, dê vào sáng sớm để lấy trực tiếp ngay tại chuồng nuôi để tránh nhầm lẫn với con khác Riêng với dê do phân ở dạng viên lại được nhốt chung vào ô chuồng nên lấy phân ngay ở nền chuồng sẽ không đảm bảo độ chính xác vì vậy cần phải lấy trực tiếp ở hậu môn, do dê có đặc tính thải phân khi bị kích thích vào hậu môn nên chúng tôi lấy phân dê đủ tiêu chuẩn

Mỗi mẫu phân lấy khoảng 10 - 15g được cho vào túi nilon sạch, bên ngoài mỗi túi được ghi chép đầy đủ thông tin về chủ gia súc, địa chỉ, lứa tuổi, khối lượng, tính biệt Tất cả những thông tin trên đều được ghi chép đầy đủ vào sổ theo dõi, các mẫu phân lấy được đều mang xét nghiệm ngay Nếu mẫu nào chưa được xét nghiệm ngay thì cần phải bảo quản bằng cách cho vài giọt Formalin 1% để trong tủ lạnh dưới 10°C

Trang 38

3.7.1.5 Xét nghiệm trứng Fasciola spp bằng phương pháp gạn rửa sa lắng

- Nguyên lý Lợi dụng sự chênh lệch tỷ trọng giữa nước sạch và trứng sán để phân ly trứng ra khỏi phân

- Cách tiến hành: Lấy 5 - 10 g phân (đối với phân dê lấy khoảng 4 - 8 viên phân) cho vào cốc nhựa có thể tích là 200ml, sau đó đổ nước sạch vào cho đến gần đầy cốc, dùng đũa thủy tinh khuấy cho tan phân, sau đó dung dịch phân được lọc qua lưới sắt có mắt lưới từ 0,5 - 1 mm, bỏ b2 trên lưới đi dung dịch nước phân lọc qua được để yên khoảng 5 phút cho lắng cặn, sau đó

đổ nước trong ở phía trên đi lấy cặn ở dưới rồi cho thêm nước sạch vào cho tới gần đầy cốc, tiếp tục lắng cặn, lặp đi lặp lại 3 - 5 lần, tới khi nước ở trên trong cặn ở đáy còn ít và sạch Cuối cùng lấy cặn đổ ra đĩa lồng và soi dưới kính hiển vi quang học để tìm trứng sán Trứng sán có mầu vàng chanh chín

3.7.1.6 Cách thu thập sán trưởng thành theo phương pháp mổ khám không toàn diện của K.I.Skijiabin

- Tìm sán trưởng thành bằng cách mổ khám, mổ ống dẫn mật của gan

và các bộ phận khác của trâu, bò, dê tại các cơ sở giết mổ trâu, bò, dê Sán tìm

được phải bảo quản trong cồn 70° Mỗi lọ bảo quản chỉ dùng cho một loài gia súc nhất định, tất cả đều được ghi chép rõ ràng và đầy đủ mọi thông tin: loài, tuổi, tính biệt, số lượng, ngày tháng, địa điểm… và được ghi vào sổ theo dõi

mổ khám

- Đánh giá cường độ nhiễm Fasciola spp qua mổ khám theo tri số Min, Max trong đó:

+ Min là số sán ít nhất trên 1 gia súc mổ khám

+ Max là số sán nhiều nhất trên 1 gia súc mổ khám

3.7.1.7 Phương pháp làm tiêu bản nhuộm

- Chuẩn bị dung dịch thuốc nhuộm Carmin-axit clohydric (HCL), lấy 5g carmin nghiền nhỏ cho vào bình tam giác chứa 5ml HCL, 5ml nước cất để yên trong 1 giờ sau đó cho thêm 200ml cồn 90º đem lắc đều, đậy nút bông, đun

Trang 39

cách thuỷ tới khi carmin tan hết, để 1 ngày sau lọc, dung dịch này để dùng sau

1 tuần

- Nhuộm sán tuỳ thuộc vào độ lớn, độ dầy của sán trước khi nhuộm sán

đ2 được ép mỏng theo ý muốn, thời gian ngâm mẫu trong dung dịch nhuộm từ

5 phút tới 1 giờ, để tẩy bớt màu carmin làm rõ chi tiết cấu tạo, mẫu chuyển sang cồn-axit (100ml cồn 80º + 2-3 giọt HCL) với thời gian từ 1 - 10 phút tuỳ thuộc vào độ lớn, độ dầy của mẫu Sau đó chuyển sang cồn ở các nồng độ khác nhau (80º, 90º, 100º) thời gian trong mỗi loại cồn từ 5 - 7 phút hoặc lâu hơn tuỳ thuộc vào kích thước, độ dầy của mẫu, mẫu có kích thước càng lớn thì thời gian để trong dung dịch lâu hơn Sau đó làm trong mẫu bằng dung dịch xyle + cồn 100º theo tỷ lệ 1:1 trong khoảng từ 1 - 2 phút, lên tiêu bản bằng cách nhỏ lên lam kính sạch 1 - 2 giọt bomcanada đặt mẫu lên trên cho ngay ngắn nhỏ tiếp 1 giọt bom lên trên rồi đậy lamen lại, để tiêu bản cố định cho tới khi bom khô cứng ta được tiêu bản đảm bảo

Tiêu bản nhuộm Carmin sau khi hoàn thành để khô và tiến hành định loại dựa trên các đặc điểm hình thái, cấu tạo của sán qua quan sát dưới kính lúp và kính hiển vi của Phan Thế Việt, Nguyễn Thị Kỳ, Nguyễn Thị Lê, (1977) [42] Thông qua đó rút ra kết luận tên loài

3.7.1.8 Đánh giá cường độ nhiễm trứng sán trên 1g phân bằng phương pháp

Mc Master

- Tiến hành phương pháp: lấy 2g phân cần xét nghiệm cho vào bình thủy tinh chia vạch sẵn Cho vào 58ml dung dịch nước muối Nacl b2o hòa, lượng dung dịch trong bình dân tới vạch 60ml Đưa vào bình 10 - 20 viên bi thủy tinh lắc mạnh, dừng lại đột ngột sau dùng pipet hút và bơm vào 2 buồng

đếm sao cho lượng dung dịch chàn đều ra diện tích của 2 buồng đếm Đếm trứng ở cả 2 buồng (0,15ml/1 buồng) dưới kính hiển vi quang học

+ Số lượng trứng trong 1g phân được tính theo công thức:

A = a/2 x 200 Trong đó: A là số lượng trứng có trong 1g phân

a là tổng số trứng đếm được trong 2 buồng đếm

Trang 40

Đánh giá mức nhiễm theo cách định tính và quy định như sau:

- Nhiễm nhẹ có từ 200 - 400 trứng/g phân

- Nhiễm trung bình từ 500 - 600 trứng/g phân

- Nhiễm nặng từ 800 - 1000 trứng/g phân

3.7.1.9 Phương pháp tìm Adolescaria của Fasciola spp

+ Tìm Adolescaria trên rau thủy sinh thường dùng làm thức ăn sống của người và vật nuôi bằng phương pháp nạo vét bề mặt thân rau, ly tâm cặn và soi dưới kính hiển vi quang học

+ Định loại Adolescaria của Fasciola spp thông qua Adolescaria thu

được từ thực nghiệm và nguồn tài liệu của Trịnh Văn Thịnh, 1963 [33]

3.7.1.10 Điều tra tình hình sử dụng rau thủy sinh làm thức ăn sống của người

và vật nuôi

+ Mẫu rau được thu nhập tại các nhà hàng và hộ gia đình của 2 huyện Nho Quan và Gia Viễn Chọn 1 x2 có ngoại cảnh đại diện cho vùng đồng bằng, 1 x2 có ngoại cảnh đại diện cho vùng trung du, miền núi với các đặc

điểm nuôi nhiều trâu, bò, dê theo phương thức chăn thả tự do, có nhiều ao hồ,

đồng ruộng ngập nước, người dân trồng nhiều rau thủy sinh Mỗi loại rau sau khi được xác định thường được người dân dùng làm thức ăn sống ở mỗi địa phương với khối lượng mẫu lấy để xét nghiệm là 5kg rau muống, 5kg rau ngổ, cùng một thời gian Địa điểm nơi lấy rau là nơi có nhiều trâu, bò, dê chăn thả, bến tắm của gia súc, những ruộng rau được tưới bằng phân trâu, bò, dê Rau

được lấy cách bờ ao, bờ ruộng 0,5 - 1m Các loại rau được kiểm tra để tìm Adolescaria của Fasciola spp

Xét nghiệm rau thủy sinh tìm kén (Adolescaria) bằng cách nạo vét bề mặt thân rau thủy sinh, lấy chất nạo vét ly tâm lấy cặn soi dưới kính hiển vi tìm kén Adolescaria có dạng hình khối tròn có màu nâu sẫm

+ Xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm Fasciola spp qua mổ khám và kiểm tra phân trâu, bò, dê và qua điều tra dịch tễ học thú y bằng phương pháp nghiên cứu cắt ngang

Ngày đăng: 05/11/2015, 21:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Hữu Bình, Nguyễn Thị Kỳ, Phạm Xuân Dụ (1966), “Kết quả định loại giun sán súc vật nông nghiệp trong ngành nông trường quốc doanh” KHKT Nông nghiệp, 3, tr. 3 - 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả định loại giun sán súc vật nông nghiệp trong ngành nông trường quốc doanh
Tác giả: Nguyễn Hữu Bình, Nguyễn Thị Kỳ, Phạm Xuân Dụ
Năm: 1966
2. V−ơng Đức Chất (1994) “Vài nhận xét về sán lá gan trâu, bò ở ngoại thành Hà Nội và biện pháp tẩy trừ”, Tạp chí KHKT thú y, 1(5) tr. 90 - 91 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nhận xét về sán lá gan trâu, bò ở ngoại thành Hà Nội và biện pháp tẩy trừ
4. Nguyễn Văn Diên (1997) Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ ở những ký sinh trùng chủ yếu trên bò ở một số địa điểm thuộc Tây Nguyên hiệu lực của Okazan. Dovenix, Luận văn thạc sĩ khoa học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ ở những ký sinh trùng chủ yếu trên bò ở một số địa điểm thuộc Tây Nguyên hiệu lực của Okazan
Tác giả: Nguyễn Văn Diên
Nhà XB: Dovenix
Năm: 1997
5. Vũ Đăng Đồng, Hạ Thúy Hạnh (2003), “Một số nhận xét về tình hình nhiễm ký sinh trùng trên đàn dê nuôi tại Ba Vì - Hà Tây”, Tạp chí KHKT Thó y, 10(1), tr. 36 - 41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nhận xét về tình hình nhiễm ký sinh trùng trên đàn dê nuôi tại Ba Vì - Hà Tây
Tác giả: Vũ Đăng Đồng, Hạ Thúy Hạnh
Nhà XB: Tạp chí KHKT Thó y
Năm: 2003
7. Lê Thanh Hòa, Nguyễn Thế Hùng, Giang Hoàng Hà (2008), “Kết quả định loài sán lá gan lớn thu thập tại lò mổ Hà Nội bằng phương pháp PCR”, KHKT Thó y, 15(3), tr. 50 - 55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả định loài sán lá gan lớn thu thập tại lò mổ Hà Nội bằng phương pháp PCR
Tác giả: Lê Thanh Hòa, Nguyễn Thế Hùng, Giang Hoàng Hà
Nhà XB: KHKT Thó y
Năm: 2008
10. Phạm Văn Khuê, Đào Văn Trung, Cao Xuân Ngọc và cs (2008), “Đặc điểm dịch tễ học một số bệnh ký sinh trùng truyền lây sang súc vật và ng−ời (Zooparasitic disease) ở Việt Nam”, Tập san KHKT Nông Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm dịch tễ học một số bệnh ký sinh trùng truyền lây sang súc vật và ng−ời (Zooparasitic disease) ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Văn Khuê, Đào Văn Trung, Cao Xuân Ngọc, cs
Nhà XB: Tập san KHKT Nông Lâm nghiệp
Năm: 2008
13. Phan Địch Lân (1972), “Tình hình nhiễm sán lá gan ở Lào Cai”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm sán lá gan ở Lào Cai
Tác giả: Phan Địch Lân
Năm: 1972
14. Phan Địch Lân, Lê Hồng Căn (1972), “ Vài dẫn liệu về sinh thái học của loài ốc Lymnaea viridis và ốc Lymnaea swinhoei ký chủ trung gian của sán lá gan trâu, bò F. gigantica”, KHKT Nông ngiệp, số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài dẫn liệu về sinh thái học của loài ốc Lymnaea viridis và ốc Lymnaea swinhoei ký chủ trung gian của sán lá gan trâu, bò F. gigantica
Tác giả: Phan Địch Lân, Lê Hồng Căn
Nhà XB: KHKT Nông ngiệp
Năm: 1972
15. Phan Địch Lân (1978), “Bệnh sán lá gan ở trâu bò Fasciola gigantica” Công trình nghiên cứu ký sinh trùng Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh sán lá gan ở trâu bò Fasciola gigantica
Tác giả: Phan Địch Lân
Năm: 1978
17. Phan Địch Lân, Nguyễn Thị Lan, (1998), “Kết quả thử nghiệm một số loại thuốc điều trị bệnh giun sán ở đ−ờng tiêu hòa dê”, Tạp chí KHT thó y, 5(4), tr. 48 - 52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả thử nghiệm một số loại thuốc điều trị bệnh giun sán ở đ−ờng tiêu hòa dê
Tác giả: Phan Địch Lân, Nguyễn Thị Lan
Nhà XB: Tạp chí KHT thó y
Năm: 1998
18. Phan Địch Lân, Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Văn Quang (2005) Bệnh ký sinh trùng ở đàn dê Việt Nam, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ký sinh trùng ở đàn dê Việt Nam
Tác giả: Phan Địch Lân, Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Văn Quang
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2005
21. Phan Lục và cs (1993) Tình hình nhiễm ký sinh trùng đ−ờng tiêu hóa của trâu, bò vùng đồng bằng sông Hồng và biện pháp phòng trừ. Kết quảnghiên cứu khoa học chăn nuôi thú y (1991 - 1993), NXB Nông nghiệp Hà Nội, tr. 92 -94 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm ký sinh trùng đ−ờng tiêu hóa của trâu, bò vùng đồng bằng sông Hồng và biện pháp phòng trừ
Tác giả: Phan Lục, cs
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1993
22. Phan Lục, V−ơng Đức Chất, Trần Văn Quyên (1995), “Tình hình nhiễm ký sinh trùng đ−ờng tiêu hóa của trâu, bò ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam”, Báo cáo hội thảo khoa học thú y về ký sinh trùng thú y REI,Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm ký sinh trùng đ−ờng tiêu hóa của trâu, bò ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam
Tác giả: Phan Lục, V−ơng Đức Chất, Trần Văn Quyên
Năm: 1995
24. Phan Lục, Trần Văn Quyên, Lê Thị Tuyết Minh, Nguyễn Văn Thọ (2001), “Ký sinh trùng truyền lây giữa trâu, bò và người ở một số địađiểm thuộc ngoại thành Hà Nội”, Kết quả nghiên cứu KHKT, NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng truyền lây giữa trâu, bò và người ở một số địa điểm thuộc ngoại thành Hà Nội
Tác giả: Phan Lục, Trần Văn Quyên, Lê Thị Tuyết Minh, Nguyễn Văn Thọ
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2001
25. Hà Huy Ngọ, Nguyễn Thị Lê (1996), “Kết quả tình hình nghiên cứu sán lá gan và biện pháp phòng chống của đàn bò sữa Ba Vì, Hà Tây”, KHKT thó y tËp III Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả tình hình nghiên cứu sán lá gan và biện pháp phòng chống của đàn bò sữa Ba Vì, Hà Tây
Tác giả: Hà Huy Ngọ, Nguyễn Thị Lê
Nhà XB: KHKT thó y tËp III
Năm: 1996
26. Huỳnh Hồng Quang, Nguyễn Văn Khá (2008), “Bệnh sán lá gan lớn trẻ em”, Tạp chí y d−ợc học quân sự, số 2/2008, tr. 59 - 66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh sán lá gan lớn trẻ em
Tác giả: Huỳnh Hồng Quang, Nguyễn Văn Khá
Năm: 2008
29. Đào Hữu Thanh (1976) “Điều tra cơ bản và tẩy giun sán trên đàn bò Việt Nam”, Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật thú y, tr 308 - 313 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra cơ bản và tẩy giun sán trên đàn bò Việt Nam
33. Trịnh Văn Thịnh (1963), “Những nhận xét đầu tiên về sinh thái học một số loài ký sinh trùng chính ở gia súc n−ớc ta”, tạp chí Khoa Học và Kỹ Thuật Nông nghiệp, (3) tr. 113 - 115 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nhận xét đầu tiên về sinh thái học một số loài ký sinh trùng chính ở gia súc n−ớc ta
Tác giả: Trịnh Văn Thịnh
Năm: 1963
34. Nguyễn Văn Thọ (2003), “Sự phân tán và khả năng phát triển một số trứng giun sán lợn qua hệ thống bể Biogas”, Tạp chí KHKT Thú y, 10(3), tr. 22 - 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phân tán và khả năng phát triển một số trứng giun sán lợn qua hệ thống bể Biogas
Tác giả: Nguyễn Văn Thọ
Nhà XB: Tạp chí KHKT Thú y
Năm: 2003
35. Nguyễn Văn Thọ (2005), Khảo sát một số đặc điểm sinh học, dịch tễ học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát một số đặc điểm sinh học, dịch tễ học
Tác giả: Nguyễn Văn Thọ
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1. Tỷ lệ, cường độ nhiễm và thành phần loài Fasciola gigantica - Một số đặc điểm dịch tễ học, sinh học của Fasciola spp truyền lây giữa trâu, bò, dê và người tại hai huyện Gia Viễn, Nho Quan tỉnh Ninh Bình và hiệu lực tẩy sán của phar  dectocid
Bảng 4.1. Tỷ lệ, cường độ nhiễm và thành phần loài Fasciola gigantica (Trang 48)
Bảng 4.2. Tỷ lệ nhiễm Fasciola spp ở trâu, bò, dê - Một số đặc điểm dịch tễ học, sinh học của Fasciola spp truyền lây giữa trâu, bò, dê và người tại hai huyện Gia Viễn, Nho Quan tỉnh Ninh Bình và hiệu lực tẩy sán của phar  dectocid
Bảng 4.2. Tỷ lệ nhiễm Fasciola spp ở trâu, bò, dê (Trang 51)
Bảng 4.4. Kiểm định sự sai khác tỷ lệ nhiễm Fasciola spp - Một số đặc điểm dịch tễ học, sinh học của Fasciola spp truyền lây giữa trâu, bò, dê và người tại hai huyện Gia Viễn, Nho Quan tỉnh Ninh Bình và hiệu lực tẩy sán của phar  dectocid
Bảng 4.4. Kiểm định sự sai khác tỷ lệ nhiễm Fasciola spp (Trang 54)
Bảng 4.5. Cường độ nhiễm Fasciola spp ở trâu, bò, dê. - Một số đặc điểm dịch tễ học, sinh học của Fasciola spp truyền lây giữa trâu, bò, dê và người tại hai huyện Gia Viễn, Nho Quan tỉnh Ninh Bình và hiệu lực tẩy sán của phar  dectocid
Bảng 4.5. Cường độ nhiễm Fasciola spp ở trâu, bò, dê (Trang 57)
Bảng 4.6. Tỷ lệ nhiễm Fasciola spp theo tuổi ở trâu, bò, dê - Một số đặc điểm dịch tễ học, sinh học của Fasciola spp truyền lây giữa trâu, bò, dê và người tại hai huyện Gia Viễn, Nho Quan tỉnh Ninh Bình và hiệu lực tẩy sán của phar  dectocid
Bảng 4.6. Tỷ lệ nhiễm Fasciola spp theo tuổi ở trâu, bò, dê (Trang 60)
Bảng 4.9. Tình hình nhiễm Fasciola spp trên ng−ời tại 2 huyện - Một số đặc điểm dịch tễ học, sinh học của Fasciola spp truyền lây giữa trâu, bò, dê và người tại hai huyện Gia Viễn, Nho Quan tỉnh Ninh Bình và hiệu lực tẩy sán của phar  dectocid
Bảng 4.9. Tình hình nhiễm Fasciola spp trên ng−ời tại 2 huyện (Trang 67)
Bảng 4.10. Sự phát triển của trứng trong điều kiện - Một số đặc điểm dịch tễ học, sinh học của Fasciola spp truyền lây giữa trâu, bò, dê và người tại hai huyện Gia Viễn, Nho Quan tỉnh Ninh Bình và hiệu lực tẩy sán của phar  dectocid
Bảng 4.10. Sự phát triển của trứng trong điều kiện (Trang 68)
Bảng 4.11. Kích th−ớc, hình thái, mầu sắc của các giai đoạn - Một số đặc điểm dịch tễ học, sinh học của Fasciola spp truyền lây giữa trâu, bò, dê và người tại hai huyện Gia Viễn, Nho Quan tỉnh Ninh Bình và hiệu lực tẩy sán của phar  dectocid
Bảng 4.11. Kích th−ớc, hình thái, mầu sắc của các giai đoạn (Trang 73)
Bảng 4.13. Kích th−ớc, hình thái, mầu sắc của các giai đoạn ấu trùng - Một số đặc điểm dịch tễ học, sinh học của Fasciola spp truyền lây giữa trâu, bò, dê và người tại hai huyện Gia Viễn, Nho Quan tỉnh Ninh Bình và hiệu lực tẩy sán của phar  dectocid
Bảng 4.13. Kích th−ớc, hình thái, mầu sắc của các giai đoạn ấu trùng (Trang 78)
Sơ đồ 1: Sự phát triển của Fasciola gigantica ở điều kiện - Một số đặc điểm dịch tễ học, sinh học của Fasciola spp truyền lây giữa trâu, bò, dê và người tại hai huyện Gia Viễn, Nho Quan tỉnh Ninh Bình và hiệu lực tẩy sán của phar  dectocid
Sơ đồ 1 Sự phát triển của Fasciola gigantica ở điều kiện (Trang 79)
Bảng 4.14. Mức độ an toàn khi dùng thuốc tẩy Phar-dectocid. - Một số đặc điểm dịch tễ học, sinh học của Fasciola spp truyền lây giữa trâu, bò, dê và người tại hai huyện Gia Viễn, Nho Quan tỉnh Ninh Bình và hiệu lực tẩy sán của phar  dectocid
Bảng 4.14. Mức độ an toàn khi dùng thuốc tẩy Phar-dectocid (Trang 82)
Bảng 4.15. Hiệu lực của thuốc Phar-dectocid tại địa điểm nghiên cứu - Một số đặc điểm dịch tễ học, sinh học của Fasciola spp truyền lây giữa trâu, bò, dê và người tại hai huyện Gia Viễn, Nho Quan tỉnh Ninh Bình và hiệu lực tẩy sán của phar  dectocid
Bảng 4.15. Hiệu lực của thuốc Phar-dectocid tại địa điểm nghiên cứu (Trang 83)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w