1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thành phần sâu hại mía và thiên địch của chúng, nghiên cứu đặc điểm sinh học của ruồi Episyrphus balteatus (De Geer) ăn rệp xơ trắng tại nông trường sao vàng – thọ xuân – thanh hoá vụ xuân hè năm 2009

113 448 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 2,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp Hà NộI --- Trần thị mai thành phần sâu hại mía và thiên địch của chúng, nghiên cứu đặc điểm sinh học của ruồi Episyrphus balteatus De G

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp Hà NộI

-

Trần thị mai

thành phần sâu hại mía và thiên địch của chúng, nghiên cứu đặc điểm sinh học của ruồi Episyrphus balteatus (De Geer) ăn rệp xơ trắng tại nông trường

sao vàng – thọ xuân – thanh hoá

vụ xuân hè năm 2009

Luận văn thạc sĩ nông nghiệp

Chuyên ngành: bảo vệ thực vật Mã số: 60.62.10

Người hướng dẫn khoa học: pgs.ts nguyễn thị kim oanh

Hà Nội - 2009

Trang 2

Lời cam đoan

- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và ch−a đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào

- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn

đ1 đ−ợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Trần Thị Mai

Trang 3

Lời cảm ơn

Để hoàn thành tốt luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của Ban lãnh đạo nông trường Sao Vàng - Thọ Xuân - Thanh Hoá, các thầy cô, gia

đình và bạn bè Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến:

- Ban lãnh đạo nông trường Sao Vàng - Thọ Xuân - Thanh Hoá đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài

- Tập thể các thầy cô giáo Bộ môn Côn trùng, Khoa sau đại học - trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ và có những góp ý sâu sắc trong thời gian học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin đặc biệt cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thị Kim Oanh người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi cũng xin được cảm ơn bạn bè đồng nghiệp, những người thân trong gia đình, đã giành nhiều tình cảm và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn những tình cảm đó!

Tác giả luận văn

Trần Thị Mai

Trần Thị Mai

Trang 4

Mục lục

4.1 Thành phần sâu hại trên mía tại nông trường Sao Vàng - Thọ

4.2 Thành phần thiên địch sâu hại mía tại nông trường Sao Vàng -

4.3 Diễn biến mật độ rệp xơ trắng (C lanigera) hại mía tại nông

trường Sao Vàng - Thọ Xuân - Thanh Hoá vụ Xuân hè năm 2009 364.3.1 Tỷ lệ giữa các loại hình rệp xơ trắng trên ruộng mía 36

Trang 5

4.3.2 Sự phân bố của rệp xơ trắng (C lanigera) trên cây mía vụ Xuân

hè năm 2009 tại nông trường Sao Vàng - Thọ Xuân - Thanh Hoá 374.3.3 Diễn biến mật độ rệp xơ trắng (C lanigera) trên mía tơ và mía

gốc tại nông trường Sao Vàng - Thọ Xuân - Thanh Hoá vụ Xuân hè

4.3.4 Diễn biến mật độ rệp xơ trắng (C lanigera) trên 5 giống mía tại nông

trường Sao Vàng - Thọ Xuân - Thanh Hoá vụ Xuân hè năm 2009 414.3.5 Diễn biến mật độ của rệp xơ trắng (C.lanigera) trên mía trồng ở hai

chân đất tại nông trường Sao Vàng - Thọ Xuân - Thanh Hoá vụ

4.3.6 ảnh hưởng của khoảng cách hàng trồng mía đến mật độ rệp xơ

trắng (C lanigera) tại Sao Vàng – Thọ Xuân – Thanh Hoá vụ

4.4 Diễn biến mật độ và tỷ lệ các loài ruồi ăn rệp xơ trắng trên mía tại

nông trường Sao Vàng - Thọ Xuân - Thanh Hoá vụ Xuân hè năm 2009 484.4.1 Diễn biến mật độ ruồi ăn rệp xơ trắng tổng số trên mía tại nông

trường Sao Vàng - Thọ Xuân - Thanh Hoá vụ Xuân hè năm 2009 484.4.2 Tỷ lệ các loài ruồi ăn rệp xơ trắng tại nông trường Sao Vàng -

4.5 Đặc điểm hình thái và đặc điểm sinh vật học của ruồi Episyrphus

4.5.1 Đặc điểm hình thái và kích thước của các pha phát dục của ruồi

4.5.2 Đặc tính sinh vật học của ruồi E balteatus ăn rệp xơ trắng 564.5.3 Sức đẻ trứng và nhịp điệu đẻ trứng của ruồi E balteatus 594.5.4 Tỷ lệ trứng nở của ruồi E balteatus trong điều kiện phòng thí

Trang 6

4.5.5 Tỷ lệ nhộng vũ hoá và tỷ lệ đực cái của trưởng thành ruồi E

4.5.6 Xác định khả năng ăn rệp xơ trắng (C lanigera) của ruồi

4.6 Đánh giá hiệu lực của một số loại thuốc BVTV phòng trừ rệp xơ

trắng và ảnh hưởng của chúng đối với ruồi E balteatus 644.6.1 Đánh giá hiệu lực của một số loại thuốc BVTV đối với rệp xơ trắng 644.6.2 ảnh hưởng của thuốc BVTV trừ rệp xơ trắng đến ruồi E

Trang 7

Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t

E balteatus Episyrphus balteatus De Geer

I scutellaris Ischiodon scutellaris Fabricius

Trang 8

Danh mục bảng

4.1 Thành phần sâu hại mía tại nông trường Sao Vàng – Thọ Xuân –

4.2 Thành phần thiên địch của sâu hại mía tại nông trường Sao Vàng -

4.3 Tỷ lệ rệp xơ trắng (C lanigera) không cánh và có cánh hại mía tại

nông trường Sao Vàng - Thọ Xuân - Thanh Hoá vụ Xuân hè năm

4.4 Sự phân bố của rệp xơ trắng (C lanigera) trên cây mía vụ Xuân hè

năm 2009 tại nông trường Sao Vàng - Thọ Xuân - Thanh Hoá 384.5 Diễn biến mật độ rệp xơ trắng (C lanigera) trên mía tơ và mía lưu

gốc tại nông trường Sao Vàng - Thọ Xuân - Thanh Hoá vụ Xuân

4.6 Diễn biến mật độ rệp (C lanigera) 5 giống mía tại nông trường

Sao Vàng - Thọ Xuân - Thanh Hoá vụ Xuân hè năm 2009 (con/lá) 414.7 Diễn biến mật độ của rệp xơ trắng (C.lanigera) trên 2 chân đất trồng

tại nông trường Sao Vàng - Thọ Xuân - Thanh Hoá vụ Xuân hè

4.8 ảnh hưởng của khoảng cách hàng trồng mía đến mật độ rệp xơ

trắng (C lanigera) tại Sao Vàng – Thọ Xuân – Thanh Hoá vụ

4.9 Diễn biến mật độ ruồi ăn rệp xơ trắng tổng số trên mía tại nông

trường Sao Vàng - Thọ Xuân - Thanh Hoá vụ Xuân hè năm 2009 494.10 Tỷ lệ các loài ruồi ăn rệp xơ trắng tại nông trường Sao Vàng - Thọ

Trang 9

4.11 Kích thước các pha phát dục của ruồi E balteata khi được nuôi

bằng rệp xơ trắng (C lanigera) ở điều kiện nhiệt độ phòng thí nghiệm 534.12 Thời gian phát triển các pha của ruồi E balteatus khi được nuôi

bằng rệp xơ trắng (C lanigera) ở điều kiện nhiệt độ phòng thí nghiệm 594.13 Sức sinh sản và nhịp điệu sinh sản của ruồi E balteatus khi được

nuôi bằng rệp xơ trắng (C lanigera) ở điều kiện nhiệt độ phòng thí

4.14 Tỷ lệ nở trứng của ruồi E balteatus De Geer trong phòng thí

4.15 Tỷ lệ nhộng vũ hoá và tỷ lệ đực cái của trưởng thành ruồi E

4.16 Khả năng ăn rệp xơ trắng (C lanigera) của ruồi E balteatus De

4.17 Hiệu lực của 4 loại thuốc BVTV đối với rệp xơ trắng (C

4.18 Hiệu lực của 4 loại thuốc BVTV đối với rệp xơ trắng (C

lanigera) tại nông trường Sao Vàng - Thọ Xuân - Thanh Hoá vụ

4.19 ảnh hưởng của thuốc BVTV trừ rệp xơ trắng đến ruồi E balteatus

4.20 ảnh hưởng của thuốc BVTV trừ rệp xơ trắng đến ruồi E balteatus

trên đồng ruộng tại Sao Vàng - Thọ Xuân - Thanh Hoá vụ Xuân

Trang 10

4.7: Diễn biến mật độ rệp (C lanigera) trên mía tơ và mía lưu gốc tại

nông trường Sao Vàng - Thọ Xuân - Thanh Hoá vụ Xuân hè năm

4.8: Diễn biến mật độ rệp (C lanigera) trên 5 giống mía tại nông

trường Sao Vàng - Thọ Xuân - Thanh Hoá vụ Xuân hè năm 2009 42

4.13: Diễn biến mật độ rệp (C lanigera) trên mía trồng ở 2 chân đất tại nông

trường Sao Vàng - Thọ Xuân - Thanh Hoá vụ Xuân hè năm 2009 45 4.14: ảnh hưởng của khoảng cách hàng mía trồng đến mật độ rệp

xơ trắng (C lanigera) tại Sao Vàng – Thọ Xuân – Thanh Hoá

4.15 Diễn biến mật độ ruồi ăn rệp xơ trắng tổng số trên mía tại nông

trường Sao Vàng - Thọ Xuân - Thanh Hoá vụ Xuân hè năm 2009 50

Trang 11

4.21: Pha ấu trùng 55

4.29 ảnh hưởng của thuốc BVTV trừ rệp xơ trắng đến ruồi E

4.30 ảnh hưởng của thuốc BVTV trừ rệp xơ trắng đến ruồi E

Trang 12

1 Đặt vấn đề

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Cây mía (Saccharum officinarum L.) là cây công nghiệp có nguồn gốc nhiệt đới được trồng ở nhiều nước trên thế giới Trong cơ cấu cây công nghiệp, cây mía giữ một vị trí khá quan trọng, đặc biệt đối với ngành công nghiệp

đường, cây mía là nguyên liệu chính, hơn 60% sản lượng đường trên thế giới

được sản xuất từ cây mía ở Việt Nam cây mía đ1 đang chiếm vị trí quan trọng trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng và đa dạng hoá sản phẩm nông nghiệp theo hướng Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Trong suốt quá trình sinh trưởng phát triển cây mía luôn bị nhiều loài sâu hại gây hại dẫn đến làm giảm năng suất và phẩm chất Theo tài liệu điều tra của ngành mía đường, thiệt hại làm giảm sản lượng do sâu: 17,1%, do bệnh: 11,5%, do cỏ dại: 11,8%[1] Trong các loài dịch hại đó thì rệp xơ trắng

được ghi nhận là loài dịch hại chủ yếu tại các vùng trồng mía ở giai đoạn cây mía vươn lóng đến thu hoạch làm cho trữ lượng đường giảm nặng, là mối nguy hại lớn cho nghành sản xuất mía đường

Trong hơn nửa thế kỉ qua, công tác phòng chống dịch hại để bảo vệ mùa màng chủ yếu dựa vào biện pháp hoá học Hàng năm thế giới sử dụng khoảng 1,15 triệu tấn thuốc hoá học, đặc biệt là các nước phát triển như: Anh, Pháp, Nhật …chiếm 4/5 tổng lượng thuốc hoá học trên thế giới [41]

Tuy nhiên biện pháp hoá học đ1 sớm thể hiện yếu điểm của nó là ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái, sự đa dạng sinh học trong tự nhiên, môi trường sống và sức khoẻ cộng đồng

Thời gian qua biện pháp sinh học sử dụng các loài sinh vật có ích hay thiên địch diệt trừ côn trùng gây hại cây trồng đ1 trở thành một lĩnh vực

Trang 13

nghiên cứu rộng và là thành tố rất quan trọng của biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp IPM Để có thể bảo vệ, khích lệ được các loài thiên địch của côn trùng thì những hiểu biết về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của chúng là điều không thể thiếu

Rệp xơ trắng hại mía, có chu kì sống ngắn, sức tăng quần thể cao nên

dễ thành dịch gây tổn thất lớn về năng suất cũng như phẩm chất mía Rệp chích hút làm giảm phẩm chất, chất lượng đường Khi cây mía bị rệp hại, sinh trưởng còi cọc, làm giảm năng suất, chất lượng đường có khi mía không thể chế biến được vì tạp chất và keo quá nhiều, khó lắng lọc và kết tinh đường

Tuy nhiên ngoài tự nhiên rệp xơ trắng lại bị rất nhiều thiên địch khống chế, đặc biệt là các loài bọ rùa, ruồi ăn rệp, ong kí sinh Trong đó ruồi ăn rệp

có vai trò đặc biệt trong khống chế số lượng rệp xơ trắng ngoài tự nhiên (theo Weems (1954) [57], khi mật độ quần thể sâu non ruồi ăn rệp lên cao chúng có khả năng phòng trừ quần thể rệp đạt hiệu quả 70 – 100%

Vì vậy xuất phát từ thực tế trên, đồng thời nhằm đóng góp cho việc xây dựng chương trình phòng chống sâu hại trên mía nói chung và rệp xơ trắng nói riêng hiệu quả, tôi tiến hành đề tài:

“Thành phần sâu hại mía và thiên địch của chúng, nghiên cứu đặc

điểm sinh học của ruồi (Episyrphus balteatus De Geer) ăn rệp xơ trắng tại nông trường Sao Vàng - Thọ Xuân - Thanh Hoá vụ Xuân Hè 2009” 1.2 Mục đích yêu cầu của đề tài

Trang 14

1.2.2 Yêu cầu

- Xác định thành phần và mức độ phổ biến của sâu hại mía và thiên

địch của chúng tại nông trường Sao Vàng - Thọ Xuân - Thanh Hoá

- Điều tra diễn biến mật độ của rệp xơ trắng C.lanigera tại nông trường Sao Vàng - Thọ Xuân - Thanh Hoá

- Điều tra diễn biến mật độ của ruồi ăn rệp xơ trắng tại nông trường Sao Vàng - Thọ Xuân - Thanh Hoá

- Nghiên cứu đặc điểm hình thái, đặc điểm sinh học và thử khả năng ăn rệp xơ trắng C.lanigera của loài ruồi E balteatus

- Khảo nghiệm hiệu lực của thuốc BVTV đối với rệp xơ trắng C.lanigera và ảnh hưởng của thuốc đối với ruồi E balteatus

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Các loài sâu hại mía và thiên địch của chúng

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu thành phần sâu hại và thiên địch trên cây mía Nghiên cứu

đặc điểm sinh học của ruồi Episyrphus balteatus De Geer ăn rệp xơ trắng tại nông trường Sao Vàng - Thọ Xuân - Thanh Hoá

Trang 15

2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

2.1 Những nghiên cứu ngoài nước

2.1.1 Nghiên cứu về thành phần sâu hại mía

Việc nghiên cứu sâu bệnh hại trên cây mía đ1 được nhiều nước quan tâm từ rất lâu Hiện nay vấn đề này vẫn đang được chú trọng nghiên cứu đặc biệt ở những nước có nghành công nghiệp mía đường phát triển Theo Issac P.V.1937 đ1 tổng kết có 97 loài sâu hại mía [40] Còn theo Box H.E 1953 thì

có 125 loài [32], Gupta B.D 1959 thì ghi nhận rằng trên thế giới có 18 loài sâu hại mía chủ yếu, 21 loài thứ yếu [35]

Theo Water house D.F 1993 thì cho rằng trên thế giới có 20 loài sâu hại mía chủ yếu Các tác giả thống nhất phân các loài sâu hại mía thành các nhóm chính như: Nhóm sâu đục thân, nhóm sâu hại đất, nhóm sâu hại lá Trong các nhóm sâu hại mía trên, nhóm sâu đục thân và nhóm sâu hại lá là 2 nhóm gây hại nguy hiểm đối với cây mía [39]

2.1.2 Nghiên cứu về rệp xơ trắng (C lanigera) hại mía

Rệp xơ trắng hại mía nằm trong họ (Aphididae), thuộc tổng họ rệp muội (Aphidoidae), bộ cánh đều (Homoptera)

Những hoá thạch của rệp muội (Triassoaphis cubitus) đ1 được biết

đến từ kỷ Trissic Điều đó cho thấy tổng họ rệp muội đ1 xuất hiện từ 280 triệu năm trước đây thuộc kỷ Cacbon, từ đó rệp muội được phát triển và hoàn thiện dần để trở thành các loài rệp muội ngày nay [44] Trong tổng họ rệp muội, họ rệp muội (Aphididae) là họ lớn nhất Họ này xuất hiện muộn cùng với sự xuất hiện của họ hoa hồng (Heic, 1967) [38] Mặc dù sự xuất hiện của họ rệp muội từ rất lâu, song sự phát hiện và quan tâm của con

Trang 16

người với chúng mới được bắt đầu từ 1568

Về rệp xơ trắng hại mía, theo tác giả Zehntner (1897) [33] qua kết qua nghiên cứu đ1 mô tả một cách chi tiết về rệp Ceratovacuna lanigera ở Java Indonesia, nhưng đến năm 1906 Van Deventer đ1 tìm ra và đạt tên khác là Oregma lanigera và cuối cùng nhiều nhà khoa học khác Vander Goot, Dammerman, Kuyper và Hazelhoff Java ở Indonesia, Copland, William, Uichango, Loperz và Pierce ở Philippines, Takahashi Ishida ở Đài Loan, Uye ở Nhật Bản và Lai ở Trung Quốc đ1 đổi thành tên Ceratovacuna lanigera và cuối cùng các tác giả đều xếp rệp xơ trắng hại mía vào bộ Homoptera, họ Aphididae

Theo các nghiên cứu của Cheng (1998) [53] ở Viện nghiên cứu mía

đường Đài Loan chỉ ra rằng rệp xơ trắng nuôi sống được ở 1oC Khảo sát về mức độ phát sinh, phát triển chậm vào tháng 6 đến tháng 9, rệp phát triển mạnh nhất sau đó và giảm dần vào tháng 12 Nghiên cứu về vấn đề này, bộ môn Bảo

vệ thực vật Viện Nghiên cứu Mía Đường Đài Loan, 1996 [51] kết luận quần chủng rệp xơ trắng ở đỉnh cao vào ngày 25 tháng 4 năm 1996 và 25 tháng 6 năm 1996 sau đó giảm dần, nhiệt độ cao là nguyên nhân làm rệp xơ trắng biến

động ở mức độ chậm vào mùa hè, rệp xơ trắng phát triển mạnh vào tháng 5 và tháng 9, nhiệt độ quá cao làm ảnh hưởng đến quần thể rệp, mưa to gió lớn làm giảm sự phát triển của rệp xơ trắng Thời tiết quá nóng nhiệt độ trên 40oC và ẩm

độ quá cao hoặc quá thấp sẽ làm cho rệp chết nhiều, nhiệt độ tối thấp cho rệp xơ trắng là 5o, nhiệt độ tối thích là 25oC (Liu V.C Perng IJ, 1987) [45]

2.1.3 Nghiên cứu về các loài thiên địch của rệp xơ trắng (C lanigera) hại

mía tại nông trường Sao Vàng - Thọ Xuân - Thanh Hoá

Về thành phần thiên địch của rệp muội nói chung, của rệp xơ trắng nói riêng đ1 được nhiều tác giả nghiên cứu Thiên địch của rệp muội thuộc bộ hai cánh Diptera được xác định nằm trong hai họ là Syrphidae và Tachinidae Các loài thuộc họ Tachinidae là các loài ký sinh, còn các loài ruồi bắt mồi ăn rệp

Trang 17

tập trung trong họ Syrphidae [55] Theo một số tài liệu, người ta đ1 định danh

và miêu tả được 6000 loài thuộc 200 giống nằm trong 3 họ phụ của họ Syrphidae, bao gồm: Syrphinae, Microdontinae và Eristalinae [42]

Đối với mỗi loài rệp muội tồn tại, phát triển ở từng miền sinh thái thường kéo theo một tập đoàn thiên địch riêng biệt Người ta chỉ ra rằng thiên

địch trên rệp xám Brevicoryne brassicae (L.) hại cải bắp ở Tajikistan (Liên xô cũ) gồm 20 loài trong đó đáng chú ý là các loài ăn thịt: Coccinella septempunctata (L.), Chrysoperla carnea (Steph.), Metasyrphus corollae (F.), Episyrphus balteatus (Degeer) [30] ở ấn Độ (1981) cũng đ1 công bố rệp Aphis fabae, Lipaphis erysimi, Aphis gossypii bị ong Ephedrus plagiato và Diaeretiella rapae ký sinh Những loài rệp này cũng bị giòi ăn rệp Episyrphus balteatus (Degeer) tấn công [29]

Nhiều tác giả đ1 nghiên cứu đánh giá vai trò của thiên địch của rệp muội Manhmoud (1983) [46] khẳng định tính chủ đạo của ruồi ăn rệp trong vai trò thiên địch đối với rệp muội Khi đánh giá về ảnh hưởng của thiên địch trong quần thể rệp xám Brevicoryne brassicae (L.) trên hai cánh đồng, người ta thấy các loài ruồi bắt mồi ăn rệp chiếm 53,04% tổng

số các loài ăn rệp so với loài đứng thứ 2 là bọ mắt vàng Chrysopa carnea (Steeph.) chiếm 29,71% [49]

Kirishan và cộng tác viên (1990) [43] đ1 nghiên cứu vai trò của hai loài ruồi ăn rệp trong điều khiển quần thể của 3 loài rệp Brevicoryne brassicae (L.), Myzus persicae Sulzer và Lipaphis erysimi Kaltenbach Kết quả thực nghiệm: các tác giả cho biết cả pha ấu trùng ruồi Episyphus balteatus thứ tự ăn được

209, 289, 233 con rệp/ấu trùng, còn cả pha ấu trùng của ruồi Ischiodon scutellaris thứ tự ăn được 210, 173, 218 con rệp/ấu trùng Cũng chính tác giả cho biết thêm, tại vùng Himachal Pradesh (ấn Độ), côn trùng ăn thịt, chủ yếu là

Trang 18

giòi ăn rệp và giòi năn (Cecidomyiidae) làm giảm 20% quần thể rệp

Riêng đối với rệp xơ trắng hại mía, Aoki et al, (1984) [33] đưa ra danh mục kẻ thù tự nhiên của rệp xơ trắng hại mía như sau:

- Loài Encarsia flavoscutellum ăn pha sâu non và pha trưởng thành của rệp xơ trắng ở Indonesia

- Synonycha grandis tấn công pha sâu non, pha trưởng thành của rệp xơ trắng hại hại ở Trung Quốc, Malaysia, Philippines, Nhật bản, Đài Loan

- Taraka hamada tấn công pha sâu non, pha trưởng thành của rệp xơ trắng hại mía ở Trung Quốc

- Gibberella fujikuroi tấn công pha sâu non, pha trưởng thành của rệp xơ trắng hại ở Trung Quốc

- Loài Coccinella septempuctata thường ăn pha sâu non, pha trưởng thành của rệp xơ trắng hại mía ở nhật bản, Đài Loan và Mỹ

- Coleophora saucia tấn công pha sâu non, pha trưởng thành của rệp xơ trắng hại mía ở Việt Nam, Đài Loan

- Dipha aphidivora tấn công pha sâu non của rệp xơ trắng hại mía ở Philippines, Đài Loan, Malaysaia, Nhật Bản, Việt Nam

- Lemnia biplagiata tấn công ở pha sâu non, pha trưởng thành của rệp xơ trắng hại mía ở Trung Quốc

- Menochilus sexmaculatus tấn công ở pha sâu non của rệp xơ trắng hại mía ở Malaysia, Philippines, Đài Loan

- Metasyrphus corllae tấn công pha sâu non của rệp xơ trắng hại mía ở Philippines

- Micromus timidus tấn công pha sâu non, pha trưởng thành của rệp xơ

Trang 19

15 rệp non mới nở cho vào đĩa petri bằng nhựa chứa 2ml khẩu phần thức ăn và 1,3 cục bông ngâm với 5% dung dịch mật ong, đĩa petri giữ ở nhiệt độ 25 ±

1oC, ẩm độ 30 - 40%, cục bông đ1 cung cấp một phần thức ăn trong suốt thời gian chăm sóc Tổng cộng có 38,3 - 62,5 sâu non hoá nhộng khi có 5% dung dịch mật ong thấm bông thì tỷ lệ hoá trưởng thành đạt 90 - 95%

Cũng theo Viện nghiên cứu mía đường Đài Loan (1998) [53] đ1 phát hiện ra Isauria aphidivora và Synonycha grandis là những côn trùng ăn rệp 2.1.4 Nghiên cứu về thành phần ruồi ăn rệp

Một trong số những thiên địch của rệp muội là ruồi ăn rệp họ Syrphidae Trên thế giới các kết quả nghiên cứu về ruồi ăn rệp trước tiên phải

kể đến là những nghiên cứu về thành phần loài

ở Cộng hoà Czech & Slovakia người ta đ1 thu được 63 loài ruồi ăn rệp

họ Syrphidae trong đó loài Episyrphus balteatus (Degeer) là loài có số lượng cao nhất Khi nghiên cứu ruồi ăn rệp ở cao nguyên Tien – shan & Pamir (Liên xô cũ), người ta đ1 thu được 101 loài, song chúng không phải đều là loài bản

xứ (Theo Pek (1982) [48])

Theo Krishan và ctv (1990)[43] vùng Hamachal Paradesh - ấn Độ có 9 loài ruồi ăn rệp trên các ký chủ khác nhau, chúng phát huy hiệu quả tốt hơn các loài bọ rùa Cuối tháng 3 quần thể của nó đủ sức để có thể giữ quần thể

Trang 20

rệp dưới ngưỡng phòng trừ

Mới đây nhất, trong hội nghị lần thứ 3 về ruồi ăn rệp, các nhà khoa học Nhật Bản cho biết đ1 thu thập, định danh được 630 loài có mặt ở vùng biển và trong lục địa nước này Với 282 loài đặc hữu của vùng chiếm 44,8% trong đó 90 loài chiếm 14,3% có mặt ở cả vùng đảo và trong lục địa Chỉ riêng phần lục địa thì có 12,2% loài đặc hữu, 18,3% tổng số loài đại diện cho vùng đảo Xét riêng trong hệ động vật của Hokkaido thì có 40% loài ruồi bắt ruồi đặc hữu cho vùng,

đại diện cho Honshu chiếm 57% và ở Sikkoku có 58% (Theo Mutin (2005) [47]) 2.1.5 Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của một số loài ruồi ăn rệp

xơ trắng (C lanigera) hại mía

Những nghiên cứu về hình thái học, sinh học, sinh thái học của ruồi ăn rệp Syrphidae đ1 được nhiều tác giả trên thế giới đề cập tới

Các nghiên cứu về đặc điểm hình thái của ruồi bắt mồi ăn rệp tập trung vào hình dạng vân, màu sắc cơ thể của ruồi trưởng thành Đây là các đặc điểm chủ yếu đ1 và đang được sử dụng để định loài Bên cạnh phương pháp chủ đạo này, ngày nay nhiều nhà khoa học đề cập đến sự kết hợp giữa phương pháp so sánh hình thái với phân tích bộ gien Vì cho rằng một số loài ruồi ăn rệp phổ biến có tính mềm dẻo trong biểu hiện kiểu hình Graham J Hollaway [34] cùng các đồng nghiệp của mình đ1 tiến hành quan sát trên ruồi bắt mồi Episyrphus balteatus De Geer và 3 loài Metasyrphus thì thấy hình dạng, màu sắc các vân trên cơ thể ruồi trưởng thành có sự thay đổi theo mùa Điều này

được lý giải dựa trên giả thuyết “Sự thay đổi màu vân cơ thể có liên quan và

ảnh hưởng tới khả năng điều hòa thân nhiệt của động vật” Tuy nhiên, sự thay

đổi này không phải bị chi phối bởi một yếu tố duy nhất là nhiệt độ môi trường

mà còn nhiều yếu tố khác Ví dụ, ở một số loài ruồi thuộc họ Syrphidae, thời gian phát dục của pha nhộng quyết ủịnh cuối cùng tới màu vân trên cơ thể của ruồi trưởng thành (Heal, 1979, 1981, Ottenheim và cộng tác viên, 1995)

Trang 21

Sharma và Bhalla (1988) [56] đ1 nghiên cứu sinh học của 6 loài ruồi ăn rệp xám Brevicoryne brassicae (L.) ở ấn Độ, ấu trùng của các loài ruồi Metasyrphus confrater, Scaeva pyrastri, Macrosyrphus sp., Episyrphus balteatus, Metayrphus corollae và Ischiodon scutellais (F.) có sức ăn khá lớn Trong suốt thời gian phát dục một ấu trùng có thể ăn được 418,8; 384,9; 268,2; 252; 235,1 và 222,8 rệp (lần lượt theo thứ tự loài) Thời gian sống của ruồi trưởng thành khi cho hút mật ong 10% là 4 – 24 ngày

Rao và CTV (1997) [50] đ1 đánh giá khả năng ăn mồi của Episyrphus balteatus (Deg.) Theo tác giả, trong suốt thời gian phát dục của dòi, một dòi

ăn được tối đa 396 rệp, số rệp bị ăn này chỉ bằng 50% số rệp mà chúng có thể

ăn được khi nuôi trong phòng vì ở ngoài đồng chúng phải mất thời gian đi tìm kiếm thức ăn

ở Philippine, Alfier và Calilung (1981) [29] tiến hành nuôi sinh học ruồi bắt mồi Ichiodon scutellaris (F.) với con mồi là hai loài rệp phổ biến Melanaphis sacchari (Zhnt) và Rophalosiphum maidis (Fitch) đ1 xác định thời gian phát dục của các pha phát triển Trong đó pha trứng 3 – 4 ngày, ấu trùng 5 – 7 ngày (3 tuổi), nhộng 4 – 12 ngày, trưởng thành con đực sống 7 – 8 ngày, trưởng thành con cái sống 11 – 12 ngày Một ruồi cái đẻ được từ 32 – 51 trứng Khả năng ăn rệp của ấu trùng tuổi 1 là 37 rệp, tuổi 2 là 50 rệp (với cả 2 loại rệp) nhưng ở tuổi 3 ăn 71 rệp mía (Melanaphis sacchari (Zhnt)) hoặc 58 rệp ngô (Rophalosiphum maidis (Fitch))

Xuất hiện trên tập đoàn rệp cùng ruồi bắt mồi còn có bọ rùa, chuồn chuồn cỏ… Sự cạnh tranh về thức ăn tất yếu xảy ra Basant K Agarwala & Hironori Yasuda [31] đ1 xem xét mối tương tác giữa các loài bắt mồi ăn rệp Thí nghiệm được tiến hành trên cây dâm bụt có loài rệp bông (Aphis gossypii) gây hại Quan sát thấy: loài bọ cánh cứng Scymnus posticalis Sicard có mặt trên quần thể rệp Aphis gossypii Glover đầu tiên Sau đó ấu trùng của nó cùng

Trang 22

với ấu trùng của ruồi bắt mồi ăn rệp Eupeodes freguens (Matsumura) khống chế quần thể rệp trong 3 tuần, khi đó không có sự tham gia của các loài bọ rùa

ăn thịt kích thước lớn Sự tương tác giữa hai loài này được nghiên cứu trên sự

ảnh hưởng của lớp sáp bao phủ cơ thể loài Scymnus posticalist (Matsumura) Kết quả cho thấy rằng: ấu trùng tuổi 1 lớp sáp bao phủ mỏng nhất Từ tuổi 2

đến tuổi 4 lớp sáp dày dần lên đ1 chống lại sự cạnh tranh của ấu trùng ruồi bắt mồi một cách có hiệu quả [31]

Không chỉ có sự cạnh tranh về thức ăn với các loài thiên địch ăn rệp khác mà ruồi ăn rệp cũng bị ong ký sinh bậc hai Đây chính là mặt hạn chế của ruồi bắt mồi ăn rệp đ1 được Rotheway nêu ra từ 1984 [54] Rotheway cho rằng hầu hết các loài ruồi bắt mồi đều bị ong ký sinh

2.2 Nghiên cứu trong nước

ở Việt Nam những nghiên cứu về thành phần sâu hại mía và rệp xơ trắng hại mía đ1 có được nhiều kết quả đáng kể Tuy nhiên những nghiên cứu

về ruồi ăn rệp đặc biệt là rệp xơ trắng hại mía vẫn còn ít ỏi

2.2.1 Nghiên cứu về thành phần sâu hại mía

Với khí hậu thuộc vùng nhiệt đới nên ở nước ta khá phù hợp cho sự phát triển của các loài sâu hại Những năm gần đây ở những vùng chuyên canh mía, sâu hại đ1 làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng của cây mía

Theo kết quả nghiên cứu của Lương Minh Khôi, Nguyễn Thị Diệp và cộng tác viên (1995) [16] cho thấy: ở miền Bắc có 29 loài sâu hại mía, miền Nam có 61 loài sâu hại trong đó có 26 loài thường xuyên gây hại đáng kể Sâu hại lá có 12 loài, sâu hại cây có 15 loài Trong những loài côn trùng gây hại trên thì phổ biến và thường gây thành dịch là rệp xơ trắng (Ceratovacuna laniger Zehntner), các loài sâu đục thân, châu chấu mía (Hieroglyphus anmuliconnis), rệp sáp (Triomymus sacchais) mối (Odonto termes), bọ hung

Trang 23

đục gốc (Alissonotum inpressicole),

Cũng theo Lương Minh Khôi (1999) [15] đ1 tiến hành điều tra từ năm

1992 -1997 tại một số vùng mía ở Hà Nội, Thanh Hoá, Ninh Bình, Hà Tây, Vĩnh phúc, Sông Bé, Tây Ninh và Long An đ1 phát hiện và ghi nhận được: có

66 loài các loài phổ biến và thường gặp hại nặng là sâu đục thân, rệp xơ trắng,

bọ hung đục gốc, mối cũng theo tác giả trên 2 đối tượng nguy hiểm nhất lá rệp xơ trắng và sâu đục thân Chuột có 5 loài nguy hiểm nhất là chuột đồng Thiên địch của sâu hại mía có 31 loài trong đó có 21 loài ăn thịt, 10 loài ký sinh, 8 loài phổ biến nhất là ong mắt đỏ, ong đen,, ong kén trắng, ong cự đen nhỏ, bọ rùa 13 chấm và sâu non ăn rệp

Nguyễn Văn Hoan (2000) [6] đ1 điều tra thành phần sâu hại mía trên vùng nguyên liệu mía đường Lam Sơn – Thanh Hoá và kết quả thu được 21 loài sâu hại thuộc 7 bộ và 12 họ, trong đó loài Ceratovacuna lanigera Zehntner là loài gây hại nghiêm trọng nhất

Theo Nguyễn Thị Kim Oanh (2005) [25] thành phần sâu hại mía trồng tại vùng nguyên liệu mía đường Nông Cống – Thanh Hoá gồm 10 loài thuộc

10 họ, 5 bộ Đó là các loài thuộc bộ Lepidoptera gồm 3 loài; bô Thysanoptera gồm 1 loài; bộ Hemiptera gồm 1 loài; bộ Homoptera gồm 3 loài; bộ Coleoptera gồm 2 loài, bộ Hemiptera gồm 1 loài Trong đó rệp xơ trắng, xén tóc, bọ xít nhỏ và đục thân được xác định là những loài sâu hại chủ yếu tại các

địa điểm của vùng nguyên liệu

ở miền Bắc nước ta nhiều nơi đặc biệt là các vùng nguyên liệu chuyên canh mía đường có những năm rệp xơ trắng gây hại nặng trên diện rộng 2.2.2 Nghiên cứu về rệp xơ trắng (C lanigera) hại mía

Rệp xơ trắng là một loài dịch hại nguy hiểm không những đối với sinh trưởng và phát triển của cây trồng mà còn ảnh hưởng xấu đến năng suất và

Trang 24

chất lượng đường Theo Trần Văn Sỏi (1995) [26] ở khu vực phía Bắc, rệp là

đối tượng gây hại lớn nhất đối với nghề trồng mía Rệp thường xuất hiện nhiều vào mùa hạ, phá hoại mạnh nhất vào cuối mùa thu, đầu mùa đông và có thể kéo dài đến cuối năm

Quách Thị Ngọ (2002) [20] đ1 tiến hành điều tra trên 30 loại cây trồng bao gồm cả cây mía, thuộc các tỉnh đồng bằng Bắc bộ và phụ cận, một số tỉnh trung du và miền núi phía Bắc và đặc biệt là ở các huyện ngoại thành Hà Nội Kết quả thu thập được 45 loài rệp muội và đ1 xác định được tên 32 loài thuộc

5 họ phụ Tác giả cũng cho biết thêm rằng trong 32 loài đ1 xác định được tên thì có 7 loài là những loài rất phổ biến trong đó có loài Ceratovacuna lanigera Zehnther

Theo Lương Minh Khôi (1999) [15] ở miền Bắc một năm rệp phát sinh khoảng 20 lứa, sức sinh sản mạnh, rệp có thể sinh sản quanh năm, khi điều kiện thích hợp sẽ gây thành dịch

ở nước ta đ1 có nhiều tác giả nghiên cứu về đặc tính sinh học và sinh thái học của rệp xơ trắng để phục vụ cho công tác dự tính dự báo và phòng trừ rệp

có hiệu quả Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đức Khiêm (1996): Thời gian phát dục của rệp non loại hình có cánh 11-15 ngày Vòng đời của loại hình có cánh 33- 37 ngày, 1 đời 39 - 40 ngày, của loại hình không cánh là 13- 18 ngày, 1 đời từ 19 - 26 ngày [12] Ngoài ra tác giả nhận xét rằng nuôi rệp cái không cánh và có cánh trong tháng 8 và tháng 9 trên giống mía F134, nhiệt độ trung bình cả đợt 27,5oC, ẩm độ trung bình 81% thì thời gian phát dục các pha của 2 loại hình rệp khác nhau rõ rệt Theo Nguyễn Văn Hoan [6] trong điều kiện thí nghiệm với thức ăn là giống VĐ 63-237, ở nhiệt độ 22,5 – 29,5oC, ẩm độ 74,5 – 90,5% thì thời gian phát dục của rệp non loại có cánh là

32 – 36 ngày, loại không cánh 14 – 18 ngày Vòng đời của loại hình có cánh

35 – 40 ngày, loại hình không cánh 16 – 21 ngày

Trang 25

Theo tác giả Lương Minh Khôi [17] tuổi thọ của rệp trưởng thành không cánh từ 32 - 92 ngày, sức đẻ lớn, một đời đẻ từ 50 - 130 con, bình quân mỗi ngày đẻ được 2 con Tuổi thọ của rệp trưởng thành có cánh từ 7 - 10 ngày và

có thể đẻ được từ 10-15 rệp non Một quần thể rệp non có từ 3 - 4 đời cùng sinh sống, thậm chí có mấy đời cùng sinh sống một nơi Khi rệp trên lá mía nhiều, rệp non tuổi 1,2 phân tán và di chuyển lung tung từ lá này sang lá khác Thời tiết và khí hậu ảnh hưởng đến sức sinh sản của rệp và thời gian các lứa rất lớn Bình quân nhiệt độ từ 20 - 30oC, cao nhất trên 40 oC rệp sẽ xuất hiện hiện tượng đình dục, tuổi rệp non kéo dài hơn, chủ yếu là kéo dài rệp tuổi 4,

so với tuổi 4 rệp non không cánh dài gấp 2-3 lần

2.2.3 Những nghiên cứu về thiên địch của rệp xơ trắng (C lanigera) hại

mía tại nông trường Sao Vàng - Thọ Xuân - Thanh Hoá

Theo Lương Minh Khôi (1997): ở miền Bắc, thiên địch của rệp có nhiều loại Bắt mồi ăn thịt có bọ rùa 13 chấm, một đời bọ rùa ăn được 32.000 con rệp, bọ rùa 2 chấm đỏ một đời ăn được 4000 - 5000 con, ngoài ra có sâu non vệt xanh, bọ ngựa Rệp cũng bị bệnh, có loài nấm ký sinh là Aspergillus sp gây bệnh cho rệp rất lớn Loại nấm này vào tháng 7-8 nhiệt độ cao phát triển rất nhanh, chỉ thời gian ngắn có tác dụng hạn chế quần thể rệp rất tốt Nấm Aspergillus sp này sinh sản thích hợp ở nhiệt độ 25 -28 oC, ẩm độ 80,9 - 99,1% [14]

Khi nghiên cứu về mối liên quan giữa số lượng bọ rùa đỏ Micraspis discolor F và rệp xơ trắng hại mía tại vùng mía Biên Giang - Hà Tây, Trương Xuân Lam (1994) cho thấy khả năng kìm h1m số lượng xơ trắng của bọ rùa đỏ trên mía rất lớn, khả năng này phụ thuộc vào số lần và thời điểm phun thuốc trừ sâu trên cánh đồng [27]

2.2.4 Những nghiên cứu về ruồi ăn rệp xơ trắng (C lanigera) hại mía

Nguyễn Văn Huỳnh và Phan Văn Biết (2005) [11] đ1 tiến hành điều tra

Trang 26

thành phần loài, đánh giá khả năng ăn rệp và khảo sát chu kỳ sinh trưởng của một số loài phổ biến trong điều kiện phòng thí nghiệm Kết quả thu được 19 loài ruồi ăn rệp thuộc họ Syrphidae trên các loại cây ăn quả, cây hoa màu và cây dại ven đường Tuy nhiên, chỉ một số loài tìm được ấu trùng trong quần thể rệp là Ischiodon scutellaris, Paragus crenulatus, Eristalis sp., Episyrphus sp và Fabricius Ba loài phổ biến nhất cũng là ba loài được khảo sát về chu kỳ sinh trưởng và khả năng ăn rệp với ba loài rệp Aphis gossypii Glover, A.cracciora Khoch và Toxoptera citricidus Kết quả được ghi nhận: Ischiodon scutellaris, Paragus crenulatus, Dideopsis aegrotus có vòng đời rất ngắn khoảng 3 tuần và khả năng ăn rệp trong điều kiện nhà lưới của chúng rất cao, ví dụ như Dideopsis aegrotus sau 48 giờ, ở điều kiện nhiệt độ T = 27 - 300 C, độ ẩm H =

67 - 75%, ruồi ăn trung bình 205,51 con rệp

Khi nghiên cứu về ruồi ăn rệp, Nguyễn Viết Tùng (1990) [28] ở miền Nam đ1 thu thập được 7 loài ruồi ăn rệp: Paragus crenulatus Thomson, Ischiodon scutellaris Fabricius, Epistrophe balteata Degeer, Ischyrosyrphus glaucius Linne, Melanostoma sealare, Syrphus searius Weide mann, Paragus tibialis Fallen

Phạm Văn Lầm (2005) [19] đ1 tiến hành điều tra thu thập thiên địch của rệp muội hại cây trồng ở nhiều nơi trong nhiều năm Tác giả đ1 xác định

được 52 loài thiên địch của một số loài rệp muội hại cây trồng Chúng thuộc 4

bộ côn trùng Coleoptera, Diptera, Hymenoptera, Neuroptera Tác giả cũng

đưa ra nhận định: dòi ăn rệp có vai trò rất lớn trong hạn chế số lượng của rệp muội màu đen (Aphis craccivora Koch)

Nguyễn Thị Kim Oanh (2003) [23] khi nghiên cứu về rệp muội đ1 thu thập được 2 loài ruồi bắt mồi ăn rệp: Ischiodon scutellaris Fabricius, Epistrophe cinctella Zett

Khi nghiên cứu về vai trò của ruồi ăn rệp họ Syrphidae trong một số

Trang 27

quần thể rệp muội hại cây trồng, Quách Thị Ngọ và Nguyễn Thị Hoa (2005)[21] đ1 nhận định rằng: Trên ruộng bắp cải, thuốc lá ít phun thuốc trừ sâu, ấu trùng ruồi ăn rệp có khả năng hạn chế mật độ rệp từ 20,1 - 89,3% Trên quần thể rệp đậu có tỷ lệ số dòi tuổi 2 - 3 trên số rệp là 1/45 thì không cần phòng trừ

Hà Quang Hùng và cộng tác viên (2004) [10] đ1 điều tra trên 7 loại cây trồng vùng Hà Nội, kết quả: đ1 thu thập và xác định đ−ợc 7 loài ruồi ăn rệp họ Syrphidae: Clythia sp, Syrphus confrater Weide mann, Syrphus ribesii Linne, Megasphis zonata Fabricius, Episyrphus balteatus De Geer, Ischiodon scutellaris Fabricius, Paragus quadrifaciatus Meigen Và đ1 nuôi sinh học 1 loài phổ biến nhất là Syrphus ribesii Linne

Theo Bùi Minh Hồng và ctv (2005)[8] khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa ruồi bắt mồi Syrphus ribesii Linne và rệp muội gây hại trên một số cây trồng tại Gia Lâm - Hà Nội cho thấy ruồi S ribesii là loài phổ biến và khá đa thực Vật mồi của ruồi S ribesii là các loài rệp muội Lipaphis erysimi Kaltenbach, Myzus persicae Sulzer, Aphis gossypii Glover, Schizaphis graminum Rodani, Brevicoryne brasicae L Quan hệ giữa ruồi và rệp là mối quan hệ giữa vật mồi và con mồi

Trang 28

3 Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu

3.1 Địa điểm, thời gian, vật liệu và dụng cụ nghiên cứu

- Địa điểm: Nông trường Sao Vàng - Thọ Xuân - Thanh Hoỏ

- Thời gian nghiên cứu: 01/2009 - 07/ 2009

- Vật liệu nghiên cứu:

+ Các giống mía: ROC22, ROC10, qđ86-368, VĐ94-128, MY55-14

+ Thuốc BVTV: SecSaigon 25EC, Dragon 585EC, Bini58 50EC, Dầu khoáng SK 99 EC

- Dụng cụ nghiên cứu:

+ Dụng cụ quan sát gồm: Kính hiển vi, kính lúp cầm tay dùng để quan sát hình thái và đếm số lượng rệp sáp, thiên định của chúng

+ Dụng cụ thu mẫu: túi ni lon, lọ, khay, bút lông, hộp petri, kéo, phanh kẹp mẫu, thước đo, cồn 700, Foocmol 5%

+ Dụng cụ nuôi sinh học: Khay inox, khay nhựa, hộp nhựa nuôi ruồi, chậu trồng cây, lồng lưới, dung dịch mật ong 10%

+ ôn ẩm kế, sổ ghi chép, bút, thước kẻ

3.2 Nội dung nghiên cứu

- Xác định thành phần và mức độ phổ biến của sâu hại mía và thiên địch của chúng tại nông trường Sao Vàng - Thọ Xuân - Thanh Hoá

- Điều tra diễn biến mật độ của rệp xơ trắng C.lanigera tại nông trường Sao Vàng - Thọ Xuân - Thanh Hoá

- Điều tra diễn biến mật độ của ruồi ăn rệp xơ trắng tại nông trường

Trang 29

Sao Vàng - Thọ Xuân - Thanh Hoá

- Nghiên cứu đặc điểm hình thái, đặc điểm sinh học và thử khả năng ăn rệp xơ trắng mồi của loài ruồi E balteatus

- Khảo nghiệm hiệu lực của thuốc hoá học đối với rệp xơ trắng C.lanigera và ảnh hưởng của thuốc đối với ruồi E balteatus

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài đồng ruộng

3.3.1.1 Phương pháp điều tra thành phần, mức độ phổ biến của sâu hại và

thiên địch của chúng

- ðiều tra định kỳ 7 ngày một lần theo phương pháp tự do không cố ủịnh ủiểm (số ủiểm càng nhiều càng tốt) Quan sát thu thập tất cả các mẫu sâu hại, thiên địch bắt gặp mang về phòng thí nghiệm giám định phân loại tại Bộ môn Côn trùng, trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội

- Thu bắt mẫu vật bằng tay, vợt, mẫu vật được cất giữ trong các lọ đựng mẫu có chứa cồn 700C hoặc Foocmol 5%, lọ ủựng mẫu riêng từng ủợt ủiều tra, mỗi lọ mẫu có ghi ngày ủiều tra, nơi ủiều tra, phân loại hoặc nuôi tiếp Chỉ tiêu theo dõi: Tần suất xuất hiện các loài (%)

3.3.1.2 Phương pháp điều tra diễn biến mật độ rệp xơ trắng hại mía

C.lanigera và ruồi E balteatus ăn rệp xơ trắng

- Điều tra theo phương pháp trong cuốn tiêu chuẩn Nông nghiệp Việt Nam

- Tiêu chuẩn bảo vệ thực vật [3], tiến hành chọn ruộng điều tra đại diện cho:

+ Các giống: ROC22, ROC10, qđ86-368, VĐ94-128, MY55-14

+Phương thức để giống: mía tơ, mía lưu gốc

+ Chân đất trồng: Chân đất cao, chân đất thấp

Trang 30

+Khoảng cách hàng mía: khoảng cách 1m và 1,25m

- Điều tra 7 ngày/lần trên ruộng theo 5 điểm chéo góc mỗi điểm 2 cây, mỗi cây 3 lá trên 3 tầng (gốc, giữa và ngọn) Quan sát tỉ mỉ ở trên mặt lá, dưới lá và các bộ phận của cây, đếm số lượng ruồi, rệp Sau đó thu bắt mang về phòng thí nghiệm giám định Dụng cụ thu bắt chủ yếu bằng vợt, bút lông có thấm nước, hộp đựng ruồi, rệp Thao tác bắt cần tiến hành từ từ, nhẹ nhàng Mẫu vật được cất giữ trong các lọ đựng mẫu riêng biệt bên ngoài lọ có ghi: ngày thu mẫu, cây trồng, địa điểm Toàn bộ mẫu ruồi, rệp ủược nhận dạng dưới kính lúp cầm tay Khi thu mẫu mô tả tình trạng sống trước khi thu bắt, màu sắc,

vị trí sống của ruồi, rệp

Trong quá trình ủiều tra tiến hành theo dõi và thu bắt ruồi, rệp xơ trắng theo các giai ủoạn sinh trưởng phát triển của cây mía

Chỉ tiêu theo dõi: - Mật độ rệp xơ trắng (con/lá)

- Mật độ ruồi: + Đối với ấu trùng (con/cây)

+Trứng (quả/cây) 3.3.1.3 Phương pháp xác định sự phân bố của rệp xơ trắng C.lanigera trên

cây mía

Để xác định sự phân bố của rệp xơ trắng trên cây mía chúng tôi tiến hành thu thập các lá có rệp và phân theo tuổi lá: lá non, lá bánh tẻ, lá già Đếm

số lượng rệp xơ trắng ở các pha trên tổng số lá thu thập của từng tuổi lá

3.3.1.4 Phương pháp xác định hiệu lực của thuốc bảo vệ thực vật trong phòng

trừ rệp xơ trắng ngoài đồng ruộng

Thí nghiệm gồm 5 công thức trong đó 4 công thức thí nghiệm tương ứng với 4 loại thuốc và 1 công thức đối chứng phun nước l1 được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB), mỗi ô thí nghiệm được bố trí với diện tích

Trang 31

75m2 (gồm 5 hàng mía dài 15 m, khoảng cách hàng 1m), 3 lần nhắc lại, phun một lần vào lúc mật độ rệp lên cao (116,9con/lá) vào ngày 02/06/2009 Điều tra mật độ rệp xơ trắng và ruồi ăn rệp trước xử lý thuốc 1 ngày và sau xử lý thuốc 1 ngày, 3 ngày, 5 ngày, 7 ngày, từ đó tính hiệu lực (%) của thuốc

Các loại thuốc thí nghiệm được bố trí với các công thức

Trang 32

3.3.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng

3.3.2.1 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của

ruồi E balteatus trong điều kiện phòng thí nghiệm

Tiến hành điều tra thành phần ruồi ăn rệp họ Syrphidae ngoài đồng theo phương pháp điều tra ngẫu nhiên thu thập ruồi ăn rệp và rệp xơ trắng

Thu bắt ruồi E balteatus trưởng thành từ ngoài đồng bằng vợt, thả vào hộp nhựa có đục lỗ mang về phòng Sau đó, thả vào lồng lưới có cây ký chủ tương ứng (cây mía - giống VĐ94-128) và có rệp sống như ngoài thiên nhiên Thức ăn bổ sung cho ruồi trưởng thành là dung dịch mật ong 10% Hàng ngày theo dõi, khi có trứng ruồi trên lá, tiến hành cắt những lá có trứng ruồi rồi đặt vào hộp nuôi sâu Trong hộp có giấy lọc để ẩm, ở cuống lá có quấn bông tẩm

ướt để giữ cho lá tươi Khoảng 2 ngày thay lá một lần

Theo dõi thời gian trứng nở qua các ngày Sau khi trứng nở tiến hành nuôi theo phương pháp cá thể, cho từng ấu trùng non vào hộp nuôi sâu (n=30) Trong mỗi hộp nuôi sâu có giấy lọc để ẩm, lá mía và rệp Theo dõi tiếp thời gian phát dục của ấu trùng và thời gian phát dục của nhộng Khi nhộng vũ hóa trưởng thành, chọn những cá thể vũ hóa cùng ngày, ghép đôi, thả vào lồng lưới có cây ký chủ, rệp và thức ăn bổ sung là dung dịch mật ong 10% Tiếp tục theo dõi thời gian phát dục các pha của ruồi ăn rệp để xác định vòng đời và đời của chúng Tiến hành 2

đợt thí nghiệm, mỗi đợt thí nghiệm tiến hành nuôi 30 cá thể ruồi ở mỗi pha phát dục chúng tôi tiến hành đo đếm kích thước, quan sát mô tả màu sắc, hình thái

Chỉ tiêu theo dõi: thời gian phát dục (ngày) từng pha, vòng đời, đời, sức đẻ trứng, tỷ lệ trứng nở và tỷ lệ vũ hoá của ruồi E balteatus

3.3.2.2 Phương pháp xác định khả năng ăn của ruồi E balteatus trong điều

kiện phòng thí nghiệm

Trong khi theo dõi thời gian phát dục các pha của ruồi, tiến hành kết hợp với thử sức ăn của ấu trùng Mỗi đợt thí nghiệm nuôi 30 cá thể Mỗi hộp

Trang 33

nuôi sâu có 50 rệp xơ trắng (tuổi 1, 2) vào lúc 8giờ hàng ngày, đếm số rệp còn lại trên lá, sau đó tiếp tục thay lá và thả 50 rệp vào Theo dõi đến khi ấu trùng vào nhộng

Chỉ tiêu theo dõi: khả năng ăn rệp (con/ngày) của ấu trùng, ghi nhận nhiệt độ, ẩm độ cho tới khi kết thúc thí nghiệm

3.3.2.3 Phương pháp xác định hiệu lực của thuốc BVTV đối với rệp xơ trắng

hại mía C.lanigera trong phòng thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí với 5 công thức khác nhau mỗi công thức được nhắc lại 3 lần (4 loại thuốc, 1 đối chứng, công thức đối chứng phun nước l1) Phương pháp tiến hành: Phun thuốc trực tiếp, ở mỗi công thức dùng 3 hộp nhựa, trong hộp có lá mía tươi đặt 10 cá thể rệp tuổi 3-4, lá được đặt trên giấy thấm nước giữ ẩm Dùng bình phun cầm tay phun thuốc vừa ướt lá (pha thuốc theo nồng độ thí nghiệm trên đồng ruộng) Đếm số lượng rệp sống ở mỗi công thức để xác định hiệu lực của thuốc sau 1giờ, 6giờ, 12giờ, 18giờ, 24giờ, 48giờ

xử lý và ghi chép số liệu vào bảng số liệu gốc, tính hiệu lực thuốc theo công thức Abbort

3.3.2.4 Phương pháp xác định ảnh hưởng của thuốc BVTV đến ruồi E balteatus

định tỷ lệ chết sau 1h, 6 h, 12h, 18h, 24h

Mức độ ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đến thiên địch được xác định bằng

Trang 34

công thức Abbort Cấp độc của các loại thuốc đối với thiên địch đ−ợc đánh giá theo phân cấp của tổ chức đấu tranh sinh học Quốc tế (IOBC, 1985) [31] Cấp 4 (thuốc ít độc): Tỷ lệ giảm quần thể < 50%

Cấp 3 (thuốc độc nhẹ): Tỷ lệ giảm quần thể 50% - <80%

Cấp 2 (Thuốc độc trung bình): Tỷ lệ giảm quần thể 80 - 99%

Cấp 1 (thuốc độc cao): Tỷ lệ giảm quần thể > 99%

3.3.3 Chỉ tiêu điều tra, công thức tính toán

3.3.3.1 Đối với sâu hại mía và thiên địch

Tổng số lần bắt gặp cá thể loài Tần suất xuất hiện (%) =

Tổng số điểm điều tra x 100

Mức ủộ phổ biến của sõu, nhện ủược phõn theo tần suất xuất hiện (%):

Kớ hiệu Mức ủộ phổ biến Tần suất xuất hiện

- : Rất ớt phổ biến < 5%

+ : Ít phổ biến 5 - 20 %

++ : Phổ biến >20 - 50 %

+++ : Rất phổ biến > 50 %

3.3.3.2 Đối với rệp xơ trắng và ruồi ăn rệp

Tổng số rệp điều tra (con) Mật độ rệp (con/lá) =

Trang 35

3.3.3.3 KÝch th−íc tõng pha ph¸t dôc (mm)

Se X

N X

Se: Sai sè theo c«ng thøc 3.3.3.4 Thêi gian ph¸t dôc trung b×nh cña mét c¸ thÓ (ngày)

Se N

X N

X: Thêi gian ph¸t dôc trung b×nh cña mét c¸ thÓ

Xi: Thêi gian ph¸t dôc cña mét c¸ thÓ thø i N: Tæng sè c¸ thÓ theo dâi

Ni: Sè c¸ thÓ cã thêi gian ph¸t dôc lµ XiSe: Sai sè theo c«ng thøc

3.3.3.5 Thêi gian sèng cña tr−ëng thµnh (ngày)

Se N

A N

Trang 36

Se: Sai số theo công thức Tính sai số theo công thức: Se = t

N: số cá thể theo dõi

tα: tra bảng Student

3.3.3.6 Hiệu lực của thuốc BVTV trong phòng thí nghiệm

Được tính theo công thức Abbort:

C - T E(%) =

3.3.3.7 Hiệu lực của thuốc BVTV ngoài đồng ruộng

Được tính theo công thức của Henderson - Tilton

Cb Ta

1 x 100

Trong ủó:

Ta: Số rệp, ruồi sống ở công thức thí nghiệm sau khi phun Tb: Số rệp, ruồi sống ở công thức thí nghiệm trước khi phun Ca: Số rệp, ruồi sống ở công thức đối chứng sau khi phun Cb: Số rệp, ruồi sống ở công thức đối chứng trước khi phun

Số liệu thu thập được xử lý trong Excel và IRRISTAT 4.0

Trang 37

4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận

4.1 Thành phần sâu hại trên mía tại nông trường Sao Vàng - Thọ Xuân

- Thanh Hoá vụ xuân hè năm 2009

Thực tiễn sản xuất những năm gần đây cho thấy, khi đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thâm canh cây mía, nhằm mục đích nâng cao sản lượng thì ở những vùng chuyên canh cây mía bị nhiều loài sâu hại tấn công gây hại và tình hình sâu bệnh ngày càng phức tạp Xỏc ủịnh thành phần sõu hại giỳp ủịnh hướng cho việc xõy dựng chiến lược phũng trừ và ủề xuất cỏc giải phỏp quản

lớ dịch hại ủối với người sản xuất Qua điều tra theo dõi mía tại nụng trường Sao Vàng - Thọ Xuõn - Thanh Hoỏ chúng tôi đ1 thu được 29 loài sâu hại thuộc 7 bộ, 19 họ côn trùng Kết quả được trình bày ở bảng 4.1

Số liệu bảng 4.1 cho thấy:

Bộ cánh thẳng ( Orthoptera) gồm có 6 loài chiếm 20,7%

Bộ cánh cứng (Coleoptera) gồm có 6 loài chiếm 20,7%

Bộ cánh đều (Homoptera) gồm có 5 loài chiếm 17,2%

Bộ cánh nửa (Hemiptera) gồm có 5 loài chiếm 17,2%

Bộ cánh vảy (Lepidoptera) gồm có 5 loài chiếm 17,2%

Bộ cánh bằng (Isoptera) gồm có 1 loài chiếm 3,4%

Bộ cánh tơ (Thisanoptera) gồm có 1 loài chiếm 3,4%

Qua quá trình điều tra thành phần sâu hại, tần suất bắt gặp các loài cho thấy mỗi loài sâu hại có sự biến động khác nhau theo các tháng, điều đó phụ thuộc vào đặc điểm sinh thái, qui luật phát sinh phát triển của từng loài, điều kiện sinh thái của môi trường, giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây trồng

Trang 38

Bảng 4.1 Thành phần sâu hại mía tại nông trường Sao Vàng – Thọ Xuân – Thanh Hóa vụ xuân hè năm 2009

Mức độ phổ biến qua các tháng

Trang 39

Mức độ phổ biến qua các tháng

Ghi chú: - : Rất ớt phổ biến (tần suất xuất hiện: < 5%)

+ : Ít phổ biến (tần suất xuất hiện: 5 - 20 %)

++ : Phổ biến (tần suất xuất hiện 20 - 50 %)

+++ : Rất phổ biến (tần suất xuất hiện > 50 %)

Ghi chú này dùng cho bảng 4.1 và 4.2

Trang 40

Từ kết quả điều tra ta thấy từ khi cây mía ở giai đoạn cây mầm đến giai

đoạn vươn lóng chúng tôi thường bắt gặp nhóm bọ trĩ, châu chấu, bọ hung đục gốc, sâu đục thân, rệp xơ trắng, rầy đầu vàng, bọ xít

Giai đoạn mía còn nhỏ nhóm bọ trĩ xuất hiện sớm nhất và kéo dài đến giai đoạn cây mía vươn lóng vẫn bắt gặp chúng Cả ấu trùng lẫn trưởng thành

bọ trĩ đều hút dịch ở lá nõn còn cuốn tròn ở trong cùng ngọn mía, làm cho các

đầu lá non có màu màu vàng và lấm tấm trắng, mật độ bọ trĩ gây hại cao các chóp lá bị cháy khô ở khu vực trồng mía trên đất đồi khô hạn, có độ ẩm thấp vào các tháng 2- 3- 4 mật độ bọ trĩ cao hơn so với các ruộng mía ở vùng đất thấp có độ ẩm đất và không khí cao

Rệp xơ trắng mặc dù xuất hiện muộn hơn so với bọ trĩ song đến giai

đoạn làm lóng chúng xuất hiện nhiều và gây nặng nhất so với các loài sâu hại mía Cả rệp non và trưởng thành sống tập trung quần tụ ở mặt dưới của lá, dọc theo gân lá, hút chất dịch cây, trực tiếp phá hại tổ chức lá làm ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây mía Ngoài ra, các chất bài tiết của rệp là môi trường tốt cho nấm muội đen phát triển, tạo nên màu đen (bào tử nấm) dọc theo lá và gân, làm khả năng quang hợp, ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây

và giảm hàm lượng đường trong mía

Nhóm rầy đầu vàng xuất hiện ở giai đoạn cây mầm đến giai đoạn vươn lóng chúng tôi bắt gặp chúng nhiều hơn Rầy chủ yếu hại ở ngọn mía các lá non còn cuốn tròn chưa nở hoặc lá non mới xoè, cây mía bị hại nặng lá nõn bị thối

Nhóm sâu đục thân chúng tôi bắt gặp phổ biến trên các ruộng mía từ giai đoạn cây con đến vươn lóng, ở giai đoạn cây con đến đẻ nhánh sâu đục nõn làm cho khô nõn và làm hỏng điểm sinh trưởng dẫn đến cây bị cụt ngọn, sang thời kỳ vươn lóng những cây mía nào bị sâu hại nặng khi gặp gió to làm cho cây bị g1y ngang thân

Ngày đăng: 05/11/2015, 20:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1. Thành phần sâu hại mía tại nông tr−ờng Sao Vàng – Thọ Xuân – Thanh Hóa  vụ xuân hè năm 2009 - thành phần sâu hại mía và thiên địch của chúng, nghiên cứu đặc điểm sinh học của ruồi Episyrphus balteatus (De Geer) ăn rệp xơ trắng tại nông trường sao vàng – thọ xuân – thanh hoá vụ xuân hè năm 2009
Bảng 4.1. Thành phần sâu hại mía tại nông tr−ờng Sao Vàng – Thọ Xuân – Thanh Hóa vụ xuân hè năm 2009 (Trang 38)
Bảng 4.2. Thành phần thiên địch của sâu hại mía tại nông trường Sao Vàng - Thọ Xuân - Thanh Hoá - thành phần sâu hại mía và thiên địch của chúng, nghiên cứu đặc điểm sinh học của ruồi Episyrphus balteatus (De Geer) ăn rệp xơ trắng tại nông trường sao vàng – thọ xuân – thanh hoá vụ xuân hè năm 2009
Bảng 4.2. Thành phần thiên địch của sâu hại mía tại nông trường Sao Vàng - Thọ Xuân - Thanh Hoá (Trang 44)
Hình 4.1: Bọ rùa 2 mảng đỏ Hình 4.2: Nhện chân dài - thành phần sâu hại mía và thiên địch của chúng, nghiên cứu đặc điểm sinh học của ruồi Episyrphus balteatus (De Geer) ăn rệp xơ trắng tại nông trường sao vàng – thọ xuân – thanh hoá vụ xuân hè năm 2009
Hình 4.1 Bọ rùa 2 mảng đỏ Hình 4.2: Nhện chân dài (Trang 46)
Hình 4.7: Diễn biến mật độ rệp (C. lanigera) trên mía tơ và mía lưu gốc tại  nông tr−ờng Sao Vàng - Thọ Xuân - Thanh Hoá vụ Xuân hè năm 2009  Qua  kết  quả  bảng  4.5  và  hình  4.7  cho  thấy  rệp  xơ  trắng  xuất  hiện  ở  ruộng mía lưu gốc sớm hơn và v - thành phần sâu hại mía và thiên địch của chúng, nghiên cứu đặc điểm sinh học của ruồi Episyrphus balteatus (De Geer) ăn rệp xơ trắng tại nông trường sao vàng – thọ xuân – thanh hoá vụ xuân hè năm 2009
Hình 4.7 Diễn biến mật độ rệp (C. lanigera) trên mía tơ và mía lưu gốc tại nông tr−ờng Sao Vàng - Thọ Xuân - Thanh Hoá vụ Xuân hè năm 2009 Qua kết quả bảng 4.5 và hình 4.7 cho thấy rệp xơ trắng xuất hiện ở ruộng mía lưu gốc sớm hơn và v (Trang 51)
Hình 4.8: Diễn biến mật độ rệp (C. lanigera) trên 5 giống mía tại nông  tr−ờng Sao Vàng - Thọ Xuân - Thanh Hoá vụ Xuân hè năm 2009 - thành phần sâu hại mía và thiên địch của chúng, nghiên cứu đặc điểm sinh học của ruồi Episyrphus balteatus (De Geer) ăn rệp xơ trắng tại nông trường sao vàng – thọ xuân – thanh hoá vụ xuân hè năm 2009
Hình 4.8 Diễn biến mật độ rệp (C. lanigera) trên 5 giống mía tại nông tr−ờng Sao Vàng - Thọ Xuân - Thanh Hoá vụ Xuân hè năm 2009 (Trang 53)
Hình 4.9: Tr−ởng thành rệp xơ - thành phần sâu hại mía và thiên địch của chúng, nghiên cứu đặc điểm sinh học của ruồi Episyrphus balteatus (De Geer) ăn rệp xơ trắng tại nông trường sao vàng – thọ xuân – thanh hoá vụ xuân hè năm 2009
Hình 4.9 Tr−ởng thành rệp xơ (Trang 54)
Hình 4.13: Diễn biến mật độ rệp (C. lanigera) trên mía trồng ở 2 chân đất  tại nông tr−ờng Sao Vàng - Thọ Xuân - Thanh Hoá vụ Xuân hè năm 2009 - thành phần sâu hại mía và thiên địch của chúng, nghiên cứu đặc điểm sinh học của ruồi Episyrphus balteatus (De Geer) ăn rệp xơ trắng tại nông trường sao vàng – thọ xuân – thanh hoá vụ xuân hè năm 2009
Hình 4.13 Diễn biến mật độ rệp (C. lanigera) trên mía trồng ở 2 chân đất tại nông tr−ờng Sao Vàng - Thọ Xuân - Thanh Hoá vụ Xuân hè năm 2009 (Trang 56)
Hình 4.14:   ả nh hưởng của khoảng cách hàng  mía trồng đến mật độ  rệp xơ trắng (C. lanigera) tại Sao Vàng – Thọ Xuân – Thanh Hoá vụ - thành phần sâu hại mía và thiên địch của chúng, nghiên cứu đặc điểm sinh học của ruồi Episyrphus balteatus (De Geer) ăn rệp xơ trắng tại nông trường sao vàng – thọ xuân – thanh hoá vụ xuân hè năm 2009
Hình 4.14 ả nh hưởng của khoảng cách hàng mía trồng đến mật độ rệp xơ trắng (C. lanigera) tại Sao Vàng – Thọ Xuân – Thanh Hoá vụ (Trang 58)
Hình 4.15. Diễn biến mật độ ruồi ăn rệp xơ trắng tổng số trên mía tại nông  tr−ờng Sao Vàng - Thọ Xuân - Thanh Hoá vụ Xuân hè năm 2009 - thành phần sâu hại mía và thiên địch của chúng, nghiên cứu đặc điểm sinh học của ruồi Episyrphus balteatus (De Geer) ăn rệp xơ trắng tại nông trường sao vàng – thọ xuân – thanh hoá vụ xuân hè năm 2009
Hình 4.15. Diễn biến mật độ ruồi ăn rệp xơ trắng tổng số trên mía tại nông tr−ờng Sao Vàng - Thọ Xuân - Thanh Hoá vụ Xuân hè năm 2009 (Trang 61)
Bảng 4.15. Tỷ lệ nhộng vũ hoá và tỷ lệ đực cái của trưởng thành ruồi - thành phần sâu hại mía và thiên địch của chúng, nghiên cứu đặc điểm sinh học của ruồi Episyrphus balteatus (De Geer) ăn rệp xơ trắng tại nông trường sao vàng – thọ xuân – thanh hoá vụ xuân hè năm 2009
Bảng 4.15. Tỷ lệ nhộng vũ hoá và tỷ lệ đực cái của trưởng thành ruồi (Trang 73)
Hình 4.23: Nghiên cứu trong PTN  Hình 4.24: Điều tra ngoài đồng ruộng - thành phần sâu hại mía và thiên địch của chúng, nghiên cứu đặc điểm sinh học của ruồi Episyrphus balteatus (De Geer) ăn rệp xơ trắng tại nông trường sao vàng – thọ xuân – thanh hoá vụ xuân hè năm 2009
Hình 4.23 Nghiên cứu trong PTN Hình 4.24: Điều tra ngoài đồng ruộng (Trang 75)
Hình 4.27. Hiệu lực của 4  loại thuốc BVTV đối với rệp xơ trắng - thành phần sâu hại mía và thiên địch của chúng, nghiên cứu đặc điểm sinh học của ruồi Episyrphus balteatus (De Geer) ăn rệp xơ trắng tại nông trường sao vàng – thọ xuân – thanh hoá vụ xuân hè năm 2009
Hình 4.27. Hiệu lực của 4 loại thuốc BVTV đối với rệp xơ trắng (Trang 77)
Bảng 4.18. Hiệu lực của 4  loại thuốc BVTV đối với rệp xơ trắng - thành phần sâu hại mía và thiên địch của chúng, nghiên cứu đặc điểm sinh học của ruồi Episyrphus balteatus (De Geer) ăn rệp xơ trắng tại nông trường sao vàng – thọ xuân – thanh hoá vụ xuân hè năm 2009
Bảng 4.18. Hiệu lực của 4 loại thuốc BVTV đối với rệp xơ trắng (Trang 78)
Hình 4.29 . ả nh hưởng của thuốc BVTV trừ rệp xơ trắng đến ruồi - thành phần sâu hại mía và thiên địch của chúng, nghiên cứu đặc điểm sinh học của ruồi Episyrphus balteatus (De Geer) ăn rệp xơ trắng tại nông trường sao vàng – thọ xuân – thanh hoá vụ xuân hè năm 2009
Hình 4.29 ả nh hưởng của thuốc BVTV trừ rệp xơ trắng đến ruồi (Trang 80)
Hình 4.30.  ả nh hưởng của thuốc BVTV trừ rệp xơ trắng đến ruồi - thành phần sâu hại mía và thiên địch của chúng, nghiên cứu đặc điểm sinh học của ruồi Episyrphus balteatus (De Geer) ăn rệp xơ trắng tại nông trường sao vàng – thọ xuân – thanh hoá vụ xuân hè năm 2009
Hình 4.30. ả nh hưởng của thuốc BVTV trừ rệp xơ trắng đến ruồi (Trang 82)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm