Là tỉnh có tiềm năng phát triển kinh tế du lịch vì thế nhu cầu tiêu dùng thực phẩm trên địa bàn, việc phát triển chăn nuôi gắn liền với an toàn vệ sinh thực phẩm, vệ sinh môi trường, phò
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
-
NGUYỄN THỊ THANH SƠN
KHẢO SÁT MỘT SỐ YẾU TỐ CHỦ YẾU ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT SINH VÀ KHỐNG CHẾ DỊCH CÚM
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 06 tháng 09 năm 2008
Tác giả
Nguyễn Thị Thanh Sơn
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Mở đầu của Luận văn cho tôi xin được chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy, cô giáo Bộ môn Vi sinh vật - Truyền nhiễm - Bệnh lý; các thầy, cô giáo trong Khoa Thú y; các thầy, cô giáo Khoa sau Đại học, Trường Đại học Nông nghiệp I, cùng toàn thể các thầy,
cô giáo đã giảng dạy tôi trong thời gian học Cao học ở nhà trường, đặc biệt, tôi xin cảm ơn TS Nguyễn Hữu Nam, Thầy giáo đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Bộ môn virus Viện Thú y Quốc gia; Phòng dịch tễ, Cục Thú y; Trung tâm chẩn đoán thú y Trung ương; Chi cục Thú y tỉnh Ninh Bình; Trường cán bộ quản lý Bộ Nông nghiệp và PTNT; bạn bè đồng nghiệp gần xa và gia đình đã giúp đỡ động viên tôi hoàn thành chương trình học tập cao học và hoàn thành Luận văn tốt nghiệp
Hà Nội, ngày 06 tháng 9 năm 2008
Tác giả
Nguyễn Thị Thanh Sơn
Trang 51.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
4.1 Tình hình dịch cúm gia cầm ở Ninh Bình qua các năm 35
4.1.4 Diễn biến dịch cúm gia cầm đầu năm 2008 41 4.2 Các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sự phát sinh dịch cúm gia
4.2.2 Các yếu tố nguy cơ thuộc về điều kiện kinh tế, xã hội 52
Trang 64.2.3 Các yếu tố nguy cơ thuộc về đàn gia cầm 60 4.3 Các biện pháp khống chế dịch cúm gia cầm ở Ninh Bình 70 4.3.1 Biện pháp tổ chức, chỉ đạo phòng, chống dịch 70
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
4.1 Tình hình dịch cúm gia cầm ở Ninh Bình năm 2004 36 4.2 Tình hình dịch cúm gia cầm ở Ninh Bình năm 2005 37 4.3 Tình hình dịch cúm gia cầm ở Ninh Bình năm 2007 40 4.4 Tình hình dịch cúm gia cầm ở Ninh Bình năm 2008 42 4.5.a Tình hình dịch cúm gia cầm các năm 2004, 2005, 2007, 2008 44 4.5.b Tình hình dịch cúm gia cầm các năm 2004, 2005, 2007, 2008 45 4.5.c Tình hình dịch cúm gia cầm các năm 2004, 2005, 2007, 2008 46 4.6 Tình hình dịch cúm gia cầm ở Ninh Bình từ 2004 đến 3/2008 48 4.7 Nhiệt độ, độ ẩm trung bình và số giờ nắng trong năm ở tỉnh Ninh
4.8 Tổng sản phẩm (GDP) trên địa bàn phân theo khu vực kinh tế 52 4.9 Thu chi ngân sách trên địa bàn tỉnh Ninh Bình 53 4.10 Số đơn vị hành chính, diện tích và dân số tỉnh Ninh Bình 55 4.11 Biến động đàn gia cầm tỉnh Ninh Bình qua các năm 62 4.12 Tổng đàn đàn gia súc, gia cầm của tỉnh Ninh Bình năm 2006 63 4.13 Các trang trại nông nghiệp có trên địa bàn tỉnh Ninh Bình 63 4.14 Quy mô chăn nuôi gia cầm/hộ của tỉnh Ninh Bình 64 4.15 Sản lượng thịt giết mổ gia súc, gia cầm tỉnh Ninh Bình 65 4.16 Số lượng các cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh
4.17 Số lượng quầy bán thịt trên địa bàn tỉnh Ninh Bình 68 4.18 Kết quả tiêm phòngvắc xin cúm gia cầm của tỉnh Ninh Bình
4.20 Kết quả tiêm phòng vắc xin cúm gia cầm Năm 2005 83 4.21 Kết quả tiêm phòng vắc xin cúm gia cầm Năm 2006 84 4.22 Kết quả tiêm phòng vắc xin cúm gia cầm Năm 2007 85
Trang 84.23 Kết quả tiêm phòng vắc xin cúm gia cầm đầu Năm 2008 86
DANH MỤC CÁC HÌNH
3 Thông tin căn bản Trình tự Amino acid ở vị trí chia tách 8
4 Thông tin căn bản cơ chế chức năng của Hemagglutinin 8
5 Cấu trúc Haemagglutinin và Neuraminidase 9
Trang 91 MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Chăn nuôi gia cầm là nghề chăn nuôi truyền thống của nước ta, là nguồn thu nhập quan trọng đối với các hộ gia đình nông thôn và là một trong những nghề có tác dụng đóng góp quan trọng trong công cuộc xoá đói giảm nghèo và phát triển Nông nghiệp, nông thôn Hàng năm chăn nuôi gia cầm ở nước ta cung cấp khối lượng thực phẩm lớn thứ hai sau chăn nuôi lợn, chiếm 17% trong tổng số thịt hơi các loại Tốc độ tăng trưởng đàn gia cầm bình quân khoảng 7,5-7,6 % năm, ngành chăn nuôi gia cầm của nước ta đã và đang từng bước đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tế sản xuất, từ khâu cải tạo con giống, nâng cao chất lượng thức ăn đến việc hoàn thiện quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng
Ninh Bình là một tỉnh nằm ở phía nam đồng bằng Bắc bộ, giáp với Thanh Hoá, Hoà Bình, Nam Định, Hà Nam, với diện tích 1.400 km2, dân số trên 950.000 người, gồm 6 huyện, một thị xã và một thành phố Ninh Bình có nhiều di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh như cố đô Hoa Lư, Tam cốc Bích động, Khu du lịch Tràng An, Nhà thờ đá, Rừng Quốc gia Cúc Phương Là những điểm du lịch hàng năm đón nhiều lượt khách trong và ngoài nước Là tỉnh có tiềm năng phát triển kinh tế du lịch vì thế nhu cầu tiêu dùng thực phẩm trên địa bàn, việc phát triển chăn nuôi gắn liền với an toàn vệ sinh thực phẩm, vệ sinh môi trường, phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm lây sang người là rất quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh
Năm 2007, sản xuất nông, lâm, thuỷ sản chiếm 27,58 % (1660,9 tỷ đồng) trong cơ cấu kinh tế chung của tỉnh, trong đó Trồng trọt chiếm 69,25
%, Chăn nuôi 30,7 %, Lâm nghiệp 1,65 %, Thuỷ sản 12,43 % Trong chăn nuôi: Đàn lợn 360.000 con, đàn trâu bò 80.000 con, đàn dê 25.000 con, gia
Trang 10cầm 3.300.000 con Sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 37.152 tấn, kim ngạch xuất khẩu nông sản toàn tỉnh 7 triệu USD [9] Với sự phát triển của chăn nuôi
đã đáp ứng yêu cầu về số lượng thực phẩm phục vụ yêu cầu trong tỉnh, ngoài
ra còn cung cấp một lượng thực phẩm cho Hà Nội và một số tỉnh, thành phố trong nước và xuất khẩu trực tiếp sang thị trường Hồng Kông, Malaysia
Hiện nay chăn nuôi gia cầm đang gặp phải khó khăn đó là dịch bệnh Dịch cúm gia cầm đang là mối đe doạ, là nguy cơ, là cản trở lớn trong chăn nuôi, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế và đời sống xã hội trên địa bàn tỉnh
Thực trạng chăn nuôi gia cầm ở tỉnh Ninh Bình vẫn là chăn nuôi nhỏ lẻ, phần lớn là chăn nuôi gia đình mang tính chất tận dụng, manh mún, quy mô trang trại, gia trại phát triển chậm, vì thế việc quản lý, giám sát dịch bệnh gặp nhiều khó khăn
Trong những năm 2004, 2005, 2007 và đầu năm 2008 dịch cúm gia cầm liên tục phát ra trên địa bàn tỉnh gây thiệt hại không nhỏ đối với người chăn nuôi và sự phát triển kinh tế của tỉnh Trong những năm qua được sự quan tâm giúp đỡ của các cơ quan Trung ương, của các cấp, các ngành trong tỉnh, công tác phòng chống dịch cúm gia cầm đã thu được kết quả nhất định, sớm khống chế và ổn định tình hình dịch cúm gia cầm ở địa phương, giảm phần nào thiệt hại do dịch gây ra Tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng yêu cầu, hiệu quả cao nhất của công tác phòng, chống dịch
Hiện nay dịch cúm gia cầm trên địa bàn tỉnh Ninh Bình tạm thời ổn định nhưng nguy cơ tái phát dịch vẫn còn cao Để chủ động trong công tác phòng, chống dịch, vấn đề đặt ra bức thiết hiện nay là phải tìm hiểu, nghiên cứu dịch tễ học về bệnh cúm gia cầm trên địa bàn tỉnh Ninh Bình để đưa ra giải pháp phòng chống dịch thích hợp làm hạn chế thấp nhất thiệt hại do dịch
cúm gia cầm gây ra Vì vậy chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: "Khảo sát
một số yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự phát sinh và khống chế dịch cúm gia cầm ở tỉnh Ninh Bình" làm Luận văn thạc sỹ của mình, với hy vọng
Trang 11đóng góp phần nhỏ vào khống chế dịch cúm gia cầm ở tỉnh Ninh Bình trong thời gian tới
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Xác định được diễn biến của dịch Cúm gia cầm từ năm 2004 đến
2008 trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
- Đánh giá ảnh hưởng một số yếu tố đến sự phát triển lây lan dịch cúm gia cầm;
- Lựa chọn các biện pháp không chế dịch Cúm gia cầm một cách hợp lý nhằm ngăn chặn sự phát sinh dịch xẩy ra trên địa bàn tỉnh
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Về không gian: Địa bàn toàn tỉnh Ninh Bình;
- Về thời gian: Nghiên cứu từ năm 2004 - 2008
Trang 122 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Bệnh cúm gia cầm
2.1.1 Tên bệnh
- Bệnh cúm của loài chim, bệnh cúm gia cầm (Avian Influenza)
- Bệnh dịch hạch của gà (Fowl Plague)
- Bệnh cúm gia cầm thể độc lực cao (Highly Pathogenic Avian Influenza - HPAI) [4]
2.1.2 Lịch sử bệnh
Năm 412 trước công nguyên, Hippocrates đã mô tả về bệnh cúm Sau
đó năm 1680 một vụ đại dịch cúm đã được mô tả kỹ và từ đó đến nay đã xẩy
ra 31 vụ đại dịch Trong hơn 100 năm đã xẩy ra 4 đại dịch cúm vào năm
1889, 1918, 1957, và 1968 [7]
Năm 1878 ở Italy đã xảy ra một bệnh gây tử vong rất cao ở đàn gia cầm, sau đó được đặt tên là dịch hạch gia cầm Đến năm 1901, Centanni và Savunozzi đã đề cập đến ổ dịch này được gây ra bởi vi rút qua lọc Nhưng phải đến năm 1955 mới xác định được vi rút đó chính là vi rút cúm typ A (H7N1 và H7N7) gây chết nhiều gà, gà tây và các loài khác
Những chủng vi rút đặc biệt này đã gây ra dịch cúm gia cầm ở nhiều quốc gia, vùng trên thế giới trong cuối thế kỷ 19 và thế kỷ 20 như: Bắc Mỹ, Nam Phi, Trung Đông, Viễn Đông, châu Âu, Anh, Liên Xô cũ [7]
Từ sau khi phát hiện ra vi rút cúm týp A, các nhà khoa học đã tăng cường nghiên cứu và thấy vi rút cúm có ở nhiều loài chim hoang dã và gia cầm nuôi ở những vùng khác nhau trên thế giới và thấy rằng bệnh dịch nghiêm trọng nhất
Trang 13xảy ra đối với gia cầm là những chủng gây bệnh cao thuộc phân typ H5 và H7, như ở Scotland năm 1959 là H5N1, ở Mỹ năm 1983-1984 là H5N2 [20]
Năm 1963, vi rút cúm typ A được phân lập từ gà tây ở Bắc Mỹ do loài thuỷ cầm di chú dẫn nhập vào đàn gà Cuối thập kỷ 60 phân typ H1N1 thấy ở lợn và có liên quan đến những ổ dịch gà tây với những biểu hiện đặc trưng là triệu chứng ở đường hô hấp và giảm đẻ Mối liên hệ giữa lợn - gà tây là những dấu hiệu đầu tiên về vi rút cúm ở động vật có vú có thể lây nhiễm và gây bệnh cho gia cầm Những nghiên cứu về phân typ H1N1 đều cho rằng virus cúm typ A đã ở lợn và đã truyền lây cho gà tây Ngoài ra phân typ H1N1
ở vịt còn truyền cho lợn
Sự lây nhiễm từ chim hoang dã sang gia cầm đã có bằng chứng từ trước năm 1970 nhưng chỉ thực sự được công nhận khi xác định được tỷ lệ nhiễm virus cúm cao ở một số loài thuỷ cầm di trú [7]
Một số chủng virus có nhiều vật chủ gồm chim và các động vật có vú khác Trong vài chục năm gần đây, một số chủng virus cúm typ A điển hình gây bệnh ở gia cầm đã được phát hiện trong những ổ dịch ở động vật có vú như hải cẩu, chồn và còn thấy ở cá voi là những dấu hiệu cho thấy sự liên quan giữa các loài chim và thú trong việc truyền vi rút cúm gia cầm [7]
2.1.3 Cấu trúc và một số đặc điểm của vi rút cúm typ A
a) Cấu trúc
Virus cúm gia cầm là loại vi rút cúm týp A, một trong 4 nhóm của họ
Orthomyxoviridae: Nhóm virus cúm A (Influenza virus A); virus cúm B
(Influenza virus B), virus cúm C (Influenza virus C) và nhóm Thogotovirus [22]
Trang 14Hình1: Ảnh virus dưới kính hiển vi điện tử [27]
Hạt virus (virion) có cấu trúc hình khối hoặc đôi khi có dạng hình khối kéo dài, đường kính khoảng 80-120nm Nhiều khi virion có dạng kéo dài hình sợi, có thể có độ dài vài µm Phân tử lượng của một hạt virion vào khoảng
250 triệu Dalton Virus được bọc bên ngoài bằng các Protein và có màng Lipit
ở ngoài cùng Bề mặt ngoài màng phủ bằng 2 hệ thống Protein có các phản ứng ngưng kết hồng cầu và phản ứng trung hoà được kết hợp với nhau một cách riêng biệt [20]
Đặc tính cấu trúc chung của tất cả 4 nhóm virus trong họ
Orthomyxoviridae là hệ gen của chúng chỉ chứa duy nhất axit ribonucleic (ARN) một sợi, có cấu trúc là sợi âm , ký hiệu là so sánh (-) RNA (negative single stranded RNA) Sợi âm ARN hệ gen có độ dài 10.000-15.000 nucleotit (tuỳ loại virus), không được nối với nhau tạo thành một sợi ARN hoàn chỉnh mà phân chia thành 6 đến 8 đoạn (segment) có cấu trúc riêng biệt, mà mỗi một phân đoạn là một gen chịu trách nhiệm cho mỗi một loại protein của virus [22]
Trang 15Hình 2: Mô phỏng virus cúm [25]
Dựa trên cơ sở xác định đặc tính glycoprotein bề mặt, yếu tố ngưng kết hồng cầu (Haemagglutinin viết tắt là H) và trung hoà (Neuraminidase viết tắt
là N) là những kháng nguyên có vai trò quan trọng trong miễn dịch bảo hộ và
có tính đa dạng cao mà virus cúm type A được định phân type [29]
Trang 16Hình 3: Thông tin căn bản Trình tự Amino acid ở vị trí chia tách [25]
Hình 4: Thông tin căn bản cơ chế chức năng của Hemagglutinin [25
Nucleocapsid bao bọc lấy nhân của virus là tập hợp của nhiều protein phân đoạn, có cấu trúc đối xứng xoán, độ dàI 130-150 nm, tạo vòm (loop) ở giới hạn cuối của mỗi phân đoạn, và liên lết với nhau qua cầu nối ở các peptit tạo vòm không gian đó [22]
Trang 17Neuraminidase (Nacodes for neurami
nidase, an antigenic glycosylated enzyme found on the surface of the influenza viruses It facilitates the release of progeny viruses from
infected cells)
Hình 5: Cấu trúc Haemagglutinin và Neuraminidase [27]
b) Thành phần hoá học của virus:
RNA của virus chiếm 0,8 - 1,1% ; protein: 70 - 75%; Lipit: 20 - 24% và
5 - 8% hidrocacbon Lipit tập trung ở màng virus và chủ yếu là Lipit có gốc phốt pho, số còn lại là Cholesterol, glucolipit và một ít hidrocacbon gồm các
Trang 18loại men galactose, manose, ribose, fruccose Thành phần chính Protein của virus chủ yếu là glycoprotein
c) Quá trình nhân lên:
Mô tả quá trình sản sinh của virus được tóm tắt như sau: Virus được hấp thụ vào bề mặt tế bào nhờ có receptor mà bản chất là glycoprotein chứa axit sialic, từ đấy virus chui qua màng tế bào nhờ 1 loại men đặc biệt để vào trong nguyên sinh chất và nhân tế bào Tại đây virus sinh trưởng nhanh chóng
và phát triển theo phương thức nhân đôi [23]
Virus không thể tự sinh sản, chúng phụ thuộc vào bộ máy trao đổi chất của vật chủ và ribosomes để tự tái tạo và sinh sản
Hình 6: Sự sao chép và tái tạo [27]
d) Tính đa dạng kháng nguyên: Virus cúm type A có đặc điểm đặc trưng là chúng thường có đột biến gen dẫn đến sự biến đổi liên tục về tính kháng
nguyên Hai khả năng đột biến của virus cúm:
* Đột biến điểm (còn gọi là đột biến ngẫu nhiên hoặc hiện tượng trôi
Trang 19trượt hoặc lệch lạc về kháng nguyên – antigenic drift): Đột biến điểm là kiểu đột biến xảy ra thường xuyên, đặc biệt là đối với kháng nguyên H và kháng nguyên N tạo ra những sự thay đổi nhỏ về trình tự nuclêotit của gen
mã hóa Kết quả là tạo ra các phân type cúm hoàn toàn mới Ví như quá trình dập dịch không triệt để, vi rút vẫn tồn tại trong đàn gia cầm và biến đổi Gia cầm và các động vật khác (kể cả người) có thể mắc các vi rút cúm Loại biến dị này thường xảy ra liên tục, do sức ép miễn dịch - không gây ra các vụ cúm lớn [10]
Hình 7: Sơ đồ biến dị điểm
* Đột biến do tái tổ hợp di truyền (còn gọi là đột biến thay đổi bản chất kháng nguyên- antigenic shift): Đột biến này là sự tái tổ hợp di truyền xảy ra định kỳ trong đó có sự sắp xếp lại các nuclêotit do sự trộn lẫn 2 bộ gen của virus cúm khác nhau Điều đó đã tạo nên những sai khác cơ bản về bộ gen của virus đời con so với virus bố mẹ Khi nhiều virus khác nhau cùng xâm nhiễm vào một tế bào chủ, các thế hệ virus được sinh ra sau đó có thể được sinh ra
từ sự tái tổ hợp của các gen bố mẹ xuất phát từ nhiều virus khác nhau Vì vậy
do kiểu gen của virus cúm type A gồm 8 đoạn gen nên từ 2 virus bố mẹ có thể xuất hiện 256 tổ hợp của các virus thế hệ sau [10]
Khi nhiễm cùng lúc 2 hoặc 3 virus cúm (còn gọi là tổ hợp-reassortment) [10]
Biến dị điểm
Trang 20Hình 8: Sơ đồ Sự thay CA-(SHIFT)
e) Sức đề kháng của virus:
Virus cúm gia cầm có sức đề kháng yếu và bị “chết” dễ dàng trong môi trường bên ngoài nếu như không được bảo vệ bằng các chất hữu cơ có trong nước bọt hoặc phân
- Virus rất nhạy cảm với nhiệt độ: Virus (trong chất hữu cơ) bị vô hoạt bởi nhiệt độ nhiệt độ: Ở 4oC, virus có thể “sống” ít nhất là 35 ngày; Ở 37oC, virus có thể tồn tại vài ngày; Ở 56oC, virus có thể tồn tại vài giờ; Ở 60oC, virus có thể tồn tại 30 phút
- Virus bị vô hoạt bởi: Bức xạ tia cực tím, axit pH, các hoá chất: các chất oxy hoá, sodium dodecylsunphat, lipid solvents (xà phòng); các chất tẩy trùng: Formalin và các hợp chất iod [14]
Người ta đã phân lập được virus từ nước ao, hồ là nơi các loài thủy cầm sinh sống Nếu nguồn nước không được xử lý, nó sẽ là nguyên nhân lây nhiễm cho gia cầm khi gia cầm uống phải nước từ nguồn nước đó
Trong phủ tạng gà, virus tồn tại 24-39 ngày, ánh nắng chiếu trực tiếp sống được 40 giờ còn chiếu thường thì sống 15 ngày [14]
Trang 21f) Phân loại virus
Vi rút cúm typ A được phân typ dựa trên cơ sở xác định đặc tính glucoprotein bề mặt, yếu tố ngưng kết hồng cầu (H) và trung hoà (N) Vi rút cúm A thường có đột biến gen, tạo ra các phân typ hoàn toàn mới Những phân typ này thường gây đại dịch và được cấu tạo từ sự tái tổ hợp kháng nguyên của vịt, lợn và con người không thể dự đoán trước được
Trước đây, đã có lúc người ta cho rằng chỉ một phân typ cụ thể gây nhiễm cho một vật chủ nhất định có quan hệ gần gũi về loài, vì thế thường sử dụng các đuôi thêm vào phân typ dạng H, N Tuy nhiên, trong thực tế chỉ một vài phân typ cụ thể gây bệnh cho một số loài động vật thường xuyên hơn các loài khác trong cùng một điều kiện, hoàn cảnh
Do đó, năm 1980 Tổ chức y tế Thế Giới (WHO) đã đưa ra một hệ hống phân loại mới cho các vi rút cúm typ A và xắp xếp lại một số phân typ mà trước đó được xem là khác nhau nhưng sau thấy có quan hệ với nhau vào một nhóm Đồng thời, việc đặt tên cho một vi rút cúm mới được phân lập cũng được qui định chặt chẽ là phải thể hiện theo trình tự: Loại kháng nguyên, nguồn gốc vật chủ, địa điểm phát hiện, số chủng thham khảo, năm phân lập được vi rút và riêng vi rút cúm typ A phải qui định rõ các phân typ H, N Ví
dụ (A/ gà tây/ Anh/ 79 H7N7) [7]
Đến nay, virus cúm A chia thành 15 phân typ trên cơ sở kháng nguyên ngưng kết H(H1-H15) và N(N1-N9) sự thay đổi thành phần H và N của một vi rút dẫn đến sự đa dạng về mặt di truyền của các tế bào vật chủ Khi một tế bào cùng nhiễm nhiều loại vi rút khác nhau, các thế hệ vi rút được sinh ra sau đó
có thể có nguồn gốc từ sự pha chộn của các gen bố mẹ xuất phát từ nhiều vi rút khác nhau
Vì vậy, do kiểu do kiểu gen của vi rút týp A gồm 8 đoạn nên về lý
Trang 22thuyết từ 2 vi rút bố mẹ có thể xuất hiện 256 kiểu kết hợp khác nhau của các
vi rút thế hệ sau Trong thực tế, sự kết hợp này đã phân lập được từ gia cầm
Trang 23sự phá vỡ liên kết của men proteaza lại phụ thuộc vào số lượng các amino axit
cơ bản tại điểm bắt đầu vỡ liên kết Các enzym giống trypsin có khả năng phá
vỡ liên kết khi chỉ có 1 phần tử arginin, trong khi đó các men proteaza khác lại cần nhiều amino axit cơ bản, vì thế đánh giá độc lực của vi-rút trên cơ sở gây nhiễm cho gia cầm và sau đó phân tích sự sắp xếp các amino axit của các virus [7]
Người ta chia vi rút cúm gia cầm làm 2 loại: Loại vi rút có độc lực thấp: LPAI (Low Pathogenic Avian Influenza) và loại vi rút có độc lực cao: HPAI (High Pathogenic Avian Influenza) Để đánh giá độc lực của vi rút cúm thuộc loại nào người ta sử dụng phương pháp gây bệnh cho gà 3 - 6 tuần tuổi bằng cách tiêm tĩnh mạch sau đó đánh giá mức độ nhiễm bệnh của gà để cho điểm (chỉ số IVPI) Điểm tối đa là 3 điểm và đó là vi rút có độ độc lực cao nhất Theo qui định của tổ chức dịch tễ thế giới (OIE) thì vi rút cúm nào có chỉ số IVPI từ 1,2 trở lên là thuộc loại HPAI [21]
Các vụ dịch lớn đều do vi rút HPAI gây ra Các loại vi rút cúm gia cầm gây ra các vụ dịch lớn ở gia cầm thường là vi rút có kháng nguyên H5, H7, và
H9 Riêng H5 và H7 thông thường bắt nguồn từ vi rút độc lực thấp, sau quá trình lây truyền trên gà và chim cút độc lực tăng lên rất nhanh và gây ra các
vụ dịch lớn
Bằng cách tiêm tĩnh mạch 0,2 ml cho gà mẫn cảm từ 3 - 6 tuần tuổi với
tỷ lệ pha loãng 1/10 nước trứng đã được gây nhiễm vi rút, các nhà khoa học
đã thống nhất chia độc lực ra 3 loại:
Loại vi rút có độc lực cao: Nếu sau 10 ngày tiêm tĩnh mạch cho gà làm chết 75 - 100% gà thực nghiệm và phát triển tốt trên tế bào xơ phôi gà, tế bào thận chó trong môi trường nuôi cấy không có Trypsin
Loại vi rút có độc lực trung bình: gây bệnh với triệu chứng lâm sàng rõ
Trang 24rệt nhưng gây chết không quá 15% số gà bị nhiễm bệnh tự nhiên hoặc không quá 20% số gà mẫn cảm thực nghiệm
Loại vi rút có độc lực thấp (nhược độc): vi rút phát triển trong cơ thể
gà, có thể gây ra dịch nhưng không có triệu chứng lâm sàng rõ rệt và không tạo ra bệnh tích đại thể, không làm chết gà [26]
Trang 25Trong những năm gần đây, các vi rút như vậy đều thấy chủ yếu trên gà tây, hiếm thấy ở gà tại hầu hết các nước phát triển chăn nuôi gia cầm công nghiệp Tuy nhiên, các ổ dịch cúm gia cầm xảy ra nghiêm trọng lại do sự xuất hiện bất thường của một vi rút có độc lực thấp nhưng biến thể để trở thành một vi rút có độc lực cao gây thành bệnh cúm độc lực cao ở gia cầm (HPAI)
Vịt nuôi cũng bị nhiễm vi rút cúm nhưng ít phát bệnh do vịt có sức đề kháng với vi rút bệnh, kể cả những chủng có độc lực cao gây bệnh nặng cho
gà, gà tây Tuy nhiên, năm 1961, ở Nam phi đã phân lập được vi rút cúm typ
A (H5N1) gây bệnh cho cả gà và vịt [7]
Phần lớn các loài gia cầm non đều mẫn cảm với vi rút cúm typ A Hiện nay đã phân lập được vi rút cúm từ vịt bầu, ngỗng, chim cút, gà nhật, gà gô, gà lôi
Phân typ của vi rút cúm typ A đã gây dịch cho nhiều loài động vật có
vú như lợn, ngựa, chồn, hải cẩu và thú hoang dã ở nhiều nơi trên thế giới
Loài chồn cảm nhiễm cao với vi rút cúm Trong một ổ dịch tại một trại nuôi chồn ở Thuỵ Điển đã phân lập được vi rút cúm typ A (H4N10), chồn mắc bệnh 100% nhưng chỉ chết 3% Phân typ này đang lưu hành trong các loài gia cầm
Lợn mắc bệnh cúm thường do phân typ H1N1 và H3N2 với biểu hiện: dãn phế quản, phế nang có dịch tiết và hạch khí quản, Phổi bị sưng và tụ huyết [7]
2.1.5 Cách truyền lây
Khi gia cầm nhiễm bệnh, vi rút cúm được nhân lên trong đường hô hấp
và đường tiêu hoá
Virus H5N1 có thể độc lực cao nhân lên trong đường hô hấp và đường tiêu hóa của vịt nuôi Vịt bài thải một số lượng lớn virus (103,5 - 105,5/ml) theo đường hô hấp cũng như theo phân [18]
Trang 26Sự truyền lây bệnh được thực hiện theo 2 phương thức là:
- Truyền trực tiếp giữa con mắc bệnh và con cảm nhiễm;
- Truyền gián tiếp thông qua không khí, dụng cụ chăn nuôi, xe cộ, phân rác, thức ăn, nước uống có chứa mầm bệnh [13]
2.1.6 Triệu chứng, bệnh tích
a) Triệu chứng
- Loài mắc bệnh: Gà, gà tây, vịt, ngan, ngỗng, đà điểu, các loài chim
- Thời gian nung bệnh: từ vài giờ đến 3 ngày, phụ thuộc vào số lượng
vi rút, con đường xâm nhập, loài mẫn cảm
- Tỷ lệ mắc và chết khác nhau phụ thuộc vào loài vật mắc và độc lực của vi rút gây bệnh cũng như tuổi mắc và điều kiện môi trường Trường hợp
vi rút gây bệnh có độc lực cao, gà có thể mắc và chết tới 100%
- Con vật sốt cao, biểu hiện không bình thường ở hệ thống tiêu hoá, hô hấp, sinh sản và thần kinh
Triệu chứng chung: Con vật giảm hoạt động, giảm tiêu thụ thức ăn, gầy yếu, tăng tần số gà ấp ở đàn đang đẻ, giảm sản lượng trứng Trường hợp nặng biểu hiện ho, thở khó, chảy nước mắt, đứng túm tụm một chỗ, lông xù, phù đầu, mặt, những chỗ da không có lông bị tím tái, chân bị xuất huyết, rối loạn thần kinh, ỉa chảy, một số con biểu hiện co giật hoặc đầu ở tư thế không bình thường [7]
b) Bệnh tích
Bệnh tích thường gặp:
- Mào và yếm (tích) sưng to, phù quanh mí mắt
- Chỗ da không có lông bị tím bầm
- Chân bị xuất huyết
- Xuất huyết vùng đầu và thâm tím;
- Niêm mạc phế quản phù nề có chứa chất nhầy;
Trang 27- Viêm xoang bụng tích nước hoặc viêm dính;
- Xuất huyết đốm ở trên bề mặt niêm mạc;
- Viêm xuất huyết hầu hết toàn bộ đường tiêu hoá, đặc biệt rõ ở manh tràng, dạ dầy tuyến nơi tiếp giáp với mề [4]
c) Phương pháp xét nghiệm: Có một số phương pháp nghiên cứu về miễn
dịch chống bệnh cúm gia cầm Trong đó phương pháp huyết thanh học và
chẩn đoán virus học là được sử dụng nhiều hơn cả
Phương pháp huyết thanh:
- Phản ứng ngưng kết hồng cầu gà (HA)
- Phản ứng ức chế ngưng kết hồng cầu gà (HI)
Phương pháp chẩn đoán virus:
- Phương pháp phân lập virus trên phôi trứng
- Giám định virus bằng kỹ thuật PCR
d) Chẩn đoán huyết thanh học
Phản ứng huyết thanh học dùng để nhận biết các kháng thể có từ 7 - 10
ngày sau khi chủng vắc xin Chúng ta có thể sử dụng các phương pháp chẩn
đoán như phản ứng ngưng kết hồng cầu -HA (Hemagglutination test), phản ứng ngăn trở ngưng kết hồng cầu - HI (Hemagglutination inhibition test)
Phản ứng ngăn trở ngưng kết hồng cầu- HI: Phản ứng này được ứng
dụng để chẩn đoán bệnh cúm gia cầm: xác định type hoặc subtype của chủng virus cúm phân lập với các kháng thể đặc hiệu đã biết (mẫu kiểm tra là nước trứng hoặc môi trường tế bào thu hoạch sau khi tiêm truyền bệnh phẩm); phát hiện kháng thể cúm gia cầm với subtype của chủng virus cúm bị nhiễm hoặc sau khi sử dụng vacxin phòng bệnh
e) Chẩn đoán virus học:
Phân lập vi-rút và xác định vi-rút cúm gà typ A là hết sức cần thiết và
bắt buộc trong chẩn đoán bệnh
Trang 28* Phân lập virus bằng tiêm truyền trên phôi trứng
Phương pháp phân lập virus thích hợp là tiêm truyền qua phôi trứng gà hoặc tế bào nuôi cấy
Tiêm 0,1 - 0,3ml nước bệnh phẩm vào túi niệu của phôi gà 9 - 11 ngày tuổi, hàn kín và tiếp tục cho ấp ở nhiệt độ 370C trong 2 - 3 ngày
Một số ít chủng virus có độc lực cao có thể gây chết phôi khoảng 18-24 giờ trứng thu hoạch để ở nhiệt độ 40C qua một đêm Virus nhân lên trong nước trứng có hiện tượng ngưng kết hồng cầu gà Nếu không gây ngưng kết hồng cầu thì có thể lấy nước trứng thu được tiêm lần 2 cho phôi gà.Phần lớn các phôi bị tạp khuẩn sẽ chết trước 24 giờ phải bỏ đi Những phôi sống sau 24h tiếp tục được theo dõi đến 72h
Lấy nước phôi từ những phôi chết trong khoảng 48h và sau 48h hoặc từ phôi chưa chết đến 72h vào việc giám định virus Đây là khoảng thời gian mà
số lượng virus cúm (nếu có) đã đạt đến mức lý tưởng
* Giám định virus bằng phương pháp nhân gen phiên mã ngược RT-PCR
Dùng để xác định được Subtyp H và N
Phản ứng RT - PCR: Phản ứng chuỗi polymerase (PCR) là một kỹ
thuật tiên tiến để giám định hệ gen của virus cúm thậm chí khi chúng chỉ có mặt với một lượng rất thấp Do hệ gen của virus cúm là chuỗi xoắn đơn RNA, nên cần phải tổng hợp một bản sao DNA (cDNA) bổ sung với RNA của virus trước khi tiến hành nhân PCR Men Reverse Transcriptase là một polymerase được dùng để tổng hợp nên cDNA như vậy Do đó quá trình nhân hệ gen RNA của virus cúm được gọi là RT- PCR Phản ứng RT-PCR cần có một cặp oligonucleotides, hoặc còn gọi là primer (cặp mồi); 4 deoxyribonucleoside triphosphate (dNTPs); RNA khuôn mẫu, men Rt và Taq DNA polymerase Hỗn hợp phản ứng trước tiên được làm nóng tới 600C, sau đó làm mát tới nhiệt độ 420C để primer forward (tiến về trước) gắn vào chuỗi RNA đích
Trang 29Primer đã gắn sau đó được kéo dài ra với RT để tổng hợp cDNA có độ dài đầy đủ ở nhiệt độ 500C Hỗn hợp DNA/RNA sẽ trải qua 25 - 30 vòng gồm các giai đoạn tách sợi, gắn vào và kéo dài Men Taq DNA là một loại men polymerase bền nhiệt không bị phá huỷ bởi nhiệt độ nóng và không cần phải thay thế ở mỗi vòng của chu trình nhân lên Do sản phẩm của mỗi 1 vòng nhân lên sẽ làm khuôn mẫu cho vòng tiếp theo, nên mỗi vòng sẽ nhân đôi số sản phẩm DNA mong muốn
Cặp primer được sử dụng trong phản ứng PCR được thiết kế dựa trên
cơ sở của chuỗi gen đã biết Do các chuỗi HA của các type/ subtype của các vi-rút cúm khác nhau cũng khác nhau nên có thể thiết kế các primer PCR để nhân lên một cách đặc hiệu của RNA của một type hoặc subtype
Mẫu bệnh phẩm : Là dịch ổ nhớp, phân, hoặc mẫu bệnh phẩm phân lập
từ trứng hoặc môi trường tế bào
2.2 Tình hình dịch cúm gia cầm trên thế giới và khu vực đông nam á :
2.2.1 Tình hình dịch cúm gia cầm trên thế giới
a) Tình hình dịch cúm ở gia cầm
* Năm 1997 đến 2006: Virus cúm gia cầm phân bố ở toàn cầu, vì vậy
dịch bệnh đã xảy ra ở nhiều nước trên thế giới Đặc biệt năm 1997 bệnh xảy
ra ở Hồng Kông được xác định là do virut H5N1 đã phải tiêu huỷ khoảng 1,5
triệu gà, lây qua 18 người có 6 ca tử vong
Đầu năm 2003 bệnh nổ ra tại Hà Lan sau đó lây sang Đức và Bỉ làm chết hàng chục triệu gia cầm và cũng đã gây tử vong cho con người Đầu tháng 5 năm 2004 dịch cúm gia cầm đã xảy ra ở các nước như Mỹ, Canada
ở Châu á cuối năm 2003 dịch cúm gia cầm xảy ra trên diện rộng ở một số nước, dịch xuất hiện đầu tiên ở Hàn Quốc từ đầu tháng 12 năm 2003 sau đó dịch xảy ra ở nhiều nước với những diễn biến phức tạp Đến cuối tháng 2 năm
2004 đã có 11 nước và vùng lãnh thổ thông báo dịch là: Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, Indonesia, Trung Quốc, Hồng Kông,
Trang 30Đài Loan, Pakistan
Năm 2005 đã có 29 nước và vùng lãnh thổ xuất hiện dịch cúm gia cầm (H5N1) gồm Thái Lan, Campuchia, Thái lan, Myanma, Trung Quốc, Hồng Kông, Mông Cổ, Malaysia, Philipin, Ukraina, Croatia, Romani, Thổ Nhĩ Kỳ,
Ấn Độ, Thuỵ Điển, Áo, Nga, Colombia, Anh, Nigeria, Irắc, Iran, Bungari, Pháp, Italia, Hy Lạp, Slovenia, Việt Nam
* Năm 2007: Có 30 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới thông báo xuất hiện dịch cúm gia cầm do virus cúm A (H5N1) Đặc biệt là tại Indonosia, dịch cúm gia cầm xảy ra kéo dài; ở các quốc gia khác có ngành chăn nuôi tiên tiến như Hàn Quốc, Nhật Bản và một số quốc gia ở Châu Âu như Nga, Hungari, Rumani, Anh cũng ghi nhận có các ổ dịch cúm gia cầm Năm
2007 là năm ghi nhận nhiều ổ dịch cúm gia cầm tại một số quốc gia châu Phi , nơi được cho là virus có nguy cơ biến đổi và gây đại dịch cúm ở người
Các nước trong khu vực như Lào, Camphuchia, Myanma, Malaysia , Thái Lan, Trung Quốc đều có tái phát dịch
* Năm 2008: Đầu năm 2008 (tháng 1 đến tháng 3), dịch cúm xẩy ra và
có chiều hướng diễn biến phức tạp, làm chục ngàn gia cầm phải tiêu hủy, tại
16 nước trên thế giới, bao gồm: Trung Quốc, Ai Cập, úc, Hồng Kông, Iran, Israen, Lào, Pakistan, Tiểu vương quốc A rập, Indonesia, Thái Lan, Thổ Nhĩ
Kỳ, Ukraina, Vương Quốc Anh và Việt Nam
b) Tình hình dịch cúm gia cầm ở người trên thế giới:
Từ 2003 đến tháng 3/2008 đã có 367 người bị nhiễm virus cúm A (H5N1), trong đó có 233 người bị tử vong tại 14 quốc gia [12]
2.2.2 Tình hình dịch cúm gia cầm ở Việt Nam
a) Tình hình dịch cúm ở đàn gia cầm ở Việt Nam
Dịch cúm gia cầm phát ra ở Việt Nam từ tháng 12/2003 đến nay tạm thời chia các giai đoạn như sau:
Trang 31Giai đoạn I (Từ 12/2003 đến 9/2005)
* Đợt 1: Từ 12/2003 đến 3/2004, dịch lan rất nhanh, trong vòng 2 tháng
đã xuất hiện ở 2.574 xã, phường (chiếm 24,6 % số xã, phường trong cả nước), thuộc 381 quận, huyện, thị xã (chiếm 60 %) của 57 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Tổng số gia cầm mắc bệnh chết và tiêu huỷ là: 43,9 triệu con, chiếm 16,9 % tổng đàn (gà 30,4 triệu, thuỷ cầm 13,5 triệu con), ngoài ra còn
có 14,76 triệu con chim cút bị chết và tiêu huỷ
* Đợt 2: Từ 4/2004 đến 11/2004, dịch phát ra rải rác với qui mô nhỏ ở các hộ gia đình Dịch xuất hiện ở 46 xã, phường; thuộc 32 huyện, quận của 17 tỉnh, thành phố Tổng số gia cầm bị tiêu huỷ trong đợt dịch này là 84.000 con (trong đó gà: 56.000 con, vịt trên 8.000 con và chim cút gần 20.000 con)
* Đợt 3: Từ 12/2004 đến 3/2005, dịch cúm gia cầm xảy ra ở 670 xã, tại
182 huyện thuộc 36 tỉnh, thành phố trong cả nước gồm 15 tỉnh phiá Bắc; 21 tỉnh phía Nam Số gia cầm mắc, chết , tiêu huỷ là 1.85 triệu con, gồm 470.500 con gà, 825.700 con vịt, ngan và hơn 551.000 con chim cút
Từ ngày 29/6/2005 đến 23/8/2005 dịch cúm gia cầm sảy ra ở 17 xã, 15 huyện thuộc 10 tỉnh, thành phố Số gia cầm bị tiêu huỷ là 14.350 con
Giai đoạn II (Từ 10/2005- 7/2007),
* Đợt 4: Từ tháng 10/2005 đến 15/12/2005, dịch cúm gia cầm đã tái phát và xuất hiện ở 305 xã, phường, thị trấn của 108 quận, huyện, thị xã thuộc
24 tỉnh, thành phố Tổng số gia cầm ốm chết, bắt buộc tiêu huỷ và tiêu huỷ tự nguyện là 3.972.943 con
Trong năm 2005 tổng số gia cầm mắc bệnh chết và tiêu huỷ là trên 4,7 triệu con, chiếm 2,7 % tổng đàn [2]
Từ 15/12/2005 đến 05/12/2006, toàn quốc khống chế thành công dịch cúm gia cầm
* Đợt 5: Từ 06/12/2006 đến 01/2007 sau gần 1 năm khống chế thành
Trang 32công dịch cúm gia cầm, Từ ngày 6/12/2006 dịch cúm gia cầm tái phát tại Cà mâu, Bạc Liêu sau đó xuất hiện ở 6 tỉnh khác (Hậu giang, Cần Thơ, Trà Vinh, Vĩnh Long, Kiên Giang vaf Sóc Trăng) và 3 tỉnh Đồng bằng Sông hồng (Hà Nội, Hà Tây, Hải Dương) Đợt dịch này xẩy ra trên 83 xã, phường của 33 huyện, quận, thuộc 11 tỉnh thành phố Tổng số gia cầm bệnh chết và tiêu huỷ
là 100.000 con
* Đợt 6: Từ ngày 01/5/2007 đến 8/2007, Dịch tái phát ở Nghệ An, sau
đó dịch lây lan và được phát hiện tại 167 xã, phường của 70 huyện, quận, thuộc 23 tỉnh Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu huỷ là 294,85 ngàn con (gà chiếm 7,31% và thuỷ cầm chiếm gần 93%)
Sau hơn một tháng khống chế thành công dịch cúm gia cầm trong phạm
vi cả nước, từ ngày 1/10/2007 dịch đã tái phát tại 15 xã, phường của 9 huyện, thị thuộc 6 tỉnh Tổng số gia cầm mắc bệnh chết và tiêu huỷ 7.488 con (1.024
gà, chiếm 13,71 % và 6.464 vịt chiếm 86,28%)
* Đợt 7: Từ đầu năm đến 26/3/2008, dịch cúm gia cầm xảy ra ở 18 tỉnh, 31 huyện, 43 xã; tổng số gia cầm chết 14.396 con, số gia cầm phải tiêu huỷ là 40.193 con [11]
b) Diễn biến dịch cúm A (H5N1) trên người tại Việt Nam
Thể hiện qua 4 đợt dịch cụ thể:
* Đợt 1 (từ 26/12/2003 đến 10/3/2004): Ghi nhận 23 trường hợp mắc, trong đó 16 trường hợp tử vong tại 13 tỉnh thành phố
* Đợt 2 (từ 19/7/2004 đến 26/8/2004): Ghi nhận 04 trường hợp mắc cúm A(H5N1), tất cả đều tử vong, tại 3 tỉnh, thành phố
* Đợt 3 (từ 16/12/2004 đến 15/11/2005): Ghi nhận 66 trường hợp mắc cúm A(H5N1), trong đó 22 trường hợp tử vong, tại 25 tỉnh, thành phố
* Đợt 4 (từ 10/5/2007 đến nay): Ghi nhận 07 trường hợp mắc cúm A(H5N1), trong đó 04 trường hợp tử vong, tại 5 tỉnh, thành phố
Trang 33Như vậy, tính từ trường hợp mắc cúm A(H5N1) đầu tiên tại Việt Nam (26/12/2003) đến tháng 3 năm 2008 đã ghi nhận 105 trường hợp mắc cúm A(H5N1), trong đó 51 trường hợp tử vong, tại 34 tỉnh, thành phố [12]
2.3 Các giải pháp phòng chống dịch
2.3.1 Quản lý
Tổ chức Thú y thế giới Office International des Epizooties một tổ chức
liên chính phủ, thành lập 1924, gồm 172 nước thành viên, có nhiệm vụ tổ chức soạn thảo luật thú y quốc tế, các quy định tiêu chuẩn về thú y Mục tiêu của OIE là đảm bảo tính trung thực về tình hình dịch bệnh trên thế giới; thu thập, phân tích và phổ biến các thông tin dịch tễ học; đóng góp các Chuyên gia và khuyến khích hợp tác toàn diện quản lý dịch bệnh; phát triển công tác thú y Với sự uỷ quyền WTO, bảo đảm an ninh thương mại thế giới thông qua các tiêu chuẩn về thú y Kết hợp với tổ chức Y tế thế giới (WHO), Tổ chức Nông lương thế giới (FAO), cùng với các nhà khoa học đã nghiên cứu và đưa
ra chiến lược trong công tác phòng chống dịch cúm gia cầm
Việt Nam khi phát dịch cúm gia cầm, Đảng và Nhà nước đã thấy rõ được tầm quan trọng trong công tác phòng chống dịch, đã chỉ đạo quyết liệt với nhiều văn bản, chính sách, huy động cả hệ thống chính trị coi công tác phòng chống dịch cúm gia cầm là nhiệm vụ trọng tâm của cấp uỷ Đảng và chính quyền địa phương, tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân tích cực tham gia Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Y tế và các Bộ, ngành liên quan có chỉ thị, Quyết định, công điện và các công văn hướng dẫn chỉ đạo công tác phòng, chống dịch Trong công tác quản lý, giám sát ổ dịch tập trung vào các biện pháp sau:
Về chăn nuôi: Tập trung thực hiện quy hoạch về chăn nuôi, quản lý con giống, quản lý đàn thuỷ cầm, lập số đăng ký theo dõi; thực hiện An toàn sinh học trong chăn nuôi [6]
Trang 34Về thú y: Thực hiện công tác giám sát từ người chăn nuôi- trưởng thôn (xóm) -Thú y xã, phường và Ban chỉ đạo cấp xã - Trạm thú y và Ban chỉ đạo cấp huyện - Chi cục thú y và Ban chỉ đạo cấp tỉnh
Quản lý đàn gia cầm: Trong từng thời điểm Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn có văn bản quy định cụ thể trong việc quản lý đàn gia cầm:
Đối với đàn gà bị tiêu huỷ do mắc bệnh cúm gia cầm, chỉ được nuôi trở lại sau 60 ngày tính từ khi tiêu huỷ con gà cuối cùng;
Tạm thời dừng ấp trứng sản xuất con giống, nuôi mới vịt, ngan, ngỗng
và chim cút theo hướng dẫn số 321/BNN-CN ngày 4/2/2005
Phân công quản lý: Quản lý đàn gia cầm giống do Cục Chăn nuôi; Cục Thú y thẩm định các cơ sở chăn nuôi gia cầm thuộc Bộ quẩn lý, cơ sở chăn nuôi có vốn đầu tư nước ngoài
Thẩm định điều kiện vệ sinh thú y tái lập đàn: Chi cục Thú y thẩm định
cơ sở chăn nuôi giống thuộc cấp tỉnh quản lý, cơ sở chăn nuôi tư nhân có trên 3.000 con Trạm thú y cấp huyện thẩm định các cơ sở chăn nuôi có số lượng
từ 500 đến 3.000 con
Theo dõi dịch bệnh: Thú y các cấp chịu trách nhiệm theo dõi dịch bệnh trên địa bàn phụ trách; trưởng thôn, bản chịu trách nhiệm theo dõi tình hình chăn nuôi gia cầm và dịch bệnh của đàn gia cầm nuôi trên địa bàn Trách nhiệm của người chăn nuôi khi tái lập đàn, nuôi mới, nhập giống gia cầm phải đăng ký với cấp quản lý chăn nuôi gia cầm [2]
2.3.2 Giám sát ổ dịch
a) Giám sát chủ động:
Cục thú y đưa ra các hoạt động nhằm thu thập thông tin cần thiết:
+ Điều tra huyết thanh
+ Kiểm tra tại các trạm, chốt kiểm dịch, nơi giết mổ động vật, chợ buôn bán gia cầm, chim hoang dã
Trang 35+ Các biện pháp kỹ thuật
Thu thập số liệu về dịch bệnh và các yếu tố nguy cơ: Đây là hoạt động
cơ bản đầu tiên cần thực hiện trong quá trình chăn nuôi đòi hỏi người thu thập thông tin phải hiểu biết về bệnh cần giám sát, truyền số liệu về trung tâm, nơi thu thập xử lý: Đảm bảo đủ phương tiện để truyền thông tin, sử dụng điện thoại, fax trong trường hợp khẩn cấp (bình thường gửi theo đường bưu điện)
Thu thập và xử lý số liệu: Công việc này được tiến hành ở trung tâm hệ thống giám sát dịch bệnh động vật được đặt tại Cục thú y
Phản hồi kết quả phân tích: Sau khi phân tích, kết quả được báo cáo lên cấp trên, đồng thời gửi cho cơ quan thú y cấp dưới trực tiếp trong báo cáo phản hồi có đưa ra các hướng dẫn về việc áp dụng các biện pháp ứng phó với tình hình dịch nếu có xẩy ra
b) Giám sát bị động:
- Chờ đợi báo cáo của các địa phương gửi đến;
- Các chủ chăn nuôi chủ động báo cáo và thú y đợi báo cáo gửi tới
- Thu thập:
+ Các báo cáo định kỳ hàng tháng của thú y cơ sở
+ Báo cáo của lò mổ, ngời buôn bán
+ Báo cáo của phòng thí nghiệm
- Giám sát các điểm giết mổ (nếu có);
- Giám sát một số trại chăn nuôi gia cầm hoặc các thôn, bản gần đường giao thống chính
Trang 36* Khu vực chăn nuôi:
- Giám sát các trại chăn nuôi tập trung;
- Giám sát chăn nuôi hộ gia đình ở các thôn, ấp;
- Giám sát đàn vịt, ngan
* Giám sát chợ bán gia cầm sống;
* Giám sát chim hoang
c) Nội dung giám sát
- Đối với các trại chăn nuôi gia cầm, các thôn ấp có chăn nuôi gia cầm: Theo dõi sự thay đổi một số thông số và quan sát triệu chứng lâm sàng
- Đối với chợ bán gia cầm sống:
+ Theo dõi lâm sàng; Lấy mẫu máu vịt, ngan gửi xét nghiệm
+ Lấy mẫu phân tươi gửi xét nghiệm; [2]
d) Phân công trách nhiệm:
Trung tâm chẩn đoán thú y trung ương trực tiếp lấy mẫu huyết thanh và xét nghiệm những cơ sở chăn nuôi thuỷ cầm thuộc trung ương quản lý;
Chi cục thú y tổ chức lấy mẫu huyết thanh ở các cơ sở chăn nuôi thuỷ cầm thuộc địa phương quản lý, gửi tới phòng xét nghiệm cơ quan thú y vùng quản lý địa bàn
Đối với đàn thuỷ cầm thương phẩm, thuỷ cầm giống thuộc địa phương quản lý: Đàn thuỷ cầm có số cượng 300 con trở lên là một đơn vị mẫu, trường hợp chăn nuôi nhỏ lẻ, mỗi hộ gia đình chỉ dưới 300 thuỷ cầm thì mỗi xã được tính là một đơn vị mẫu Nếu trong đơn vị mẫu phát hiện có phản ứng huyết thanh dương tính thì tiêu huỷ toàn bộ đàn thuỷ cầm ở đơn vị mẫu đó
Đối với đàn thuỷ cầm giống thuộc trung ương quản lý: Lấy mẫu huyết thanh theo từng ô trong mỗi trại, với tỉ lệ lưu hành ước đoán 20 % Tiêu huỷ toàn bộ thuỷ cầm trong ô chuồng phát hiện dương tính huyết thanh cúm gia cầm H5N1, mỗi tháng xét nghiệm huyết thanh một lần với tỉ lệ mẫu giống lần
Trang 37đầu, chỉ được lấy trứng từ đàn có phản ứng huyết thanh âm tính để ấp với mục đích thay thế đàn
2.3.3 Sử dụng vắc xin trong phòng chống bệnh cúm gia cầm
Đối với bệnh cúm gia cầm, các nước Liên minh châu Âu đã áp dụng chính sách tiêu huỷ hàng loạt từ năm 1992 mặc dù quy định này đã được đề ra
từ năm 1980 Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi gia cầm đã có nhiều thay đổi quan trọng, chủ yếu là rút ngắn chu kỳ sản xuất Do đó, việc kiểm soát một bệnh truyền nhiễm ngày càng khó khăn vì một số lượng lớn gia súc, gia cầm mẫn cảm được nuôi trong cùng một thời kỳ và khó áp dụng các biện pháp an toàn sinh tương thích
Mặt khác, việc tiêu huỷ hàng loạt động vật gây thiệt hại kinh tế lớn, chi phí quá cao cho ngân sách quốc gia, người chăn nuôi ảnh hưởng đến vệ sinh môi trường, sức khoẻ cộng đồng
Vì vậy, để tránh phải giết bỏ một số lượng lớn động vật cần phải áp dụng một biện pháp khống chế khác là tiêm phòng vắc xin để phòng bệnh cúm gia cầm
Khi một ổ dịch cúm gia cầm xảy ra ở vùng có mật độ gia cầm cao, chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán, việc thực hiện các biện pháp an toàn sinh học không phù hợp với hệ thống chăn nuôi hiện đại thì việc tiêm phòng vắc xin là phù hợp để khống chế dịch bệnh lây lan
Việc sử dụng vac xin, khi được thực hiện phải được tiến hành kết hợp với các biện pháp phòng chống bệnh khác, bao gồm cả việc tiêu huỷ đàn bị bệnh để giảm lượng virus bài thải ra môi trường Tiêm phòng là một chiến lược hỗ trợ có thể được cân nhắc khi bệnh đã lây ra một phạm vi nào đó; FAO
và OIE đã đưa ra khuyến cáo sử dụng các loại vac xin phòng chống dịch cúm gia cầm [19]
2.3.4 Khử trùng tiêu độc
Trang 38Vệ sinh tốt có thể loại trừ khoảng 80 % virus; khử trùng tốt có thể (trên khu vực
đã được vệ sinh) loại bỏ 99.99 % (i.e log 4) của 20 % số virus còn lại [15]
Kế hoạch tháng vệ sinh khử trùng tiêu độc phòng chống dịch cúm gia cầm của Bộ Nông nghiệp và PTNT tập trung vào các nội dung:
* Đối với các cơ sở chăn nuôi tập trung
- Phát quang cây cỏ xung quanh chuồng trại nuôi gia súc, gia cầm, khơi thông cống rãnh, quét dọn thu gom chất thải, phân, rác để đốt hoặc chôn
- Vệ sinh tiêu độc khử trùng toàn bộ chuồng trại, khu vực chăn nuôi và
vùng phụ cận 2 lần / tuần
* Đối với các hộ chăn nuôi gia đình
- Vệ sinh quét dọn đầu làng, ngõ xóm, phát quang cây cỏ xung quanh chuồng trại nuôi gia súc, gia cầm, khơi thông cống rãnh, thu gom chất thải, phân, rác để đốt hoặc chôn
- Rắc vôi bột xung quanh chuồng nuôi, hố phân
- Phun thuốc khử trùng toàn bộ chuồng trại, khu vực chăn nuôi và vùng phụ cận 1 lần / tuần các xã có dịch cúm gia cầm
* Vệ sinh tiêu độc khử trùng cơ sở giết mổ, gia súc, gia cầm
- Nơi nhốt gia súc, gia cầm của các cơ sở giết mổ, các chủ hộ làm nghề kinh doanh giết mổ gia súc, gia cầm; các nhà hàng có giết mổ gia súc, gia cầm sau khi gia súc, gia cầm được giết mổ phải vệ sinh tiêu độc khử trùng toàn bộ khu vực nhốt gia súc, gia cầm chờ giết mổ, khu vực nơi giết mổ, cống rãnh thoát nước, chất thải sau giết mổ
* Vệ sinh tiêu độc khử trùng chợ buôn bán gia súc, gia cầm sống
- Có khu vực riêng cho từng loại gia súc, gia cầm mua bán ở chợ
- Quét dọn và phun thuốc khử trùng tiêu độc khu vực bán gia súc, gia cầm, lồng nhốt gia cầm sau mỗi buổi chợ
- Phương tiện vận chuyển, lồng nhốt gia súc, gia cầm phải được phun
Trang 39thuốc khử trùng tiêu độc khi ra vào chợ
- Những quầy bán thịt gia súc, gia cầm ở các chợ phải đảm bảo điều kiện vệ sinh thú y và phải vệ sinh tiêu độc cuối mỗi buổi chợ [8]
* Sử dụng hoá chất vệ sinh tiêu độc khử trùng
- Các loại hoá chất:
+ Vôi bột rắc nền chuồng sau khi đã quét dọn sạch và rắc xung quanh khu vực chăn nuôi Thành phần hoá học của vôi bột CaCO3, khả năng của chất này giúp giảm vi khuẩn, giảm lượng kén trứng, nhưng không làm giảm HPAI vì thế không thể quá tin tưởng vào "chất trắng thần kỳ"; [14]
- NaOH có thể được nhưng lại có tính bào mòn và nguy hiểm đến con người và động vật;
- Thuốc sát trùng như: Virkon, chloramin B, Chirox, Haniodin
* Nguyên tắc xử dụng thuốc sát trùng:
- Hoá chất, thuốc sát trùng tiêu độc được phun sau khi làm tổng vệ sinh phun vào chuồng trại gia cầm đang nuôi và khu vực xung quanh, phun các hố chứa phân và chất thải bằng các loại hoá chất, thuốc sát trùng
- Tính hiệu quả: Bao trùm diện rộng, sát trùng, diệt virus, diệt nấm và diệt bào tử; có tác dụng với mọi điều kiện thời tiết, độ pH cũng như nước cứng, với một số chất hữu cơ cao
- Tính An toàn: Đối với con người (không gây ung thư); đối với vật chứa đựng không có tính bào mòn (độ pH trung tính) hoặc không ảnh hưởng khi phun
- Tính đa dạng: Sản phẩm cần được dùng bằng nhiều cách khác nhau phun, bọt và dạng sương mà không cần thêm bất kỳ vật chứa đựng nào hoặc chất phụ gia [14]
2.3.5 An toàn sinh học trong chăn nuôi
a) Khái niệm về an toàn sinh học
Trang 40An toàn sinh học là giữ cho môi trường sinh thái ở thế cân bằng Mọi yếu tố làm phá vỡ sự cân bằng sinh thái đều gây ra hậu quả nghiêm trọng cho môi trường và vật nuôi, khi đó dịch bệnh sẽ hình thành và phát triển [14]
Theo Peter van Beek DVM, Reg Chuyên gia sức khoẻ vật nuôi; Dự án EU: SANCO/2005/D2/017, Khái niệm An toàn sinh học trong chăn nuôi là cách ngăn ngừa việc tiếp súc giữa gia cầm và virus
An toàn sinh học xác định nguy cơ chính trong lây nhiễm cúm gia cầm:
- Tình trạng không biết gì về khu vực đó;
- Tiếp xúc (trực tiếp hay gián tiếp): Con người, gia cầm, trang thiết bị, vật tư, thức ăn, nước uống;
- Chim di cư, chim hoang dã, thuỷ cầm;
- Đàn vịt, tiêm phòng hay chưa tiêm phòng;
- Phân gia cầm;
- Hoạt động của con người
b) Các biện pháp An toàn sinh học:
- Giảm nguy cơ gây ra cúm gia cầm;
- Tiêm phòng vắc xin;
- Quản lý tốt
- Chuồng trại an toàn
c) Nguyên tắc quan trọng an toàn sinh học