1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhận xét đặc điểm lâm sàng, x quang và hiệu quả điều trị sâu răng mặt bên trên các răng hàm sữa bằng fu

82 621 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 18,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vị trí sâu răng thường gặp là ở mặtbên và rất nhiều trường hợp chỉ có thể phát hiện khi chụp X-quang răng.Người ta thấy rằng nếu chỉ khám bằng dụng cụ thông thường trên lâm sàngchỉ mới p

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo nghiên cứu của Tổ chức Y tế Thế giới, sâu răng được xem như làtai họa toàn cầu thứ ba Sâu răng là một trong những bệnh mạn tính thườngxuyên trong con người Ở trẻ em, bệnh sâu răng là một trong những bệnh răngmiệng phổ biến nhất Sâu răng có thể gây đau, ảnh hưởng đến ăn uống, họchành, vui chơi của trẻ, tiêu tốn nhiều thời gian và tiền bạc cho việc điều trị.Ngoài ra còn có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm

Sâu răng sữa thường tiến triển nhanh, nếu không được điều trị, sâu răng

sẽ dẫn tới biến chứng viêm tủy, viêm quanh cuống làm ảnh hưởng tới mầmrăng vĩnh viễn và có thể gây ảnh hưởng toàn thân khiến trẻ phải nhổ răng sữatrước tuổi thay sinh lý

Nếu các răng sữa bị mất sớm nhất là các răng hàm sữa sẽ khiến trẻ ănnhai khó, không ngon miệng, dễ nuốt trọn viên thức ăn gây ảnh hưởng khôngtốt đến hệ tiêu hóa Bên cạnh đó còn ảnh hưởng không tốt tới sự hình thànhkhớp cắn răng vĩnh viễn, sự tăng trưởng của xương hàm, sự phát âm, thẫmmỹ…Ngoài ra, còn ảnh hưởng xấu đến sự phát triển thể chất, tinh thần và trítuệ của trẻ

Tại hội nghị quốc tế y tế khu vực Tây Thái Bình Dương năm 1984 đã đề

ra khẩu hiệu : “Sức khỏe của trẻ em, sự giàu có của ngày mai” mà một trongnhững vấn đề quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe toàn diện đó là chămsóc sức khỏe răng miệng cho trẻ

Tuy nhiên, ở nước ta tình trạng chăm sóc răng miệng ở trẻ em còn thấp.Năm 2010, theo kết quả điều tra của Viện đào tạo Răng Hàm Mặt thực hiệntại 5 tỉnh, thành phố trên cả nước thì có đến 81,6% trẻ từ 4-8 tuổi bị sâu răngsữa; 16,3% bị sâu răng vĩnh viễn [1] Với bộ răng sữa thì gặp phần lớn là sâu

Trang 2

răng hàm sữa, đặc biệt là ở hàm dưới [2] Vị trí sâu răng thường gặp là ở mặtbên và rất nhiều trường hợp chỉ có thể phát hiện khi chụp X-quang răng.Người ta thấy rằng nếu chỉ khám bằng dụng cụ thông thường trên lâm sàngchỉ mới phát hiện được khoảng 30% tổn thương sâu răng, còn 70% phát hiệntổn thương sâu răng mặt bên nhờ vào X-quang răng cận chóp [3].

Cho đến nay trám răng sữa sâu đã được nhiều nhà khoa học trên thế giớiquan tâm nghiên cứu và tỷ lệ thành công cao (89,6% - 99%) [4],[5],[6] Có nhiều

kỹ thuật mới, vật liệu mới đã được chứng minh qua lâm sàng là rất có hiệu quả

và được sử dụng rộng rãi nhưng ở Việt Nam chưa được sử dụng nhiều

Ở nước ta, các răng sữa thường được phục hồi bằng các vật liệu truyềnthống như Amalgam, GIC, Composite và gần đây là chụp thép có sẵn Mặc dùvậy các nha sĩ thường xuyên phải đối mặt với nguy cơ bong sút, vỡ miếngtrám, sâu tái phát… làm ảnh hưởng nhiều đến chất lượng và kết quả điều trịcũng như uy tín của nha sĩ, nhất là đối với các lỗ sâu mặt bên Bên cạnh đóviệc theo dõi và đánh giá hiệu quả điều trị trên các răng sữa sống tủy còn gặpnhiều khó khăn

Chính vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nhận xét đặc điểm lâm sàng, X-quang và hiệu quả điều trị sâu răng mặt bên trên các răng hàm sữa bằng Fuji VII” với các mục tiêu sau:

1 Nhận xét đặc điểm lâm sàng, X-quang sâu răng mặt bên răng hàm sữa ở trẻ em 5 – 8 tuổi ở Trung tâm kỹ thuật cao Răng Hàm Mặt – Trường Đại học Y Hà Nội và khoa Răng Trẻ Em – Viện Răng Hàm Mặt Trung ương.

2 Nhận xét hiệu quả điều trị sâu răng mặt bên răng hàm sữa chưa

có tổn thương tủy răng bằng Fuji VII.

Trang 3

Chương 1TỔNG QUAN1.1 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, X-QUANG BỆNH SÂU RĂNG.

1.1.1 Định nghĩa bệnh sâu răng.

Sâu răng là một bệnh phổ biến nhất của loài người Có rất nhiều địnhnghĩa về bệnh sâu răng như:

- Fejerkov và Thystrup: Bệnh sâu răng là một quá trình động, diễn ratrong mảng bám vi khuẩn dính trên mặt răng, dẫn đến mất cân bằng giữa môrăng với chất dịch xung quanh và theo thời gian, hậu quả là sự mất khoángcủa mô răng

- Lundeen và Robersoon: Bệnh sâu răng là bệnh nhiễm trùng của răngdẫn đến hậu quả là hoà tan cục bộ và phá huỷ các mô vôi hoá

- Nikiforuk: Bệnh sâu răng là bệnh đặc thù tại chỗ có liên quan đến sựphá huỷ mô răng do các sản phẩm chuyển hoá từ vi khuẩn

- Silverston: Bệnh sâu răng là bệnh nhiễm trùng của mô răng biểu hiệnđặc trưng bởi các giai đoạn mất/tái khoáng xen kẽ nhau

- Newbrun: Bệnh sâu răng là một quá trình bệnh lý của sự phá huỷ cục

bộ mô răng do vi khuẩn

Nhìn chung, ngày nay phần lớn các tác giả đều thống nhất rằng: sâurăng là một bệnh nhiễm khuẩn của tổ chức canxi hoá được đặc trưng bởi sựhuỷ khoáng của thành phần vô cơ và sự phá huỷ thành phần hữu cơ của môcứng Tổn thương là quá trình phức tạp bao gồm các phản ứng hoá lý liênquan đến sự di chuyển các ion bề mặt giữa răng và môi trường miệng và làquá trình sinh học giữa các vi khuẩn mảng bám với cơ chế bảo vệ của vậtchủ [7]

Trang 4

1.1.2 Căn nguyên và các yếu tố ảnh hưởng đến bệnh sâu răng.

Bệnh sâu răng là một bệnh đa nguyên nhân, trong đó vi khuẩn đóng vaitrò quan trọng Ngoài ra còn có các yếu tố thuận lợi như chế độ ăn uống nhiềuđường, vệ sinh răng miệng không tốt, tình trạng khấp khểnh của răng, chấtlượng men răng kém, môi trường tự nhiên, nhất là nước ăn uống có hàmlượng fluor thấp (hàm lượng fluor tối ưu là 0,8 - 0,9 ppm/l) đã tạo điều kiệncho sâu răng phát triển

Trước năm 1970 người ta coi sâu răng là một thương tổn không thể hồiphục và khi giải thích bệnh căn sâu răng, người ta chú ý nhiều đến chất đường và

vi khuẩn Streptococus mutans nên việc phòng bệnh sâu răng tập trung vào chế

độ ăn hạn chế đường, tiến hành vệ sinh răng miệng kỹ, nhưng hiệu quả phòngsâu răng hạn chế

Sau năm 1975 người ta coi sâu răng là một bệnh do nhiều nguyên nhân gây ra,các nguyên nhân này được chia làm hai nhóm:

- Nhóm chính: Có ba yếu tố phải cùng đồng thời xảy ra

+ Vi khuẩn thường xuyên có trong miệng, trong đó có Streptococusmutans là thủ phạm chính

+ Chất bột và đường dính vào răng sau ăn sẽ lên men biến thành acide dotác động của vi khuẩn

+ Răng có khả năng bị sâu nằm trong môi trường miệng Ở đây người tacũng thấy rằng cấu tạo men răng giữ một vai trò trọng yếu trong nguyên nhânsâu răng vì men răng có fluor thì có khả năng phòng chống sâu răng

- Nhóm yếu tố phụ trợ có rất nhiều như: Vai trò của nước bọt, di truyền,đặc tính vi sinh hóa của răng… Nhóm này tác động làm tăng hay giảm sâurăng và gây ra các vị trí lỗ sâu khác nhau

Thêi gian

R¨ng

Vi khuÈn m¶ng b¸m

ChÊ t NÒ n

NÒ n S

R

Trang 5

Từ năm 1975, White đã thay thế một vòng tròn (chất đường) của sơ đồKeys bằng vòng tròn chất nền và nhấn mạnh vai trò nước bọt và pH của dòngchảy môi trường xung quanh răng [8].

5

Chất nền

Vi khuẩn

Răng

SR

NÒ n

NÒ n

+ Răng: Tuổi, flouride, hình thái, các

vi tố, độ Cacbonat v.v.

+ Vi khuẩn: Streptococus mutans

+ Chất nền:

- Vệ sinh răng miệng sử dụng fluor

- PH vùng trao đổi quanh răng thấp

4,5-5 sẽ gây thương tổn dưới bề mặt

- Khả năng trung hoà (đệm) của nước bọt

Trang 6

Trên lâm sàng các tổn thương sớm này có thể phát hiện được khi thổikhô bề mặt răng Khi các tổn thương men xốp dưới bề mặt răng được hydratehóa rất khó phát hiện trên lâm sàng vì men xốp lúc này trở nên trong suốt.Các tổn thương sớm có khả năng tái khoáng hóa và hồi phục [7].

Hình 1.2 Sâu răng sớm, bề mặt men vẫn còn nguyên vẹn [9]

Hình 1.3 Đốm trắng - Sâu răng sớm [10]

Melrose và cộng sự (1996) đã chỉ ra trong cơ thể sau một tuần tiếp xúcgiữa men và mảng bám, không thể phát hiện bất kỳ sự thay đổi vĩ mô sau khikhô bề mặt răng cẩn thận Tuy nhiên, ở cấp độ vi mô đã có dấu hiệu của sựgiải thể của các tinh thể trên bề mặt dẫn đến một sự phá hủy một phần ngoại

Trang 7

vi của các tinh thể Sau 14 ngày, xuất hiện tổn thương vĩ mô của men, đó là sựgia tăng độ xốp (Hình 1.5) [9].

Hình 1.4 Tổn thương trên bề mặt men răng [9]

Đối với bộ răng sữa, sâu răng hay gặp ở các RHS và thường là mặt bênnên việc phát hiện sâu răng mới chớm là rất khó, nhiều trường hợp chỉ có thểxác định được trên phim X-quang

Trang 8

1.1.3.2 Sâu răng giai đoạn lỗ sâu.

Các lỗ sâu trên bề mặt men là các tổn thương không hồi phục và nếukhông được điều trị thì mô ngà sẽ bị phá hủy nhanh, phá vỡ cấu trúc răng

* Sâu men răng.

Sâu men vùng hố rãnh: Không bắt đầu từ đáy mà từ thành các hố rãnh

như một vòng nhẫn Mô bệnh học cũng giống như tổn thương sâu răng ở mặtnhẵn Khi tổn thương lan rộng về phía ngà theo hướng song song với trụ menthì sẽ hợp nhất đáy rãnh, tạo ra tổn thương hình nón nhưng đáy lại quay vềđường ranh giới men ngà chứ không quay về mặt răng như tổn thương ở mặtnhẵn [7]

Trên lâm sàng, ở giai đoạn này bệnh nhân chưa chú ý tới vì chưa gây ratriệu chứng chủ quan, khi thăm khám bị mắc thám trâm Theo M Frey, tổnthương men màu nâu sẫm là một tổn thương có giới hạn và tiến triển chậm

Trang 9

Ngược lại, nếu tổn thương có màu sáng là một tổn thương tiến triển nhanhhơn [3].

* Sâu ngà răng:

Khi sâu răng tiến đến đường ranh giới men - ngà sẽ tiếp tục lan sang bêntheo đường ranh giới men – ngà làm tổn thương số lượng lớn ống ngà Tổnthương sớm có hình nón hoặc dạng lồi, đáy quay về phía ranh giới men – ngà.Theo tiến triển, về mặt vi thể từ trong ra ngoài cũng có 4 vùng: [7]

Khi khám thấy đáy lỗ sâu tổn thương mềm người ta cho rằng đó là sâurăng đang phát triển Nếu đáy lỗ sâu cứng đó là sâu răng đã ổn định Sự khácbiệt chính giữa sâu ngà nông và sâu ngà sâu là chiều sâu của lỗ sâu Nếu tổnthương sâu dưới 2mm là sâu ngà nông, còn tổn thương >2-4mm là sâu ngàsâu [3]

1.1.4 Đặc điểm lâm sàng sâu răng sữa.

Mặc dù răng sữa có nhiều chức năng rất quan trọng nhưng không phải

ai cũng nhận thức đầy đủ về vấn đề này Nhiều bậc cha mẹ vẫn cho rằng răngsữa sẽ thay nên chăm sóc răng cho trẻ kém, khi tổn thương không nhất thiết

Trang 10

phải điều trị và cũng không muốn đưa trẻ đến nha sĩ vì sợ trẻ quấy khóc dẫnđến việc trẻ ít được khám và quá trình điều trị thường bị bỏ dở

Đối với nha sĩ, việc điều trị cho trẻ em gặp rất nhiều khó khăn hơn sovới người lớn Trẻ em thường ít hợp tác, quá trình điều trị mất thời gian vàđòi hỏi kiên nhẫn cao Kết quả là răng sữa của trẻ ít được giữ gìn Tuy nhiênviệc chữa răng sữa là rất cần thiết, phải bảo tồn răng sữa cho đến tuổi thay

Sâu răng là bệnh lý hay gặp nhất ở răng sữa vì bề mặt răng có nhiều hốrãnh tương ứng với tính dễ sâu răng Sâu răng sữa cũng giống như sâu răngvĩnh viễn nhưng tiến triển rất nhanh, lan toả nhiều mặt, phá huỷ hết các tổchức cứng của răng trong khi đó răng sữa rất bé nên các thành còn lại không

đủ để lưu giữ các khối chất hàn đặc biệt là các răng đã chữa tủy, kết quả cácrăng thường bị gãy vỡ và mất sớm

Sâu răng thường bắt nguồn ở hố rãnh trên mặt nhai, nơi lông bàn chảirất khó làm sạch nhưng sâu răng mặt bên lại tiến triển nhanh hơn sâu răng mặtnhai và tỷ lệ hở tủy cũng cao hơn Thường gặp sâu răng ở mặt nhai RHS thứ 2

và kẽ giữa RHS 1và 2 So với răng vĩnh viễn thì buồng tủy răng sữa rất rộng,men và ngà mỏng cộng với việc phản ứng của ngà răng rất ít đối với sâu răngnên sâu răng sữa thường bị tổn thương tủy Bên cạnh đó sừng tủy răng sữanhô rất cao nên khi tạo xoang trám loại II cũng rất dễ tổn thương sừng tủy

Viêm tủy răng sữa ở trẻ em tuy cũng trải qua các giai đoạn của viêm mô

tế bào như ở răng vĩnh viễn nhưng các giai đoạn đó ngắn và thường là viêmmạn Khi trẻ có dấu hiệu đau nhiều thì thường là đã có viêm quanh cuống

1.1.5 Phân loại bệnh sâu răng.

Hiện nay có rất nhiều phương pháp phân loại bệnh sâu răng

* Theo vị trí tổn thương: Sâu hố rãnh, sâu mặt nhẵn và sâu xê măng

Trang 11

* Theo tiến triển của tổn thương: Sâu răng cấp tính, sâu răng mạn tính và sâurăng ngừng tiến triển.

* Phân loại theo Black :

- Loại I : sâu ở vị trí các hố và rãnh tự nhiên của răng

- Loại II : sâu mặt bên các răng hàm

- Loại III : sâu mặt bên các răng cửa nhưng chưa có tổn thương rìa cắn

- Loại IV : sâu mặt bên các răng cửa có tổn thương rìa cắn

- Loại V : sâu cổ răng

- Loại VI : sâu răng ở vị trí rìa cắn của răng cửa hoặc đỉnh núm răng hàm

* Phân loại theo độ sâu : Sâu men, sâu ngà nông và sâu ngà sâu

* Phân loại theo bệnh sinh :

- Sâu răng tiên phát

- Sâu răng thứ phát : sâu răng mới phát sinh trên một răng đã điều trị

- Sâu răng tái phát: tái phát trên nền của tổn thương cũ đã được điều trị

* Phân loại theo “Site and size ” : Phân loại này dựa vào hai yếu tố chính đó

là vị trí lỗ sâu và kích thước của lỗ sâu

Vị trí : Vị trí 1 : tổn thương ở hố rãnh và các mặt nhẵn

Vị trí 2 : tổn thương kết hợp với mặt tiếp giáp

Vị trí 3 : sâu cổ răng và chân răng

Trang 12

4 : tổn thương rất rộng làm mất cấu trúc răng, cần có các phương tiệnlưu giữ cơ học hoặc phục hình.

Để đáp ứng nhu cầu dự phòng cá nhân Brique và Droz đã bổ sung thêm

cỡ 0, là những tổn thương có thể chẩn đoán được và có khả năng tái khoánghóa được Ngoài ra còn có phân loại của Pitt, Lubetzki… Trong nghiên cứunày chúng tôi sử dụng phân loại “Site and size ”

Trang 13

- Ghi lại độ rộng khoảng trống được tạo bởi sự mất răng hoặc sự rụng răng sớm

- Xác định sự có mặt hay vắng mặt của các răng hàm nhỏ

- Xác định mối liên quan giữa một răng với mặt cắn để xem khả năngrăng đó bị dính khớp

- Phát hiện mức độ xương ổ răng ở vùng khe răng

- Phát hiện lỗ sâu thứ phát

Kĩ thuật:

Đầu của bệnh nhân được đặt sao cho mặt phẳng chân cánh mũi - nắpbình tai vuông góc với mặt phẳng dọc giữa và song song với sàn nhà Cạnhdưới của phim được đặt trên sàn miệng giữa lưỡi và mặt lưỡi của hàm dưới vàmiếng cắn được đặt trên bề mặt cắn của các răng hàm dưới Phim được đặt ở

tư thế để bao phủ toàn bộ các vùng cần chú ý Trung tâm của tia đi vào ở mặtcắn hợp với mặt phẳng ngang một góc 5-8 độ Một miếng cắn hoặc bục cắnhoặc unibite film holders có thể được sử dụng để giữ phim vuông góc với mặtcắn [10]

Hình 1.6: A và B: Chụp phim cánh cắn [10]

A: Dụng cụ giữ phim để chụp phim cánh cắn, B: Vị trí của phim và ống chụp

Trang 14

Hình 1.7 Hướng của tia [10]

Hình 1.8 Sâu răng sớm [10] Khảo sát lỗ sâu [10]

1.2 ĐIỂU TRỊ BỆNH SÂU RĂNG.

1.2.1 Sinh lý và chức năng răng sữa.

1.2.1.1 Các giai đoạn sinh lý của răng sữa

Thời gian mọc trung bình để thành lập bộ răng sữa là 22,4 +/- 0,4tháng [11] Thường thì trẻ không có răng ngay sau khi sinh nhưng thỉnhthoảng có trường hợp trẻ sinh ra đã có răng cửa dưới

Thứ tự mọc răng sữa thường là :

Thứ tự R cửa giữa R cửa bên R hàm thứ 1 R nanh R hàm thứ 2Thời gian

Răng sữa có thể chia thành 3 giai đoạn phát triển sinh lý: [12],[13]

Trang 15

- Giai đoạn hình thành và phát triển: Được tính từ lúc xuất hiện mầm răng trong thời kỳ bào thai cho tới khi hình thành hoàn toàn thân và chânrăng Thời kỳ này răng sữa ít bị sâu.

- Giai đoạn hoàn thành và ổn định: Bắt đầu từ lúc chân răng hìnhthành hoàn toàn cho tới khi có sự tiêu chân răng có thể phát hiện trên lâmsàng Trên phim X-quang, cuối giai đoạn 2 tương ứng với dấu hiệu tiêu ½cuống răng

- Giai đoạn thoái triển: Được tính từ lúc kết thúc giai đoạn 2 cho đếnkhi răng thay

Răng sữa thường được thay thế bằng răng vĩnh viễn bắt đầu vào lúc

6 tuổi cùng với sự xuất hiện của răng hàm lớn thứ nhất

Thông thường răng vĩnh viễn mọc theo thứ tự sau:

Hàm trên 6 - 1 - 2 - 4 - 3 - 5 - 7 - 8 và 6 - 1 - 2 - 4 - 5 - 3 - 7 - 8Hàm dưới (6 - 1) - 2 - 3 - 4 - 5 - 7 - 8 và (6 - 1) - 2 - 4 - 3 - 5 - 7 - 8

1.2.1.2 Chức năng răng sữa.

Răng sữa được đề cập đến bốn chức năng cơ bản như sau: [12],[13],[14],[15],[16]

Trang 16

Amalgam có độ bền cao vì vậy là vật liệu trám răng thông dụng nhấtcho nhóm răng sau Tuy vậy, miếng trám Amalgam có màu đen ánh bạc,không đồng nhất với men răng, lại dẫn nhiệt Amalgam không có tính bámdính nên đòi hỏi lỗ trám phải có tính ổn định và tính lưu giữ Điều này sẽ rấtkhó khăn cho các răng sữa vì men ngà của răng sữa mỏng và rất dễ vỡ Hơnnữa do có sử dụng thủy ngân nên dễ gây độc cho nha sĩ và bệnh nhân Viêctạo xoang cần lấy đi nhiều mô răng và phải sử dụng tay khoan làm trẻ sợ, kémhợp tác nên Amalgam ngày càng ít được sử dụng trong RTE

Ưu điểm của Amalgam [7]:

- Amalgam chịu được lực nhai lớn

- Tính mài mòn gần tương tự cấu trúc răng

- Rất khít với thành xoang trám nếu được nhồi nén tốt, đúng kỹ thuật

Trang 17

- Với lỗ trám được tạo tốt, miếng trám được đánh bóng tốt thì tuổi thọmiếng trám có thể vài chục năm.

- Dễ thao tác, phù hợp để phục hồi các răng sau chịu lực nhai lớn

- Chi phí thấp, giá thành rẻ

Nhược điểm của Amalgam :

- Màu sắc không phù hợp với màu răng

- Giòn dễ vỡ và gãy nứt hơn nếu hàn không đúng phương pháp

- Có thể bị ăn mòn và phản ứng điện phân

- Không liên kết với cấu trúc mô răng

- Mối nguy hiểm từ độc tố thủy ngân

1.2.2.2 GIC.

GIC loại cơ bản được Wilsson và Kent giới thiệu lần đầu tiên vào năm

1972, đây là vật liệu có khả năng thay thế cấu trúc mô răng bị mất có nhiều

ưu điểm Tên Glass Ionomer Cement bắt nguồn từ bột xi măng có bản chất làthủy tinh và bản chất của kết nối xi măng với tổ chức răng do các liên kết ion.Không như các loại vật liệu khác, GIC chỉ cần chuẩn bị xoang trám tối thiểu

do có kết nối hóa học với tổ chức răng So với composite, GIC đòi hỏi ít yêucầu về kỹ thuật trám hơn GIC được coi là vật liệu giống tự nhiên do đặc điểm

cơ học giống ngà răng Vì vậy GIC là vật liệu phổ biến nhất trong nha khoa

GIC gồm 3 thành phần chính:

+ Hạt thủy tinh hoạt hóa phản ứng với Polyacid

+ Polyalkenoic acid (Polyacid, thường dùng là acid Polyacrylic hoặccopolymers của acid acrylic và các monomeric khác)

+ Nước

Trang 18

Ứng dụng:

- Trám thẩm mỹ xoang loại III, các tổn thương mòn cổ, xoang loại V

- Vật liệu gắn: Cho phục hình và cho chỉnh nha

- Vật liệu che tủy và trám lót

- Tạo cùi

- Trám bít hố rãnh

- Vật liệu hàn trung gian

Những yếu tố ảnh hưởng đến độ bền của miếng hàn GIC:

+ Sự ngấm nước: Chuỗi Calci polyacrylat rất yếu và dễ hòa tan trongnước khi GIC chưa đông cứng hoàn toàn, do vậy miếng hàn cần được bảo vệ ngăn chặn ngấm nước trong 24 giờ đầu nhờ phủ một lớp vecni hay resin

+ Việc sửa soạn ngà răng: GIC bám dính tốt nhất trên các bề mặt trơnláng và sạch Do vậy cần sửa soạn bề mặt xoang trơn láng và sạch bằng cáchlấy sạch ngà mủn và xử lý bề mặt bằng acid Poly acrylic 10% hoặc acidphosphoric 37% Cố gắng không làm mất nước bề mặt xoang vì trong phảnứng đông cứng cần có nước Nếu răng khô quá nó có thể hút nước khỏicement và làm xáo trộn sự cân bằng của sự trao đổi ion là yếu tố để tạo sựbám dính của vật liệu [18]

+ Tỷ lệ bột nước: Tính chất vật lý của miếng trám tùy thuộc nhiều vào

số lượng bột trộn, càng nhiều bột thì miếng trám càng cứng chắc Nhưng nếuquá nhiều bột sẽ làm miếng trám bị, khô, giảm sự kết dính vào mô răng Tuynhiên khó có thể định tỷ lệ một cách đúng mức nếu lấy bột và nước bằng tay,

do đó việc dùng bột và nước có sẵn trong các nang để trộn được khuyến khích

để đạt kết quả chuẩn Ưu điểm duy nhất của việc trộn bằng tay là ta có thể kéodài thời gian làm việc thêm khoảng 25% [19]

Trang 19

Cơ chế kết dính:[20]

+ GIC kết dính hóa học với men, ngà răng trong quá trình đông cứng Có

sự trao đổi các proton, các cation Al3+, Ca2+, F- trên bề mặt các hạt thủy tinhđược giải phóng Sự kết dính cơ học xuất hiện do tương tác ion Ca2+ và PO43- ở

bề mặt men và ngà sẵn có phức hợp Ca10(PO4)6(OH)2 (Hydroxy apatit)

+ Việc kết dính giữa các GIC với răng sẽ tốt hơn nếu bề mặt răng đượcchuẩn bị sạch, bề mặt men và ngà sẽ không bị lấy số lượng quá mức các Ca2+

Đặc điểm sinh học: [7]

Vì thành phần Polyacrylic là một acid nên miếng trám GIC ban đầu sẽ

có pH thấp, có thể gây ê buốt nhưng sau 7-8 giờ sẽ ổn định Trong một sốtrường hợp có thể gây thoái hóa tủy, do vậy chỉ trám khi lớp ngà trên tủy

> 0,5 mm GIC có khả năng giải phóng Fluor dưới dạng ion có tác dụng phòngngừa sâu răng, kháng khuẩn và tái khoáng cho mô cứng, chống sâu răng thứphát

Ưu điểm của GIC: GIC có rất nhiều ưu điểm khi điều trị ở trẻ em so với

các loại vật liệu khác

Kỹ thuật trám GIC đơn giản, rất thuận lợi khi điều trị ở trẻ em GIC cótính tương hợp sinh học, có thể bám dính hóa học tốt trên men ngà, màu sắcgần giống mô răng GIC không gây kích thích tủy và việc tạo lỗ trám phá hủy

ít mô răng Khả năng phóng thích Fluor tại chỗ phòng ngừa sâu răng và táikhoáng hóa Độ cứng tương đối cao, có thể làm việc được trong môi trường

ẩm Đây là điều quan trọng vì khi điều trị ở trẻ em rất khó để cách ly hoàntoàn xoang trám với nước bọt

Fuji VII:

Trang 20

Với những ưu điểm như trên, chúng tôi lựa chọn GIC để điều trị Trongnghiên cứu này chúng tôi sử dụng Fuji VII màu hồng để trám các RHS bị sâumặt bên với những lý do sau:

Fuji VII có độ bám dính cao, độ hòa tan thấp Có khả năng đông cứngtrong môi trường ẩm rất tốt, do đó có thể sử dụng ngay cả khi không kiểmsoát được độ ẩm Điều này rất thuận lợi cho điểu trị ở đối tượng là trẻ em, rấtkhó để kiểm soát xoang không bị nhiễm nước bọt

Fuji VII có khả năng phóng thích Fluor cao nhất, cao hơn Fuji I 3 lần,cao hơn Fuji IX 6 lần Fuji VII duy trì khả năng phóng thích Fluor trong vòng

24 tháng Do đó Fuji VII có khả năng phòng ngừa sâu răng cao nhất

Màu hồng dễ nhận biết so với mô răng, thuận tiện cho bố mẹ trẻ theodõi miếng trám, đồng thời dễ hấp thu ánh sáng nên có thể sử dụng đènhalogen giúp phản ứng đông cứng của miếng trám nhanh hơn

1.2.2.3 GIC cải tiến.

GIC cải tiến được sản xuất để bù đắp cho các nhược điểm của chất hàn.Gồm 2 loại là GIC có thành phần kim loại và GIC có thêm thành phần nhựa

GIC có thành phần kim loại được giới thiệu với đặc tính tăng cường độcứng, chống gãy vỡ, chịu mòn cao trong khi duy trì được đặc tính bám dínhhóa học và đặc điểm chống sâu răng Trên thực tế các đặc tính cơ học củaGIC có thành phần kim loại không có sự khác biệt rõ ràng với GIC thôngthường mà còn cho thấy nhược về thẫm mỹ là có màu xám của kim loạikhông phù hợp với các răng trước

GIC có thêm thành phần nhựa có nhiều tên gọi khác như Compomer,Resin ionomer, GIC quang trùng hợp, GIC lưỡng trùng hợp… Ngày nay,Compomer được xem như những composite, có quy trình thao tác giống như

Trang 21

là composite Tuy nhiên, nó khác với các composite là giải phóng ra Fluor và

có phản ứng acide-base sau khi hấp thu nước

Compomer có tính thẫm mỹ cao hơn GIC thông thường và có độ chốnggãy vỡ lớn hơn do tính đàn hồi lớn hơn của thành phần nhựa Tuy vậy,Compomer có độ cứng thấp hơn GIC thông thường và khả năng bị hở rìa caohơn do sự co của thành phần nhựa

1.2.2.4 Composite.

Sự ra đời của Composite đánh dấu một bước ngoặt lớn trong lịch sửphát triển của vật liệu nha khoa phục hồi bởi những đặc tính ưu việt của nó sovới các chất hàn trước đây Từ khi được phát hiện bởi Ray L Bowen vào năm

1962 với tên gọi Bis - GMA cho đến nay Composite đã được sử dụng rộng rãi

và có nhiều thay đổi để phù hợp với các chỉ định lâm sàng:

- Phục hồi cho vùng răng trước và răng sau

- Chụp hoặc cầu kim loại cẩn nhựa

- Chốt chân răng bằng Composite

- Vật liệu dán mắc cài trong chỉnh nha, chụp sứ, chốt inlay, onlay…

- Trám bít hố rãnh

- Sữa chữa mảnh vỡ nhỏ của phục hồi sứ

Composite được sản xuất với nhiều màu sắc khác nhau phù hợp vớimàu sắc răng nên Composite là vật liệu có tính thẫm mỹ cao hơn hẳn các loạivật liệu khác, đồng thời Composite cũng có độ nhẵn cao hơn do đó giảm sựlưu giữ của mảng bám răng Trước đây Composite chỉ được chỉ định cho cácvùng răng trước do khả năng chịu lực kém Những cải tiến gần đây vềcomposite như hạt độn nhỏ hơn đã gia tăng độ chịu lực của vật liệu nênComposite đã được mở rộng chỉ định cho các răng sau để giải quyết yêu cầu

Trang 22

thẫm mỹ và những lo ngại về độc tính của thủy ngân trong miếng trámAmalgam Việc cải tiến hệ thống keo dán cũng đã có được những kết quả lâmsàng tốt hơn, tăng khả năng dán hơn đảm bảo cho sự tồn tại ổn định lâu dàicủa miếng trám Composite

Ngày nay, với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật có rất nhiều loại

Composite mới được sản xuất với những tính năng ưu việt hơn Song việc sử

dụng Composite trong RTE cũng gặp một số khó khăn Việc cách ly lỗ trámComposite và môi trường miệng khó làm ảnh hưởng nhiều đến chất lượngmiếng trám, thời gian làm việc thường lâu và đòi hỏi kỹ thuật chính xác Răngsữa có buồng tủy rộng, ngà và men mỏng nên lỗ sâu thường sát tủy do đómiếng trám Composite dễ gây kích thích tủy Các thành phần chủ yếu của cácComposite đã được phát hiện là độc trên invitro, nếu được sử dụng ở dạngtinh khiết, các Composite trùng hợp không hoàn toàn tạo ra các thành phầngây bất lợi về mặt sinh học [20]

1.2.2.5 Chụp thép có sẵn.

Chụp thép có sẵn được sử dụng trong nha khoa phục hồi RTE lần đầutiên vào năm 1950 bởi Humphrey Nhìn chung, chụp thép có sẵn dùng để táitạo những răng sữa bị bể quá lớn, thay cho những miếng trám Amalgam nhiềumặt, giúp răng tồn tại lâu trên cung hàm Chụp được sản xuất với nhiều kíchthước khác nhau và cần điều chỉnh đường viền để khít khao với từng răng

So với những vật liệu thông thường khác thì chụp thép có sẵn có nhiều

ưu điểm để phục hồi răng hàm sữa như: rất bền, bảo vệ và nâng đỡ được tổchức còn lại của răng, phục hồi lại được hình dáng của thân răng được dễdàng, diện tiếp xúc với các răng bên tốt tránh được hiện tượng dắt thức ăn rấtphiền toái cho trẻ, hiệu quả kinh tế cao, tiết kiệm được nhiều thời gian chobệnh nhân và cho nha sĩ, kỹ thuật đơn giản…[21]

Trang 23

Theo kết quả nghiên cứu của Võ Trương Như Ngọc cho thấy chụp thép

là vật liệu lý tưởng để phục hồi các RHS bị tổn thương tổ chức cứng nhiều vàbảo vệ các răng sau khi đã chữa tủy [2] Tuy vậy, việc sử dụng chụp thép cósẵn đòi hỏi phải mài nhiều mô răng và phải gây tê trên những răng còn sốngtủy Đây là những việc rất khó trong điều trị ở trẻ em

Ưu, nhược điểm của các loại vật liệu dùng trong răng trẻ em:

- Không liên kết với răng

- Phải tạo lưu cơ học

- Nguy hiểm từ thủy ngân

- Có phản ứng điện phân

- Dính vào mô răng

Compomer - Các ưu điểm của GIC

- Đàn hồi tốt hơn GIC

- Yêu cầu nhiều trang thiết bị

- Chủ động thời gian làm việc

- Yêu cầu nhiều trang thiết bị

- Mài răng nhiều

- Đòi hỏi sự hợp tác của bệnhnhân

Lịch sử các nghiên cứu trước về sâu mặt bên răng hàm sữa.

* Năm 1956, nghiên cứu của Parfitt ở bộ răng sữa cho thấy các răng có

khoảng trống mặt bên nhỏ hơn 0,5 mm có tỉ lệ sâu răng cao gấp 10 lần các

Trang 24

răng có khoảng trống mặt bên mở rộng Lúc 8 tuổi tỷ lệ sâu răng mặt bênbằng mặt nhai [9]

* Năm 1989 nghiên cứu của Reeh và cộng sự đã chỉ ra rằng các mặt bên có

vai trò quan trọng trong sự cân bằng của các kiến trúc nha khoa nhưng cũng làsức mạnh của cấu trúc răng Sự tổn thương của các mặt bên dẫn đến giảm50% sức mạnh của răng, nguy cơ tổn thương gai nướu và mào xương do đótăng lên [9]

* Năm 1990, Greenwell và cộng sự nhận thấy 84% trẻ không sâu răng sữa sẽkhông sâu ở bộ răng hỗn hợp 57% trẻ sâu răng mặt bên sẽ có thêm các sâumặt bên cũng ở bộ răng sữa trong giai đoạn bộ răng hỗn hợp [23]

* Năm 1998 nghiên cứu của Hintze và cộng sự đã thành lập một thang đánhgiá các tổn thương mặt bên bằng chiều sâu trên phim cánh cắn Bao gồm năm

- Mức 0: Bình thường mô

- Mức 1: Tổn thương liên quan đến một nửa bên ngoài của men

- Mức 2: Tổng thương kéo dài đến nửa bờ trong của men

- Mức 3: Tổn thương đạt một phần ba bên ngoài của ngà răng

- Mức 4: Tổn thương kéo dài đến hai phần ba của ngà răng nội bộ

* Năm 2009, nghiên cứu của Lê Thị Hạnh Quyên và Nguyễn Thị Vân cho thấy trong số 510 mặt răng sữa bị sâu thì sâu mặt bên chiếm tỷ lệ khá cao.

Tỷ lệ sâu răng trong nghiên cứu này là 43,34%, trong đó sâu RHSchiếm 78,95% [23]

Trang 25

Ngày nay với việc nhận thức được tầm quan trọng của răng sữa thì bộrăng sữa ngày càng được chăm sóc tốt hơn Ngày càng có nhiều nghiên cứunhằm mục đích chăm sóc và bảo tồn bộ răng sữa Mặc dù vậy, các nghiên cứunày thường tập trung nghiên cứu về sâu răng sữa chung và cũng như cách bảotồn chung, ít đề cập đến vấn đề chuyên về sâu mặt bên

Các RHS có vùng tiếp xúc thấp, rộng và phẳng làm cho việc thămkhám khó khăn, các giai đoạn sớm chỉ có thể phát hiện bằng X-quang Sâurăng mặt bên thường phát triển nhanh hơn sâu răng mặt nhai và tỷ lệ lộ tủycũng cao hơn

Trong việc điều trị sâu mặt bên RHS thường gây nhiều khó khăn chonha sĩ bởi vị trí này có khả năng lưu giữ miếng trám rất kém, lại chịu lực nhailớn, sự giắt thức ăn và sâu tái phát Theo Võ Trương Như Ngọc, trong cáctrường hợp răng sữa đã điều trị tủy thì việc sử dụng chụp thép có sẵn là lýtưởng để phục hồi lại hình thể Trong việc bảo tồn các răng sữa còn sống tủythì việc sử dụng vật liệu thường theo thói quen của nha sĩ mà chưa có một

khuyến cáo cụ thể nào

Trang 26

Chương 2ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.

Là các bệnh nhân đến khám tại khoa RTE Trung tâm kỹ thuật cao Việnđào tạo Răng Hàm Mặt và khoa RTE Viện Răng Hàm Mặt Trung Ương.Nghiên cứu được tiến hành từ 1/4/2013 đến 30/9/2013

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn.

- Trẻ em tuổi từ 5-8 có sâu mặt bên răng hàm sữa

- Trẻ hợp tác và bố mẹ trẻ đồng ý cho trẻ tham gia nghiên cứu

Đối với nhóm điều trị trám răng bằng Fuji VII:

- Các RHS có sâu mặt bên nhưng chưa tổn thương tủy

- RHS chưa đến tuổi thay

2.1.2.Tiêu chuẩn loại trừ.

- Trẻ không hợp tác hoặc bố mẹ trẻ không đồng ý tham gia nghiên cứu

- Các RHS lung lay nhiều hoặc có tổn thương nha chu chưa được điều trị

- RHS đã đến tuổi thay

2.1.3 Cỡ mẫu nghiên cứu.

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp can thiệp lâm sàng khôngnhóm chứng Cỡ mẫu được tính theo công thức:

2 2

) 2 1 (

1

d

p) p(

Z



Trang 27

Trong đó:

- n: Cỡ mẫu nghiên cứu

2 1

( 

Z : Là độ lệch rút gọn ứng với các sai lầm  khác nhau và bằng

1,96 tương ứng với  = 0,05

- p: Ước tính tỷ lệ điều trị thành công là 80%, p = 0,8 [24]

- d: Độ chính xác mong muốn, ta lấy d= 0,1

Từ công thức trên thay các giá trị tương ứng ta tính được n= 62 RHS

Trong thời gian nghiên cứu chúng tôi khám và ghi nhận tất cả các trẻ

có đủ tiêu chuẩn để thực hiện mục tiêu thứ nhất của nghiên cứu và chúng tôichọn ra 62 RHS trong số các trẻ có đủ tiêu chuẩn điều trị để trám bằng FujiVII, thực hiện mục tiêu thứ hai của nghiên cứu Sau 6 tháng tiến hành, chúngtôi nghiên cứu được 119 trẻ, trong đó điều trị cho 31 trẻ với 75 RHS

* Bảng biến số và các chỉ số nghiên cứu.

Thông tin

chung

Phân loại theo

“site and size”

Khám

Tình trạngbệnh lý

Tổn thương tủy hay chưa

Khám và thử tủy

Đặc điểmrăng sâu

Sâu mặt bên đơn hay nhiều mặt

Khám

Phân bố lỗsâu mặt bên

Kẻ giữa hay mặt bên khác

Khám

Trang 28

lỗ sâu theo mặt bên

mặt gần, xa, gầnnhai, xa nhai, gầnnhai xa và gần-xa

Tỷ lệ tổnthương tủytheo răng

Phân bố của tỷ lệ tổnthương hoặc chết tủytheo các RHS

Khám

Tỷ lệ tổnthương tủytheo mặt bên

Phân bố của tỷ lệ tổnthương hoặc chết tủytheo mặt bên

Chiều dày thành tủy Khám và chụp phim

cận chóp

Số điểmchạm

Xác định điểm chạm

sau trám

Giấy cắn

Tiếp xúcmặt bên

Sự tiếp xúc của mặtbên được điều trị vàmặt bên kế cận

Chỉ tơ nha khoa

chụp phim cận chópTình trạng

mô nha chu

Mô lợi và túi nha chu

Khám và đo độ sâu túi

* Đánh giá miếng trám:

Để đánh giá thế nào là miếng trám thành công hay thất bại, chúng tôidựa theo quan điểm của Braff: Một miếng trám thành công là một miếng trámkhông cần phải thay thế lại sau đó [25]

- Miếng trám không bong, không gãy vỡ - Khớp cắn phù hợp

Trang 29

- Răng không bị gãy vỡ - Tiếp xúc mặt bên tốt.

- Không sâu tái phát, viêm tủy hay abces cuống

* Vấn đề sai số trong nghiên cứu và cách khắc phục:

Do thời gian nghiên cứu ngắn nên khả năng theo dõi không đầy đủ,không đến được lúc trẻ thay răng sinh lý dẫn đến kết quả sẽ chưa thực sựthuyết phục Bên cạnh đó, nghiên cứu có thể gặp một số vấn đề sau :

Về phía đối tượng nghiên cứu

- Trẻ hoặc bố mẹ trẻ nhớ sai hoặc trả lời không chính xác

- Không tiếp tục tham gia nghiên cứu

Về phía nha sĩ

- Chẩn đoán sai

- Phương pháp điều trị sai hoặc sai kỹ thuật

- Ghi chép sai hoặc bỏ sót thông tin

Để khắc phục những vấn đề này trong nghiên cứu, chúng tôi sẽ lựachọn đối tượng nghiên cứu phù hợp thông qua những thông tin về nghềnghiệp của bố mẹ trẻ, nơi thường trú và thái độ hợp tác của trẻ và bố mẹ Giảithích sự lợi ích cho trẻ trong việc tham gia nghiên cứu và tầm quan trọng củaviệc tích cực tham gia nghiên cứu Nha sĩ cũng cần hỏi, thăm khám kỹ và ghichép cẩn thận để có thông tin chính xác nhằm chẩn đoán đúng Điều trị tuânthủ chính xác theo các bước kỹ thuật

2.2 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP THÔNG TIN.

2.2.1 Khám và thu thập các thông tin.

Trang 30

2.2.1.1 Hỏi bệnh sử.

Với trẻ em thì phần bệnh sử khó khai thác, trẻ đau rồi mải chơi quênkhông nói với bố mẹ, chỉ khi không ăn được, không ngủ được thì bố mẹ mớiđưa đi khám

- Hỏi bố mẹ trẻ và trẻ về biểu hiện đau, đau từ bao giờ, khi nào, đaunhư thế nào?

- Lỗ sâu có từ bao giờ ?

- Tiền sử điều trị của trẻ

- Hỏi về thói quen xấu của trẻ về răng miệng như cắn móng tay, mútlưỡi, mút môi má, mút ngón tay, nghiến răng, thở miệng

- Vệ sinh răng miệng của trẻ: trẻ tự đánh răng hay bố mẹ đánh, baonhiêu lần, đánh vào lúc nào

- Thói quen ăn uống của trẻ như ngậm cơm, ngậm sữa

2.2.1.2 Khám lâm sàng.

- Mục đích: Mô tả tình trạng tổ chức cứng của răng, xác định răng này

đã được điều trị tủy hay chưa? Sâu răng hay viêm tủy từ đó đưa ra kế hoạchđiều trị phù hợp

- Màu sắc răng thay đổi hay không?

+ Đáy lỗ sâu: Mủn hay cứng, nhìn thấy ánh hồng của tủy hay không, cóđiểm hở tủy hay không, có chảy máu không

Trang 31

+ Cảm giác tủy khi thăm khám: Dùng nạo ngà nạo đáy lỗ sâu, trẻ cócảm giác đau hay không?

+ Thử nhiệt: Thử lạnh bằng đá, thử nóng bằng gutta hơ nóng Tuynhiên thử tủy ít có giá trị lâm sàng đối với trẻ nhỏ

+ Lung lay răng: So sánh với bên đối diện, lung lay răng độ mấy

+ Gõ răng: gõ răng theo chiều ngang và chiều đứng để tìm cảm giácđau, gõ từ răng lành đến răng bệnh Quan sát sắc mặt của trẻ

2.2.1.5 Chỉ định Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng chất trám là Fuji

VII cho các RHS bị sâu mặt bên nhưng chưa tổn thương tủy

2.2.1.6 Dụng cụ và vật liệu sử dụng trong điều trị.

Trang 32

- Bộ dụng cụ khám gồm: Gương nha khoa, thám trâm số 17, gắp.

- Fuji VII màu hồng

- Đai trám, băng trám và chêm gỗ

- Các mũi khoan siêu tốc, mũi cao su đánh bóng

- Cây nạo ngà, que hàn, cây khám túi lợi, bông gòn

2.2.2 Các bước kỹ thuật trám Fuji VII.

Bước 1 : Sửa soạn lỗ sâu: Lấy sạch ngà mủn và xử lý men ngà bằngdentin conditioner

Bước 2 : Cách ly lỗ sâu bằng bông

Bươc 3 : Đặt đai, băng trám và chêm gỗ nếu cần

Bươc 4 : Trộn xi măng với tỷ lệ bột/nước theo nhà sản xuất

Bước 5 : Đặt xi măng vào xoang, nhồi chặt

Bước 6 : Lấy bỏ xi măng thừa, tháo đai và băng trám,

Bước 7 : Chỉnh khớp cắn và kiểm tra tiếp xúc mặt bên

Trang 33

Fuji VII màu hồng Lỗ sâu phía xa RHS thứ nhất hàm dưới

Tạo hình lỗ sâu và xử lýbằng detin conditioner

Đặt đai và băng trám Nhồi chất trám vào xoang

Trang 34

Lấy bỏ vật liệu thừa Kiểm tra lại khớp cắn và Tháo đai và băng trám tiếp xúc mặt bên

2.3 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU.

Số liệu được thống kê và xử lý theo chương trình SPSS 16.0

2.4 VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU.

Tất cả bố mẹ của trẻ đều được giải thích về nghiên cứu Trẻ tham gianghiên cứu khi có sự hợp tác của trẻ và sự đồng ý của bố mẹ Quy trình khám

và điều trị được đảm bảo để không gây ra bất kỳ ảnh hưởng xấu nào cho trẻ.Trong quá trình nghiên cứu không tiến hành bất kỳ thử nghiệm nào khácngoài những vấn đề điều trị trong nghiên cứu cho phép Mọi thông tin của đềtài chỉ phục vụ nghiên cứu

Trang 35

Chương 3KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.

Trong thời gian 6 tháng, từ 1/4/2013 – 30/9/2013 chúng tôi khám vàđiều trị được 119 bệnh nhân có sâu răng mặt bên RHS, độ tuổi từ 5-8 Kết quảnghiên cứu được trình bày như sau:

3.1.1 Phân bố bệnh nhân theo giới.

Trang 36

Nhận xét: Trong tổng số 119 trẻ có 369 RHS sâu mặt bên, chiếm tỷ lệ

38,76% Trong đó, số RHS bị sâu mặt bên ở nữ là 198 (53,7%) nhiều hơn sovới số RHS bị sâu mặt bên ở nam là 171 (46,3%) Tuy nhiên, so sánh bằng

thuật toán 2 sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p>0,05.

3.1.3 Phân bố răng sâu mặt bên theo tuổi

Có 26 trẻ 7 tuổi (21,1%) và 19 trẻ 8 tuổi (16%) Khi so sánh bằng thuật toán

2 sự khác biệt giữa các nhóm tuổi có ý nghĩa thống kê với p<0,05.

3.1.4 Phân bố theo răng.

Trang 37

Nhận xét: Hay gặp nhất là răng 84 (19,2%) và răng 74 (18,7%) So sánh bằng

thuật toán 2 sự khác biệt giữa phân bố số lượng các răng sâu là có ý nghĩa

Biểu đồ 3.5 Phân bố răng sâu.

Nhận xét: Trong nghiên cứu của chúng tôi hay gặp nhất là RHS thứ nhất hàm

dưới (37,9%) và RHS thứ nhất hàm trên (25,5%) RHS thứ hai ở hàm dưới(18,7%) hay gặp hơn các RHS thứ hai hàm trên (17,9%) Khi so sánh bằng

thuật toán 2 sự khác biệt giữa phân bố các răng sâu theo nhóm là có ý nghĩa

thống kê với p<0,001

3.1.5 Phân bố RHS bị sâu mặt bên ở hàm trên – hàm dưới

0204060

Biểu đồ 3.6 Phân bố răng sâu ở hàm trên – hàm dưới.

Trang 38

Nhận xét: Trong số 369 RHS bị sâu mặt bên thì gặp ở hàm dưới 209 RHS

(56,6%) và hàm trên 160 RHS (43,4%).Khi so sánh bằng thuật toán 2 sự

khác biệt giữa phân bố các răng sâu theo hàm trên và hàm dưới là có ý nghĩathống kê với p<0,05

3.2 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ X-QUANG.

3.2.1 Phân loại lỗ sâu theo “site and size”

Có 32 RHS sâu cả phía gần và xa tách rời, trong đó có 24 RHS chưatổn thương tủy trong tổng số 211 RHS chưa tổn thương tủy Như vậy sẽ có211+24=235 lỗ sâu mặt bên chưa ảnh hưởng tủy răng Các lỗ sâu này đượcphân thành 4 kích thước như biểu đồ 3.7

Biểu đồ 3.7 Phân loại kích thước lỗ sâu.

Nhận xét: Hay gặp nhất là Size 2 với 161 RHS (68,6%), Size 3 với 48 RHS

(20,4%), Size 1 với 21 RHS (8,9%) và Size 4 với 5 RHS (2,1%)

Khi so sánh bằng thuật toán 2 sự khác biệt giữa phân bố các lỗ sâu

theo kích thước là có ý nghĩa thống kê với p<0,001

Trang 39

3.2.2 Tình trạng bệnh lý răng.

Bảng 3.1 Tình trạng bệnh lý tủy.

Nhận xét: Trong số 369 RHS bị sâu mặt bên có 33,3% RHS bị chết tủy và

9,5% RHS bị viêm tủy không hồi phục Các RHS chưa tổn thương tủy chiếm

tỷ lệ 57,2% Khi so sánh bằng thuật toán 2 sự khác biệt giữa các nhóm bệnh

lý tủy là có ý nghĩa thống kê với p<0,001

cuống (64,2%) và 44 RHS (35,8%) bị tủy hoại tử Khi so sánh bằng thuật toán

2 sự khác biệt giữa hai nhóm là có ý nghĩa thống kê với p<0,05.

3.2.3 Đặc điểm răng sâu.

Trang 40

Biểu đồ 3.9 Đặc điểm răng sâu.

Nhận xét: Trong tổng số 369 RHS bị sâu mặt bên, hay gặp nhất là các RHS

chỉ bị sâu 1 mặt bên với 287 RHS (77,8%), 50 RHS (13,6%) bị sâu nhiều mặt

và 32 RHS (8,6%) bị sâu cả phía mặt bên gần và xa tách rời Khi so sánh bằng

thuật toán 2 sự khác biệt giữa các nhóm đặc điểm răng sâu là có ý nghĩa

thống kê với p<0,001

3.2.4 Vị trí lỗ sâu mặt bên.

020

Ngày đăng: 05/11/2015, 17:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Sơ đồ White [8] - Nhận xét đặc điểm lâm sàng, x quang và hiệu quả điều trị sâu răng mặt bên trên các răng hàm sữa bằng fu
Hình 1.1. Sơ đồ White [8] (Trang 5)
Hình 1.2.  Sâu răng sớm, bề mặt men vẫn còn nguyên vẹn [9] - Nhận xét đặc điểm lâm sàng, x quang và hiệu quả điều trị sâu răng mặt bên trên các răng hàm sữa bằng fu
Hình 1.2. Sâu răng sớm, bề mặt men vẫn còn nguyên vẹn [9] (Trang 6)
Hình 1.3. Đốm trắng - Sâu răng sớm [10] - Nhận xét đặc điểm lâm sàng, x quang và hiệu quả điều trị sâu răng mặt bên trên các răng hàm sữa bằng fu
Hình 1.3. Đốm trắng - Sâu răng sớm [10] (Trang 6)
Hình 1.4. Tổn thương trên bề mặt men răng [9] - Nhận xét đặc điểm lâm sàng, x quang và hiệu quả điều trị sâu răng mặt bên trên các răng hàm sữa bằng fu
Hình 1.4. Tổn thương trên bề mặt men răng [9] (Trang 7)
Hình 1.5. Phim X-quang cánh cắn [10] - Nhận xét đặc điểm lâm sàng, x quang và hiệu quả điều trị sâu răng mặt bên trên các răng hàm sữa bằng fu
Hình 1.5. Phim X-quang cánh cắn [10] (Trang 7)
Hình 1.6: A và B: Chụp phim cánh cắn [10] - Nhận xét đặc điểm lâm sàng, x quang và hiệu quả điều trị sâu răng mặt bên trên các răng hàm sữa bằng fu
Hình 1.6 A và B: Chụp phim cánh cắn [10] (Trang 13)
Bảng 3.1. Tình trạng bệnh lý tủy. - Nhận xét đặc điểm lâm sàng, x quang và hiệu quả điều trị sâu răng mặt bên trên các răng hàm sữa bằng fu
Bảng 3.1. Tình trạng bệnh lý tủy (Trang 39)
Bảng 3.2. Phân bố các RHS bị sâu theo mặt bên. - Nhận xét đặc điểm lâm sàng, x quang và hiệu quả điều trị sâu răng mặt bên trên các răng hàm sữa bằng fu
Bảng 3.2. Phân bố các RHS bị sâu theo mặt bên (Trang 41)
Bảng 3.3. Tỷ lệ tổn thương tủy của từng RHS. - Nhận xét đặc điểm lâm sàng, x quang và hiệu quả điều trị sâu răng mặt bên trên các răng hàm sữa bằng fu
Bảng 3.3. Tỷ lệ tổn thương tủy của từng RHS (Trang 43)
Bảng 3.4. Tỷ lệ tổn thương tủy của các RHS theo mặt bên gần và xa. - Nhận xét đặc điểm lâm sàng, x quang và hiệu quả điều trị sâu răng mặt bên trên các răng hàm sữa bằng fu
Bảng 3.4. Tỷ lệ tổn thương tủy của các RHS theo mặt bên gần và xa (Trang 44)
Bảng 3.5. Tình trạng thành của các lỗ sâu. - Nhận xét đặc điểm lâm sàng, x quang và hiệu quả điều trị sâu răng mặt bên trên các răng hàm sữa bằng fu
Bảng 3.5. Tình trạng thành của các lỗ sâu (Trang 47)
Bảng 3.6. Thất bại và nguyên nhân thất bại. - Nhận xét đặc điểm lâm sàng, x quang và hiệu quả điều trị sâu răng mặt bên trên các răng hàm sữa bằng fu
Bảng 3.6. Thất bại và nguyên nhân thất bại (Trang 48)
Bảng 3.7. Tình trạng nướu sau điều trị và sau 3 tháng. - Nhận xét đặc điểm lâm sàng, x quang và hiệu quả điều trị sâu răng mặt bên trên các răng hàm sữa bằng fu
Bảng 3.7. Tình trạng nướu sau điều trị và sau 3 tháng (Trang 49)
Bảng 3.8. Độ sâu trung bình rãnh lợi. - Nhận xét đặc điểm lâm sàng, x quang và hiệu quả điều trị sâu răng mặt bên trên các răng hàm sữa bằng fu
Bảng 3.8. Độ sâu trung bình rãnh lợi (Trang 50)
Hình 4.1. Phác họa buồng tủy RHS: A. Hàm trên  B. Hàm dưới [22] - Nhận xét đặc điểm lâm sàng, x quang và hiệu quả điều trị sâu răng mặt bên trên các răng hàm sữa bằng fu
Hình 4.1. Phác họa buồng tủy RHS: A. Hàm trên B. Hàm dưới [22] (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w