Trong nước, đã có một số nghiên cứu về mô hình bệnh tậtnhư: Nguyễn Thị Thanh Hải đã nghiên cứu mô hình bệnh tật và hoạt độngKCB tại các bệnh viện đa khoa tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Lon
Trang 1秋韵 012
BỘ Y TẾ HỌC VIỆN Y DƯỢC HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM
Tên đề tàiKHẢO SÁT THỰC TRẠNG CUNG CẤP DỊCH VỤ
Y HỌC CỔ TRUYỀN TẠI TRẠM Y TẾ XÃ VẠN XUÂN VÀ THỌ THANH-HUYỆN CẨM THỦY-TỈNH THANH HÓA
Chủ nhiệm đề tài:
BS.CKII NGUYỄN MẠNH HẢI
BỘ Y TẾ HỌC VIỆN Y DƯỢC HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
NHẬN XÉT ĐẶC ĐIỂM BỆNH TẬT
VÀ NHU CẦU ĐIỀU TRỊ BẰNG PHƯƠNG PHÁP KHÔNG DÙNG THUỐC CỦA BỆNH NHÂN
XÃ THANH HÒA NHƯ XUÂN THANH HOÁ NĂM 2014
Chủ nhiệm đề tài: THS LÊ THỊ LAN
Trang 2
BỘ Y TẾ HỌC VIỆN Y DƯỢC HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
NHẬN XÉT ĐẶC ĐIỂM BỆNH TẬT
VÀ NHU CẦU ĐIỀU TRỊ BẰNG PHƯƠNG PHÁP KHÔNG DÙNG THUỐC CỦA BỆNH NHÂN
XÃ THANH HÒA NHƯ XUÂN THANH HOÁ NĂM 2014
Chủ nhiệm đề tài: THS LÊ THỊ LAN
Tham gia đề tài: BS Nguyễn Văn Hoàng
Các SV Y6 Các SV Liên thông
HÀ NỘI - 2014
Trang 3TTBYT : Trang thiết bị y tế
Trang 4MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Một số phương pháp nghiên cứu mô hình bệnh tật 3
1.1.1 Nghiên cứu mô hình bệnh tật tại cộng đồng 3
1.1.2 Nghiên cứu mô hình bệnh tật trong bệnh viện 4
1.1.3 Mô hình bệnh tật dựa trên gánh nặng bệnh tật của cộng đồng 5
1.2 Mô hình bệnh tật của một số nước trên thế giới 7
1.3 Mô hình bệnh tật ở Việt Nam 8
1.4 Một số phương pháp phân loại bệnh tật 9
1.4.1 Phân loại bệnh tật theo xu hướng bệnh tật 9
1.4.2 Phân loại bệnh tật theo chuyên khoa sâu 10
1.5 Giới thiệu sơ lược ICD-10 [1,14] 11
1.5.2 Cấu trúc một Chương 12
1.5.3 Cấu trúc một nhóm 12
1.5.4 Cấu trúc một bệnh trong mỗi nhóm 12
1.5.5 Bộ mã 4 ký tự 13
1.6 Phân loại mô hình bệnh tật theo ICD 10[1,14] 13
1.7 Một số đặc điểm về địa bàn nghiên cứu 14
1.7.1 Thông tin chung về huyện Như Xuân và xã Thanh Hòa 14
1.7.2 Khái quát về tình hình y tế huyện Như Xuân và xã Thanh Hòa 14
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1 Đối tượng nghiên cứu : 16
2.2 Phương pháp nghiên cứu: 16
2.3 Phương pháp đánh giá: 16
Trang 52.4 Cỡ mẫu nghiên cứu 16
2.5 Phương pháp thu thập số liệu: 16
2.6 Phạm vi nghiên cứu 16
2.7 Địa điểm nghiên cứu: 16
2.8 Xử lý và phân tích số liệu 16
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 17
3.1 Mô hình bệnh tật tại xã Thanh Hòa Như xuân Thanh Hóa 17
3.2 Nhu cầu điều trị bằng phương pháp không dùng thuốc 19
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 22
4.1 Đặc điểm bệnh tật bệnh nhân tới khám bệnh tại trạm y tế xã Thanh Hòa tại đợt khám chữa bệnh tình nguyện 22
4.2 Nhu cầu điều trị bằng phương pháp không dùng thuốc của người dân tại xã Thanh Hòa Như Xuân Thanh Hoá 22
KẾT LUẬN 25
KIẾN NGHỊ 27 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Tỷ lệ phần trăm các mặt bệnh theo tiêu chuẩn ICD 10[1] 17Bảng 3.2: Tỷ lệ phần trăm các mặt bệnh theo nhóm bệnh 18Bảng 3.3: Số lượt điều trị bằng phương pháp không dùng thuốc 19Bảng 3.4: Tỷ lệ các mong muốn của người dân với việc điều trị bằng
phương pháp không dùng thuốc tại trạm y tế xã Thanh hòa 20
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ một số nhóm bệnh của bệnh nhân đến khám bệnh tại
TYTX Thanh Hòa 18Biểu đồ 3.2: Số lượng bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp không
dùng thuốc tại xã Thanh Hòa 19Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ các mong muốn của người dân trên một số khía cạnh về
việc điều trị bằng phương pháp không dùng thuốc của YHCT20
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Đặc điểm bệnh tật của một cộng đồng phản ánh tình hình sức khỏe chungcủa cộng đồng đó, việc xác định được mô hình bệnh tật giúp cho ngành y tếxây dựng kế hoạch chăm sóc sức khỏe cho nhân dân một cách toàn diện Môhình bệnh tật cũng thay đổi theo thời gian, theo sự phát triển của xã hội vàmang tính địa dư
Việc xác định mô hình bệnh tật cũng như tìm hiểu về nhu cầu chăm sócsức khoẻ của người dân là một trong những việc làm cần thiết giúp cho ngành
y tế xây dựng kế hoạch chăm sóc sức khỏe cho nhân dân một cách toàn diện,đầu tư cho công tác phòng chống và điều trị bệnh tật có chiều sâu và trọngđiểm, từng bước nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Trong các phương pháp điều trị, phương pháp không dùng thuốc tương đốiđơn giản, rẻ tiền và dễ thực hiện ở tuyến cơ sở nhưng hiện nay chưa có nhữngnghiên cứu về tỷ lệ bệnh nhân có nhu cầu điều trị bằng những phương phápnày ở tuyến xã Trong nước, đã có một số nghiên cứu về mô hình bệnh tậtnhư: Nguyễn Thị Thanh Hải đã nghiên cứu mô hình bệnh tật và hoạt độngKCB tại các bệnh viện đa khoa tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long từ năm2001-2003 [1].Nguyễn Thanh Hồng với Mô hình bệnh tật và hoạt động KCBqua báo cáo thống kê các BV tuyến tỉnh trong 4 năm của tỉnh Ninh Bình [2].
Phạm Ngọc Minh nghiên cứu Tình hình ốm đau và sử dụng dịch vụ y tế củangười dân Ba Vì, Hà Tây [3].Lê Thị Khánh Tâm Tình hình ốm đau của TE 11-
14 tuổi thuộc một số phường của quận Hoàn Kiếm [4].
Tuy vậy, hiện nay chưa có những mô hình nghiên cứu về đặc điểm bệnhtật cũng như nhu cầu được điều trị bằng phương pháp không dùng thuốc củabệnh nhân cụ thể cho từng xã Việc nắm bắt được đặc điểm bệnh tật và bướcđầu tìm hiểu nhu cầu điều trị bằng phương pháp không dùng thuốc của người
Trang 8dân trong xã góp phần định hướng giúp cho việc bổ sung nhân lực YHCT,trang bị các thiết bị y tế cũng như cơ số thuốc men phù hợp với đặc điểm củatừng địa phương là một công tác cần được thực hiện
Vì vậy, qua đợt khám chữa bệnh tình nguyện tại xã Thanh Hòa Như Xuân,chúng tôi tiến hành đề tài này nhằm bước đầu tìm hiểu mô hình bệnh tậtchung và nhu cầu điều trị bằng phương pháp không dùng thuốc của người dân
Trang 9TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số phương pháp nghiên cứu mô hình bệnh tật
1.1.1 Nghiên cứu mô hình bệnh tật tại cộng đồng
Các kỹ thuật thu thập thông tin được áp dụng là phỏng vấn (phỏng vấnnhóm, phỏng vấn cá nhân), quan sát trực tiếp, khám lâm sàng, xét nghiệm môitrường, sử dụng số liệu có sẵn
1.1.1.1 Thu thập thông tin bằng phỏng vấn
Phương pháp phỏng vấn được áp dụng khá rộng rãi Người ta thường
sử dụng bộ câu hỏi để phỏng vấn toàn bộ các thành viên trong gia đình hoặcmột người đại diện gia đình về tình hình bệnh tật của gia đình đó [7]. Ưu điểmcủa phương pháp này là trong một thời gian ngắn có thể đưa ra được cácthông số cần thiết mà nghiên cứu đòi hỏi, so sánh được với các nghiên cứu ởcác vùng địa lý khác nhau trong cùng một thời điểm, từ đó đưa ra được cáckết luận về mô hình bệnh tật của cộng đồng tại thời điểm nghiên cứu Đó lànhững căn cứ quan trọng của việc đề ra các giải pháp thích hợp, đặc biệt trongphòng bệnh Kết quả nghiên cứu phụ thuộc rất nhiều vào việc xây dựng phiếuđiều tra theo mục đích của nghiên cứu, độ nhạy, độ đặc hiệu của bộ câu hỏi,cách khai thác thông tin của điều tra viên (ĐTV), trình độ của ĐTV, thời giantiếp xúc của ĐTV với người tham gia nghiên cứu và đặc biệt là trình độ nhậnthức, văn hoá, kinh tế, xã hội của đối tượng điều tra Những người khá giả, cótrình độ học vấn cao thường nhạy cảm hơn và báo cáo kịp thời tình hình mắcbệnh của mình Thời gian phỏng vấn là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đếnkết quả nghiên cứu Quá trình điều tra thường khai thác thông tin về bệnh tậtcủa đối tượng trong vòng hai tuần tính từ thời điểm điều tra trở về trước Nếuthời gian điều tra càng dài, tần xuất phát hiện các bệnh mạn tính càng tăng, các
Trang 10bệnh cấp tính càng giảm Thời điểm phỏng vấn cũng là một yếu tố ảnh hưởngđến mô hình bệnh tật, vì nhiều bệnh liên quan đến mùa, thời tiết, khí hậu
Kết quả phỏng vấn trực tiếp từng người trong hộ gia đình tốt hơn làphỏng vấn gián tiếp một người đại diện cho cả gia đình Với trẻ em, thông tin
từ phỏng vấn bà mẹ thường chính xác hơn những người khác trong gia đình
1.1.1.2 Thu thập thông tin bằng khám lâm sàng
ĐTV tiến hành khám lâm sàng toàn diện hoặc khám sàng lọc (tuỳ thuộcyêu cầu nghiên cứu và kinh phí thực hiện), để phát hiện những bệnh hiện mắc.Phương pháp này tương đối đắt và tốn công Kết quả phụ thuộc vào đánh giáchủ quan của các ĐTV do không có các xét nghiệm cận lâm sàng hỗ trợ Kếtquả điều tra bằng khám lâm sàng thường cho tỷ lệ mắc cao hơn phỏng vấn
1.1.1.3 Dựa trên các số liệu sẵn có
Có thể thu nhập thông tin dựa trên sổ lưu của trạm y tế xã, cộng tácviên y tế… Những số liệu này thường không đầy đủ và thiếu chính xác tronghoàn cảnh các nước đang phát triển vì chưa có hệ thống ghi chép và lưu trữchuẩn xác
1.1.2 Nghiên cứu mô hình bệnh tật trong bệnh viện
Nghiên cứu mô hình bệnh tật trong bệnh viện chủ yếu dựa vào hồ sơlưu trữ tại các bệnh viện theo bệnh án mẫu thống nhất toàn ngành y tế Cónhiều loại bệnh án khác nhau cho từng chuyên khoa nhưng vẫn đảm bảo tínhthống nhất ở những thông tin chính, thuận lợi cho nghiên cứu Việc xây dựng
mô hình bệnh tật dựa vào chẩn đoán ra viện hoặc tử vong, theo những tiêuchuẩn chẩn đoán, sự hỗ trợ của xét nghiệm Chẩn đoán này phụ thuộc trình
độ chuyên môn của nhân viên y tế và trang thiết bị phục vụ chẩn đoán củatừng cơ sở y tế Độ tin cậy của chẩn đoán trong bệnh viện cao hơn hẳn ngoàicộng đồng do được các Giáo sư, Bác sỹ chuyên khoa có kinh nghiệm xácđịnh, với sự hỗ trợ đắc lực của các xét nghiệm cận lâm sàng và các phương
Trang 11tiện chẩn đoán khác Việc theo dõi người bệnh liên tục giúp củng cố chẩnđoán, phát hiện ra các bệnh kèm theo và đánh giá được hiệu quả điều trị Cáckết quả thống kê thường là hồi cứu, phụ thuộc bệnh sử của bệnh nhân khi raviện, phụ thuộc người làm công tác thống kê, sắp xếp mã số, do đó có thể cómột số khác biệt về chất lượng giữa các bệnh án và phân loại bệnh tật, giữacác bệnh viện Trung ương và địa phương Do điều kiện hạn hẹp về cơ sở vậtchất, các bệnh viện chỉ có thể tiếp nhận một số lượng bệnh nhân giới hạn,nhiều bệnh chỉ điều trị ngoại trú nên mô hình bệnh tật tại bệnh viện khôngphản ánh hết thực chất tình hình sức khoẻ của nhân dân Nhiều bệnh tại cộngđồng tỷ lệ mắc còn tương đối cao nhưng ở bệnh viện thường chiếm tỷ lệ thấpnhư các bệnh về răng miệng, viêm đường hô hấp trên, ghẻ lở
1.1.3 Mô hình bệnh tật dựa trên gánh nặng bệnh tật của cộng đồng
Từ những năm đầu của thập kỷ 90, WHO và Ngân hàng thế giới đềxuất các phép đo lường mới, quan tâm tới đánh giá nặng bệnh tật của cộngđồng Hiện nay tuy vẫn đang trong quá trình hoàn thiện, nhưng đã sử dụng ởmột số nước, đặc biệt các nước phát triển, có hệ thống quản lý sức khoẻ, bệnhtật tốt Gánh nặng bệnh tật được đo lường bởi các chỉ số:
- DALY (Disability Adjusted Life Years): Số năm cuộc sống điềuchỉnh theo mức độ tàn tật
- YLD (Years Lived with Disability): Số năm sống chung với bệnh tật
- YLL (Years of Life Lost): Số năm tiềm năng sống bị mất đi vì tửvong sớm
* DALY biểu thị số năm của cuộc sống bị mất đi do người bệnh bị tửvong và cả số năm sống trong tàn tật Nếu không tính khấu hao tuổi và hệ số
tỷ trọng tuổi, DALY có thể tính theo công thức:
DALY = YLD + YLL
Trang 12* YLD là số năm sống bị mang bệnh hoặc bị chấn thương và được tínhtheo công thức: YLD= I x DW xL (1 − e ) 0,03L
0,03 Trong đó:
I: Số trường hợp mới mắc ở thời gian nghiên cứu
L: Số năm trung bình sống cùng tàn tật
e: hằng số bằng 2,71
DW: Hệ số tàn tật DW có giới hạn từ 0 – 1 (0 là hoàn toàn khoẻ mạnh,
1 coi như chết) Khi bệnh càng nặng hệ số này càng lớn DW xác định bằnghai phương pháp: Hoặc dựa vào bảng tra sẵn hoặc dựa vào các định nghĩa vềmức độ mất khả năng Theo Murray CJL và cộng sự, hệ số mất khả năng vàbệnh tật chia làm 6 mức, với DW từ 0,096 đến 0,920
Để tính YLD cần biết thời gian mang bệnh, mức trầm trọng của bệnh
và loại bệnh mà phân ở các mức độ khác nhau Mức trầm trọng của bệnh cóthể tính một cách tương đối dựa trên cách xử trí Murray CJL vμ cộng sự đãđưa ra một bảng tra hệ số tàn tật và thời gian mang bệnh dựa trên ba mức trầmtrọng của bệnh
Gánh nặng bệnh tật có thể tính theo YLD hiện mắc hoặc YLD mới mắcYLL được tính theo công thức:
Trang 13Bản, nữ là 82,5 và nam là 80 tuổi ở Việt Nam, nên tính riêng gánh nặng bệnhtật do chết non (YLL) và gánh nặng bệnh tật do mang bệnh và thương tích(YLD) theo số hiện mắc bởi lẽ chúng ta chưa quản lý sức khoẻ toàn dân, nênkhông thể tính số mới mắc được Đánh giá vai trò của bệnh tật với chất lượngcuộc sống các nhà nghiên cứu còn đưa ra các chỉ số: số năm sống bị ốm nặng,
ốm vừa, ốm nhẹ và sống khoẻ mạnh để đánh giá ảnh hưởng của bệnh tật vớichất lượng cuộc sống (QALY: Quality Adjusted Life Years)
1.2 Mô hình bệnh tật của một số nước trên thế giới
Ở một số nước trên Thế giới cũng đã tiến hành nghiên cứu để đánh giágánh nặng bệnh tật và xác định các yếu tố nguy cơ chính trên cơ sở đó có kếhoạch giải quyết ưu tiên từng vấn đề theo khả năng nguồn lực của mình Một
số các yếu tố nguy cơ chính mà kết quả các nghiên cứu đã nêu ra như cácbệnh tim mạch, cao huyết áp, thuốc lá, nghiện rượu
Mô hình bênh tật và tử vong ở các nước đang phát triển khác rõ rệt sovới các nước phát triển Ở các nước đang phát triển tỷ lê mắc các bênh nhiễmkhuẩn và tử vong vẫn chiếm môt tỷ lệ lớn Nhờ chương trình chăm sóc sứckhoẻ ban đầu, tỷ lệ các bệnh này đang có xu hướng ngày càng giảm Tỷ lệ cácbệnh không lây như tim mạch, dị tật bẩm sinh, ung thư, rối loạn nội tiết vàchuyển hoá, tai nạn thương tích ngày càng tăng lên Nhìn chung trong mườinăm qua, mô hình bệnh tật chủ yếu của người dân nước ta vẫn là bệnh nhiễmkhuẩn và dinh dưỡng như của các nước đang phát triển; mặt khác những bệnhtật phổ biến của các nước phát triển như ung thư, tim mạch, tâm thần, béo phì,tai nạn đã dần xuât hiện và có xu hướng tăng lên [6]
Ở Brunei, một trong những nước có thu thập bình quân đầu người caonhất thế giới và đầu tư cho y tế lớn nhất thế giới, trong mười bệnh hàng đầuhay gặp, chỉ có một bệnh nhiễm khuẩn là nhiễm khuẩn đường hô hấp, còn lạichủ yếu là bệnh tim mạch, đái đường, hen những bệnh không lây Ngược
Trang 14lại ở Campuchia, một đất nước nghèo, các bệnh thường gặp lại là sốt rét, lao,tiêu chảy cấp, sốt xuất huyết, nhiễm khuẩn hô hấp cấp là các bệnh còn phổbiến ở các nước đang phát triển [6].Cùng là các vùng lãnh thổ của Trung Quốc,những mô hình bệnh tật ở Hồng Kông và Ma Cao có sự khác biệt rõ rệt ởHồng Kông trước năm 1997 là thuộc địa của Anh, do đó mô hình bệnh tật củaHồng Kông gần giống mô hình bệnh tật của các nước phát triển Ở HồngKông trong năm bệnh hàng đầu chỉ có hai bệnh nhiễm trùng là viêm đường hôhấp cấp và bệnh da Ngược lại, ở Ma Cao cả năm bệnh hàng đầu là các bệnhlây: Lao, viêm gan B, C, nhiễm HIV Mặc dù tất cả trẻ em đều được tiêmphòng BCG [6].
1.3 Mô hình bệnh tật ở Việt Nam
Trong những năm gần đây, nhiều đề tài nghiên cứu về mô hình bệnh tật
đã được triển khai từ trung ương tới một số tỉnh trong cả nước như trong Đềtài của GS Nguyễn Thu Nhạn và cộng sự về thực trạng sức khoẻ và mô hìnhbệnh tật của trẻ em Việt Nam [7]; Nghiên cứu chỉ ra rằng về cơ bản mô hìnhbệnh tật của nước ta vẫn là mô hình bệnh tật của các nước đang phát triển.Theo niên giám thống kê Y tế trong 10 bệnh phổ biến nhất thì bệnh nhiễmtrùng chiếm 6 bệnh, trong đó 5 bệnh đứng hàng đầu: viêm phổi, viêm họng vàamidan, viêm phế quản và viêm tiểu phế quản, ỉa chảy và viêm dạ dày, ruột
có nguồn gốc nhiễm khuẩn, cúm [2]
Vào cuối thế kỷ 20, mô hình bệnh tật ở nước ta đã có xu hướng pháttriển, mang tính chất giao thoa khá rõ Các bệnh lý đặc trưng của các nướcđang phát triển như nhiễm khuẩn, SDD đang giảm dần, thay vào đó là một sốbệnh lý gần giống với các nước phát triển trên thế giới Mô hình bệnh tật củanước ta đã có những thay đổi đáng kể Các bệnh nhiễm khuẩn tuy tỷ lệ mắcvẫn còn cao nhưng có xu hướng ngày càng giảm Năm 1976, tỷ lệ mắc bệnhnhiễm khuẩn là 55,5%, đến năm 1996 còn 37,63%, năm 2000 là 32,11%, và
Trang 15năm đầu tiên của thế kỷ XXI chỉ còn 25,02% [2]. Đặc biệt các bệnh trongchương trình tiêm chủng mở rộng giảm rõ rệt Chúng ta đã thanh toán đượcbệnh bại liệt và uốn ván rốn sơ sinh; viêm gan B và viêm não Nhật Bản B mớiđưa vào chương trình tiêm chủng những năn gần đây đã thu được kết quả khảquan: Tỷ lệ viêm gan virut trên 100.000 trẻ em năm 1998 là 16,42; đến năm
2001 chỉ còn 10,07 Viêm não giảm chưa nhiều: năm 1998 là 2,94; năm 2001 là2,36 Nhưng đây là tỷ lệ viêm não chung, còn viêm não Nhật Bản B đã giảm hẳn
[2]. Bệnh dinh dưỡng cũng giảm đáng kể Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm từ51,5% năm 1985 xuống còn 44,9% năm 1994 và 33,16% năm 2000
Có sự khác biệt mô hình bệnh tật ở nông thôn, thành phố, ở vùng núi vàđồng bằng Nghiên cứu của Nguyễn Thu Nhạn cho thấy ở Vạn Phúc là mộtlàng ngoại thành Hà Nội, tỷ lệ trẻ SDD là 7,7%, còn ở xã Nam Sơn là xã vùng
gò đồi cũng thuộc Hà Nội, tỷ lệ SDD là 30,6%, trong đó 1,4% là SDD nặng.Các tỉnh đồng bằng tỷ lệ trẻ em mắc bướu cổ rất thấp, nhưng ở miền núi TháiNguyên, Đắk Lắc, tỷ lệ mắc rất cao (trên 40%)[2]
Yếu tố môi trường cũng có ảnh hưởng đến mô hình bệnh tật như vùngnúi cao, ẩm ướt, đầm lầy khí hậu khắc nghiệt có mô hình bệnh tật trẻ em khácnhững nõi đồng bằng, khô ráo Ô nhiễm môi trường sống do sự phát triển củacông nghiệp và đô thị hoá nhanh cũng đưa đến nhiều bệnh tật ở cả nhữngnước phát triển và đang phát triển[2]
1.4 Một số phương pháp phân loại bệnh tật
Mô hình bệnh tật được xây dựng từ những hồ sõ bệnh tật riêng rẽ Tuỳ thuộcmỗi cách phân loại bệnh tật, mô hình bệnh tật cũng có những sắc thái riêng
1.4.1 Phân loại bệnh tật theo xu hướng bệnh tật
Theo cách phân loại này bệnh tật được chia thành ba nhóm chính [2,14]:
- Bệnh lây
- Bệnh không lây
Trang 16- Tai nạn, ngộ độc, chấn thương.
Cách phân loại này cho ta cái nhìn bao quát, tổng thể mô hình bệnh tật
ở mỗi quốc gia, mỗi vùng miền địa lý, nó mang tính chất xác định xu hướngphát triển của bệnh tật Nhìn vào mô hình bệnh tật này chúng ta sơ bộ đánhgiá được sự phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia, vùng miền ViệtNam trong tiến trình phát triển kinh tế xã hội và hội nhập quốc tế, mô hìnhbệnh tật đang từng býớc tiến tới gần giống mô hình bệnh tật của các nướcphát triển Bệnh lây nãm 1976 chiếm 55,5% tỷ lệ mắc bệnh và 53,06 % tỷ lệchết thì đến nãm 2000 chỉ còn 32,11% mắc bệnh và 26,08% chết Ngược lạibệnh không lây tãng từ 42,65% nãm 1976 lên đến 54,2% nãm 2000 Nhómbệnh tai nạn, ngộ độc, chấn thýõng tãng gần 7 lần (1,84% nãm 1976 và13,69% nãm 2000) Kèm theo tỷ lệ mắc là tỷ lệ tử vong cũng tãng lên tươngứng [2]. Cách phân loại này số liệu đõn giản, tương đối chính xác do số liệu đủlớn Nó rất thích hợp cho việc so sánh giữa các quốc gia các vùng miền cũngnhý có cái nhìn bao quát chung về mô hình bệnh tật của một đất nước, là một
số chỉ tiêu đánh giá sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, vùng miền đó
Nó có tính chất dự báo xu hướng bệnh tật tương lai và giúp chúng ta có cáinhìn tổng thể để hoạch định chính sách ở tầm vĩ mô
1.4.2 Phân loại bệnh tật theo chuyên khoa sâu
Một số chuyên khoa còn có các cách phân loại khác mang tính chuyênsâu nhýng thường chỉ áp dụng ở một số nước có nền y học phát triển và trình
độ khoa học kỹ thuật cao do tính chất phức tạp của chuẩn đoán (ngành ungbướu phân loại dựa trên ICD – O liên quan đến hình thái học của khối u) haychưa thống nhất được các tiêu chuẩn chẩn đoán (hiệp hội tâm thần Hoa Kỳ cócác tiêu chuẩn phân loại riêng về các bệnh lý tâm thần) Những cách phân loạinày khó có điều kiện áp dụng ở Việt Nam, chỉ mang tính chất tham khảo [1,14]
Trang 171.5 Giới thiệu sơ lược ICD-10 [1,14]
1.5.1 Cấu trúc của ICD – 10
ICD -10 được chia thành 21 Chương:
Chương I : Bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng
Chương II : Bướu tân sinh
Chương III : Bệnh của máu, cơ quan tạo máu và các rối loạn liên quanđến cơ chế miễn dịch
Chương IV : Bệnh nội tiết – dinh dưỡng – chuyển hoá
Chương V : Rối loạn tâm thần và hành vi
Chương VI : Bệnh hệ thần kinh
Chương VII: Bệnh mắt và phần phụ
Chương VIII : Bệnh tai và xương chũm
Chương IX : Bệnh hệ tuần hoàn
Chương X: Bệnh hệ hô hấp
Chương XI : Bệnh hệ tiêu hoá
Chương XII : Các bệnh da và mô dưới da
Chương XIII: Bệnh hệ cơ - xương - khớp và mô liên kết
Chương XIV: Bệnh hệ sinh dục - tiết niệu
Chương XV : Thai nghén, sinh đẻ và hậu sản
Chương XVI: Một số bệnh xuất phát trong thời kỳ chu sinh
Chương XVII : Dị tật bẩm sinh, biến dạng và bất thường về nhiễm sắc thể.Chương XVIII : Các triệu chứng, dấu hiệu và những biểu hiện lâm sàng
và cận lâm sàng bất thường, không phân loại ở nõi khác
Chương XIX : Chấn thương, ngộ độc và một số hậu quả khác donguyên nhân bên ngoài
Trang 18Chương XX : Nguyên nhân ngoại sinh của bệnh tật và tử vong.
Chương XXI : Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng sức khoẻ và tiếpxúc dịch vụ y tế
Trong mỗi chương trong mỗi nhóm bao gồm các bệnh
Ví dụ: Thiếu máu dinh dưỡng:
- Thiếu máu do thiếu sắt
- Thiếu máu do thiếu Vitamin B12
- Thiếu máu do thiếu acid Forlic
- Thiếu máu do dinh dưỡng khác
1.5.4 Cấu trúc một bệnh trong mỗi nhóm
Mỗi bệnh phân loại chi tiết hơn theo nguyên nhân gây bệnh hay tínhchất được trưng của bệnh đó
Ví dụ: Lị trực khuẩn (A03) được phân thành:
- Lị trực khuẩn do Shigella dysenteriae (A03.0)
- Lị trực khuẩn do Shigella flexneri (A03.1)
- Lị trực khuẩn do Shigella boydii (A03.2)
- Lị trực khuẩn do Shigella sonnei (A03.3)
- Nhiễm Shigella khác (A03.8)