GV Nguyễn Thị Xuân Lan, em đã từng bước tiến hành và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “Tìm hiểu thực trạng sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học môn
Trang 1VĨNH YÊN - VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục học
Người hướng dẫn khoa học ThS NGUYỄN THỊ XUÂN LAN
HÀ NỘI – 2015
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2 đã giúp đỡ em trong quá trình học tập tại trường và tạo điều kiện thuận lợi cho em thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu khóa luận này em không khỏi lúng túng và bỡ ngỡ Nhưng dưới sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình, chỉ bảo của
cô giáo ThS GV Nguyễn Thị Xuân Lan, em đã từng bước tiến hành và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “Tìm hiểu thực trạng sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học môn Tiếng Việt lớp 4
ở một số trường Tiểu học khu vực thành phố Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc.”
Em cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo trường Tiểu học Ngô Quyền, Tiểu học Liên Minh, Tiểu học Đống Đa đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập và nghiên cứu
Lời cuối cùng em muốn gửi lời cảm ơn đến những người thân trong gia đình, bạn bè đã luôn nhiệt tình giúp đỡ, động viên, quan tâm, tiếp thêm niềm tin và nghị lực cho em trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận
Trong quá trình nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu xót và hạn chế Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn để đề tài hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Huyền
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Tìm hiểu thực trạng sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học môn Tiếng Việt lớp 4 ở một số trường Tiểu học khu vực thành phố Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc” là kết quả mà
tôi trực tiếp tìm tòi, nghiên cứu Trong quá trình thực hiện đề tài trên tôi đã kế thừa kết quả nghiên cứu của một số tác giả Tuy nhiên đó chỉ là cơ sở để tôi rút ra vấn đề cần tìm hiểu ở đề tài của mình Đề tài khóa luận của cá nhân tôi hoàn toàn không trùng với kết quả, hay có sự sao chép không chính thống của bất kì một tác giả nào khác
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm!
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Huyền
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích nghiên cứu 5
4 Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu 5
5 Phạm vi nghiên cứu 5
6 Giả thuyết khoa học 6
7 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
8 Phương pháp nghiên cứu 6
9 Kế hoạch nghiên cứu 7
10 Dự kiến cấu trúc khóa luận: 7
NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VIỆC SỬ DỤNG PHỐI HỢP CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 4 Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TIỂU HỌC KHU VỰC THÀNH PHỐ VĨNH YÊN – VĨNH PHÚC 8
1.1 Phương pháp dạy học 8
1.2 Phương pháp dạy học tích cực 13
1.3 Một số phương pháp dạy học tích cực trong dạy học Tiếng Việt ở tiểu học 22
1.4 Phối hợp một số phương pháp dạy học tích cực trong dạy học môn Tiếng Việt lớp 4 ở tiểu học 32
Trang 5CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG PHỐI HỢP CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 4 Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TIỂU HỌC KHU VỰC THÀNH PHỐ VĨNH
YÊN 41
2.1 Vài nét về địa bàn và phạm vi nghiên cứu 41
2.2 Thực trạng sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học tích cực trong quá trình dạy học môn Tiếng Việt lớp 4 ở một số trường tiểu học thuộc khu vực thành phố Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc 44
CHƯƠNG 3: NGUYÊN NHÂN VÀ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHỐI HỢP CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG NHÀ TRƯỜNG TIỂU HỌC 59
3.1 Nguyên nhân của thực trạng 59
3.2 Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học môn Tiếng Việt lớp 4 ở tiểu học 62
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 67
1 Kết luận 67
2 Kiến nghị 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chúng ta đều biết rằng thế kỉ XXI là thế kỉ của khoa học, công nghệ, thông tin, của những phát minh, sáng kiến làm thay đổi gần hết mọi mặt của đời sống xã hội với tốc độ đáng kinh ngạc Con người trong xã hội hiện nay nói chung, đặc biệt là trẻ em đang hàng ngày, hàng giờ tiếp cận những lượng thông tin khổng lồ từ nhiều nguồn: trường học, gia đình, các phương tiện truyền thông đại chúng…Vì thế, ngay từ năm học đầu tiên của bậc tiểu học, trẻ em đã có một vốn sống, vốn kinh nghiệm phong phú
Bên cạnh đó, học sinh nói chung và học sinh tiểu học nói riêng hiện nay còn có xu hướng vượt ra khỏi khuôn khổ giới hạn những nội dung tri thức
mà nhà trường trang bị Chúng ta không ngạc nhiên khi một đứa trẻ mới bước vào lớp 1 đã biết đọc thông viết thạo, tính toán nhanh nhẹn trong khi lớp 1 là lớp cung cấp cho chúng những tri thức và kĩ năng này Hay một em bé 6- 7 tuổi đã biết sử dụng máy vi tính, vào mạng tìm thông tin trong khi nhà trường còn chưa dạy điều đó Các em mong muốn được tìm đến những cái mới, trước hết là mới mẻ với chính bản thân mình
Vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào để vừa đáp ứng được nhu cầu nhận thức của học sinh, lại vừa phát huy được vốn kinh nghiệm đã được tích lũy theo năm tháng của các em? Các em phải được hoạt động, tự tìm tòi, tự phát hiện, được trao đổi, được phát biểu ý kiến của mình, đánh giá ý kiến của người khác Đó chính là câu trả lời tối ưu và điều đó phụ thuộc nhiều vào việc
sử dụng hiệu quả các phương pháp dạy học tích cực
Thêm vào đó, đứng trước những yêu cầu mới của xã hội, để theo kịp sự phát triển của khoa học kĩ thuật và công nghệ, mục tiêu giáo dục và đào tạo cũng có sự thay đổi Nghị quyết Hội nghị lần thứ II Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã nêu rõ mục tiêu và nhiệm vụ cơ bản của giáo dục,
trong đó nhấn mạnh cần “… phát huy tiềm năng của dân tộc và con người
Trang 7Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học, có tư duy sáng tạo, có kĩ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức và kỉ luật…” Muốn thực hiện được nhiệm vụ,
mục tiêu giáo dục nói trên, nội dung giáo dục cũng cần phải thay đổi, “thiết
thực, hiện đại và có hệ thống” thì mới có thể giúp người học ứng dụng những
điều đã học được vào thực tiễn cuộc sống Trong khi đó, xu hướng dạy học truyền thống lâu nay lại chỉ tập trung vào việc cung cấp cho học sinh hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mà chưa chú trọng nhiều đến việc định hướng cách thức, con đường để học sinh tự chiếm lĩnh, tự phát hiện ra những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo đó Không những thế, đối với những nội dung dạy học hiện đại, những phương pháp dạy học truyền thống cũng gặp không ít khó khăn
Như vậy, vấn đề nảy sinh ở đây là một bên là yêu cầu của xã hội đối với người học ngày càng cao, nội dung dạy học phát triển cả về số lượng và chất lượng trong khi đó điều kiện và thời gian dạy học cũng như phương pháp dạy học, hình thức tổ chức dạy học ở phổ thông hiện nay còn hạn chế Để giải quyết vấn đề này trong dạy học tiểu học, vấn đề sử dụng phương pháp dạy học nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh, tạo điều kiện cho học sinh hoạt động, tự khám phá, tham gia thảo luận, làm việc với các phương tiện dạy và học hiện đại…(như dạy học nêu vấn đề, thảo luận nhóm, dạy học vấn đáp, dạy học thực hành giao tiếp, dạy học thông qua trò chơi học tập…và
sự tích hợp các phương pháp trên) đã và đang được đưa vào bậc tiểu học
Trong Luật Giáo dục do Quốc hội khóa X, kì họp IV thông qua cũng
nêu rõ: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ
động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”.[9;9] Điều này cho thấy, Đảng, Nhà nước và toàn
ngành giáo dục rất quan tâm và coi vấn đề đổi mới phương pháp dạy học là một trong những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng dạy học Vậy việc sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học tích cực đó ở các trường tiểu học ra sao và cụ thể trong môn Tiếng việt 4 thì như thế nào?
Trang 8Ở Tiểu học, các môn học như Toán, Tiếng Việt, Khoa học, Lịch sử, Địa lí,…cung cấp cho học sinh những kiến thức, sự kiện cơ bản của cuộc sống Trong đó, môn Tiếng Việt là một môn học công cụ và chiếm nhiều thời lượng nhất ở bậc học này Môn Tiếng Việt không chỉ cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về tiếng Việt, về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học Việt Nam và nước ngoài, bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt, hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng và giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa mà còn hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) Các
kĩ năng này là công cụ để biểu đạt tư duy và học tập các môn học khác hiệu quả Vì thế, nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt là vô cùng quan trọng mà một trong những biện pháp hàng đầu là phối hợp sử dụng các phương pháp dạy học tích cực Làm thế nào để sử dụng hiệu quả, phát huy vai trò của các phương pháp dạy học tích cực nói chung và trong dạy học môn Tiếng Việt nói riêng đó là vấn đề lớn đặt ra cho những giáo viên đang trực tiếp giảng dạy và các nhà giáo dục
Với những kiến thức lí luận đã được trang bị trong nhà trường và được tiếp xúc thực tiễn qua các kì kiến tập, thực tập sư phạm ở các trường Tiểu học, tôi thấy việc nghiên cứu đề tài này là một việc hết sức cần thiết Đây không chỉ là môi trường khoa học để tập dượt và rèn luyện, soi kiến thức lí luận vào trong thực tiễn, áp dụng trong giảng dạy mà còn tích lũy được kinh nghiệm quý báu cho nghề nghiệp tương lai Do đó tôi đã quyết định chọn đề
tài nghiên cứu: “Tìm hiểu thực trạng về việc sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học môn Tiếng việt lớp 4 ở một số trường Tiểu học khu vực thành phố Vĩnh Yên- Vĩnh Phúc” cho khóa luận tốt
nghiệp của mình.!
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Dạy học tích cực đã được các nhà giáo dục bàn đến từ lâu, trong các sách lý luận dạy học cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về phương pháp dạy
Trang 9học, mỗi định nghĩa lại nhấn mạnh một vài khía cạnh vào đó, phản ánh sự phát triển nhận thức của các nhà khoa học, các nhà sư phạm về bản chất khái niệm phương pháp dạy học ở một thời kì xác định
Phương pháp dạy học tích cực đã được bàn đến trong nhiều quan điểm dạy học từ xưa đến nay Từ thời cổ đại các nhà sư phạm tiền bối đã từng nói đến tầm quan trọng của việc phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh và nói nhiều đến phương pháp và biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức
Khổng Tử (551– 479 TCN) nhà triết học, nhà giáo dục vĩ đại của Trung Hoa Cổ đại đòi hỏi người ta phải học và tìm tòi, suy nghĩ, đào sâu trong quá
trình học, ông nói: “Không tức giận vì muốn biết, thì không gợi mở cho,
không bực tức vì không rõ được thì không bày vẽ cho Vật có bốn góc, bảo cho biết một góc mà không suy ra ba góc kia thì không dạy nữa…” [7;15]
Montagne (1533 – 1592) nhà quý tộc Pháp, người chuyên nghiên cứu
lý luận, đặc biệt là về giáo dục, ông đề ra phương pháp giáo dục “học qua
hành” Ông cho rằng: “Muốn đạt được mục tiêu này, tốt nhất, là bắt trò liên tục hành để học, học qua hành Vậy vấn đề không phải là giảng dạy một cách giáo điều, thầy nói liên tục, thao thao bất tuyệt Trái lại, chủ yếu là bắt trò hoạt động, vận dụng khả năng xét đoán của mình…” [7;16]
Trong thế kỉ XX, các nhà giáo dục Đông, Tây đều tìm đến con đường phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học cụ thể như:
Kharlamop, nhà giáo dục Xô Viết, trong cuốn “Phát huy tính tích cực của học
sinh như thế nào” đã viết trong phần lời nói đầu: “Một trong những vấn đề căn bản mà nhà trường Xô Viết hiện đang lo lắng và giải quyết là việc phát huy tính tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học”
Ở nước ta, ngay từ những năm 60 của thế kỉ XX, dạy học tích cực đã bắt đầu được đề cập một cách trực tiếp hoặc gián tiếp trong giáo trình Giáo dục học, Tâm lý học, phương pháp giảng dạy bộ môn Trong các trường sư
phạm đã xuất hiện các tư tưởng “Phương pháp giáo dục tích cực”, khẩu hiệu
Trang 10“Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” Có thể kể đến một vài
tác giả Việt Nam đã có những cuốn sách nghiên cứu về vấn đề này như: Trần
Bá Hoành (2001) với cuốn “Bàn về phương pháp dạy học tích cực hiện nay” Nguyễn Ngọc Bảo (1995) “Phát triển tính tích cực, tự lực của học sinh trong
quá trình dạy học”, hay Trần Bá Hoành (2002) “Những đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực” Tạp chí Giáo dục số 32…
Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu về phương pháp dạy học tích
cực nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về “Tìm hiểu thực trạng sử
dụng phối hợp các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học môn Tiếng Việt lớp 4 ở một số trường Tiểu học khu vực thành phố Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc”
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lí luận về phương pháp dạy học tích cực, đề tài tìm hiểu và phát hiện thực trạng về việc sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học môn Tiếng Việt lớp 4 ở một số trường Tiểu học khu vực thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Từ đó, phân tích nguyên nhân của thực trạng và đề xuất biện pháp góp phần nâng cao chất lượng của việc sử dụng phương pháp dạy học nói chung và sử dụng phối hợp phương pháp dạy học tích cực nói riêng trong dạy học Tiếng Việt lớp 4
4 Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng về việc sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học môn Tiếng Việt lớp 4 ở Tiểu học
- Khách thể nghiên cứu: Việc sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học trong dạy học môn Tiếng Việt lớp 4 ở Tiểu học
5 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài của tôi được thực hiện trong phạm vi:
5.1 Môn học: Môn Tiếng Việt lớp 4
5.2 Thời gian: Học kỳ 2 – năm học 2014-2015
Trang 115.3 Địa điểm: Trường Tiểu học Ngô Quyền, trường Tiểu học Liên Minh, trường Tiểu học Đống Đa
6 Giả thuyết khoa học
Việc sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học môn tiếng Việt lớp 4 ở một số trường Tiểu học khu vực Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc vẫn chưa đạt hiệu quả cao Nếu phát hiện đúng thực trạng và đề xuất được những biện pháp hợp lí sẽ nâng cao được hiệu quả của việc sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học môn Tiếng Việt nói riêng và trong dạy học tiểu học nói chung
7 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với đề tài này, để đạt được các mục đích nghiên cứu, tôi đặt ra một số nhiệm vụ sau:
7.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học môn Tiếng Việt lớp 4
7.2 Tìm hiểu thực trạng của việc sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học môn Tiếng Việt lớp 4 ở một số trường Tiểu học khu vực thành phố Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc
7.3 Tìm ra nguyên nhân của thực trạng và đề ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học môn Tiếng Việt lớp 4 ở một số trường Tiểu học khu vực thành phố Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc
8 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu đã nêu, chúng tôi sử dụng một
số phương pháp sau đây:
8.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận: Đọc và phân tích, hệ thống hóa, khái
quát hóa những tài liệu có liên quan đến phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài để thu thập thông tin cơ sở lý luận cho đề tài
8.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Trang 128.2.1 Phương pháp quan sát sư phạm: Dự giờ, chủ động quan sát việc dạy và học môn Tiếng Việt lớp 4 của học sinh ở một số trường tiểu học khu vực thành phố Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc
8.2.2 Phương pháp điều tra: Tôi tiến hành điều tra bằng Anket với hệ thống câu hỏi để thu thập ý kiến của người dạy
8.2.3 Phương pháp phỏng vấn: Trao đổi cùng với giáo viên và học sinh, nhằm tìm hiểu thực trạng sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học môn Tiếng Việt lớp 4 ở một số trường tiểu học khu vực thành phố Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc
8.3 Các phương pháp thống kê toán học: Sử dụng toán thống kê để phân
tích kết quả điều tra thực trạng
9 Kế hoạch nghiên cứu
Tháng 10/2014 nhận đề tài
Tháng 10/2014 hoàn thành đề cương
Tháng 10/2014 tìm hiểu cơ sở lí luận
Tháng 11,12,3 khảo sát thực trạng sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học môn Tiếng Việt lớp 4 ở một số trường tiểu học khu vực thành phố Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc
Tháng 5/2015 hoàn thành đề tài
10 Cấu trúc khóa luận:
Khóa luận ngoài phần Mở đầu, Kết luận, kiến nghị, Tài liệu tham khảo,
thì Phần nội dung chính của khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Thực trạng nhận thức và sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học môn Tiếng Việt lớp
4 ở một số trường tiểu học khu vực thành phố Vĩnh Yên
Chương 3: Một số biện pháp giải quyết thực trạng nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp các phương pháp dạy học tích cực trong nhà trường tiểu học
Trang 13NỘI DUNG CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VIỆC SỬ DỤNG PHỐI HỢP CÁC
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 4 Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TIỂU HỌC KHU VỰC
trọng của phương pháp: “Đối với con tàu khoa học Phương pháp là chiếc la
bàn, lại vừa là bánh lái, nó chỉ phương hướng và cách thức hoạt động” Về
phương diện triết học, phương pháp được hiểu là cách thức, con đường, phương tiện để đạt tới mục đích, để giải quyết những nhiệm vụ nhất định
+ Theo Hegel phương pháp, “là ý thức về hình thức của sự tự vận động
bên trong của nội dung”
+ Theo GS Hà Thị Ngữ - GS Đặng Vũ Hoạt – PGS Hà Thị Đức: thuật
ngữ “Phương pháp” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “Metdos” có nghĩa là con
đường, cách thức để đạt tới mục đích nhất định [8;25]
+ Theo GS.TSKH Nguyễn Văn Hộ: Phương pháp là cách thức; con đường, phương tiện để đạt tới một mục đích nhất định, để giải quyết những nhiệm vụ nhất định
+ Theo PGS.TS Lưu Xuân Mới: Phương pháp là cách thức đạt tới mục đích và bằng một hình ảnh nhất định, nghĩa là một hoạt động được điều chỉnh
+ Theo Nguyễn Như An: Phương pháp là cách đạt tới mục đích, tức là tổng hợp những thủ thuật và thao tác dùng để đạt mục đích
- Phương pháp dạy học:
Trang 14+ Có rất nhiều định nghĩa về phương pháp dạy học nhưng có một cách định nghĩa phù hợp với đổi mới phương pháp dạy học là một hệ thống tác động liên tục của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của học sinh để học sinh lĩnh hội vững chắc các thành phần của nội dung giáo dục nhằm đạt được mục tiêu đã định
+ Phương pháp dạy học bao gồm 2 mặt hoạt động: Hoạt động của thầy
và hoạt động của trò, trong đó thầy giữ vai trò chỉ đạo còn trò giữ vai trò chủ động, tích cực Phương pháp dạy học luôn được đặt trong mối quan hệ giữa mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện và những điều kiện khác
+ Trên cơ sở phương pháp chung, người ta đã xây dựng khái niệm phương pháp dạy học Theo các nhà giáo dục học trên thế giới và các nhà giáo dục học Việt Nam, cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau về phương pháp dạy học
Theo Iu.Babanxki “Phương pháp dạy học là cách thức tương tác giữa
thầy và trò nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển trong quá trình dạy học”.[6;32]
I.Ia Lecne cho rằng: Phương pháp dạy học là một hệ thống những hành động có mục đích của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức, thực hành của học sinh, đảm bảo cho các em lĩnh hội nội dung học vấn [5;10]
Theo GS Nguyễn Văn Hộ: Phương pháp dạy học là tổng hợp các cách thức làm việc phối hợp thống nhất của thầy và trò (trong đó thầy đóng vai trò chủ đạo, trò đóng vai trò tích cực, chủ động) nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Phương pháp dạy học là cách thức
làm việc của thầy và trò trong sự phối hợp thống nhất dưới sự chỉ đạo của thầy, nhằm làm cho trò tự giác, tích cực, tự lực đạt tới mục đích dạy học”.[8;44]
Như vậy chúng ta có thể nhận thấy rằng tất cả các tác giả đều thừa nhận rằng phương pháp dạy học có những dấu hiệu sau:
Trang 15- Phản ánh sự vận động của quá trình nhận thức của học sinh nhằm đạt được mục đích đề ra
- Phản ánh sự vận động của nội dung học vấn đã được nhà trường quy định
- Phản ánh cách thức trao đổi thông tin giữa thầy và trò
- Phản ánh cách thức điều khiển hoạt động nhận thức, kích thích và xây dựng động cơ, tổ chức hoạt động nhận thức và kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động
1.1.2 Phân loại phương pháp dạy học
Chúng ta cùng xem xét lại hệ thống phương pháp dạy học đã được các tác giả trên thế giới và ở Việt Nam phân loại dựa trên các tiêu chí khác nhau:
Ở Liên Xô trước đây có rất nhiều quan điểm khác nhau về phân loại hệ thống phương pháp dạy học, có thể kể ra một số hệ thống phổ biến nhất [10;227]
Phân loại theo nguồn kiến thức và theo đặc điểm tri giác (S.I.Petrovski và E.Ia.Golan ): dùng lời, trực quan, thực hành
Phân loại theo các nhiệm vụ cơ bản lý luận dạy học (M.A Danhilo V, B.P Exipov ) các phương pháp truyền thụ kiến thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo ứng dụng tri thức; hoạt động sáng tạo; củng cố; kiểm tra
Phân loại theo đặc điểm hoạt động nhận thức của học sinh: giải thích, minh họa, tái hiện, giới thiệu vấn đề, tìm kiếm từng phần (hay Ơristic ), nghiên cứu (M.N.Stakin, I.Ia.Lecne )
Phân loại theo hoạt động dạy học: thông báo và thu nhận, giải thích
và tái hiện, thiết kế thực hành và tái hiện thực hành, giải thích, kích thích và tìm hiểu (M.I.Macmutov )
Năm 1983 Iu.K.Babanxki đã đề xuất một hệ thống phương pháp dạy học khác, phổ biến rộng rãi ở Liên Xô; bao gồm: các phương pháp tổ chức và thực hiện hoạt động học tập nhận thức; các phương pháp kích thích và xây dựng động cơ học tập, các phương pháp kiểm tra
Trang 16Ở nước ta, một số tác giả cũng đưa ra một vài cách phân loại các hệ thống phương pháp dạy học, chẳng hạn như:
- Dựa vào bản chất bên trong của các phương pháp và cách thức tổ chức nhận thức, tác giả Lê Khánh Bằng đã chia phương pháp dạy học thành:
+ Phương pháp dạy học thông báo tái hiện
+ Phương pháp dạy học nêu vấn đề
+ Phương pháp dạy học nghiên cứu
- Dựa vào dấu hiệu về nguồn tri thức, tác giả Đặng Vũ Hoạt đã chia hệ thống phương pháp dạy học thành 3 nhóm: [8;28]
+ Nhóm phương pháp dùng lời
+ Nhóm phương pháp dạy học trực quan
+ Nhóm phương pháp dạy học thực tiễn
Sự đa dạng và phong phú về việc phân loại hệ thống các phương pháp dạy học trên đây cho thấy, phương pháp dạy học là một vấn đề vô cùng phức tạp và có nhiều khía cạnh nhìn nhận, là trung tâm chú ý của các nhà giáo dục các nước Có thể nói cho đến nay đây vẫn là một hiện tượng sư phạm nhiều quan điểm, còn nhiều vấn đề đang được tranh luận, chưa có ý kiến thống nhất
1.1.3 Vấn đề lựa chọn, vận dụng các phương pháp dạy học
- Vấn đề lựa chọn các phương pháp dạy học:
Chọn những phương pháp dạy học có khả năng cao nhất đối với việc thực hiện mục tiêu dạy học: Mỗi mô hình lí luận dạy học, phương pháp dạy học đều có điểm mạnh, điểm hạn chế nhất định Nhưng khi xét thực hiện một mục tiêu dạy học nhất định thì có một số phương pháp dạy học có khả năng cao hơn các phương pháp dạy học khác Chẳng hạn nếu đặt mục tiêu nhanh chóng truyền thụ cho xong nội dung quy định thì phương pháp dạy học thuyết trình có vị trí quan trọng Nhưng nếu đặt mục tiêu phát triển năng lực tìm tòi sáng tạo của học sinh thì vấn đề sẽ khác đi
Lựa chọn các phương pháp dạy học tương thích với nội dung học tập
Trang 17Giữa nội dung và phương pháp dạy học có mối quan hệ tác động lẫn nhau, trong nhiều trường hợp quy định lẫn nhau Ở bình diện kĩ thuật dạy học, phương pháp dạy học cần tương thích với nội dung dạy học Mỗi nội dung dạy học đều liên hệ mật thiết với những hoạt động nhất định
Lựa chọn phương pháp dạy học cần chú ý đến hứng thú, thói quen của HS, kinh nghiệm sư phạm của giáo viên
- Cần chuẩn đoán nhu cầu, hứng thú của học sinh khi lựa chọn các phương pháp dạy học:
+ Đối với việc trình bày thông tin cần ưu tiên lựa chọn các phương pháp sử dụng phương tiện nghe nhìn, sử dụng truyền thông đa phương tiện càng tốt + Đối với hoạt động xử lý thông tin cần tổ chức các hoạt động tự phát hiện, phối hợp làm việc theo nhóm, phát huy càng tối đa tính tích cực, sáng tạo của học sinh càng tốt
- Chú ý thay đổi phương pháp dạy học và hình thức tổ chức dạy học tránh nhàm chán, gây hứng thú cho học sinh, cần thay đổi phương pháp dạy học sau
15, 20 phút
- Ưu tiên lựa chọn các phương pháp dạy học mà học sinh, giáo viên đã thành thạo: Với các phương pháp dạy học có ưu điểm tương đương, cần ưu tiên lựa chọn phương pháp dạy học mà giáo viên và học sinh đã thành thạo, bởi thực hiện dễ dàng hơn Không vì với tiêu chí này mà quay lại với phương pháp truyền thụ một chiều Hiện nay, rất cần thiết phải cho giáo viên và học sinh trở nên quen thuộc với các kĩ thuật dạy học mới có hiệu quả trong việc thực hiện các mục tiêu giáo dục Để nâng cao tay nghề cần:
+ Nghiên cứu các vấn đề đổi mới phương pháp dạy học qua sách, vở, giáo trình, tạp chí chuyên môn, các lớp tập huấn…
+ Rút kinh nghiệm các giờ dạy của bản thân kết hợp với tiến hành dự giờ, trao đổi chuyên môn với đồng nghiệp…
Lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp với điều kiện dạy học
Trang 18- Ở đây cần đề cập đến phương pháp dạy học diễn ra trong mối quan hệ với các điều kiện vật chất, đặc biệt là thiết bị dạy học Đương nhiên là cần phải lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp với điều kiện của nhà trường, của phòng thí nghiệm, của tình trạng đang có
- Trong khuôn khổ điều kiện cho phép, cần chọn thứ tự ưu tiên khả năng tốt nhất
- Các thiết bị dạy học hiện đại không luôn đồng nghĩa với các thiết bị dạy học đắt tiền Tính hiện đại của thiết bị dạy học thể hiện ở việc sử dụng các thiết bị sao cho đạt yêu cầu cao nhất trong việc thực hiện các mục tiêu dạy học, thể hiện rõ tư tưởng sư phạm hiện đại
Tóm lại, trên đây là 4 cơ sở quan trọng nhất, là căn cứ xuất phát khi tiến hành lựa chon các phương pháp dạy học, điều quan trọng nhất là cần xác định lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức dạy học có thể giúp học sinh:
Học tập với niềm say mê, hứng thú, khao khát tìm tòi khám phá
Lĩnh hội tri thức trong các hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo theo phương pháp khoa học
Học trong tương tác, trong việc hình thành các quan hệ hợp tác, thân thiện, cùng nhau giải quyết các nhiệm vụ học tập
1.2 Phương pháp dạy học tích cực
1.2.1 Khái niệm về phương pháp dạy học tích cực
1.2.1.1 Tính tích cực nhận thức
Tính tích cực: Là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống
xã hội Khác với động vật, con người không chỉ tiêu thụ những gì có sẵn trong thiên nhiên mà còn chủ động sản xuất ra những của cải vật chất cho sự tồn tại của xã hội, sáng tạo ra nền văn hóa ở mỗi thời đại Hình thành và phát triển tính tích cực xã hội đã là củng cố một trong những nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục nhằm đào tạo những con người năng động, thích ứng và góp phần phát
Trang 19triển cộng đồng Có thể xem tính tích cực như là điều kiện đồng thời là một kết quả của sự phát triển nhân cách trong quá trình giáo dục
Tính tích cực học tập: Tính tích cực của con người biểu hiện trong hoạt
động, đặc biệt trong những hoạt động chủ động của chủ thể Học tập là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi đi học Tính tích cực trong học tập – về thực chất –
là tích tích cực trong nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng học hỏi và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức
Tính tích cực trong nhận thức, trong học tập liên quan trước hết với
động cơ học tập Động cơ đúng tạo ra hứng thú Hứng thú là tiền đề của tự giác Hứng thú và tự giác là 2 yếu tố tâm lí tạo nên tính tích cực Tính tích cực sản sinh nếp tư duy độc lập Suy nghĩ độc lập là mầm mống của sáng tạo
Ngược lại, phong cách học tập tích cực độc lập sáng tạo sẽ phát triển tự giác, hứng thú, bồi dưỡng động cơ học tập
Tính tích cực thể hiện ở những biểu hiện cụ thể như: hăng hái trả lời các câu hỏi của giáo viên, bổ sung câu trả lời của các bạn, thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra; hay nêu thắc mắc đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa rõ; chủ động vận dụng kiến thức kĩ năng học để nhận thức vấn đề mới; tập trung chú ý vào vấn đề đang học kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản chí trước những tình huống khó khăn…
Tính tích cực đạt cấp độ từ thấp đến cao như:
+ Bắt chước: gắng sức làm theo các mẫu hành động của thầy, của bạn
+ Tìm tòi: độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm những cách giải quyết khác nhau về vấn đề…
+ Sáng tạo: tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo, hữu hiệu
1.2.1.2 Khái niệm phương pháp dạy học tích cực
Tính tích cực được thể hiện trong các hoạt động của con người, ngay từ thời cổ đại, các nhà sư phạm tiền bối như Khổng Tử, Aristot đã từng nói đến tầm quan trọng to lớn của việc phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh
và đã chỉ ra nhiều biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức
Trang 20J.A Komenxki nhà sư phạm lỗi lạc của thế kỉ XVII đã đưa ra những biện pháp dạy học bắt học sinh phải tìm tòi, suy nghĩ, để tự nắm bắt được bản
thân của sự vật, hiện tượng Trong tác phẩm “Lý luận dạy học” của mình, ông
đã khẳng định “Tính tự giác, tính tích cực” là một trong những nguyên tắc
dạy học quan trọng nhất và cơ bản nhất
Đầu thế kỉ XIX nhà giáo dục K.D.Usinxki đã khẳng định tính tích cực
trong quá trình học tập của học sinh Ông coi tính tích cực là “cơ sở vững
chắc cho mọi sự học tập có hiệu quả” Ông đặc biệt nhấn mạnh tới tầm quan
trọng của việc điều khiển, dẫn dắt học sinh của các thầy cô giáo
Sang thế kỉ XX, tính tích cực thực sự được sự quan tâm, chú ý của các
nhà giáo dục P.V Erdơniev (1974) đã cho rằng: “Nói đến tính tích cực học
tập thực chất là nói tới tính tích cực nhận thức”, “một sự nhận thức đã được làm cho dễ dàng và được thực hiện dưới sự chỉ đạo của giáo viên”
GS Trần Bá Hoành cũng có quan điểm rõ ràng về phương pháp dạy học tích cực, khẳng định tính tích cực học tập của học sinh là một hiện tượng sư phạm Biểu hiện sự cố gắng cao về nhiều mặt trong hoạt động của trẻ
Xét về mức độ bền vững, tính tích cực học tập xuất hiện như một trạng thái hoạt động Nó tồn tại trong một thời gian với hoạt động học tập, khi kích thích học tập trở thành một thuộc tính bền vững thì nó trở thành động cơ luôn thôi thúc và giúp cho người ta đạt kết quả cao trong hoạt động học của mình
- Biểu hiện ở kết quả lĩnh hội: Kết quả này được đánh giá bởi 2 chỉ số: + Hiệu quả học tập
+ Chất lượng học tập (được xác định bởi kết quả lĩnh hội mang tính tái tạo hay sáng tạo, cảm tính hay logic)
Trong các biểu hiện trên, kết quả học tập vẫn được gọi là dấu hiệu quan trọng, là cái đích cần hướng tới, phản ánh sự thành công hay thất bại của phương pháp dạy học
Tóm lại, có thể nói: phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học
Trang 21theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học “Tích cực” trong phương pháp dạy học – tích cực được dùng với nhiều nghĩa là hoạt động, chủ động, trái nghĩa với không hoạt động, thụ động chứ không
dùng theo nghĩa trái với tiêu cực [5;12]
Phương pháp dạy học tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động
Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy Cách dạy chỉ đạo cách học, nhưng ngược lại thói quen học tập của trò cũng ảnh hưởng tới cách dạy của thầy Chẳng hạn, có trường hợp học sinh đòi hỏi cách dạy tích cực hoạt động nhưng giáo viên chưa đáp ứng được, hoặc có trường hợp giáo viên hăng hái áp dụng phương pháp dạy học tích cực nhưng không thành công vì học sinh chưa thích ứng, vẫn quen với lối học tập thụ động Vì vậy, giáo viên phải kiên trì dùng cách dạy hoạt động để dần xây dựng cho học sinh phương pháp học tập chủ động một cách vừa sức, từ thấp lên cao Trong đổi mới phương pháp dạy học phải có sự hợp tác của cả thầy và trò, sự phối hợp nhịp nhàng hoạt động dạy với hoạt động học thì mới thành công Như vậy, việc dùng
thuật ngữ “Dạy và học tích cực” để phân biệt với “Dạy và học thụ động”
Người ta thường dùng các khái niệm như: tư duy tích cực, tư duy độc lập, tư duy sáng tạo để chỉ 3 mức độ tư duy khác nhau của HS Mức độ tư duy
đi trước là sẽ tiền đề cho mức độ tư duy đi sau Có thể mô tả các mức độ tư duy này dưới dạng hình tròn đồng tâm như hình sau:
Trang 22
1.2.2 Những đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực
* Dạy học phải kích thích nhu cầu và hứng thú học tập của học sinh
- Tính tích cực của học sinh không xuất hiện trong trường hợp không có nhu cầu nhận thức hoặc khi học sinh đã biết cách giải quyết nhiệm vụ đó Nhu cầu nhận thức của học sinh càng cao thì tính tích cực hoạt động nhận thức càng tăng Điều đó có nghĩa là tính tích cực học tập của học sinh cũng phụ thuộc vào mức độ hấp dẫn và lôi cuốn của nhiệm vụ học tập, cách thức diễn đạt, dẫn dắt vấn đề của giáo viên Giáo viên diễn đạt và dẫn dắt lớp học càng hấp dẫn, lôi cuốn thì tính tích cực của học sinh càng cao
* Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh
- Trong phương pháp tích cực, người học – đối tượng của hoạt động “dạy”, đồng thời là chủ thể của “hoạt động học” – được cuốn hút vào các hoạt động
học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt Được đặt vào những tình huống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo hướng suy nghĩ của riêng mình, từ đó vừa nắm vững được kiến thức mới, vừa nắm được
phương pháp “làm ra” kiến thức, kĩ năng đó, không rập khuôn theo những
khuôn mẫu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tài năng sáng tạo
Trang 23- Dạy học theo cách này thì giáo viên không chỉ đơn giản truyền đạt tri thức
mà còn hướng dẫn hành động Chương trình dạy học phải giúp cho từng học sinh biết hành động và tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng đồng
* Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
- Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học
- Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh với sự bùng nổ thông tin, khoa học công nghệ phát triển như vũ bão thì vấn đề cốt lõi đối với các em là
phương pháp tự học Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho trẻ tinh thần ham học hỏi, khơi
dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động trong quá trình dạy
học, nỗ lực tạo sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động,
đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà còn tự học có sự hướng dẫn của giáo viên
* Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác
- Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của học sinh không thể đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận
sự phân hóa về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập
- Áp dụng phương pháp dạy học tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hóa này càng lớn Việc sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin trong nhà trường sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi học sinh
- Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ, đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập của cá nhân Lớp học là môi trường giao tiếp thầy – trò, trò – trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân
Trang 24trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới Bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm của mỗi học sinh và của cả lớp chứ không phải chỉ dựa trên vốn hiểu biết và kinh nghiệm của giáo viên
- Trong nhà trường, phương pháp học tập theo nhóm được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc trường Được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ 4 - 6 người Học tập theo nhóm làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung của nhóm
- Trong hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không thể có hiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức
tổ chức, tinh thần tương trợ giữa các thành viên trong nhóm
- Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quan tâm dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội
- Trong nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc gia, năng lực hợp tác phải trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà trường phải chuẩn bị cho HS
* Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
- Trong hoạt động học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy
- Trong dạy học hiện nay, giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh Trong phương pháp tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá, tự điều chỉnh cách học Liên quan đến điều này, giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi để học sinh được tự đánh giá lẫn nhau Tự đánh giá đúng
và điều chỉnh hoạt động kịp thời là một năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho học sinh
Trang 25- Theo hướng phát triển của phương pháp tích cực, để đào tạo ra những con người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học, phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế
- Với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn là công việc nặng nhọc đối với giáo viên, mà lại cho nhiều thông tin kịp thời hơn để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học
- Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành người
thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để
học sinh tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình Trên lớp học sinh hoạt động là chính, giáo viên có thể không vất vả như trước đây nhưng trước đó khi soạn giáo án, giáo viên đã phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động, mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là người
gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong hoạt động tìm tòi hào
hứng tranh luận sôi nổi của học sinh Giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức hướng dẫn các hoạt động của học sinh mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên
1.2.3 Bản chất của phương pháp dạy học tích cực
Chúng ta đều biết rằng trong quá trình giáo dục/dạy học, người học vừa
là đối tượng của hoạt động dạy, vừa là chủ thể của hoạt động học Lao động học tập khác với các dạng lao động khác ở một điểm cơ bản Đó là trong các dạng lao động khác thì chủ thể lao động hướng vào cải biến khách thể, đối tượng của lao động (người thợ mộc biến khúc gỗ thành cái bàn, người thợ rèn biến cục sắt thành lưỡi cuốc…), còn trong học tập, chủ thể lao động hướng vào cải biến chính mình (tích lũy kiến thức, kĩ năng, thái độ phát triển nhân cách,…) Quá trình này không ai có thể làm thay cho mình được; sự hướng
Trang 26dẫn của thầy, sự giúp đỡ của bạn chỉ hỗ trợ quá trình đạt được kết quả mà thôi Vì thế, để nâng cao được hiệu quả của quá trình dạy học, việc hoạt động hóa, tích cực hóa vai trò chủ thể giáo dục là một yếu tố vô cùng cần thiết và quan trọng
Từ những đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực vừa được phân tích ở trên, chúng ta có thể kết luận phương pháp dạy học tích cực thực sự thể hiện được tính hoạt động cao của chủ thể giáo dục, mà ở đây là cả thầy và trò trong hoạt động dạy - học
Thêm vào đó, khi áp dụng phương pháp dạy học tích cực, vai trò của người học thực sự được thay đổi Người học được tham gia vào việc thảo luận, nghiên cứu, xây dựng nội dung bài học, sử dụng các phương tiện học tập, trình bày ý kiến cá nhân, được tham gia đánh giá các bạn cũng như đánh giá chính bản thân mình Có thể nói, người học giữ vai trò chủ động khi tiếp thu kiến thức mới, học những gì mình cần, mình hứng thú, chứ không phải thụ động chịu sự áp đặt của giáo viên Không những thế, học sinh còn được tự
do phát triển tính năng động, cải tiến, phát huy tư duy độc lập sáng tạo, óc phê phán và tính độc đáo của nhân cách Nội dung, môi trường học tập, quyết định trong ứng xử, hoạt động…đều được kiểm soát bởi chính người học Người học được thừa nhận, tôn trọng, hiểu và đồng cảm Điều này thể hiện tính nhân văn cao của giáo dục mà phương pháp dạy học tích cực mang lại
Ngành giáo dục nước ta từ những năm 60 của thế kỉ XX đã quan tâm đến vấn đề phát huy tính tích cực của học sinh Thế nhưng, trong thực tế, sự chuyển biến về phương pháp dạy học trong nhà trường phổ thông vẫn chưa được bao quát Phổ biến vẫn là cách dạy thông báo kiến thức, dạy học thụ động, sách vở Tình trạng trên có nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân cơ bản là thiếu động lực học tập từ phía học sinh Việc bảo đảm học hành, bố trí việc làm cho thanh thiếu niên trong thời kì bao cấp gây tâm lý ỷ lại cho học sinh, làm tê liệt động cơ phấn đấu trong học tập của phần lớn các em
Trang 27Bước vào thời kì mới, trước sự đào thải khắc nghiệt của nền kinh tế thị trường, học sinh và phụ huynh đã dần thích ứng với quan niệm học để có công ăn việc làm, học tốt ắt sẽ có một chỗ làm tốt, một cuộc sống với thu nhập cao Tuy nhiên, những tiêu cực trong xã hội, sự cứng nhắc, đồng loạt, đơn điệu trong nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học ở nhà trường là cho người học chưa có được hứng thú khi đến trường Việc đánh giá thi cử chưa khuyến khích giáo viên và học sinh coi trọng thực hành, rèn luyện phương pháp học tập thông minh, sáng tạo
Vì thế, để phát triển chính bản thân người học, cần khai thác động lực học tập trong chính cá nhân họ Có một động lực học tập đúng đắn, họ sẽ chủ động lao vào học tập không biết mệt mỏi Một đối tượng như vậy sẽ đòi hỏi nhà trường phải có sự chuyển biến cả về nội dung, phương pháp và trước tiên,
sử dụng phương pháp dạy học tích cực là sự biến đổi đúng theo hướng này
Thêm vào đó, phương pháp dạy học tích cực còn thể hiện rõ sự coi trọng lợi ích, nhu cầu của cá nhân người học, đảm bảo cho họ thích ứng với đời sống xã hội đang mỗi ngày một biến đổi Việc áp dụng những phương pháp dạy học tích cực trong dạy học có ý nghĩa to lớn trong công việc chuẩn
bị cho người học khả năng hành động, độc lập, sáng tạo, năng lực phân công hợp tác trong tập thể, tự học tập, tự đánh giá, chủ động có ý thức về giáo dục bản thân mình Đây là những năng lực, kĩ năng vô cùng quý báu đối với người học trước sự đòi hỏi khắc nghiệt của xã hội, để họ có thể trở thành những con người mới, năng động, sáng tạo, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1.3 Một số phương pháp dạy học tích cực trong dạy học Tiếng Việt ở tiểu học
1.3.1 Phương pháp dạy học vấn đáp
- Khái niêm phương pháp dạy học vấn đáp: Là phương pháp trong đó giáo viên nêu ra câu hỏi để học sinh trả lời, hoặc học sinh có thể tranh luận với nhau và với cả giáo viên; qua đó học sinh lĩnh hội được nội dung bài học
Trang 28- Phân loại: Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức, người ta phân biệt các loại phương pháp vấn đáp:
+ Vấn đáp tái hiện: Giáo viên đặt câu hỏi chỉ yêu cầu học sinh nhớ lại kiến
thức đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận Vấn đáp tái hiện không được xem là phương pháp có giá trị sư phạm Đó là biện pháp được dùng khi cần đặt mối liên hệ giữa các kiến thức vừa mới học
+ Vấn đáp giải thích – minh họa: Nhằm mục đích làm sáng tỏ một đề tài nào
đó, giáo viên lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh họa
để học sinh dễ hiểu, dễ nhớ Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả khi có sự
hỗ trợ của các phương tiện nghe – nhìn
+ Vấn đáp tìm tòi: Giáo viên dùng một hệ thống câu hỏi được sắp xếp hợp lý
để hướng học sinh từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, tính quy luật của hiện tượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết Giáo viên tổ chức sự trao đổi ý kiến – kể cả tranh luận – giữa thầy với cả lớp, có khi giữa trò với trò, nhằm giải quyết một vấn đề xác định
1.3.2 Phương pháp dạy học thảo luận nhóm
Theo W King Robert (Tạp chí giáo viên Toán số 5 – 1969) nhóm là hiện tượng xã hội, một tập hợp của hai hay trên hai người có sự tác động lẫn
nhau
Theo GS Trần Bá Hoành, nhóm (đội) là một tập thể nhỏ được hình thành
để thực hiện một nhiệm vụ nhất định trong khoảng thời gian nhất định
Lớp học được chia thành từng nhóm nhỏ từ 4 đến 6 người Tùy mục đích yêu cầu của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hay có chủ định, được duy trì ổn định hay thay đổi trong từng phần của tiết học, được giao cùng một nhiệm vụ hay những nhiệm vụ khác nhau
Nhóm tự bầu nhóm trưởng nếu thấy cần Trong nhóm có thể phân công mỗi người một phần việc Trong nhóm nhỏ, mỗi thành viên đều phải làm việc tích cực, không thể ỷ lại vào một vài người hiểu biết và năng động hơn Các thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm hiểu vẫn đề nêu ra trong không khí
Trang 29thi đua với các nhóm khác Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả học tập chung của cả lớp Để trình bày kết quả làm việc của nhóm trước toàn lớp, nhóm có thể cử ra một đại diện hoặc phân mỗi thành viên trình bày một phần nếu nhiệm vụ giao cho nhóm là khá phức tạp
Do đó, ta có thể hiểu Phương pháp dạy học thảo luận nhóm là một phương pháp dạy học trong đó lớp học phân chia thành các nhóm nhỏ (ngẫu nhiên hoặc có chủ định), được duy trì ổn định trong cả tiết hay được thay đổi trong từng hoạt động, từng phần của tiết học, được giao cùng một nhiệm vụ hoặc nhiều nhiệm vụ khác nhau, thực hiện trong một thời gian nhất định để đạt được hiệu quả học tập nhất định Nhóm ở đây được đặc
trưng bởi 3 yếu tố sau:
+ Số người trong nhóm
+ Nhiệm vụ của nhóm
+ Phản ứng hỗ trợ của các cá nhân trong nhóm
Hiệu quả hoạt động của nhóm phụ thuộc vào giáo viên và bản thân học sinh cũng như điều kiện thực hiện phương pháp dạy học này Thảo luận nhóm đặc biệt thích hợp khi giáo viên muốn làm những việc sau đây:
+ Giúp học sinh học cách suy nghĩ về những vấn đề của môn học bằng cách cho các em thực hành suy nghĩ
+ Giúp học sinh đánh giá tính logic và quan điểm của người khác và của chính mình
+ Tạo cơ hội cho học sinh đưa ra những phương pháp áp dụng các nguyên tắc + Giúp học sinh nâng cao nhận thức và nêu vấn đề sử dụng thông tin từ các bài đọc và bài giảng của giáo viên
+ Tạo động cơ để học sinh tìm hiểu sâu vấn đề hơn nữa
+ Đưa ra phản hồi nhanh về sự hiểu biết hoặc hiểu sai của học sinh
* Phương pháp dạy học thảo luận nhóm có thể tiến hành theo quy trình:
Làm việc chung cả lớp
- Nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức
Trang 30- Tổ chức các nhóm, giao nhiệm vụ
- Hướng dẫn cách làm việc trong nhóm
Làm việc theo nhóm
- Phân công trong nhóm
- Cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi hoặc tổ chức thảo luận trong nhóm
- Cử đại diện hoặc phân công trình bày kết quả làm việc theo nhóm
Tổng kết trước lớp
- Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả
- Thảo luận chung
- Giáo viên tổng kết, đặt vấn đề cho bài tiếp theo, hoặc vấn đề tiếp theo trong bài
Phương pháp dạy học thảo luận nhóm giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải là sự tiếp nhận thụ động từ giáo viên
* Ưu và nhược điểm của phương pháp dạy học thảo luận nhóm
+ Ưu điểm:
- Tạo điều kiện để các thành viên trong nhóm học hỏi lẫn nhau, cởi mở, mạnh dạn trao đổi các vấn đề còn khúc mắc Từ đó giúp các cá nhân hòa nhập với cộng đồng, tham gia hoạt động một cách tích cực hơn, gây ra hứng thú học tập cho mỗi cá nhân
- Rèn luyện năng lực hợp tác giữa các thành viên trong tổ chức lao động
- Mọi thành viên đều tham gia vào quá trình học tập
- Qua việc trình bày ý kiến của cá nhân trước tập thể nhóm, lớp về một vấn đề nào đó, rèn luyện cho người học cách lập luận, diễn đạt một vấn đề, cách giao tiếp ứng xử và khả năng độc lập tự chủ của bản thân
+ Nhược điểm:
Trang 31- Dễ dẫn tới sự cạnh tranh, ganh đua, kỳ thị, chia rẽ, gây mất đoàn kết giữa các thành viên trong nhóm và giữa các nhóm với nhau
- Dẫn tới việc học sinh ỷ lại, lười biếng, dồn việc cho một số cá nhân có năng lực
- Bị hạn chế về không gian lớp học và thời hạn của tiết học
- Dẫn tới khuynh hướng hình thức, cực đoan coi tổ chức hoạt động nhóm là dấu hiệu tiêu biểu nhất của phương pháp dạy học, hoạt động nhóm càng nhiều thì phương pháp dạy học càng đổi mới
1.3.3 Phương pháp dạy học nêu vấn đề
+ Nguồn gốc – khái niệm:
Trong một xã hội đang phát triển nhanh theo cơ chế thị trường, cạnh tranh gay gắt thì phát hiện sớm và giải quyết hợp lý các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn là một năng lực đảm bảo sự thành công trong cuộc sống Vì vậy, tập dượt cho học sinh biết phát hiện, đặt ra và giải quyết những vấn đề gặp phải trong học tập, không chỉ có ý nghĩa ở tầm phương pháp dạy học mà phải được đặt như một mục tiêu Giáo dục và Đào tạo
Thuật ngữ “nêu vấn đề” đã có cách đây tới gần một thế kỉ Vào những năm 50 của thế kỉ XX, người ta đã thấy nổi lên một mâu thuẫn giữa một bên
là yêu cầu dạy học ngày càng cao, khả năng sáng tạo của học sinh ngày càng tăng, trong khi tổ chức dạy học lại quá lạc hậu Sau quá trình nghiên cứu, người ta đã đưa ra được những kết quả sau:
Kết quả 1: Tìm ra quy luật bên ngoài của tích cực hóa hoạt động nhận
thức của học sinh nhờ những tác động bên ngoài, chủ yếu là từ phía thầy Ở đây muốn nói tới việc thay đổi hoạt động dạy hay phương pháp dạy
Kết quả 2: Tìm ra quy luật bên trong của tích cực hóa hoạt động nhận
thức nhờ giải quyết một loạt bài tập độc lập do bản thân học sinh giải quyết
Từ đó, tạo ra lực phát triển từ bên trong Như vậy, kết quả 2 đề cập tới việc học sinh phải tự tích cực hóa hoạt động của mình bằng cách giải quyết các tình huống có vấn đề
Trang 32Kết quả 3: Tìm ra quy luật chung của tích cực hóa hoạt động nhận
thức Hoạt động nhận thức của học sinh được tích cực hóa nhờ việc giải quyết một cách độc lập các tình huống có vấn đề
Quy luật chung, xét về bản chất là tổng hợp của cả 2 quy luật trên Điều này có nghĩa là cần phải thay đổi cả 2 quá trình: quá trình học: học sinh phải tích cực hóa bằng cách giải quyết các tình huống có vấn đề ở đây chính là giáo viên (quá trình dạy) Từ đây, thuật ngữ dạy học nêu vấn đề xuất hiện với
tư cách là một phương pháp dạy học mới
Có thể định nghĩa như sau về dạy học nêu vấn đề: “Dạy học nêu vấn đề
là một hoạt động có chủ định của giáo viên bằng cách đặt ra vấn đề học tập
và tạo ra những tình huống có vấn đề, hướng dẫn học sinh học tập nhằm diễn đạt và giải quyết các vấn đề học tập, tạo điều kiện cho sự lĩnh hội các tri thức mới và các cách thức hành động mới hình thành năng lực sáng tạo của học sinh” [4;242]
+ Các kiểu dạy học nêu vấn đề:
Trình bày nêu vấn đề
Nghiên cứu một phần
Nghiên cứu toàn phần
Theo những tài liệu mới đây, đặc biệt là những tài liệu về “Dạy và học tích cực” của GS.Trần Bá Hoành cũng như dự án Việt – Bỉ (2001-2003) của
Bộ Giáo dục và Đào tạo, có 4 mức độ của dạy học nêu vấn đề:
Mức độ 1: Giáo viên đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề, học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề theo sự hướng dẫn của giáo viên, giáo viên đánh giá kết quả làm việc của học sinh
Mức độ 2: Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý để học sinh tìm ra cách giải quyết vấn đề Học sinh thực hiện giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của giáo viên khi cần Giáo viên và học sinh cùng đánh giá
Trang 33 Mức độ 3: Giáo viên cung cấp thông tin tạo tình huống Học sinh thực hiện, nhận dạng, phát biểu vấn đề nảy sinh cần giải quyết, tự lực đề xuất các giả thuyết và lựa chọn giải pháp Học sinh thực hiện kế hoạch giải quyết vấn đề Giáo viên và Học sinh cùng đánh giá
Mức độ 4: Học sinh phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình và cộng đồng, lựa chọn vấn đề giải quyết, tự đề xuất ra giả thiết, tự xây dựng kế hoạch giải, thực hiện kế hoạch giải, tự đánh giá chất lượng và hiệu quả việc giải quyết vấn đề
Ở đây, mức độ 1, 2 được giáo viên sử dụng khá phổ biến, trải đều từ lớp 1 đến lớp 5 của bậc tiểu học Song với mức độ 3, 4 sự áp dụng còn nhiều hạn chế bởi lẽ sự thành công khi áp dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề ở mức độ này phụ thuộc nhiều vào trình độ, kinh nghiệm, cũng như tính tích cực, tư duy sáng tạo của học sinh Do đó, với học sinh ở đầu bậc tiểu học, khả năng áp dụng các mức độ này là chưa khả thi cao
+ Cấu trúc một bài học (hoặc một phần bài học) theo phương pháp dạy học nêu vấn đề thường như sau:
1 Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức
- Tạo tình huống có vấn đề
- Phát hiện, nhận dạng vấn đề nảy sinh
- Phát hiện vấn đề cần giải quyết
2 Giải quyết vấn đề đặt ra
- Đề xuất cách giải quyết
- Lập kế hoạch giải quyết
- Thực hiện kế hoạch giải quyết
3 Kết luận
- Thảo luận kết quả và đánh giá
- Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết nêu ra
- Phát biểu kết luận
- Đề xuất vấn đề mới
Trang 34* Ưu điểm và nhược điểm của phương pháp dạy học nêu vấn đề
Xét trên cơ sở lý luận của phương pháp dạy học nêu vấn đề, ta nhận thấy phương pháp này có những ưu nhược điểm sau:
- Giáo viên soạn bài vất vả hơn
1.3.4 Phương pháp dạy học thực hành giao tiếp
* Khái niệm:
Là phương pháp giảng dạy nhằm khuyến khích học sinh vận dụng ngôn ngữ đã biết một cách tự do và sáng tạo thông qua các bài tập tình huống giao tiếp đa dạng, cụ thể Phương pháp này được sử dụng sau khi học sinh đã nắm
lí thuyết, đã được luyện tập theo mẫu dưới sự giám sát chặt chẽ của giáo viên
* Các bước tiến hành:
Bước 1: Giáo viên tạo tình huống giao tiếp
Trang 35Bước 2: Hướng dẫn học sinh định hướng giao tiếp: Nói về cái gì? Nói cho ai? Nói để tạo những tác động gì? (Tạo lập mối quan hệ và hành vi ngôn ngữ thích hợp)
Bước 3: Học sinh chọn lựa các kĩ năng giao tiếp và ngôn ngữ thích hợp (dùng
từ, phong cách, cách sắp xếp ý/ ngôn từ…)
Bước 4: Học sinh thể hiện giao tiếp theo hình thức đơn thoại hoặc đối thoại trong hoạt động học tập theo cặp hay nhóm
Bước 5: Giáo viên và học sinh nhận xét, đánh giá
* Ưu điểm và nhược điểm của phương pháp
- Nếu giáo viên không chuẩn bị chu đáo hoặc thiếu bản lĩnh sư phạm, không
có cách thức tổ chức và hướng dẫn chặt chẽ, thích hợp thì giờ dạy dễ trở nên lộn xộn, rời rạc, có thể thiếu tính mục đích
- Khó thực hiện được với lớp có sĩ số đông, cơ sở vật chất như tài liệu tham khảo, phương tiện trực quan, cách bố trí lớp học không tương thích
* Một số lưu ý
- Không nên đưa tình huống giả định mà nên đưa tình huống giao tiếp thực
- Lựa chọn kiến thức, tài liệu sao cho phù hợp với thực tiễn giao tiếp (phù hợp với đối tượng, với lứa tuổi, với thời đại…)
Việc thực tiễn phương pháp dạy học thực hành giao tiếp muốn đạt hiệu quả cao đòi hỏi phải có những điều kiện nhất định: môi trường, nhân vật, trang thiết bị… phù hợp
Trang 361.3.5 Phương pháp trò chơi học tập
Bản chất của phương pháp sử dụng trò chơi học tập là dạy học thông qua việc tổ chức hoạt động cho học sinh Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh được hoạt động bằng cách tự chơi trò chơi trong đó mục đích của trò chơi chuyển tải mục tiêu của bài học Luật chơi (cách chơi) thể hiện nội dung
và phương pháp học, đặc biệt là phương pháp học tập có sự hợp tác và sự tự đánh giá
* Mục đích của việc sử dụng trò chơi học tập
Sử dụng trò chơi học tập để hình thành kiến thức, kỹ năng mới hoặc củng cố kiến thức, kỹ năng đã học Trong thực tế dạy học, giáo viên thường tổ chức trò chơi học tập để củng cố kiến thức, kỹ năng Tuy nhiên việc tổ chức cho học sinh chơi các trò chơi để hình thành kiến thức, kỹ năng mới là rất cần
để tạo hứng thú học tập cho học sinh ngay từ khi bắt đầu bài học mới
* Quy trình thực hiện
Bước 1: Giáo viên giới thiệu tên, mục đích của trò chơi
Bước 2: Hướng dẫn chơi Bước này bao gồm những việc làm sau:
- Tổ chức người tham gia trò chơi: Số người tham gia, số đội tham gia (mấy đội chơi), quản trò, trọng tài
- Các dụng cụ dùng để chơi (giấy khổ to, quân bài, thẻ từ, cờ…)
- Cách chơi: Từng việc làm cụ thể của người chơi hoặc đội chơi, thời gian chơi, những điều người chơi không được làm…
- Cách xác nhận kết quả và cách tính điểm chơi, cách giải của cuộc chơi (nếu có)
Bước 3: Thực hiện trò chơi
Bước 4: Nhận xét sau cuộc chơi… Bước này bao gồm những việc làm sau:
- Giáo viên hoặc trọng tài là học sinh nhận xét về thái độ tham gia trò chơi của từng đội, những việc làm chưa tốt của các đội để rút kinh nghiệm
+ Trọng tài công bố kết quả chơi của từng đội, cá nhân và trao phần thưởng cho đội đoạt giải
Trang 37+ Một số học sinh nêu kiến thức, kỹ năng trong bài học mà trò chơi đã thể hiện
* Ưu điểm và nhược điểm của phương pháp trò chơi học tập
+ Ưu điểm
- Trò chơi học tập là một hình thức học tập bằng hoạt động, hấp dẫn học sinh
do đó duy trì tốt hơn sự chú ý của các em với bài học
- Trò chơi làm thay đổi hình thức học tập chỉ bằng hoạt động trí tuệ, do đó giảm tính chất căng thẳng của giờ học, nhất là các giờ học lý thuyết mới
- Trò chơi có nhiều học sinh tham gia sẽ tạo cơ hội rèn luyện kỹ năng học tập hợp tác cho học sinh
1.4.1.2 Cơ sở Tâm lí học
Dạy học phát huy tính tích cực học tập cho học sinh dựa trên cơ sở tâm
lí học cho rằng nhân cách của con người được hình thành thông qua các hoạt
Trang 38động chủ đạo và sáng tạo, thông qua các hoạt động có ý thức Theo X.L
Rubinstein (1902 – 1960) “Con người chỉ thực sự nắm vững cái mà chính bản
thân dành được bằng lao động của mình”, học sinh sẽ thông hiểu và ghi nhớ
những gì đã trải qua trong quá trình hoạt động nhận thức của bản thân bằng cách này hay cách khác, con người chỉ bắt đầu tư duy tích cực khi đứng trước một khó khăn về nhận thức cần phải khắc phục, một tình huống gợi vấn đề
1.4.1.3 Cơ sở Giáo dục học
Dạy – học, phát huy tính tích cực của học sinh phù hợp với nguyên tắc phát huy tính tích cực và tự giác trong giáo dục, vì nó gợi được động cơ học tập của chủ thể, phát huy nội lực bên trong, giúp người học có năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề không chỉ nằm trong phạm trù của phương pháp dạy học mà còn mang sắc thái phạm trù mục tiêu, góp phần phát triển nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
1.4.2 Các cách phối hợp phương pháp dạy học tích cực trong dạy học môn Tiếng Việt lớp 4
1.4.2.1 Ý nghĩa
Như đã trình bày ở trên, các phương pháp dạy học nói chung và các phương pháp dạy học tích cực nói riêng đều có các ưu điểm cũng như những hạn chế nhất định Để khắc phục được những hạn chế của từng phương pháp, phát huy, tăng cường mặt mạnh của chúng có rất nhiều con đường khác nhau, trong đó cách sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học với nhau là một cách hợp lí, phù hợp với mục tiêu và nội dung dạy học là một trong những con đường mang lại hiệu quả cao nhất
Phối hợp các phương pháp dạy học ở đây được hiểu là việc sử dụng lần lượt, đan xen một số phương pháp dạy học trong một giờ lên lớp nhằm phát huy tối đa ưu điểm của các phương pháp dạy học này, sử dụng ưu điểm của phương pháp dạy học này để khắc phục những hạn chế, nhược điểm của phương pháp dạy học kia nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng của quá trình dạy học