Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy các chỉ số hình thái thể lực của con người thay đổi và phụ thuộc vào các kỳ điều tra, điều kiện kinh tế xã hội, môi trường tự nhiên.. Đáng kể nhất là
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này tôi đã nhận được sự dạy bảo, giúp đỡ tận tình của các thầy cô, bạn bè và gia đình
Đặc biệt, khóa luận này tôi được hướng dẫn tận tình của Th.S Ngô Thị Hải Yến
Giảng viên khoa sinh, Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Ban chủ nhiệm khoa Giáo dục
Tiểu học và các thầy cô trong tổ bộ môn Sinh đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi
trong quá trình hoàn thành khóa luận của mình
Tôi xin được gửi lời cảm ơn tới Ban Giám Hiệu trường Mầm non Đống Đa
Thành phố Vĩnh Yên – Tỉnh Vĩnh Phúc đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình
thu thập số liệu
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn mọi sự giúp đỡ quý báu đó!
Hà Nội, Ngày 12 tháng 5 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Thị Tân
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của
ThS Ngô Thị Hải Yến Tôi xin cam đoan rằng:
Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, Ngày 12 tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Tân
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
NỘI DUNG 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Khái quát về sự phát triển của trẻ 3 – 5 tuổi 3
1.2 Các chỉ số về thể lực của trẻ em lứa tuổi mẫu giáo 3
1.3 Những nghiên cứu về các chỉ số hình thái thể lực trên thế giới 5
1.4 Những nghiên cứu về các chỉ số hình thái thể lực ở Việt Nam 6
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8
2.1 Đối tượng nghiên cứu 8
2.2 Phương pháp nghiên cứu 8
2.2.1 Các chỉ số được nghiên cứu 8
2.2.2 Phương pháp xác định các chỉ số 9
2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 10
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 12
3.1 Chiều cao của trẻ em 12
3.2 Cân nặng của trẻ em 17
3.3 Vòng ngực trung bình 22
3.4 Vòng đầu 26
3.5 Chỉ số BMI của trẻ theo tuổi và giới tính 31
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Phân bố theo độ tuổi và giới tính 8
Bảng 2.2 Phân loại BMI đối với nam từ 3 – 5 tuổi 10
Bảng 2.3 Phân loại BMI đối với nữ từ 3 – 5 tuổi 10
Bảng 3.1 Chiều cao của trẻ em nam từ 3 – 5 tuổi 12
Bảng 3.2 Chiều cao của trẻ em nữ từ 3 – 5 tuổi 13
Bảng 3.3 Chiều cao của trẻ 3 – 5 tuổi theo tuổi và giới tính 15
Bảng 3.4 Cân nặng của trẻ nam từ 3 – 5 tuổi 17
Bảng 3.5 Cân nặng của trẻ nữ từ 3 – 5 tuổi 18
Bảng 3.6 Cân nặng của trẻ 3 – 5 tuổi theo tuổi và giới tính 20
Bảng 3.7 Vòng ngực trung bình của trẻ nam 3 – 5 tuổi 22
Bảng 3.8 Vòng ngực trung bình của trẻ nữ 3 – 5 tuổi 23
Bảng 3.9 Vòng ngực trung bình của trẻ 3 – 5 tuổi theo tuổi và giới tính 25
Bảng 3.10 Vòng đầu của trẻ nam từ 3 – 5 tuổi 26
Bảng 3.11 Vòng đầu của trẻ em nữ từ 3 – 5 tuổi 28
Bảng 3.12 Vòng đầu của trẻ em từ 3 – 5 tuổi theo tuổi và giới tính 29
Bảng 3.13 Chỉ số BMI của trẻ em 3 – 5 tuổi theo tuổi và giới tính 31
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Biểu đồ thể hiện chiều cao của trẻ em nam từ 3 – 5 tuổi 12
Hình 3.2 Biểu đồ thể hiện chiều cao của trẻ em nữ từ 3 – 5 tuổi 14
Hình 3.3 Biểu đồ thể hiện chiều cao của trẻ em từ 3 – 5 tuổi theo tuổi và giới tính 16
Hình 3.4 Đồ thị biểu diễn mức tăng chiều cao của trẻ em từ 3 – 5 tuổi 16
Hình 3.5 Biểu đồ thể hiện cân nặng của trẻ em nam từ 3 – 5 tuổi 17
Hình 3.6 Biểu đồ thể hiện cân nặng của trẻ em nữ từ 3 – 5 tuổi 19
Hình 3.7 Biểu đồ thể hiện cân nặng của trẻ em từ 3 – 5 tuổi theo tuổi và giới tính 21
Hình 3.8 Đồ thị biểu diễn mức tăng cân nặng của trẻ em từ 3 – 5 tuổi 21
Hình 3.9 Biểu đồ thể hiện vòng ngực trung bình của trẻ em nam từ 3 – 5 tuổi 22
Hình 3.10 Biểu đồ thể hiện vòng ngực trung bình của trẻ em nữ 3 – 5 tuổi 24 Hình 3.11 Biểu đồ thể hiện vòng ngực trung bình của trẻ em 3 – 5 tuổi theo tuổi và theo giới tính 25
Hình 3.12 Đồ thị biểu diễn mức tăng vòng ngực trung bình của trẻ em từ 3 – 5 tuổi 26
Hình 3.13 Biểu đồ thể hiện vòng đầu của trẻ em nam từ 3 – 5 tuổi 27
Hình 3.14 Biểu đồ thể hiện vòng đầu của trẻ em nữ từ 3 – 5 tuổi 28
Hình 3.15 Biểu đồ thể hiện vòng đầu của trẻ em từ 3 – 5 tuổi theo tuổi và giới tính 30
Hình 3.16 Đồ thị biểu diễn mức tăng vòng đầu của trẻ em từ 3 – 5 tuổi 31
Hình 3.17 Biểu đồ thể hiện chỉ số BMI của trẻ 3 – 5 tuổi theo tuổi và giới tính 32
Hình 3.18 Đồ thị biểu diễn mức giảm BMI của trẻ 3 – 5 tuổi 33
Trang 8em luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm Muốn thực hiện tốt nhiệm vụ này cần nắm chắc đặc điểm về thể lực, trí tuệ và tâm sinh lý của trẻ em
Hình thái, thể lực là những đặc điểm phản ánh một phần thực trạng của
cơ thể Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy các chỉ số hình thái thể lực của con người thay đổi và phụ thuộc vào các kỳ điều tra, điều kiện kinh tế xã hội, môi trường tự nhiên Đáng kể nhất là chế độ dinh dưỡng, quá trình luyện tập thể dục thể thao, thực trạng ô nhiễm môi trường,… Do đó, việc nghiên cứu các chỉ số hình thái thể lực của con người nói chung, của trẻ em nói riêng cần được tiến hành thường xuyên và có sự tổng kết trong một khoảng thời gian nhất định
Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao Theo đó các chỉ số sinh học của con người cũng có sự thay đổi theo thời gian và theo lứa tuổi Việc nghiên cứu các chỉ số về hình thái thể lực liên quan đến sự sinh trưởng của trẻ mẫu giáo là cần thiết Nó cung cấp dẫn liệu cho công tác nuôi dạy trẻ em ở bậc mầm non, cũng như tạo
cơ sở khoa học để đề xuất các biện pháp hữu hiệu nhằm phát triển thế hệ tương lai của đất nước một cách tốt nhất
nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về hình thái thể lực của người Việt Nam Tuy nhiên, những nghiên cứu trên đối tượng trẻ em lứa tuổi
Trang 92
Phúc chưa có đề tài nào nghiên cứu các chỉ số hình thái thể lực của trẻ Là một giáo viên Mầm non tương lai tôi rất quan tâm đến vấn đề sự tăng trưởng
của trẻ nên tôi chọn đề tài: “Điều tra một số chỉ số hình thái, thể lực của trẻ
từ 3 – 5 tuổi tại trường mầm non Đống Đa – Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng một số chỉ tiêu sinh học của trẻ 3 – 5 tuổi ở trường mầm non Đống Đa – Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc
- Đề ra một số kiến nghị về chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu đạt được có thể làm cơ sở để góp phần tìm hiểu, đánh giá đặc điểm tăng trưởng của trẻ mẫu giáo 3 – 5 tuổi của Trường Mầm non Đống Đa, từ đó có phương pháp chăm sóc, giáo dục phù hợp để trẻ em phát triển toàn diện
Trang 103
NỘI DUNGChương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Khái quát về sự phát triển của trẻ từ 3 – 5 tuổi
Mỗi giai đoạn phát triển cá thể của con người có những đặc điểm riêng
về mặt cấu tạo và chức năng Chính các đặc điểm này đã xác định sự khác nhau trong quá trình phát triển giữa các lứa tuổi [10, 12]
có những đặc điểmriêng Đặc điểm trẻ em từ 3 – 5 tuổi là chiều cao và khối lượng cơ thể phát triển chậm hơn giai đoạn trước Tốc độ tăng vòng đầu và vòng ngực cũng chậm hơn [10]
Sự phát triển cơ thể trẻ em là một quá trình sinh học phức tạp trong đó tầm vóc, trọng lượng và kích thước cơ thể phát triển nhanh, đồng thời các cơ quan có sự hoàn thiện về chức năng Vì vậy, mà ở mỗi lứa tuổi trẻ đều có những đặc điểm phát triển và thể lực khác nhau
Tóm lại, chức năng sinh học và xã hội cơ bản của trẻ em lứa tuổi mầm non là sinh trưởng và phát triển [11]
1.2 Các chỉ số về thể lực của trẻ em lứa tuổi mẫu giáo
Thể lực là một chỉ tiêu dùng để đánh giá sức khoẻ, tầm vóc, sự tăng trưởng, phát triển và khả năng học tập, lao động của con người [10] Để đánh giá sự phát triển thể lực, người ta thường dùng các chỉ số về hình thái như chiều cao, cân nặng, vòng ngực, vòng đầu… Trong đó, ba chỉ số cơ bản là chiều cao đứng, cân nặng và vòng ngực đóng vai trò quan trọng nhất Từ các chỉ số cơ bản này, người ta có thể suy ra các chỉ số tổng hợp khác như chỉ số pignet, BMI [10, 12, 14]
Trang 114
Chiều cao của cơ thể là dấu hiệu được nhận xét sớm nhất trong hầu hết các lĩnh vực ứng dụng của nhân trắc học Chiều cao của mỗi người được quyết định bởi đặc điểm di truyền, giới tính và chịu ảnh hưởng nhất định của điều kiện sống [1, 6, 7, 16]
Ở trẻ em lứa tuổi mầm non, chiều cao phát triển rất nhanh, nhất là trong những năm đầu Chiều cao của các em tăng trung bình 7cm/năm ở giai đoạn
từ 1 đến 3 tuổi, và tăng trung bình 6 cm/năm từ 3 đến 6 tuổi [3, 5, 10]
Để theo dõi sự tăng trưởng về chiều cao ở trẻ em, có thể áp dụng công thức tính gần đúng chiều cao trung bình cho trẻ em trên một tuổi [10, 19]
X (cm) = 75 + 5.n
Trong đó: X: Chiều cao đứng (cm)
N: Số tuổi (năm)
75: Chiều cao trẻ 1 năm
5: Chiều cao tăng trung bình/năm
Cùng với chiều cao, cân nặng cũng được coi là một chỉ số quan trọng để đánh giá sự phát triển của cơ thể Cân nặng biểu thị mức độ và tỷ lệ giữa hấp thụ với tiêu hao năng lượng của con người So với chiều cao, cân nặng của cơ thể ít phụ thuộc vào yếu tố di truyền hơn mà có liên quan chủ yếu tới điều kiện dinh dưỡng [1, 8, 9, 13]
Thông thường ở cùng một lứa tuổi, những trẻ em cao hơn thường nặng cân hơn Trong vòng ba năm đầu, khối lượng cơ thể của các em tăng rất nhanh Từ 3 đến 5 tuổi, khối lượng cơ thể của các em tăng chậm hơn, tăng trung bình 1,5 kg/năm, nhưng tốc độ tăng tương đối đồng đều [3, 10]
Cân nặng của trẻ em trên một tuổi có thể tính gần đúng như sau:
X (kg) = 9 + 1,5 (n - 1) hay X = 9,5 + 2(n -1)
Trang 125
Trong đó: X: Cân nặng của trẻ trên một tuổi (kg)
9: Cân nặng của trẻ lúc một tuổi (kg) N: Số tuổi của trẻ (năm)
Vòng ngực và vòng đầu của trẻ em cũng là những chỉ số có ý nghĩa khi đánh giá sự phát triển cơ thể Vòng ngực và vòng đầu của trẻ em đều tăng nhanh ở giai đoạn từ 1 đến 3 tuổi, và tăng chậm hơn ở giai đoạn từ 3 đến 5 tuổi Vòng ngực nhỏ hơn vòng đầu lúc 1 tuổi, sau đó đuổi kịp và cao hơn [2]
Từ các chỉ số chiều cao đứng, cân nặng và vòng ngực có thể tính thêm được chỉ số pignet, BMI của cơ thể BMI được dùng để đánh giá mức độ gầy hay béo của một người [21, 22] Từ chỉ số pignet, có thể đánh giá thể lực theo thang phân loại của Nguyễn Quang Quyền và cs [14]
1.3 Những nghiên cứu về các chỉ số hình thái thể lực trên thế giới
Từ thế kỷ thứ XIII, Tenon đã coi cân nặng là một chỉ số quan trọng để đánh giá thể lực Mối quan hệ giữa hình thái với môi trường sống cũng đã được nghiên cứu tương đối sớm mà hiện đại cho nó là các nhà nhân trắc học Ludman, Nold và Volanski
Rudolf Martin là người đặt nền móng cho nhân trắc học hiện đại qua hai tác phẩm nổi tiếng “giáo trình nhân trắc học” và “Kim chỉ nam đo đạc cơ thể
và xử lí thống kê” Trong các công trình này ông đã đưa đề xuất một số phương pháp và dụng cụ đo đạc các kích thước của cơ thể cho đến nay vẫn được sử dụng
Sau Rudolf Martin đã có nhiều công trình bổ sung và hoàn thiện thêm các đề xuất của ông cho phù hợp với từng nước [11] Vấn đề nhân trắc học còn được thể hiện qua chương trình của P.N.Baskirov – “nhân trắc học”, Evan Dervael – “nhân trắc học” chương trình của Burak, A.M.Aruwxon Xong với sự phát triển của bộ môn di truyền sinh lí học, toán học,… Việc
Trang 136
nghiên cứu nhân trắc học ngày càng hoàn chỉnh và đa dạng hơn, vấn đề này được thể hiện qua các chương trình X.Galperin, Tomiemicz, Tarasov, Tommer, M.Sempe, G – Pedrom, M.P.Rog – Pegnot
Nghiên cứu cắt ngang là một hướng đi sâu nghiên cứu sự tăng trưởng về mặt hình thái, đó là nghiên cứu sự tăng trưởng của cơ thể và các đại lượng có thể đo lường được bằng kĩ thuật nhân trắc trong cùng một thời điểm Công trình đầu tiên trên thế giới cho thấy sự tăng trưởng một cách hoàn chỉnh ở các lứa tuổi từ 1 – 25 tuổi là một luận án tiến sĩ của Christian Fridrich Jumpert người Đức vào năm 1754
Nghiên cứu dọc của Philitbert Gueneaude Montbeilard [17] Thực hiện trên con trai mình từ năm 1959 – 1977 Đây là phương pháp rất tốt được ứng dụng cho đến ngày nay Sau đó còn có chương trình khác của Edwin Chadwick ở Anh, Calschule ở Đức, H.P.Bowditch ở Mỹ, Paul Godin ở Pháp,… Năm 1977, hiệp hội các nhà tăng trưởng học đã được thành lập đánh dấu một bước phát triển mới của việc nghiên cứu vấn đề này trên thế giới
1.4 Những nghiên cứu về các chỉ số hình thái thể lực ở Việt Nam
Ở Việt Nam, những công trình nghiên cứu đầu tiên về thể lực con người là của một số tác giả Mondiere (1875), Huard, Bogot (1938) và Đỗ Xuân Hợp (1943) (theo [12] Sau năm 1954, đã có nhiều tác giả tiến hành nghiên cứu các đặc điểm hình thái, giải phẫu, sinh lý của người Việt Nam Năm 1975, cuốn
“Hằng số sinh học của người Việt Nam” do giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng chủ biên được xuất bản Đây là một công trình khá hoàn chỉnh về các chỉ số sinh học, sinh lý, sinh hóa của người Việt Nam [18] Năm 1976 – 1989, Vũ Thị Chín nghiên cứu về các chỉ số phát triển sinh lý, tâm lý của trẻ em từ 0 đến 3 tuổi và
đã xây dựng được biểu đồ phát triển về chiều cao, cân nặng của trẻ [4]
Năm 1980, 1982, 1987, Đoàn Yên và cộng sự (cs) [20] nghiên cứu một
số chỉ số sinh học của người Việt Nam từ 3 đến 110 tuổi Phân tích kết quả
Trang 14Năm 1993, Nghiêm Xuân Thăng [15] đã tiến hành nghiên cứu 17 chỉ số hình thái của người Việt Nam từ 1 – 25 tuổi ở Nghệ Tĩnh Kết quả nghiên cứu cho thấy, các chỉ số về chiều cao, cân nặng, vòng ngực, vòng đầu… của cư dân Nghệ Tĩnh phần lớn thấp hơn so với các chỉ số này của dân cư vùng đồng bằng Bắc Bộ Tác giả còn nhận thấy, có sự khác biệt về các chỉ số hình thái thể lực theo giới tính Theo tác giả, điều kiện sống đã ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển các chỉ số hình thái của con người
Trong hai năm 1995 – 1996, Hàn Nguyệt Kim Chi và cs nghiên cứu trên
10339 trẻ em từ 1 – 36 tháng tuổi và 11985 trẻ em từ 37 – 72 tháng tuổi tại Hà Nội, Hà Tây, Hà Bắc, Ninh Bình, Nam Hà Kết quả cho thấy từ 5 đến 72 tháng tuổi, mức tăng chiều cao nhanh hơn so với mức tăng cân nặng [3]
Từ năm 1998 – 2002, Trần Thị Loan [11, 12] nghiên cứu trên trẻ em Hà Nội từ 6 – 17 tuổi cho thấy, các chỉ số chiều cao, cân nặng của trẻ em lớn hơn
so với các kết quả nghiên cứu của các tác giả từ những thập kỷ 80 trở về trước
và so với trẻ em Thái Bình, Hà Tây cùng thời điểm nghiên cứu Điều này chứng tỏ, điều kiện sống đã có ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển các chỉ số hình thái của trẻ em
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về các chỉ số thể lực trên người Việt Nam khá phong phú Các công trình có ít nhiều khác nhau nhưng cùng xác định được hình thái thể lực phụ thuộc vào điều kiện sống, địa bàn nghiên cứu, thời gian nghiên cứu và có sự biến đổi theo lứa tuổi, theo giới tính
Trang 158
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
tuổi 3 – 5 tuổi của trường mầm non Đống Đa – Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc Gồm
3 nhóm với 3 độ tuổi khác nhau từ 3 – 5 tuổi
nghiên cứu ở tình trạng khỏe mạnh không có dị tật về hình thể hoặc các bệnh mãn tính
nghiên cứu là 193 trẻ em, trong đó có 97 trẻ nữ và
thể hiện trong bảng sau:
Trang 169
- Chiều cao đứng: được đo bằng thước đo polymer có vạch chia chính xác đến 0,1 cm do Trung tâm thiết bị trường học, Bộ Giáo dục và Đào tạo sản xuất Để đo chính xác chiều cao cơ thể trẻ thì ta tiến hành đo như sau: Đo vào buổi sáng, khi đo thước dây căng thẳng áp sát vào tường nhà, vuông góc với mặt đất nằm ngang Trẻ không đi giày, dép, đứng quay lưng vào thước đo Hai gót chân áp sát nhau, mắt nhìn thẳng, tay bỏ thõng bên mình Đồng thời đảm bảo 4 điểm chẩm, lưng, mông, gót chạm vào thước đo Dùng thước vuông áp sát đỉnh đầu thẳng vuông góc với thước đo Chiều cao đứng được tính bằng centimet (cm) với hai số thập phân sau dấu phẩy
- Cân nặng: Được xác định bằng cân đồng hồ của Nhật Bản, có vạch chia đến 0,1 kg Đo xa bữa ăn, khi cân mỗi đối tượng chỉ mặc một bộ quần áo mỏng, không mang giày, dép, đứng yên ở vị trí giữa bàn cân, hai bàn chân hình chữ V Đơn vị đo trọng lượng cơ thể là kilogam (kg)
- Chỉ số BMI còn gọi là chỉ số khối cơ thể được tính theo công thức:
BMI = Cân nặng (kg) / [ chiều cao đứng (m)] 2
Đơn vị của chỉ số BMI: kg/m2
Trang 1711,4 – 17,4 14,0 – 17,0 13,9 – 16,8 Từ bách phân vị
thứ 5 – 85
Bình thường
17,4 – 18,3 17,0 – 17,8 16,8 – 17,9 Từ bách phân vị
thứ 85 – 95
Nguy cơ béo phì
14 – 17,2 13,7 – 16,8 13,5 – 16,8 Từ bách phân
vị thứ 5 – 85
Bình thường
17,2 – 18,3 16,8 – 18,0 16,8 – 18,2 Từ bách phân
vị thứ 85 – 95
Nguy cơ béo phì
> 18,3 >18,0 > 18,2 phân vị thứ 95 Trên bách Béo phì
2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu
- Các số liệu được xử lý theo toán xác xuất thống kê dùng trong y, sinh học Việc tính toán số liệu được thực hiện trên máy tính bằng phần mềm
Trang 1811
Microsoft Excel 2007, phần mềm R i386 3.0.0 Các số liệu đƣợc nhập đầy đủ
sẽ đƣợc máy tính xử lý để tính: Giá trị trung bình (X), độ lệch chuẩn (SD), p
n
2
) (
Trang 1912
NGHIÊN CỨU
em 3.1.1.Chiều cao của trẻ em nam
Kết quả nghiên cứu chiều cao của trẻ em nam từ 3 – 5 tuổi đƣợc thể hiện
(1)
Min (2)
(1) - (2)
Trang 20quy luật phát triển chung ở trẻ em
Mức độ khác nhau về chiều cao giữa trẻ em nam cao nhất với trẻ em
Tỉ lệ trẻ em nam có chiều cao nằm trong khoảng giá trị trung bình ở các lứa tuổi là 65,75% Tỉ lệ này thấp nhất là 64,72% lúc 4 tuổi và cao nhất là 70,97 3 tuổi Điều này chứng tỏ, trong cùng một độ tuổi, chiều cao của trẻ em nam chƣa thực sự đồng đều
3.1.2 Chiều cao của trẻ em nữ
Kết quả nghiên cứu chiều cao của trẻ em nữ lứa tuổi mầm non từ 3 – 5
tuổi đƣợc thể hiện qua bảng 3.2 và hình 3.2
Bảng 3.2 Chiều cao của trẻ em nữ từ 3 – 5 tuổi
Trang 2114
, lúc 3 tuổi là 93,59 ± 5,01 cm và lúc 5 tuổi là 107,16 ± 4,22 cm, tăng trung bình 6,78 cm/năm Tuy nhiên, tốc độ tăng chiều cao của trẻ em
nữ không đều qua các năm Chiều cao của trẻ em nữ tăng nhanh nhất ở giai đoạn từ 3 đến 4 tuổi (tăng 7,46 cm/năm) và tăng chậm hơn ở giai đoạn từ 4 đến 5 tuổi (tăng 6,11 cm/năm) Điều này phù hợp với quy luật phát triển
chung ở trẻ em
Mức độ khác nhau về chiều cao giữa trẻ em nữ cao nhất với trẻ em nữ
có chiều cao nằm trong khoảng giá trị trung bình ở các lứa tuổi là 66,98%
lúc 3 tuổi 65,63% Điều này cho thấy, trong cùng một độ tuổi, chiều cao của trẻ em chƣa thực sự đồng đều
93.59
101.05
107.16
80 100 120
Chiều cao (cm)
Tuổi
Hình 3.2 Biểu đồ thể hiện chiều cao của trẻ em nữ từ 3 – 5 tuổi
Trang 2215
3.1.3 So sánh chiều cao của trẻ em theo tuổi và giới tính
Kết quả so sánh chiều cao của trẻ em lứa tuổi mầm non từ 3 – 5 tuổi theo
tuổi và giới tính đƣợc thể hiện qua bảng 3.3 và hình 3.3, 3.4
Bảng 3.3 Chiều cao của trẻ 3 – 5 tuổi theo tuổi và giới tính
trẻ em nữ Mức độ chênh lệch dao động từ 0,83 – 1,86 cm Sự khác biệt về
Tuy nhiên mức độ chênh lệch không đáng kể Điều này cho thấy, từ 3 – 5 tuổi chƣa có sự khác biệt nhiều về tốc độ phát triển chiều cao giữa nam và nữ