bệnh cao và thấy rằng tỷ lệ và mức độ cận thị và loạn thị thấp hơn khi điều trịbằng laser võng mạc [16],[17].. Hình thái nặng diễn ra ởcực sau của đáy mắt vùng I và nửa sau vùng II, với
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Tật khúc xạ là nguyên nhân hàng đầu gây giảm thị lực ở trẻ em tạinhiều nước trên thế giới cũng như tại Việt Nam, kể cả các nước đang pháttriển và các nước phát triển Theo nghiên cứu của Mau tại Chi Lê, Zhao tạiTrung Quốc và Pokharel tại Nê Pan (2000), tật khúc xạ chiếm hơn 50%nguyên nhân gây giảm thị lực ở trẻ em từ 5 đến 15 tuổi [1],[2],[3]
Tỷ lệ và mức độ tật khúc xạ ở trẻ đẻ non cao hơn so với trẻ đủ tháng[4],[5],[6] Trong quá trình khám, điều trị và theo dõi nhiều tác giả nhận thấy,tật khúc xạ ở trẻ bị bệnh võng mạc trẻ đẻ non (BVMTĐN) cao hơn ở trẻ đẻnon không bị bệnh hoặc bệnh tự thoái triển, đặc biệt là cận thị [7],[8],[9],[10],[11] Tình trạng khúc xạ của trẻ đủ tháng chủ yếu là chính thị và viễn thịchiếm 93,3%, tỷ lệ cận thị rất thấp 6,7%, ở trẻ đẻ non tỷ lệ cận thị là 33% [6],trong khi đó theo Al-Otaibi trẻ bị BVMTĐN phải điều trị laser, tỷ lệ cận thịcao hơn rất nhiều chiếm 64%, viễn thị 29% chỉ có 7% chính thị [12]
Cơ chế cận thị đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi nhưng phần lớn các tácgiả đều đồng tình với nhận định tỷ lệ và mức độ cận thị của BVMTĐN liênquan đến mức độ nặng nhẹ của bệnh (trẻ bị bệnh càng nặng thì tỷ lệ và mức
độ cận thị càng cao) [8],[13],[14] Tật khúc xạ ở trẻ đẻ bị BVMTĐN còn ảnhhưởng bởi phương pháp điều trị Điều trị bằng laser quang đông có tỷ lệ vàmức độ cận thị thấp hơn phương pháp lạnh đông [14],[15] Theo Knight -Nanan, trẻ bị bệnh được điều trị bằng laser có tỷ lệ cận thị là 45,5% và không
có trường hợp nào bị cận thị cao trên -6D, trong khi đó trẻ được điều trị bằnglạnh đông tỷ lệ cận thị là 91,1% và tỷ lệ cận thị cao trên -6D là 55% [14]
Trong những năm gần đây, trên thế giới, nhiều tác giả đã sử dụng tiêmAvastin nội nhãn để điều trị trẻ bị BVMTĐN hình thái nặng cho kết quả khỏi
Trang 2bệnh cao và thấy rằng tỷ lệ và mức độ cận thị và loạn thị thấp hơn khi điều trịbằng laser võng mạc [16],[17]
Ở Việt Nam, với những tiến bộ trong hồi sức sơ sinh, tỷ lệ trẻ đẻ nonthiếu tháng được cứu sống ngày càng tăng đặc biệt trẻ có tuổi thai và cânnặng rất thấp nên trẻ bị BVMTĐN hình thái nặng cần điều trị bằng tiêmAvastin nội nhãn ngày càng tăng Từ năm 2010, tác giả Nguyễn Xuân Tịnhbắt đầu thử nghiệm tiên Avastin nội nhãn cho trẻ bị BVMTĐN hình thái nặngtuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu nào đánh giá về tật khúc xạ sau tiêmAvastin nội nhãn
Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tình trạng khúc xạ ở trẻ bị bệnh võng mạc trẻ đẻ non được điều trị bằng tiêm Avastin nội nhãn sau 3 năm” nhằm hai mục tiêu:
1 Đánh giá tình trạng khúc xạ ở trẻ bị bệnh võng mạc trẻ đẻ non được điều trị bằng tiên Avastin sau 3 năm.
2 Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tật khúc xạ ở trẻ được điều trị bằng tiêm Avastin nội nhãn.
Trang 3Bán phần trước của nhãn cầu phát triển nhanh trong giai đoạn sơ sinh vàđạt tỷ lệ gần như người lớn vào cuối năm thứ hai Sự thay đổi công suất giácmạc lớn nhất là trong vòng một năm đầu Không như các phần còn lại củanhãn cầu vẫn tiếp tục phát triển, công suất thể thủy tinh giảm dần từ 3 đến 14tuổi do sự phát triển của thể thủy tinh theo xu hướng dẹt dần
Trục nhãn cầu trải qua hai giai đoạn phát triển là giai đoạn sơ sinh (kếtthúc vào lúc 3 tuổi) và giai đoạn thiếu niên (kết thúc vào lúc 14 tuổi) Chiềudài trục nhãn cầu trung bình trong giai đoạn sơ sinh tăng từ 18 đến 22,8mm,trong giai đoạn thiếu niên chiều dài trục nhãn cầu chỉ tăng 1mm và mắt đạtđược chiều dài đầy đủ như mắt người lớn vào lúc 14 tuổi [18]
Quá trình chính thị hóa là sự tác động qua lại giữa các yếu tố liên quan đếnkhúc xạ của mắt Quá trình chính thị hóa vẫn chưa biết được một cách rõ ràng
Trang 4nhưng có một điểm nổi bật là khả năng kiểm soát của mắt để duy trì một tìnhtrạng khúc xạ gần sát tình trạng chính thị cho dù các thành phần cấu tạo quang
hệ mắt chịu nhiều biến đổi trong khi cơ thể phát triển Giác mạc và độ sâu tiềnphòng đóng góp một phần trong quá trình này thông qua sự bù đắp phần nào hậuquả giảm sút gây ra bởi sự gia tăng chiều dài trục nhãn cầu Biến đổi thể thủytinh bao gồm giảm độ dầy và độ cong của các bề mặt và thay đổi chỉ số khúc xạđược xem là góp phần lớn trong quá trình chính thị hóa, đáp ứng phần lớn sự giatăng chiều dài trục nhãn cầu trong quá trình phát triển
Ở trẻ đủ tháng, quá trình chính thị hóa hoàn thành được 82% trong nămđầu tiên của cuộc đời Trong quá trình này sự phát triển theo chiều dài củakhoang dịch kính được cân bằng bởi sự giảm sút của công suất giác mạc khi mớisinh từ 51D xuống 44D và công suất thể thủy tinh từ 40D xuống còn 27D lúc 12tháng tuổi [20],[21] Ở trẻ đủ tháng tật khúc xạ hay gặp là viễn thị và loạn thị,nhưng giảm nhanh chóng trong năm đầu tiên, cận thị rất thấp [6]
Quá trình chính thị hóa làm giảm tỷ lệ loạn thị và loạn thị ngược có thểchuyển thành loạn thị thuận và tỷ lệ lệch khúc xạ giữa hai mắt cũng giảm từ 25%lúc mới sinh xuống còn 4 - 8% lúc 1 tuổi [18]
Ở trẻ đẻ non, quá trình chính thị hóa bị dừng lại giữa chừng nên chỉ gây ra
sự giảm sút của tỷ lệ viễn thị, còn tỷ lệ cận thị thì vẫn tương tự như lúc sinh hoặctăng lên trong năm đầu tiên [22] Những bất thường gây nên tình trạng khúc xạ ởtrẻ đẻ non xảy ra đầu tiên ở bán phần trước bao gồm tăng công suất và độ dầythể thủy tinh, tăng độ cong giác mạc, giảm độ sâu tiền phòng, mỗi một yếu tốđều có thể góp phần vào quá trình tăng tỷ lệ cận thị [23],[19],[24] ,[ 25] Sự thayđổi của bán phần trước trong suốt một năm đầu sau sinh là quá đủ để cho cận thịphát triển [25] Do đó, tật khúc xạ hay gặp nhất ở trẻ đẻ non là cận thị
Trang 51.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng khúc xạ mắt
1.2.1 Giác mạc
Giác mạc có đường kính khoảng 11mm, bán kính độ cong là 7,7mm,mặt trước lồi có công suất hội tụ là +49D, mặt sau lõm có công suất phân kỳ-6D nên công suất hội tụ chung của giác mạc là +43D và chiếm 2/3 tổng côngsuất của toàn nhãn cầu Do vậy, bất kỳ một sự thay đổi về cấu trúc hay độcong giác mạc sẽ ảnh hưởng đến công suất khúc xạ của nhãn cầu Bán kínhcong giác mạc thay đổi 1 mm sẽ làm thay đổi độ tụ ± 6 D [18]
Khúc xạ giác mạc ở trẻ đẻ non cao hơn ở trẻ đủ tháng, trẻ đẻ càng nonthì khúc xạ giác mạc càng cao, có mối liên quan giữa khúc xạ giác mạc cao với
sự phát triển cận thị ở trẻ đẻ non, khúc xạ giác mạc ở trẻ đẻ non đạt được khúc
xạ như người lớn khi trẻ 3 tuổi [19],[24],[25] Theo De Silva và cộng sự(2011), khúc xạ giác mạc ở trẻ đẻ non 28 tuần là 60D, giảm thêm 8D khi trẻđược 3 tháng tuổi sau sinh, còn khúc xạ giác mạc ở trẻ đủ tháng là 51D [19]
Bảng 1.1 Khúc xạ giác mạc ở trẻ đẻ non theo tuổi thai và cân nặng [24]
Khúc xạ giác mạc theo kinh tuyến ngang
Khúc xạ giác mạc theo kinh tuyến đứng
p < 0,001
56,0 ± 2,9D52,7 ± 1,9D48,6 ± 1,8D
p < 0,001Tuổi thai khi sinh (tuần)
≤32 (n = 32)
32-36 (n = 37)
>36 (n = 30)
63,3 ± 3,2D58,3 ± 3,0D54,0 ± 3,0Dp<0,001
57,3 ± 2,6D53,9 ± 2,5D50,7 ± 2,4Dp< 0,001
Trang 6Như vậy, trẻ đẻ non có cân nặng và tuổi thai càng thấp có khúc xạ giácmạc càng cao, khúc xạ giác mạc theo kinh tuyến ngang cao hơn kinh tuyếnđứng và có thể yếu tố này có liên quan đến tình trạng loạn thị ở trẻ đẻ non [24].
Bán kính cong giác mạc ở trẻ đẻ non 32 tuần là 5,9 mm thấp hơn trẻ sơsinh đủ tháng là từ 6,6mm đến 7,4mm [10]
và chỉ số khúc xạ trong quá trình phát triển của thể thủy tinh sẽ làm thay đổikhúc xạ nhãn cầu và bù đắp cho sự gia tăng chiều dài trục nhãn cầu Thể thủytinh có một đặc điểm quan trọng là có thể thay đổi độ hội tụ thông qua điềutiết Khi điều tiết công xuất thể thủy tinh thay đổi từ +19D đến +35D do tínhchất co giãn của mô thể thủy tinh [18]
Độ dầy thể thủy tinh ở trẻ đẻ non lúc mới sinh thấp hơn trẻ đủ tháng, ởtrẻ đẻ non 33 tuần độ dầy thể thủy tinh là 3,82 ± 0,33mm và ở trẻ đủ tháng là3,9 ± 0,13mm [23] Tuy nhiên, trong quá trính phát triển về sau một số tác giảnhận thấy độ dầy thể thủy tinh ở trẻ đẻ non cao hơn trẻ đủ tháng cùng độ tuổiđặc biệt ở những trẻ đẻ non có cận thị [7],[26]
Choi và cộng sự (2000), độ dầy thể thủy tinh ở nhóm trẻ đẻ non bị cậnthị cao trên -6D là 4,01 ± 0,29mm cao hơn so với nhóm trẻ không bị cận thị là3,82 ± 0,32mm (p < 0,05) [7]
Trang 7Yang và cộng sự (2013) nhận thấy trẻ bị BVMTĐN được điều trị bằnglaser sau 9 năm có độ dầy thể thủy tinh là 3,94 ± 0,33mm cao hơn so vớinhóm trẻ đủ tháng cùng độ tuổi là 3,39 ± 0,24mm (p < 0,001) [27].
1.2.3 Trục nhãn cầu
Chiều dài trục nhãn cầu trung bình ở trẻ sơ sinh đủ tháng vào khoảng
16 - 18mm, đạt kích thước chuẩn 23,8 - 24mm khi trẻ 8 tuổi và ảnh hưởngđến công xuất khúc xạ toàn phần của nhãn cầu Chiều dài trục nhãn cầu tăng
từ 15,38 ± 0,25mm ở trẻ đẻ non 33 tuần lên 16,88 ± 0,59mm khi trẻ đủ tháng,trung bình chiều dài trục nhãn cầu tăng 0,18mm mỗi tuần [23] Theo Curtin(1985) chiều dài trục nhãn cầu là yếu tố quyết định và có sự liên quan rõ nétnhất đến tình trạng tật khúc xạ [28] Ở mắt chính thị khi chiều dài trục nhãncầu thay đổi 1mm sẽ thay đổi công xuất khúc xạ 3D Bằng phương pháp siêu
âm trong nhãn khoa người ta có thể xác định được chiều dài trục nhãn cầumột cách chính xác
Theo Choi và cộng sự (2000), trẻ đẻ non bị cận thị trên -6D có chiềudài trục nhãn cầu là 24,62 ± 1,39mm, cao hơn so với nhóm cận thị dưới -6D
là 22,56 ± 1,27mm và nhóm không bị cận thị là 21,85 ± 0,88mm và sự khácbiệt này có ý nghĩa thống kê [7]
1.2.4 Tiền phòng
Độ sâu tiền phòng được cho là không ảnh hưởng nhiều đến khúc xạ củanhãn cầu nhưng có tham gia một phần vào quá trình chính thị hóa của mắt thôngqua cơ chế bù đắp cho sự gia tăng chiều dài trục nhãn cầu
Độ sâu tiền phòng ở trẻ sơ sinh đủ tháng từ 2,3mm đến 2,7mm TheoO’Brien (1994), độ sâu tiền phòng ở trẻ đẻ non 33 tuần là 1,92 ± 0,13mm tănglên 2,43 ± 0,18mm như trẻ đủ tháng khi được 41 tuần tuổi [23] Choi và cộng sự(2000) nhận thấy, ở trẻ đẻ non mắt bị cận thị trên -6D có tiền phòng nông hơn
Trang 8mắt bị cận thị dưới -6D và mắt không bị cận thị [7] Theo Yang và cộng sự(2010), trẻ bị BVMTĐN được điều trị bằng laser sau 9 năm có độ sâu tiền phòng
là 2,92 ± 0,35mm nông hơn so với trẻ đủ tháng cùng độ tuổi là 3,58 ± 0,35mm(p < 0,001) [27]
Có hai loại cận thị:
+ Cận thị trục: Do trục nhãn cầu quá dài
+ Cận thị khúc xạ: Do công xuất khúc xạ của hệ quang học mắt cao
và chiều dài của trục nhãn cầu bình thường
Trang 91.3.1.2 Viễn thị
Hình 1.2 Mắt viễn thị
Mắt viễn thị có công suất quang học không đủ so với độ dài trục nhãncầu Ở mắt viễn thị không điều tiết, các tia sáng của một vật ở vô cực sẽ hội tụ
ở phía sau võng mạc, càng di chuyển dần về phía mắt ảnh của vật càng lùi ra
xa sau võng mạc Như vậy, về lý thuyết viễn thị không nhìn rõ vật dù vật ởbất kỳ vị trí nào trước mắt Nhờ có chức năng điều tiết làm tăng công suấtquang học của mắt kéo ảnh từ phía sau về hội tụ trên võng mạc Nếu viễn thịnhẹ, độ viễn thị nhỏ hơn biên độ điều tiết, ảnh của vật ở vô cực được kéo lênđúng võng mạc và mắt nhìn rõ các vật ở vô cực nhờ điều tiết Nếu viễn thịnặng, độ viễn thị lớn hơn độ điều tiết nên mắt dù có điều tiết hết sức cũngkhông thể kéo ảnh lên võng mạc được
Trang 101.3.2 Tật khúc xạ không hình cầu (loạn thị)
Hình 1.3 Mắt loạn thị
Mắt loạn thị có sự thay đổi độ cong giác mạc hoặc thể thủy tinh ở cáckinh tuyến khác nhau làm cho các tia sáng không hội tụ ở một điểm duy nhất
mà hội tụ trên hai đường tiêu Đường tiêu trước là của kinh tuyến có độ khúc
xạ cao hơn và đường tiêu sau là của kinh tuyến có độ khúc xạ thấp hơn Mắtloạn thị nhìn các vật bị biến dạng, mức độ biến dạng tùy thuộc vào mức độloạn thị Về lý thuyết không có mắt nào là hoàn toàn không loạn thị nhưngtrên thực tế lâm sàng gọi là loạn thị khi có rối loạn về chức năng thị giác màbệnh nhân cảm nhận được Loạn thị hầu hết do giác mạc, người ta chia làmloạn thị đều và loạn thị không đều Trong loạn thị đều các kinh tuyến chínhcủa loạn thị có hướng không đổi ở mọi điểm qua đồng tử và mức độ loạn thịbằng nhau ở mỗi điểm Trong loạn thị không đều, các kinh tuyến chính củaloạn thị thay đổi giữa các điểm qua đồng tử và mức độ loạn thị thay đổi từđiểm này sang điểm khác
1.4 Khúc xạ hai mắt không đều nhau.
Là sự lệch khúc xạ hai mắt từ 2D trở lên bất kể là tật khúc xạ cầu hayloạn thị Tuy nhiên, ở trẻ nhỏ mức chênh lệch khúc xạ dưới 2D cũng có ýnghĩa vì có thể gây ra nhược thị Theo một số tác giả, lệch khúc xạ trong tật
Trang 11khúc xạ cầu từ 1,5D trở lên đã có thể gây nhược thị ở mắt có tật khúc xạ caohơn, nhưng nếu cả hai mắt đều loạn thị thì chỉ cần lệch khúc xạ 1D đã có thểdẫn đến nhược thị [9],[18].
1.5 Bệnh võng mạc trẻ đẻ non.
BVMTĐN là tình trạng bệnh lý tại mắt do sự phát triển bất thường củamạch máu võng mạc ở trẻ đẻ non BVMTĐN là nguyên nhân chủ yếu gâygiảm thị lực ở trẻ em, chiếm 15% tổng số ca mù ở các nước phát triển và lêntới 60% ở các nước đang phát triển [29]
1.5.1 Phân loại quốc tế về BVMTĐN.
Phân loại quốc tế BVMTĐN (1984) căn cứ vào các yếu tố như vị trí,phạm vi tổn thương, giai đoạn tiến triển và mức độ giãn của mạch máu võngmạc ở hậu cực [30]
Vị trí :
Để khu trú vị trí của tổn thương người ta phân chia võng mạc làm 3 vùng:
Hình 1.4 Sơ đồ phân chia võng mạc theo 3 vùng và theo số múi giờ
- Vùng I: là vùng võng mạc xung quanh gai thị có bán kính bằng 2 lầnkhoảng cách từ gai thị đến hoàng điểm
Trang 12- Vùng II: là vùng võng mạc hình vành khăn đồng tâm với vùng I tớitận bờ trước của võng mạc (ora serrata) phía mũi
- Vùng III: là vùng võng mạc hình lưỡi liềm còn lại phía thái dương
Phạm vi:
Được mô tả bằng số múi giờ đồng hồ võng mạc bị tổn thương (hình 1.4) Giai đoạn bệnh:
Dựa vào mức độ tiến triển của bệnh người ta phân chia bệnh ra làm 5
giai đoạn với những đặc điểm tổn thương khác nhau
- Giai đoạn 1: Đặc trưng bằng một đường ranh giới màu trắng giữa vùng
VM vô mạch ở phía trước với vùng võng mạc có mạch máu ở phía sau
- Giai đoạn 2: Đường ranh giới đã nhìn thấy rõ và phát triển khỏi bề mặtvõng mạc, tạo thành một đường gờ màu trắng hoặc hồng
- Giai đoạn 3: Tổ chức xơ bắt đầu xuất hiện ngay tại đường ranh giới.
- Giai đoạn 4: Bong võng mạc chưa hoàn toàn
+ Giai đoạn 4A: Bong võng mạc chưa lan tới vùng hoàng điểm, chứcnăng mắt có thể chưa bị tổn hại nhiều
+ Giai đoạn 4B: Bong võng mạc rộng hơn lan tới cả võng mạc vùnghoàng điểm, khi đó chức năng thị giác bị giảm một cách rõ rệt
- Giai đoạn 5: Bong võng mạc toàn bộ, võng mạc bị bong và cuộn lại códạng hình phễu
Bệnh võng mạc cộng ( plus disease): là BVMTĐN ngoài các tổn thương đặc
trưng ở vùng võng mạc ngoại vi, còn có thêm một dấu hiệu quan trọng ở vùnghậu cực là hiện tượng giãn và ngoằn ngoèo của mạch máu võng mạc xungquanh gai thị
Trang 13Hình thái nặng của BVMTĐN:
Năm 2005, phân loại quốc tế BVMTĐN đã mô tả thêm hình nặng nhấtcủa bệnh với tên gọi: BVMTĐN hung hãn cực sau Hình thái nặng diễn ra ởcực sau của đáy mắt (vùng I và nửa sau vùng II), với các biểu hiện mạch máudãn to, ngoằn ngoèo làm cho khó phân biệt giữa động mạch và tĩnh mạch,nhiều mạch máu bất thường tạo ra các búi tân mạch, có thể kèm theo xuấthuyết ở ranh giới giữa vùng võng mạc có mạch với vùng võng mạc vô mạch Những thay đổi này diễn ra nhanh chóng, thường ở toàn chu vi võng mạc, bệnh
có thể tiến triển thẳng đến giai đoạn 5 nếu không được điều trị kịp thời [31]
1.5.2 Các phương pháp điều trị.
Lạnh đông vùng võng mạc vô mạch được đề xuất vào năm 1972 ở NhậtBản Người ta cho rằng lạnh đông làm phá hủy vùng võng mạc thiếu máu sẽlàm giảm việc tạo thành các yếu tố thích tạo ra tân mạch (VEGF), nhờ vậy đãngăn chặn được sự tiến triển của bệnh [32]
• Quang đông điều trị BVMTĐN bằng laser.
Từ những năm 90 cho đến ngày nay, BVMTĐN chủ yếu được điều trịbằng laser Chùm tia laser được bắn xuyên qua đồng tử lên võng mạc làmhoại tử khô vùng võng mạc vô mạch, làm võng mạc thiếu máu không tiết rachất VEGF nhờ đấy ngăn chặn được sự phát triển của bệnh [14]
• Điều trị BVMTĐN bằng tiêm Avastin nội nhãn.
Trong BVMTĐN, các tế bào Astrocytes và Muller của vùng võng mạcthiếu máu tiết ra VEGF, VEGF tăng cao trong dịch kính gây tăng sinh tânmạch bất thường Avastin có tác dụng ức chế hoạt tính sinh học của VEGFlàm cho tân mạch thoái triển [33],[34]
Trang 14Trong nhãn khoa, Avastin được sử dụng với với liều rất nhỏ(0,625mg/0,025ml), lượng thuốc từ buồng dịch kính ra tuần hoàn máu toànthân là vô cùng thấp (195 ± 324 ng/ml) nên chưa thấy có tác dụng phụ lêntoàn thân được ghi nhận [17],[33],[34] Những tác dụng phụ của thuốc tại mắtđược ghi nhận như tăng nhãn áp, đục thể thủy tinh, đục giác mạc, xuất huyếttrước võng mạc nhưng với tỷ lệ rất thấp [17].
Năm 2011, Mintz-Hittner, Mỹ, công bố kết quả công trình nghiên cứu thửnghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng với 286 mắt bị BVMTĐN hình tháinặng, tác giả nhận thấy tỷ lệ khỏi bệnh ở nhóm được điều trị bằng tiêm Avastinnội nhãn cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm điều trị bằng laser, tỷ lệ táiphát ở nhóm điều trị bằng laser là 22% cao hơn nhiều so với nhóm điều trị bằngtiêm Avastin nội nhãn là 4% Cũng trong nghiên cứu này, có 3 mắt trong nhómđiều trị bằng laser gặp biến chứng đục thể thủy tinh, trong khi nhóm điều trịbằng tiêm Avastin nội nhãn chỉ có 1 mắt bị đục thể thủy tinh có hồi phục [35]
Trái ngược với tình trạng tật khúc xạ ở trẻ đủ tháng, tật khúc xạ haygặp nhất ở trẻ đẻ non là cận thị
Trang 15Bảng 1.2 Tỷ lệ và mức độ cận thị ở trẻ đẻ non theo các tác giả khác nhau.
Tỷ lệ (%) TB ± SD (D)
Chen (2014) [38]
Điều trị bằng Avastin 47,5 -0,98 ± 4,05Điều trị Avastin + laser 82,4 -2,40 ± 3,13Điều trị Avastin +
Cắt dịch kính 100 -14,38 ± 6,02Harder (2013)
[16]
Điều trị bằng Avastin -1,04 ± 4,24Điều trị laser -4,41 ± 5,5Yang (2010) [26] Điều trị laser 77,0 -3,87 ± 4,78
Vũ Bích Thủy
(2010) [9]
BVMTĐN điều trị laser 61,1 -4,87BVMTĐN thoái triển 16,6 -2,22Nissenkorn (1983)
[8] Đẻ non không bị bệnh 15,9 -1,5
Như vậy, trong các nghiên cứu đều cho thấy trẻ bị BVMTĐN đượcđiều trị bằng tiêm Avastin nội nhãn có tỷ lệ và mức độ cận thị thấp hơn ở trẻđiều trị bằng laser võng mạc hoặc điều trị phối hợp bằng tiêm Avastin vớilaser võng mạc hoặc tiêm Avastin với cắt dịch kính [9],[16],[26],[38] Tuynhiên, tỷ lệ cận thị ở trẻ điều trị bằng tiêm Avastin nội nhãn vẫn cao hơn sovới trẻ đẻ non không bị bệnh hoặc bị bệnh nhưng tự thoái triển [8],[9]
Mức độ loạn thị ở trẻ đẻ non được điều trị bằng tiêm Avastin nội nhãntheo Wu (2013) là -2,1 ± 1,1D [17] và Chen (2014) là -2,23 ± 1,53D [38]cũng thấp hơn khi điều trị bằng laser võng mạc theo Yang (2013) là -2,89 ± 1,22D [27]
1.6.2 Các yếu tố liên quan đến TKX ở trẻ có BVMTĐN.
1.6.2.1 Cân nặng và tuổi thai khi sinh.
Nghiên cứu O’ Connor (2006) chỉ ra rằng, có mối liên quan giữa tậtkhúc xạ với tuổi thai và cân nặng khi sinh của trẻ Tuổi thai càng thấp tỷ lệ và
Trang 16mức độ cận thị càng cao, cận thị ≥ -3D gặp ở nhóm trẻ có có tuổi thai 28,6 ±2,06 tuần còn cận thị < -3D gặp ở nhóm trẻ có tuổi thai cao hơn là 31,3 ± 3,68tuần [39].
Theo Nissenkorn và cộng sự (1983), cận thị hay gặp nhất ở nhóm cócân nặng khi sinh thấp từ 700-1350g và mức độ cận thị ở nhóm cân nặng thấpcao hơn nhóm cân nặng cao, nhóm cân nặng khi sinh < 1000g có mức độ cậnthị trung bình là -5,73D cao hơn nhóm cân nặng từ 1001-1250 là -4,02D vànhóm cân nặng > 1250g là -2,63D [8]
1.6.2.2 Mức độ nặng nhẹ của bệnh.
Theo Geloneck và cộng sự (2014), nghiên cứu tật khúc xạ trẻ bịBVMTĐN hình thái nặng được điều trị bằng tiêm Avastin nội nhãn hoặc lasernhận thấy, trong cả hai phương pháp điều trị trẻ bị bệnh vùng I có khúc xạtương đương cầu cao hơn trẻ bị bệnh ở vùng II, ở nhóm điều trị bằng tiêmAvasstin nội nhãn trẻ bị bệnh ở vùng I có khúc xạ tương đương cầu là -1,51 ±3,42D cao hơn trẻ bị bệnh ở vùng II là -0,58 ± 2,53D, ở nhóm điều trị bằnglaser võng mạc những trẻ bị bệnh ở vùng I có khúc xạ tương đương cầu là-8,44 ± 7,57D cao hơn nhiều so với những trẻ bị bệnh ở vùng II là -5,83 ±5,87D [40]
Theo O’Connor (2006), tỷ lệ và mức độ cận thị tăng theo giai đoạnbệnh cũng như tình trạng nặng nhẹ của bệnh Bệnh càng nặng, phạm vi tổnthương càng rộng khả năng bị cận thị càng cao Trẻ đẻ non bị bệnh ở giaiđoạn 1 có tỷ lệ cận thị là 9,5% và cận thị cao trên -3D là 1,2%, bị bệnh ở giaiđoạn 2 có tỷ lệ cận thị 15,8% và cận thị trên -3D là 2,6% trong khi đó trẻ bịbệnh ở giai đoạn 3 hoặc 4 có tỷ lệ cận thị là 66,6% và cận thị cao trên -3D là33,3% [39]
Trang 17Khi nghiên cứu tật khúc xạ ở 261 trẻ đẻ non ≤ 1500g, Al Oum (2014)nhận thấy, nhóm trẻ bị BVMTĐN mức độ nhẹ có tỷ lệ cận thị thấp hơn vớinhóm trẻ bị BVMTĐN mức độ nặng tương ứng là 18% với 40,6% Không cótrẻ nào bị BVMTĐN mức độ nhẹ mắc cận thị cao trên -6D trong khi đó nhóm
bị BVMTĐN mức độ nặng tỷ lệ cận thị cao trên -6D chiếm 15% [41]
1.6.2.3 Phương pháp điều trị.
Phương pháp điều trị cũng có mối liên quan chặt chẽ với tình trạngTKX ở trẻ bị BVMTĐN Hầu hết các nghiên cứu đều nhận thấy trẻ bị bệnhđiều trị bằng tiêm Avastin nội nhãn có tỷ lệ, mức độ cận thị thấp hơn điều trịbằng laser võng mạc, điều trị bằng laser võng mạc lại thấp hơn điều trị bằnglạnh đông
Trong những năm gần đây, nhiều nhà nhãn khoa trên thế giới đã điềutrị BVNTĐN hình thái nặng bằng phương pháp tiêm Avastin nội nhãn.Avastin có tác dụng ức chế hoạt tính sinh học của VEGF mà không phá hủyvùng võng mạc vô mạch, sau khi tiêm Avastin tân mạch và xơ sẽ dần dần tiêu
đi, mạch máu võng mạc sẽ tiếp tục phát triển ra vùng võng mạc vô mạch ởchu biên, biến vùng võng mạc vô mạch bị bệnh thành võng mạc lành
Harder và cộng sự (2013) so sánh tật khúc xạ giữa nhóm điều trị bằngtiêm Avastin nội nhãn với nhóm điều trị bằng laser võng mạc nhận thấy, mức
độ cận thị ở nhóm điều trị bằng tiêm Avastin là -1,04 ± 4,24D thấp hơn so vớinhóm điều trị bằng laser võng mạc là -4,41 ± 5,50D, mức độ loạn thị trungbình ở nhóm tiêm Avastin là -1,0 ± 1,04D cũng thấp hơn so với nhóm điều trịbằng laser võng mạc là -1,82 ± 1,41D [16]
Bảng 1.3: Tật khúc xạ ở trẻ bị BVMTĐN theo phương pháp điều trị [38]
Điều trị
Tật khúc xạ Avastin
Avastin + Laser
Avastin + Cắt
Khúc xạ tương
Trang 18-2,4 ± 3,13D82,4%
29,4%
-14,38 ± 6,02D100%
100%
0,001
< 0,0010,001Loạn thị:
-Trung bình
- Loạn thị >1,5D
- Loạn thị thuận
2,23 ± 1,53D65%
85%
2,32 ± 1,1D82,4%
94,1%
3,11 ± 1,54D100%
85,5% 0,0970.681Như vậy, trong nhóm điều trị bằng tiêm Avastin nội nhãn đơn thuần cókhúc xạ tương đương cầu trung bình, tỷ lệ cận thị và tỷ lệ cận thị cao trên -5Dthấp hơn ở hai nhóm điều trị phối hợp bằng tiêm Avastin với laser võng mạchoặc tiêm Avasin với cắt dịch kính Mức độ loạn thị cao trên 1,5D ở nhómđiều trị bằng tiêm avastin nội nhãn cũng thấp hơn ở hai nhóm còn lại và ở cả
3 nhóm loạn thị thuận chiếm tỷ lệ cao nhất
Việc điều trị bằng laser hay lạnh đông đều tác động vào vùng võng mạc
vô mạch phía trước gờ xơ với mục đích phá hủy hoàn toàn vùng võng mạcbệnh lý để ngăn chặn sự tiến triển của bệnh Tuy nhiên, phương pháp lạnhđông gián tiếp qua thành củng mạc gây hiệu ứng phá hủy mạch, làm giãn, yếucủng mạc trong khi đó laser tác động trực tiếp lên vùng võng mạc vô mạchnên mức độ phá hủy võng mạc ít hơn, tỷ lệ và mức độ cận thị khi điều trịbằng laser thấp hơn khi điều trị bằng lạnh đông
So sánh tật khúc xạ ở trẻ bị BVMTĐN đến ngưỡng được điều trị bằnglạnh đông và laser sau 10 năm, Conolly và cộng sự (2002) nhận thấy, khúc xạtương đương cầu ở nhóm điều trị bằng lạnh đông là -7,56D cao hơn điều trịbằng laser là -4,48D Nhóm điều trị bằng lạnh đông có trục nhãn cầu ngắnhơn, tiền phòng nông hơn và độ dầy thể thủy tinh dầy hơn ở nhóm điều trịbằng laser Ở cả hai nhóm, có mối liên quan chặt chẽ giữa công suất thể thủy
Trang 19tinh với tật khúc xạ tuy nhiên không có mối liên quan giữa công suất giác mạcvới mức độ cận thị [15].
1.6.2.4 Mức độ thoái triển và số lần điều trị.
Mức độ thoái triển của bệnh và số lần điều trị cũng ảnh hưởng rất lớnđến tình trạng tật khúc xạ ở trẻ có BVMTĐN
Geloneck và cộng sự (2014), so sánh tình trạng khúc xạ ở trẻ bịBVMTĐN được điều trị bằng tiêm Avastin nội nhãn và điều trị bằng laserthấy rằng, nhóm điều trị bằng tiêm Avastin một lần bệnh đã thoái triển cókhúc xạ tương đương cầu là -1,36 ± 3,34D thấp hơn ở nhóm phải tiêmAvastin bổ sung lần 2 là -5,25 ± 4,6D Ở nhóm điều trị bệnh bằng laser võngmạc lần đầu tiên đã thoái triển có khúc xạ tương đương cầu là -7,34 ± 7,44Dcũng thấp hơn ở nhóm phải điều trị laser bổ xung lần 2 là -11,61 ± 7,42D Cứmỗi 100 nốt laser thì mức độ cận thị lại tăng lên -0,14 ± 0,05D Ở nhóm điềutrị bằng tiêm Avastin hoặc laser lần 2 có tỷ lệ cận thị cao trên -5D lần lượt là25% là 76,5% cao hơn ở nhóm chỉ cần điều trị một lần là thoái triển [40]
Theo Shani và cộng sự (2005), đánh giá khúc xạ sau 3 năm ở trẻ cóBVMTĐN giai đoạn 3 tự thoái triển và phải điều trị bằng laser cho thấy, nhómmắt bị bệnh phải điều trị có tỷ lệ cận thị cao hơn ở nhóm tự thoái triển Tỷ lệcận thị cao trên -5D ở nhóm mắt có bệnh tự thoái triển là 5,8% thấp hơn nhómđiều trị bằng laser là 29,6% và nhóm điều trị bằng lạnh đông là 52,5% Khúc xạtương đương cầu ở nhóm bệnh tự thoái triển là -0,22D cũng thấp hơn so vớinhóm điều trị bằng laser là -2,4D và điều trị bằng lạnh đông là -6,5D [42]
1.6.2.5 Thời gian theo dõi.
Các nghiên cứu trước đây đều cho thấy tình trạng cận thị tăng lên theotuổi ở những những mắt bị BVMTĐN thoái triển cũng như phải điều trị
Trang 20Đánh giá ảnh hưởng điều trị tiêm Avastin lên BVMTĐN hình tháinặng sau 5 năm, Martinez-Castellanos và cộng sự (2014) nhận thấy, tỷ lệcận thị sau tiêm Avastin tại thời điểm 3 năm là 55,6% tăng lên 88,9% khitrẻ 5 tuổi [43 ].
Sahni và cộng sự (2005), đánh giá tình trạng tật khúc xạ ở trẻ bịBVMTĐN giai đoạn 3 tự thoái triển hoặc phải điều trị tại thời điểm trẻ 6 tháng
và 36 tháng nhận thấy, tại thời điểm trẻ được 36 tháng tỷ lệ cận thị cao trên-5D là 28,7% cao hơn tại thời điểm khi trẻ 6 tháng là 11,9% Khúc xạ tươngđương cầu ở cả 3 nhóm bệnh tự thoái triển, phải điều trị bằng lạnh đông hoặcphải điều trị bằng laser khi trẻ 36 tháng đều cao hơn khi trẻ 6 tháng tuổi [42]
Trái ngược với cận thị, tỷ lệ loạn thị lại có xu hướng giảm theo tuổi ởtrẻ đẻ non [21],[44]
Khi nghiên cứu 228 trẻ đẻ non có cân nặng dưới 1500g, Homstrom
và cộng sự (1998) nhận thấy, tỷ lệ loạn thị ≥ 1D giảm từ 52% ở trẻ 6 thángtuổi xuống còn 28% khi trẻ được 30 tháng tuổi, tỷ lệ loạn thị cao
≥ 2D giảm từ 18% ở trẻ 6 tháng tuổi xuống còn 5% khi trẻ được 30 thángtuổi [44 ]
Theo Saunders và cộng sự (2002), khi nghiên cứu 27 trẻ đẻ non ở tuổithai từ 18-35 tuần nhận thấy, tỷ lệ loạn thị khi trẻ 6 tháng tuổi là 48% giảmxuống còn 27% khi trẻ 12 tháng tuổi và chỉ còn 8% khi trẻ 4 tuổi [21]
1.6.2.6 Một số yếu tố khác
Connolly và nhóm nghiên cứu (2002) nhận thấy có nhiều yếu tố có thểảnh hưởng đến tình trạng khúc xạ ở mắt bị BVMTĐN, đặc biệt là sự kéo dàitrục nhãn cầu tuy nhiên chỉ riêng sự biến đổi chiều dài trục nhãn cầu khôngthể giải thích được tất cả các trường hợp cận thị thấy trong BVMTĐN [15]
Trang 21So sánh về tật khúc xạ và các yếu tố liên quan: khúc xạ giác mạc, chiềudài trục nhãn cầu, độ dầy thể thủy tinh, độ sâu tiền phòng ở trẻ đẻ non bị vàkhông bị BVMTĐN sau 6 năm, Choi và cộng sự (2006) nhận thấy, trẻ bịBVMTĐN điều trị bằng lạnh đông có tỷ lệ cận thị nặng trên -6D cao hơn vớitrẻ bị BVMTĐN không phải điều trị, trẻ bị cận thị cao trên -6D có trục nhãncầu dài hơn, thể thủy tinh dầy hơn so với nhóm bị cận thị nhẹ dưới -6D vàkhông bị cận thị [7].
1.7 Tình hình nghiên cứu BVMTĐN ở Việt Nam.
Ở Việt Nam, đầu những năm 2000, tác giả Nguyễn Xuân Tịnh đã tiếpcận và triển khai kỹ thuật khám sàng lọc và điều trị BVMTĐN bằng laser Từ
đó đến nay,chương trình khám sàng lọc trẻ đẻ non đã được mở rộng ra nhiềutỉnh thành trong cả nước như: Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, TháiNguyên, Nghệ An, Huế, Đà Nẵng
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về BVMTĐN được công bố như:
- Năm 2007, Nguyễn Xuân Tịnh nghiên cứu đặc điểm lâm sàng BVMTĐN vàkết quả bước đầu ứng dụng laser trong điều trị cho thấy:
+ Sau điều trị 6 tháng: không có mắt nào chính thị, 4,9% có độ cận thịcao ≥ - 5D, 35,7% có độ cận thị thấp < -5D và 59,4% viễn thị
+ Sau điều trị 12 tháng: 2,9% là mắt chính thị, 21,3% có độ cận thị cao
Trang 22+ Tỷ lệ cận thị ở nhóm cần điều trị laser (61,1%) cao hơn so với nhóm tựthoái triển (16,6%).
+ Tỷ lệ cận thị cao trên -5D ở nhóm cần điều trị laser là 84,3% cao hơnnhiều so với nhóm tự thoái triển là 15,7% [9]
- Năm 2011, Đinh Thị Thanh đánh giá kết quả điều trị BVMTĐN bằng lasersau 5 năm cho thấy:
+ Tỷ lệ tật khúc xạ chiếm 94,9%, trong đó cận thị là 71,8% với độ cậnthị trung bình là -3,88 ± 3,63D, viễn thị là 23,1% với độ viễn thịtrung bình 1à 1,19 ± 1,15D
+ Tỷ lệ lệch khúc xạ là 83,3% [46]
Trang 23CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu.
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn.
- Trẻ có BVMTĐN hình thái nặng đã được khám, chẩn đoán và điều trịbằng tiêm Avastin nội nhãn tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ năm 2010
- Tuổi ≥ 3
- Gia đình trẻ đồng ý cho trẻ tham gia nghiên cứu
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Trẻ bị BVMTĐN được điều trị bằng nhiều phương pháp phối hợp
- Trẻ không đo được khúc xạ khách quan
- Gia đình trẻ không đồng ý hoặc không đủ điều kiện tham gia nghiên cứu
2.1.3 Địa điểm và thời gian
Nghiên cứu được tiến hành tại khoa Mắt trẻ em Bệnh viện Mắt Trungương, 85 Bà Triệu, Hai Bà Trưng, Hà Nội
Thời gian nghiên cứu, thu thập số liệu từ tháng 10 năm 2013 đến tháng
09 năm 2014
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang có hồi cứu
Trang 242.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu
Cỡ mẫu nghiên cứu được tính dựa vào công thức:
2 2
/ 1 2
).(
)1(
ε
p
p p Z
∝
−
Trong đó: n: là cỡ mẫu nghiên cứu
Với độ tin cậy là 95% thì Z1- α /2 = 1,96
p: tỷ lệ tật khúc xạ của BVMTĐN được điều trị bằng tiêmAvastin nội nhãn 66,7% (nghiên cứu của Matinez-Castellanos [43])
ε : Độ chính xác tương đối (chọn ε = 0,14)
Với công thức trên n tính được = 98 mắt
2.2.3 Phương tiện nghiên cứu
2.2.3.1 Phương tiện thăm khám
- Máy soi đáy mắt gián tiếp
- Sinh hiển vi khám mắt
- Máy đo khúc xạ tự động
- Bộ soi bóng đồng tử bao gồm:
Bộ thước Parent
Máy soi bóng đồng tử đèn khe
- Máy siêu âm: Dùng máy siêu âm nhãn cầu Humphrey A/B ScanSystem - Mode 835 của hãng Carl - Zeiss, sử dụng đầu dò A: 10MHz
- Thuốc giãn đồng tử liệt điều tiết: dung dịch cyclogyl 1%
Trang 252.2.3.2 Phương tiện theo dõi:
- Bệnh án theo dõi BVMTĐN của khoa Mắt trẻ em
- Sổ y bạ của bệnh nhân
- Bệnh án nghiên cứu được chuẩn bị để ghi chép lại các thông tin cần thiết
2.3 Quy trình nghiên cứu
Tiến hành lần lượt qua các bước sau:
2.3.1 Thu thập thông tin.
- Kiểm tra bệnh án theo dõi BVMTĐN của khoa mắt trẻ em để lập danhsách những bệnh nhân bị BVMTĐN đã được điều trị bằng tiêm Avastin nộinhãn từ 01/01/2010 đến 31/08/2011
- Liên lạc bằng điện thoại hoặc gửi thư mời gia đình đưa trẻ về Bệnhviện Mắt Trung ương để khám
- Mỗi trẻ đến khám có một phiếu nghiên cứu để thu thập các thông tincần thiết: họ tên, tuổi, giới tính, tuổi thai khi sinh, cân nặng khi sinh, tổnthương BVMTĐN theo giai đoạn, vùng và phạm vi tổn thương, ngày điều trịbằng tiêm avastin, số lần tiêm avastin
Trang 26- Đo khúc xạ bằng máy đo khúc xạ tự động với mục đích tham khảo trụcloạn thị (nếu có).
- Dùng máy siêu âm để đánh giá chiều dài trục nhãn cầu
2.3.3 Đánh giá kết quả.
Xác định tỷ lệ và mức độ tật khúc xạ theo kết quả đo khúc xạ khách quan.
Cận thị cao khi cận thị ≥ -5D
Cận thị thấp khi cận thị < -5D
Viễn thị cao khi viễn thị ≥ +3D
Viễn thị thấp khi viễn thị < +3D
Xác định tỷ lệ và mức độ tật khúc xạ theo tương đương cầu.
Theo khúc xạ tương đương cầu (SE - Spherical Equivalent): Giá trị tậtkhúc xạ được xác định bằng giá trị tương đương cầu [12],[26],[38]
SE = Công suất kính cầu + 1/2 công suất kính trụ
Xác định là cận thị khi SE < 0D, chúng tôi chia cận thị thành 2 nhóm:
Cận thị cao SE ≥ -5D
Cận thị thấp SE < -5D
Xác định là viễn thị khi SE > 0, chúng tôi chia viễn thị thành 2 nhóm:
Viễn thị cao SE ≥ +3DViễn thị thấp SE < +3DXác định là chính thị khi SE = 0
Trang 27Xác định trục loạn thị: Ước lượng trục loạn thị khi soi bóng đồng tử cótham khảo kết quả đo khúc xạ trên máy đo khúc xạ tự động sau khi tra liệtđiều tiết để xác định trục loạn thị Chia trục loạn thị thành 3 nhóm [27],[47]:
Loạn thị thuận: trục loạn thị có khúc xạ cao nhất là dọc (90± 15 tức là
Mức độ lệch khúc xạ giữa hai mắt chỉ được đánh giá ở những bệnh
nhân được điều trị bằng tiêm Avastin và soi bóng đồng tử ở cả hai mắt Xácđịnh là có lệch khúc xạ khi chênh lệch khúc xạ theo tương đương cầu giữa haimắt > 1,5D [27]
2.3.4 Đánh giá sự liên quan.
- Liên quan giữa tật khúc xạ cầu, loạn thị với tuổi thai khi sinh, cânnặng khi sinh, giai đoạn bệnh, vùng tổn thương, số lần điều trị bằng tiêmAvastin
- Liên quan giữa chiều dài trục nhãn cầu với tật khúc xạ
2.3.5 Các chỉ số nghiên cứu.
Giới: Nam và nữ
Cân nặng khi sinh: chia làm 3 nhóm: ≤ 1000g, 1001 - 1500g, > 1500g.Tuổi thai khi sinh: Chia làm 3 nhóm: < 28 tuần, 28 - 31 tuần, > 31 tuần.Giai đoạn bệnh: Giai đoạn 1và 2, giai đoạn 3
Vùng tổn thương: vùng I và nửa sau vùng II
Số lần điều trị bằng tiêm Avastin: 1 lần, 2 lần
Hình thái tật khúc xạ theo kết quả đo khúc xạ khách quan
Trang 28Hình thái tật khúc xạ theo khúc xạ tương đương cầu.
Mức độ cận thị: Cận thị cao, cận thị thấp
Mức độ viễn thị: Viễn thị cao, viễn thị thấp
Mức độ loạn thị: Loạn thị cao, loạn thị thấp
Trục loạn thị: thuận, ngược, chéo
Độ cận thị, viễn thị, loạn thị trung bình
Xét mối liên quan giữa tỷ lệ và mức độ tật khúc xạ với tuổi thai khisinh, cân nặng khi sinh, giai đoạn bệnh, vùng tổn thương, số lần điều trịbằng phương pháp biến (Crosstabs), thử nghiệm Pearson χ2 và Fisher’sExact Test
Xét mối liên quan giữa chiều dài trục nhãn cầu trung bình với tật khúc
xạ, độ cận thị, viễn thị, loạn thị trung bình với các yếu tố tuổi thai, cân nặngkhi sinh, giai đoạn bệnh, vùng tổn thương, số lần điều trị bằng tiêm Avastinbằng kiểm định ANOVA test
Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi giá trị p < 0,05
Trang 292.5 Đạo đức nghiên cứu.
- Đề cương nghiên cứu đã được hội đồng chấm đề cương thông qua
- Gia đình bệnh nhân được giải thích rõ ràng về mục đích nghiên cứu,tình trạng bệnh, quy trình khám, gia đình bệnh nhân đồng ý, tự nguyện cho trẻtham gia nghiên cứu
- Nghiên cứu được tiến hành một cách trung thực, đảm bảo tính kháchquan, số liệu thu thập chính xác theo bệnh án nghiên cứu
Trang 30CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong nghiên cứu này đã nghiên cứu 102 mắt của 52 bệnh nhân đượcđiều trị bằng tiêm Avastin nội nhãn
3.1 Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu.
sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)
3.1.2 Cân nặng và tuổi thai khi sinh.
Cân nặng trung bình khi sinh là 1305,9 ± 276g, cân nặng khi sinh thấpnhất 700g và cao nhất 2000g, đa số bệnh nhân ở nhóm cân nặng khi sinh từ1001-1500g chiếm 66,8%
Tuổi thai trung bình khi sinh là 29,7 ± 1,68 tuần, thấp nhất 26 tuần vàcao nhất 33 tuần, hay gặp nhất ở nhóm tuổi thai từ 28-31 tuần chiếm 75,5%
Trang 313.1.3 Giai đoạn và vùng tổn thương.
Phân loại tổn thương theo giai đoạn:
Biểu đồ 3.1: Phân loại tổn thương theo giai đoạn.
Trong 102 mắt nghiên cứu, mắt bị bệnh ở giai đoạn 3 chiếm tỷ lệ56,9%, mắt bị bệnh ở giai đoạn 1 và 2 chiếm 43,1%
Phân loại tổn thương theo vùng:
Biểu đồ 3.2: Phân loại tổn thương theo vùng.
Mắt bị bệnh hầu hết bị tổn thương ở vùng I chiếm tỷ lệ 80,4%, chỉ có19,6% mắt bị bệnh tổn thương ở nửa sau vùng II
3.1.4 Số lần điều trị bằng tiêm Avastin
Sự khác biệt này có ý nghĩa về mặt thống kê với p < 0,05
3.2 Tình trạng khúc xạ trên nhóm bệnh nhân nghiên cứu.
3.2.1 Tật khúc xạ theo tương đương cầu
Khúc xạ tương đương cầu trung bình là -1,39 ± 2,77D, bao gồm:
57 mắt cận thị (55,9%), độ cận thị trung bình là -2,87 ± 2,51D
30 mắt viễn thị (29,4%), độ viễn thị trung bình là 1,4 ± 1,13D
Trang 32Có 4 mắt viễn thị cao chiếm tỷ lệ 3,9%.
Phân loại mức độ cận thị theo khúc xạ tương đương cầu.
Biểu đồ 3.3 Phân loại mức độ cận thị theo khúc xạ tương đương cầu Phân loại mức độ cận thị theo khúc xạ tương đương cầu.
Biểu đồ 3.4 Phân loại mức độ cận thị theo khúc xạ tương đương cầu.
3.2.2 Tật khúc xạ theo kết quả đo khúc xạ khách quan.
Bảng 3.4 Tỷ lệ tật khúc xạ theo kết quả đo khúc xạ khách quan
Trang 33Mức độ tật khúc xạ theo kết quả đo khúc xạ khách quan
Bảng 3.5 Mức độ tật khúc xạ theo kết quả đo khúc xạ khách quan
Cận thị Cận thị cao 14/102 13,7
Cận thị thấp 31/102 30,4Viễn thị Viễn thị cao 4/102 3,9
Viễn thị thấp 36/102 35,3
Phân loại mức độ cận thị theo kết quả đo khúc xạ khách quan:
Biểu đồ 3.5 Phân loại cận thị theo kết quả đo khúc xạ khách quan
Theo kết quả đo khúc xạ khách quan, tỷ lệ cận thị cao là 31,1%, cận thị thấp 68,9%
Phân loại mức độ viễn thị theo kết quả đo khúc xạ khách quan.
Biểu đồ 3.6 Phân loại viễn thị theo kết quả đo khúc xạ khách quan
Theo kết quả đo khúc xạ khách quan, tỷ lệ viễn thị cao là 10%, viễn thị thấp là 90%
Trang 343.2.3 Loạn thị.
Độ loạn thị trung bình trong nhóm nghiên cứu là -1,98 ± 0,88D trong
đó độ loạn thị thấp nhất được tính từ -1,0D và cao nhất là -4,5D
Trang 353.2.3.3 Mức độ loạn thị.
Biểu đồ 3.8: Phân bố mức độ loạn thị.
Trong 63 mắt bị loạn thị, loạn thị cao chiếm tỷ lệ 60,3%, loạn thị thấpchiếm tỷ lệ 39,7%
3.2.4 Tình trạng lệch khúc xạ giữa hai mắt theo tương đương cầu
Trong 52 bệnh nhân nghiên cứu có 10 bệnh nhân bị lệch khúc xạ chiếm
tỷ lệ 19,2% Độ lệch khúc xạ trung bình trong nghiên cứu là 4,35 ± 2,44D, độlệch thấp nhất được tính từ 1,75D và cao nhất 10,0D
Trang 363.3 Tật khúc xạ và các yếu tố liên quan.
3.3.1 Liên quan giữa tật khúc xạ với cân nặng khi sinh.
3.3.1.1 Liên quan giữa tật khúc xạ cầu với cân nặng khi sinh.
• Tỷ lệ tật khúc xạ cầu theo cân nặng khi sinh.
Bảng 3.7 Tỷ lệ tật khúc xạ cầu theo cân nặng khi sinh.
Cân nặng (g)
Tật khúc xạ
Số mắt (n)
Tỷ lệ (%)
Số mắt (n)
Tỷ lệ (%)
Số mắt (n)
Tỷ lệ (%)
Tương ứng với mỗi nhóm cân nặng lúc sinh tật khúc xạ hay gặp nhất
là cận thị Nhóm cân nặng lúc sinh ≤ 1000g có tỷ lệ cận thị 85,7% cao hơnhai nhóm cân nặng lúc sinh từ 1001 – 1500g và > 1500g lần lượt là 51,4%
và 50% Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa về mặt thống kê với
p > 0,05
• Liên quan giữa mức độ cận thị, viễn thị với cân nặng khi sinh
Bảng 3.8 Liên quan giữa mức độ cận thị, viễn thị với cân nặng khi sinh.
Trang 37Tỷ lệ (%)
Số mắt (n)
Tỷ lệ (%)
Số mắt (n)
Tỷ lệ (%)
Sự khác biệt về mức độ cận thị và độ cận thị trung bình ở các nhóm cânnặng khi sinh có ý nghĩa về mặt thống kê với p < 0,05
Trong nhóm viễn thị:
Nhóm cân nặng khi sinh ≤ 1000g, chỉ có hai mắt, trong đó một mắt bịviễn thị cao 4,0D
Nhóm cân nặng khi sinh >1500g có 6 mắt cả 6 mắt đều là viễn thị thấp
Độ viễn thị trung bình ở nhóm có cân nặng khi sinh ≤ 1000g là 3 ±2,83D cao hơn hai nhóm cân nặng 1001-1500g và >1500g lần lượt là 1,33 ±0,98D và 1,08 ± 0,8D
Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa về mặt thống kê với p > 0,05
3.3.1.2 Liên quan giữa loạn thị với cân nặng khi sinh:
Biểu đồ 3.9: Liên quan loạn thị với cân nặng khi sinh.
Trang 38Tỷ lệ loạn thị cao ở nhóm cân nặng khi sinh ≤ 1000g, 1000-1500g và > 1500g tương đương nhau lần lượt là 61,5%, 59% và 63,6%.
Độ loạn thị trung bình ở ba nhóm cân nặng khi sinh cũng tương đương nhau lần lượt là -1,92 ± 0,64D; -1,97 ± 0,88D và -2,11 ± 1,14D
Trang 393.3.2 Liên quan giữa tật khúc xạ với tuổi thai khi sinh.
3.3.2.1 Liên quan giữa tật khúc xạ cầu với tuổi thai khi sinh.
• Tỷ lệ tật khúc xạ cầu theo tuổi thai khi sinh.
Bảng 3.9 Tỷ lệ tật khúc xạ cầu theo tuổi thai khi sinh.
Tỷ lệ (%)
Số mắt (n)
Tỷ lệ (%)
Số mắt (n)
Tỷ lệ (%)
Tương ứng với mỗi nhóm tuổi thai khi sinh tật khúc xạ hay gặp nhất
là cận thị Nhóm tuổi thai khi sinh < 28 tuần có tỷ lệ cận thị là 81,8% caohơn so với hai nhóm tuổi thai khi sinh từ 28 – 31 tuần và > 31 tuần lần lượt
là 51,9% và 57,1% Tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa về mặtthống kê với p > 0,05
• Liên quan giữa mức độ cận thị, viễn thị với tuổi thai khi sinh.
Bảng 3.10 Liên quan giữa mức độ cận thị, viễn thị với tuổi thai khi sinh
Tuổi thai
(T
p
Trang 40Tật khúc xạ
Số mắt (n)
Tỷ lệ (%)
Số mắt (n)
Tỷ lệ (%)
Số mắt (n)
Tỷ lệ (%)
3.3.2.2 Liên quan giữa loạn thị với tuổi thai khi sinh.
Biểu đồ 3.10: Liên quan giữa loạn thị với tuổi thai khi sinh
Nhóm tuổi thai 28-31 tuần và > 31 tuần bị loạn thị cao tương đươngnhau với tỷ lệ là 61,9% và 63,6% cao hơn nhóm tuổi < 28 tuần là 50%
-2,02 ± 0,88D -2,02 ± 0,94D
-1,8 ± 0,63D