1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khoá luận tốt nghiệpthực trạng các thao tác tư duy của học sinh lớp 5 qua môn tiếng việt

72 938 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 102,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hà Nội, tháng 5 năm 2015 Sinh viên Đặng Thày Dương LỜI CAM ĐOAN Đề tài “Thực trạng các thao tác tư duy của học sinh lớp 5 qua môn Tiếng Việt” được hoàn thành qua quá trình tìm hiểu, ngh

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TlỂu HỌC

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Cùng với sự cố gắng phấn đấu của bản thân, để hoàn thảnh đề tài khóa luậnnày, chúng tôi nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô giáo, đặc biệt làTh.s Lê Xuân Tiến - Giảng viên môn Tâm lý trường Đại học sư phạm Hà Nội 2.Qua đây, tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo và bạn bè trongkhoa Giáo dục Tiểu học trường Đại học sư phạm Hà Nội 2, các thầy giáo, cô giáo

và các em học sinh lớp 5A1( 2014 - 2015) trường Tiểu học Đại Thịnh B - Mê Linh

- Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ để tôi hoàn thành khóa luận của mình

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2015 Sinh

viên

Đặng Thày Dương

LỜI CAM ĐOAN Đề tài “Thực trạng các thao tác

tư duy của học sinh lớp 5 qua môn Tiếng Việt” được hoàn thành qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và tham khảo các tài liệu có liên quan dưới sự hướng dẫn tận

tình của thầy giáo Th.s Lê Xuân Tiến - Giảng viên tổ Tâm lý - Giáo dục trường ĐHSP Hà Nội 2

Tôi xin khẳng định khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của riêngtôi Các số liệu, căn cứ, kết quả có trong khóa luận là trung thực Đề tài này chưađược công bố trong bất kì công trình khoa học nào khác Nếu sai tôi xin hoàn toànchịu trách nhiệm

Hà Nội, tháng 5 năm 2015

Sinh viên

Đặng Thùy Dương

Trang 3

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT

Th.S: Thạc sĩ

NXB: Nhà xuất bản

ĐHSP: Đại học sư phạm

[a, b]: Tài liệu tham khảo số a, trang b

TTTD: Thao tác tư duy

HS: Học sinh

GV: Giáo viên

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2

4 Giả thuyết khoa học 2

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

6 Phương pháp nghiên cứu 3

7 Phạm vi nghiên cứu 3

8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

9 Cấu trúc khóa luận 4

NỘI DUNG 5

Chương 1: cơ SỞ LÝ LUẬN 5

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài khóa luận 5 1.2 Những vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài khóa luận

Trang 4

1.2.1 Khái niệm thao tác ttong tâm lí học 6

1.2.2 Khái niệm tư duy trong tâm lí học 7

1.2.3 Phân loại tư duy 9

1.2.4 Khái niệm thao tác tư duy 10

1.2.5 Các thao tác tư duy 11

1.2.6 Hoạt động học và tư duy của học sinh tiểu học 12

Chương 2: KẾT QUẢ NGHIÊN cứu CÁC THAO TÁC TƯ DUY CỦA HỌC SINH LỚP 5 QUA MÔN TIẾNG VIỆT 15

2.1 Khái quát chung về môn Tiếng Việt lớp 5 15

2.2 Khái quát về khách thể nghiên cứu 19

2.3 Thực trạng các thao tác tư duy qua tiết học bài mới 20

2.3.1.Thực trạng thao tác phân tích - tổng hợp 20

2.3.2.Thực trạng thao tác so sánh 25

2.3.3.Thực trạng thao tác trừu tượng hóa và khái quát hóa 29

2.4 Thực trạng các thao tác tư duy qua tiết học thực hành 33

2.4.1.Thực trạng thao tác phân tích tổng hợp 33

2.4.2.Thực trạng thao tác trừu tượng hóa và khái quát hóa 37

2.4.3.Thực trạng thao tác so sánh 41

2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng các thao tác tư duy củahọc sinh lớp 5 qua môn Tiếng Việt 46

2.5.1.Nội dung và phương pháp dạy hoc 46

2.5.2.Đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 5 51

2.6 Các biện pháp phát triển các thao tác tư duy cho học sinh lớp 5 54

Trang 5

2.6.1.Mục tiêu 54

2.6.2.Nội dung 54

2.6.3.Phương pháp dạy học 54

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO 59

PHỤ LỤC 1

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục là quốc sách hàng đàu Đầu tư cho giáo dục là đàu tư để phát triểncon người và xã hội Đầu tư cho Giáo dục ttên tất cả các lĩnh vực, ngành học, cấphọc

Bậc Tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, đặt cơ sởban đàu cho việc hình thành và phát triển toàn diện, hài hòa nhân cách của conngười Ngày nay, đất nước ta đang trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới, quátrình công nghiệp hóa hiện đại hóa ngày càng đẩy mạnh Điều đó đòi hỏi ngànhgiáo dục phải đào tạo những người lao động tự chủ, sáng tạo, có năng lực Trên

cơ sở đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đề ra mục tiêu cốt lõi của quá trình dạy họctrong nhà trường nói chung và của trường Tiểu học nói riêng là hình thành, rènluyện cho học sinh phương pháp tự học, phương pháp phát hiện và giải quyết vấn

đề Thực tiễn dạy học cho thấy nhiệm vụ của mỗi giáo viên là rèn luyện và pháttriển tư duy cho học sinh thông qua các nội dung dạy học các môn học, để sau khiròi ghế nhà trường, học sinh có đủ năng lực tư duy và những phẩm chất cần thiếtcho hoạt động cải biến xã hội Trong hệ thống giáo dục phổ thông thì Tiểu học làbậc học nền tảng, vì yậy rèn luyện tư duy cho học sinh cần thực hiện ngay khi bắtđầu bậc học này

Trong các môn học ở trường Tiểu học thì môn Tiếng Việt là một trong cácmôn học có có nhiều giờ và thông qua các hoạt động học tập học sinh Tiểu họcđược phát triển đúng mức một số khả năng trí tuệ và thao tác tư duy quan trọng.Trong đó, môn Tiếng Việt 5 hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sửdụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp ừong các môitrường hoạt động của lứa tuổi Và thông qua việc dạy và học sẽ góp phần rènluyện các thao tác tư duy Vì vậy yêu cầu đặt ra đối với mỗi giáo viên là biết lựa

Trang 7

chọn nội dung thích hợp và tổ chức các hoạt động vừa sức để từng bước rèn luyệncác thao tác tư duy cho học sinh một cách đúng mức.

Xuất phát từ những lí do trên nên tôi chọn đề tài “Thực trạng các thao tác tư duy của học sinh lớp 5 qua môn Tiếng Việt”.

2 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu thực trạng các thao tác tư duy của học sinh lớp 5 qua môn TiếngViệt Từ đó, đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển tư duy cho học sinh lớp 5

3 Đổi tượng và khách thể nghiên cứu

- Đối tượng: Thực trạng các thao tác tư duy của học sinh lớp 5 qua mônTiếng Việt

Khách thể: 37 học sinh lớp 5A1 trường Tiểu học Đại Thịnh B Mê Linh

-Hà Nội

4 Giả thuyết khoa học

Các thao tác tư duy đã được hình thành và phát triển ở học sinh lớp 5 Trình

độ thực hiện các thao tác tư duy là không đồng đều giữa các học sinh Thao tácphân tích phát triển hơn thao tác tổng hợp, học sinh rất khó khăn trong việc thựchiện thao tác trừu tượng hóa và khái quát hóa Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đếnthực trạng này ừong đó có nguyên nhân giáo viên chưa chủ động phát triển thaotác tổng hợp, trừu tượng hóa và khái quát hóa cho học sinh Nếu tìm hiểu được rõthực trạng của các thao tác tư duy trong các tiết học Tiếng Việt thì có thể đưa rađược các biện pháp để phát triển các thao tác tư duy quan trọng ở học sinh lớp 5

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu những vấn đề lí luận thao tác, thao tác tư duy ừong Tâm lí học

và Giáo dục học

- Thực trạng các thao tác tư duy của học sinh lớp 5 qua môn Tiếng Việt và

đề xuất biện pháp phát triển các thao tác tư duy cho học sinh lớp 5

6 Phương pháp nghiền cứu

Trang 8

6.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận

- Tìm hiểu khái niệm thao tác trong Tâm lí học

- Tìm hiểu những vấn đề lí luận về tư duy và các thao tác tư duy của họcsinh Tiểu học

- Tìm hiểu về đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 5 có liên quan đến đề tàikhóa luận

6.2. Phương pháp quan sát

Dự giờ, quan sát việc dạy của giáo viên và việc học của học sinh qua tiếthọc bài mói và tiết học thực hành của môn Tiếng Việt lóp 5 để quan sát sự biểuhiện các thao tác tư duy của học sinh

6.3. Phương pháp thực nghiệm phát hiện

Xây dựng các bài tập đo để phát hiện thực trạng các thao tác tư duy của họcsinh lớp 5 qua môn Tiếng Việt

6.4. Phương pháp xử lí số liệu

Dùng toán thống kê để xử lý số liệu, so sánh đối chiếu để rút ra kết luận

6.5 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm

Tìm hiểu giáo án, kế hoạch dạy học của giáo viên, kết quả học tập của họcsinh, vở bài tập của học sinh

7 Phạm vi nghiên cứu

Học sinh lớp 5A1, trường Tiểu học Đại Thịnh B - Mê Linh - Hà Nội

8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Đề tài này bước đầu tìm hiểu thực trạng các thao tác tư duy của học sinhlớp 5 qua môn Tiếng Việt Qua đó góp phàn làm phong phú và cụ thể đặc điểm tưduy của học sinh cuối cấp Tiểu học Các biện pháp mà chúng tôi đề ra

giúp cho giáo viên trong việc phát triển các thao tác tư duy cho học sinh trong quá trình học Tiếng Việt

Trang 9

9 Cấu trúc khóa luận

Mở đầu Nội

dung

Chương 1: Cơ sở lí luận

Chương 2: Kết quả nghiên cứu thực trạng các thao tác tư duy của học sinh lớp 5 qua môn Tiếng Việt Kết luận và kiến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục

NỘIDUNG Chương 1: cơ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài khóa

luận

Vấn đề hoạt động học tập, đặc điểm tâm lí của học sinh Tiểu học, đặc biệt tưduy của học sinh đã có nhiều công trình nghiên cứu Trong khuôn khổ của đề tàinày, chúng tôi khái quát các công trình nghiên cứu về tư duy của học sinh Tiểuhọc

Trong công trình nghiên cứu của mình, Đỗ Đình Hoan đã nhận xét: “Ở lứatuổi học sinh Tiểu học, nhờ sự phát triển của hệ thống tín hiệu thứ hai, học sinhbước đầu có khả năng thực hiện việc phân tích - tổng hợp, trừu tượng hóa, kháiquát hóa và những hình thức sơ giản của sự suy luận, phán đoán Các khả nănghành động tư duy đó được nâng cao trong quá trình học tập”

Tác giả Vũ Thị Nho đã nhận xét: Từ lớp 3 trở đi trẻ bắt đầu nắm được cácmối quan hệ của khái niệm, trẻ không chỉ lĩnh hội được các thao tác thuận mà cònbiết loại trừ Trong giai đoạn này, những thao tác tư duy được hình thành và pháttriển mạnh Trẻ em lớp 3, lớp 4 lĩnh hội được khái niệm về từ loại, cấu trúc ngữpháp, cấu trúc nhóm trong toán học Bà kết luận: “Đến giai đoạn thứ hai, phần lớnhọc sinh nhỏ đã biết khái quát ừên cơ sở những biểu tượng đã tích lũy được trướcđây thông qua sự phân tích, tổng hợp bằng trí tuệ” [7,79]

Trang 10

Khi trình bày ứng dụng các thành tựu của Tâm lí học vào dạy Tiếng Việt, tácgiả Nguyễn Trí cho rằng ngôn ngữ của học sinh Tiểu học phát triển mạnh cả vềngữ âm, ngữ pháp và từ vựng Tuy nhiên, học sinh Tiểu học còn mắc nhiều lỗiphát âm, lỗi dùng từ, đặt câu, lỗi chính tả và thường lúng túng khi trình bày bàimới hoặc viết Ông nhận xét: “Khi khái quát hóa, các em bắt đàu biết dựa vào cácdấu hiệu bản chất bên trong, những dấu hiệu chung để tìm ra khái niệm, quy luật.Các em đã nhìn thấy một sự vật có thể diễn biến theo nhiều hình thức, một hiệntượng có thể có nhiều nguyên nhân Các em có khả năng lập luận cho phán đoáncủa mình” [11,22].

Tác giả Nguyễn Ke Hào nhận xét: “Đen cuối bậc học, các em có thể phântích đối tượng mà không cần tới những hành động trực tiếp đối với đối tượng, các

em có khả năng phân biệt những dấu hiệu, những khía cạnh khác nhau của đốitượng dưới dạng ngôn ngữ” [12,206]

Bùi Văn Huệ, nghiên cứu đặc điểm tư duy của học các lớp cuối cấp Tiểu họccho rằng: “Học sinh đã thoát khỏi sự “ám thị” của những dấu hiệu trực quan vàngày càng dựa nhiều hơn vào những tri thức được hình thành trong quá trình họctập nên đã nhìn thấy các dấu hiệu bản chất của đối tượng và tách chúng ra khỏicác dấu hiệu không bản chất để làm nên sự khái quát đúng đắn” [6,126]

Điểm qua các công trình nghiên cứu ở trên đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề líluận và thực tiễn có liên quan đến đề tài Tuy nhiên, chưa có công trình nàonghiên cứu thực trạng các thao tác tư duy của học sinh lớp 5 qua môn Tiếng Việt

1.2 Những vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài khóa luận

1.2.1 Khái niệm thao tác trong tâm lí học

Thao tác là một khái niệm quan ttọng trong Tâm lí học hiện đại và ttongTâm lí học trẻ em và sư phạm nói riêng

Trang 11

Trong Tâm lí học hành vi, thao tác được hiểu đồng nhất với khái niệm hành

vi, do đó muốn hiểu khái niệm thao tác cần xem xét khái niệm hành vi là tổng sốcác cử động bên ngoài nảy sinh ở cơ thể nhằm đáp lại một kích thích nào đó

Lí thuyết thao tác cuả J.Piaget: Trí khôn được xây dựng theo các cấu trúcthao tác, trí khôn có chất liệu thao tác J.Piaget phân biệt sự khác nhau về chấtgiữa hành động và thao tác Hành động diễn ra ngay trên đồ vật vật chất một cáchtrực tiếp Còn thao tác là hành động đã được chuyển hẳn vào ttong (xảy ra ở trongđầu) chứ không phải cơ bắp trực tiếp tác động lên đồ vật ở bên ngoài chủ thể về

mặt logic hành động và thao tác không có sư khác biệt nào

Khái niệm thao tác trong lí thuyết hoạt động của A.N.Lêônchiev: Phươngthức thực hiện hành động gọi là thao tác Thao tác là các vận động, cử động củachủ thể để chiếm lĩnh đối tượng đã được xác định trong hành động Để có sựchuyển hóa hành động thành thao tác để thực hiện hành động khác bằng cáchluyện tập hành động, kĩ thuật hóa nó và đưa nó vào hành động khác[5] Như vậy,xét về mặt tâm lí, hành động sinh ra thao tác nhưng thao tác không phải là phầnriêng rẽ của hành động Giống như hành động so với hoạt động, sau khi đã hìnhthành, thao tác có khả năng tồn tại độc lập và có thể tham gia vào hành độngkhác

1.2.2 Khái niệm tư duy trong tâm lí học

Trong lĩnh vực tâm lí học, tư duy được hiểu như sau:

“Tư duy là quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết [12,92].

Với tư cách là một mức độ mới thuộc nhận thức lí tính, tư duy khác xa vềchất so với nhận thức cảm tính, tư duy do con người là chủ thể có những đặcđiểm cơ bản sau:

-Tính “có vẩn đề” của tư duy

Trang 12

Không phải ở hoàn cảnh nào trong thực tiễn con người cũng có thể tư duy.Muốn kích thích được tư duy đồng thời phải có ba điều kiện sau:

+ Thứ nhất: Phải gặp hoàn cảnh (tình huống) có vấn đề tức là hoàn cảnh(tình huống) có chứa đựng một mục đích mới, một vấn đề mới, đòi hỏi phải cómột cách thức giải quyết mới để đạt được mục đích đó

+ Thứ hai: Hoàn cảnh có vấn đề đó phải được cá nhân nhận thức đầy đủ,được chuyển thành nhiệm vụ cá nhân Tức là lúc này cá nhân phải phân tích cái

gì đã biết, đã cho, cái gì chưa biết cần được giải quyết, phải tìm Đồng thời phải

có nhu cầu (động cơ) tìm kiếm nó, giải quyết nó

+ Thứ ba: Cá nhân phải có những tri thức công cụ cần thiết để giải quyết

Ị s

Ạ 4 A

vân đê

- Tính gián tiếp của tư duy

Tính gián tiếp của tư duy được thể hiện qua hai phương diện:

+ Trong quá trình tư duy con ngưòi sử dụng các công cụ hay phương tiệnnhư: đồng hồ, nhiệt kế, máy móc, các tài liệu do nhận thức cảm tính cung cấp

Và các kết quả nhận thức như quy tắc, công thức, quy luật

+ Ngôn ngữ là công cụ và phương tiện biểu đạt tư duy

- Tính trừu tượng hóa và khái quát của tư duy

Nhờ có tính trừu tượng và khái quát mà con người không những giải quyếtđược những nhiệm yụ hiện tại mà còn giải quyết cả những nhiệm vụ của tươnglai

Nhờ có tính khái quát, tư duy trong khi giải quyết một nhiệm yụ có thể vẫnsắp xếp nó vào một phạm trù, một nhóm, vẫn nêu thành quy tắc, phương phápcần sử dụng trong những trường họp tương tự

- Tư duy liên hê chăt chẽ với ngôn ngữ

Trang 13

Nếu không có ngôn ngữ thì bản thân quá trình tư duy trừu tượng không diễn

ra được, đồng thời các sản phẩm của tư duy cũng không được chủ thể và ngườikhác tiếp nhận

Vì vậy mà tư duy không thể tồn tại bên ngoài ngôn ngữ, nó phải dùng ngônngữ để làm phương tiện, công cụ

-Tư duy có mối quan hệ mật thiết với nhận thức cảm tính

Tư duy được tiến hành trên cơ sở những tài liệu do nhận thức cảm tính cungcấp Ngược lại tư duy và kết quả của nó ảnh hưởng trở lại quá trình nhận thứccảm tính

Những đặc điểm tư duy trên có ý nghĩa to lớn đối với các công tác giáo dục

+ Phát triển tư duy phải được tiến hành thông qua hoạt động vui choi và cácdạng hoạt động khác

+ Phát triển tư duy phải gắn liền với rèn luyện cảm giác, tri giác, tính nhạycảm, năng lực quan sát và trí nhớ của học sinh

1.2.3 Phân ỉoại tư duy

Dựa vào các tiêu chí khác nhau, người ta phân chia tư duy thành các loạikhác nhau Sau đây là cách phân loại phổ biến được ứng dụng vào phân loại tưduy lứa tuổi tiểu học:

- Tư duy trực quan - hành động

Đây là loại tư duy mà việc giải quyết nhiệm yụ được thực hiện nhờ sự cải tổthực tế các tình huống và nhờ các hành động vận động có thể quan sát được

Trang 14

- Tư duy trực quan - hình ảnh

Đây là loại tư duy mà việc giải quyết nhiệm vụ được thực hiện bằng sự cải

tổ tình huống trên bình diện hình ảnh Loại tư duy này chỉ có ở người, xuất hiện

từ 3 tuổi trở lên

-Tư duy trừu tượng (tư duy từ ngữ - logic)

Đây là loại tư duy mà việc giải quyết nhiệm vụ dựa trên việc sử dụng cáckhái niệm, các kết cấu logic, được tồn tại và vận hành nhờ ngôn ngữ

Các loại tư duy này có mối liên hệ mật thiết với nhau, bổ sung và chi phốilẫn nhau Trong đó tư duy trực quan - hành động và tư duy trực quan - hình ảnhđược coi là hai loại tư duy có trước và làm cơ sở cho tư duy trừu tượng

1.2.4 Khái niệm thao tác tư duy

Theo nhà tâm lí học J.Piaget, thao tác trí tuệ (thao tác tư duy) là hành độngđược nội hiện (chuyển vào trong) và được rút gọn ở trong đó Thao tác trí tuệchính là hành động bên ừong, được nảy sinh từ hành động có đối tượng bênngoài Tuy nhiên, khác với hành động, thao tác là hành động có tính rút gọn vàđối tượng của nó không phải là những sự vật có thực mà là những hình ảnh, biểutượng, kí hiệu Thao tác có ba đặc trưng cơ bản: Tính thuận nghịch; tính bảo tồn;tính liên kết

Theo chúng tôi có thể hiểu, thao tác tư duy là cách thức thực hiện hànhđộng tư duy, nó là phàn lõi kĩ thuật của hành động tư duy

Thao tác tư duy có một số đặc điểm sau:

+ Thao tác tư duy là thao tác đã được chuyển hẳn vào trong (tâm lí), đãhoàn toàn thoát khỏi những thao tác bàn tay trên vật liệu trực quan và trở nênhoàn toàn hình thức Theo Lệ Khanh: “Muốn đi đến tận cùng của tri thức khoahọc, đến khái niệm chính cống (khái niệm khoa học) thì nhất thiết phải có sựtham gia của thao tác trí óc” [1,29]

Trang 15

+ Một hành động tư duy bao gồm nhiều thao tác Các thao tác này có quan

hệ với nhau thống nhất theo một hướng nhất định do nhiệm vụ tư duy quy định

+ về nguồn gốc, thao tác tư duy được hình thành từ hành động vật chất vớicác thao tác vật chất, được chuyển vào bên trong và được rút gọn

1.2.5 Các thao tác tư duy

Xét về bản chất thì tư duy là một quá trình cá nhân thực hiện các thao tác trítuệ nhất định để giải quyết các vấn đề hay nhiệm vụ được đặt ra Cá nhân có tưduy hay không chính là ở chỗ học sinh có tiến hành các thao tác này ừong đầumình hay không, cho nên các thao tác này còn gọi là những quy luật bên trongcủa tư duy (quy luật nội tại của tư duy)

Tư duy là một mức độ thuộc nhận thức lí tính và bao gồm các thao tácsau:

1.2.5.1 Phân tích - tổng hợp

Phân tích là quá trình dùng trí óc để phân chia đối tượng nhận thức thànhcác “bộ phận”, các thành phàn khác nhau Tổng hợp là quá trình dùng trí óc đểhợp nhất các thành phần đã được tách rời nhờ sự phân tích thành một chính thể.Phân tích và tổng họp có mối liên hệ qua lại mật thiết với nhau, tạo thành một sựthống nhất không tách rời được Sự phân tích được tiến hành theo hướng tổnghợp còn sự tổng họp được thực hiên theo kết quả của phân tích

1.2.5.2 So sánh

So sánh là quá ừình dùng óc xác định sự giống hay khác nhau, sự đồng nhấthay không đồng nhất, sự bằng nhau hay không bằng nhau giữa các đối tượngnhận thức (sự vật, hiện tượng)

1.2.5.3 Trừu tượng hóa và khái quát hóa

Trừu tượng hóa là quá trình dùng óc để gạt bỏ những mặt, những thuộc tính,những liên hệ, quan hệ thứ yếu không cần thiết và chỉ giữ lại những yếu tố cầnthiết cho tư duy Khái quát hóa là quá trình dùng trí óc để họp nhất nhiều đối

Trang 16

tượng khác nhau thành một nhóm, một loại theo những thuộc tính, những liên hệ,quan hệ chung bản chất của đối tượng.Những thuộc tính chung này bao gồm hailoại: Những thuộc tính chung giống nhau và những thuộc tính chung bản chất.Muốn vạch ra những dấu hiệu chung bản chất phải phân tích - tổng hợp sâu sắc

sự vật, hiện tượng định khái quát Trừu tượng hóa và khái quát hóa có quan hệqua lại với nhau như quan hệ phân tích - tổng hợp nhưng ở mức độ cao hơn.Khi xem xét tất cả các thao tác tư duy đã trình bày trên đây ừong một hànhđộng tư duy cụ thể, chúng ta cần chú ý mấy điểm sau:

+ Các thao tác tư duy đều có quan hệ qua lại với nhau, thống nhất theo mộthướng nhất định do nhiệm vụ tư duy quy định

+ Trong thực tế duy, các thao tác đó đan chéo nhau, không theo trình tự máymóc nêu trên

+ Tùy theo nhiệm yụ, điều kiện tư duy, không nhất thiết trong hành động tưduy nào cũng phải thực hiện tất cả các thao tác trên

1.2.6 Hoạt động học và tư duy của học sinh tiểu học

Hoạt động học là hoạt động chủ đạo của học sinh tiểu học, hoạt động này cómột số đặc điểm sau:

• Hoạt động học đích thực lần đầu tiên xuất hiện ở học sinh tiểu học, đó làhoạt động có đối tượng, có phương pháp và có tổ chức chuyên biệt

• Hoạt động học tạo ra sự phát triển tâm lí trẻ em, đó là sự phát triển tâm lícác quá trình tâm lí, hình thành các thuộc tính tâm lí và nhân cách học sinh, đángchú ý ở bậc học này là sự phát triển trí tuệ của các em

• Hoạt động học được hình thành ở học sinh bằng phương pháp nhà trường

do giáo viên tổ chức và điều khiển

Hoạt động học gồm 3 yếu tố cấu thành: động cơ học, nhiệm vụ học và hànhđộng học

Trang 17

Thực hiện hoạt động học và các loại hình hoạt động khác, học sinh tiểu học

có sự phát triển tâm lí đạt trình độ mới so với giai đoạn trước đó, một trình độphát triển tâm lí mà nếu không được qua nhà trường thì con người sẽ không baogiờ đạt được Giai đoạn phát triển này được tổ chức trong nền văn minh nhàtrường theo hai giai đoạn nhỏ: Giai đoạn thứ nhất gồm các lớp 1, 2 và 3 còn gọi làcấp độ I bậc Tiểu học và giai đoạn thứ hai gồm lớp 4 và lớp 5 gọi là cấp độ II bậcTiểu học Hai giai đoạn có sự khác biệt nhau về cấp độ phát triển tâm lí và trình

độ thực hiện hoạt động học với tư cách là hoạt động chủ đạo, chứ không có sựthay đổi đột biến, không phát triển theo chiều hướng mới như bước chuyển giaiđoạn trước tuổi học lên giai đoạn học sinh tiểu học

Hoạt động học được tổ chức khoa học, thích hợp với đặc điểm tâm lí lứatuổi học sinh Tiểu học Bắt đầu từ lớp 1, hình thành phương pháp tiến hành hoạtđộng học và trong hoạt động này tư duy của trẻ phát triển đạt trình độ mới: Ở lớp

1 bắt đầu hình thành các thao tác trí óc, ở bậc Tiểu học hình thành được nhữngyếu tố ban đầu cho tư duy lí luận Do vậy, các em biết sử dụng hành động phântích và các hành động hoạt động học tập khác để chiếm lĩnh đối tượng học tập.Hoạt động học tập của học sinh tiểu học được hình thành định hình ở giai đoạnthứ nhất nghĩa là đến lớp 3 các em đã biết cách học Tuy nhiên ở trình độ này,học sinh chưa thể tự học mà hoạt động của các em cần được tiến hành với sự tổchức và giúp đỡ của giáo viên

Giai đoạn thứ hai (lớp 4,5), đối tượng học tập là những tri thức và kĩ năng

cơ bản nhưng ở mức độ sâu hơn, trừu tượng hơn, khái quát hơn và tường minhhơn với giai đoạn trước Nhiều tri thức có thể coi là trừu tượng khái quát đối vớihọc sinh ở giai đoạn trước thì ở giai đoạn này lại trở nên cụ thể, trực quan vàthường được dùng làm chỗ dựa để học sinh học những nội dung mói

Nếu gọi giai đoạn các lớp 1, 2, 3 là giai đoạn học tập cơ bản thì có thể gọicác lớp 4, 5 là giai đoạn học tập chuyên sâu Tuy nhiên đối với một bộ phận học

Trang 18

sinh, đến đầu lớp 4 vẫn còn có sự chuyển tiếp giữa giai đoạn học tập cơ bản vàgiai đoạn học tập chuyên sâu.

Chương 2: KẾT QUẢ NGHIÊN cứu THựC TRẠNG CÁC THAO TÁC TƯ

DUY CỦA HỌC SINH LỚP 5 QUA MÔN TIẾNG VIỆT

2.1 Khái quát chung về môn Tiếng Việt lớp 5

2.1.1 Mục đích của môn Tiếng Việt lớp 5

Trên cơ sở mục đích Tiếng Việt lớp 4 có tính chất tổng hợp và phân tích.Vừa vận dụng các hiểu biết và kỹ năng Tiếng Việt từ các môn khác, vừa phát huy

và hoàn thiện, phát triển một cách có hệ thống hơn Môn Tiếng Việt lớp 5 tiếp tụcrèn cho học sinh 4 kỹ năng (nghe, đọc, viết và nói) nhưng ở mức độ cao hơnđược thể hiện như sau:

* Rèn cho học sinh 4 kỹ năng, cụ thể là:

+ Kỹ năng nghe:

- Nhận biết được thái độ, tình cảm chủ đích của ngưòi nói trong giao tiếp.Nghe và nắm được nội dung và chủ đích của các bài viết về khoa học thưởngthức, về đạo đức, thẩm mĩ, về tình bạn, phù hợp với lứa tuổi; bước đầu đánhgiá, nhận xét được một số thông tin đã nghe Nghe và nắm được đại ý, đề tài củacác tác phẩm hoặc đoạn trích văn xuôi, thơ, kịch, , bước đàu biết nhận xét vềnhân vật và những chi tiết có giá trị nghệ thuật trong tác phẩm; nhớ và kể lạiđược nội dung tác phẩm

- Ghi được ý chính của các bài đã nghe

+ Kỹ năng nói:

Nói trong hội thoại: Biết dùng lời nói hội thoại phù hợp với quy tắc giaotiếp trong gia đình, trong nhà trường và nơi công cộng Biết giải thích rõ thêmvấn đề đang trao đổi; tán thành hay bác bỏ một ý kiến Nói thành bài: Biết pháttriển một chủ đề đơn giản trước lớp, biết giới thiệu về lịch sử, văn hóa, về các

Trang 19

nhân vật tiêu biểu của địa phương với khách, thuật lại được một câu chuyện đãhọc hoặc một sự kiện đã biết; bước đầu có kĩ thay đổi ngôi kể.

+ Kỹ năng đọc:

Tốc độ đọc khoảng 120 tiếng/phút Đọc thành tiếng và đọc thầm: Biết cáchđọc phù hợp với các loại văn bản khác nhau (nghệ thuật, hành chính, khoa học,báo chí ) Biết đọc một màn kịch, hay một YỞ kịch ngắn có giọng đọc phù hợpvới nhân vật và tình huống kịch Biết đọc diễn cảm một bài thơ hoặc một đoạnvăn đã học, đọc thầm với tốc độ nhanh hơn lớp 4 Đọc hiểu: Biết tìm đại ý, tómtắt bài văn, chia đoạn, rút ra dàn ý của bài, nhận ra các mối quan hệ giữa các nhânvật, sự kiện trong bài Bước đầu biết đánh giá nhân vật, chi tiết và ngôn ngữ trongcác bài tập đọc có giá tn văn chương, hiểu các kí hiệu, các dạng viết tắt, các sốliệu trên sơ đồ, biểu đồ, bảng hiệu Kĩ năng phụ trợ: Biết dùng từ điển, biết ghichép các thông tin đã đọc, thuộc lòng một số bài văn vần và đoạn văn xuôi

Viết bài văn: Chuyển đoạn nói sang đoạn viết và ngược lại, biết làm dàn bài

và chuyển ý thành bài, biết cách tả cảnh, tả người; kể một câu chuyện đã làmhoặc chứng kiến; viết đơn từ biên bản, tự phát hiện và sửa một số lỗi trong bàivăn

* Trang bị các kiến thức cụ thể sau:

Từ vựng: Mở rộng vốn từ theo chủ điểm, biết nghĩa của một số yếu tố HánViệt thông dụng, một số thành ngữ Hiểu và bước đầu vận dụng được kiến thức

về nghĩa của từ (các hiện tượng đồng nghĩa, trái nghĩa, đồng âm, chuyển nghĩa)vào việc hiểu văn bản văn học và thực hành nói, viết Biết vận dụng các kiến thức

Trang 20

đã học về các biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa vào việc hiểu văn bản văn học

và thực hành nói, viết

về ngữ pháp: Nắm được đặc điểm và bước đầu sử dụng đại từ, quan hệ từ,nắm được cấu tạo của câu ghép và biết cách đặt câu ghép, hệ thống hóa kiến thức

về câu và dấu câu đã học

về văn bản: Biết cách đặt đầu đề cho văn bản, biết cách liên kết các câu vàđoạn văn trong văn bản

về văn học: Có hiểu biết về cách gieo vần, làm quen với một số trích đoạnkịch

2.1.2 Nội dung, chương ừình môn Tiếng Việt 5

Tới lớp 5 - lớp cuối cấp Tiểu học, các bài học có nội dung những vấn đề lớnđặt ra cho đất nước, dân tộc và toàn thể loài người như:

- Yêu Tổ quốc (Việt Nam - Tổ quốc em)

- Bảo vệ hòa bình, vun đắp tình hữu nghị giữa các dân tộc (cánh chim hòabình)

- Sống hài hòa với thiên nhiên, chinh phục thiên nhiên (Con người với thiênnhiên)

- Bảo vệ môi trường (Giữ lấy màu xanh)

- Chống bệnh tật, đói nghèo, lạc hậu (Vì hạnh phúc con người)

- Sống, làm việc theo pháp luật, xây dựng xã hội văn minh (Ngưòi côngdân)

- Bảo vệ an ninh, trật tự xã hội (Vì cuộc sống thanh bình)

- Giữ gìn và phát huy bản sắc, truyền thống dân tộc (Nhớ nguồn)

- Thực hiện bình đẳng nam nữ (Nam và nữ)

- Thực hiện quyền trẻ em (Những chủ nhân tương lai)

Các kĩ năng giao tiếp dạy ở các lớp cũng đòi hỏi cao dần về mức độ, chẳnghạn: Từ yêu càu đọc trơn nâng lên đọc thầm, rồi đọc lướt nắm ý; từ yêu cầu giao

Trang 21

tiếp thông thường nâng lên yêu cầu giao tiếp chính thức Yêu càu về từng phânmôn trong môn học Tiếng Việt được thể hiện rõ như sau:

- Phân môn Tập đọc: Rèn cho học sinh các kỹ năng đọc, nghe và nói Cũngnhư ở các lớp dưới, thông qua hệ thống bài đọc theo chủ điểm và những câu hỏitìm hiểu bài, phân môn Tập đọc cung cấp cho học sinh những hiểu biết về thiênnhiên, xã hội và con người, cung cấp vốn từ, tăng cường khả năng diễn đạt, trang

bị một số hiểu biết ban đầu về tác phẩm văn học (như đề tài, cốt truyện, nhânvật, ) và góp phần rèn luyện nhân cách cho học sinh Tuy vậy, các bài tập đọc ởlớp 5 có số lượng từ nhiều hơn, việc luyện đọc chú ý đến yêu cầu biểu cảm hơn,câu hỏi tìm hiểu bài chú trọng khai thác hàm ý và nghệ thuật biểu hiện nhiều hơn.Các văn bản mở đầu mỗi tuần thường là truyện kể hoặc kịch, các văn bản ở giữatuần thường là thơ, văn bản khoa học, văn bản miêu tả

- Phân môn Chính tả: Rèn các kỹ năng viết, nghe và đọc Nhiệm vụ của HSlàm các bài tập chính tả đoạn, bài (nghe - viết hoặc nhớ - viết một đoạn văn haybài văn ngắn), chính tả âm, vần (rèn cách viết đúng các âm, vàn dễ lẫn do ảnhhưởng của cách phát âm địa phương) và chính tả viết hoa (rèn cách viết đúng cáctên riêng) Bên cạnh tác dụng rèn kỹ năng viết, nghe và đọc, các bài tập chính tảcòn cung cấp cho học sinh vốn từ, vốn hiểu biết về các mảng khác nhau của đòisống Ở lớp 4-5 không còn hình thức chính tả tập chép (nhìn - viết); các bài tậpchính tả âm - vần cũng có đòi hỏi cao hơn

- Phân môn Luyện từ và câu: Cung cấp những kiến thức sơ giản về TiếngViệt và rèn kỹ năng dùng từ, đặt câu (nói, viết), kỹ năng đọc cho học sinh Cũngnhư chương trình ở lớp 4, ở lớp 5 có những tiết học dành riêng để trang bị kiếnthức cho học sinh

- Phân môn Ke chuyện: Rèn các kỹ năng nói, nghe và đọc Trong giờ kểchuyện ở lớp 4 - 5 , học sinh không kể lại những câu chuyện vừa được học trongbài tập đọc như ở lớp 2, lớp 3 nữa mà tập kể những câu chuyện được nghe thầy,

Trang 22

cô kể trên lớp hoặc được nghe, được đọc, được chứng kiến, được tham gia trongđòi sống hàng ngày phù họp vói chủ điểm mà các em đang học Các bài tập kểchuyện đã nghe, đã đọc ngoài giờ học và kể chuyện được chứng kiến, tham gia làhình thức khuyến khích học sinh đọc sách, phát triển óc quan sát và khả năng vậndụng những điều đã học vào đời sống, vừa đặt ra yêu cầu vừa tạo điều kiện chohọc sinh và nhà trường gắn bó với đời sống.

- Phân môn Tiếng Việt: Rèn cả 4 kỹ năng nghe, nói, viết và đọc Học sinhlớp 5 được dạy các kĩ năng kể chuyện, miêu tả người, cảnh vật Bên cạnh đó họcsinh còn được rèn kỹ năng thuyết trình, ừao đổi, làm báo cáo thống kê và nângcao các kĩ năng viết thư, điền vào giấy tờ in sẵn đã hình thành từ các lớp dưới

2.2 Khái quát về khách thể nghiên cứu

2.2.1 Kết quả học tập các môn

Lớp 5A1 có tổng số học sinh là 37 học sinh, trong đó có 18 HS nữ, 29 HSnam Nhìn chung, các môn học: Đạo đức, Khoa học, Địa lí, Lịch sử thì kết quảhọc tập của các em tương đối đồng đều Cụ thể: Môn đạo đức và môn địa lí có sốlượng học sinh giỏi bằng nhau là 75,6%; số học sinh khá - giỏi môn Khoa học là62,1% và số học sinh khá - giỏi môn Lịch sử là 40.5% số học sinh yếu kém ở cácmôn học này dao động từ 2 - 3 HS chiếm 5,4 - 8,1% Đặc biệt, trong hai mônToán, Tiếng việt được coi là trọng tâm của Tiểu học thì tôi thấy chất lượng họctập của học sinh trong hai môn này thấp hơn so với những môn học trên Cụ thể:Môn Toán số lượng học sinh khá — giỏi rất thấp chỉ có 16,2% (6HS); học sinhyếu - kém cao hơn 2 học sinh chiếm 24,3% Đối vói môn Tiếng Việt, học sinhkhá - giỏi tuy cao hơn môn Tiếng Việt, tuy nhiên số lượng vẫn thấp Học sinh khá

- giỏi chỉ có 13 học sinh tương với 35,1%; học sinh yếu - kém là 10,8% Có thểthấy, học sinh yếu - kém trong các môn vẫn còn tồn tại

2.2.2 Kết quả học tập môn Tiếng việt

Trang 23

Như đã trình bày ở trên, môn Tiếng Việt có số lượng học sinh khá - giỏitương đối thấp Cụ thể: Học sinh khá - giỏi chỉ có 35,1%; học sinh yếu - kémchiếm 10.8% (4HS); còn lại là học sinh trung bình cao nhất chiếm 54,1% (18HS).Môn Tiếng Việt bao gồm nhiều phân môn Tuy nhiên về chất lượng học ởcác phân môn này cũng chưa đồng đều nhau Cụ thể: Trong phân môn Tập đọc:56,8% học sinh khá - giỏi; phân môn Chính tả là 43% học sinh khá - giỏi; phânmôn Luyện từ và câu là 32,4% Trong đó, phân môn có số lượng học sinh khá -giỏi thấp nhất là Tập làm văn chỉ có 29,8% Qua theo dõi kết quả học tập từngphân môn, chúng tôi thấy số học sinh khá - giỏi trong hai phân môn Luyện từ vàcâu và Tập làm văn là tương đối thấp nhưng số học sinh yếu - kém lại cao nhất.

Có những học sinh chưa biết cách trình bày một bài tập làm văn, khi đặt câu chưa

có ý thức dấu câu và diễn đạt văn nói cũng như văn viết còn hạn chế Chính vìvậy, trong đề tài này tôi chỉ tập chung nghiên cứu các thao tác tư duy của họcsinh qua hai phân môn này

2.3 Thực trạng các thao tác tư duy qua tiết học bài mới

2.3.1 Thực trạng thao tác phân tích - tổng hợp

Đe kiểm ưa thực ttạng thao tác phân tích - tổng hợp của học sinh trong quá trình và sau khi học bài mới: “Câu ghép”, chúng tôi xây dựng thành hệ thống câu hỏi cho học sinh Tiến hành cụ thể như sau: a) Bài tập 1

Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:

Mỗi lần dời nhà đi, bao giờ con khỉ cũng nhảy phóc lên ngồi trên lưng conchó to Hễ con chó to đi chậm, con khỉ cấu hai tai chó giật giật Con chó chạy sảithì khỉ gò lưng như người phi ngựa Chó chạy thong thả, khỉ buông thõng hai tay,ngồi ngúc nga ngúc ngoắc

Câu hỏi 1 Đánh số thứ tự các câu ừong đoạn văn trên

Câu hỏi 2 Xác định chủ ngữ, vị ngữ ttong từng câu

Câu hỏi 3 Xác định câu ghép trong đoạn văn trên?

Trang 24

+ Chuẩn đánh giá:

- Mức độ 1 (Khá - giỏi): Học sinh hoàn thành được cả ba câu hỏi, phântích đầy đủ và tổng hợp lại để tìm ra được câu nào là câu ghép chínhxác, đầy đủ

- Mức độ 2 (Trung bình): Học sinh trả lời được các câu hỏi tuy nhiên khitổng họp lại ở câu số 3 thì những học sinh này vẫn cần đến câu hỏi gợi

ý của giáo viên

- Mức độ 3 (Yếu - kém): Học sinh không trả lời được hoặc làm sai ở câu hỏi 1 và 2 dẫn đến việc đưa ra kết quả sai ở câu hỏi cuối

■=> Qua bài tập trên, chúng tôi thu được kết quả như sau:

Bảng 1 Thực trạng thao tác phân tích - tổng họp của bài tập 1

Mức đô 1 ■ Mức đô 2 ■ Mức đô 3 •

SL Tỉ lệ % SL Tỉ lệ % SL Tỉ lệ %

Qua bảng số liệu trên cho thấy:

Có 29,8% học sinh lớp 5A1 trả lời đúng, đầy đủ và chi tiết các câu hỏi, có

sự giải thích rõ thể hiện các em nắm kiến thức khá chắc (đánh số thứ tự các cáccâu; xác định chủ ngữ, vị ngữ trong từng câu) Những học sinh này đã tổng họpđược câu nào là câu ghép Có được kết quả trên là do các em đã chú ý lắng nghe

cô giáo giảng bài trong tiết học của giáo viên (câu ghép là câu do nhiều cụm chủngữ - vị ngữ tạo thành) Ta có thể thấy, thao tác phân tích - tổng hợp ở những emhọc sinh này là khá tốt, các em đã biết phân tích từng câu hỏi trước và tổng họplại từ những gì có được để trả lời tốt ở câu hỏi cuối

Có 51,3% học sinh đạt mức 2 - Trung bình Đây là những học sinh trả lờiđược câu hỏi (1) và (2), tuy nhiên khi tổng hợp lại để tìm ra câu ghép trong nhữngcâu đã xác định thì các em vẫn còn cần đến sự gợi ý của giáo viên

Trang 25

Ví dụ: Học sinh Hiếu khi đã đánh được số thứ tự các trong đoạn văn và xácđịnh được chủ ngữ, vị ngữ trong các câu đó thì khi đến vói câu hỏi số 3 Hiếukhông tìm được đâu là câu ghép Giáo viên đã đưa ra thêm câu hỏi gợi ý cho Hiếunhư sau:

+Em hãy câu đơn, vậy Hiếu quan sát cho cô câu đơn có mấy cụm chủ ngữ

-vị nào? (Hiếu trả lời có một cụm chủ ngữ - -vị ngữ)

+ Câu đơn ta thấy có một cụm chủ ngữ - vị ngữ tạo thành và câu ghép làcâu có nhiều cụm chủ ngữ - vị ngữ tạo thành? Vậy Hiếu hãy xem cho cô cónhững câu nào có trên một cụm chủ ngữ - yị ngữ?

Từ sự gợi ý của giáo viên, Hiếu đã tìm ra được câu ghép:

- “Hễ con chó to đi chậm, con khỉ cấu hai tai chó giật giật”

- “Con chó chạy sải thì khỉ gò lưng như người phi ngựa”

- “ Chó chạy thong thả, khỉ buông thõng hai tay, ngồi ngúc nga ngúc ngoắc”Những học sinh đạt mức độ trung bình có khả năng phân tính tốt tuy nhiênnăng lực tổng hợp vẫn còn yếu thể hiện ở việc các em phân tích câu hỏi (1) và (2)khá tốt nhưng khi tổng hợp lại để trả lời cho câu hỏi(3) thì các em vẫn còn rấtlúng túng Vì vậy giáo viên cần quan tâm hướng dẫn để học sinh phát triển thaotác phân tích - tổng hợp một cách hoàn chỉnh hơn

Có 18,9 học sinh ở mức độ yếu - kém, đây là những học sinh ngay từ câuhỏi số (1) đã đánh sai số thứ tự câu trong đoạn văn để từ đó làm sai câu hỏi số (3)

Ví dụ: Em Linh khi đánh số thứ tự câu trong đoạn văn đã cho câu “Mỗi lầndời nhà đi” là một câu, tương tự như vậy cứ sau mỗi dấu “phẩy” Linh lại cho đó

là một câu Từ đó dẫn đến việc xác định sai chủ ngữ, vị ngữ và không thể tìmđúng câu ghép

b) Bài tập 2:

Biển luôn thay đổi tùy theo sắc mây trời Trời xanh thẳm, biển cũng thẳmxanh, như dâng cao lên, chắc nịch Trời rải mây trắng nhạt, biển mơ màng dịu hơi

Trang 26

sương Trời âm u mây mưa, biển xám xịt, nặng nề Trời ầm ầm dông tố, biển đụcngầu, giận dữ Biển nhiều khi rất đẹp, ai cũng thấy như thế Nhưng vẻ đẹp củabiển, vẻ đẹp kì diệu muôn màu sắc ấy phần lớn là do mây, trời và ánh sáng tạonên.

Theo Vũ Tú NamCâu hỏi 1 Tìm câu ghép trong đoạn văn trên

Câu hỏi 2 Xác định các vế trong câu trong từng câu ghép?

Câu hỏi 3 Có thể tách mỗi vế trong câu ghép vừa tìm được thành một câuđơn được không? Vì sao?

- Mức độ 3 (Yeu - kém): Học sinh không trả lời được hoặc làm sai ở câu hỏi

1 và 2 dẫn đến việc đưa ra kết quả sai ở câu hỏi cuối

■=> Qua bài tập trên, chúng tôi thu được kết quả như sau:

Bảng 2 Thực trạng thao tác phân tích - tổng họp của bài tập 2

Trang 27

“Không thể tách mỗi cụm chủ ngữ - vị ngữ trong các câu ghép nói trên thành mộtcâu đơn được” và các em cũng đã giải thích được YÌ sao có câu trả lời đó Trong

đó, có 2 - 3 HS trình bày tương đối tốt, có khoa học: Các em đã biết các dung dấugạch chéo”/” để tách các vế câu ghép Ví dụ bài làm của học sinh Đoàn Tuấn Vũnhư sau:

+ Các câu ghép trong đoạn văn trên là:

- Trời xanh thẳm,/ biển cũng thẳm xanh, như dâng cao lên, chắc nịch

- Trời rải mây trắng nhạt,/ biển mơ màng dịu hơi sương

- Trời âm u mây mưa,/ biển xám xịt, nặng nề

- Trời ầm ầm dông tố,/ biển đục ngầu, giận dữ

- Biển nhiều khi rất đẹp, /ai cũng thấy như thế

+ Không thể tách các vế trong các câu ghép trên thành một câu đơn đượcvì: Tuy mỗi vế của các câu ghép ừên đều là một câu đơn nhưng mỗi vếcủa câu ghép ấy lại diễn tả những ý có quan hệ mật thiết vớiý của vế câu cònlại

Nếu tách mối vế thành một câu đơn thì sẽ tạo nên chuỗi câu rời rạc, khônggắn kết nhau về mặt nghĩa

Ví dụ: Ở câu: “Trời âm u mây mưa, biển xám xịt, nặng nề”, ta thấy khi bầutrời xuất hiện những cơn mưa thì khoảng không gian lúc đó mới trở nên u tối Vìvậy mà biển cũng không được xanh trong, tĩnh lặng như lúc cơn mưa chưa tới

Có 40,5% học sinh trung bình trong bài tập này Đây là những học sinh đãtìm được câu ghép, phân tích và tìm ra được các vế của câu ghép Tuy nhiên,những học sinh này đưa ra câu ừả lời cho câu hỏi số (3) thì các em chưa giải thíchđược vì sao? Chứng tỏ những học sinh này có nhiều khả năng các em đoán mòcâu trả lời hoặc phụ thuộc vào sách giáo khoa (trình bày về đặc điểm của câughép) Điều này cho thấy, năng lực phân tích - tổng hợp của các em vẫn còn yếu,thể hiện trong việc các em không phân tích được mối quan hệ giữa các vế trong

Trang 28

câu ghép nên không đưa ra được có nên tách các vế trong câu ghép thành một câuđơn hay không.

Có 27,1% học sinh yếu kém, học sinh không đưa ra được câu trả lời chocâu hỏi (3) vì đã trả lời, phân tích sai các câu ghép trên 2 câu hỏi đàu tiên Đây lànhững học sinh mà giáo viên càn quan tâm, chú ý để giúp các em phát triển cáctác phân tích - tổng họp để các em làm bài có hiệu quả nhất

+ Chúng tôi tiến hành như sau:

- Giáo viên hướng dẫn học sinh hiểu bài mới: Thế nào là câu ghép?

- Sau khi nắm được định nghĩa, đặc điểm của câu ghép, giáo viên cho học sinh so sánh giữa hai kiểu câu: Câu đơn và câu ghép

+ Chuẩn đánh giá:

- Mức độ 1 (Khá - giỏi): Học sinh đưa ra được câu trả lờiđầy đủ và

chính xác dựa trên những kiến thức giáo viên đã truyền đạt

- Mức độ 2 (Trung bình): Học sinh so sánh được hai kiểu câu trên tuynhiên vẫn cần đến sự giúp đỡ của giáo viên

- Mức độ 3 (Yếu - kém): Học sinh không đưa ra được câu trả lời, khi cóthêm những câu hỏi gợi ý, dẫn dắt của giáo viên vẫn không trả lời đượchoặc có trả lời nhưng thiếu sót nhiều

+ Chúng tôi thu được kết quả như sau:

Bảng 3 Thực trạng thao tác so sánh của bài tập 1

Trang 29

18 48,6 17 46 2 5,4

Học sinh khá - giỏi có số lượng là 48,6%: những học sinh này đưa ra đượccâu trả lời chính xác, đầy đủ mặc dù diễn đạt còn lúng túng, thiếu sót

Ví dụ: Em Nguyễn Ngọc Lan trình bày câu trả lời như sau:

+ Câu đơn: Là câu chỉ có một vế câu và thường có một chủ ngữ, một vịngữ

+ Câu ghép: Là câu thường có hai vế câu trở lên và câu ghép bắt buộc phải

- vị ngữ tạo thành?” Từ đây, học sinh đã tìm ra thêm một đặc điểm khác nữagiữa hai kiểu câu này và hoàn thành câu trả lời của mình chính xác

số học sinh ở mức yếu - kém chiếm tỉ lệ thấp 5,4% Đây là 2 học sinh cá biệt trong lớp, mặc dù giáo viên đã đưa ra những câu hỏi gợi ý như trên nhưng các em vẫn không nắm bắt được, không chọn ra được những đặc điểm khác nhau giữa hai kiểu câu này b) Bài tập 2

+ Tiết học Luyện từ và câu: Nối các vế câu ghép bằng quan hệ từ (trang 21, Tiếng việt 5, tập 2)

Đọc đoạn văn sau:

Trong hiệu cắt tóc, anh công nhân I-va-nốp đang chờ tới lượt mình thì cửaphòng lại mở, một người nữa tiến vào Một lát sau, I-va-nốp đứng dậy nói:

“Đồng chí Lê-nin, giờ đã đến lượt tôi Tuy đồng chí không muốn làm mất trật tựnhưng tôi có quyền nhường chỗ và đổi chỗ cho đồng chí Đó là quyền của tôi

Trang 30

Mọi người đều cho là I-va-nốp nói rất đúng Lê-nin không tiện từ chối, đồng chí cảm ơn I-va-nốp và ngồi vào ghế cắt tóc.

Theo Hồ Lăng+ Ở bài tập này, chúng tôi tiến hành trên phiếu bài tập, tiến hành như sau:-Bước 1: Cho học sinh tìm câu ghép ừong đoạn văn, sau đó yêu cầu học sinh xác định từng vế trong từng câu ghép

-Bước 2: Yều cầu học sinh xác định các tò nối của câu ghép

-Bước 3: Giáo viên hỏi học sinh: Các cách nối trong câu ghép đó có gì khácnhau?

- Mức độ 3 (yếu - kém): Học sinh không đưa ra được câu trả lời +

Chúng tôi thu được kết quả như sau:

Bảng 4 Thực trạng thao tác so sánh của bài tập 2

Qua bảng số liệu trên cho thấy khi đến với bài tập 2, số học sinh khá - giỏi

và học sinh yếu - kém đã giảm đi so với bài tập 1 Cụ thể:

Có 43,2% học sinh đạt mức khá - giỏi, các em đã biết làm theo hướng dẫncủa giáo viên và tìm ra những điểm giống nhau và khác nhau chung nhất giữa

Trang 31

cách nối vế câu ghép trong các câu tìm được Hơn thế, những học sinh này đãbiết khái quát thành đặc điểm chung nhất để đưa ra câu trả lời.

Ví dụ: Em Phạm Thị Hải Yến làm bài như sau:

Có 3 câu ghép trong đoạn văn trên:

+ Câu 1: Anh công nhân I-va-nốp đang chờ tới lượt mình /thì cửa phòng lạimở_,_/ một người nữa tiến vào

+ Câu 2: Tuy đồng chí không muốn làm mất trật tự /nhưng tôi có quyềnnhường chỗ và đổi chỗ cho đồng chí

+ Câu 3: Lê-nin không tiện từ chối_,_/ đồng chí cảm ơn I-va-nốp và ngồivào ghế cắt tóc

Em thấy:

+ Câu 1 và câu 2 các vế câu ghép được nối với nhau bằng quan hệ tò (thì) ,cặp quan hệ từ ( Tuy - nhưng) hoặc dùng dấu phẩy để nối trực tiếp

+ Câu 3: Chỉ sử dụng các nối trực tiếp là dùng dấu phẩy

Đây là cách làm của hàu hết các bạn đạt mức khá - giỏi, thể hiện các emnắm kiến thức rất tốt khi thâu tóm lại các từ nối hay cặp từ nối bằng cách trả lời

đó là quan hệ từ hoặc cặp quan hệ từ Hơn nữa, Yến có cách trình bày bài khoahọc thể hiện ở việc em dùng dấu gạch chéo(/) để tách các vế câu ghép và

dùng dấu gạch chân ( _) để đánh dấu từ nối ừong câu ghép Điều này đãgiúp những học sinh này có thao tác so sánh, tìm điểm khác biệt giữa các cáchnối của câu ghép được hiệu quả và chính xác nhất

Có tới 54% học sinh ở mức độ trung bình, nhìn chung các em đã biết suynghĩ và tìm ra được các điểm khác nhau giữa các cách nối ừong câu ghép Tuynhiên, những học sinh này chưa biết cách làm thế nào để đưa ra câu trả lời cụ thểnhưng vẫn đầy đủ như những học sinh ở mức độ khá - giỏi

Chỉ có 1 học sinh không làm được bài tập này, đây là học sinh theo nhưgiáo viên chủ nhiệm cho chúng tôi biết thì em học sinh này có ý thức học tập ừên

Trang 32

lớp không được tích cực như các bạn khác, không chịu suy nghĩ và không có nhucầu giải quyết bài tập giáo viên giao cho Chính vì vậy, khi có bài tập học sinhnày không vận dụng được thao tác làm bài vào để giả quyết bài tập của mình.

2.3.3 Thực trạng thao tác trừu tượng hóa và khái quát hóa

Để đo thực trạng thao tác này, chúng tôi tiến hành xây dựng hai bài tậpừong tiết học bài mới và được đánh giá theo mức độ sau:

Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:

Mỗi lần dời nhà đi, bao giờ con khỉ cũng nhảy phóc lên ngồi trên lưng conchó to Hễ con chó to đi chậm, con khỉ cấu hai tai chó giật giật Con chó chạy sảithì khỉ gò lưng như người phi ngựa Chó chạy thong thả, khỉ buông thõng hai tay,ngồi ngúc nga ngúc ngoắc

Đoàn GiỏiCâu hỏi 1 Đánh số thứ tự các câu trong đoạn văn trên Xác định chủ ngữ, vịngữ trong từng câu

Câu hỏi 2 Xác định chủ ngữ, vị ngữ trong từng câu

Trang 33

Câu hỏi 3: Có thể tách mỗi cụm chủ ngữ - vị ngữ trong các câu ghép nóitrên thành một câu đơn được không? Vì sao?

■=> Giáo viên hỏi: Theo em thế nào là câu ghép?

+ Chúng tôi thu được kết quả sau:

Bảng 5 Thực trạng thao tác trừu tượng hóa và khái quát hóa

Có 81,1% số lượng học sinh khá - giỏi, những học sinh này hoàn thành cáccâu hỏi gợi mở trước đó một cách nhanh chóng và khi nêu định nghĩa về câughép thì các em đã biết đưa ra câu trả lời một cách khái quát nhất, đầy đủ nhất:

“Câu ghép là câu do nhiều vế câu ghép lại Mỗi vế câu ghép thường có cấu tạpgiống một câu đơn (có đủ chủ ngữ , vị ngữ) và thể hiện một ý có quan hệ mậtthiết với ý của những vế câu khác”

Có 16,1% học sinh đạt mức trung bình, mặc dù những học sinh này cũnghoàn thành các câu hỏi gợi mở tương đối tốt nhưng khi trả lời: “Thế nào là câughép” các em chỉ đưa ra được câu trả lời chung chung, chưa được khái quát, cụthể

Ví dụ: Em Bùi Huy Đương khi đưa ra câu trả lời như sau: “Câu ghép là câu

có hai, ba hay nhiều hơn ba vế câu ghép lại”

Trang 34

Câu ừả lời ừên không sai, tuy nhiên nếu Đương biết cách khái quát các từ

“hai, ba” thành từ “nhiều” thì câu trả lời sẽ cụ thể hơn Và Đương cũng chưa đưađược mối quan hệ của các vế trong câu ghép

Có duy nhất 1 học sinh không đưa ra câu trả lời, vốn kiến thức cũ không nắm chắc nên không vận dụng vào bài tập để thực hiện các thao tác vào giải quyết bài tập trên b) Bài tập 2

Tiết học: Cách nối các vế câu ghép (tuần 19, Tiếng việt 5, tập 2)

Ở bài tập này, giáo viên đưa ra các câu hỏi từ đó dẫn dắt học sinh để trả lờicho câu hỏi chính: Có mấy cách nối các vế câu ghép? Cụ thể được tiến hành nhưsau:

Đọc những câu ghép dưới đây:

a) Súng kíp của ta mới bắn một phát thì súng kíp của họ đã bắn được năm,sáu mươi phát Quân ta lạy súng thần công bốn lạy rồi mói bắn, trong khi đại báccủa họ đã bắn được hai mươi viên

b) Cảnh tượng xung quanh tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đihọc

с)Kia là những mái nhà đứng sau lũy tre; đây là mái đình cong cong; kianữa là sân phơi

Câu hỏi 1: Tìm các vế câu trong mỗi câu ghép

Câu hỏi 2: Ranh giới giữa các vế câu được đánh dấu bằng những từ hoặcnhững dấu câu nào?

Câu hỏi 3: Vậy có mấy cách nối vế câu trong câu ghép?

■=> Chúng tôi thu được kết quả sau:

Bảng 6 Thực trạng thao tác trừu tượng hóa và khái quát hóa

của bài tập 2

Trang 35

8 21,6 19 51,3 7 18,9

Bảng số liệu trên cho thấy: Có 21,6% học sinh khá - giỏi hoàn thành bài tậpđầy đủ, chính xác Biết cách thâu tóm những ý chính, những yếu tố cần thiết đểđưa ra câu trả lời cuối cùng cho câu hỏi số 3: Có hai cách nối vế câu trong câughép là: Nối trực tiếp và nối bằng những từ có tác dụng nối

Cụ thể như sau: Những học sinh này đã biết tìm các vế trong câu ghép vàxác định được ranh giới giữa vế câu của các câu ghép đó như sau:

- Câu a gồm 2 câu ghép

+ Câu thứ nhất “Súng kíp của ta mới bắn một phát thì súng kíp của họ đãbắn được năm, sáu mươi phát” gồm 2 vế câu được nối với nhau bằng tò “thì”.+ Câu ghép thứ 2 “Quân ta lạy súng thần công bốn lạy rồi mới bắn, ừongkhi đại bác của họ đã bắn được hai mươi viên” có 2 vế câu được nối với nhaubằng dấu “phẩy”

- Câu b gồm 2 vế câu được nối với nhau bằng dấu hai chấm (: )

- Câu c gồm 3 vế câu được nối với nhau bằng dấu chấm phẩy (;)

Sau đó, học sinh nhận thấy những câu dùng các dấu câu như dấu phẩy, dấuhai chấm hay dấu chấm phẩy để nối các vế câu lại với nhau thì cho vào mộtnhóm: “cách nối trực tiếp” Còn câu ghép dùng từ “thì” để nối cho vào một nhómgọi là “nối bằng từ có tác dụng nối”

Có 51,3% học sinh đạt mức trung bình, đây là những học sinh hoàn thànhcâu hỏi (1) (2) khá tốt tuy nhiên chưa biết cách thâu tóm hay dùng những từ ngữbao hàm để thể hiện cụ thể về các cách nối của câu hỏi số (3)

Ví dụ: Các em chỉ nói rằng: Có hai cách nối vế câu trong câu ghép là:

- Nối bằng tò “thì”

- Nối bằng các dấu câu

Trang 36

Có 18,9% học sinh ở mức yếu - kém, khả năng phân tích của những họcsinh này tương còn yếu cho nên khi phân tích những câu trên thì các em vẫn cònlúng túng và làm rất chậm, việc xác định ranh giới các vế câu của câu ghép cònlàm sai Chính vì thế, không khái quát được các đặc điểm của những ranh giới đócủa câu ghép như nào nên không thể đưa ra các cách nối vế câu trong câu ghép.

2.4 Thực trạng các thao tác tư duy qua tiết học thực hành

2.4.1 Thực trạng thao tác phân tích tổng hợp

a) Bài tập 1

+ Tiết học : Luyện từ và câu Các vế câu ghép dưới đây

được nối với nhau bằng cách nào?

a) Mặc dù nhà Lan xa nhưng Lan không bao giờ đi học muộn

b) Vì tôi đạt danh hiệu “học sinh xuất sắc” nên bố mẹ thưởng cho tôiđược đi tắm biển sầm Sơn

c)Không những trẻ con rất thích bộ phim Tây du kí mà người lớn cũng rấtthích

d) Hễ hươu đến uống nước thì rùa lại nổi lên

+ Cách tiến hành: Giáo viên phát phiếu bài tập có chứa bài tập 1 cho mỗi học sinh Thời gian làm bài của học sinh là 10 phút

+ Chuẩn đánh giá:

- Mức độ 1 (khá - giỏi): Học sinh phân tích, tìm ra được các từ, cặp từ nốigiữ các vế câu để từ đó đưa ra kết luận chính xác, làm bài trong thời gianngắn

- Mức độ 2 (trung bình): Đưa ra được kết quả tuy nhiên trong quá trình làmbài vẫn còn nhầm lẫn, lúng túng và gạch xóa nhiều

- Mức độ 3 (yếu - kém): Không hoàn thành bài tập trong thòi gian quy định.+ Qua kết quả làm bài của học sinh, tôi thu được bảng số liệu sau:

Bảng 7 Thực trạng thao tác phân tích - tổng họp của bài tập 1

Ngày đăng: 05/11/2015, 14:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê A, Thành Thị Yên Mĩ, Lê Phương Nga, Nguyễn Trí, Cao Đức Tiến (1998), Phương pháp dạy học Tiếng Việt - tập 1, XXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
Tác giả: Lê A, Thành Thị Yên Mĩ, Lê Phương Nga, Nguyễn Trí, Cao Đức Tiến
Năm: 1998
2. Phạm Minh Hạc (chủ biên) (1989), Tâm lí học - tập 1 +2, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học
Tác giả: Phạm Minh Hạc (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1989
3. Đặng Vũ Hoạt, Phó Đức Hòa (1997), Giáo trình giáo dục học Tiểu học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình giáo dục học Tiểu học
Tác giả: Đặng Vũ Hoạt, Phó Đức Hòa
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
4. Nguyễn Hữu Hợp (2013), Lí luận dạy học Tiểu học, NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận dạy học Tiểu học
Tác giả: Nguyễn Hữu Hợp
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2013
5. Dương Diệu Hoa (chủ biên) (2008), Giáo trình Tâm lí học phát triển, NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tâm lí học phát triển
Tác giả: Dương Diệu Hoa (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2008
6. Bùi Văn Huệ, Phan Thị Hạnh Mai, Nguyễn Xuân Thức (2008), Giáo trình Tâm lí học Tiểu học, NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học Tiểu học
Tác giả: Bùi Văn Huệ, Phan Thị Hạnh Mai, Nguyễn Xuân Thức
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2008
7. Vũ Thị (1999), Tâm lí học phát triển, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học phát triển
Tác giả: Vũ Thị
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 1999
8. Trần Trọng Thủy (chủ biên) (1998), Tâm lí học, Giáo trình đào tạo giáo viên Tiểu học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học, Giáo trình đào tạo giáo viên Tiểu học
Tác giả: Trần Trọng Thủy (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
9. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên) (2008), Hỏi - đáp về dạy học Tiếng Việt 5, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi - đáp về dạy học Tiếng Việt 5
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
10. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên) (2008), Tiếng Việt 5, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt 5
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
12. Nguyễn Quang uẩn (chủ biên) (2001), Tâm lí học đại cương, NXB ĐHSP 13. Nguyễn Quang uẩn (chủ biên) (2005), Tâm lí học, tài liệu đào tạo giáo viênTiểu học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học đại cương," NXB ĐHSP13.Nguyễn Quang uẩn (chủ biên) (2005), "Tâm lí học, tài liệu đào tạo giáo viên "Tiểu học
Tác giả: Nguyễn Quang uẩn (chủ biên) (2001), Tâm lí học đại cương, NXB ĐHSP 13. Nguyễn Quang uẩn (chủ biên)
Nhà XB: NXB ĐHSP13.Nguyễn Quang uẩn (chủ biên) (2005)
Năm: 2005
11. Nguyễn Trí (2002), Dạy và học môn Tiếng Việt ở Tiểu học theo chương trình mới, NXB Giáo dục Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4. Thực trạng thao tác so sánh của bài tập 2 - Khoá luận tốt nghiệpthực trạng các thao tác tư duy của học sinh lớp 5 qua môn tiếng việt
Bảng 4. Thực trạng thao tác so sánh của bài tập 2 (Trang 28)
Bảng số liệu trên cho thấy: Có 21,6% học sinh khá - giỏi hoàn thành bài tập  đầy đủ, chính xác - Khoá luận tốt nghiệpthực trạng các thao tác tư duy của học sinh lớp 5 qua môn tiếng việt
Bảng s ố liệu trên cho thấy: Có 21,6% học sinh khá - giỏi hoàn thành bài tập đầy đủ, chính xác (Trang 33)
Bảng 9. Thực trạng thao tác trừu tượng hóa và khái quát hóa - Khoá luận tốt nghiệpthực trạng các thao tác tư duy của học sinh lớp 5 qua môn tiếng việt
Bảng 9. Thực trạng thao tác trừu tượng hóa và khái quát hóa (Trang 38)
Bảng 11. Thực trạng thao tác so sánh của bài tập 1 - Khoá luận tốt nghiệpthực trạng các thao tác tư duy của học sinh lớp 5 qua môn tiếng việt
Bảng 11. Thực trạng thao tác so sánh của bài tập 1 (Trang 42)
Bảng 12. Thực trạng thao tác so sánh của bài tập 2 - Khoá luận tốt nghiệpthực trạng các thao tác tư duy của học sinh lớp 5 qua môn tiếng việt
Bảng 12. Thực trạng thao tác so sánh của bài tập 2 (Trang 44)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w