Tại Việt Nam phẫu thuật bong võng mạc đã được thực hiện từ năm1960,ban đầu chỉ là kỹ thuật hàn vết rách bằng lạnh đông kết hợp ấn độn củng mạc,sau đó khoảng hơn 10 năm trở lại đây các kỹ
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Bong võng mạc là một bệnh cấp cứu trong nhãn khoa, nó là bệnh lýphức tạp và nặng nề, là một trong những nguyên nhân gây mất thị lực trầmtrọng dẫn đến mù lòa cho bệnh nhân Dựa theo phương pháp điều `trị, bongvõng mạc thường được chia làm hai loại chính: Bong võng mạc nội khoa(Bong võng mạc xuất tiết hay là bong võng mạc thanh dịch) và bong võngmạc ngoại khoa
Bong võng mạc ngoại khoa được chia thành: Bong võng mạc nguyênphát (Bong võng mạc có vết rách); Bong võng mạc do co kéo; Bong võngmạc phối hợp giữa co kéo và có vết rách, trong đó co kéo là yếu tố có trước;rách võng mạc thường xuất hiện thứ phát sau yếu tố co kéo Bong võng mạcsau chấn thương là bong võng mạc ngoại khoa Các hình thái bong võng mạcngoại khoa đều có thể gặp sau chấn thương
Theo các tác giả nghiên cứu trước đây, bong võng mạc sau chấn thươngchiếm 10-30% các trường hợp bong võng mạc nói chung [1],[2],[3]
Tại Việt Nam phẫu thuật bong võng mạc đã được thực hiện từ năm1960,ban đầu chỉ là kỹ thuật hàn vết rách bằng lạnh đông kết hợp ấn độn củng mạc,sau đó khoảng hơn 10 năm trở lại đây các kỹ thuật cắt dịch kính kèm ấn độncủng mạc, bơm khí nở hoặc dầu silicon nội nhãn [4], [5], [6], [7] đã chonhững kết quả khả quan về giải phẫu cũng như chức năng
Xuất huyết dịch kính là yếu tố hàng đầu gây thất bại cho các phẫu thuậtviên bong võng mạc [8], tác giả cho rằng khi đã có xuất huyết dịch kính thìnguy cơ tăng sinh dịch kính võng mạc, điều đó có nghĩa là sẽ tăng nguy cơbong võng mạc và làm cho việc điều trị cũng khó khăn hơn rất nhiều và đồngthời bong võng mạc tái phát tăng theo
Trang 2Thị lực trước mổ kém biểu hiện một chấn thương nhãn cầu nặng và đikèm với các tổn thương phối hợp khác như: xuất huyết dịch kính, bong võngmạc rộng, đã qua hoàng điểm kéo dài… không chỉ gây ảnh hưởng rất lớn đếnkết quả thị lực mà còn cả kết quả giải phẫu [9] Mặc dù đã được tiến hành từlâu, nhưng bong võng mạc do chấn thương vẫn có những hạn chế về kết quảđiều trị, do rất nhiều yếu tố: co kéo của dịch kính tăng sinh gây bong võngmạc tái phát, bong võng mạc qua hoàng điểm, thời gian bong võng mạc [10].
Để góp phần đánh giá kết quả lâu dài điều trị bong võng mạc do chấn thương,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá kết quả lâu dài điều trị
bong võng mạc do chấn thương tại Bệnh viện Mắt Trung Ương từ năm
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Bong võng mạc do chấn thương
1.1.1 Khái niệm:
Bong võng mạc là tình trạng bệnh lý hay gặp sau chấn thương Tùy theoCTĐD nhãn cầu hay VTX nhãn cầu, bong võng mạc sẽ xảy ra theo các cơ chếkhác nhau Tuy nhiên, dù theo cơ chế nào bong võng mạc chỉ xuất hiện nhờ
sự góp mặt của các tác nhân sau:
Các tác nhân dịch kính
Các tác nhân hắc - võng mạc
Các vết rách võng mạc
Yếu tố cơ học
1.1.2 Cơ chế bong võng mạc do chấn thương
Bong võng mạc xuất hiện sau chấn thương đụng giập nhãn cầu được ghinhận lần đầu tiên bởi Cooper (1859) Sau đó, rất nhiều báo cáo lâm sàng chothấy, tỷ lệ bong võng mạc có tiền sử chấn thương dao động từ 10-30% cáctrường hợp bong võng mạc nói chung [1], [2], [3] Rất nhiều các giả thiết đãđược đề ra và các thực nghiệm lâm sàng đã được tiến hành để chứng minhcho các giả thiết này
Từ các nghiên cứu thực nghiệm và lâm sàng, chúng ta có thể thấy bongvõng mạc sau chấn thương đụng giập nhãn cầu xuất hiện chủ yếu theo các cơchế sau:
Trang 4Hình 1.1: Sơ đồ cơ chế bong võng mạc do chấn thương
1.1.3 Đặc điểm lâm sàng của bong võng mạc do chấn thương
1.1.3.1 Bong võng mạc sau chấn thương đụng dập nhãn cầu
Bong võng mạc do đứt chân võng mạc
Thường xuất hiện ngay lập tức sau chấn thương nhưng lại tiến triển âm ỉ,không có triệu chứng gì trong giai đoạn đầu và chỉ được phát hiện sau đónhiều tuần hay nhiều tháng Thăm khám lâm sàng có thể phát hiện các dấuhiệu của bong võng mạc mãn tính kèm theo các dấu hiệu của CTĐD nhãn cầunhư nhổ nền dịch kính… Khoảng 75% các rách võng mạc sau CTĐD nhãncầu là Đứt chân võng mạcvà khoảng 56% các trường hợp đứt chân võng mạcphía thái dương dưới cũng như 87% các trường hợp đứt chân võng mạc phíamũi trên là do CTĐD nhãn cầu [11]
lỏng-Vết thương
VM Co kéo Cầu dính
Đứt chân võng mạc
Trang 5Hình 1.2 Hình ảnh đứt chân võng
mạc- SNEC.Com
Bong võng mạc do rách võng mạc khổng lồ
Tương tự như đứt chân võng mạc do chấn thương, rách võng mạc khổng
lồ sau CTĐD nhãn cầu cũng thường xuất hiện ở góc phần tư thái dương dướihay phía mũi trên Cận thị nặng sẽ làm tăng nguy cơ xuất hiện rách võng mạckhổng lồ sau chấn thương Rách võng mạc khổng lồ sau CTĐD nhãn cầu cóthể đi kèm nhổ nền dịch kính hoặc xuất hiện dọc theo bờ sau của một vùngsẹo hắc võng mạc lớn đặc biệt ở các mắt có hoại tử võng mạc cấp [12] Bongvõng mạc do rách khổng lồ sau CTĐD nhãn cầu thường xuất hiện sớm trongvòng một tháng sau chấn thương Ngược lại với đứt chân võng mạc, ráchvõng mạc khổng lồ thường đi kèm bong dịch kính sau hoàn toàn với bờ trướccủa rách dính với dịch kính để lại một bờ sau tương đối tự do[13]
Bong võng mạc do các rách võng mạc ở vùng xích đạo
Rách võng mạc ở vùng xích đạo thường xuất hiện trên một nền võngmạc bong võng mạc do rách hình móng ngựa gặp trong khoảng 11% bongvõng mạc chấn thương nói chung Bong võng mạc thường tiến triển nhanh dodịch kính thường vẫn dính ở đầu vạt rách làm cho rách võng mạc luôn mở, tạođiều kiện cho dịch chui xuống khoang dưới võng mạc Ở hình thái bong võngmạc do các rách võng mạc có nắp và do các lỗ võng mạc thoái hóa, do các lực
co kéo của dịch kính lên võng mạc đã hoàn toàn được giải phóng, nguy cơ gâybong võng mạc của rách có nắp ít hơn hẳn so với rách hình móng ngựa trừ phi
có tồn tại một co kéo dịch kính-võng mạc ở gần đấy [11]
Trang 6 Bong võng mạc có kèm theo xuất huyết dịch kính dày đặc
Chẩn đoán xác định rách võng mạc hoặc bong võng mạc trong cáctrường hợp có xuất huyết dịch kính dày đặc này chủ yếu phụ thuộc và siêu âm
B [15] Tuy nhiên, tỷ lệ rách võng mạc chỉ được phát hiện bằng siêu âm trongkhoảng 44% theo nghiên cứu của Rabinowitz (2004) [16] Kết hợp giữa siêu
âm và lâm sàng, tỷ lệ phát hiện rách võng mạc trước phẫu thuật cũng chỉ đạt53,7%, 46,3% còn lại chỉ được phát hiện trong quá trình phẫu thuật cắt dịch
Trang 7kính Điều trị bong võng mạc kèm theo xuất huyết dịch kính dày đặc sau chấnthương chủ yếu bằng cắt dịch kính Xuất huyết dịch kính tồn tại trước phẫuthuật điều trị bong võng mạc là nguy cơ gây tăng sinh dịch kính võng mạc sauphẫu thuật.
Hình 1.4 Hình ảnh xuất huyết dịch kính - vnio.vn
1.1.3.2 Bong võng mạc sau vết thương xuyên nhãn cầu
Bong võng mạc do tăng sinh dịch kính - võng mạc:
Theo Cox, tăng sinh dịch kính võng là nguyên nhân chủ yếu gây bongvõng mạc sau VTX nhãn cầu [17] Khoảng 2-3 tuần sau chấn thương, các dâychằng và các màng tăng sinh xơ bắt đầu xuất hiện tại vị trí VTX củng mạc cókẹt dịch kính và phát triển dày lên, tỏa ra thành hình nan quạt co kéo võngmạc chu biên ở phía đối diện hoặc lân cận làm hình thành một đứt chân võngmạc chạy song song với vùng nền của dịch kính hoặc gây bong võng mạc chubiên tại vị trí tương ứng
Bong võng mạc có kẹt dịch kính-võng mạc vào mép vết thương củng mạc:
Kẹt dịch kính vào mép VTX nhãn cầu là một biến chứng thường gặpnếu xử trí cấp cứu không tốt VTX nhãn cầu Quá trình làm sẹo của vết thươnglôi kéo các tế bào xơ phát triển vào phía trong nhãn cầu Ngay cả khi quá trìnhlàm sẹo đã tự giới hạn, sẹo sâu hình thành liên quan đến toàn bộ chiều dàycủa võng mạc Sẹo co kéo tỏa ra thành các tia xung quanh vị trí vết thương
Trang 8võng mạc và có thể lan đi rất xa, gây giảm thị lực trầm trọng Nếu sẹo tiếp tụcphát triển, quá trình Tăng sinh dịch kính võng mạc điển hình xuất hiện, co kéo
và gây bong võng mạc Đây là hình thái rất nặng của bong võng mạc do chấnthương Tiên lượng về mặt chức năng của bệnh nhân sau phẫu thuật cũngthường không tốt [11]
Bong võng mạc kèm theo viêm mủ nội nhãn sau chấn thương
Bong võng mạc có rách là biến chứng thường gặp nhất của viêm mủ nôinhãn sau VTX Bong võng mạc có thể đồng thời xuất hiện cùng với viêm mủnôi nhãn do VTX nhãn cầu, cũng có thể hoặc xuất hiện ngay sau khi viêm mủnôi nhãn được điều trị bằng cắt dịch kính [18] Theo Krause, tỷ lệ bong võngmạc sau viêm mủ nôi nhãn là 14% [19] Nghiên cứu của Azad và cộng sự [16],
ở nhóm được điều trị bằng cắt dịch kính kèm theo ấn độn nội nhãn bằng dầusilicon, tỷ lệ rách võng mạc thấy trong quá trình phẫu thuật là 50%, trong khi ởnhóm không được ấn độn nội nhãn bằng dầu silicon, 33,3% xuất hiện bong võngmạc ngay lập tức sau phẫu thuật Số bệnh nhân bong võng mạc này mặc dùđược phẫu thuật lại ngay sau đó kèm theo ấn độn nội nhãn bằng dầu silicon,bong võng mạc co kéo do tăn sinh dịch kính võng mạc vẫn xuất hiện trong 25%các trường hợp và không có khả năng phẫu thuật điều trị Chẩn đoán xác địnhbong võng mạc có kèm viêm mủ nội nhãn sau VTX nhãn cầu cũng chủ yếu dựavào siêu âm B
1.2 Điều trị bong võng mạc do chấn thương
Cùng với sự ra đời của phẫu thuật cắt dịch kính kín, nhiều hình thái củabong võng mạc, đặc biệt là một số hình thái của bong võng mạc sau chấnthương mà không thể điều trị khỏi bằng kỹ thuật mổ đai/độn củng mạc đơnthuần đã được chữa khỏi (bong võng mạc có rách khổng lồ, bong võng mạc
do tăng sinh dịch kính võng mạc trầm trọng…) Nhờ đó, tỷ lệ thành công vềmặt giải phẫu của phẫu thuật điều trị bong võng mạc sau chấn thương ngàycàng được cải thiện, tuy nhiên tỷ lệ thành công về mặt giải phẫu để đạt đượcthị lực lớn hơn 2/10 vẫn còn là một thách thức [11], [12], [20].
Trang 9Cùng với sự phát triển về mặt kỹ thuật của phẫu thuật dịch kính - võngmạc, các vật liệu hỗ trợ cho quá trình phẫu thuật như khí nở, dầu silicon nộinhãn, dịch nặng góp phần không nhỏ cho sự thành công của phẫu thuật điềutrị bong võng mạc do chấn thương Sau khi đã giải phóng các co kéo và khéplại các vết rách võng mạc là nguyên nhân gây bong võng mạc, cần duy trì cácvết rách võng mạc này luôn đóng trong giai đoạn chờ vết rách võng mạc làmsẹo vững chắc Để làm sẹo vết rách võng mạc, có thể áp lạnh đông hoặc laserbao quanh vết rách võng mạc Tuy nhiên, laser thường được lựa chọn do ítgây phá hủy hàng rào máu võng mạc và giải phóng các tế bào biểu mô sắc tốvào buồng dịch kính-là nguyên nhân hàng đầu kích thích tăng sinh dịch kínhvõng mạc, đặc biệt trong các trường hợp sau chấn thương [16], [19].
Các hình thái của bong võng mạc nói chung có thể điều trị mà khôngcần sử dụng dịch nặng Hầu hết các trường hợp, dịch dưới võng mạc có thểđược dẫn lưu ra ngoài qua vết rách võng mạc hoặc một vết mở võng mạc ởhậu cực Trường hợp bong võng mạc do rách võng mạc khổng lồ, dịch nặng
có vai trò rất qua trọng trong việc trải phẳng võng mạc, dẫn lưu dịch dướivõng mạc qua vết rách võng mạc và hạn chế được hiện tượng trượt võng mạc.Bên cạnh đó, dịch nặng cũng đặc biệt hữu dụng trong các trường hợp bongvõng mạc có tăng sinh dịch kính võng mạc nặng, có kẹt dịch kính, võng mạcđặt biệt là các trường hợp cần cắt võng mạc rộng để giải phóng các co kéo Việc lựa chọn các vật liệu ấn độn nội nhãn (C3F8, SF6, dầu silicon)thường phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể Hai tiêu chí quan trọng nhấttrong việc lựa chọn vật liệu ấn độn nội nhãn là sự tồn tại và mức độ giảiphóng được các tăng sinh dịch kính võng mạc [20], [21]
Một số kỹ thuật mới trong điều trị bong võng mạc do chấn thương
* Sử dụng triamcinolone trong phẫu thuật cắt dịch kính
Dịch kính chính là khung sườn để trên đó, các tế bào tăng sinh phát triển.Chính vì vậy, để hạn chế tăng sinh dịch kính võng mạc, cần cắt thật sạch dịchkính, nhất là dịch kính vùng nền và màng hyaloid sau
Trang 10Trong đa phần các trường hợp có xuất huyết dịch kính hoặc đục dịchkính, việc xác định dịch kính đục và bong sau dịch kính tương đối dễ do toàn
bộ khối dịch kính đã được nhuộm bằng máu, các tế bào viêm Trong cáctrường hợp dịch kính còn trong hoặc chỉ vẩn đục, việc xác định còn dịch kínhhay không, hay là dịch kính sau đã bong chưa đôi khi thực sự là một vấn đềkhó khăn Kuhn F đã chỉ ra rằng sau chấn thương, rất nhiều trường hợp bongdịch kính sau không hoàn toàn hoặc chỉ là tách lớp dịch kính Dựa trên những
kỹ thuật thăm khám hiện tại, rất khó để khẳng định sự tồn tại của bong dịchkính sau Chỉ khi bơm Triamcinolone vào buồng dịch kính trong quá trình phẫuthuật mới giúp chẩn đoán chính xác dịch kính đã bong sau hoàn toàn hay vẫncòn tồn tại một lớp mỏng dính chặt vào bề mặt võng mạc [11], [12]
Thực tế cho thấy, vai trò của triamcinolone nhằm xác định dịch kính tồn
dư không lớn lắm, tuy nhiên trong 100% các trường hợp, nhất là các trườnghợp đã được CDK, các tinh thể triamcinolone bám trên bề mặt võng mạc giúpxác định màng hyaloid sau còn hay không và khả năng bóc được màng nàytới đâu đã giúp ích rất nhiều cho quyết định dùng dầu silicon nội nhãn hay khí
nở để ấn độn vào cuối giai đoạn phẫu thuật
* Ứng dụng camera nội nhãn: Phẫu thuật cắt dịch kính điều trị bong
võng mạc do VTX, đặc biệt các vết thương đi qua giác mạc thường gặp rấtnhiều khó khăn, khả năng quan sát phẫu trường thường bị hạn chế do sẹo giácmạc, do các môi trường trong suốt bị phù đục nhiều Ở các nước đang pháttriển, giác mạc nhân tạo thường được được sử dụng để thay thế tạm thời trongquá trình phẫu thuật Cuối giai đoạn phẫu thuật, cần ghép lại mảnh giác mạc
đã tổn thương hoặc giác mạc thay thế cho bệnh nhân nên thời gian phẫu thuậtthường kéo dài Trong điều kiện Việt Nam, nguồn giác mạc thay thế hiện tại
là rất hiếm, vì vậy nếu sử dụng giác mạc nhân tạo để phẫu thuật sẽ kéo dàithời gian phẫu thuật, gây thêm các sang chấn phẫu thuật cho bệnh nhân mộtcách không cần thiết Việc ứng dụng camera nội nhãn vào phẫu thuật cắt dịchkính điều trị bong võng mạc do VTX trong điều kiện nước ta hiện nay là một
Trang 11pháp rất thiết thực, góp phần cứu được một lượng không nhỏ các mắt chấnthương tưởng như không còn khả năng cứu chữa.
Sử dụng camera nội nhãn trong phẫu thuật dịch kính võng mạc trong chấnthương giúp rút ngắn thời gian phẫu thuật khi không phải sử dụng giác mạc nhântạo và cũng tránh được các biến chứng của ghép giác mạc xuyên trong điều kiệnmắt còn đang cương tụ, phù nề do tác động của chấn thương mắt
Sử dụng camera nội nhãn cho phép cắt sạch dịch kính vùng nền màkhông cần phải ấn củng mạc Điều này cho phép đánh giá các tổn thương ởvùng này trong trạng thái nguyên trạng của nó chứ không phải đã bị biến dạng
về mặt hình thái đồng thời có thể xác định một cách chính xác tác động củacác co kéo lên võng mạc Hơn nữa, đối với các mắt bị bong võng mạc sớmsau VTX, quá trình làm sẹo của vết thương chưa hoàn toàn, thao tác ấn củngmạc có thể gây thêm chấn thương cho mắt [11], [12] Một biến chứng cũngthường gặp trong phẫu thuật cắt dịch kính điều trị bong võng mạc là nghẹtdịch kính võng mạc vào vị trí đường vào Tỷ lệ biến chứng này dao động tùyloại phẫu thuật từ 4,5% đến 18,6% [22], [23]
Một ưu điểm nữa của việc sử dụng camera nội nhãn ở đây là khả năngdẫn lưu dịch dưới võng mạc qua lỗ rách võng mạc ở chu biên
1.3 Biến chứng muộn sau mổ bong võng mạc
Tăng sinh dịch kính
Tăng sinh dịch kính võng mạc là biến chứng của bong võng mạc, nóxảy ra khi mô sẹo hình thành ở trên hoặc dưới võng mạc, khiến cho võng mạckhó lành và làm tăng nguy cơ bong lại Một trong những nguyên nhân gây ratăng sinh dịch kính võng mạc là hậu quả của việc điều trị bong võng mạc thấtbại Khi đó có một lỗ thủng trên võng mạc, các tế bào mà thông thường cư trúdưới võng mạc đi vào bên trong cầu mắt và nằm trên bên trong lớp mắt trêncùng của võng mạc Các tế bào này sinh sôi nảy nở và tạo thành vết sẹo trên(hoặc dưới) bề mặt của võng mạc Sau đó mô sẹo này co rút và bong tách rakhỏi võng mạc ở tận trong cùng các vách của mắt, tạo thành tình trạng bong
Trang 12võng mạc lần thứ hai Đây là biến chứng nặng nề đe dọa chức năng thị giác,lại thường tái phát nhiều lần Quá trình tăng sinh dịch kính này phát động nếuphẫu thuật thất bại Nguyên nhân có thể do lạnh đông củng mạc quá liều đãphá vỡ hàng rào máu võng mạc ngoài làm di thực tế bào biểu mô sắc tố vàobuồng dịch kính hoặc những xuất huyết dịch kính gây kích thích tăng sinhdịch kính võng mạc Đặc trưng của tăng sinh dịch kính võng mạc là sự tăngsinh tế bào trên bề mặt của võng mạc bong và trên khung dịch kính Mức độtăng sinh dịch kính tiến triển theo thời gian, tỷ lệ tăng sinh dịch kính xuất hiệnsau phẫu thuật dao động từ 5,45% đến 23% [24], [25]
Tình trạng tăng sinh dịch kính thường được giải quyết bằng phẫu thuậtcắt dịch kính Do vậy, cần theo dõi lâu dài trên mắt đã mổ bong võng mạc đểphát hiện và xử lý kịp thời biến chứng này Những yếu tố cần chú ý để pháthiện sớm quá trình tăng sinh dịch kính sau phẫu thuật là: mép rách cuộn lại và
Trang 13mạc trung tâm giai đoạn sớm là dấu hiệu hoàng điểm giấy bóng kính Ánhsáng phản xạ không đều, thấy một lớp màng rất mỏng trong và mờ, nhìn rõhơn với ánh sáng đỏ Giai đoạn muộn xuất hiện một màng xơ vùng hoàngđiểm với những dải xơ trắng đi ra từ gai thị Kèm theo sự co kéo mạch máu vềphía hoàng điểm Khám nghiệm chụp cắt lớp đáy mắt và chụp mạch huỳnhquang cho chẩn đoán xác định [27].
Khám lâm sàng có thể phát hiện bằng cắt đèn khe qua hoàng điểm vớikính soi đáy mắt thấy khe sáng có độ cong lồi Tuy vậy, ở những trường hợpvõng mạc thấy áp hoàn toàn nhưng vẫn có phù hoàng điểm dạng nang Hìnhảnh chụp cắt lớp đáy mắt cho chẩn đoán chính xác nhất Tỷ lệ biến chứng nàysau phẫu thuật theo nghiên cứu của Burton & Lambert (1992) là 6,6% trongnhóm thị lực dưới 20/50 được chụp cắt lớp bán phần sau
Đục thể thủy tinh
Là một biến chứng hay gặp sau phẫu thuật bong võng mạc Nghiên cứu củaWinkinson & Rice chỉ có 6% Đánh giá tình trạng đục thể thủy tinh sau phẫuthuật chỉ có ý nghĩa khi so sánh giữa mắt đã mổ bong võng mạc và mắt chưa mổ
Trang 14bong võng mạc vì đục thể thủy tinh được biết đến do rất nhiều nguyên nhân khácnhau và nó tiến triển theo tuổi của bệnh nhân Nguyên nhân của đục thể thủy tinhsau khi mổ bong võng mạc được nhắc đến là do rối loạn dinh dưỡng, nhãn áp caokhông được điều trị, phản ứng viêm màng bồ đào, tai biến trong phẫu thuật xuấthuyết dịch kính, chọc kim vào thể thủy tinh.
Loại thải vật liệu nhân tạo đai, độn silicon.
Nói chung silicon là chất ấn độn tương đối an toàn, tỷ lệ loại thải thấp
do chất liệu này có tính chất trơ Tỷ lệ loại thải từ 1,8% đến 5,5%
Teo nhãn cầu: Cũng như tiến triển của nhiều quá trình bệnh lý khác
nhau, teo nhãn cầu do bong võng mạc sau chấn thương là hậu quả của quátrình rối loạn dinh dưỡng kéo dài do võng mạc không áp, tỷ lệ teo nhãn cầucàng nhanh hơn trên những bệnh nhân có cắt dịch kính
1.4 Kết quả nghiên cứu về điều trị bong võng mạc do chấn thương
1.4.1 Kết quả sớm điều trị bong võng mạc do chấn thương nhãn cầu
1.4.1.1 Kết quả về bong võng mạc do chấn thương đụng giập nhãn cầu
Nghiên cứu của Shulka [32] về các bệnh nhân bong võng mạc sauCTĐD nhãn cầu có tuổi trung bình là 27,45 với 77,4% là dưới 30 tuổi 89%các trường hợp là nam giới Bong võng mạc hoàn toàn xuất hiện trong87,27% các trường hợp và bong qua hoàng điểm là 96,33% Vị trí rách võngmạc gặp nhiều nhất là thái dương dưới Hình thái rách võng mạc hình móngngựa gặp nhiều nhất chiếm tỷ lệ 45,45%, tiếp theo là các lỗ võng mạc(27,27%), đứt chân võng mạc (12,73%), lỗ hoàng điểm (12,73%) và ráchvõng mạc khổng lồ (3,64%) Phẫu thuật đai củng mạc được tiến hành trên 27mắt Các mắt còn lại được coi là không có khả năng phẫu thuật do tăng sinhdịch kính võng mạc nặng, do rách võng mạc khổng lồ hoặc do có các rối loạnnặng trong buồng dịch kính Thành công về mặt giải phẫu được định nghĩakhi võng mạc áp tốt tất cả các hướng đạt 21/27 mắt Thị lực chỉ bắt đầu cảithiện sau phẫu thuật 8-10 ngày và 59,2% các bệnh nhân đạt được mức thị lựclớn hơn hoặc bằng 1/10 (6/60)
Trang 15Theo nghiên cứu của Johnson [14] trên 77 bệnh nhân bị rách võng mạc
và bong võng mạc sau CTĐD nhãn cầu, 90% bệnh nhân là nam giới với tuổitrung bình là 25,1 Tổn thương nhãn cầu phối hợp gặp nhiều nhất là xuấthuyết dịch kính (52%), tiếp theo là xuất huyết tiền phòng (42%), lệch thể thủytinh (14,2%), đứt chân mống mắt (5,2%) Vị trí rách võng mạc gặp nhiều nhất
là thái dương dưới Đứt chân võng mạc là hình thái rách võng mạc chiếm tỷ lệcao nhất (63,3%), tiếp theo là các rách võng mạc hoại tử (22%), rách móngngựa (9,1%) và cuối cùng là rách võng mạc khổng lồ (3,9%) 31,2% bệnhnhân có rách và bong võng mạc được phát hiện trong vòng 24 giờ sau chấnthương 32,5% bệnh nhân được chẩn đoán trong khoảng thời gian từ 1 ngàyđến 6 tuần sau chấn thương 23,4% bong võng mạc xuất hiện sau chấn thương
từ 6 tuần đến 6 tháng Bong võng mạc xuất hiện muộn sau 6 tháng và sau 1năm với cùng tỷ lệ 6,5% Thành công về mặt giải phẫu đạt tỷ lệ 96,1% 47% bệnhnhân đạt thị lực trên 6/10, 17% đạt thị lực từ 3/10 đến 5/10, 11,7% có thị lực1,5/10 đến 3/10 và 24,7% có mức thị lực dưới 1/10
Naqvi [33] khi điều trị cho 15 bệnh nhân bị bong võng mạc do CTĐDnhãn cầu có tăng sinh dịch kính võng mạc giai đoạn C trở lên cho thấy73,33% bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu là nam giới 80% các trường hợpdưới 40 tuổi 46,66% bong võng mạc xuất hiện sau 1 sang chấn thể dục thểthao 93,33% xuất hiện các rối loạn về thị giác 2 tháng sau chấn thương.BVM toàn bộ chiếm 53,33% và bong võng mạc qua hoàng điểm là 80% Tất
cả 15 bệnh nhân đều được phẫu thuật cắt dịch kính điều trị bong võng mạckèm theo ấn độn nội nhãn bằng dầu silicon Các biến chứng trong phẫu thuậtxuất hiện với cùng tỷ lệ 6,66% bao gồm: dầu silicon chui xuống dưới võngmạc, chạm/cắt phải võng mạc, dầu silicon ra tiền phòng, kẹt võng mạc vàođường mổ, xuất huyết võng mạc Các biến chứng sau phẫu thuật bao gồm:tăng nhãn áp thoáng qua (33,33%), tăng nhãn áp kéo dài (6,66%), đục thủytinh thể (20%), dầu ra tiền phòng (13,33%), dò dầu qua đường mổ cắt dịchkính (6,66%), giãn lồi giác mạc (6,66%) Tỷ lệ võng mạc áp tốt sau phẫu
Trang 16thuật là 53,33% Thị lực cải thiện sau mổ trên 1,5/10 trong 13,33% các trườnghợp 20% các trường hợp có thị lực sau mổ 1/10, 6,66% là ĐNT 3m và 60%thị lực dưới ĐNT 3m.
Qureshi phẫu thuật cho 29 trường hợp bong võng mạc do bóng tennisđược [34] theo dõi và điều trị đều là nam giới có độ tuổi dao động từ 6-26tuổi Bong võng mạc qua hoàng điểm gặp trong 55,2% và lỗ hoàng điểm gặptrong 10,3% các trường hợp Phẫu thuật đai củng mạc được tiến hành cho 28bệnh nhân và 21/28 bệnh nhân đạt thành công về mặt giải phẫu chỉ sau 1 lầnphẫu thuật 7 bệnh nhân bong võng mạc tái phát trong vòng 3 tháng sau phẫuthuật và được can thiệp lần 2 với cắt dịch kính kèm ấn độn nội nhãn bằng dầusilicon Tuy nhiên, tại cuối thời điểm theo dõi, có 2 trường hợp bong võngmạc tái phát không có khả năng điều trị Thị lực sau phẫu thuật trên 3/10 là27,6%, từ 1/10 đến 3/10 là 24,1%, từ ĐNT 3m đến 1/10 là 31% và dưới ĐNT3m là 17,2% Không có biến chứng nào được ghi nhận trong quá trình phẫuthuật Biến chứng sớm sau phẫu thuật bao gồm xuất huyết dịch kính, tăngnhãn áp và phù đục giác mạc Tất cả các biến chứng trên đều được theo dõi vàđiều trị nội khoa Biến chứng muộn gặp nhiều nhất sau phẫu thuật là tăng sinhdịch kính võng mạc (13,8%), tiếp theo là màng trước võng mạc (10,3%), đục thủytinh thể (3,4%) và đục giác mạc sau phù giác mạc (3,4%)
Thẩm Trương Khánh Vân [9] phẫu thuật cho 151 bệnh nhân trong đó có
82 bệnh nhân (chiếm 54,3%) hầu hết hoàn cảnh xảy ra chấn thương là trongsinh hoạt và lao động Bong võng mạc xuất hiện nhiều nhất trong khoảng 2tuần đến 1 tháng sau chấn thương đối với cả 2 hình thái CTĐD và VTX, gầnmột nửa số bệnh nhân 75/151 (49,7%) bong võng mạc xuất hiện trong khoảngthời gian 1 tháng sau chấn thương Đa số bệnh nhân có các tổn thương rốiloạn trong buồng dịch kính (77 mắt/93,1%), trong đó vẩn đục dịch kính là tổnthương chiếm tỷ lệ cao nhất trong bong võng mạc do CTĐD nhãn cầu (47mắt/57,3%) Các tổn thương dịch kính chiếm tỷ lệ ít hơn lần lượt là xuấthuyết dịch kính và tổ chức hóa dịch kính (24 mắt/29,3%), đục dịch kính (6
Trang 17mắt/7,3%) Dịch kính còn trong chỉ chiếm tỷ lệ ít nhất (5 mắt/6,1%) Tổnthương thủy tinh thể (36/82 mắt chiếm 43,9%) trong đó đục lệch thủy tinh thểchiếm tỷ lệ cao nhất (20 mắt, 24,4%) Tiếp theo là các tổn thương mống mắt(16 mắt chiếm 19,5%) và tổn thương mi mắt (15 mắt, 18,3%) Tổn thươnggiác mạc và tiền phòng chiếm tỷ lệ như nhau (6 mắt, 7,3%) Tỷ lệ thành cônggiải phẫu là 86,6% và tỷ lệ còn bong võng mạc là 8,5% và không đánh giáđược tình trạng võng mạc chiếm 4,9% (4 mắt).
1.4.1.2 Kết quả sớm điều trị bong võng mạc do vết thương xuyên nhãn cầu
Cox [16] khi nghiên cứu 74 mắt bị bong võng mạc do VTX nhãn cầunhận thấy, bệnh xảy ra chủ yếu ở nam giới (91,9%) với tuổi trung bình là 25 ởnam và 34 ở nữ Nguyên nhân chủ yếu do chấn thương là các tai nạn xảy ratrong sinh hoạt (41,7%), trong lao động sản xuất công nghiệp (43,1%), do hỏakhí (7%), tai nạn giao thông (4,1%) và các chấn thương thể dục, thể thao(4,1%) 20% các trường hợp bong võng mạc được phát hiện trong vòng 1tháng sau chấn thương, 33% trong vòng 2 tháng, 50% trong vòng 8 tháng và70% trong vòng 2 năm Đứt chân võng mạc là hình thái rách võng mạc gặpnhiều nhất lên đến 54,5% Rách võng mạc hình móng ngựa hay các rách cónắp xuất hiện trong 29,1%, rách võng mạc gây ra do dị vật nội nhãn là 21,8%,
lỗ võng mạc là 18,2% Trong 19 (25,7%) mắt không tìm thấy rách võng mạc,18,9% là do đục các môi trường trong suốt cản trở quá trình quan sát võngmạc, 5 mắt còn lại rách võng mạc không thể tìm thấy dù đã khám kỹ toàn bộđáy mắt và bong võng mạc được cho là do co kéo Rách võng mạc được tìmthấy nhiều nhất ở phía mũi trên (34,1%), sau đó lần lượt là thái dương dưới(25,2%), thái dương trên (20,9%) và mũi dưới (19,8%) Phẫu thuật bong võngmạc được tiến hành trên 63 mắt và đạt tỷ lệ thành công về mặt giải phẫu là70,4% với tỷ lệ thành công chỉ sau 1 lần phẫu thuật là 42,6% Thị lực sau mổtrên 5/10 là 16,2%, từ 2/10 đến 5/10 là 29,7%, 43,3% có mức thị lực từ ĐNT đếndưới 2/10, 10,8% còn lại chỉ đạt thị lực BBT
Trang 18Khi nghiên cứu cắt dịch kính điều trị bong võng mạc do VTX nhãn cầu
có kẹt võng mạc vào mép VTX củng mạc, Han [34] đã phẫu thuật cho 15 mắtvới 3 vị trí kẹt khác nhau: hậu cực, xích đạo và phía trước xích đạo Kết quả
về giải phẫu cũng như chức năng nói chung của hình thái bong võng mạc nàythường kém hơn so với các hình thái bong võng mạc khác Han và cộng sự địnhnghĩa thành công về mặt giải phẫu khi có thể khôi phục lại thành công cấu trúccủa nhãn cầu và võng mạc áp Thành công về mặt chức năng được xem như thịlực cải thiện từ ST(+) trước mổ lên lớn hơn hoặc bằng 5/200 sau mổ hoặc có sựcải thiện lớn hơn 2 dòng thị lực trong trường hợp có thể đo dược thị lực trước
mổ Mặc dù tỷ lệ thành công về mặt giải phẫu là 73%, tỷ lệ thành công về mặtchức năng chỉ giới hạn ở 40% Tuy nhiên, tác giả cũng nhấn mạch vai trò của vịtrí tổn thương với sự cải thiện thị lực
Liggett [35] nghiên cứu 41 bệnh nhân bị bong võng mạc cấp tính trongvòng 8 ngày sau VTX nhãn cầu 28 mắt được phẫu thuật cắt dịch kính điều trịbong võng mạc trong khi 13 mắt chỉ được điều trị khâu đóng vết thương banđầu Thành công về mặt giải phẫu (thị lực lớn hơn 5/200) là 37% ở nhómđược điều trị bằng cắt dịch kính so với 8% ở nhóm không được cắt dịch kính.Thành công về mặt giải phẫu ở nhóm được cắt dịch kính là 75% cũng cao hơn
ở nhóm không cắt dịch kính là 8% Các yếu tố có tính chất tiên lượng đến kếtquả điều trị bao gồm vị trí VTX và tổn thương thủy tinh thể
Han [36] điều trị cắt dịch kính cho 19 bệnh nhân bong võng mạc sauVTX nhãn cầu bằng phẫu thuật cắt dịch kính, kết hợp với đai củng mạc và ấnđộn nội nhãn bằng khí nở Tuổi trung bình của bệnh nhân trong nhóm nghiêncứu là 24,9 trong đó tỷ lệ nam/nữ là 17/2 Thành công giải phẫu là 68% trongkhi thành công chức năng (thị lực lớn hơn 5/200) chỉ có 32% Nguyên nhânchủ yếu gây bong võng mạc tái phát sau phẫu thuật là tăng sinh dịch kính võngmạc (32%)
Bonnet [37] đã phẫu thuật cắt dịch kính kèm ấn độn nội nhãn bằng khí
nở có hoặc không ấn độn ngoài nhãn cầu bằng đai/độn củng mạc cho 61 bệnh
Trang 19nhân bị bong võng mạc do VTX nhãn cầu 78,6% bệnh nhân trong nhómnghiên cứu là nam giới với tuổi trung bình là 27,11 mắt bong võng mạc xuấthiện trong vòng 1 tháng sau chấn thương, 32 mắt bong võng mạc xuất hiệntrong vòng 1-6 tháng sau chấn thương Bong võng mạc 1 góc phần tư xuấthiện trong 8 mắt, 2 góc phần tư là 18 mắt, 3 góc phần tư là 12 mắt và bongvõng mạc toàn bộ là 23 mắt Võng mạc đã bong qua hoàng điểm trong 80,3%các trường hợp Bong võng mạc do co kéo xuất hiện trong 41% và phối hợpgiữa co kéo và nguyên phát là 59% Rách võng mạc hình móng ngựa và đứtchân võng mạc do co kéo xuất hiện cùng tần suất 13 mắt Xuất huyết dịchkính dày đặc xuất hiện trong 13 mắt 34% các trường hợp nghiên cứu có tăngsinh dịch kính võng mạc giai đoạn C-D trong đó 1 mắt ở giai đoạn C1, 4 mắtC2, 6 mắt C3, 3 mắt D1, 4 mắt D2, 3 mắt D3 Thành công về mặt giải phẫuđược định nghĩa khi võng mạc áp tốt ở vùng hậu cực, sau đai đạt 81,9% Thịlực sau mổ trên 5/10 là 46%, trên 2/10 là 70% các trường hợp.
Nashed [38] đã phẫu thuật cắt dịch kính sớm kèm theo ấn độn nội nhãnbằng dầu silicon cho 88 bệnh nhân bị bong võng mạc trong vòng 8 giờ sauchấn thương nhãn cầu hở, 82% bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu là namgiới Tuy nhiên tuổi trung bình của bệnh nhân tương đối cao hơn các nghiêncứu trước đây là 50 tuổi Chỉ có 16% các bệnh nhân trước mổ đạt thị lực trênĐNT 1,5m 19/88 mắt VTX chỉ đi qua giác mạc, 38/88 mắt VTX chỉ đi quacủng mạc và 31 mắt VTX đi qua cả giác củng mạc Bong võng mạc quahoàng điểm xuất hiện trong 76% các trường hợp Tỷ lệ xuất huyết dịch kínhtrong nghiên cứu là 99% Tỷ lệ bong võng mạc tái phát là 38%, tỷ lệ tăng sinhdịch kính võng mạc sau phẫu thuật là 44% mặc dù tác giả không tìm thấy cácdấu hiệu của tăng sinh dịch kính võng mạc trong quá trình phẫu thuật 50% cácmắt đạt thị lực sau mổ trên ĐNT 1,5m Viêm mủ nội nhãn sau mổ xuất hiện với
tỷ lệ 3,4%, teo nhãn cầu là 8% và bỏ nhãn cầu là 3,4% Thị lực sau mổ của bệnhnhân phụ thuộc thị lực trước mổ và tình trạng bong võng mạc qua hoàng điểm
Trang 20Thẩm Trương Khánh Vân [9] Trong 69 mắt bong võng mạc do vếtthương xuyên nhãn cầu có 15 mắt (21,7%) xuất hiện sau VTX nhãn cầu có dịvật nội nhãn, những bệnh nhân bị bong võng mạc do vết thương nhãn cầu hở,rách võng mạc khu trú nhiều nhất tại vị trí thái dương dưới (34,3%), sau đó đến
vị trí thái dương trên (32,9%), tiếp theo lần lượt là hậu cực (17,1%), mũi trên(14,3%), mũi dưới (11,4%), phía dưới (4,3%), phía trên (2,8%) Đặc biệt có5,7% số bệnh nhân có nhiều rách võng mạc trên nhiều kinh tuyến và có tới 10%
số bệnh nhân bị bong võng mạc do vết thương nhãn cầu hở không có rách võngmạc Hình thái rách võng mạc hình móng ngựa chiếm tỷ cao nhất (55,7%),tiếp theo lần lượt là xé rách võng mạc (11,4%), đứt chân võng mạc chiếm8,6% - ít hơn so với chấn thương đụng giập nhãn cầu, rách võng mạc do điểmchạm của dị vật 7,1%, rách võng mạc khổng lồ chiếm 5,7%, rách võng mạc
do hoại tử chiếm 4,3%, lỗ hoàng điểm chiếm 2,8% Trên các mắt bị bongvõng mạc do VTX nhãn cầu, các tổn thương võng mạc khác bao gồm: 10 mắt(14,3%) kẹt võng mạc vào mép vết thương củng mạc hoặc vết mổ cắt dịchkính cũ, 03 mắt (4,3%) có kẹt võng mạc vào vị trí chạm của dị vật nội nhãn,
02 mắt (2,9%) bong hắc mạc kèm theo bong võng mạc, 01 mắt (1,4%) võngmạc nhiễm kim loại kèm theo tắc mạch và viêm thành mạch võng mạc, 01mắt (1,4%) có tắc mạch võng mạc
1.4.2 Kết quả lâu dài điều trị bong võng mạc do chấn thương
Ahmed [39] nghiên cứu hồi cứu nhóm liên tục các bệnh nhân được canthiệp phẫu thuật Tất cả các bệnh nhân chấn thương xuyên nhãn cầu có bongvõng mạc được điều trị trong thời gian từ năm 1997 đến 2007 được phẫuthuật lần đầu bằng cắt dịch kính, bơm dầu nội nhãn trong 8 giờ sau khi nhậpviện Để phân tích kết quả điều trị, các bệnh nhân được chia làm 3 nhóm:Nhóm 1 có dị vật nội nhãn; Nhóm 2 là chấn thương xuyên; Nhóm 3 là vỡnhãn cầu; Kết quả điều trị được đánh giá theo thị lực nhìn gần (≥ 0,4logMAR), thị lực nhìn xa (≥ 1,6 logMAR) ở lần khám gần đây nhất, viêm nộinhãn, và bệnh võng mạc, dịch kính tăng sinh sau phẫu thuật 88 bệnh nhân
Trang 21được chọn (Nhóm 1: 13; Nhóm 2: 36; Nhóm 3: 39) Thời gian theo dõi trungbình 22 tháng (ngắn nhất: 6 tháng; dài nhất: 107 tháng) 8% bệnh nhân cònbảo tồn thị lực nhìn gần và không có khác biệt đáng kể giữa 3 nhóm Nhóm 3
có ít bệnh nhân còn bảo tồn thị lực nhìn xa so với 2 nhóm còn lại (Nhóm 1:62%; Nhóm 2: 64%; Nhóm 3: 33%; p = 0,024) Viêm nội nhãn xảy ra trong3,4% số mắt (1 mắt trong mỗi nhóm) Bệnh võng mạc, dịch kính tăng sinh sauphẫu thuật độ B-C, gặp ở 44% bệnh nhân và không có khác biệt đáng kể giữa
3 nhóm BVM tái phát xảy ra trên 38% số mắt
Rouberol F [40] nghiên cứu trên 50 bệnh nhân bị bong võng mạc sauchấn thương: Nhóm 1 (n=25) do vết thương xuyên, nhóm 2 (n=25) do chấnthương đụng giập Nhóm 1, bong võng mạc xuất hiện chủ yếu sau các tai nạnlao động trong khi nhóm 2, bong võng mạc chủ yếu xuất hiện sau các tai nạntrong sinh hoạt Các tổn thương phối hợp ở cả 2 nhóm bao gồm: đục thủy tinhthể (n=11 và n=5), xuất huyết tiền phòng (n=4 và 2), lệch thủy tinh thể (n=1 và0), bong hắc mạc (n=0 và 4), viêm mủ nội nhãn (n=2 và 0), phòi kẹt mống mắt(n=1 và 0) Thời gian theo dõi bệnh nhân ngắn nhất là 10,1 tháng, dài nhất là15,8 tháng, tỷ lệ bệnh nhân nam 88% (41/50), nữ 12% (9/50) Tình trạng tổnthương qua vùng hoàng điểm của nhóm 1 là 56% (14/25), nhóm 2 có tỷ lệ64% (16/25), tỷ lệ này không có ý nghĩa thống kê với p=0,5 Tỷ lệ tăng sinhdịch kính võng mạc của nhóm 1 là 28% (7/25), của nhóm 2 là 36% (9/25) Sốbệnh nhân bị xuất huyết dịch kính ở nhóm 1 chiếm tỷ lệ 16% (4/25), nhóm 28% (2/25), Thời gian từ khi bị chấn thương đến khi bị bong võng mạc ở nhómchấn thương nhãn cầu hở dường như dài hơn so với nhóm chấn thương nhãn cầukín Thời gian bong võng mạc sau chấn thương của nhóm 2 (sau 1 tháng20,8%, 6 tháng 54,2%, sau 1 năm 12,5%) Các mắt bong võng mạc do vếtthương xuyên đều đã có ít nhất 1 lần phẫu thuật trước đó (khâu vết thương100% (25/25), phẫu thuật thể thủy tinh 20% (5/25) Thành công về mặt giảiphẫu của nhóm bong võng mạc do vết thương xuyên là 76%, của nhóm dochấn thương đụng giập nhãn cầu 88% tỷ lệ này không có ý nghĩa thống kê với
Trang 22p = 0,2 > 0,05 Thành công về thị lực với nhóm bong võng mạc do vết thươngxuyên ở mức thị lực lớn hơn hoặc bằng 20/200 là 76% (9/25) Đối với nhómbong võng mạc do chấn thương đụng giập thì kết quả thị lực ở mức lớn hơnhoặc bằn 20/200 chiếm tỷ lệ 87% (21/25) Sự khác biệt giữa 2 nhóm về tỷ lệmắt đạt thị lực 20/200 là không có ý nghĩa thống kê với p=0,3 Theo tác giả,hình thái chấn thương, số lượng, mức độ bong võng mạc, tình trạng thể thủytinh…là không có ý nghĩa đối với kết quả thị lực
Cox [41] nghiên cứu trên 160 trường hợp bong võng mạc do CTĐD nhãncầu cho thấy 86,7% bệnh nhân là nam giới với tuổi trung bình là 18,5 ở nam và15,8 ở nữ Chấn thương trong sinh hoạt chiếm đa số với 40,2%, tiếp theo là cácchấn thương do thể dục thể thao (35,1%), tai nạn lao động (8,5%), tai nạn giaothông (3,9%) và cuối cùng là chấn thương do hỏa khí (3,3%) 20% các trườnghợp bong võng mạc xảy ra ngay lập tức do chấn thương, 30% xảy ra trong vòng
1 tháng, 50% trong vòng 8 tháng và 80% trong vòng 2 năm do chấn thương Đứtchân võng mạc là hình thái rách võng mạc gặp nhiều nhất (53,9%), tiếp theo làcác lỗ võng mạc (do thoái hóa hoặc hoại tử võng mạc) với tỷ lệ là 35,7% và cácrách võng mạc hình móng ngựa là 26,6% Tỷ lệ thành công của phẫu thuật là82,6% theo dõi 1 năm sau điều trị
Theo nghiên cứu của Butler T.K.H [42] nghiên cứu của 15 bệnh nhi, thờigian theo dõi trung bình 14,7 tháng với tuổi trung bình 12,4, bong võng mạc dochấn thương chiếm 40% và kết quả võng mạc áp tốt 86,6%, thị lực cải thiện cóđược trên 53,3% bệnh nhân, xấu đi trên 13,3% bệnh nhân, không đổi 33.33%bệnh nhân
Thẩm Trương Khánh Vân [9] nghiên cứu trên 151 bệnh nhân bong võngmạc do chấn thương trên cả 2 nhóm do CTĐD và VTX Tuổi trung bình trongnhóm nghiên cứu là 28,8± 14,6, tập trung chủ yếu ở nhóm tuổi lao động từ 16-55tuổi(80,2%), trong đó cao nhất là ở nhóm tuổi 16-25 tuổi (41%) Tỷ lệ bệnh nhânnam chiếm tuyệt đại đa số (94%), nữ chỉ chiếm 6% Có 54,3% bệnh nhân bịbong võng mạc do CTĐD chiếm tỷ lệ 54,3% và VTX chiếm tỷ lệ 45,7%.Thời
Trang 23gian từ khi bệnh nhân bị chấn thương đến khi bị bong võng mạc đa số là trongkhoảng thời gian từ 2 tuần đến 1 tháng sau chấn thương (49,7%), có những bệnhnhân xuất hiện bong võng mạc sau 1 năm chấn thương (9,2%) Đánh giá mốiliên quan giữa xuất huyết dịch kính và tỷ lệ áp tốt của võng mạc: xuất huyếtdịch kính làm giảm tỷ lệ võng mạc áp tốt của nhóm bong võng mạc do VTXnhãn cầu (p=0,01), nhưng lại không liên quan đến tỷ lệ áp tốt của võng mạc ởnhóm bong võng mạc do CTĐD nhãn cầu (p=0,54) Số mắt có võng mạc áp tốtđạt tỷ lệ cao nhất tại thời điểm ra viện (86,6% với bong võng mạc do CTĐDnhãn cầu và 72,5% với bong võng mạc do VTX nhãn cầu) Cùng với sự gia tăngcủa số mắt bong võng mạc tái phát, tại cuối thời điểm theo dõi là 1 năm tỷ lệvõng mạc áp tốt ở nhóm bong võng mạc do CTĐD giảm xuống còn 82,9% và ởnhóm bong võng mạc do VTX nhãn cầu là 58% Không có sự khác biệt vềmức độ cải thiện thị lực tại thời điểm vào viện và ra viện của nhóm bong võngmạc do CTĐD nhãn cầu Thị lực bắt đầu có sự cải thiện tại thời điểm theo dõisau ra viện 1 tuần và dần ổn định tại các thời điểm theo dõi sau đó 1 tháng, 3tháng, 6 tháng và 1 năm Đặc biệt tại cuối thời kỳ theo dõi (1 năm), số lượngbệnh nhân có thị lực tốt lớn hơn 3/10 tăng lên một cách rõ rệt (32,9%) so vớitrước mổ (9,8%) và tỷ lệ thành công về mặt thị lực (thị lực >1/10) là 45,1%.Đối với nhóm bong võng mạc do VTX nhãn cầu tỷ lệ thị lực dưới ĐNT 1 méttrong bong võng mạc do VTX nhãn cầu chiếm tỷ lệ rất cao tại thời điểm vàoviện và ra viện (84,2% và 91,3%) Số mắt có thị lực trên 3/10 tại thời điểmvào viện và sau phẫu thuật ra viện không có trường hợp nào.Tuy nhiên, tỷ lệthị lực dưới ĐNT 1 mét giảm dần tại các thời điểm theo dõi sau ra viện tiếptheo tương ứng với tỷ lệ thị lực lớn hơn ĐNT 1 mét tăng lên tại các thời điểmnày Giống như bong võng mạc do CTĐD nhãn cầu, thị lực bắt đầu cải thiệnsau ra viện 1 tuần và dần ổn định tại các thời điểm thăm khám sau đó Tạicuối thời điểm theo dõi (1 năm), tỷ lệ thành công về mặt thị lực ở nhóm bệnhnhân bị bong võng mạc do VTX nhãn cầu (thị lực > ĐNT 3 mét) là 31,8%
Trang 241.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị
Để đánh giá mức độ thành công của phẫu thuật, ngoài thành công làmvõng mạc áp lại, hạn chế tối đa các biến chứng thì mức độ cải thiện thị lực làrất quan trọng Tiên lượng thị lực cho bệnh nhân sau mổ là việc mà các nhàphẫu thuật luôn phải làm để giải thích cho bệnh nhân trước khi họ tham giaphẫu thuật Đã có nhiều nghiên cứu chứng minh rất nhiều yếu tố tác động đếnthị lực của mắt bong võng mạc Đó là những yếu tố có trước phẫu thuật vànhững yếu tố xuất hiện sau phẫu thuật
Năm 1963 Norton đã đưa ra 3 nguyên nhân làm cho kết quả thị lực kém
là co kéo của dịch kính tăng sinh, bong võng mạc qua hoàng điểm và thờigian bong võng mạc Hoàng điểm bị bong trước phẫu thuật mức hồi phục thịlực ≥ 20/50 là 38%, thấp hơn so với 85% ở nhóm hoàng điểm chưa bong.Thời gian bong quá 6 tháng thị lực hồi phục trung bình thấp hơn 3 hàng so vớinhóm thời gian bong trước 2 tuần và nhóm từ 2-8 tuần (quy đổi theo thị lựcSnellen) Nhưng không có sự khác nhau có ý nghĩa giữa nhóm thời gian bongdưới 2 tuần và nhóm 2 đến 8 tuần Tác giả cho rằng không chỉ có những yếu
tố trước phẫu thuật quyết định kết quả thị lực sau cùng của bệnh nhân mà còn
có các yếu tố xuất hiện sau phẫu thuật như sự xuất hiện của tăng sinh dịchkính võng mạc, các sẹo giác mạc, thoái hóa giác mạc hình giải băng…
Theo nghiên cứu của Cairns (1973) có 20% bong võng mạc qua hoàngđiểm đạt thị lực ≥ 6/18 (tương đương 20/60) thấp hơn so với 71% nhóm bongvõng mạc không qua hoàng điểm Trong nhóm thời gian bong võng mạc dưới 8ngày có 38% đạt thị lực ≥ 6/18 (tương đương 20/60), tương tự ở nhóm thời gianbong võng mạc từ 1 đến 4 tuần và nhóm từ 1 đến 6 tháng là 33% và 16% Trong
số 25 bệnh nhân xuất hiện nếp gấp hoàng điểm, thị lực trung bình đạt 6/36(20/125) thấp hơn mức thị lực trung bình của cả nhóm 6/12 (tương đương20/40) Tác giả kết luận rằng ngoài bong võng mạc qua hoàng điểm thời điểmsau 1 tháng tiên lượng thị lực kém thì xuất hiện 8,6% biến chứng nếp gấp hoàngđiểm cũng ảnh hưởng đáng kể đến thị lực trung bình của bệnh nhân
Trang 25Trong những trường hợp bong võng mạc qua hoàng điểm được phẫuthuật trong tuần đầu trên, Davies (1974) đã chỉ ra sự giảm phục hồi thị lựcngay từ ngày thứ nhất trở đi, khi bong võng mạc qua 6 tháng thì thị lực sụtgiảm trầm trọng Kết quả thị lực trung bình sau cùng của bệnh nhân có sựgiảm dốc theo các nhóm phân theo thời gian bong võng mạc Nhóm 0-7 ngày;nhóm 14-28 ngày; nhóm 1-3 tháng; 3-6 tháng; trên 6 tháng thị lực trung bìnhtương ứng là: 6/9, 6/19, 6/60 và ĐNT
Tani và cộng sự (1981) nghiên cứu 473 mắt trong thời gian 3 năm, thànhcông giải phẫu 90% Kết quả thị lực ≥ 6/15 (tương đương 20/50) 37% Tácgiả đã chỉ ra rằng để đạt kết quả chức năng tốt liên quan đến nhiều yếu tố,trong đó quan trọng nhất là thị lực trước phẫu thuật đạt ≥ 20/50, không bongvõng mạc toàn bộ, vết rách võng mạc ở phía trước Ngoài ra còn phụ thuộc
kỹ thuật phẫu thuật, trong nghiên cứu có 3 trường hợp bị đục TTT do phảnứng viêm màng bồ đào quá mức có tăng nhãn áp Thời gian bong võng mạctrong vòng 1 tháng thị lực hồi phục ≥ 20/50 chiếm 41% cao hơn so với 28% ởnhóm thời gian quá 1 tháng Tuổi < 60 và không có màng trước võng mạc,không có rách khổng lồ trước phẫu thuật, không hạ nhãn áp dưới 15mmHg vànhãn áp cao được điều trị là những yếu tố tiên lượng thị lực tốt
Han định nghĩa thành công về mặt giải phẫu khi có thể khôi phục lại thànhcông cấu trúc của nhãn cầu và võng mạc áp Trong khi đó, thành công về mặtchức năng được xem như thị lực cải thiện từ ST(+) trước mổ lên lớn hơn hoặcbằng 5/200 sau mổ hoặc có sự cải thiện lớn hơn 2 dòng thị lực trong trường hợp
có thể đo dược thị lực trước mổ Mặc dù tỷ lệ thành công về mặt giải phẫu là73%, tỷ lệ thành công về mặt chức năng chỉ giới hạn ở 40% Tuy nhiên, tác giảcũng nhấn mạch vai trò của vị trí tổn thương với sự cải thiện thị lực
Nghiên cứu của Cardilo và cộng sự (1997) [8] xuất huyết dịch kính làyếu tố nguy cơ độc lập có ý nghĩa nhất trong sự hình thành và phát triển tăngsinh dịch kính võng mạc, nó là yếu tố hàng đầu gây thất bại cho các phẫuthuật viên bong võng mạc, tác giả cho rằng khi đã có xuất huyết dịch kính thì
Trang 26nguy cơ tăng sinh dịch kính võng mạc lên gấp 31,8 lần, điều đó có nghĩa là sẽtăng nguy cơ bong võng mạc và làm cho việc điều trị cũng khó khăn hơn rấtnhiều và đồng thời bong võng mạc tái phát tăng theo.
Trong nghiên cứu của Thẩm Trương Khánh Vân cho thấy Thị lực trướckhi điều trị không chỉ đóng vai trò tiên lượng trong bong võng mạc do chấnthương nói riêng mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc tiên lượng cho cáctrường hợp chấn thương nhãn cầu hở nói chung Khi đánh giá mối liên quan giữathị lực trước mổ và kết quả thị lực đạt được sau mổ, thì thấy thị lực trước mổ rấtkém làm giảm tỷ lệ số mắt đạt được thị lực sau mổ > ĐNT 3m (20,9%) vớiP=0.012 Thị lực kém trước mổ thường biểu hiện một chấn thương nhãn cầumạnh và thường đi kèm với rất nhiều các tổn thương phối hợp khác như xuấthuyết dịch kính, bong võng mạc rộng, đã qua hoàng điểm và kéo dài Đây làmột số các yếu tố không chỉ làm giảm kết quả giải phẫu mà còn góp phần chủđạo trong việc làm giảm khả năng phục hồi của thị lực sau mổ Trong nghiêncứu, tác giả không có mối liên quan giữa xuất huyết dịch kính và kết quả giảiphẫu trong bong võng mạc do CTĐD nhãn cầu (p=0,54) nhưng lại ảnh hưởngđến tỷ lệ áp của võng mạc trong bong võng mạc do VTX nhãn cầu (p= 0,01)
Tỷ lệ thành công về mặt giải phẫu cao ở nhóm bong võng mạc do CTĐD nhãncầu cao hơn hẳn so với nhóm bong võng mạc do VTX nhãn cầu (p=0,001), sốmắt bị bong võng mạc sau CTĐD nhãn cầu đạt tỷ lệ thành công chỉ sau mộtlần phẫu thuật là 61% cũng cao hơn hẳn so với tỷ lệ này ở hình thái bong võngmạc do VTX (34,8%) với p=0,001
Trang 27Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những bệnh nhân bị bong võng mạc do chấnthương được tiến hành phẫu thuật tại khoa Chấn thương, bệnh viện Mắt TrungƯơng từ tháng 1 năm 2009 đến hết tháng 12 năm 2013
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Bệnh nhân bị bong võng mạc do chấn thương đã được phẫu thuật điều trị
bong võng mạc và được khám lại
- Hồ sơ đầy đủ thông tin khai thác trong nghiên cứu
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ:
- BN có môi trường trong suốt bị che lấp, không quan sát được đáy mắt(mộng độ IV, sẹo giác mạc rộng vùng trung tâm…)
- BN không được khám lại đầy đủ
- BN từ chối tham gia nghiên cứu
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: Hồi cứu, mô tả cắt ngang
2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu:
Lấy toàn bộ hồ sơ bệnh nhân đủ thông tin cần nghiên cứu trong thờigian từ tháng 1 năm 2009 đến hết tháng 12 năm 2013
2.2.3 Phương tiện thăm khám
Để phục vụ nghiên cứu, chúng tôi sử dụng những phương tiện hiện cócủa Bệnh viện Mắt Trung Ương:
Kính Volk 78D, 90D
Trang 28 Kính soi đáy mắt Goldmann 3 mặt gương
Bộ đo nhãn áp Maclakov
Máy sinh hiển vi có gắn máy chụp ảnh
Bảng thị lực Snellen
Máy siêu âm thường quy
Thuốc giãn đồng tử: DD Mydryl P 1%
2.2.4 Phương tiện thu thập và xử lý số liệu
Hồ sơ bệnh án lưu
Bệnh án nghiên cứu
Phần mềm thu thập và xử lý số liệu
2.3 Quy trình nghiên cứu
- Tập hợp toàn bộ hồ sơ bệnh án của bệnh nhân trong đối tượng nghiêncứu Loại bỏ những hồ sơ không đạt yêu cầu
- Thu thập thông tin trong hồ sơ bệnh án của những bệnh nhân thuộctiêu chuẩn lựa chọn
- Gửi thư mời bệnh nhân đến khám lại
- Tiến hành khám, đánh giá bệnh nhân theo các tiêu chuẩn nghiên cứu
- Điền các thông tin cần đánh giá vào bệnh án nghiên cứu
2.3.1 Lấy thông tin trong bệnh án cũ
- Tuổi, giới, mắt bị bệnh.
- Tiền sử bong võng mạc do chấn thương
- Thời gian bị bệnh: Thời gian bị bệnh được tính từ thời điểm BN bịchấn thương đến khi bong võng mạc
- Thị lực khi vào viện
- Tình trạng giác mạc, thể thủy tinh, dịch kính
- Mức độ bong võng mạc và tổn thương hoàng điểm
Trang 29- Số lượng và hình thái rách võng mạc.
- Các tổn thương phối hợp: Mi mắt, giác mạc, mống mắt, thể thủy tinh,
- Loại phẫu thuật, biến chứng trong phẫu thuật
- Số lần phẫu thuật
2.3.2 Khám bệnh nhân đến khám lại
- Đo thị lực, nhãn áp
- Khám tình trạng giác mạc, thể thủy tinh
- Soi đáy mắt sau nhỏ giãn đồng tử tối đa đánh giá tình trạng dịch kính,võng mạc:
+ Mức độ tăng sinh dịch kính nếu có
+ Mức độ áp của võng mạc
+ Bong võng mạc tái phát, rách võng mạc mới hay cũ và các tổnthương kèm theo như: thoái hóa võng mạc, màng trước võng mạc
+ Ghi nhận các biến chứng sau phẫu thuật nếu có
+ Tiến hành làm siêu âm ở tất cả các mắt sau khi khám, nếu nghi nghờ cótổn thương hoàng điểm sẽ làm thêm khám nghiệm chụp cắt lớp bán phần sau
2.4 Các biến số nghiên cứu và cách đánh giá
2.4.1 Các biến số về đặc điểm nhóm bệnh nhân
Tuổi bệnh nhân: Tuổi được tính tại thời điểm vào viện, chúng tôi phân
theo các nhóm tuổi sau:
+ ≤ 15 tuổi
+ Từ >15 đến 40 tuổi
Trang 30+ Từ 41 đến 60 tuổi
+ Trên 60 tuổi
Thời gian bị bệnh: Là thời gian từ khi bị chấn thương mắt đến khi bị
bong võng mạc Chúng tôi phân theo các khoảng thời gian sau:
Tình trạng thị lực: Các mức thị lực ở các thời điểm vào viện và thời
điểm tái khám chia theo các nhóm sau:
và mức thị lực sáng tối âm tính quy với giá tri 0
Trang 31Bảng 2.1 Bảng quy đổi thị lực tương đương Snellen và thập phân
Thị lưc Snellen Thị lực thập phân
Tình trạng nhãn áp: Tại các thời điểm lúc vào viện và thời điểm tái
khám chia theo mức nhãn áp sau (Đo bằng nhãn áp Maclakob với quả cân 10g):
+ Nhãn áp cao: >24 mmHg
+ Nhãn áp bình thường: 24-15 mmHg
+ Nhãn áp thấp < 15 mmHg
Đánh giá nguyên nhân gây chấn thương
chấn thương do tai nạn sinh hoạt, tai nạn lao động, tai nạn giao thông haychấn thương thể dục, thể thao
- Hình thái chấn thương: Chấn thương đụng dập nhãn cầu hay vếtthương xuyên nhãn cầu (VTX nhãn cầu đơn thuần hay VTX nhãn cầu có dịvật nội nhãn)
- Thời gian từ khi bị chấn thương mắt đến khi bị bong võng mạc
- Ghi nhận các tổn thương nhãn cầu do chấn thương
Trang 32+ Tổn thương giác mạc
+ Tổn thương củng mạc
+ Vùng tổn thương (đối với chấn thương xuyên nhãn cầu)
+ Tổn thương thủy tinh thể: đánh giá thủy tinh thể bình thường, đụcthủy tinh thể, đục lệch , đục vỡ hay đục tiêu thủy tinh thể
+ Tổn thương mống mắt: Mống mắt bình thường, mất/rách mống mắt,đứt chân mống mắt, thoái hóa mống mắt
+ Tổn thương dịch kính: dịch kính trong, dịch kính vẩn đục, dịch kính đục,xuất huyết dịch kính, viêm mủ dịch kính, dị vật nội nhãn…
Dịch kính trong
Dịch kính vẩn đục: trong buồng dịch kính xuất hiện những dải,màng tổ chức liên kết nhưng vẫn quan sát rõ toàn bộ võng mạc.Ánh đồng tử hồng Nếu không soi được đáy mắt (sẹo giác mạc,thủy tinh thể đục vỡ…), siêu âm thể hiện bằng những vẩn đục nhỏ ≤2mm, rải rác
Dịch kính đục: xuất hiện các dải, màng tổ chức liên kết dày, tỏa lanhay các tế bào viêm làm cản trở khả năng quan sát chi tiết toàn bộvõng mạc Ánh đồng tử kém hồng Nếu không soi được đáy mắt,siêu âm thể hiện bằng những mảng đục to, dày hoặc vẩn đục nhỏdày đặc
Trang 33 Hoàng điểm: bong võng mạc đã qua hoàng điểm hay chưaqua hoàng điểm
Vị trí: rách võng mạc phía mũi trên, mũi dưới, thái dươngtrên, thái dương dưới, hậu cực, rách trên nhiều kinh tuyến
Hình thái: rách võng mạc hình móng ngựa, rách khổng
lồ, lỗ võng mạc do thoái hóa, lỗ hoàng điểm, rách võng mạc do hoại
tử, do điểm chạm của dị vật nội nhãn…
- Số lần và loại can thiệp phẫu thuật trước khi bị bong võng mạc: Khâugiác mạc, khâu củng mạc, khâu củng giác mạc, lấy thể thủy tinh đục lệch, lấythể thủy tinh đục vỡ, mổ cắt bè…
+ Bong toàn bộ võng mạc (bong cả 4 góc phần tư)
- Hình thái vết rách được xếp loại như sau:
+ Rách hình móng ngựa
+ Rách lỗ tròn hay rách không nắp
+ Đứt chân võng mạc
+ Rách khổng lồ
Trang 34 Đánh giá mức độ tăng sinh dịch kính võng mạc: Mức độ tăng sinh dịch
kính võng mạc mạc được phân giai đoạn theo phân loại của hiệp hộivõng mạc (Retina society) năm 1983 như sau:
Giai đoạn A: Chỉ có các hạt sắc tố trong buồng dịchkính
Giai đoạn B: Mép rách cuộn mép
Giai đoạn C1: Nếp gấp võng mạc cố định trong 1góc phần tư
Giai đoạn C2: Nếp gấp võng mạc cố định trong 2góc phần tư
Giai đoạn C3: Nếp gấp võng mạc cố định trong 3góc phần tư
Giai đoạn D: Nếp gấp võng mạc cố định trong cả 4góc phần tư, võng mạc bong có hình phễu
Ghi nhận phương pháp phẫu thuật: Phẫu thuật đai, độn, lạnh đông, khí
nội nhãn, cắt dịch kính hay cắt dịch kính phối hợp, laser võng mạc
2.4.2 Các biến số đánh giá kết quả lâu dài điều trị bong võng mạc
Số lần phẫu thuật: Võng mạc áp sau 1 lần phẫu thuật hay sau nhiều
lần Với phẫu thuật cắt dịch kính có sử dụng dầu silicon, thành côngđược tính nếu sau phẫu thuật tháo dầu võng mạc áp mà không cần có
thêm can thiệp nào khác.
Đánh giá kết quả giải phẫu:
+ Phẫu thuật thành công: Võng mạc áp tốt
Trang 35+ Phẫu thuật thất bại: Võng mạc không áp, teo nhãn cầu, bong võngmạc tái phát
Đánh giá kết quả chức năng
Khi có được kết quả thị lực, nhãn áp chúng tôi tiến hành so sánh ở cácthời điểm trước phẫu thuật với thời điểm khám nghiên cứu
Kết quả nhãn áp
Biến số về các biến chứng muộn
Thoái hóa giác mạc dải băng, tăng sinh dịch kính, đục thể thủy tinh,màng trước võng mạc, tăng sinh dịch kính võng mac, nang hoàng điểm, thoáihóa võng mạc, teo nhãn cầu, bong võng mạc tái phát, nhuyễn dầu, thải dâysilicon…
2.4.3 Biến các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật
Chúng tôi sẽ đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố đến kết quả giải phẫu,thị lực cuối cùng: Tuổi bệnh nhân, thời gian bong võng mạc, tổn thươnghoàng điểm, thị lực ban đầu, xuất huyết dịch kính, mức độ bong võng mạc,các tổn thương kèm theo: Giác mạc, củng mạc, Thể thủy tinh, địch kính, dịvật nội nhãn
- Liên quan giữa tuổi với kết quả giải phẫu
- Mối liên quan giữa thị lực vào viện và kết quả giải phẫu
- Mối liên quan giữa các loại chấn thương tỷ và kết quả giải phẫu
- Mối liên quan giữa mức độ bong võng mạc và kết quả giải phẫu
- Mối liên quan giữa xuất huyết dịch kính và kết quả giải phẫu
- Liên quan giữa tuổi của BN tới kết quả về chức năng
- Liên quan của thị lực trước phẫu thuật
Trang 36- Liên quan mức độ tổn thương hoàng điểm trước phẫu thuật
- Liên quan của mức độ bong võng mạc với kết quả về chức năng
2.5 Xử lý số liệu
Số liệu được xử lý theo phần mềm SPSS 16.0, sử dụng các test thống
kê y học 2, so sánh có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
2.6 Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu được sự đồng ý của Phòng đào tạo Sau đại học trường Đạihọc Y Hà Nội, Ban Giám đốc, Phòng Kế hoạch Tổng hợp Bệnh viện MắtTrung Ương
Người bệnh tham gia nghiên cứu tự nguyện, tái khám theo thư mời,được giải thích rõ về tình trạng bệnh, kết quả điều trị và mức độ tiến triểnbệnh và hướng xử lý tiếp theo
Các trường hợp từ chối không tham gia nghiên cứu đều được khám và
tư vấn về bệnh
Trang 37Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong thời gian nghiên cứu từ tháng 3/2014 đến tháng 9/2014, chúngtôi đã thu thập số liệu qua hồ sơ bệnh án được 174 hồ sơ được chẩn đoánbong võng mạc do chấn thương tại khoa Chấn thương Bệnh viện Mắt Trungương từ 1/1/2009 đến 31/12/2013 và đã mời đến khám, nhưng chỉ đánh giákết quả lâu dài của 79 mắt của 79 bệnh nhân
Thời gian theo dõi trung bình: 31,04 tháng, thời gian theo dõi ngắn nhất
Trang 38Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 35,3 ± 15,1 Bệnh nhân thấptuổi nhất là 6 tuổi, bệnh nhân cao tuổi nhất là 67 tuổi Tập trung chủ yếu ởnhóm tuổi từ 15-60 là lứa tuổi lao động 67 bệnh nhân, chiếm tỷ lệ 84,8%,trong đó tập trung nhiều hơn vào nhóm tuổi 15-40 tuổi 39 bệnh nhân chiếm tỷ
lệ 49,4%, ở lứa tuổi > 60 chỉ có 3 bệnh nhân nam chiếm tỷ lệ 3,8% và không
có nữ ở lứa tuổi này Trong tổng số 79 bệnh nhân bị bong võng mạc do chấnthương thì chủ yếu là nam giới có 67 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 84,8% so với 12bệnh nhân nữ chiếm tỷ lệ 15,2% Sự khác biệt về nhóm tuổi giữa nam và nữkhông có ý nghĩa thống kê với p = 0,94 > 0,05
3.1.2 Vị trí mắt chấn thương
48,10%
51,90%
Mắt Phải Mắt trái
Biểu đồ 3.2 Vị trí mắt chấn thương
Tổng số mắt nghiên cứu 79 mắt của 79 bệnh nhân
Mắt phải: 41 mắt chiếm tỷ lệ 51,9%; mắt trái 38 mắt chiếm tỷ lệ 48,1%
Sự phân bố giữa mắt phải và trái không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
Trang 393.1.3 Hoàn cảnh xảy ra chấn thương:
46,8
40,5
0 5 10 15 20 25 30 35 40 45 50
thông
Biểu đồ 3.3 Hoàn cảnh xảy ra chấn thương
Trong tổng số 79 bệnh nhân bị bong võng mạc do chấn thương thì tậptrung chủ yếu nguyên nhân là do tai nạn sinh hoạt 37 bệnh nhân (chiếm tỷ lệ46,8%) tiếp đó là nguyên nhân do tai nạn lao động 32 bệnh nhân (chiếm tỷ lệ40,5%), do tai nạn giao thông chỉ có 7 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 8,9%, ít nhất là
do thể dục thể thao 3 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 3,8%
3.1.4 Hình thái chấn thương
VTX: 38%
CTĐD: 62%
Biểu đồ 3.4 Hình thái chấn thương
Trong tổng số 79 bệnh nhân bong võng mạc do chấn thương có 49 bệnhnhân bị bong võng mạc do CTĐD chiếm tỷ lệ 62% so với 30 bệnh nhân bongvõng mạc do VTX nhãn cầu chiếm tỷ lệ 38%
Trang 40có 29 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 59,18%, trong nhóm bong võng mạc do CTĐDxuất huyết dịch kính và tổ chức hóa dịch kính có 9 bệnh nhân chiếm tỷ lệ18,36%, còn trong nhóm bong võng mạc do VTX thì hầu hết đều gặp xuấthuyết dịch kính (22 bệnh nhân) chiếm tỷ lệ 73,33% Trong 30 bệnh nhân bongvõng mạc do VTX thì có 2 bệnh nhân có viêm mủ dịch kính chiếm tỷ lệ6,67% phải cắt dịch kính mủ Sự phân bố các tổn thương dịch kính giữa 2nhóm CTĐD và VTX có ý nghĩa thống kế với p<0,01.
3.1.5.2 Tổn thương võng mạc
* Mức độ bong võng mạc
Bảng 3.2 Mức độ bong võng mạc