Những năm gần đây nhờ sự tiến bộ của y học trong chẩnđoán và điều trị, tỷ lệ tử vong do TBMMN đã giảm nhưng tỷ lệ sống sót vàtàn phế cũng tăng lên dẫn đến nhu cầu phục hồi chức năng cho
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Tai biến mạch máu não (TBMMN) chiếm vị trí hàng đầu trong các bệnhthần kinh trung ương và là nguyên nhân quan trọng gây tử vong và tàn tật phổbiến trên thế giới [1], [2]
Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization WHO) TBMMN là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 3 sau ung thư vàtim mạch [3] Ở Việt Nam theo số liệu thống kê của Lê Văn Thành (2003) tạithành phố Hồ Chí Minh thấy tỷ lệ hiện mắc khá cao là 6060/1.000.000 dân [4].TBMMN có hai thể chính: chảy máu não và nhổi máu não (NMN) trong
-đó NMN chiếm đa số với tỷ lệ 75% đến 80% [5] TBMMN có thể xảy ra đốivới mọi lứa tuổi, không phân biệt nghề nghiệp, giới tính, sắc tộc, địa dư, hoàncảnh kinh tế - xã hội Những năm gần đây nhờ sự tiến bộ của y học trong chẩnđoán và điều trị, tỷ lệ tử vong do TBMMN đã giảm nhưng tỷ lệ sống sót vàtàn phế cũng tăng lên dẫn đến nhu cầu phục hồi chức năng cho bệnh nhân sauTBMMN cũng tăng theo Bên cạnh đó TBMMN còn liên quan chặt chẽ vớicác yếu tố nguy cơ (YTNC) như: tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, đái tháođường, các bệnh rối loạn chuyển hóa, rối loạn các yếu tố đông máu… Điềutrị các YTNC trong cộng đồng có thể giảm tới 80% TBMMN [6],[7] Do vậyhiện nay thường kết hợp điều trị phục hồi chức năng và điều trị các YTNCtrong điều trị TBMMN
Y học hiện đại (YHHĐ) đã đạt được những thành tựu to lớn trong việcchẩn đoán, điều trị, phục hồi chức năng cũng như điều trị dự phòng cho bệnhnhân TBMMN Y học cổ truyền (YHCT) cũng có những đóng góp không nhỏtrong điều trị phục hồi chức năng cho bệnh nhân TBMMN Nhiều bài thuốc
cổ phương được ghi trong các y văn kinh điển như: Bổ dương hoàn ngũ
Trang 2thang, Đại tần giao thang, An cung ngưu hoàng, …đã và đang được các thầythuốc dùng điều trị cho bệnh nhân đạt kết quả tốt [8],[9],[10],[11]
Phục hồi chức năng với nhiều phương thức nhằm giúp cho bệnh nhânnhanh chóng trở lại cuộc sống cộng đồng, là niềm vui cho người bệnh và gópphần phục hồi sức lao động cho người bệnh, gia đình và cho xã hội
Bên cạnh những thành tựu to lớn trong việc chẩn đoán, điều trị, phụchồi chức năng cũng như dự phòng cho bệnh nhân TBMMN của YHHĐ
Y học cổ truyền cũng đã góp phần rất lớn trong việc điều trị phục hồi dichứng tai biến mạch máu não, bằng các phương pháp rất phong phú và đadạng: thuốc, châm cứu, xoa bóp, dưỡng sinh Đã có rất nhiều đề tài khoa học
áp dụng các bài thuốc Y học cổ truyền, các phương pháp châm cứu, hoặc kếthợp cả hai phương pháp dùng thuốc và châm cứu để điều trị di chứng doTBMMN có kết quả rất khả quan
Hiện nay tại Khoa Y học cổ truyền Bệnh viện Bạch Mai áp dụngphương pháp thủy châm sử dụng các chế phẩm thuốc như Epinosin B,Neurobion, gần đây khoa đang sử dụng chế phẩm Alton CMP để hỗ trợ điềutrị cho người bệnh sau giai đoạn cấp của TBMMN nói chung và Nhồi máunão nói riêng cho kết quả khả quan Tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứukhoa học nào đánh giá tác dụng của thủy châm chế phẩm Alton CMP vàohuyệt để điều trị di chứng TBMMN Trên cơ sở đó, chúng tôi thực hiện đề tài
“Đánh giá tác dụng thủy châm Alton CMP trong hỗ trợ phục hồi chức năng vận động ở bệnh nhân nhồi máu não sau giai đoạn cấp”.
Với hai mục tiêu cụ thể:
1/ Đánh giá tác dụng hỗ trợ điều trị phục hồi chức năng vận động ở bệnh
nhân nhồi máu não sau giai đoạn cấp bằng thủy châm Alton CMP
2/ Theo dõi tác dụng không mong muốn của thuỷ châm Alton CMP trong hỗ
trợ điều trị phục hồi chức năng vận động ở bệnh nhân nhồi máu não sau giai đoạn cấp.
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 TỔNG QUAN VỀ NHỒI MÁU NÃO THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI 1.1.1 Tình hình tai biến mạch máu não
1.1.1.1 Tình hình tai biến mạch máu não trên thế giới
Theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới (WHO), mỗi năm có hơn 4,5triệu người tử vong do TBMMN Riêng ở châu Á, hàng năm tử vong doTBMMN là 2,5 triệu người [3]
Năm 2006, tỷ lệ bệnh nhân bị TBMMN tại Tây Ban Nha là 176/100000người [12]
Năm 2008, tại Hoa Kỳ, có tổng cộng khoảng 5.800.000 trường hợpTBMMN, với 780.000 người TBMMN mỗi năm [13] Tổng số ca tử vong doTBMMN ở 48 quốc gia châu Âu ước tính khoảng 1.239.000 người, số ca tửvong TBMMN mỗi năm trong 27 nước thành viên Liên minh châu Âu là508.000 ca [14]
Trong năm 2009, ước tính có khoảng 381.400 người Úc (1,8% tổng dânsố) bị TBMMN [15]
Theo các dữ liệu được công bố từ các nước EU, Iceland, Na Uy vàThụy Sĩ, WHO ước tính số người bị TBMMN ở những quốc gia trên có khảnăng tăng hơn 1,5 triệu người vào năm 2025 [16]
1.1.1.2 Tình hình tai biến mạch máu não ở Việt Nam
Tại Việt Nam, những năm gần đây tỉ lệ bệnh nhân bị TBMMN tăngnhanh
Trang 4Lê Văn Thành điều tra tình hình TBMMN tại thành phố Hồ Chí Minhnăm 2003 thấy tỷ lệ mắc là 6060/1.000.000 dân, tăng hơn năm 1993 với tỷ lệ4106/1.000.000 dân [17].
Đặng Quang Tâm (2004) tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễhọc TBMMN tại thành phố Cần Thơ, kết quả cho thấy tỷ lệ hiện mắc tăng dầnhàng năm: từ 75,57 BN/100.000 dân năm 2002 lên 129,56 BN/100.000 dânnăm 2004 [18]
Nhồi máu não chiếm khoảng 70-81% các trường hợp TBMMN, gặp ởmọi lứa tuổi, thường gặp ở những người cao tuổi [19]
Tỷ lệ nhồi máu não gần đây có xu hướng gia tăng ở những người trẻ
1.1.2 Định nghĩa, cơ chế bệnh sinh của nhồi máu não
1.1.2.1 Định nghĩa tai biến mạch máu não
Định nghĩa: “Tai biến mạch máu não là dấu hiệu phát triển nhanh trênlâm sàng các rối loạn chức năng của não phần lớn nguyên nhân do mạch máu.Các tổn thương thần kinh thường khu trú hơn là lan tỏa, tồn tại quá 24 giờdiễn biến có thể tử vong hoặc để lại di chứng” [19]
Tùy thuộc vào bản chất tổn thương, TBMMN được chia thành 2 thểlớn: Chảy máu não và nhồi máu não
1.1.2.2 Khái niệm về nhồi máu não
Định nghĩa:
Nhồi máu não là hậu quả của sự giảm đột ngột lưu lượng tuần hoàn não
do tắc một phần hoặc toàn bộ một động mạch não Về mặt lâm sàng tai biếnthiếu máu não biểu hiện bằng sự xuất hiện đột ngột các triệu chứng thần kinhkhu trú, hay gặp nhất là liệt nửa người [19],[20]
Phân loại nhồi máu não: Theo WHO năm 1989 [21],[22],[23].
- Loại 1: Cơn thiếu máu não thoáng qua diễn ra dưới 24 giờ, không đểlại di chứng
Trang 5- Loại 2: Thiếu máu não cục bộ hồi phục, diễn tiến bệnh quá 24 giờ, đểlại di chứng nhẹ hoặc không có di chứng.
- Loại 3: Thiếu máu não cục bộ hình thành, là nhồi máu não nặng và đểlại nhiều di chứng
- Loại 4: Nhồi máu não tiến triển, là thiếu sót thần kinh cục bộ, do thiếumáu, tính chất nặng nề, kéo dài quá một vài giờ hoặc một vài giờ sau khởi bệnh
Nguyên nhân của nhồi máu não
Nhồi máu não thường do 2 nhóm nguyên nhân chính: Huyết khối độngmạch và tắc mạch Ngoài ra co thắt mạch máu cũng có thể là nguyên nhângây ra nhồi máu não ở người trẻ [19], [24], [25]
- Huyết khối mạch: Vữa xơ động mạch là nguyên nhân chính gây huyếtkhối Khi thành mạch bị vữa xơ, đặc biệt là lớp áo trong dày lên làm hẹp lòngmạch, đồng thời thành mạch trở nên thô ráp làm cho tiểu cầu dễ bám vào Cụctắc tiểu cầu không bền, nếu có thêm hồng cầu và sợi tơ huyết bám vào, cấutrúc sẽ bền chắc hơn và lớn dần lên Khi cục tắc gây nghẽn trên 75% lòngđộng mạch hoặc khi chúng bong ra và trôi theo dòng máu, gây tắc mạch sẽxuất hiện các triệu chứng lâm sàng Ngoài vữa xơ động mạch còn có một sốnguyên nhân khác như viêm động mạch, bóc tách động mạch, các bệnh máunhư đông máu rải rác, bệnh hồng cầu hình liềm, loạn phát triển xơ [19],[26]
- Tắc mạch: Do cục máu đông di chuyển từ một mạch máu ở xa não,nguồn gốc do bệnh lý tim mạch như hẹp van hai lá, rung nhĩ, viêm nội tâmmạc nhiễm khuẩn , hoặc do các mảng vữa xơ ở các mạch máu bị vữa xơđộng mạch bong ra, theo dòng máu di chuyển lên não, gây tắc mạch Cácnguyên nhân khác như tắc mạch não do mổ, do không khí [19],[27]
- Co thắt mạch: là do sự mất cân bằng các chất giãn mạch của tế bàonội mô và sự tăng tổng hợp của các chất gây co mạch trong động mạch não,gây co thắt mạch não, làm cản trở lưu thông máu Co thắt mạch có thể do dị
Trang 6dạng mạch máu ở người trẻ tuổi, co thắt mạch não hồi phục không rõ nguyênnhân, co thắt mạch sau đau nửa đầu, sau sang chấn, sau sản giật [19].
1.1.2.3 Các yếu tố nguy cơ của TBMMN
Theo WHO, có hơn hai mươi yếu tố nguy cơ của nhồi máu não như:Tuổi, giới, chủng tộc, các bệnh lý như tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạnlipid máu, hút thuốc lá, uống rượu Trong đó, ba yếu tố quan trọng nhất làtăng huyết áp, bệnh tim mạch và vữa xơ động mạch [3]
Tăng huyết áp và vữa xơ động mạch: có thể xuất hiện riêng lẻ hoặc kết
hợp với nhau, là nguy cơ hàng đầu của TBMMN Theo Bousser M, nhồi máunão do vữa xơ động mạch chiếm 60-70%, trong đó tỷ lệ có kèm tăng huyết áp
là 40-50% [28]
1.1.2.4 Chẩn đoán nhồi máu não
Bệnh khởi phát đột ngột, bệnh nhân có thể bị liệt nửa người, nói khó, liệtcác dây thần kinh sọ não, rối loạn thần kinh thực vật, rối loạn ý thức… [19],[29]
Các triệu chứng như: Nhức đầu, buồn nôn, nôn, các triệu chứng xuất
hiện nặng ngay từ đầu, rối loạn ý thức, rối loạn cơ tròn, huyết áp khi khởi pháttăng cao Các triệu chứng này ít thấy ở bệnh nhân nhồi máu não mà thườnggặp ở bệnh nhân chảy máu não
1.1.2.5 Xét nghiệm cận lâm sàng
* Chụp cắt lớp vi tính sọ não
- Ở giai đoạn sớm, bệnh nhân nhồi máu não có các biểu hiện rất kín đáo
- Sau giai đoạn cấp tính, bệnh nhân nhồi máu não có các ổ giảm đậm độ, ổnày thường thấy rõ từ ngày thứ hai trở đi Trường hợp điển hình: có ổ giảm đậm
độ thuần nhất, hình thang, hình tam giác đáy quay ra ngoài, hình tròn nhỏ, hìnhbầu dục hoặc hình dấu phẩy phù hợp với vùng phân bố của động mạch não.Trường hợp hội chứng ổ khuyết: có các ổ giảm đậm độ hình tròn hoặc hình bầudục trong chất trắng và hạch nền não, đường kính nhỏ hơn 1,5cm
Trang 7- Hình ảnh nhồi máu – chảy máu: Sự kết hợp một hình ảnh tăng tỷtrọng tự nhiên ở trong một vùng giảm tỷ trọng.
* Hình ảnh CHT và chụp mạch CHT: Đây là phương pháp hiện đại
nhất, rõ ràng những vùng não tổn thương, có độ nhạy cao, không bị nhiễu ảnh
ở hố sau, có thể dựng ảnh nhiều chiều, phương pháp chụp mạch cộng hưởng
từ không phải tiêm thuốc cản quang và mạch não Nhưng có nhược điểm là:khó phân định, dễ gây nhầm lẫn với một số tổn thương khác không do thiếumáu não những cũng có thay đổi tương tự như u não, các tổn thương viêmnhiễm Hình ảnh: chủ yếu tăng tín hiệu trong thì T2
* Chụp động mạch não: Chụp động mạch số hóa xóa nền cho hình ảnh
động mạch não rõ nét, phát hiện được tắc, hẹp mạch máu, phình mạch, dịdạng mạch, co thắt mạch não
* Xạ hình tưới máu não bệnh lý trên máy chụp cắt lớp phát điện tử dương (SPECT) và chụp cắt lớp phát photon đơn (PET): Cung cấp những
hình ảnh động học về quá trình tưới máu não, các tổn thương mạch máu não.Giúp chẩn đoán sớm, chính xác các tổn thương mạch não, bổ sung thêm cácthông tin về hình ảnh giải phẫu và hình thái của chụp cắt lớp vi tính và cộnghưởng từ Ngoài ra còn giúp theo dõi sự thay đổi của các tổn thương doTBMMN theo thời gian và có thể phát hiện tốt hơn chụp CLVT và CHT cácthiếu máu cục bộ trong những giờ đầu sau khi mắc TBMMN Các kích thướctổn thương trên chụp cắt lớp phát điện tử dương (SPECT) thông thường lớnhơn so với chụp CLVT và chụp CHT
* Siêu âm Doppler: Để phát hiện dấu hiệu tắc, hẹp hệ động mạch cảnh
trong và ngoài sọ
* Xét nghiệm dịch não – tủy: Dịch não – tủy không có hồng cầu, bạch
cầu và các thành phần khác không biến đổi
Trang 8* Ghi điện não:
* Các xét nghiệm khác như xét nghiệm máu, xét nghiệm nước tiểu,
chụp X quang tim phổi, điện tâm đồ và siêu âm tim mạch
1.1.2.6 Điều trị phục hồi bệnh nhân sau giai đoạn cấp
Phục hồi chức năng ở bệnh nhân TBMMN
Phục hồi chức năng vận động cho bệnh nhân TBMMN được quan tâmnhiều vì chức năng vận động ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sống và laođộng hàng ngày của người bệnh Điều này cần phải được tiến hành ngay từgiai đoạn sớm tại bệnh viện Việc hướng dẫn người bệnh và gia đình để tậpluyện tại nhà là cần thiết để đạt hiệu quả tốt và lâu dài [30],[31],[32],[33]
* Nguyên tắc:
- Điều trị phục hồi sớm ngay khi tình trạng tổn thương não đã ổn định
- Kế hoạch phục hồi phù hợp với từng bệnh nhân
- Phục hồi vận động là quá trình từ đơn giản đến phức tạp, cần có sựphối hợp giữa thầy thuốc với người bệnh, gia đình
* Những bước cơ bản trong quá trình phục hồi chức năng [19],[34],[35],[36]
- Lượng giá và xử trí những vấn đề chung
- Chăm sóc nâng cao thể trạng
Trang 9- Phòng chống các biến chứng khác như teo cơ, cứng khớp, chống loét
do tỳ đè, phòng thuyên tắc, kết hợp châm cứu, xoa bóp bấm huyệt, vật lý trịliệu để bệnh nhân nhanh chóng hồi phục
1.2 CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ NHỒI MÁU NÃO THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN
Trong YHCT không có bệnh danh TBMMN nói chung và NMN nóiriêng Căn cứ vào triệu chứng lâm sàng và tính chất xuất hiện đột ngột nhưtrong giai đoạn cấp của YHHĐ thì YHCT xếp TBMMN vào chứng Trúngphong, giai đoạn sau cấp của YHHĐ với triệu chứng liệt nửa người nổi bật thìYHCT xếp vào chứng Bán thân bất toại [37],[38],[39],[40],[41]
1.2.1 Quan niệm, nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh
1.2.1.1 Quan niệm và nguyên nhân của chứng trúng phong
Trúng phong là chứng bệnh phát sinh cấp, đột ngột và rất nặng Bệnhnhân đột nhiên ngã ra bất tỉnh hoặc vẫn còn tỉnh, bán thân bất toại hoặc tứ chikhông cử động được, miệng méo, mắt lệch, nói khó
Trúng phong là chứng bệnh được đề cập tới từ hơn 2.000 năm naytrong các y văn cổ như Nội kinh, Kim quỹ yếu lược và qua các thời kỳ lịch sửđược bổ sung và hoàn thiện dần
Theo Nội kinh, tà khí xâm phạm vào nửa người làm dinh vệ bị hao tổnmất chân khí, chỉ còn tà khí lưu lại gây nên thiên khô Phong khí ẩn ở khoảng
bì phu, trong không thể thông, ngoài không thể tiết [40]
Trương Trọng Cảnh cho nguyên nhân là lạc mạch hư rỗng, tà khí xâmphạm vào nửa người gây miệng méo, nửa người không cử động được [42]
Danh y Tuệ Tĩnh (thế kỷ XIV), đã nói: “Trúng phong là đầu mối cácbệnh, biến hóa lạ thường và phát bệnh khác biệt Triệu chứng là thình lìnhngã ra, hôn mê bất tỉnh, miệng méo mắt lệch, sùi bọt mép, bán thân bất toại,nói năng ú ớ, chân tay cứng đờ không co duỗi được Các chứng trạng như thếđều là trúng phong cả” [43]
Trang 10Bệnh danh trúng phong xuất hiện trong sách Nội kinh, ngoài ra còn cótên gọi khác: Thiên phong, thiên khô, thiên thân bất dụng, phúc kích Trong
“Kĩm quỹ yếu lược” của Trương Trọng Cảnh cũng nêu bệnh danh trúngphong và được dùng liên tục đến nay [42] Ngày nay chủ yếu dùng bệnhdanh: Trúng phóng, bán thân bất toại và phân chia thành hai loại: Trúngphong kinh lạc và trúng phong tạng phủ
Nguyên nhân của chứng trúng phong:
Ngoại phong: Phong tà xâm nhập vào kinh lạc gây trúng phong kinh
lạc, trúng phong đơn kinh lạc gây khẩu nhãn oa tà, trúng phong đa kinh lạcgây bán thân bất toại
Nội phong: Do rối loạn chức năng của can gây nên, gọi là “Can
phong nội động” Sách ‘Y Tông Kim Giám’ viết: “Trên trời là phong, dướiđất là mộc, ở người là can do đó, can khí và phong khí có liên hệ với nhau.Các bệnh về phong khí, đều thuộc về can”
Triệu chứng thường gặp là hoa mắt chóng mặt, tứ chi co giật hoặc tê bì,run rẩy, co cứng, nặng thì có thể bất tỉnh, miệng méo, mắt xếch, bán thân bấttoại Nội phong do trong cơ thể sinh ra, do âm dương mất cân bằng, chính khísuy kém làm hao tổn chân âm, ảnh hưởng đến can thận, can là tạng thuộcphong, nếu can huyết suy kém sẽ sinh nhiệt, nhiệt hóa hỏa, hỏa thịnh thìphong động, che lấp các khiếu, rối loạn thần minh gây nên chứng trúngphong Nhẹ là trúng phong kinh lạc, nặng là trúng phong tạng phủ, chữakhông kịp thời sẽ để lại chứng bán thân bất toại
Nội phong làm cho chức năng của tạng can bị rối loạn Can chủ cân,can khí cang thịnh gây ra co giật Can dương vượng lên, gây ra nhức đầu,chóng mặt, hoa mắt Can huyết hư không nuôi dưỡng được cân cơ, sinh raliệt, chân tay co quắp Can phong nội động gây hoa mắt chóng mặt, tứ chi cogiật hoặc tê bì hoặc run rẩy, co cứng, nặng hơn có thể bất tỉnh, khẩu nhãn oa
Trang 11tà, bán thân bất toại Can phong thường kết hợp với đàm để gây bệnh, đàmhỏa uất kết sinh phong hoặc can phong nội động đàm trọc cũng nhân đó màthượng nghịch làm cho xuất hiện triệu chứng ngất xỉu, khò khè.
Nội phong gây trúng phong thường do: Can thận âm hư, thủy khôngnuôi dưỡng được mộc làm can dương thịnh, can phong kết hợp với đàm thànhphong đàm đưa lên trên gây tắc trở thanh khiếu Nhiệt cực sinh phong donhiệt tà quá thịnh làm tổn thương dinh huyết, thiêu đốt can kinh Âm hư vàhuyết hư làm cân mạch không được nuôi dưỡng mà gây chứng âm hư phongđộng và huyết hư sinh phong
1.2.1.2 Cơ chế bệnh sinh
Nguồn gốc lý luận của bệnh trúng phong bắt đầu từ sách Nội kinh, Kimquỹ yếu lược từ thời Đông Hán thế kỷ II – III sau Công nguyên, phát triểnvào thời Kim Nguyên và khá phổ biến vào thời Minh – Thanh
Nội kinh, Kim quỹ coi nguyên nhân gây bệnh là “Nội hư trúng tà”.Trong Linh Khu nói: Hư tà xâm nhập nửa người, khu trú ở dinh vệ, dinh vệyếu thì chân khí mất, còn mình tà khí ở lại trở thành khô cứng nửa người [44].Kim quỹ yếu lược nói: “Kinh mạch hư không phong tà thừa cơ xâm nhập gâychứng trúng phong, tùy theo bệnh nặng nhẹ mà biểu hiện chứng hậu ở kinhlạc hay tạng phủ” [42]
1.2.2 Điều trị chứng trúng phong và phục hồi vận động sau giai đoạn cấp
1.2.2.1 Phân loại
Theo sách Kim quỹ yếu lược, các thể lâm sàng ở giai đoạn cấp tùy theo tàkhí xâm phạm ở phần nông là trúng phong kinh lạc, ở phần sâu có hôn mê làtrúng phong tạng phủ
- Trúng phong kinh lạc: Mức độ nhẹ, liệt nửa người không có hôn mê.Bỗng nhiên da thịt tê dại, đi lại nặng nhọc, mắt miệng méo, tê liệt nửa người,rêu lưỡi trắng, mạch huyền tế hay phù sác
Trang 12- Trúng phong tạng phủ: Bệnh xuất hiện đột ngột, liệt nửa người có hôn
1.2.2.2 Điều trị phục hồi sau giai đoạn cấp
Giai đoạn cấp tính của trúng phong bệnh biến chuyển rất phức tạp, nếuđiều trị tích cực bệnh chuyển sang giai đoạn phục hồi, tuy nhiên còn để lạinhiều di chứng nặng nề như: Liệt nửa người, nói khó, miệng méo, mắt xếch.Cần tích cực điều trị, nên phối hợp giữa điều trị bằng phương pháp dùngthuốc và không dùng thuốc như châm cứu, xoa bóp bấm huyệt, tập luyện Đây
là giai đoạn can thiệp điều trị tốt nhất để phục hồi các di chứng Ngoàinguyên tắc tuân theo biện chứng luận trị còn cần phải kết hợp với hoạt huyếthóa ứ, thông kinh lạc, ích khí Song song với việc khôi phục công năng tạngphủ còn cần phải đề phòng bệnh tái phát
* Điều trị chứng trúng phong sau giai đoạn cấp bằng phương pháp dùng thuốc
Tùy thuộc vào thể bệnh mà sẽ có bài thuốc phù hợp [37],[38],[40],[41]
Liệt nửa người
+ Khí hư huyết ứ, kinh lạc trở trệ:
Triệu chứng: Khí hư không vận hành được huyết, huyết không vinhdưỡng được, khí huyết ứ trệ, mạch lạc tắc trở làm cho các chi thể không vậnđộng được
Trang 13Pháp điều trị: Ích khí hoạt huyết, thông kinh hoạt lạc.
Phương dược: Bổ dương hoàn ngũ thang gia giảm (Hoàng kỳ, đàonhân, địa long, xích thược, đương quy, hồng hoa, xuyên khung)
+ Thận âm dương đều hư:
Triệu chứng: Bán thân bất toại, thất ngôn, ù tai, lưng gối lạnh đau, chântay lạnh, chóng mặt, choáng váng, chất lưỡi nhợt, rêu trắng, mạch trầm trì
Pháp điều trị: Tư thận âm, bổ thận dương, khai khiếu
Phương dược: Địa hoàng ẩm tử (Tuyên minh luận) gia giảm: Can địahoàng, sơn thù, ba kích, nhục thung dung, nhục quế, phụ tử, thạch hộc, mạchmôn, ngũ vị tử, bạch linh, xương bồ, viễn trí
+ Chính khí hư, phong tà trúng vào kinh lạc:
Triệu chứng: Bán thân bất toại, miệng méo mắt xếch, lưỡi cứng nói khóhoặc không nói được, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù hoãn
Pháp điều trị: Bổ chính trừ phong, điều hòa khí huyết
Phương dược: Tiểu tục mệnh thang (Thiên kim phương) gia giảm:Phòng phong, phòng kỷ, hạnh nhân, cam thảo, nhân sâm, phụ tử, quế chi,bạch thược, xuyên khung, hoàng cầm
+ Âm hư dương xung, mạch lạc ứ trở:
Triệu chứng: Bán thân bất toại, chân tay co cứng, hoa mắt chóng mặt,mặt đỏ, phiền táo không yên, nói khó, tê tay chân, chất lưỡi đỏ, rêu vàng,mạch huyền hữu lực
Pháp điều trị: Bình can tiềm dương, tức phong thông lạc
Phương dược: Thiên ma câu đằng ẩm (Tạp bệnh chứng trị tân nghĩa)gia giảm: Thiên ma, câu đằng, thạch quyết minh, tang ký sinh, đỗ trọng, íchmẫu, phục thần, dạ giao đằng, chi tử, hoàng cầm, ngưu tất
Trang 14 Rối loạn ngôn ngữ:
+ Phong đàm trở trệ kinh lạc:
Triệu chứng: Lưỡi to bè, nói ngọng, nói khó, rêu lưỡi trắng mỏng, dính.Mạch huyền tế
Pháp điều trị: Tức phong thông lạc, trừ đàm tuyên khiếu
Phương dược: Giải ngữ đan gia giảm (Thiên ma, toàn yết, nam tinh,bạch phụ tử, viễn trí, xương bồ, mộc hương, thiên trúc hoàng, uất kim)
+ Thận tinh hư tổn:
Triệu chứng: Không nói được, hồi hộp, đánh trống ngực, đoản khí, lưnggối mỏi yếu, mạch trầm tế nhược
Pháp điều trị: Bổ thận tinh, khai âm lợi khiếu
Phương dược: Địa hoàng ẩm tử gia giảm (Sinh địa, ba kích, sơn thù,bạc hà, thạch hộc, nhục dung, ngũ vị tử, sinh khương, hạnh nhân, cát cánh,bạch linh, mạch môn, xương bồ, viễn trí, đại táo)
+ Miệng méo, mắt lệch:
Triệu chứng: Miệng méo mắt lệch, kèm theo chi thể tê bì, hoặc nói khó,nhức đầu chóng mắt
Pháp điều trị: Khu phong hóa đàm, tức phong thông lạc
Phương dược: Khiên chính tán (Bạch phụ tử, cương tàm, toàn yết)
* Điều trị chứng trúng phong sau giai đoạn cấp bằng phương pháp không dùng thuốc:
- Điều trị chứng trúng phong sau giai đoạn cấp bằng châm cứu
+ Thể châm:
Xây dựng phác đồ huyệt theo biện chứng luận trị:
Phong đàm huyết ứ bế trở kinh lạc: Phong trì, Thái dương, Thiên đột, Kiênngung, Khúc trì, Ngoại quan, Hợp cốc, Dương lăng tuyền, Túc tam lý, Thái xung
Trang 15Phong đàm thượng nhiễu, đàm nhiệt phủ thực: Chi câu, Đại hoành,Phong long, Trung phủ, Xích trạch, Kiên ngung, Hợp cốc, Âm lăng tuyền,Túc tam lý, Thái xung.
Can thận âm hư, phong dương thượng nhiễu: Thái dương, Phong trì, Tháixung, Thái khê, Tam âm giao, Khúc trì, Ngoại quan, Dương lăng tuyền, Túc tam lý
Khí hư huyết ứ, lạc mạch trở trệ: Trung quản, Túc tam lý, Khí hải, Đạichùy, Kiên ngung, Ngoại quan, Hoàn khiêu, Dương lăng tuyền, Túc tam lý,Tam âm giao
Can dương thượng nhiễu, mạch lạc ứ trở: Can du, Thận du, Phong trì,Kiên ngung, Khúc trì, Ngoại quan, Hợp cốc, Dương lăng tuyền, Túc tam lý
Có liệt mặt thêm huyệt: Giáp xa, Địa thương
Chọn huyệt ở kinh dương là chính:
Huyệt chính: Kiên ngung, Khúc trì, Thủ tam lý, Ngoại quan, Dương trì,Hợp cốc, Hoàn khiêu, Phong thị, Túc tam lý, Dương lăng tuyền, Giải khê.Thủ pháp bổ, hoặc bình bổ bình tả
Huyệt phối hợp: Âm huyết hư tổn: Châm bổ huyết hải, Tam âm giao,Thái khê Đàm che lấp tâm khiếu: châm tả Bách hội, Nhân trung Liệt mặt:Chọn các huyệt: Hạ quan, Địa thương, Giáp xa Đàm trọc trở trệ: ChâmLiêm tuyền Nói khó: Châm Á môn, Liêm tuyền, Thiên đột, thủ pháp bình
bổ bình tả Bệnh lâu ngày dẫn tới thận hư, khí huyết bất túc: Châm bổ Can
du, Thận du, Quan nguyên
Mỗi lần châm bốn đến năm huyệt chính, một đến hai huyệt phối hợp.Trong thời kỳ hồi phục, đàm ứ rõ, chính khí dần hư suy, châm cứunhằm tăng dinh dưỡng tứ chi, bổ dương minh, hóa đàm trừ thấp, sơ thông
Trang 16kinh mạch, hành khí hoạt huyết với nguyên tắc huyết hành thì phong tất diệt,khôi phục chức năng vận động.
+ Mãng châm: Mãng châm phát triển từ lý luận của “Cửu châm” mà
người xưa đã ghi trong sách Linh khu (770 – 221 trước Công nguyên) Châmtức là điều khí, khí huyết lưu thông thì không có bệnh
Kỹ thuật châm: Dùng kim dài và to với kỹ thuật châm Thông kinh –
Liên kinh – Thấu kinh để điều hòa khí huyết nhanh và mạnh hơn
Mãng châm trong điều trị phục hồi sau trúng phong
Bệnh do phong gây ra thường tác động vào các kinh dương và các kinhmạch âm dương đa khí đa huyết Trong điều trị châm huyệt ở các kinh thủ túcdương minh, kết hợp với các huyệt ở kinh đởm, tỳ và bàng quang… để khuphong, trừ thấp, bình can, kiện tỳ, thông kinh hoạt lạc, khai khiếu, điều hòakhí huyết Mỗi lần châm chọn dùng thay đổi các huyệt dưới đây, lưu kim từ
20 – 40 phút, dùng thủ pháp bổ hay tả tùy theo bệnh lý
Công thức huyệt: Trật biên – Hoàn khiêu, Túc tam lý – Phong long,Tam âm giao – Âm lăng tuyền, Huyết hải – Âm liêm, Thái xung – Giải khê,Tam âm giao – Trung đô, Kiên ngung – Tý nhu, Khúc trì – Kiên ngung, Hợpcốc – Lao cung, Ngoại quan – Tam dương lạc, Kiên chinh – Cực tuyền, Thừakhấp – Địa thương, Quyền liêu – Nghinh hương, Toản trúc – Tình minh…
+ Thủy châm: Thường tiêm vào huyệt các loại thuốc vitamin nhóm B:
B1, B6, B12
+ Đầu châm: Đây là phương pháp đặc thù chọn huyệt vị trên đầu.
Phương pháp này dựa trên cơ sở công năng của vỏ não, lớp trên da đầu có nhữngvùng liên hệ mật thiết với chức năng các trung khu của vỏ não, do đó khi kích
Trang 17thích sẽ truyền tín hiệu tới vỏ não để đạt hiệu quả chữa bệnh Nguyên tắc là chọnvùng vận động trên da đầu tương ứng với khu vực tổn ở thương não.
+ Nhĩ châm: Dùng các huyệt thần môn, tâm, thận, não, chẩm.
+ Cứu: Khi bệnh nhân có biểu hiện của chứng hàn.
- Điều trị chứng trúng phong sau giai đoạn cấp bằng xoa bóp bấm huyệt: + Kỹ thuật: Thủ thuật phải nhẹ nhàng, song có tác dụng thấm sâu vào
da thịt, làm được lâu và có sức Tác dụng bổ tả của thủ thuật: thường làm nhẹ,chậm rãi, thuận đường kinh, có tác dụng bổ, làm nặng, nhanh, ngược đườngkinh có tác dụng tả
+ Áp dụng xoa bóp bấm huyệt trong điều trị di chứng trúng phong
Một số thủ thuật thường dùng: Xát, xoa, day, ấn, miết, hợp, véo, bấm,đấm, điểm, lăn, phát, vờn, rung, vê, vận động
Mục đích: Tăng cường dinh dưỡng, chống teo cơ, cứng khớp, giúpnhanh chóng phục hồi chức năng vận động nửa người bên liệt
- Điều trị chứng trúng phong sau giai đoạn cấp bằng phương pháp luyện tập khí công: Áp dụng cho những bệnh nhân liệt đã phục hồi hoặc hồi
phục một phần, đã tự đi lại được
- Điều trị chứng trúng phong sau giai đoạn cấp bằng các phương pháp tập luyện phục hồi chức năng: Sau khi bệnh nhân bị trúng phong đã điều trị
qua giai đoạn cấp, bệnh tương đối ổn định, thường sau một đến bảy tuần cóthể luyện tập được Luyện tập từ nhẹ rồi tăng dần theo tình trạng từng bệnhnhân và cần kiên trì luyện tập thường xuyên, đều đặn
Trang 18Trong điều trị trúng phong cần chú ý:
Giai đoạn cấp tính cần kết hợp YHCT và YHHĐ điều trị sớm, hạn chếnhững biến chứng nguy hiểm
Giai đoạn hồi phục: Để phục hồi chức năng tốt nhất cho người bệnh từvận động đến ngôn ngữ cần kết hợp nhiều phương pháp điều trị, để ngườibệnh hòa nhập lại với cuộc sống gia đình và xã hội ở mức cao nhất có thể vàđồng thời luôn phòng bệnh tái phát
1.3 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG THUỐC Y HỌC CỔ TRUYỀN ĐIỀU TRỊ NHỒI MÁU NÃO SAU GIAI ĐOẠN CẤP
1.3.1 Một số nghiên cứu ở Trung Quốc
+ Khúc Hải Nguyên (1985) – Bệnh viện Trung y Cát Lâm, dùng “Địalong đan sâm thang” Kết quả: tốt 4 trường hợp, khá 27 trường hợp, không kếtquả 1 trường hợp, tỷ lệ đạt 96% [45]
+ Trương Văn Học (1987) – Học viện Trung y Thiểm Tây, dùng
“Thông mạch sơ lạc phương” Điều trị 110 trường hợp nhũn não Kết quả:loại tốt 47,3%, khá 32,7%, trung bình 18,2%, không kết quả 1,8% Tỷ lệ cókết quả là 92% [46]
+ Hà Tiếu Tiên (1989) ở Bệnh viện Tuyên Vũ Bắc Kinh đã điều trị cho
46 bệnh nhân bằng “Đào hồng thông mạch phương” Kết quả như sau: 29 bệnhnhân phục hồi tốt (63,3%), 14 bệnh nhân phục hồi khá (30,4%), 3 bệnh nhân cótiến bộ (6,5%), sau điều trị có 13 bệnh nhân huyết áp trở về bình thường trong
số 23 bệnh nhân có tăng huyết áp [47]
+ Tác dụng điều trị cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua của xuyênkhung và aspirin trên 158 trường hợp, xuyên khung 111 trường hợp, aspirin
Trang 1947 trường hợp, tỷ lệ hiệu quả lần lượt là 89,2 và 61,7%, sự khác biệt trước vàsau điều trị (p < 0,001) [48].
1.3.2 Một số nghiên cứu ở Việt Nam
Nguyễn Đức Vượng (2002) dùng “Kiện não hoàn” điều trị nhồi máu nãosau giai đoạn cấp Kết quả theo thang điểm Rankin: 50% bệnh nhân phục hồi độ1; 36,7% còn lại di chứng nhẹ; 10% di chứng vừa; 3,3% liệt độ 4 [49]
Tôn Chi Nhân (2004) đã “Nghiên cứu điều trị phục hồi chức năng vậnđộng cho bệnh nhân TBMN bằng điện châm kết hợp thuốc YHCT nghiệmphương” Kết quả: phục hồi hoàn toàn 68%; di chứng nhẹ 22%; và 10% dichứng vừa [48]
Năm 2005, Vũ Thu Thuỷ và cộng sự “Nghiên cứu tác dụng điều trị củaHoa Đà tái tạo hoàn đối với nhồi máu bán cầu đại não sau giai đoạn cấp” Kếtquả phục hồi mức độ tốt 23,7%; khá 39,5%; trung bình 36,8% [50]
Năm 2005, Nguyễn Văn Vụ điều trị 103 bệnh nhân bị NMN sau giai đoạncấp bằng Kỷ cúc địa hoàng hoàn và Tứ vật đào hồng Kết quả: 88,35% giảm độliệt trong đó 11,7% hồi phục hoàn toàn; 18,3% đỡ nhiều và 58,3% đỡ ít [51].Trần Thị Quyên (2005) “Đánh giá điều trị phục hồi chức năng vận động
do NMN sau giai đoạn cấp bằng bài thuốc Bổ dương hoàn ngũ thang kết hợpvới điện châm” Kết quả: 100% bệnh nhân cải thiện độ liệt, loại tốt 66,7%,khá 20,0% [10]
Trương Mậu Sơn (2006) đã “Đánh giá tác dụng phục hồi chức năng vậnđộng do NMN sau giai đoạn cấp bằng thuốc Ligustan kết hợp với điện châm".Kết quả: cải thiện độ liệt Rankin: loại tốt và khá đạt 86,7% (tốt 26,7% và khá60%) Điểm trung bình Orgogozo từ 38,0 ± 11,3 điểm trước điều trị tăng lên69,8 ± 20,4 điểm (p < 0,01) [52]
Trang 20Nguyễn Bá Anh (2008) “Đánh giá tác dụng hỗ trợ điều trị của Nattospestrên bệnh nhân NMN sau giai đoạn cấp” Kết quả: mức tăng điểm trung bìnhBarthel sau điều trị là 32,78 ± 10,0 so với trước điều trị (p < 0,05) [53].
Nguyễn Công Doanh (2011) sử dụng bài Thông mạch dưỡng não ẩm vàđiện châm trên bệnh nhân nhồi máu động mạch não giữa sau giai đoạn cấp.Kết quả: 86,5% chuyển dịch một độ, chuyển dịch hai độ là 13,5% theo thang
điểm Henry Điểm trung bình Barthel tăng được 41,58 ± 6,90 điểm [54].
Ngô Quỳnh Hoa (2013) “Nghiên cứu tính an toàn và tác dụng của thuốc
“Thông mạch sơ lạc hoàn” trong điều trị nhồi máu não sau giai đoạn cấp”.Kết quả: có 51,11% dịch chuyển được 1 độ và 40% dịch chuyển được 2 độtheo thang điểm Barthel, Điểm trung bình Barthel tăng được 34,22 ± 11,28điểm [55]
Galbaa Davkharbayar (2011) “Đánh giá tác dụng phục hồi chức năngvận động ở bệnh nhân nhồi máu não bằng thủy châm Epinosin B”.ĐiểmBathel trung bình sau điều trị của nhóm NC 82,26 ± 15,06 cao hơn trước điềutrị 44,45 ± 14,69 điểm (p<0,05) [56]
Nguyễn Phương Đông (2011) “ Đánh giá tác dụng của viên Loutai trong
hỗ trợ điều trị bệnh nhân nhồi máu não sau giai đoạn cấp” Sau điều trị điểmtrung bình Barthel của nhóm NC là 71,17 ± 21,18 cao hơn có ý nghĩa so vớitrước điều trị là 25,29 ± 16,80 (p < 0,01) [57]
Trần Quang Hưng (2010) "Đánh giá tác dụng phục hồi chức năng vậnđộng ở bệnh nhân nhồi máu não bằng thủy châm Neurobion” Điểm Batheltrung bình sau điều trị của nhóm NC 84,26 ± 12,06 cao hơn trước điều trị46,76 ± 16,69 (p<0,01) [58]
Trang 211.4 CHẾ PHẨM ALTON CMP:
1.4.1 Thành phần và liều lượng cho một ống thuốc:
* Chế phẩm thuốc dùng trong nghiên cứu
- Tên sản phẩm: Alton CMP
- Nhà sản xuất: công ty dược và trang thiết bị y tế Bình Định
- Thành phần: Mỗi lọ bột đông khô chứa
+ Cytidine-5-disodium monophotphat: 10mg
+ Uridin -5-trisodium triphotphat
+ Uridin -5 –disodium diphotphat
+ Uridin -5 – disodium monophotphat: 6mg
Mỗi hộp 5 lọ bột đông khô đi kèm 5 ống dung môi
1.4.2 Tác dụng của từng thành phần chế phẩm:
- Alton CMP cung cấp các nhóm photphate cần thiết cho sự liên kết củanhững monosacharite với các ceramine để tạo nên các cerebroside và các acidphotphat vốn cấu thành shingomyelin và các glycerophotpholipide là nhữngthành phần chính của bao myelin nhờ đó có thể có được đặc tính dinh dưỡngtốt hơn cho sự trưởng thành và tái tạo sợi trục mô thần kinh từ dó tham giatích cực vào quá trình dẫn truyền các xung tác thần kinh kích thích hoạt độngtrí óc và trí nhớ
1.4.3 Ứng dụng của chế phẩm Alton CMP:
Sự phối hợp này tạo ra một tác dụng giảm đau, hồi phục tổn thương rõ rệtbằng cách
- Kích thích cơ thể sửa chữa tổn thương
- Cải thiện quá trình tái tạo sợi thần kinh
- Tăng tốc độ dẫn truyền của sợi thần kinh
- Tái tạo mô thần kinh bị tổn thương
Trang 22 Chỉ định:
Bệnh lý đau dây thần kinh: do nghiện rượu, tiểu đường
Bệnh cơ do dây thần kinh ngoại biên
Bệnh lý thần kinh ngoại biên do thiếu dinh dưỡng
Đau dây thần kinh, viêm rễ thần kinh: đau thần kinh hông to, đau thần kinh cổ, đau thần kinh gian sườn, đau thần kinh sinh ba
Phục hồi chức năng vận động dây thần trong các trường hợp TBMMN
do nhồi máu não
- Dung môi 5ống đi kèm 5 lọ bột đông khô
- Cách dùng: bơm hết dung môi vào ống bột đông khô lắc đều chođến khi tan hoàn toàn Dùng tiêm bắp
Liều lượng: tiêm bắp sâu 1 – 2 lọ / ngày
Trang 23Chương 2 CHẤT LIỆU, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 CHẤT LIỆU DÙNG TRONG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Thuốc điều trị
Chế phẩm dùng trong nghiên cứu
Alton CMP tiêm bắp do công ty dược và trang thiết bị y tế Bình Định (BIDIPHAR) cung cấp
Thành phần:
+ Cytidine-5-disodium monophotphat: 10mg
+ Uridin -5-trisodium triphotphat
+ Uridin -5 –disodium diphotphat
+ Uridin -5 – disodium monophotphat: 6mg
Mỗi hộp 5 lọ bột đông khô đi kèm 5 ống dung môi
Mỗi ống dung môi 2ml
Hình 2.1 Chế phẩm Alton CMP
Trang 24 Thuốc YHHĐ trong phác đồ điều trị nền Theo hướng dẫn của Khoa Y học cổ truyền Bệnh viện Bạch Mai (Trang 26).
2.1.2 Dụng cụ phục vụ nghiên cứu
- Kim châm cứu các loại độ dài từ 5 – 12 cm do việt nam sản xuất
- Máy điện châm do viện trang thiết bị Y tế Hà Nội sản xuất E=6vchạy bằng pin
- Kim và ống tiêm loại 5 ml
- Bông vô khuẩn, cồn 700, khay, panh
2.2 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
- Địa điểm nghiên cứu: Khoa YHCT Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội.
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 02 đến tháng 12 năm 2014
2.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Là những bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên không phân biệt giới, nghềnghiệp Được chẩn đoán là NMN sau giai đoạn cấp được điều trị nội trú tạiKhoa YHCT – Bệnh viện Bạch Mai
2.3.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
* Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân theo Y học hiện đại
- Lâm sàng:
+ Bệnh nhân có di chứng liệt nửa người ở các mức độ khác nhau
+ Tỉnh táo, nghe và hiểu được lời nói
+ Không có các biến chứng loét, bội nhiễm
+ Các chỉ số sinh tồn: mạch, nhiệt độ, nhịp thở ổn định
Trang 25+ Huyết áp tâm thu dưới hoặc bằng 160 mmHg, huyết áp tâm trươngdưới hoặc bằng 100 mmHg.
- Cận lâm sàng:
+ CT- scan hoặc MRI sọ não – chấn đoán xác định là nhồi máu bán cầunão: Hình ảnh giảm tỷ trọng tại ổ nhồi máu
- Đánh giá mức độ liệt theo Rankin, Barthel:
+ Theo độ Rankin: chọn bệnh nhân có di chứng độ II đến độ IV + Theo chỉ số Barthel chọn bệnh nhân từ độ II (65-90đ) đến độ IV(0-25đ)
* Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân theo Y học cổ truyền
Bệnh nhân NMN đã được tuyển chọn theo tiêu chuẩn của YHHĐ, sau
đó tiếp tục được phân loại bằng YHCT thông qua tứ chẩn chọn những bệnhnhân có biểu hiện chứng bán thân bất toại Trên lâm sàng có bốn thể tuynhiên Chúng tôi tập trung nghiên cứu hai thể bệnh khí hư huyết trệ và candương cang thịnh bởi vì trên lâm sàng chủ yếu gặp hai thể bệnh này
1) Khí hư huyết trệ lạc mạch ứ trở:
- Triệu chứng: liệt nửa người, chân tay mềm vô lực, nói ngọng, miệngmắt méo xếch, mặt vàng ải hoặc tối không tươi Rêu trắng mỏng lưỡi tím nhợthoặc lệch Mạch tế sác vô lực
2) Can dương thịnh lên lạc mạch ứ trở:
- Triệu chứng: liệt nửa người, chân tay cứng đờ co lại choáng nhứcđầu, mặt đỏ tai ù Rêu lưỡi vàng mỏng Mạch huyền có lực
Trang 262.3.2 Tiêu chuẩn loại trừ bệnh bệnh nhân
- Các bệnh liệt nửa người không phải do NMN như: chảy máu não, chấnthương, u não, bệnh lý ở tim, dị dạng mạch máu não
- NMN có kèm theo các bệnh: lao, rối loạn tâm thần, nằm trong chốngchỉ định của thuốc
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.4.1 Thiết kế nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: theo phương pháp thử nghiệm lâm sàng có sosánh với nhóm đối chứng, so sánh trước và sau điều trị
- Cỡ mẫu nghiên cứu: chọn 60 bệnh nhân (theo mẫu chủ đích) đượcchẩn đoán NMN sau giai đoạn cấp và đáp ứng các tiêu chuẩn chọn bệnh nhânnghiên cứu
* Chia hai nhóm: theo phương pháp ghép cặp tương đồng về: tuổi, độ liệt
theo Rankin, Barthel, Orgogozo thể bệnh theo YHCT
2.4.2 Quy trình nghiên cứu
Trang 27- Nhóm đối chứng: Gồm 30 bệnh nhân được điều trị theo phác đồ nền
+ Thuốc YHCT dùng Hoa đà tái tạo hoàn
+ Điện châm: Theo công thức huyệt để phục hồi liệt nửa người doTBMMN thường dùng tại khoa YHCT Bệnh viện Bạch Mai
- Nhóm nghiên cứu:
+ Điều trị như nhóm đối chứng
+ Phối hợp thêm thủy châm chế phẩm nghiên cứu Alton CMP
- Kỹ thuật thủy châm:
- Thuỷ châm chế phẩm Alton CMP trực tiếp vào huyệt bằng kim tiêm + Chi trên: Thuỷ châm 1ml vào huyệt Thủ tam lý, sâu 1-2 cm.(pl 1)
+ Chi dưới: Thuỷ châm 1ml vào huyệt Túc tam lý, sâu 1-2 cm.(pl 1) + Thuỷ châm ngày một lần vào buổi sáng
+ Test da trước khi chỉ định đầu tiên
+ Liệu trình 30 ngày
- Liệu trình điều trị cho mỗi bệnh nhân ở cả hai nhóm là 30 ngày
- Tất cả các bệnh nhân nghiên cứu đều được theo dõi và điều trị trongđiều kiện nội trú
Trang 28 Theo dõi và đánh giá
- Bệnh án nghiên cứu được xây dựng theo mẫu thống nhất (Phụ lục 2)
- Tất cả các bệnh nhân đều được làm bệnh án và theo dõi hàng ngàydiễn biến bệnh, cũng như việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân trong 30 ngàyđiều trị
- Các bệnh nhân nghiên cứu đều được đánh giá đầy đủ các chỉ tiêunghiên cứu tại 3 thời điểm như sau:
+ Ngày bắt đầu tiến hành nghiên cứu (N1)
+ Sau 15 ngày điều trị (N15)
+ Sau 30 ngày điều trị (N30)
- Sơ đồ nghiên cứu được trình bày ở (trang 34)
2.4.3 Các chỉ tiêu theo dõi
Các chỉ tiêu lâm sàng
* Đặc điểm đối tương nghiên cứu :
- Tuổi, giới, vị trí tổn thương trên lâm sàng, tiền sử điều trị
* Đánh giá mức độ di chứng theo Rankin (1957) nhằm lượng giá mức
độ tổn thương của bệnh nhân sau TBMMN trên lâm sàng
- Nội dung và cách đánh giá:
+ Độ I: Phục hồi hoàn toàn
Bệnh nhân đã đi lại được một mình trong phòng, tay liệt đã cầm nắmđược, dáng đi gần như bình thường
+ Độ II: Di chứng nhẹ, tự sinh hoạt được
Trang 29Là những bệnh nhân sau điều trị di chứng về vận động ở mức vừa phải,
đi lại được nhưng còn ngượng, dáng đi còn lệch, tay có thể chưa vung theothân mình, cầm nắm có lúc còn gượng, dơ tay lên cao còn khó khăn
+ Độ III: Di chứng vừa, sinh hoạt cần người giúp đỡ
Di chứng sau điều trị ở mức vừa phải, bệnh nhân chưa thể tự đi lạimột mình, chỉ đứng được tại chỗ hoặc đi được vài bước nhỏ khi có trợgiúp, chưa cầm nắm được đồ vật, xòe nắm bàn tay còn khó khăn, không dơtay lên cao được
+ Độ IV: Di chứng nặng, sinh hoạt cần phục vụ hoàn toàn
Bệnh nhân có nhiều di chứng về vận động, chưa đi lại được chân coduỗi khó khăn, tay chưa nâng lên khỏi mặt giường, không xòe nắm bàn tayđược, không ngồi được
+ Độ V: Di chứng rất nặng, có nhiều biến chứng
* Theo chỉ số Barthel (1965): nhằm lượng giá các hoạt động trong đời
sống thường ngày của bệnh nhân Thang điểm Barthel gồm 10 tiêu chí nhậnđịnh về chức năng sinh hoạt hằng ngày của bệnh nhân với thang điểm là 100
Chỉ số này được đề xướng sử dụng trong lâm sàng từ 1965, để nhậnđịnh bệnh nhân dựa vào khả năng hoạt động độc lập của họ về các chức nănghàng ngày như:
+ Khả năng độc lập hay phụ thuộc trong ăn uống, tự ăn được hay cầntrợ giúp, có khả năng bưng được bát cơm, cầm đũa hay không cầm được
+ Bệnh nhân có tự ngồi dậy, có tự ngồi xe lăn, di chuyển từ xe lêngiường…
+ Vệ sinh cá nhân tại chỗ hay tự vào được nhà tắm, công việc đánhrăng rửa mặt hàng ngày
+ Có tự mặc quần áo hay phải trợ giúp
Trang 30+ Đi lại được trong phòng hoặc không đi lại được hay chỉ đứng đượctại chỗ…
- Cách đánh giá và phân độ:
Dựa trên kết quả cho điểm theo bảng chỉ số Barthel, bệnh nhân đượcphân làm 4 độ như sau: [1965]
+ Độ I: Tự lực hoạt động: 91-100 điểm
+ Độ II: Trợ giúp ít: 65-90 điểm
+ Độ III: Trợ giúp trung bình: 26-64 điểm
+ Độ IV: Phụ thuộc hoàn toàn: 0-25 điểm
* Theo thang điểm Orgogozo (1986): Trạng thái chức năng thần kinh
của bệnh nhân sau TBMMN Thang điểm này gồm 10 mục kiểm tra dựa trênquan sát và thăm khám chức năng cơ bản về ý thức, giao tiếp và vận động tứchi với thang điểm là 100 (phụ lục2)
- Theo dõi chỉ số huyết áp: Tâm thu, tâm trương và trung bình
- Huyết áp trung bình =HAtt HAttr HAttr
Trang 31Bảng 2.1 Đánh giá phân loại huyết áp theo phân loại JNC – VI [2] (1997)
Phân loại huyết áp Huyết áp tâm thu
* Tác dụng không mong muốn của thuốc trên lâm sàng:
- Các chỉ tiêu theo dõi:
+ Sốc, mẩn ngứa, đau đầu buồn nôn, đau tại nơi thuỷ châm
+ Các triệu chứng không mong muốn khác…
* Đánh giá theo các thể của YHCT:
- Tiến triển độ liệt Rankin theo hai thể
+ Khí hư huyết trệ (KHHT), lạc mạch ứ trở
+ Can dương cang thịnh (CDCT), lạc mạch ứ trở
Các chỉ số cận lâm sàng
+ Huyết học: hồng cầu, bạch cầu, huyết sắc tố
+ Sinh hóa máu: ure, creatinin, glucose, ALT, AST
- Cách theo dõi: Các chỉ tiêu trên được đo lường vào ngày N1, N15,N30 của quá trình điều trị
Trang 322.4.4 Phương pháp đánh giá kết quả điều trị:
Trên lâm sàng:
- Đánh giá tiến triển theo sự di chuyển độ liệt của bệnh nhân theo từngchỉ số Rankin, Barthel, Orgogozo:
+ Tiến triển tốt: Chuyển được 2 độ liệt trở lên
+ Tiến triển khá: Chuyển được 1 độ liệt
+ Tiến triển kém: Không chuyển độ liệt
- Đánh giá tác dụng không mong muốn của sản phẩm trên lâm sàng
Trang 33+ So sánh các tỷ lệ bằng kiểm định 2
2.5 ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu với mục đích phục hồi chức năng cho bệnh nhânTBMMN được Hội đồng đề cương của trường Đại học Y Hà Nội cho phép
Bệnh nhân được lựa chọn theo tiêu chuẩn nghiên cứu và người bệnh tựnguyện tham gia nghiên cứu
Người bệnh được giải thích rõ về thành phần, tác dụng của thuốcnghiên cứu và người bệnh có thể rút khỏi nghiên cứu
Nếu có các dấu hiệu bất thường như: rối loạn tiêu hóa, nổi mề đay,hoặc có dấu hiệu nặng lên trong quá trình điều trị thì ngừng ngay thuốc vàđược theo dõi, xử trí cho phù hợp tùy theo tình trạng bệnh
Trang 342.6 THỜI GIAN TRIỂN KHAI NGHIÊN CỨU
SƠ ĐỒ NGHIÊN CỨU
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ nghiên cứu
TBMMN
TBMMN do NMN
Lâm sàng CT- scan
Nhóm nghiên cứu
(n=30)
Nhóm đối chứng (n=30)
LS + CLStrước điều trị (N1)
Phác đồ nền
LS + CLS
(N15 + N30)
LS + CLS (N15 + N30)
Đánh giá kết quả điều
Trang 35Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA BỆNH NHÂN NHỒI MÁU NÃO 3.1.1 Tuổi
Bảng 3.1 Phân bố bệnh nhân theo độ tuổi
Nhóm
Tuổi
(năm)
Nhóm NC (n=30) (1)
Nhóm ĐC (n=30) (2)
Tổng số (n=60) p1-2
3.1.1.2 Giới
Bảng 3.2 Phân bố theo giới
Trang 36Nhóm NC (n=30) (1)
Nhóm ĐC (n=30) (2)
Nhóm ĐC (n=30) (2)
Kết quả bảng 3.3 cho thấy thời gian bị bệnh của cả hai nhóm chủ yếu là
từ 1 tới 3 tháng, tỉ lệ này là 73,3% ở nhóm nghiên cứu và 63,3% ở nhómchứng Thời gian bị bệnh > 3 tháng chiếm tỉ lệ thấp nhất 1,7% ở nhóm chứng,
và không có bệnh nhân nào ở nhóm nghiên cứu thời gian mắc bệnh trên 3tháng Không có sự khác biệt về thời gian mắc bệnh ở hai nhóm (p>0,05)
3.1.1.3 Phân bố tổn thương trên lâm sàng
Bảng 3.4 Phân bố vị trí liệt trên lâm sàng
Trang 37Bên
tổn thương
Nhóm NC (n=30) (1)
Nhóm ĐC (n=30) (2)
3.1.1.4 Các yếu tố nguy cơ
Biểu đồ 3.1 Các yếu tố nguy cơ với bệnh TBMMN ở cả hai nhóm Nhận xét:
Trang 38Biểu đồ 3.1 Tiền sử nguy cơ bệnh TBMMN ở cả hai nhóm, cho thấybệnh tăng huyết áp chiếm tỉ lệ chủ yếu (58,3%), tiếp đến là nghiện thuốc lá(43,3%), chỉ có 13,3% bệnh nhân không có tiền sử.
3.1.2 Phân loại mức độ di chứng lúc vào của hai nhóm
Bảng 3.5 Phân bố bệnh nhân theo độ liệt Rankin lúc vào của hai nhóm
Trang 39Bảng 3.6 Phân bố bệnh nhân theo độ Barthel lúc vào của hai nhóm
Bảng 3.7 Phân bố bệnh nhân theo độ Orgogozo lúc vào của hai nhóm
Trang 40liệt độ III ở nhóm nghiên cứu là 6,7% cao hơn so với nhóm chứng (3,3%).Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
3.1.3 Phân bố theo thể bệnh của Y học cổ truyền
Bảng 3.8 Phân bố theo thể bệnh YHCT của hai nhóm
Nhóm
Mức độ
Nhóm NC (n=30) (1)
Nhóm ĐC (n=30) (2)