1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị ngộ độc cấp các chất ăn mòn đường tiêu hóa

88 1K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 5,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

chung và chưa có nghiên cứu tại Trung tâm chống độc bệnh viện Bạch Mainói riêng, do đó chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị ngộ độc cấp các

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Do sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại, việc phải tiếp xúc và sửdụng nhiều loại hóa chất mới trong đời sống ngày càng trở nên phổ biến.Trong đó, đáng quan tâm là các loại hóa chất dùng trong sản xuất, sinh hoạt làacid, bazơ hoặc có tính chất ăn mòn trở nên rất thường gặp trong nhà và trởthành nguồn chất độc có sẵn gây ngộ độc do uống nhầm hoặc dùng để tự tử

Do đó trên thế giới cũng như ở Việt Nam, ngộ độc cấp các chất ăn mòn chiếm

tỷ lệ ngày càng cao trong các trường hợp ngộ độc

Trên thế giới, theo hiệp hội các trung tâm kiểm soát độc chất của Mỹ,năm 2011, CAM đứng thứ 3 trong các nguyên nhân ngộ độc, chiếm 7% Tạichâu Âu, theo nghiên cứu của Andon Chibischev và cs năm 2012, tỷ lệ ngộđộc cấp chất ăn mòn ở Macedonia là 15 - 18%, ở Thổ Nhĩ Kỳ là 2,5% và ởAnh lên đến 30% các trường hợp ngộ độc Mặc dù đã có nhiều tiến bộ vềchẩn đoán và điều trị ngộ độc các chất ăn mòn nhưng tỷ lệ biến chứng muộncòn cao từ 15 – 85% và tỷ lệ tử vong là từ 2 – 10%

Ở Việt Nam, riêng ở các tỉnh phía Bắc, dù đã được sơ cứu và điều trị ởtuyến trước nhưng số bệnh nhân chuyển tới trung tâm chống độc (TTCĐ)bệnh viện Bạch Mai vẫn tăng cao, nhiều bệnh nhân vào viện trong tình trạngnguy kịch và để lại những biến và di chứng nặng nề

Với tình trạng ngộ độc cấp các chất ăn mòn như vậy, việc đánh giá đúngđặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng giúp các bác sĩ lâm sàng xử trí cũng như tiênlượng được các biến chứng cho các trường hợp ngộ độc này Tuy nhiên, có rất

ít các nghiên cứu trước đây về ngộ độc các chất ăn mòn tại Việt Nam nói

Trang 2

chung và chưa có nghiên cứu tại Trung tâm chống độc bệnh viện Bạch Mai

nói riêng, do đó chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị ngộ độc cấp các chất ăn mòn đường tiêu hóa”,

Trang 3

Chương 1TỔNG QUAN

độ nhớt, nồng độ và độ pH

Ngay từ năm 1927 pháp luật Hoa Kỳ đã quy định việc đóng gói các sảnphẩm chứa kiềm hoặc acid phải dán mác cảnh báo sản phẩm có chứa độcchất Phản ứng trước tình trạng nhiều trẻ em phơi nhiễm với các CAM, năm

1970 “Tổ chức liên bang hành động vì các chất độc và phòng chống đóng góichất độc” được thông qua, khẳng định rằng tất cả các CAM có nồng độ lớnhơn 10% phải lưu trữ trong các bao bì, thùng chứa mà trẻ em không mở được.Đến năm 1973, nồng độ các CAM gia dụng được quy định hạ xuống đến 2%.Thêm vào đó, kết quả của việc tăng cường giáo dục phòng tránh ngộ độc đãgiảm đáng kể tỷ lệ mắc phải của tổn thương không cố ý do CAM ở trẻ em ởHoa Kỳ Ảnh hưởng tích cực của việc áp dụng luật pháp và giáo dục là rất rõràng khi tỷ lệ phơi nhiễm ở Hoa Kỳ giảm xuống so với các nước phát triển –nơi thiếu các chính sách này

Trẻ em thường vô tình phơi nhiễm với các CAM gia dụng Người lớn

có thể phơi nhiễm với các CAM gia dụng hoặc công nghiệp do nghề nghiệphoặc cố ý tự tử ,

Độ nặng của tổn thương có thể không rõ ràng sau khi BN mới phơinhiễm Việc tiên lượng BN cần can thiệp ngay để phòng ngừa thương tật và

tử vong cần nhiều các thông số lâm sàng và xét nghiệm

Trang 4

Bảng 1.1: Các chăt ăn mòn và sản phẩm thương mại thường gặp

Các chất tẩy rửa công nghiệp

Mạ kim loại

Hydrochloric Các dung môi

Chất tẩy rửa kim loạiChất tẩy nhà vệ sinhCác chất chống rỉPhosphoric Chất tẩy rửa nhà vệ sinhKiềm Natri hydroxide Chất rửa ống dẫn nước

Xà phòngKali hydroxide Chất lau rửa lò nướng

Xà phòng giặtNatri cacbonat Xà phòng

hydrpxide

Chất tẩy rửa gia dụng

Chất tẩy trắng Natri hydrochlorite Chất tẩy gia dụng

Natripolyphosphate

Chất tẩy công nghiệp

1.1.2 Sinh lý bệnh

CAM là một chất độc gây ra tổn thương cả thực thể và chức năng khi tiếpxúc với bề mặt mô Dù có nhiều cách phân loại nhưng hầu hết chúng đượcchia thành acid hoặc bazơ Acid là chất cho proton và gây tổn thương nghiêmtrọng ở pH thấp hơn 3 Bazơ là chất nhận proton và gây tổn thương nghiêmtrọng ở pH cao hơn 11 Sự lan rộng của tổn thương tùy thuộc vào thời giantiếp xúc, khả năng thấm vào mô của CAM, thể tích, pH và nồng độ; có hoặc

không có thức ăn trong dạ dày và một đặc tính được biết đến như là chuẩn độ

acid/dự trữ kiềm Chỉ số này xác định số lượng trung hòa chất độc cần thiết để

đưa pH của CAM về pH của mô sinh lý Sự trung hòa CAM xảy ra ở mô, kết

quả giải phóng ra năng lượng Nói chung, khi chuẩn độ acid/dự trữ kiềm của

Trang 5

CAM cao thì khả năng tổn thương mô càng lớn Một số chất như clorid kẽm

(ZnCl) và phenol có chuẩn độ acid/dự trữ kiềm cao và khả năng gây bỏng

nặng mặc dù pH của chúng gần như sinh lý ,,

Kiềm

Sau khi phơi nhiễm với kiềm, ion hydroxid (OH‾) sẽ ngấm qua bề mặt

mô và gây ra tổn thương mô kiểu hoại tử lỏng Quá trình này bao gồm ly giảprotein, phá hủy collagen, xà phòng hóa chất béo, nhũ hóa màng tế bào, tắcmạch dưới niêm mạc và chết tế bào Niêm mạc thực quản bị xung huyết vàphù nề rất nhanh theo sau bởi phản ứng viêm lan rộng đến lớp dưới niêm mạc

và lớp cơ Chất kiềm, như natri hydroxid (“dung dịch tẩy rửa”), tiếp tục ngấmcho đến khi nồng độ OH‾ được trung hòa hoàn toàn bởi các mô ,

Acid

Ngược lại với phơi nhiễm kiềm, khi phơi nhiễm một acid, ion hydrogen(H+) làm khô tế bào biểu mô, đóng vảy và tạo ra trên mô bệnh học hình ảnhnhư là hoại tử đông Quá trình này gây ra phù, xung huyết, trợt niêm mạc, loét

và hoại tử mô Các anion phân ly từ acid (Cl־, SO4, PO4) cũng hoạt động nhưnhững chất khử tiếp tục làm tổn thương mô ,,

Trong hầu hết các trường hợp, sau khi uống acid, cả lớp niêm mạc dạ dày

và thực quản bị phá hủy hoàn toàn Đôi khi, thực quản có thể được bảo tồntrong khi dạ dày tổn thương nặng Xu hướng này hiếm gặp hơn là tổn thươngphối hợp cả dạ dày và thực quản, và có thể liên quan đến thời gian vận chuyểnnhanh acid lỏng qua đường tiêu hóa trên Tổn thương bị bỏ qua do uống acid

có thể là chức năng độ nhớt và thời gian tiếp xúc Mặt khác, co thắt môn vị doacid có thể dẫn đến tắc nghẽn đường ra của dạ dày gồm cả hang vị và gây rathủng ,,

1.2 Phân loại và tiến triển của tổn thương ăn mòn

Trang 6

Bỏng thực quản sau phơi nhiễm với kiềm và acid được phân độ dựatrên hình ảnh nội soi áp dụng hệ thống phân độ tương tự như bỏng da Độ I làphù nề hoặc xung huyết niêm mạc mà không có loét Độ II bao gồm các tổnthương dưới niêm mạc, loét và tiết dịch Một số tác giả còn chia độ II thànhIIa, các tổn thương không hết chu vi thực quản, và độ IIb với các tổn thươnggần trọn chu vi thực quản Độ III là những tổn thương loét sâu và hoại tử môthực quản ,,,.

Tổn thương thực quản độ I

Tổn thương thực quản độ IIa, IIb

Tổn thương thực quản độ III

Hình 1.1: Tổn thương thực quản

Trang 7

Bỏng thực quản có thể kéo dài đến 8 tuần cho tới khi quá trình phục hồidiễn ra và có thể dẫn đến ngắn thực quản Nếu tổn thương ban đầu sâu đếnmột mức độ nhất định sẽ gây ra hẹp lòng thực quản Sự hình thành các sẹodày đặc biểu hiện tình trạng hẹp trên lâm sàng Sự chít hẹp có thể tiến triểntrong vài tuần đến vài tháng dẫn đến chứng nuốt khó và suy dinh dưỡngnặng Bỏng độ I không có nguy cơ bị hẹp Bỏng độ II toàn bộ chu vi thựcquản dẫn đến hẹp khoảng 75% các trường hợp Bỏng độ III tiến triển rất đadạng dẫn tới hẹp và cũng có nguy cơ thủng cao ,,,.

1.3 Biểu hiện lâm sàng

Đường tiêu hóa, đường hô hấp, mắt và da của BN là những nơi có thể

bị tổn thương ăn mòn Đến nay, chủ yếu những di chứng thương tật và tửvong do phơi nhiễm ăn mòn đường tiêu hóa

Nhìn chung, những BN uống các chất kiềm hoặc acid đều có nhữngbiểu hiện ban đầu tương tự nhau Tùy thuộc vào chủng loại, số lượng và dạngchất lỏng hay rắn của tác nhân ăn mòn mà khi tiêu hóa chúng có thể gây rađau nhiều ở môi, miệng, họng, ngực hay bụng Phù nề và bỏng hầu họng cóthể làm tăng tiết đờm dãi và gây nguy hiểm nhanh chóng tới đường thở.Những triệu chứng liên quan đến thực quản bao gồm khó nuốt và nuốt đau,trong khi đau thượng vị và nôn ra máu có thể là triệu chứng liên quan đến dạdày ,

Tổn thương đường hô hấp có thể do hít trực tiếp CAM hoặc hít phảichất nôn dẫn tới những biểu hiện lâm sàng khàn giọng, thở rít và suy hô hấp.Tổn thương có thể gây viêm nắp thanh quản, phù thanh quản và loét, viêmphổi và suy hô hấp BN cũng có thể thở nhanh hoặc thở nhanh sâu để đáp ứng

bù với toan chuyển hóa có nồng độ lactat cao do hoại tử mô hay do rối loạnhuyết động ,,

Trang 8

Những yếu tố tiên lượng tổn thương

Đã có nhiều nỗ lực trong việc tìm kiếm phương pháp xác định biểuhiện lâm sàng của những BN có tổn thương thực quản độ II hay độ III khinhững tổn thương này tiến triển một cách điển hình thành những biến chứngnặng Nhiều nghiên cứu, hầu hết đều liên quan đến các hóa chất tính kiềm,kiểm tra giá trị tiên lượng của tiếng thở rít, bỏng hầu họng, tăng tiết đờm dãi,nôn và đau bụng ,

Dựa trên những kết quả tìm kiếm này, nội soi, một công cụ chẩn đoánchuẩn mực được sử dụng trong việc điều trị ngộc độc các CAM đường tiêuhóa, đã được khuyến cáo cho tất cả các BN cố tình dùng các CAM đường tiêuhóa Nội soi cũng nên được thực hiện ở những BN uống nhầm CAM mà códấu hiệu thở rít và ở những BN có 2 hoặc nhiều hơn các triệu chứng sau: đau,nôn và tăng tiết đờm dãi Trẻ em ngộ độc CAM đường tiêu hóa mà hoàn toànkhông có triệu chứng gì và có thể vẫn uống được chất lỏng sau một vài giờtheo dõi thì có thể không cần điều trị thêm ,,

Khám bụng không phải là một chỉ số tin cậy cho mức độ nặng của tổnthương Triệu chứng đau bụng gợi ý tổn thương tổ chức, nhưng nếu không cóđau bụng hoặc không có triệu chứng khi khám bụng thì cũng không loại trừtổn thương dạ dày-ruột , Thủng thực quản gây viêm trung thất và thường cósốt, khó thở, đau ngực và tràn khí dưới da vùng cổ và ngực Chỉ điểm củathủng tạng rỗng là dấu hiệu phúc mạc thành bụng xuất hiện muộn ,

Ngoài việc làm tổn thương trực tiếp tổ chức tiếp xúc, acid còn được hấpthu có hệ thống, gây tổn thương lách, gan, đường mật, tụy và thận cũng nhưgây toan chuyển, tan máu và cuối cùng là tử vong ,

Trang 9

Chụp thực quản có cản quang cũng hữu ích trong việc xác định mức độtổn thương lan rộng ở thực quản Muộn hơn, nó có thể phát hiện hẹp thựcquản Ở những BN mà nghi ngờ có thủng thực quản và những BN mà nội soithực quản không thể nhìn thấy toàn bộ đường tiêu hóa trên (bỏng chu vi độ

Trang 10

IIb hoặc bỏng độ III), có thể thực hiện chụp hàng loạt nhiều ảnh Xquang cócản quang thực quản và đường tiêu hóa trên 24 giờ sau ngộ độc Hình ảnh ròchất cản quang ra ngoài đường tiêu hóa chẩn đoán xác định thủng tạng rỗng Nên sử dụng chất cản quang tan trong nước khi nghi ngờ có thủng tạng rỗng

vì nó sẽ ít gây ảnh hưởng đến tổ chức trong trung thất và trong phúc mạc nếu

nó bị chảy ra ngoài Tuy nhiên, chất cản quang có chứa barium sẽ chắn bức xạtốt hơn các chất cản quang tan trong nước và nó sẽ cho hình ảnh Xquang chitiết hơn Do đó, một số tác giả khuyến cáo nuốt barium nếu sử dụng chất cảnquang tan trong nước không chẩn đoán được thủng nhưng cũng chứng minh

là không có rò dịch Thêm vào đó, nếu BN có nguy cơ hít phải chất cản quangthì barium sẽ được ưu tiên hơn vì chất liệu của chất cản quang tan trong nước

có thể gây ra viêm phổi nặng do hóa chất ,,

Vai trò của CT scanner trong ăn mòn đường tiêu hóa vẫn chưa đượcnghiên cứu đầy đủ CT có độ nhạy cao trong việc phát hiện khí ngoài đườngtiêu hóa trong trung thất hay trong khoang phúc mạc khi có dấu hiệu thủngtạng rỗng Hơn nữa, CT có thể quan sát được đoạn xa của thực quản và dạ dàytrong những trường hợp bỏng nặng do ăn mòn Vì thế mà CT có thể thay thếcho chụp Xquang có cản quang để phát hiện thủng trong giai đoạn cấp (trongvòng 24 giờ) ngộ độc CAM đường tiêu hóa ,, Đã có nghiên cứu về vai trò củauống technetium 99m dưới dạng sucralfate để đánh giá tổn thương thực quảntrong ngộ độc CAM ,

Hình ảnh Xquang còn được sử dụng như một theo dõi không xâm lấnsau đánh giá ban đầu và BN đã ổn định Ví dụ, chụp Xquang có cản quangthường được sử dụng sau nhiều tuần hoặc nhiều tháng uống CAM để pháthiện hẹp thực quản CT ngực cũng có thể hữu dụng trong việc xác định đápứng của hẹp với quá trình điều trị giãn thực quản ,

1.4.3 Nội soi

Trang 11

Nội soi nên được thực hiện trong vòng 12 giờ và thường không muộnhơn 24 giờ sau khi uống CAM Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nội soi antoàn trong giai đoạn này , Nội soi sớm có nhiều mục đích trong đó có mụcđích cho phép giảm bớt những BN có những tổn thương nhỏ nhất hoặc nhữngtổn thương không rõ ràng Nó cũng cung cấp nhanh những thông tin cho chẩnđoán và tiên lượng đồng thời rút ngắn thời gian BN nhịn ăn, cho phép cóphương pháp điều trị chính xác hơn Việc sử dụng nội soi từ ngày thứ 2 hoặcngày thứ 3 sau uống CAM không được khuyến khích và biện pháp này nêntránh thực hiện giữa 5 ngày và 2 tuần sau uống CAM vì đây là thời kì mà độchắc khỏe của vết thương là thấp nhất và nguy cơ thủng là cao nhất , Việc lựachọn nội soi ống cứng hay ống mềm phụ thuộc vào kinh nghiệm của bác sĩnội soi Không có bỏng thực quản không có nghĩa là không có loét và hoại tửnặng ở dạ dày và tá tràng Trong trường hợp phải kết thúc nội soi do bỏngthực quản độ IIb hoặc độ III, thì chụp có cản quang barium, cắt lớp vi tínhhoặc cân nhắc thăm dò phẫu thuật nên được thực hiện để quan sát phần cấutrúc còn lại ,,.

Hầu hết các trường hợp thủng liên quan đến nội soi xảy ra khi ống nộisoi cố đi qua chỗ thực quản bị tổn thương chu vi nặng Thêm vào đó, thủngcũng có thể xảy ra khi dùng ống soi cứng cho trẻ em hoặc những BN khônghợp tác Dùng ống soi mềm làm giảm các biến chứng do nội soi Một số tácgiả ủng hộ việc có mặt của nhà phẫu thuật trong quá trình nội soi để hỗ trợđánh giá nguy cơ can thiệp phẫu thuật ,,

1.5 Điều trị

1.5.1 Xử trí cấp cứu

Ổn định BN lúc đầu bao gồm bảo về đường thở, các nguyên lý hồi sức

và chống độc cơ bản Khám các dấu hiệu tổn thương vùng hầu họng, tăng tiếtđờm dãi, cũng như nghe vùng cổ và ngực để phát hiện tiếng rít, có thể phát

Trang 12

hiện dấu hiệu phù nề đường hô hấp mà cần can thiệp bảo về đường thở ngaylập tức Theo dõi liên tục và cẩn thận các triệu chứng cơ năng và thực thể củaphù nề đường hô hấp và suy hô hấp, như sự thay đổi giọng nói, là cần thiết vànên đặt ống nội khí quản khi phù nề đường hô hấp tiến triển nhanh trong vàiphút đến vài giờ ,,.

Nếu đường hô hấp có các dấu hiệu cần phải đặt ống nội khí quản thì tốtnhất là nên sớm có một nhóm các nhân viên y tế có kĩ năng để đề phòng cácbiến chứng có thể xảy ra Chậm trễ trong dự phòng bảo vệ đường thở có thểdẫn đến khó khăn hoặc không thể đặt ống Quan sát trực tiếp dây thanh âmbằng đèn nội soi khí quản có thể phát hiện ra các tổn thương kín đáo ở đường

hô hấp Những BN bắt buộc phải đặt ống nội khí quản, tốt nhất là quan sáttrực tiếp đường thở hoặc bằng đèn soi khí quản hoặc bằng ống nội soi, vìthủng mô phù nề của hầu họng và thanh quản là một biến chứng nặng có thểgặp khi cố gắng đặt ống nội khí quản mù qua đường mũi ,, Các thuốc giãn cơkhông nên dùng trong đặt ống nội khí quản khi đường thở phù nề và chảymáu vì có thể làm mất khả năng tự thở dẫn đến đặt nội khí quản thất bại ,,

Sau khi kiểm soát đường thở, cần đặt đường truyền tĩnh mạch lớn sớm

để bồi phụ thể tích tuần hoàn Dù chưa được nghiên cứu nhưng hầu hết các nhàlâm sàng đều đồng thuận rằng các BN có triệu chứng phù nề đường thở do ngộđộc CAM đều có đáp ứng tốt với dexamethasone đường tĩnh mạch với liều 10

mg ở người lớn và 0.6 mg/kg đến tổng liều 10 mg ở trẻ em Cả phơi nhiễmđường tiêu hóa với acid và kiềm đều làm thoát mạch vào khoảng kẽ gây tụthuyết áp Bồi phụ nước theo kinh nghiệm dựa vào áp lực tĩnh mạch trung tâmnên được dùng tùy thuộc vào mức độ thiếu dịch của từng BN ,,

Khám lâm sàng hệ thống và theo dõi liên tục các chức năng sống và lượngnước tiểu có thể cung cấp thông tin về độ nặng của ngộ độc và tiến triển lâmsàng ,

Trang 13

1.5.2 Tẩy rửa, pha loãng và trung hòa độc chất

Tẩy rửa đường tiêu hóa thường ít làm ở những BN ngộ độc CAM quađường tiêu hóa Chống chỉ định gây nôn vì có thể gây ra tổn thương ăn mònlần nữa đường tiêu hóa trên và đường thở Than hoạt cũng chống chỉ định vìảnh hưởng đến lượng giá tổn thương qua nội soi và hoạch điều trị tiếp theo.Hơn nữa hầu hết các CAM không gắn được than hoạt tính ,

Trừ một số trường hợp như ngộ độc chất tẩy ion dương mà gắn tốt vớithan hoạt chưa được nghiên cứu rộng rãi Vì vậy, điều trị bằng than hoạt tínhtrong ngộ độc CAM đường tiêu hóa không được khuyến cáo Làm sạch dạdày bằng cách đặt sonde mũi-dạ dày nhỏ và hút nhẹ nhàng có thể loại bỏ acidtồn dư trong dạ dày chỉ được thực hiện ở những BN mới uống acid trong vòng

30 phút có nguy cơ tử vong cao Mặc dù kĩ thuật này chưa được nghiên cứu

và có nguy cơ gây thủng, nhưng những BN này thường nặng và các chỉ địnhđiều trị hạn chế Vì vậy, việc phòng ngừa hấp thu một phần acid đã uống cóthể ích trong việc giảm hệ thống Mặc dù quá trình này tiềm ẩn nguy cơ tổnthương, nhưng phân tích giữa nguy cơ và lợi ích, người ta vẫn có xu hướnglàm sạch dạ dày sau khi nghi ngờ ngộ độc

Ngược lại, làm sạch dạ dày nên tránh với CAM đường tiêu hóa dạngkiềm và không rõ nguồn gốc vì đặt sonde dạ dày có nguy cơ thủng mô tổnthương, nguy cơ cao hơn lợi ích

Trừ một số trường hợp giải độc đường tiêu hóa trong ngộ độc các CAMchứa ZnCl2 và HgCl2 Cả hai đều là những CAM gây ngộ độc hệ thống nặng.Các tác dụng ăn mòn tại chỗ, mặc dù được chú ý nhiều nhưng lại ít hậu quảhơn các biểu hiện của sự hấp thu hệ thống Vì vậy việc phòng ngừa hấp thu hệthống nên được đặt hàng đầu, tiếp theo là đánh giá và điều trị trực tiếp các tácđộng tạo chỗ của các độc chất này Điều trị ban đầu để phòng ngừa hấp thuđộc chất bao gồm tích cực loại bỏ độc chất bằng cách hút nhẹ nhàng sonde dạ

Trang 14

dày và bơm than hoạt tính Những dữ liệu in vitro hiện có đều gợi ý toàn bộthan hoạt đều gắn với ion Hg ,.

Kết luận từ các nghiên cứu trên BN ngộ độc các CAM còn hạn chế vàthấy rằng các tổn thương giải phẫu bệnh chỉ giảm nhẹ khi uống sữa hoặc nướcngay trong vài giây hoặc vài phút đầu tiên sau phơi nhiễm Với các chất rắn,(như tinh thể bột giặt), ngược lại với chất lỏng, trì hoãn phương pháp pha loãng

có thể có giá trị vì thời gian tiếp xúc mô tăng với các chất rắn và nồng độ củachúng tường là 100% trên một diện tích bề mặt nhỏ Sữa có thể là dịch hòa loãngtốt nhất để giảm nhẹ nhiệt độ gây ra bởi một CAM ,,

Lưu ý khi sử dụng các chất hòa loãng nên được khuyến cáo cho BN vàngười nhà Không được ép một đứa trẻ nuốt hoặc uống các dung dịch nếuchúng không muốn Nói chung, phương pháp hòa loãng chỉ nên áp dụng hạnchế cho BN trong vòng vài phút đầu sau phơi nhiễm mà không có tổn thươngđường hô hấp, không đau hầu họng, đau ngực hoặc đau bụng, không nôn vàtỉnh táo Phương pháp hòa loãng nên tránh ở những BN buồn nôn, tăng tiếtđờm dãi, thở rít hoặc chướng bụng vì nó có thể kích thích gây nôn và hậu quả

là ăn mòn lần nữa ở đường tiêu hóa trên

Không nên cố trung hòa CAM khi ngộ độc Kĩ thuật này có nguy cơlàm nặng thêm tình trạng tổn thương mô vì tạo ra khí và phản ứng tỏa nhiệt.Các mẫu in vitro và ex vivo chỉ ra rằng phương pháp trung hòa các CAM sinh

ra nhiệt, cần một thể tích lớn để đạt được pH sinh lý, và có thể ít lợi ích trong

dự phòng tổn thương giải phẫu bệnh nếu trì hoãn quá vài phút đầu tiên sauphơi nhiễm Trong một mẫu in vivo trên chuột, nước cam đã được dùng đểtrung hòa muối hydroxide gây tổn thương dạ dày và chứng minh rằng khôngthay đổi nhiệt độ và áp lực trong đường tiêu hóa Dù vậy, phương pháp trunghòa không được khuyến cáo vì tại thời điểm này chưa có dữ liệu chứng minhkết quả lâm sàng được cải thiện ,,

Trang 15

1.5.3 Phẫu thuật

Quyết định tiến hành phẫu thuật ở BN ngộ độc CAM đường tiêu hóakhi có bằng chứng thủng đường tiêu hóa trên nội soi hoặc chẩn đoán hìnhảnh, co cứng thành bụng hoặc tụt huyết áp kéo dài Tụt huyết áp là một dấuhiệu nặng và thường chỉ điểm cho thủng tạng rỗng hoặc mất máu nặng ,

Nhiều BN sẽ không có chỉ định phẫu thuật rõ ràng dù có nguy cơthủng, hoại tử, nhiễm khuẩn, hoặc chảy máu rỉ rả Mặc dù còn nhiều khó khăntrong chẩn đoán, nhưng có khả năng tránh được các di chứng nếu phẫu thuậtđược thực hiện sớm vì thương tật và tử vong tăng lên ở những BN trì hoãnphẫu thuật Vì vậy một số nhà phẫu thuật ủng hộ phẫu thuật cho các BN bỏngthực quản độ II và III trên nội soi Cách tiếp cận tích cực này cho phép kiểmtra trực tiếp niêm mạc bề mặt và tạo thuận lợi cho phẫu thuật sớm ,

Nhiều nghiên cứu cố gắng hệ thống hóa các triệu chứng cơ năng cần và

đủ để quyết định phẫu thuật nhưng thiếu các chỉ định lâm sàng rõ ràng Một

số nghiên cứu hồi cứu và tiến cứu về ngộ độc CAM đường tiêu hóa đã nhậnthấy rằng những BN ngộ độc với số lượng lớn (>150ml), sốc, toan máu hoặcrối loạn đông máu thường có tổn thương nặng khi phẫu thuật Những nghiêncứu này cũng nhấn mạnh rằng khám bụng thường không liên quan đến tiênlượng cần phẫu thuật Một lần nữa, cần lưu ý rằng những BN tổn thương acidnặng có thể không có đau bụng, bụng mềm và có chẩn đoán hình ảnh dươngtính

Can thiệp phẫu thuật bao gồm mở bụng, tìm tổn thương, cắt và khâu lỗthủng Nội soi ổ bụng có thể được sử dụng mặc dù không quan sát được mặtsau dạ dày ,,

1.5.4 Xử trí ở giai đoạn bán cấp

Sự lan rộng của tổn thương đòi hỏi phải có điều trị tiếp theo cho BNngộ độc CAM

Trang 16

Tổn thương thực quản độ I: Những BN bị tổn thương thực quản độ I không

tiến triển thành hẹp và không có nguy cơ ung thư Chế độ ăn của họ có thểphục hồi như bình thường, không cần điều trị thêm Những BN này có thểxuất viện ngay khi họ có thể ăn uống và tình trạng tinh thần ổn định ,

Tổn thương thực quản độ IIa: Nếu nội soi có hình ảnh tổn thương thực

quản độ II và dạ dày bình thường, thì một chế độ ăn nhẹ có thể chấp nhậnđược, hoặc có thể đặt sonde dạ dày Nếu chống chỉ định ăn qua đường miệng

vì nguy cơ bị thủng thì nuôi dưỡng qua mở thông dạ dày, mở thông hỗngtràng hoặc nuôi dưỡng toàn bộ đường tĩnh mạch càng sớm càng tốt Nuôidưỡng tạm thời qua đường ruột là bắt buộc vì nhu cầu chuyển hóa tăng ở mọi

BN bị bỏng nặng

Tổn thương thực quản độ IIb và độ III: Những BN tổn thương thực quản

độ IIb và độ III phải được theo dõi các biến chứng thủng, nhiễm trùng và hẹpthực quản Hẹp thực quản là một biến chứng gặp ở cả ngộ độc acid và kiềm

mà có thể tiến triển trong giai đoạn từ vài tuần đến vài tháng Chúng là kếtquả tự nhiên của quá trình cơ thể sửa chữa các mô tổn thương bằng cách sảnxuất collagen tạo sẹo Mặc dù phương pháp dùng steroid theo lý thuyết đểngăn chặn quá trình viêm và phòng hẹp thực quản nhưng vẫn có bằng chứngrằng bỏng độ III sẽ hình thành hẹp bất chấp phương pháp này Thêm vào đó,

BN bị bỏng độ III cũng có nguy cơ cao bị các biến chứng, bao gồm, hìnhthành lỗ rò, nhiễm trùng và thủng liên quan tới viêm trung thất và viêm phúcmạc Sử dụng các corticosteroid trong điều trị bỏng độ III có thể làm lu mờnhiễm trùng và làm cho mô thực quản mủn nát, hoại tử càng dễ bị thủng Vìvậy liệu pháp steroid không được khuyến cáo trong bỏng thực quản độ III.Nếu cần có thể chỉ định cho những BN ngộ độc CAM có viêm đường hô hấp,dùng corticoid ngắn ngày kết hợp với kháng sinh ,,

Trang 17

Vai trò của các thuốc ức chế bơm proton trong điều trị bỏng thực quảncũng như trong phòng hẹp thực quản cũng không rõ ràng

Dữ liệu tương ứng trên người chứng minh tính hiệu quả củacorticosteroid kết hợp hoặc không kết hợp với kháng sinh trong điều trị tổnthương độ IIb còn chưa được thu thập Bởi những yếu tố nguy cơ liên quan và

ít dữ liệu ủng hộ việc sử dụng, nên liệu pháp steroid trong điều trị bỏng thựcquản độ IIb có thể sẽ không còn được khuyến nghị thường quy ,

Không có những nghiên cứu kết quả quan trọng nào được tiến hành vềviệc dùng kháng sinh đơn liệu trong dự phòng hẹp thực quản, nhưng hầu hếtcác nhà lâm sàng đều đồng thuận rằng đây có thể là phương pháp tốt nhất đểdùng kháng sinh cho nguồn nhiễm trùng đã xác định

Có nhiều chiến lược điều trị khác được dùng để ngăn hẹp và tắc thựcquản Trên cả mẫu động vật và BN, đặt stent lòng thực quản và sonde dạ dàybằng nhựa silicone có thể duy trì sự tông thoáng của lòng thực quản Để nuôidưỡng, các stent thường được gắn với ống cho ăn trong mũi hầu mà qua đó

BN có thể được nuôi dưỡng mà không ảnh hưởng đến điều trị thực quản.Những ống này có thể giữ được trong 3 tuần kết hợp với liệu phápcorticosteroid và kháng sinh Trên các mẫu động vật, sử dụng ống thông trong

3 tuần tốt hơn chỉ dùng corticosteroid với kháng sinh trong việc duy sự thôngthoáng của thực quản ,

Thêm vào đó, nhiều phương pháp đã được nghiên cứu trên nhiều mẫuđộng vật để xác định các chất hoặc ức chế hoặc kích thích phân hủy collagen

và nhờ đó phòng ngừa hình thành hẹp thực quản β-Amino propionitrile(BAPN), penicillamine, N-acetylcysteine (NAC), halofuginone, vitamin E vàcolchicine là một số trong số các chất đó Cả penicillamin và NAC đều có tácdụng phòng ngừa hẹp thực quản ở chuột và thỏ Trên chuột, Halofuginone ứcchế tổng hợp collagen type I đặc hiệu, và vitamin E, được biết đến như một

Trang 18

chất chống oxi hóa, làm giảm hẹp thực quản và tổng hợp collagen Thêm vào

đó, yếu tố phát triển biểu bì và interferon-γ cũng làm giảm tổng hợp collagen

và hẹp thực quản sau khi bị bỏng dung dịch muối hydroxide ở chuột.Colchicine, chất làm giảm tổng hợp collagen, có tác dụng làm chậm liền vếtthương và liên quan tới hình thành hẹp thực quản ở thỏ bị bỏng thực quản domuối hydroxide Sphingosylphosphorylcholine, một chất truyền tin thứ haitrong tế bào, cho thấy hiệu quả trong phòng ngừa hẹp thực quản do CAM nhờlàm giảm sự lắng đọng collagen ở chuột Vì không có phương pháp điều trịnào trên đây được nghiên cứu đầy đủ ở người nên gần đây chúng không đượckhuyến cáo trong điều trị thường quy của ngộ độc CAM qua đường tiêuhóa ,,,,,,,,

1.5.5 Điều trị hẹp thực quản

Nói chung, điều trị hẹp thực quản bao gồm nội soi nong thực quản sớmvới các loại panh nong thực quản đa dạng Chụp cắt lớp có cản quang có thểđược dùng để xác định độ dày của thành thực quản, từ đó có thể dự đoán đượcđáp ứng cũng như số lần nong để đạt được độ giãn thích hợp Thường cầnnhiều lần nong Số lần nong cần thiết thường nhiều hơn với những BN cóthành thực quản mỏng hơn Đo độ dày của thành thực quản cũng góp phầnquyết định chế độ theo dõi điều trị, dinh dưỡng, và sự cần thiết phẫu thuậtthay thế cho nong Nó cũng cung cấp thông tin để chỉ định BN nào nên nongdưới màn huỳnh quang để hạn chế nguy cơ thủng ,,,

Nguy cơ thủng do nong thực quản giảm nếu lần nong đầu tiên được trìhoãn trên 4 tuần sau phơi nhiễm, khi quá trình liền vết thương, tái tạo tổ chức

và hình thành hẹp đã diễn ra Nhiều trường hợp báo cáo về thủng thứ phát saunong thực quản Sau khi thủng, BN có thể khó thở hoặc đau ngực liên quantới tràn khí dưới da hoặc tràn khí trung thất Chẩn đoán hình ảnh có thể xác

Trang 19

định thủng và cung cấp thông tin để phẫu thuật cấp cứu nếu chẩn đoán không

- Abdulkerim Temiz và cộng sự (2012) nghiên cứu về giá trị tiên lượngcủa nội soi dạ dày thực quản ở 206 BN nhi tại Thổ Nhĩ Kỳ Tuy nhiênnghiên cứu này chưa đề cập đến giá trị tiên lượng của một số đặc điểmlâm sàng

1.6.2 Tại Việt Nam

- Chưa có nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị củangộ độc cấp các CAM đường tiêu hóa, cũng như chưa có tài liệu nàothống kê về các biến chứng sớm và biến chứng muộn của ngộ độc cácCAM đường tiêu hóa

Trang 20

Chương 2ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

BN được chẩn đoán là ngộ độc cấp các chất ăn mòn (bằng chứng lâmsàng và xét nghiệm) điều trị tại Trung tâm chống độc bệnh viện Bạch Maithời gian từ 01/2012 - 11/2014

2.1.1 Cách chọn mẫu nghiên cứu:

Mẫu nghiên cứu được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện:Các BN ngộ độc cấp các CAM điều trị tại TTCĐ BV Bạch Mai từ tháng01/2012 đến 11/2014 đều được chọn vào nghiên cứu

2.1.2 Tiêu chuẩn chọn BN

Chẩn đoán ngộ độc cấp các CAM gồm 2 tiêu chuẩn sau:

- Uống các CAM (uống dung dịch acid, bazơ, chất oxy hóa có tính ănmòn…)

- Có biểu hiện lâm sàng ngộ độc

2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ

- BN ngộ độc các CAM kèm theo các chất độc khác

- Tiền sử bệnh thực quản, xuất huyết tiêu hóa gần đây

2.1.4 Mức độ tổn thương thực quản theo nội soi ,

- Độ I: phù nề hoặc xung huyết niêm mạc mà không có loét

- Độ II: tổn thương dưới niêm mạc, loét và tiết dịch

 IIa: tổn thương không hết chu vi thực quản

 IIb: tổn thương gần trọn chu vi thực quản

- Độ III: tổn thương loét sâu và hoại tử mô thực quản

2.1.5 Mức độ nặng (Trên đường tiêu hóa)

- Độ 0: Không có triệu chứng hoặc dấu hiệu liên quan đến ngộ độc

Trang 21

- Nhẹ: Các triệu chứng nhẹ, thoáng qua và tự hết:

 Nôn, tiêu chảy, đau miệng họng

 Bỏng rát, loét nhỏ ở miệng

 Nội soi: bỏng thực quản độ 1

- Trung bình: Các triệu chứng rõ hoặc kéo dài:

 Nôn, tiêu chảy, đau, tắc ruột

2.1.6 Tiêu chuẩn chẩn đoán shock

- HA trung bình < 60 mmHg, HA tâm thu < 90 mmHg

- Rối loạn ý thức, giảm thể tích nước tiểu

- Tăng nồng độ lactat máu, toan chuyển hóa

2.1.7 Tiêu chuẩn chẩn đoán suy hô hấp

- Suy hô hấp tăng nồng độ CO2 máu: PaCO2 > 45 mmHg

- Suy hô hấp giảm nồng độ oxy máu: PaO2 < 60 mmHg

2.1.8 Acid mạnh, bazơ mạnh

- Acid là những chất có khả năng cho proton Acid mạnh là những acid

có hằng số phân ly (Ka) cao

- Bazơ là những chất có khả năng nhận proton Bazơ mạnh là nhữngbazơ có hằng số phân ly (Ka) cao

Trang 22

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu:

- Nghiên cứu tiến cứu mô tả kết hợp hồi cứu

- Cỡ mẫu: cỡ mẫu thuận tiện

2.2.2 Công cụ nghiên cứu

- Xây dựng mẫu bệnh án nghiên cứu thống nhất để thu thập số liệugồm bao gồm các thông số sau:

* Thu thập thông tin lúc vào viện:

- Thông tin chung: tuổi, giới, trình độ học vấn, nghề nghiệp, địa chỉ

- Tiền sử ngộ độc, tiền sử bệnh tật

- Hoàn cảnh xảy ra ngộ độc (tự tử, nhầm lẫn, tai nạn, đầu độc)

- Xác định loại tác nhân gây độc: Hóa CAM hay gặp

- Thời điểm đến viện

- Thời gian từ khi tiếp xúc chất độc đến khi xuất hiện triệu chứng

- Các triệu chứng, hội chứng lâm sàng

- Các biến chứng (xuất huyết tiêu hóa, thủng thực quản, hẹp thực quản, sặcphổi, viêm phổi, )

- Xét nghiệm:

Soi thực quản dạ dàyChụp XQ tim phổiCông thức máuSinh hóa máuĐông máu cơ bản Khí máu

Tổng phân tích nước tiểu

Trang 23

- Quy trình theo dõi:

o Vào viện:

 Các triệu chứng, hội chứng lâm sàng

 Mức độ nặng

 Biến chứng gần: thủng đường tiêu hóa, rối loạn chuyển hóa

 Diễn biến theo thời gian

Bình thường hoặc bỏng độ 1

Bỏng độ 2, độ 3

Truyền dịch, PPI truyền TM, nuôi dưỡng TM, đặt sonde dạ dày

Ổn định → ra viện hẹn tái khám

Trang 24

2.2.3 Quy trình nghiên cứu

2.2.4 Các thông số nghiên cứu

Nguyên nhân ngộ độc các CAM

Xây dựng đề cương nghiên cứu

BN đủ tiêu chuẩn nghiên cứu

Làm bệnh án nghiên cứu, thu thập thông tin nghiên cứu

Phân tích số liệu nghiên cứu

Trình bày và bảo vệ luận văn nghiên cứu

Trang 25

Thời gian tiếp xúc độc chất đến khi xuất hiện triệu chứng

Các yếu tố nguy cơ gây NĐC

Thời gian đến viện

Mức độ nặng

Triệu chứng tiêu hóa

Các hội chứng phối hợp: shock, suy hô hấp

Biến chứng: xuất huyết tiêu hóa, thủng thực quản, hẹp thực quản

- Thời gian nằm viện

- Ra viện: sống, tỷ lệ tử vong, tỷ lệ hẹp thực quản

Trang 26

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Có 82 BN nghiên cứu trong đó 64 BN được đánh giá nội soi dạ dày –thực quản, điều trị tại Trung tâm chống độc bệnh viện Bạch Mai thời gian NC

từ 01/2012 - 11/2014

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

3.1.1 Đặc điểm phân bố tuổi của nhóm bệnh nhân nghiên cứu

Trang 27

3.1.2 Đặc điểm phân bố giới

Biểu đồ 3.2 Phân bố giới của BN ngộ độc CAM

Trang 29

Lý do ngộ độc CAM gặp chủ yếu là do tự tử và uống nhầm đều chiếm48,8% Tiếp theo là lý do đầu độc và tai nạn cùng chiếm 1,2%.

3.2 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân ngộ độc các chất ăn mòn đường tiêu hóa

3.2.1 Đặc điểm lâm sàng các trường hợp ngộ độc các chất ăn mòn

3.2.1.1 Thời điểm vào viện

Bảng 3.2: Thời điểm vào viện

Trang 30

Nhóm BN vào viện trong vòng sau 30 phút đến trước 24h sau ngộ độcchiếm tỷ lệ cao nhất với 97,6% Có 2,4% BN vào viện trong vòng 30 phútngay sau ngộ độc và không có BN nào vào viện sau 24h từ khi ngộ độc Thờigian trung bình từ khi uống CAM đến khi vào viện là 3,24 ± 2,63 giờ.

3.2.1.2 Nguyên nhân ngộ độc

Bảng 3.3: Các nguyên nhân ngộ độc CAM

3.2.1.3 Mức độ nặng trên lâm sàng

Bảng 3.4: Độ nặng trên lâm sàng

Trang 31

3.2.1.4 Liên quan giữa loại hóa chất và độ nặng

Bảng 3.5: Liên quan giữa loại hóa CAM và mức độ nặng

3.2.1.5 Số lượng chất ăn mòn đã uống

Bảng 3.6: Lượng CAM đã uống

Trang 32

Nhận xét

Nhóm BN uống CAM với số lượng từ 10 - 30 ml chiếm 50%, tiếp theo

là nhóm với số lượng dưới 10 ml và trên 30 ml chiếm 24,4% và 23,2% tươngứng Có 2 BN không ước lượng được số lượng hóa chất uống, một do bị đầuđộc và một do bị tai nạn

3.2.1.6 Liên quan giữa số lượng hóa chất và độ nặng

Bảng 3.7: Liên quan giữa số lượng hóa chất đã uống và mức độ nặng

Trong nhóm BN nặng, số BN uống hóa CAM trên 30 ml chiếm 75%, từ

10 - 30 ml chiếm 25% Trong nhóm BN trung bình, số BN uống CAM trên 30

ml chiếm 17,9%, từ 10 – 30 ml 75%, dưới 10 ml chiếm 7,1% Trong nhóm

BN nhẹ, số BN uống trên 30 ml chiếm 12,5%, từ 10 – 30 ml chiếm 42,5%,dưới 10 ml chiếm 45% Có sự khác biệt về độ nặng giữa các nhóm uống sốlượng hóa chất khác nhau với p < 0,001

Trang 33

và nôn máu gặp ít nhất với 6,1% và 4,9% tương ứng.

Trang 34

* Liên quan giữa triệu chứng đau thượng vị và mức độ nặng

Bảng 3.9: Liên quan giữa triệu chứng đau thượng vị và mức độ nặng

có BN nào nặng, 34% BN trung bình và 66% BN nhẹ Có sự khác biệt về độnặng giữa nhóm có và không có triệu chứng đau thượng vị với p < 0,001

Bảng 3.10: Liên quan giữa triệu chứng loét miệng họng và độ nặng

3.2.2 Triệu chứng cận lâm sàng

3.2.2.1 Soi dạ dày lần 1

Trang 35

* Liên quan giữa loại CAM và tổn thương thực quản trên nội soi

Bảng 3.12: Liên quan giữa CAM và tổn thương thực quản

Trang 36

* Liên quan giữa pH độc chất và mức độ tổn thương thực quản trên nội soi

Bảng 3.13: Liên quan giữa pH độc chất và kết quả nội soi

* Liên quan giữa số lượng CAM đã uống và tổn thương thực quản

Bảng 3.14: Liên quan giữa số lượng CAM và mức độ tổn thương

là có ý nghĩa thống kê với p < 0,001

Trang 37

* Liên quan giữa triệu chứng đau thượng vị và kết quả nội soi

Bảng 3.15: Liên quan giữa triệu chứng đau thượng vị và kết quả nội soi

Trang 38

* Liên quan giữa triệu chứng loét miệng họng và kết quả nội soi

Bảng 3.16:Liên quan giữa triệu chứng loét miệng họng và kết quả nội soi

có loét miệng họng là có ý nghĩa thống kê với p < 0,05

Trang 39

3.3 Hiệu quả điều trị ngộ độc cấp các CAM đường tiêu hóa

3.3.1 Các biện pháp điều trị trước khi vào TTCĐ

Biểu đồ 3.6: Điều trị trước vào viện Nhận xét:

Có 30 BN chiếm 36,6% được xử trí tại chỗ bằng các biện pháp gây nôn

và trung hòa Có 20 BN chiếm 24,4% được điều trị tại tuyến trước bằng cácbiện pháp rửa dạ dày, than hoạt

Trang 40

* Liên quan giữa xử trí tại chỗ và kết quả nội soi

Bảng 3.18: Liên quan giữa xử trí tại chỗ và kết quả nội soi

sơ cứu và không sơ cứu tại chỗ, p > 0,05

* Liên quan giữa điều trị tuyến trước và kết quả nội soi dạ dày

Bảng 3.19: Liên quan giữa điều trị tuyến trước và kết quả nội soi dạ dày

Ngày đăng: 05/11/2015, 14:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Temiz A., Oguzkurt P., Ezer S.S. et al (2012). Predictability of outcome of caustic ingestion by esophagogastroduodenoscopy in children, World J Gastroenterol, 18(10), 1098-103 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Predictability of outcome of caustic ingestion by esophagogastroduodenoscopy in children
Tác giả: Temiz A., Oguzkurt P., Ezer S.S. et al
Năm: 2012
12. Lu L.S., Tai W.C., Hu M.L. et al (2014). Predicting the progress of caustic injury to complicated gastric outlet obstruction and esophageal stricture, using modified endoscopic mucosal injury grading scale, Biomed Res Int, 2014, 919870 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Predicting the progress of caustic injury to complicated gastric outlet obstruction and esophageal stricture, using modified endoscopic mucosal injury grading scale
Tác giả: Lu L.S., Tai W.C., Hu M.L. et al
Năm: 2014
13. Boskovic A., Stankovic I. (2014). Predictability of gastroesophageal caustic injury from clinical findings: is endoscopy mandatory in children?, Eur J Gastroenterol Hepatol, 26(5), 499-503 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Predictability of gastroesophageal caustic injury from clinical findings: is endoscopy mandatory in children
Tác giả: Boskovic A., Stankovic I
Năm: 2014
14. Millar A.J., Cox S.G. (2014). Caustic injury of the oesophagus, Pediatr Surg Int Sách, tạp chí
Tiêu đề: Caustic injury of the oesophagus
Tác giả: Millar A.J., Cox S.G
Năm: 2014
15. Walker A.J., Caldera F. (2013). Corrosive esophageal injury by button battery, Gastrointest Endosc, 78(4), 654; discussion 654-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Corrosive esophageal injury by button battery
Tác giả: Walker A.J., Caldera F
Năm: 2013
16. Ramakrishnaiah V.P., Gangavatiker R., Dash N.R. et al (2013). Pancreas-sparing duodenectomy in a patient with acute corrosive injury, Updates Surg, 65(4), 309-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pancreas-sparing duodenectomy in a patient with acute corrosive injury
Tác giả: Ramakrishnaiah V.P., Gangavatiker R., Dash N.R. et al
Năm: 2013
17. Zargar S.A., Kochhar R., Nagi B. et al (1989). Ingestion of corrosive acids. Spectrum of injury to upper gastrointestinal tract and natural history, Gastroenterology, 97(3), 702-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ingestion of corrosive acids. Spectrum of injury to upper gastrointestinal tract and natural history
Tác giả: Zargar S.A., Kochhar R., Nagi B. et al
Năm: 1989
18. Peter K. (2006). Caustic ingestions, The Toxicology Handbook for Clinicians, Hanley &amp; Belfus, 151-152 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Toxicology Handbook for Clinicians
Tác giả: Peter K
Năm: 2006
20. Kay M., Wyllie R. (2009). Symptoms may not adequately predict extent of injury in pediatric patients after a caustic ingestion, Gastrointest Endosc, 69(7), 1407 author reply 1407 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Symptoms may not adequately predict extent of injury in pediatric patients after a caustic ingestion
Tác giả: Kay M., Wyllie R
Năm: 2009
21. Elicevik M., Alim A., Tekant G.T. et al (2008). Management of esophageal perforation secondary to caustic esophageal injury in children, Surg Today, 38(4), 311-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Management of esophageal perforation secondary to caustic esophageal injury in children
Tác giả: Elicevik M., Alim A., Tekant G.T. et al
Năm: 2008
22. Chen K.C., Hsiao C.H. (2013). Tracheal perforation in esophageal corrosive injury, Ann Thorac Surg, 96(5), 1879 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tracheal perforation in esophageal corrosive injury
Tác giả: Chen K.C., Hsiao C.H
Năm: 2013
23. Lakshmi C.P., Vijayahari R., Kate V. et al (2013). A hospital-based epidemiological study of corrosive alimentary injuries with particular reference to the Indian experience, Natl Med J India, 26(1), 31-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A hospital-based epidemiological study of corrosive alimentary injuries with particular reference to the Indian experience
Tác giả: Lakshmi C.P., Vijayahari R., Kate V. et al
Năm: 2013
24. Somasundaram A., Ravi R., Venkataraman J. (2009). Corrosive injury of the stomach: an unusual presentation, Endoscopy, 41 Suppl 2, E92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Corrosive injury of the stomach: an unusual presentation
Tác giả: Somasundaram A., Ravi R., Venkataraman J
Năm: 2009
25. Luedtke P., Levine M.S., Rubesin S.E. et al (2003). Radiologic diagnosis of benign esophageal strictures: a pattern approach, Radiographics, 23(4), 897-909 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Radiologic diagnosis of benign esophageal strictures: a pattern approach
Tác giả: Luedtke P., Levine M.S., Rubesin S.E. et al
Năm: 2003
26. Ryu H.H., Jeung K.W., Lee B.K. et al (2010). Caustic injury: can CT grading system enable prediction of esophageal stricture?, Clin Toxicol (Phila), 48(2), 137-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Caustic injury: can CT grading system enable prediction of esophageal stricture
Tác giả: Ryu H.H., Jeung K.W., Lee B.K. et al
Năm: 2010
27. Chirica M., Resche-Rigon M., Pariente B. et al (2014). Computed tomography evaluation of high-grade esophageal necrosis after corrosive ingestion to avoid unnecessary esophagectomy, Surg Endosc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Computed tomography evaluation of high-grade esophageal necrosis after corrosive ingestion to avoid unnecessary esophagectomy
Tác giả: Chirica M., Resche-Rigon M., Pariente B. et al
Năm: 2014
29. Sunil H.V., Mittal B.R., Bhattacharya A. et al (2010). Pertechnetate SPECT-CT in corrosive gastric injury, Indian J Gastroenterol, 29(6), 244-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pertechnetate SPECT-CT in corrosive gastric injury
Tác giả: Sunil H.V., Mittal B.R., Bhattacharya A. et al
Năm: 2010
30. Aksu B., Durmus-Altun G., Ustun F. et al (2009). A new imaging modality in detection of caustic oesophageal injury: Technetium-99m pyrophosphate scintigraphy, Int J Pediatr Otorhinolaryngol, 73(3), 409-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A new imaging modality in detection of caustic oesophageal injury: Technetium-99m pyrophosphate scintigraphy
Tác giả: Aksu B., Durmus-Altun G., Ustun F. et al
Năm: 2009
31. Rai M.B., Amit B., Raghava K. et al (2013). 99mTc-Pertechnetate Scintigraphy and Endoscopy in Assessment of Caustic-Induced Gastric Mucosal Injury, Clinical Nuclear Medicine, 83(3), 146-147 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 99mTc-Pertechnetate Scintigraphy and Endoscopy in Assessment of Caustic-Induced Gastric Mucosal Injury
Tác giả: Rai M.B., Amit B., Raghava K. et al
Năm: 2013
32. Pattullo V., Bourke M.J., Alexander S. et al (2009). Endoscopic evolution of a caustic injury to the gastric antrum, Gastrointest Endosc, 69(3 Pt 1), 583-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Endoscopic evolution of a caustic injury to the gastric antrum
Tác giả: Pattullo V., Bourke M.J., Alexander S. et al
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Các chăt ăn mòn và sản phẩm thương mại thường gặp - Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị ngộ độc cấp các chất ăn mòn đường tiêu hóa
Bảng 1.1 Các chăt ăn mòn và sản phẩm thương mại thường gặp (Trang 4)
Hình 1.1: Tổn thương thực quản - Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị ngộ độc cấp các chất ăn mòn đường tiêu hóa
Hình 1.1 Tổn thương thực quản (Trang 6)
Bảng 3.1: Tiền sử bản thân và gia đình - Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị ngộ độc cấp các chất ăn mòn đường tiêu hóa
Bảng 3.1 Tiền sử bản thân và gia đình (Trang 28)
Bảng 3.2: Thời điểm vào viện - Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị ngộ độc cấp các chất ăn mòn đường tiêu hóa
Bảng 3.2 Thời điểm vào viện (Trang 29)
Bảng 3.5: Liên quan giữa loại hóa CAM và mức độ nặng - Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị ngộ độc cấp các chất ăn mòn đường tiêu hóa
Bảng 3.5 Liên quan giữa loại hóa CAM và mức độ nặng (Trang 31)
Bảng 3.9: Liên quan giữa triệu chứng đau thượng vị và mức độ nặng - Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị ngộ độc cấp các chất ăn mòn đường tiêu hóa
Bảng 3.9 Liên quan giữa triệu chứng đau thượng vị và mức độ nặng (Trang 34)
Bảng 3.12: Liên quan giữa CAM và tổn thương thực quản - Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị ngộ độc cấp các chất ăn mòn đường tiêu hóa
Bảng 3.12 Liên quan giữa CAM và tổn thương thực quản (Trang 35)
Bảng 3.13: Liên quan giữa pH độc chất và kết quả nội soi - Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị ngộ độc cấp các chất ăn mòn đường tiêu hóa
Bảng 3.13 Liên quan giữa pH độc chất và kết quả nội soi (Trang 36)
Bảng 3.15: Liên quan giữa triệu chứng đau thượng vị và kết quả nội soi - Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị ngộ độc cấp các chất ăn mòn đường tiêu hóa
Bảng 3.15 Liên quan giữa triệu chứng đau thượng vị và kết quả nội soi (Trang 37)
Bảng 3.18: Liên quan giữa xử trí tại chỗ và kết quả nội soi - Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị ngộ độc cấp các chất ăn mòn đường tiêu hóa
Bảng 3.18 Liên quan giữa xử trí tại chỗ và kết quả nội soi (Trang 40)
Bảng 3.19: Liên quan giữa điều trị tuyến trước và kết quả nội soi dạ dày - Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị ngộ độc cấp các chất ăn mòn đường tiêu hóa
Bảng 3.19 Liên quan giữa điều trị tuyến trước và kết quả nội soi dạ dày (Trang 40)
Bảng 3.20: Cách dùng PPI - Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị ngộ độc cấp các chất ăn mòn đường tiêu hóa
Bảng 3.20 Cách dùng PPI (Trang 42)
Bảng 3.21: Thời gian trung bình nằm viện giữa các độ tổn thương thực quản - Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị ngộ độc cấp các chất ăn mòn đường tiêu hóa
Bảng 3.21 Thời gian trung bình nằm viện giữa các độ tổn thương thực quản (Trang 43)
Bảng 3.23: Biến chứng - Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị ngộ độc cấp các chất ăn mòn đường tiêu hóa
Bảng 3.23 Biến chứng (Trang 44)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w