Công nghiệp dầu khí là một trong những ngành công nghiệp quan trọng, đem lại lợi ích vô cùng lớn cho nền kinh tế quốc dân.
Trang 1MỞ ĐẦU
Công nghiệp dầu khí là một trong những ngành công nghiệp quan trọng,
đem lại lợi ích vô cùng lớn cho nền kinh tế quốc dân Nguồn nguyên liệu dầu
khí tạo ra rất nhiều sản phẩm phục vụ cho hầu hết các lĩnh vực công nghiệp,
nông nghiệp, đời sống xã hội, an ninh quốc phòng… Bất kì một nước nào sở
hữu nguồn tài nguyên quý giá này đều có tiềm năng phát triển kinh tế vượt trội,
vì vậy nó không ngừng được tìm kiếm, khai thác và với quy mô ngày càng tăng
Đặc biệt với một nước đang phát triển như nước ta thì vai trò của nó lại càng
quan trọng
Hiện Việt Nam là nước khai thác dầu đứng thứ 3 Đông Nam Á, tấn dầu đầu
tiên được khai thác vào năm 1986 tại Vũng Tàu, tính đến năm 2004 đã khai thác
được tấn dầu thứ 140 triệu tấn, hàng năm đem lại một phần ba nguồn ngân sách
quốc gia Hoạt động thăm dò khai thác dầu khí diễn ra hết sức sôi nổi ở thềm lục
địa phía Nam và đang có xu hướng chuyển sang miền Bắc như ở Thái Bình, Hải
Phòng
Bên cạnh những mặt tích cực đó, hoạt động khai thác càng mạnh mẽ cũng
đồng nghĩa với việc thải ra môi trường càng nhiều phế thải và tình trạng ô nhiễm
lại trầm trọng thêm Trong ngành công nghiệp dầu khí, mùn khoan là một nguồn
chất thải vô cùng lớn và có nguy cơ gây ô nhiễm rất cao, đặc biệt là khi sử dụng
các dung dịch khoan gốc dầu Nó được tạo ra khi tiến hành khoan thăm dò và
phát triển mỏ, gồm hỗn hợp đất đá cùng với các hoá chất trong dung dịch khoan
lẫn vào Khi quá trình khoan sử dụng dung dịch gốc dầu thì tình trạng ô nhiễm
càng lớn Về nguyên tắc nguồn phế thải này phải được đem vào bờ xử lí, tuy
nhiên việc xử lí chúng rất khó khăn và tốn kém nên các nhà thầu thường sao
lãng Hiện tại trong ngành công nghiệp dầu khí nước ta chỉ mới áp dụng các
biện pháp hoá lí thông thường để làm giảm tác hại, mà không xử lí triệt để rồi
thải vào môi trường
Vấn đề đặt ra cho các nhà môi trường là phải xử lí chúng, phương án giải
quyết phải đảm bảo sao cho vừa hiệu quả, đơn giản mà lại kinh tế Do đó mà
phương pháp sinh học đang được chú ý bởi các ưu điểm vượt trội của nó so với
các phương pháp hoá lí như: an toàn với môi trường, đơn giản, xử lí triệt để mà
giá thành lại rẻ Một trong các phương pháp xử lí sinh học đem lại hiệu quả cao
đó là sử dụng các chất hoạt hoá bề mặt do các vi sinh vật tạo ra Chất hoạt hoá
Trang 2bề mặt sinh học là một hợp chất lưỡng cực cho phép hoà tan các chất không tan
vào trong nước, chúng dễ bị phân huỷ sinh học lại không độc thêm vào đó nó có
thể sản xuất từ các nguồn cơ chất phế thải của các ngành công nghiệp khác giá
thành hạ lại giải quyết được tình trạng ô nhiễm do các nguồn phế thải này sinh
ra Để xử lí mùn khoan, CHHBM tỏ ra rất có triển vọng
Ở Việt Nam, mới chỉ có một số ít các công trình nghiên cứu vế chất hoạt
hoá bề mặt sinh học, hướng nghiên cứu và ứng dụng chúng còn rất mới mẻ
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế đặt ra, chúng tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài: “Đánh giá khả năng tạo CHHBMSH do các chủng vi khuẩn phân lập
từ mùn khoan dầu khí Vũng Tàu và ảnh hưởng của chúng lên khả năng
phân huỷ dầu”
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG DUNG DỊCH KHOAN VÀ VẤN ĐỀ XỬ LÍ MÙN
KHOAN DẦU KHÍ HIỆN NAY
1.1 Tình hình sử dụng dung dịch khoan
Trong ngành công nghiệp khai thác dầu khí, khi tiến hành khoan mỏ để bôi
trơn mũi khoan, vận chuyển mùn khoan từ đáy giếng lên trên bề mặt, giữ áp suất
vỉa ổn định để ngăn hiện tượng phun trào, bảo vệ thành giếng khỏi sạt lở, bôi
trơn chòng khoan, cần khoan người ta luôn phải sử dụng dung dịch khoan
(DDK)
DDK là một hệ dung dịch bao gồm hỗn hợp các chất điều chỉnh độ nhớt,
chất tạo nhũ, chất phân tán, chất diệt khuẩn, chất phụ gia, NaCl, CaCl2, vôi, sét,
BaSO4, chất chống mất nước nhằm tạo các đặc tính mong muốn cho DDK
Khi chúng được pha với nước gọi là DDK gốc nước, hoặc pha với dầu gọi là
DDK gốc dầu Hàm lượng dầu gốc trong DDK thường chứa trên 70%
So với DDK gốc nước thì DDK gốc dầu đắt và độc hại hơn, nhưng chúng
có những đặc tính hơn hẳn như: ổn định được nhiệt độ cao, chống sạt lở tốt, khả
năng giữ dung dịch tốt Khi tiến hành khoan sâu, khoan nghiêng để đảm bảo
thành công người ta luôn sử dung dịch khoan gốc dầu
Dầu gốc của các dung dịch khoan đầu tiên thường là dầu diezen hay dầu
thô Do gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường mà hiện nay xu hướng sử
dụng các loại dầu gốc có độ độc thấp như dầu khoáng, dầu thực vật hay dầu tổng
hợp có độ độc thấp
Dầu khoáng được sản xuất từ dầu thô đã được loại bỏ các hợp chất độc hại
như các hợp chất thơm, dị vòng nên độ độc thấp hơn dầu thô
Dầu thực vật có độ nhớt cao nên thường sử dụng các dẫn xuất của nó có độ
nhớt thấp hơn, ưu điểm của nó là có khả năng phân huỷ sinh học tốt hơn dầu thô
nên ít ảnh hưởng tới môi trường hơn
Dầu tổng hợp có độ độc thấp, dễ phân huỷ sinh học, giá thành lại rẻ hơn
dầu thực vật nên được sử dụng rộng dãi [5]
Hiện nay ở trên thế giới và ở Việt Nam, một số nhà thầu đã sử dụng DDK
gốc dầu tổng hợp saraline có độ độc thấp Saraline được sản xuất từ dầu khoáng
loại bỏ các hợp chất thơm dị vòng độc hại, nó không chứa các hợp chất thơm đa
Trang 4vòng vốn là một hợp chất rất độc hại cho môi trường, thành phần chính của nó là
các ankan mạch thẳng từ C12 đếnC25
Tuy các dầu gốc đã được xử lí loại bỏ các thành phần độc hại, chúng vẫn
gây tác động lớn tới môi trường sinh thái và sức khoẻ con người Các dầu gốc
chứa các thành phần hydrocacbon, các thành phần này nếu tích tụ ở nồng độ cao
sẽ ảnh hưởng tới quá trình trao đổi chất của sinh vật Trong môi trường nước nó
tạo lớp váng trên bề mặt ngăn cản sự hoà tan oxy vào trong nước, sự trao đổi
nhiệt giữa khí quyển và thuỷ quyển, không cho ánh sáng đi vào nước từ đó ảnh
hưởng tới nguồn thức ăn, dinh dưỡng, hô hấp của sinh vật, tới các loại ấu
trùng Đối với môi trường đất, dầu đẩy nước và không khí ra ngoài làm cho đất
mất khả năng hấp thụ và trao đổi, ngăn cản quá trình trao đổi chất của hệ vi sinh
vật trong đất Đối với con người, nó ảnh hưởng thông qua môi trường nước,
không khí, nó đi vào trong lưới thức ăn, gây tác động tới hệ tiêu hoá, hệ bài tiết,
hệ hô hấp, hệ thần kinh
Cụ thể như dầu saraline, đã có những công bố về tác hại gây bệnh viêm
phổi của loại dầu này [21]
1.2 Vấn đề xử lí mùn khoan dầu khí hiện nay
1.2.1 Mùn khoan
Mùn khoan là sản phẩm phế thải của ngành công nghiệp dầu khí, gồm hỗn
hợp của các loại đất đá bị vỡ vụn ra khi tiếp xúc với mũi khoan và được vận
chuyển lên trên mặt đất thông qua quá trình tuần hoàn của dung dịch khoan Hệ
dung dịch khoan được bơm vào bên trong ống khoan, độ nhớt và vận tốc tuần
hoàn duy trì mùn khoan ở trạng thái huyền phù, thông qua không gian giữa
thành ống khoan và thành lỗ khoan nó vận chuyển mùn khoan lên trên mặt, tại
đó nó tách khỏi mùn khoan và lại tuần hoàn trở lại giếng khoan Do đó, ngoài
đất đá, mùn khoan còn lẫn các hoá chất trong DDK Đối với quá trình sử dụng
DDK gốc dầu thì mùn khoan thấm đầy dầu
Mùn khoan được tạo ra từ hoạt động khoan thăm dò và phát triển mỏ Khối
lượng mùn khoan phụ thuộc vào đường kính giếng, tốc độ khoan và chiều dài
của mỗi công đoạn khoan
Trong quá trình khoan thăm dò, lượng mùn khoan tạo ra ít, khi đưa lên mặt
đất, mùn khoan được rửa sạch, một phần giữ lại nghiên cứu, theo quy chế mùn
khoan loại bỏ phải đưa vào bờ chôn, nước rửa mùn khoan phải được xử lí sạch
Trang 5Tuy nhiên, các quy định này rất khó thực hiện đồng thời gây tốn kém nên các
nhà thầu thường trốn tránh trách nhiệm
Giai đoạn khoan phát triển mỏ, số lượng giếng khoan nhiều cộng với lượng
mùn khoan ở mỗi giếng rất lớn, khoan khai thác thường không lấy mẫu nên
lượng mùn lại vô cùng lớn Chỉ tính riêng ở mỏ Bạch Hổ, trung bình khoan một
giếng sâu 4000m tạo ra khoảng 350 m3 (900 tấn) mùn khoan Nếu duy trì tỉ lệ
dầu 70% trong DDK gốc dầu thì mùn khoan thải ra có hàm lượng dầu vô cùng
lớn
1.2.2 Tác hại của mùn khoan nhiễm dầu
Với đặc thù là một sản phẩm phế thải nhiễm dầu, có số lượng rất lớn, mùn
khoan đã và đang gây những tác hại không nhỏ
Khi thải ra ngoài biển mùn khoan nhiễm dầu làm thay đổi môi trường sống
của các sinh vật đáy, riêng các chất độc hại trong mùn khoan sẽ xâm nhập vào
trong thức ăn, tác động tới quá trình trao đổi chất, có thể giết chết hoặc gây biến
dạng giống loài, làm thay đổi hệ sinh thái biển, ảnh hưởng ô nhiễm dễ lan rộng
đặc biệt là ở khu vực có dòng hải lưu
Tại đất liền việc chất đống mùn khoan hay làm vật liệu chôn lấp hố, ao hồ
chiếm diện tích lớn, làm thay đổi địa hình và sau đó khi cần dùng diện tích thì
phải tốn kém chi phí bốc dỡ, không những thế nó còn làm ô nhiễm nguồn nước,
không khí qua đó ảnh hưởng tới sức khoẻ của con người [5]
1.2.3 Tình hình xử lí mùn khoan nhiễm dầu
Hiện nay ở nước ta và nhiều nước trên thế giới, việc xử lí mùn khoan chỉ
mới áp dụng các biện pháp hoá lí nhằm giảm thiểu lượng dầu bám dính trên mùn
khoan trước khi thải xuống biển, hoặc vận chuyển vào bờ để lấp các địa điểm
tạo bề mặt xây dung hay xử lí thành các nguyên vật liệu xây dựng như ở Thái
Lan, Malayxia, Tây Âu Các nước phát triển ở trình độ thấp thì chưa quan tâm
tới môi trường thường chấp nhận một khoản phí bồi thường rồi cho phép đổ tuỳ
tiện các chất thải [5]
Nước ta hiện này cũng áp dụng một số các biện pháp để giảm tác động của
mùn khoan đối với nguồn lợi thuỷ hải sản và môi trường biển:
- Sử dụng sàng rung lưới và các thiết bị li tâm hiệu quả cao trên giàn khoan
để giảm thiểu tối đa hàm lượng dầu bám dính trên mùn khoan đến dưới 10%
Trang 6- Thực hiện chương trình giám sát môi trường tại các khu vực lân cận của
giếng khoan để đánh giá tình trạng thay đổi môi trường
- Nghiên cứu độ độc của các loại dầu tổng hợp đối với sinh vật
Tuy nhiên, các biện pháp trên không giải quyết được vấn đề triệt để, môi
trường sinh thái vẫn bị tác động lớn
2 PHƯƠNG PHÁP SINH HỌC TRONG XỬ LÍ Ô NHIỄM DẦU
2.1 Vai trò của vi sinh vật trong xử lí ô nhiễm dầu
2.1.1 Hệ vi sinh vật trong mùn khoan dầu khí
Như đã nói ở trên, mùn khoan là hỗn hợp các loại đất đá ở trong lòng đất
chuyển lên Mùn khoan chứa một phần các phụ gia trong dung dịch khoan, phần
dầu (đối với DDK gốc dầu), nước trong lòng đất và khu hệ vi sinh vật ở trong
giếng khoan Các chất thường sử dụng trong dung dịch khoan là: tinh bột,
cacbonoxymetylcellulo, lignosulfonat, các loại gum tự nhiên, dầu nhũ hoá, dầu
gốc [23] Các chất này đã được nhiều nhà khoa học chứng minh là có khả năng
bị phân huỷ bởi các vi sinh vật: Bacillus subtilis, Pseudomonas sp., các vi khuẩn
khử sunphat như Desulfovibrio desulfuricans [15] Mặc dù trong mùn khoan
thường bổ sung các chất diệt khuẩn nhưng khả năng bị tấn công bởi vi sinh vật
của các chất kể trên vẫn rất cao Việc có mặt nước ở trong mùn khoan càng làm
tăng khả năng phân huỷ dầu của vi sinh vật Smirnova đã chứng minh có nhiều
loại vi khuẩn bao gồm cả các loại oxy hoá hydrocacbon có mặt trong DDK [15]
Do mỗi vùng địa lí có khu hệ vi sinh vật khác nhau nên các mẫu mùn
khoan lấy ở các địa điểm khác nhau có khu hệ vi sinh vật đặc trưng cũng khác
nhau
Hệ vi sinh vật trong mùn khoan là cơ sở cho các biện pháp xử lí dầu bằng
biện pháp sinh học
2.1.2 Cơ chế phân huỷ các hydrocacbon
Cơ chế phân huỷ các hydrocacbon của vi sinh vật đã được các nhà khoa
học trong và ngoài nước nghiên cứu Vi sinh vật sử dụng hydrocacbon làm
nguồn dinh dưỡng và năng lượng cho sự sinh trưởng và phát triển Việc sử dụng
các hydrocacbon của vi sinh vật có thể xảy ra theo hai hướng:
- Đối với một số các hydrocacbon tan trong nước, vi sinh vật có thể hấp thụ
trực tiếp
Trang 7Với các hydrocacbon khó tan mà có thể tan dưới dạng nhũ tương dầu
-nước thì quá trình phân huỷ vi sinh theo trình tự các bước: đầu tiên là hoà tan
các hydrocacbon dưới dạng nhũ tương dầu nước bằng cách tiết ra các chất hoạt
hoá bề mặt sinh học, sau đó vi sinh vật tiếp xúc với dầu, cuối cùng nó tiết ra các
enzyme để chuyển hoá các hydrocacbon thành các chất mà nó có thể sử dụng
được
Nhìn chung các hydrocacbon khác nhau bị phân huỷ bởi nhiều loại vi
khuẩn và bằng nhiều con đường khác nhau
2.1.2.1 Cơ chế phân huỷ các ankan
Khả năng phân huỷ của các ankan phụ thuộc vào cấu trúc phân tử của
chúng Thông thường các hydrocacbon bậc 1 và bậc 2 dễ phân huỷ hơn các
hydrocacbon bậc 3 và 4
a Cơ chế phân huỷ các n-ankan:
Quá trình phân huỷ ankan được khơi mào nhờ enzym mono-oxygenaza và
di-oxygenaza Quá trình này đòi hỏi có sự tham gia của một phân tử oxy và chất
cho điện tử NADPH2
Các giai đoạn oxy hoá ankan:
* Giai đoạn 1: Tạo thành rượu, xảy ra qua 2 bước
Tạo thành hợp chất peoxyt
R- CH2- CH3 + O2 —> R- CH2- CH2- OOH
Hợp chất peoxyt không bền dưới tác dụng của NADPH2 tạo thành rượu và
nước:
R- CH2- CH2- OOH + NADPH2 —> RCH2- CH2- OH + H2O + NADP (2)
Từ ankan chuyển thành rượu có hai khả năng xảy ra:
Tạo thành rượu bậc 1: xảy ra khi nhóm OH gắn vào C bậc 1 (2)
Tạo thành rượu bậc hai: khi nhóm OH gắn với C bậc 2:
R-CH2-CH2 - OOH + O2 + NADPH2 —> R- CH- CH2 + H2O + NADP
Trang 8Rượu bậc 2 tạo thành xeton:
R - CH - CH3 + 1/2 O2 —> R – CH - CH3 +H2O
| ||
OH O
* Giai đoạn 3: tạo thành axit béo:
- Các xeton bị oxy hoá tạo thành este, liên kết este bị phá vỡ tạo ra một axit
và rượu bậc một, rượu bậc 1 lại bị oxy hoá thành andehit rồi axit béo:
* Giai đoạn 4: các axit béo bị oxy hoá tiếp nhờ tru trình õ - oxy hoá
Axit béo mạch dài dưới tác dụng của một loại enzym chuyển sang dạng
acetyl coenzym A và chuyển hoá tiếp dưới tác dụng của nhiều enzym khác Kết
quả là sau mỗi chu kì chuyển hoá, một nhóm acetyl CoA bị cắt ra và phân tử
axit béo bị cắt đi hai nguyên tử cacbon Sản phẩm cuối cùng của chu trình õ –
oxy hoá là CO2 và nước
b Cơ chế phân huỷ các alkan mạch nhánh:
Do cản trở về mặt không gian nên khả năng phân huỷ của chúng kém hơn
n-ankan Theo Atlas, các vi sinh vật phân huỷ ưu tiên C bậc1 và bậc 2, còn C
bậc 3 và 4 thì khó phân huỷ hơn
Ankan có nhóm metyl ở dầu mạch khó phân huỷ hơn ở giữa mạch
Ankan có mạch nhánh dài dễ bị phân huỷ hơn ankan có mạch nhánh ngắn
Trong quá trình nghiên cứu sự phân huỷ các ankan mạch nhánh, người ta
đề xuất biến dạng của chu trình TCA là chu trình Metylcitrat, thay vào vị trí của
axit citric là metylcitrat
c Cơ chế phân huỷ các cycloankan:
Trang 9Cycloankan là cấu tử chính của dầu thô Khơi mào cho sự phân huỷ
cycloankan cũng là các enzym monooxygenaza và oxygenaza Dưới tác dụng
của các enzym này, các cycloankan bị phân huỷ thành các cycloankanol
Theo các tác giả, khả năng phân huỷ của cyclohexan là mạnh nhất trong
dãy đồng đẳng cycloankan Cùng vòng cycloankan chất nào có mạch nhánh dài
hơn thì sẽ dễ phân huỷ hơn
Khi phân huỷ cyclohexan, quá trình hydroxyl hoá được xúc tác bởi enzym
oxydaza chức năng tạo ra một rượu mạch vòng Rượu mạch vòng sẽ bị dehydro
hoá để tạo ra xeton, xeton bị oxy hoá tiếp thành lacton Lacton sẽ bị thuỷ phân,
nhóm hydroxyl bị oxy hoá thành một nhóm andehit và một nhóm cacboxyl Kết
quả là axit dicacboxylic bị biến đổi tiếp nhờ chu trình õ - oxy hoá
Các vi sinh vật có khả năng phát triển trên cyclohexan phải thực hiện tất cả
các phản ứng trên Tuy nhiên ta thường gặp hơn các vi sinh vật có khả năng
chuyển cyclohexan thành rượu mạch vòng nhưng không có khả năng lacton hoá
và mỏ mạch vòng Do vậy cơ chế cộng sinh và cùng trao đổi chất (co-
metabolism) đóng một vai trò rất quan trọng trong phân huỷ sinh học các hợp
chất hydrocacbon mạch vòng
2.1.2.2 Cơ chế phân huỷ hydrocacbon thơm
a Benzen
Xúc tác ban đầu cho quá trình oxy hoá benzen là enzym dioxygenaza, tức
là phân tử oxy sẽ gắn trực tiếp vào cacbon của vòng thơm
b Naphtalen
Xúc tác đầu tiên là enzym oxygenaza, gắn phân tử oxy vào phân tử
naphtalen để tạo thành cis-1,2 dihydroxyl 1,2 dihydro naphtalen, sau đó tách
nước để thành 1,2-dihydroxynaphtalen Tại đây, vòng bị cắt để tạo thành
cis-o-hdroxyl benzan pyruvic axit, sau đó tiếp tục bị oxy hoá tạo thành salicyandehyd,
salicylic axít và catechol, tiếp đó cắt các vòng khác theo hướng octhor hay
-metha phụ thuộc vào chủng vi khuẩn
Cũng có trường hợp xúc tác để oxy hoá naphtanen là enzym
monooxygenaza, tức là một nguyên tử của phân tử oxy sẽ gẵn vào vòng
naphthalen và cuối cùng cho ta cis-1,2-dihydroxyl 1,2 -dihydronaphtalen Nấm
mốc là nhóm vi sinh vật chiếm ưu thế về chủng loại có khả năng phân huỷ
naphtalen
Trang 10Như vậy, naphtalen dần dần sẽ bị chuyển hoá thành phân tử có khối lượng
bé hơn nhờ vi sinh vật, làm cho dầu nặng trở thành dầu nhẹ hơn, và độ nhớt của
dầu sẽ giảm đi
2.2 Cỏc yếu tố ảnh hưởng tới khả năng phõn huỷ dầu của vi sinh vật
Sự phỏt triển của vi sinh vật phõn huỷ dầu phụ thuộc rất lớn vào cỏc nguồn
cơ chất và cỏc điều kiện của mụi trường sống: nhiệt độ, pH, ỏp suất
Trong tự nhiờn, sự tồn tại của cỏc vi sinh vật cú khả năng sử dụng
hydrocacbon rất đa dạng Chỳng cú thể sống được ở những nơi cú điều kiện rất
khắc nghiệt như trong giếng khoan cú độ sõu hàng nghỡn một với ỏp suất từ 200
– 400 atm và nhiệt độ lớn hơn 1000C Mặt khỏc chỳng cú thể sống ở cỏc vựng
ven biển, nơi mà hàng giờ cú sự thay đổi lớn về độ muối và nhiệt độ do tỏc động
của súng và thuỷ triều Do đú sự tồn tại và phỏt triển của vi sinh vật cú khả năng
sử dụng hydrocacbon trong dải nhiệt độ và ỏp suất khỏ lớn Đa số cỏc vi sinh
vật phự hợp với nhiệt độ từ 25 – 300C và ỏp suất 1 atm [4]
Một nhõn tố mụi trường nữa tỏc động tới sự phõn bố và phỏt triển của vi
sinh vật là pH Đa số cỏc vi sinh vật sống ở mụi trường cú pH trung tớnh hoặc
kiềm yếu
Khớ hậu cũng ảnh hưởng lớn đến sự phỏt triển của vi sinh vật Nước ta cú
khớ hậu nhiệt đới giú mựa Mựa hố, nhiệt độ cao và độ ẩm lớn tạo điều kiện tối
ưu cho vi sinh vật phỏt triển Mựa đụng, nhiệt độ và độ ẩm giảm thỡ khả năng
phỏt triển của vi sinh vật cũng yếu đi
Bờn cạnh đú, sự phỏt triển của vi sinh vật phụ thuộc nhiều vào thành phần
muối khoỏng trong mụi trường Sự phỏt triển của vi sinh vật sử dụng dầu ở vựng
thềm lục địa phong phỳ và đa dạng hơn ở đại dương Trong cỏc nguyờn tố dinh
dưỡng khoỏng N và P là hai nguyờn tố chớnh ảnh hưởng tới khả năng sử dụng
hydrocacbon của vi sinh vật Tại nhiều vựng ụ nhiễm dầu, người ta đó dựng
nhiều phõn vụ cơ tổng hợp N, P, K rải xuống nơi ụ nhiễm nhằm kớch thớch sự
phỏt triển của vi sinh vật [4]
Cỏc vi sinh vật khỏc nhau sử dụng các hyrocacbon khác nhau Trong cỏc
hydrocacbon, hydrocacbon no và hydrocacbon thơm bị phân huỷ nhiều nhất tốt
nhất
Các đặc tính của mùn khoan có ảnh hưởng tới khả năng phân huỷ của vi
sinh vật Mùn khoan là một chất thấm đậm DDK - là một dung dịch kiềm tính
Trang 11cao, cho nên mùn khoan thường rất kiềm Mùn khoan là một hỗn hợp rắn, chứa
các chất kìm hãm vi sinh cho nên lượng O2 trong mùn khoan rất ít và khả năng
sinh sống của vi sinh vật trong đó không thuận lợi Điều này đã gây nên những
khó khăn nhất định trong việc xử lí chúng Vì vậy hướng sử dụng chính vi sinh
vật phân lập từ mùn khoan và việc dùng CHHBMSH để kích hoạt quá trình
phân huỷ của chính tập đoàn vi sinh vật trong mùn khoan đảm bảo khả năng
thành công
2.3 Các phương thức xử lí sinh học
* Đánh giá mức độ ô nhiễm dầu: trong tự nhiên ô nhiễm dầu được giảm đi
bằng nhiều cách như sự bay hơi của các phân đoạn nhẹ hay sự tự oxy hoá và
quang hoá nhưng cơ chế chủ yếu của sự phân huỷ dầu là nhờ vi sinh vật Điều
này là cơ sở cho các nhà vi sinh vật dùng các chế phẩm sinh để hỗ trợ các kỹ
thuật làm sạch hoá lí khác [12]
* Các phương thức xử lí ô nhiễm dầu bằng biện pháp phân huỷ sinh học:
Khái niệm phân huỷ sinh học hay còn gọi là cứu chữa sinh học
(bioremediation) đưa ra để mô tả quá trình sử dụng các vi sinh vật sống xử lí các
hệ thống bị ô nhiễm Trong các vi sinh vật thì vi khuẩn được sử dụng nhiều nhất,
tuy nhiên nấm và các thực vật bậc cao cũng góp phần xử lí ô nhiễm
Bản chất của quá trình phục hồi sinh học là cố gắng thúc đẩy sự phân huỷ
sinh học trong tự nhiên Khi trong môi trường bị ô nhiễm dầu, các vi sinh vật có
khả năng sử dụng dầu làm thức ăn lập tức phát triển Tuy nhiên sự thành công
của việc ứng dụng chúng để xử lí ô nhiễm dầu phụ thuộc vào khả năng tối ưu
hoá các điều kiện khác nhau về sinh học, hoá học, địa chất… giúp cho vi sinh
vật sinh trưởng và phát triển mạnh mẽ nhất có thể, với thời gian nhanh nhất
Có hai phương thức xử lí ô nhiễm dầu trong đất:
1 Bioaugmentation là phương thức xử lí mà trong đó ngoài việc tối ưu hoá
các điều kiện dinh dưỡng, người ta đưa vào một số vi sinh vật chọn lọc có khả
năng phân huỷ cao, bổ sung cùng với quần xã sinh vật bản địa trong môi trường
bị ô nhiễm để tăng cường khả năng phân huỷ dầu
2 Biostimulation là phương thức xử lí lấy quần xã sinh vật bản địa làm
trung tâm, các đặc điểm sinh học, sinh thái của quần xã vi sinh vật được nghiên
cứu kỹ qua đó đưa các chất dinh dưỡng hữu cơ, vô cơ, cùng các chế phẩm sinh
Trang 12học với một tỉ lệ thích hợp nhằm kích hoạt tập đoàn vi sinh vật có khả năng phân
huỷ dầu bản địa làm sạch môi trường
Trên thế giới cả hai phương thức này cũng đã được đem ra áp dụng nhưng
theo các tài liệu thì phương thức thứ nhất dường như ít hiệu quả hơn khi xử lí
dầu trong môi trường mở Trong các thử nghiệm thực tế, việc cho thêm các vi
vinh vật cho thấy không có gì hiệu quả hơn so với chỉ thêm các chất dinh dưỡng
Nguyên nhân có thể là do khi đưa một lượng vi sinh vật mới vào môi trường,
chúng phải mất thời gian để thích nghi với môi trường sinh thái mới, và thường
mất đi khả năng phân huỷ mạnh như vốn có do có các tác nhân kìm hãm nào đó
trong môi trường ô nhiễm, nhiều khi chúng chuyển sang sử dụng nguồn cơ chất
mới không phải là dầu Điều này thật bất lợi, thậm chí cản trở quá trình phân
huỷ tự nhiên do chúng lấn át hệ vi sinh bản địa, sử dụng hết nguồn oxy vốn là
một nhân tố giới hạn cực kì nhạy cảm của quá trình phân huỷ Kết quả là vừa
tốn kém mà hiệu quả lại không cao Tuy nhiên các nhà khoa học cho rằng
phương thức Bioaugmentation có tiềm năng trong việc xử lí các hợp chất dầu
đặc biệt hoặc là ở những vùng mà vi sinh vật bản địa làm việc không hiệu quả
như các vùng đất đá sỏi, đất cát Ở Nga đã sử dụng chế phẩm Devoroie gồm hỗn
hợp các vi khuẩn Rhodoccocus và Candida làm sạch ô nhiễm dầu ở vùng đất
cát
Biostimulation đã được chứng minh là một công cụ hứu hẹn để xử lí triệt
để các bờ biển bị ô nhiễm dầu theo phương pháp hiếu khí Một nhân tố chủ chốt
tạo nên sự thành công của phương thức này là duy trì mức độ dinh dưỡng tối ưu
Các yếu tố kìm hãm phải được khảo sát kỹ làm cơ sở cho quyết định hàm lượng
dinh dưỡng được đưa vào Trong trường hợp hàm lượng dầu cao thì chúng ta có
thể bổ sung vi khuẩn và một số chế phẩm khác như chất hoạt hóa bề mặt để tăng
tốc độ phân huỷ sinh học… Các chủng vi khuẩn được bổ sung ở đây phải là các
chủng được phân lập từ chính môi trường bị ô nhiễm được nhân giống và bổ
sung dưới dạng chế phẩm
Các chế phẩm khác nhau khi đưa vào xử lí ô nhiễm đã cho các kết quả khác
nhau phụ thuộc vào đặc tính của dầu, hàm lượng dinh dưỡng tự nhiên sẵn có của
vùng bị ô nhiễm, đặc điểm của môi trường bị ô nhiễm Dựa trên các thí nghiệm
thất bại trong thực tế nói chung các chế phẩm thương mại có hiệu quả hơn các
loại phân bón nông nghiệp trong việc thúc đẩy sự phân huỷ dầu
Trang 13Hiện nay nhờ sự phát triển mạnh mẽ của sinh học phân tử, sự phát triển của
phân loại học, các nhà khoa học có thể giám sát quá trình phân huỷ sinh học
thông qua sự biến động số lượng của quần thể vi sinh vật chiếm ưu thế trong
môi trường bị ô nhiễm, nhờ đó phương án phục hồi sinh học môi trường bị ô
nhiễm dầu trở nên hấp dẫn các nhà quản lí nhờ giá rẻ, an toàn, độ tin cậy cao
3 VAI TRÒ CỦA CHẤT HOẠT HOÁ BỀ MẶT SINH HỌC
(BIO-SURFACTANT HAY MICROBIAL SURFACE ACTIVE AGENT)
3.1 Bản chất của chất hoạt hoá bề mặt sinh học
Chất hoạt hoá bề mặt sinh học (CHHBMSH) được tạo ra từ con đường lên
men vi sinh vật Nó là một hợp chất lưỡng tính gồm hai phần phần kị nước
(hydrophobic moiety) và phần ưa nước (hydrophilic moiety), có khả năng làm
giảm sức căng bề mặtgiữa các phân tử
Phần ưa nước thường là các nhóm: axit amin, peptit, sacarit đơn, đôi,
polysacarit
Phần kị nước là các axit béo, axit no, không no [30]
Các CHHBMSH có cấu tạo rất khác nhau về cấu trúc hoá học lẫn kích
thước phân tử từ rất đơn giản như các axit béo đến phức tạp như các hợp chất
polymer
Các CHHBMSH thường tiết ra bên ngoài tế bào (extracellular) như các
chất glucolipid, axit béo, photpholipid, polysacarit lipid, lipopetic-lipoprotein,
hay chính bản thân bề mặt tế bào vi sinh vật [30]
Ngoài đặc tính làm giảm sức căng bề mặt nó còn có đặc tính kháng sinh
như chất gramicidin S hay polymicin [30]
Các CHHBMSH được tạo ra cả ở trên các cơ chất không tan trong nước lẫn
tan trong nước [16,30] Nó được tạo ra do phản ứng thích nghi với môi trường
không thuận lợi, độc hại và có xu hướng tạo ra nhiều trên các cơ chất không hoà
tan trong nước [16]
Các CHHBMSH do các gen trên nhiễm sắc thể lẫn các gen ở plasmid tổng
hợp và điều khiển Các gen này dễ mất đi chức năng qua một thời gian dài do bị
đột biến và chọn lọc nếu gặp môi trường không thuận lợi cho chúng biểu hiện
[16] Điều này giải thích vì sao chúng ta bắt gặp các loài có khả năng sử dụng
dầu ở cả những nơi không bị ô nhiễm dầu và khi đó hoạt tính tạo CHHBM rất
thấp
Trang 14Các CHHBMSH tạo ra trong suốt quá trình phát triển của vi sinh vật, sản
lượng và hoạt tính về sau có thể bị giảm do môi trường hết nguồn cơ chất dinh
dưỡng, vi vinh vật sử dụng chúng làm nguồn thức ăn hay các vi sinh vật chết đi
* Rhamnolipid: do một hoặc hai phân tử rhamnoza liên kết với một hoặc
hai phân tử axit hydroxydecacnoic, gồm có 4 loại: 2 phân tử đường liên kết với
2 phân tử axit, 2 phân tử rhamnose liên kết với 1 phân tử axit, 1 phân tử đường
liên kiết 2 phân tử axit, và 1 phân tử đường liên kết với 1 phân tử axit
Vi sinh vật sản suất là Pseudomonas aeruginosa
Công thức cấu tạo:
O OH
H O
(CH 2)6 3
CH
CH 3 O H HO
CH 2
3 CH (CH 2)6
CH O O
HO
Rhamnolipid 2
Rhamnolipid 1
* Trehaloselipid: do một phân tử đường đôi trehalose liên kết ở vị trí C6 và
C6’ với các phân tử axit mycolic
Axit mycolic là một axit béo mạch dài có phân nhánh Các loài vi sinh vật
khác nhau tạo ra các chất có mạch hydrocacbon có chiều dài và số liên kết đôi
cũng khác nhau [30]
Trang 15Các vi sinh vật như nhiều thành viên của chi Mycobacterium tạo ra các este
trehalose trên bề mặt tế bào [7] Các loài thuộc các chi Mycobacteria, Nocardia,
Brevibacteria tạo ra các trehaloselipid khác nhau về cấu trúc và kích cỡ [9]
* Sophorolipid
Do 1 phân tử đường sophorose liên kết với một axit béo mạch dài
Phân tử đường do hai phân tử glucose liên kết với nhau, nhóm OH ở vị trí
C6 và C6’ bị acetyl hoá
Chúng do nhiều chủng nấm men thuộc chi Torulopsis sản xuất: T
bombicola, T petrophilum, T apicola và loài Candida bogoriensis
Sophorolipid có khả năng làm giảm sức căng bề mặt nhưng nó không phải là
chất nhũ hoá hiệu quả [9,24]
3.2.2 Các axit béo: được tạo ra do các vi sinh vật oxy hoá ankan, gồm có
các axit béo mạch thẳng và các axit béo phức hợp chứa nhóm OH và nhánh
ankyl Cân bằng dầu và nước (hydrophilic-lipophilic balance) phụ thuộc vào
chiều dài của mạch cacbon [36]
Chúng do một số vi khuẩn và một số nấm men sản xuất
3.2.3 Phospholipid
Do một số vi khuẩn và nấm men sản xuất, nó là thành phần chính của màng
vi sinh, khi vi sinh vật được nuôi trên các cơ chất là ankan thì hàm lượng
phospholipid tăng mạnh Chủng Acinetobater sp., Thiobacillus thioxydans,
Athrobacter AK-19, Pseudomonas, Aeruginosa 44T1, Aspergillus spp có khả
năng sản xuất phospholipid
3.2.4 Các lipid trung tính
3.2.5 Các lipopetid và các lipoprotein
Các chất vừa có đặc tính kháng sinh vừa có hoạt tính bề mặt như
gramicidin S do Bacillus brevis, polimicin do Brevibacterium polymixa
tổnghợp.[28]
Các lipid chứa ornithine do Peudomonas rubescen, Thiobacillus
thioxydans, các lipid chứa lysin do Agrobacterium tumefaciens IFO tạo ra
Loài Seratia marcescens sản xuất ra một loại aminolipid có hoạt tính bề
mặt
Chủng Bacllus subtilis ATCC21332 đã xác định có khả năng tạo ra một
loại lipopeptid có hoạt tính cao
Trang 163.2.6 Polymer
Hầu hết các CHHBMSH thuộc nhóm polymer là hỗn hợp của polysacarit
với protein, chúng là những chất có hoạt tính bề mặt có khối lượng rất lớn và
cấu trúc phức tạp Các chất tốt nhất là emulsan, liposan, manoprotein và một số
phức hợp của polysacarit-protein khác
Emulsan do Acinetobacter calcoaceticus RAG-1 tạo ra, đơn phân của nó
chứa một trisacarit liên kết với hai axit béo, nó có khả năng nhũ hoá cao các
hydrocacbon trong nước thậm chí với nồng độ rất thấp [10]
Liposan tạo ra từ Candida lipolytica, là một chất nhũ hoá ngoại bào, hoà
tan trong nước, trong cấu trúc của nó chứa 17% protein và 73% hydrocacbon,
các hydrocacbon trong liposan gồm có glucose, galactose, galactosamin, axit
galactorunic [12]
Manoprotein do Sacharomyces cerevisiae tạo ra chứa 44% manose và 17%
protein
Candida tropicalis đã sản xuất ra một loại phức hợp manan-axit béo trên
môi trường chứa ankan [25]
P aeruginosa P-20 tạo ra một peptidoglycolipid chứa 52 axit amin, 11 axit
béo, 1 đường [16]
Cyanobacterium phormidium J-1 tạo các chất CHHBM là biofloculan và
emulcyan [16]
3.2.7 Các CHHBMSH đặc biệt
Một số loài tạo ra các túi ngoại bào có tác dụng cắt hydrocacbon thành từng
phần nhỏ, đóng vai trò quan trọng trong việc vận chuyển các hydrocacbon vào
trong tế bào Các túi do chủng Acinetobacter HO1-N có đường kính 20-50 nm
chứa protein, phospholipid và lipopolysaccharid, chứa 5 phần phopholipid,
khoảng 350 phần polysaccharid [26]
Hầu hết các vi khuẩn phân huỷ hydrocacbon và gây độc có chứa các
CHHBMSH là các thành trên bề mặt tế bào, chúng bao gồm các cấu trúc như là
M protein
3.3 Khái quát quá trình tạo CHHBMSH của vi sinh vật
Để có thể biết rõ được cơ chế rõ ràng quá trình tạo chất hoạt động bề mặt
sinh học ta phải theo dõi được sản phẩm của từng giai đoạn trao đổi chất của vi
Trang 17sinh vật Nhưng trong phạm vi của bản khoá luận này chỉ xin được mô tả một
cách sơ lược về quá trình tạo ra chất hoạt động bề mặt sinh học của vi sinh vật
Nhìn chung, mỗi một loài vi sinh vật có khả năng tạo chất hoạt động bề mặt
sinh học lại có một cơ chế chuyển hoá riêng Bởi vậy nếu nói một cách cụ thể thì
phạm vi sẽ là quá rộng Ta sẽ xét cơ chế của quá trình tạo chất hoạt động bề mặt
sinh học của vi khuẩn hiếu khí
Với loại vi khuẩn hiếu khí, con đường chung là trình tự oxy hoá các
hydrocacbon thành rượu, sau đó đến andehit, các axit béo, rồi đến axetyl-CoA
hoặc axit pyruvic Từ đây tiếp tục con đường chuyển hoá trong chuỗi hô hấp của
vi sinh vật (chu trình TCA), tạo ra các axit sản phẩm có nhóm chức ưa nước
(nhóm OH hoặc C=O) Các sản phẩm của chu trình TCA sau đó kết hợp với các
thành phần của dầu thô tạo lên sản phẩm là các axit amin hoặc các lipid chung
tính gồm có một đầu ưa nước (OH hoặc C=O) và một đầu ưa dầu (-CH 2 )
Chính các cấu tử này là các chất hoạt động bề mặt sinh học
3.4 Cỏc vi sinh vật cú khả năng tạo CHHBMSH
Trong tự nhiờn cú rất nhiều cỏc vi sinh vật cú khả năng tạo CHHBMSH
Sự tạo thành CHHBMSH và chức năng của cỏc chất này thường cú liờn quan tới
sự phõn huỷ cỏc hydrocacbon Vỡ vậy, cỏc chất này chủ yếu là do cỏc vi sinh
vật cú khả năng sử dụng hydrocacbon sinh ra Tuy nhiờn, một số vi sinh vật
khỏc lại sử dụng cỏc nguồn cơ chất là cỏc hợp chất hữu cơ tan trong nước
(glucoz, glycerol, etanol…) cũng cú khả năng sinh ra CHHBMSH Một số vi
sinh vật dường như tạo ra chất này nhằm thớch nghi với cỏc điều kiện mụi
trường sống đặc biệt của chỳng, chẳng hạn như: trong cỏc bể chứa dầu, trong
đất, trong đại dương…
Người ta đó phõn lập được chủng Pseudomonas aeruginosa trong nước
bơm ộp vào giếng khoan dầu thụ ở Venuezuela [19] Chủng này cú khả năng
thớch nghi với cỏc điều kiện khắc nghiệt trong bể chứa dầu và hơn nữa, cỏc
CHHBMSH (rhamnolipit) do chủng này sinh ra lại khụng bị cỏc điều kiện đặc
biệt trong giếng khoan (pH, nhiệt độ, độ mặn, Ca2+ và Mg2+) làm mất hoạt tớnh
Chủng Bacillus SP018 cú khả năng tạo CHHBMSH ngay trong điều kiện kị khớ
ở 500C và chịu được nồng độ NaCl đến 10% Chủng Bacillus AB-2 và Y12-B
được phõn lập từ cỏt nhiễm dầu cú khả năng sinh trưởng trong mụi trường cú
chứa hydrocacbon ở nhiệt độ 500C
Trang 18Từ cỏc mẫu đất nhiễm dầu đó phõn lập được một số chủng vi sinh vật khỏc
như Rhodococcus, Bacillus pumilus [27], Arthrobacter sp MIS 38 [33] Từ cỏc
vựng ụ nhiễm nhiờn liệu đó phõn lập được cỏc chủng như Ochrobacchum
anthropii, hay từ cỏc vựng biển bị tràn dầu phõn lập được Pseudomonas
aeruginosa Cỏc chủng này khụng những cú khả năng phõn huỷ dầu mà cũn cú
khả năng tạo CHHBMSH cao
Jeneman và cộng sự đó phõn lập được chủng Bacillus licheniformis JF-2
trong một giếng khoan dầu ở vựng Carter, Oklahoma Chủng này cú khả năng
phỏt triển trong mụi trường kị khớ và làm giảm sức căng bề mặt của mụi trường
cũn 30mN/m Chủng này cũng cú thể sinh trưởng trong mụi trường cú nồng độ
NaCl lờn tới 10%, nhiệt độ nuụi cấy là 500C và pH dao động trong khoảng từ
4,6 đến 9,0 Hơn thế nữa, chỳng khụng bị ức chế bởi sự cú mặt của dầu thụ Vỡ
vậy, chủng này cú tiềm năng để sử dụng trong phương phỏp tăng cường thu hồi
dầu nhờ vi sinh vật
Người ta ước tớnh, trong cỏc giếng dầu ở Mỹ, khoảng 50-70% cỏc vi sinh
vật cú thể sinh trưởng được ở pH từ 4-8, nhiệt độ dưới 750C, nồng độ NaCl
khoảng 10% và cú thể sinh trưởng được cả trong điều kiện kị khớ hoặc vi hiếu
khớ [19]
CHHBMSH do vi sinh vật sinh ra cú thể là chất ngoại bào hay chớnh bản
thõn tế bào, trong một số trường hợp cỏc chất này cú tớnh khỏng sinh, do đú
chỳng cú thể phõn huỷ màng tế bào của một số vi sinh vật cạnh tranh nguồn
cacbon với chỳng Cooper phỏt hiện chủng Clostridium pasteurianum sinh một
loại mỡ chung tớnh ngoại bào, chất này cú thể làm giảm sức căng bề mặt của
mụi trường từ 72mN/m xuống cũn 55mN/m Yakimov và cộng sự [38] đó phõn
lập được chủng Bacillus licheniformis BAS50, chủng này cú thể sinh trưởng kị
khớ trờn mụi trường cú bổ sung đường glucoz và 0.1% NaCl và sinh
CHHBMSH cú tờn là lichenysin Kinsinger và cộng sự [21] đó phỏt hiện một
chủng Bacillus subtilis cú khả năng sinh CHHBMSH ngoại bào cú bản chất là
surfactin, chất này cú khả năng khỏng vi nấm
Cỏc loài vi sinh vật khỏc nhau cú thể tạo ra cỏc loại CHHBMSH cú bản
chất hoỏ học và trọng lượng phõn tử khỏc nhau Người ta đó tỏch chiết và mụ tả
được bản chất hoỏ học của một số CHHBMSH do một số chủng vi sinh vật tạo
ra Banat đó tổng kết được một số vi sinh vật cú khả năng sinh CHHBMSH và
Trang 19Tên vi sinh vật Tên CHHBMSH được tạo thành
Arthrobacter RAG-1 Heteropolysaccarit
Arthrobacter MIS38 Lipopeptit
Arthrobacter Trechaloz, xaccaroz, fructoz
Bacillus licheniformis JF-2 Lipopeptit
Bacillus pumilus A1 Surfactin
Bacillus sp C-14 Hiđrocacbon-lipit - protein
Candida antarctica Mannosylethritol lipit
Candida bombicola Sophoroz lipit
Candida lipolytica Y-917 Sophoroz lipit
Clostridium pasteuriannum Lipit chung tính
Corynebacterium hiđrocarbolastus Protein-lipit-cacbohiđrat
Corynebacterium insidiosum Photpholipit
Corynebacterium lepus Axit béo
Chủng MM1 Glucoz, lipit, và axit hiđroxidecanoic
Nocardia erythropolis Mỡ chung tính
Ochrobacchum anthropii Protein
Penicillum spiculisporum Axit spiculosporic
Pseudomonas aeruginosa Rhamnolipit
Pseudomonas fluorescens Lipopeptit
Phaffia rhodozyma Cacbohiđrat-lipit
3.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sản xuất CHHBMSH
a Nguồn cacbon
Trang 20Chất HHBMSH được sản xuất bởi nhiều các sinh vật khác nhau và chúng
cũng có những cấu trúc rất khác nhau, tuy nhiên có một số các hiện tượng chung
liên quan tới việc tổng hợp chúng:
Thứ nhất là việc sản xuất CHHBMSH có thể do các hydrocacbon hoặc các
cơ chất không tan trong nước Hiện tượng này được nhắc đến bởi nhiều tác giả
với nhiều CHBMSH [30,16]
Hiện tượng dễ thấy khác là sự kìm hãm tổng hợp CHHBMSM bởi gluco và
một số các chất trao đổi khác [16] Trong trường hợp của Athrobacter
paraffineus I, CHHBMSH không được tạo ra khi thay thế hexan bằng gluco
[22] Một chủng thuộc loài Pseudomonas aeruginosa đã sản xuất ra một chất
giống protein trên nguồn hydrocacbon nhưng không tạo ra trên gluco, glycerol,
axit palmitic [22] Loài Torulopsis petrophilum không tạo ra bất cứ một
glucolipid nào khi nuôi trên môi trường đồng pha chứa bất cứ nguồn cacbon hoà
tan trong nước nào Đối với chủng P aeruginosa khác khi nuôi trên môi trường
chứa glycerol nếu thêm gluco, acetat, succinat, citrat thì sản lượng rhamnolipid
giảm mạnh
Nhiều loài vi sinh vật đã được biết là sẽ tổng hợp nhiều loại CHHBM khác
nhau khi nuôi trên vài nguồn cacbon [32]
Có nhiều ví dụ về việc sản xuất CHHBMSH trên các nguồn cacbon hoà tan
trong nước như ở Pseudomonas sp đã sản xuất CHHBMSH trên các nguồn
cacbon hoà tan trong nước như glycerol, gluco, manitol, ethanol [30]
Nhiều tác giả đã chứng minh rằng sản lượng CHHBMSH tạo ra ít khi nuôi
vi sinh vật trên các nguồn cacbon nào đó trong môi trường, chỉ khi nào nguồn
cacbon này hết, khi đưa vào nguồn cacbon không hoà tan trong nước sẽ thúc đẩy
tạo CHHBMSH [8] Việc tạo glucolipid bởi Torulospos bombiloca được kích
thích khi thêm dầu ăn vào trong môi trường nuôi cấy chứa 10% D – gluco [16]
Davis cùng các cộng sự đã chứng minh khi thêm ethyl este của một loại axit béo
vào môi trường chứa gluco thì sản lượng sopholipid ở chủng C bombicola
CBS6009 tăng Khi sản xuất glucolipid ở chủng T apicola TMET73747, Stuwer
cùng các cộng sự đã thu được sản lượng lên tới 90g/l trên môi trường chứa gluco
và dầu hướng dương [16]
b Nguồn nitơ
Nguồn nitơ là một yếu tố quan trọng điều khiển sinh tổng hợp CHHBMSH
Trang 21Athrobacter paraffineus ATCC 19558, nguồn ure cũng làm tăng sản lượng
CHHBMSH Nguồn NO3 tạo ra sản lượng lớn CHHBMSH ở P aeruginosa và
Rhodoccocus sp [16]
Sản lượng CHHBM tăng ở A paraffineus khi thêm các axit amin như: axit
glutaric, axit asparagin, hay glycin vào môi trường
Cấu trúc của surfactin cũng bị ảnh hưởng bởi nồng độ L- aa tạo ra surfactin
Val-7 hay Leu-7 [16]
Với chủng B lichenniformis BAS50 sản lượng lichennysin A tăng gấp hai
đến bốn lần khi thêm L-glutaric và L-asparagin vào môi trường
Robert cùng các cộng sự đã chứng minh rằng NO3 là nguồn nitơ tốt nhất
cho việc sản xuất CHHBMSH ở chủng Pseudomonas 44TL và Rhodococus
ST-5 sinh trưởng trên dầu ôliu và paraffin
Sản lượng CHHBM cũng tăng bằng việc giới hạn nguồn nitơ;
P aeruginosa, Norcardia, C tropicalis đã tăng sản lượng CHHBM cùng
với hoạt động tổng hợp glutamic khi chuyển sang giai đoạn sinh trưởng chậm
lại, lúc mà môi trường hết nguồn nitơ
Syldatle cùng các cộng sự đã chứng minh rằng việc giới hạn nguồn nitơ
không chỉ làm tăng sản lượng CHHBMSH mà còn làm thay đổi thành phần của
CHHBMSH
Guerra-Santos cùng các cộng sự chỉ ra rằng việc tạo rhamnolipit là cực đại
khi tỉ lệ C: N là 16:1 đến 18:1, không tạo ra khi tỉ lệ này là 11:1 [20]
c Các yếu tố khác
Một sự thay đổi trong môi trường nuôi cấy cũng làm tăng sản lượng
CHHBMSH
Kiểu loại, sản lượng và hoạt tính CHHBMSH cũng bị ảnh hưởng không chỉ
bởi các nguồn cacbon khác nhau mà còn bởi nồng độ, nguồn nitơ, photpho, các
ion Mg, Fe trong môi trường, điều kiện nuôi cấy, pH, nhiệt độ, tốc độ lắc và tỉ lệ
pha loãng các chất trong môi trường [21]
Trong một số trường hợp, khi thêm các ion đa hoá trị vào môi trường ảnh
hưởng dương tính tới sản lượng CHHBM
Một số các chất như etabutol, penicillin, cloramphenicol, EDTA cũng ảnh
hưởng tới việc tạo thành CHHBM Đó là do các yếu tố này ảnh hưởng tới độ
hoà tan của các nguồn cacbon [35]
Trang 22Một số trường hợp quá trình tổng hợp CHHBM lại bị ảnh hưởng bởi nhiệt
độ, pH thông qua sự tác động của các yếu tố này tới hoạt động sinh trưởng của
tế bào
pH đóng vai trò quan trọng trong việc tạo rhamnolipit ở Pseudomonas sp.,
CHHBMSH tạo ra cực đại ở pH = 6 đến 6,5 và giảm mạnh khi pH =7 [19]
Khả năng tạo cellobioselipit ở Ustilago maydis [18] và tạo sophorolipit ở
Torulospos bombicola bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi yếu tố pH [13]
Trong trường hợp chủng Athrobacter paraffineus ATCC19558,
Rhodotorula erythropolis, Pseudomonas sp DSM2874 nhiệt độ lại đóng vai trò
quan trọng Loài Bacillus chịu nhiệt cao chỉ tạo CHHBM khi nhiệt độ trên 40oC
Tốc độ lắc cũng ảnh hưởng tới sản lượng CHHBM, ở chủng Norcardia
erythropolis, sản lượng CHHBM giảm khi tăng tốc độ lắc do nó tác động tới
hoạt động phân chia tế bào, còn ở nấm men sản lượng lại tăng khi tốc độ lắc và
mức độ kị khí tăng [29]
Nồng độ muối cũng ảnh hưởng nhiều tới quá trình sản xuất CHHBM do
ảnh hưởng tới hoạt động của tế bào Đa số các trường hợp khi nồng độ muối
tăng thì khả năng tạo CHHBM giảm Tuy nhiên trong một số trường hợp sản
lượng CHHHBM không bị ảnh hưởng khi nồng độ muối lên tới 10% mặc dù
nồng độ mixen tối thiểu giảm nhẹ [6]
3.6 Một số ứng dụng của CHHBMSH
* Ưu điểm của CHHBMSH so với CHHBMHH
CHHBMSH tạo ra từ con đường lên men sinh học, cấu tạo của chúng rất
khác so với các CHHBMHH, tuy nhiên chúng cũng gồm hai đầu kị nước và ưa
nước và hoạt tính của chúng cũng không kém CHHBMHH Nhưng CHHBMSH
lại có những ưu điểm mà CHHBMHH không thể sánh kịp, quyết định khả năng
ứng dụng của nó trong rất nhiều ngành công nghiệp, và đang có xu hướng thay
thế dần các CHHBMHH Đó là các đặc điểm:
- Dễ phân huỷ sinh học: CHHBMHH khi bổ sung vào trong mỏ khó bị
phân huỷ trong điều kiện vỉa, gây ô nhiễm môi trường dầu khí do lẫn các cấu tử
không mong muốn làm giảm chất lượng dầu CHHBMSH tạo ra từ nguồn vi
sinh vật nên độ tinh khiết cao, hoạt tính của chúng lại không kém các
CHHBMHH Ví dụ điển hình cho trường hợp này là ảnh hưởng của CHHBMSH
Trang 23được nghiên cứu bởi Marar và Rockne: khi thêm một số CHHBMHH vào có thể
kìm hãm sự phân huỷ các hợp chất thơm do có ảnh hưởng gây độc, kích thích vi
sinh vật phân huỷ CHHBMHH hay cô lập các hydrocacbon trong mạch micxen
CHHBM, còn CHHBMSH cho thấy có những ảnh hưởng tốt như CHHBMHH
nhưng chúng có thể bị phân huỷ, không độc và nhiều CHHBMSH không tạo cấu
trúc micxen do đó rất thuận lợi cho việc kết hợp các hợp chất thơm với vi khuẩn
[34]
- Các chất HHBMSH có thể sản xuất từ các nguồn vật liệu rẻ tiền, sẵn có,
với số lượng lớn Nguồn cacbon có thể là các hydrocacbon, lipit, các nguồn cơ
chất phế thải của các ngành công nghiệp khác như rỉ đường, dầu cặn do đó nó
mang lại hiệu quả kinh tế cao mà lại xử lí được ô nhiễm do các phế thải này gây
ra với môi trường [31]
- Việc sản xuất CHHBMSH đơn giản hơn nhiều CHHBMHH Chúng được
tạo ra bằng con đường lên men nhờ vi sinh vật cho nên thiết bị đơn giản, đỡ tốn
kém mà lại không sử dụng các hoá chất độc hại như sản xuất CHHBMHH
Do không độc, dễ dàng bị phân huỷ, giá thành sản xuất rẻ nên chúng được
ứng dụng trong xử lí môi trường mà CHHBMHH không thể xử lí triệt để: xử lí
dầu tràn, tăng cường khả năng phân huỷ các hợp chất độc hại cho môi trường,
chuyển chúng thành các yếu tố tích cực cho môi trường như sản xuất phân bón
từ mùn khoan phế thải, các hợp chất thơm
Với những đặc tính không độc hại, dễ bị phân huỷ, dễ tiêu hoá mà
CHHBMSH được sử dụng trong các ngành công nghiệp đặc biệt khác như mĩ
phẩm, dược phẩm, thực phẩm mà CHHBMHH khó có thể bì kịp
* Một số ứng dụng của CHHBMSH
CHHBMSH là một nhóm đa cấu trúc, chúng có những đặc tính hơn hẳn các
CHHBMHH như đã nói ở trên cho nên chúng được ứng dụng trong rất nhiều
ngành công nghiệp khác nhau Công nghiệp dầu mỏ là một ngành ứng dụng
rộng rãi các chất hoạt hoá bề mặt trong khai thác cũng như là xử lí môi trường,
CHHBMSH đã tỏ ra có ưu thế và tiềm năng trong ngành công nghiệp này Sau
đây chúng tôi xin trình bày một số các ứng dụng quan trọng của nó
a Nâng cao hiệu suất khai thác dầu (MEOR)
Đây là một ứng dụng quan trọng nhất của nó trong ngành công nghiệp dầu
mỏ
Trang 24Cơ chế của phương pháp MEOR bao gồm:
1 Tạo axit hoà tan phần đá bao bọc dầu, tăng độ rỗng và tính thấm của vỉa,
tạo khí, do đó làm giảm độ nhớt của dầu và tăng áp suất vỉa
2 Tạo các axit hữu cơ hay các chất HHBM, biopolyme làm giảm sức căng
bề mặt giữa dầu và nước dẫn đến làm tăng độ linh động của dầu
CHHBMSH có thể được sản xuất từ ngoài (ex situ) rồi bổ sung vào trong
mỏ hay tạo ra ngay trong mỏ (in situ) Trong cả hai trường hợp, CHHBMSH đều
làm tăng lượng dầu khai thác từ mỏ lên tới 60 đến 70% mà bằng phương pháp
bơm ép thông thường chỉ khai thác được khoảng 30% nguồn dầu trong mỏ Sự
có mặt của CHHBM làm giảm sức căng bề mặt giữa vùng dầu nước do đó kích
thích dòng dầu chảy
Để sản xuất CHHBM từ ngoài, CHHBM được tiến hành lên men, thu
CHHBM hay đơn giản là cô đặc dịch nuôi cấy và sau đó là bơm xuống giếng
Quá trình sản xuất ex situ phải được tiến hành với số lượng lớn, dưới điều kiện
tối ưu, cung cấp đầy đủ không khí cho quá trình lên men Quá trình này có thể
sử dụng các cơ chất rẻ tiền như các phế thải của các ngành công nghiệp nên vừa
hạ giá thành sản phẩm vừa giảm ô nhiễm cho môi trường [31]
Một áp dụng hợp lí và hấp dẫn hơn là sản xuất CHHBMSH ngay trong mỏ
(in situ) bằng cách cung cấp chất dinh dưỡng cho quần thể vi sinh vật nội tại
trong mỏ hay nuôi giống từ bên ngoài trộn cùng với môi trường dinh dưỡng rồi
bơm vào trong giếng Tuy nhiên khi sản xuất theo cách thức này thường gặp
những khó khăn nhất định ảnh hưởng tới sự sinh trưởng của vi sinh vật thậm chí
kìm hãm sinh trưởng và sinh tổng hợp CHHBM như: nhiệt độ mỏ quá cao, áp
suất lớn, pH, độ mặn và kim loại nặng, khó khăn lớn nhất là thiếu oxy và việc
luân chuyển chất dinh dưỡng trong mỏ Do đó, để phương pháp MEOR này
thành công thì phải lựa chọn được các chủng có khả năng chịu đựng được các
điều kiện khó khăn trong mỏ
Phương pháp MEOR đã được nhiều nước áp dụng thành công
Clark cùng các cộng sự đã xác định có khoảng 27% mỏ dầu ở Mĩ thích hợp
cho vi sinh vật phát triển và ứng dụng phương pháp MEOR Phương pháp
MEOR cũng đã được thông báo thành công trong nhiều nghiên cứu ở Nga, Cộng
hoà Séc, Rumani, Mĩ, Hungary, Balan, Hà Lan, Nam Tư
Trang 25Nước ta hiện đã ứng dụng phương pháp này, năm 1998 Lại Thuý Hiền
cùng các cộng sự đã thử nghiệm phương pháp MEOR trên hiện trường khu vực
mỏ dầu Bạch Hổ- Vũng Tàu và thu được kết quả tốt, số lượng vi khuẩn khử
sunphat giảm đi, năng suất khai thác dầu tăng lên có giếng tăng tới 200%
b Phân huỷ các hydrocacbon
Một ứng dụng quan trọng khác của CHHBMSH đó là trong xử lí môi
trường ô nhiễm hydrocacbon
- Phân huỷ các hydrocacbon trong đất:
Các nghiên cứu về quá trình phân huỷ hydrocacbon trong đất đã được
thông báo rộng dãi Khả năng phân huỷ phụ thuộc vào sự có mặt của các vi sinh
vật phân huỷ, thành phần hydrocacbon, O2, nhiệt độ, pH, nước, các chất dinh
dưỡng và trạng thái vật lí của các hydrocacbon Khi thêm CHHBM sinh học hay
tổng hợp vào trong môi trường sẽ làm tăng tính lưu biến và độ hoà tan của các
hydrocacbon, điều này rất cần cho quá trình phân huỷ
Các thử nghiệm khi bổ sung CHHBMSH để phân huỷ các hydrocacbon đã
đem lại nhiều thành công:
Lindley và Heydeman nuôi nấm Cladosporium resinae trên hỗn hợp ankan,
chủng này có khả năng sản xuất ra một loại CHHBM gồm các axit béo,
phospholipid, nhưng chủ yếu là axit dodecacnoic và phosphatidylcloline Khi bổ
sung phosphatidylcloline vào môi trường nuôi cấy chứa hỗn hợp các ankan này
đã làm tăng tốc độ phân huỷ ankan lên 30%
Foght cùng các cộng sự đã chứng minh chất emulsan kích thích quá trình
phân huỷ của dịch chứa đơn chủng vi khuẩn nhưng lại kìm hãm khi môi trường
chứa hỗn hợp các chủng vi khuẩn
Oberbremer và Muller-Harting sử dụng quần thể vi sinh đất để đánh giá
khả năng phân huỷ dầu thô, trong đó naphthalen bị phân huỷ đầu tiên, các thành
phần khác chỉ bị phân huỷ khi các CHHBM được tạo ra làm giảm sức căng bề
mặt giữa dầu và nước
Khi thêm CHHBM như một số sophorolipit vào môi trường chứa hỗn hợp
các hydrocacbon thì sẽ làm tăng phân huỷ cả số loại lẫn số lượng các
hydrocacbon
Một vài chủng vi khuẩn kị khí cũng sản xuất CHHBMSH nhưng khả năng
làm giảm sức căng bề mặt không bằng các vi khuẩn hiếu khí
Trang 26Bergetal đã sử dụng CHHBMSH do chủng P aeruginosa UG2 làm tăng độ
hoà tan của hexachlorobiphenyl lên 31% gấp 3 lần khi sử dụng CHHBM hoá
học là 9,3% Khi cả hai chất này cùng sử dụng thì hiệu quả hoà tan tăng lên
41,5%
Chủng Pseudomonas cepacia AC1100 tạo ra một loại chất nhũ hoá có khả
năng tạo thể huyền phù với 2,4,5-T và cũng nhũ hoá một số các clorophenol, do
đó CHHBM này được sử dụng để tăng cường khả năng phân huỷ của các chất
hữu cơ chứa clo [30]
- Phân huỷ các hydrocacbon trong môi trường nước:
Khi dầu bị tràn ở môi trường nước, các thành phần HRCB nhẹ bay hơi còn
các HRCB không phân cực thì không hoà tan trong nước Do có độ hoà tan thấp
(<1ppm) và tỉ trọng nhỏ hơn nước nên hầu hết các thành phần HRCB tồn tại trên
bề mặt nước Các vi sinh vật có khả năng phân huỷ HRCB đã được phân lập
trong môi trường nước, các vi sinh vật này bị kích thích hoạt động nhũ hoá khi
môi trường nhiễm dầu
Chakrabartu đã thông báo rằng chất nhũ hoá do P aeruginosa SB30 làm
tăng khả năng thu gom dầu, rất có ích để xử lí các bờ biển bị nhiễm dầu
CHHBM từ vi khuẩn còn được ứng dụng để làm sạch các thùng, kho chứa
dầu và nhiều ứng dụng khác CHHBM emulsan do chủng Acinetobacter
calcoaceticus RAG-1 sinh ra sử dụng trong công nghiệp dầu khí làm giảm cặn
dầu trong thùng chứa, giảm độ nhớt của dầu nặng, tạo chất nhũ hoá phục vụ
nhiều lĩnh vực khác [30]
Trang 27CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 VẬT LIỆU
1.1 Nguyên liệu
Mùn khoan lấy từ mỏ Bạch Hổ –Vũng Tàu
Các chủng vi khuẩn nhận từ phòng vi sinh vật dầu mỏ
1.2 Hoá chất và môi trường nuôi cấy
1.2.1 Môi trường hiếu khí tổng số 1% (g/l)
Thạch
KH2PO4 NaCl KCl MgCl2
NH4 NO3 Glucoza Pepton Cao thịt Cao men Nước máy
pH
20
1
10 0,25 1,2
2
1
5
3 0,2
1 lít 7-7,2
Việt Nam Việt Nam Việt Nam Việt Nam Việt Nam Việt Nam Trung Quốc Nga Đức Đức
1.2.2 Môi trường khoáng Gost cho vi khuẩn (g/l):
3 0,4
1 lít
pH và nồng độ NaCl chỉnh theo từng thí nghiệm
Các loại dầu: DO, saralin, dầu thô, parafin, dầu oliu
Các môi trường được khử trùng riêng với các loại dầu ở 1 atm trong thời
gian 30 phút