Trên thế giới cũng như Việt Nam ựã có nhiều công trình nghiên cứu về: Vòng ựời, ựặc ựiểm sinh lý, sinh hoá, kỹ thuật sinh sản nhân tạo, sự tác ựộng của các yếu tố môi trường như nhiệt ựộ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
- -
HOÀNG HỒNG CHUNG
NGHIÊN CỨU THĂM DÒ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
KỸ THUẬT NHẰM NÂNG CAO TỶ LỆ SỐNG TRONG
SẢN XUẤT GIỐNG NHÂN TẠO CUA XANH Scylla serrata
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Nuôi trồng thuỷ sản
Mã số: 60.62.70 Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Huy ðiền
HÀ NỘI - 2008
Trang 2LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và chưa ñược sử dụng ñể bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam ñoan rằng, mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận văn này
ñã ñược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn ñều ñược chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Hoµng Hång Chung
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin ñược trân trọng cảm ơn Trường ðại học Nông nghiệp
Hµ Néi, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thuỷ sản 1, ñặc biệt là dự án NORAD
và dự án AIT ñã tạo cơ hội cho chúng tôi, những học viên lớp cao học nuôi trồng thuỷ sản có ñược khoá học này
Tôi xin ñược gửi lời cảm ơn trân trọng ñến các thầy cô, những người ñã tận tâm mang lại cho tôi kiến thức không chỉ trong học tập mà cả trong cuộc sống và công việc
Tôi xin ñược bày tỏ lòng biết ơn ñặc biệt ñến Tiến sỹ Nguyễn Huy ðiền, Thạc sỹ Nguyễn Cơ Thạch những người thầy ñã hướng dẫn hết sức tận tình cho tôi trong thời gian học, thời gian thực tập Những góp ý hết sức quý báu của các thầy ñã giúp tôi hoàn thành bản luận văn này
Xin ñược gửi lời biết ơn ñến toàn thể cán bộ, công nhân Trại giống thuỷ sản Hải Yến ñã cùng tôi trải qua nhiều gian khó trong quá trình triển khai và thực hiện các nội dung ñề tài tại Trại
Tôi xin ñược tỏ lòng biết ơn ñến Trung tâm Khuyến ngư Thanh Hoá, Sở Thuỷ sản Thanh Hoá ñã tạo ñiều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ðOAN ii
LỜI CẢM ƠN iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ðẦU 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 ðặc ñiểm sinh học sinh sản của cua xanh: 3
1.1.1 Vị trí phân loại: 3
1.1.2 Kích thước thành thục (Kích thước giao phối) 5
1.1.3 ðẻ trứng và thụ tinh: 6
1.1.4 Mùa vụ ñẻ trứng và tính chu kỳ: 7
1.1.5 Sự phát triển của phôi .9
1.1.6 Vòng ñời của cua Xanh và các giai ñoạn biến thái của ấu trùng 10
1.1.7 Vài nét về dinh dưỡng và thức ăn của ấu trùng cua xanh: 11
1.1.7.1 Nghiên cứu về nhu cầu protein và năng lượng: 11
1.1.7.2 Thức ăn cho ấu trùng cua xanh 14
1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu sản xuất giống cua Xanh 20
1.2.1 Tình hình nghiên cứu sản xuất giống cua Xanh trên thế giới 20
1.2.2 Tình hình nghiên cứu sản xuất giống cua xanh ở Việt Nam .21
CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 ðối tượng, ñịa ñiểm và thời gian nghiên cứu: 23
2.1.1 ðối tượng nghiên cứu .23
2.1.2 ðịa ñiểm nghiên cứu 23
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 23
2.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 23
Trang 52.2.1 Bố trí thí nghiệm ương ấu trùng giai ñoạn Zoae1 và Zoae 2 bằng các
loại thức ăn khác nhau .23
2.2.2 Bố trí thí nghiệm ương ấu trùng giai ñoạn Zoae 3 – Zoae 5 bằng các loại thức ăn khác nhau .24
2.2.3 Bố trí thí nghiệm ương ấu trùng giai ñoạn Megalope – cua bột (cua1) .25
2.3 Phương pháp cường hoá rotifer và artemia (làm giàu) 25
2.3.1 Phương pháp cường hoá rotifer 26
2.3.2 Phương pháp cường hoá Artemia 26
2.4 Phương pháp xác ñịnh các yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm 26
2.5 Phương pháp xử lý số liệu .27
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
3 1 Một số yếu tố môi trường của hệ thống thí nghiệm: 29
3.2 Ảnh hưởng của thức ăn ñến tỷ lệ sống ấu trùng cua Xanh (Sylla serrata)31 3.2.1 Ảnh hưởng ñến tỷ lệ sống ở giai ñoạn Zoae 1 và Zoae 2 31
3.2.2 Ảnh hưởng ñến tỷ lệ sống ở giai ñoạn Zoae 3 – Cua (bột) .33
3.2.2.1 Giai ñoạn Zoae3-Zoae4 33
3.2.2.2 Giai ñoạn Zoae4-Zoae5: 34
3.2.2.3 Giai ñoạn từ Zoae5-Megalope: 34
3.2.2.5 Giai ñoạn Megalope-Cua: 34
3.3 Ảnh hưởng của thức ăn ñến thời gian lột xác biến thái ấu trùng cua Xanh 37
3.3.1 Ảnh hưởng ñến thời gian lột xác biến thái của ấu trùng ở giai ñoạn Zoae1 và Zoae 2 .37
3.3.2 Ảnh hưởng ñến thời gian lột xác chuyển giai ñoạn biến thái ấu trùng giai ñoạn từ Zoae3 – Cua (bột) .39
Trang 63.4 Ảnh hưởng của giá thể ñến tỷ lệ sống và thời gian lột xác biến thái
chuyển giai ñoạn ấu trùng giai ñoạn Megalope-Cua (bột) 41
3.4.1 Ảnh hưởng ñến tỷ lệ sống của ấu trùng giai ñoạn từ Megalope-Cua (bột) 41
3.4.2 Ảnh hưởng ñến thời gian lột xác chuyển giai ñoạn ở ấu trùng từ Megalope-Cua (bột) 43
CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN VÀ ðỀ XUẤT 44
4.1 Kết luận: 44
4.2 ðề xuất: 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
Tài liệu tiếng Việt: 45
Tài liệu tiếng Anh: 46
PHỤ LỤC 49
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Kích thước thành thục tối thiểu của loài cua Xanh ở một số vùng ñịa
lý 5
Bảng 1.2 Mùa vụ ñẻ trứng của cua Xanh (Scylla (sp)) ở vùng Tây Ấn ðộ – Thái Bình Dương 8
Bảng 1.3: Tóm tắt quá trình phát triển phôi cua Xanh 9
Bảng 1.4 Các chỉ tiêu hình thái bên ngoài căn cứ phân loại các giai ñoạn phát triển của ấu trùng Zoae 10
Bảng 1.5 Thành phần dinh dưỡng của 1 số loài vi tảo 15
Bảng 1.6 Thành phần dinh dưỡng của Rôtifer 16
Bảng 1.7 Thành phần (% của chất khô) của các bào xác Artemia 17
ñã khử vỏ và các nauplius ở giai ñoạn Instar I .17
Bảng 1.8 Thành phần dinh dưỡng của Artemia ñược và không ñược làm giàu 19 Bảng 1.9 Thành phần dinh dưỡng (% trọng lượng khô) và năng lượng thô (J/mg) trong thức ăn sống) 19
Bảng 3.1 Các yếu tố môi trường trong hệ thống bể thí nghiệm 29
Bảng 3.2 Tỷ lệ sống(%) của ấu trùng giai ñoạn Z 1 và Z 2 31
Bảng 3.3 Tỷ lệ sống (%) của ấu trùng giai ñoạn Z3 ñến giai ñoạn Cua (bột) 36 Bảng 3.4 Thời gian lột xác biến thái ấu trùng Zoae1 và Zoae2 (ngày) 37
Bảng 3.5 Thời gian lột xác biến thái ấu trùng Zoae3 – Cua (bột) (ngày) 40
Bảng 3.6 Tỷ lệ sống (%) của ấu trùng Megalope - Cua (bột) 42
Bảng 3.7 Thời gian lột xác biến thái chuyển giai ñoạn ở ấu trùng Megalope-Cua (bột) khi bổ sung lưới vào làm giá thể (ngày) 43
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Cua Xanh 4Hình 1.2 Cơ quan giao phối của cua ñực 8Hình 3.1 Tỷ lệ sống(%) của ấu trùng giai ñoạn Zoae1 và Zoae2 ở các công
thức thức ăn 33Hình 3.2 Biểu thị về tỷ lệ sống % của ấu trùng cua Xanh trong các CTTN ở
các giai ñoạn Zoae3 – Cua (bột) .36Hình 3.3 Biểu thị thời gian lột xác biến thái chuyển giai ñoạn ấu trùng giai
ñoạn Zoae1-Zoae2.(ngµy) 37Hình 3.4 Biểu thị thời gian lột xác biến thái chuyển giai ñoạn ấu trùng giai
ñoạn Zoae3-Cua (bột)Ngµy 41Hình 3.5 Biểu thị về tỷ lệ sống (%) của giai ñoạn ấu trùng giai ñoạn
Megalope-Cua (bột) khi bổ sung lưới vào làm giá thể 42Hình 3.6 Biểu thị về thời gian lột xác chuyển giai ñoạn của giai ñoạn ấu trùng
Megalope-Cua (bột) khi bổ sung lưới vào giá thể (ngày) 43
Trang 9MỞ đẦU
Cua Xanh (Scylla serrata) có kắch thước lớn, ựược coi là ựặc sản bởi
hàm lượng mỡ thấp, protein cao, dồi dào về vi khoáng và vitamin, là ựối tượng nuôi có giá trị xuất khẩu ở nhiều nước đông Nam Á và một số nước khác, ựồng thời là nguồn thu nhập quan trọng cũng như nguồn thực phẩm tươi sống cho cộng ựồng ngư dân ven biển
Trên thế giới cũng như Việt Nam ựã có nhiều công trình nghiên cứu về: Vòng ựời, ựặc ựiểm sinh lý, sinh hoá, kỹ thuật sinh sản nhân tạo, sự tác ựộng của các yếu tố môi trường như nhiệt ựộ, ựộ mặn cũng như nhu cầu dinh dưỡng ựến sự phát triển của các giai ựoạn phôi và ấu trùng cua xanh [6]
Ở Việt Nam, trong những năm ựầu 1980, các tác giả như Nguyễn Văn Chung [1], Serene, Starobogalov, tập trung nghiên cứu về ựịnh dạng loài và một số ựặc ựiểm sinh học đến những năm ựầu thập thập kỷ chắn mươi, các tác giả như Hoàng đức đạt, đoàn Văn đẩu, Nguyễn Cơ Thạch ựã tắch cực nghiên cứu các ựặc ựiểm sinh học sinh sản và sản xuất giống nhân tạo ựối tượng này song kết quả còn hạn chế [2], [5] Năm 2001, Nguyễn Cơ Thạch thực hiện thành công trong nghiên cứu sản xuất nhân tạo giống cua Xanh, tỷ
lệ sống từ giai ựoạn ựầu ấu trùng ựến giai ựoạn cua giống ựạt trung bình 4,09% [6], ựây là lần ựầu tiên Việt Nam sản xuất cua giống nhân tạo Từ kết quả nghiên cứu tác giả ựã xây dựng quy trình sản xuất nhân tạo giống cua biển
Việt Nam có nguồn lợi cua biển phong phú, những năm gần ựây do nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu tăng lên, nghề nuôi cua ựã phát triển ở nhiều ựịa phương trong cả nước, mô hình nuôi một vụ cua một vụ tôm, chắnh
vì thế mà nghề nuôi cua ựã nảy sinh khó khăn lớn là giải quyết nguồn cua giống
Trang 10ðến nay, quy trình ñã ñược chuyển giao, ứng dụng sản xuất giống cua trên diện rộng Tuy nhiên, tỷ lệ sống ñến giai ñoạn cua giống vẫn chưa ñược nâng cao và thường không ổn ñịnh, nguyên nhân có thể là: ấu trùng cua rất hung dữ, chúng hay cắn nhau ñặc biệt trong bể ương với mật ñộ cao Việc chỉ
sử dụng một loại thức ăn là artemia trong suốt quá trình ương chưa ñảm bảo ñược nhu cầu dinh dưỡng của ấu trùng cua xanh Như vậy, nếu giải quyết ñược 2 vấn ñề làm thế nào ñể ấu trùng cua không cắn nhau và ña dạng hoá các thành phần dinh dưỡng trong khẩu phần thức ăn cho ấu trùng thì có thể nâng cao tỷ lệ sống của cua giống
Xuất phát từ những cơ sở thực tiễn, chúng tôi tiến hành thực hiện ñề tài
“Nghiên cứu thăm dò một số giải pháp kỹ thuật nhằm nâng cao tỷ lệ sống
trong sản xuất gièng nhân tạo cua xanh Scylla serrata”
Mục tiêu nghiên cứu:
Nhằm nâng cao tỷ lệ sống trong sản xuất giống nhân tạo cua xanh từ giai ñoạn ấu trùng Zoae 1 ñến giai ñoạn cua bột
Nội dung nghiên cứu:
Theo dõi các yếu tố môi trường (NO2-N; NO3-N; NH4-N; pH; T0)
Trang 11CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 ðặc ñiểm sinh học sinh sản của cua xanh:
1.1.1 Vị trí phân loại:
Khoá phân loại:
Ngành: Arthropoda
Lớp: Crustacea Lớp phụ: Nalacostraca Bộ: Decapoda Họ: Portunidae Giống: Scylla
Loài: Scylla serrata (Forskal, 1775) Nhiều tác giả cho rằng giống cua Xanh chỉ có một loài: S serrata
(Forskal, 1775) Nhưng Estampdor, (1949) ñã tách loài cua này thành 4 dạng:
S serrata; S oceanica, S tranquebarica (Farb) và S var paramamosian Estampador
Vào các năm 1997, 1998 một số nhà khoa học như: Tiến sĩ Ketut Sugama và Jhon H Hutapca, tiến sĩ Clive P Keenan ñã nghiên cứu về ñặc ñiểm di truyền kết hợp với ñặc ñiểm hình thái bên ngoài ñể xác ñịnh các loài
trong giống Scylla[25], Kết quả này ñã làm rõ thêm một số chỉ tiêu phân loại
ñể xác ñịnh chính xác từng loài mà các tác giả trước ñây ñã công bố, ñó là
loài S serrata (Forskal, 1775), S traquebarcia (Fabricius, 1798), S olivacea (Herbst, 1796) và loài S var paramamosain (Estampador, 1949)
Nguyễn Cơ Thạch, (2001) cho rằng ở Miền Trung Việt Nam có thể có 3
loài cua Xanh: S var paramamosian; S olivacea; S traquebarica, nhưng phổ biến là S var paramamosain (chiếm 98% trên số mẫu thu ñược)
Trang 12Hình 1.1: Cua Xanh ðặc ñiểm mô tả:
- Màu sắc: Mặt lưng cua có màu Xanh của lá sú vẹt già hay gần giống với màu xanh bùn, mặt bụng có màu vàng trắng, ñôi chân bò thứ nhất (ñôi càng) có kích thước gần bằng nhau, mặt lưng của càng có màu xanh bùn, mặt bụng có màu vàng trắng xen lẫn chấm xanh ñen
- Kích thước và khối lượng: Có kích thước tương ñối lớn có thể ñạt ñược khối lượng 2kg
- Hình thái và cấu tạo: Cơ thể cua dẹp theo hướng lưng bụng và chia làm hai phần:
+ Phần ñầu ngực: Phần ñầu và ngực cua dính liền nhau, ranh giới giữa các ñốt không rõ ràng, ñầu gồm 5 ñốt, ngực có 8 ñốt Mé trước cua giáp ñầu ngực chia thành 3 ñoạn phân cách bởi hai hố mắt, hai ñoạn mé bên có chiều dài bằng nhau, mỗi bên mé có 9 gai nhọn có kích thước lớn dần theo thứ tự tính từ hố mắt, ñoạn giữa hai hố mắt có 6 gai nhọn ñều nhau (khác với dạng cua Xanh khác có 6 gai nhưng không nhọn)
+ Phần bụng: Phần bụng dạng phiến mỏng có 7 ñốt gập vào phần giáp ñầu ngực, chân bụng bị thoái hóa không làm chức năng bơi lội, con ñực ñôi chân bụng ñầu tiên thoái hóa biến thành ñôi gai giao cấu hình mũi kiếm: riêng ñối với
Trang 13con cái, chân bụng phân thành hai nhánh có nhiều lông tơ ñể dính trứng sau khi
ñẻ
+ Các phần phụ: Anten I nằm trong hai rãnh xiên với trán, Anten II có dạng sợi nhỏ nằm ở gốc cuống mắt Hàm trên là tấm kitin lớn chắc, bờ trong không có răng: hàm dưới có dạng hình lá, lá trong nhọn, ñỉnh có nhiều lông tơ;
lá ngoài chia nhánh, chân hàm I: phần gốc có hai lá, lá trong nhỏ có nhiều lông cứng trên ñầu, lá ngoài loe rộng và mép ngoài có lông ngắn, phần ngọn chia làm hai nhánh, chân hàm II: phần ngọn chia làm hai nhánh, nhánh trong có 5 ñốt, nhánh ngoài có 3 ñốt; chân hàm III ñã kitin hóa, phần gốc có hai ñốt, ngọn chia làm hai nhánh; chân ngực gồm 5 ñôi, ñôi thứ nhất lớn bằng nhau có ñốt cuối chẻ nhánh dạng kìm rất khoẻ: các ñôi còn lại có dạng hình móng vuốt
1.1.2 Kích thước thành thục (Kích thước giao phối)
Thành thục là quá trình biến ñổi trạng thái tuyến sinh dục từ chưa hoàn thiện ñến hoàn thiện ðối với những cá thể cái khi chưa thành thục buồng trứng còn non có màu trong mờ, những noãn bào non của buồng trứng có dạng hình mắt lưới, trong tế bào chất tồn tại một ít noãn hoàng, sau ñó buồng trứng bắt ñầu phát triển tăng thể tích và thay ñổi màu sắc Khi chỉ số thành thục ñạt cực ñại, buồng trứng chuyển sang màu vàng cam, lúc này cua mẹ gặp các ñiều kiện thuận lợi sẽ bắt ñầu ñẻ trứng [5], [6]
Bảng 1.1 Kích thước thành thục tối thiểu của loài cua Xanh ở một số vùng
Ong (1966) Escitor (1987) Varikul et al (1972) Thach N.C (2001) Raja Bai Naidu (1955) Hill (1975)
Trang 14Kích thước thành thục và sức sinh sản thực tế thường có sự tương quan
tỷ lệ thuận, nhóm kích thước có chiều rộng giáp ñầu ngực 10 – 11cm có sức sinh sản thực tế khoảng 1.200.000 trứng/ một lần ñẻ (4800 egg/ 1gr Ptb), trong khi ñó nhóm kích thước có chiều rộng giáp ñầu ngực 12.1 – 13 cm thì
có sức sinh sản thực tế khoảng 1.800.000 trứng/một lần ñẻ (6.000egg/1gr Ptb) [6]
1.1.3 ðẻ trứng và thụ tinh:
Cua Xanh loài Scylla serrata sống, sinh trưởng và phát triển ở vùng cửa
sông, rừng ngập mặn, nơi có ñộ mặn dao ñộng từ 5‰ ñến 30‰ Khi cá thể trưởng thành ñạt kích thước thành thục, chúng có xu hướng kết ñàn di cư ra ven biển, vùng cửa sông nơi ñó có ñộ mặn ổn ñịnh và cao hơn (khoảng từ 30 – 35‰) ñể giao phối và ñẻ trứng [5]
Sự ñẻ trứng và thụ tinh
Sau khi giao vĩ, cua cái không ngừng tích luỹ vật chất dinh dưỡng thông qua quá trình ñồng hoá nhờ lấy thức ăn từ môi trường ngoài và ñồng thời trong cơ thể diễn ra hàng loạt các quá trình sinh hoá ñược thực hiện bên trong buồng trứng ñể tạo nên tế bào trứng từ những noãn bào còn non ñến trạng thái thành thục Theo nghiên cứu của: A Van-Wormhoudt và C Bellon-Humbert thì sự phân bào giảm nhiễm ñược hoàn thành trong thời gian tạo trứng và tích luỹ noãn hoàng [22]
Trứng có 2 lớp màng, lớp ngoài cùng có khả năng tạo thành cuống trứng
ñể dính vào các lông tơ và làm nhiệm vụ bảo vệ, lớp trong mỏng hơn giữa 2 lớp có khoảng trống Sự thụ tinh xảy ra bên trong hay bên ngoài cơ thể thật khó trả lời chính xác [6] Tuy nhiên cũng theo tác giả Nguyễn Cơ Thạch khi nghiên cứu giải phẩu tác giả nhận thấy lổ ñẻ và lổ giao cấu là một, hai hốc chứa tinh nằm bên trong cơ thể, ñoạn rộng nhất của ống dẫn trứng không bị
Trang 15chia nhánh vì thế tác giả cho rằng sự thụ tinh có thể xảy ra bên trong cơ thể của cua mẹ Cơ chế thụ tinh xảy ra do sự ñiều khiển của trung ương thần kinh ñảm bảo sự tiếp xúc nhịp nhàng giữa trứng và tinh trùng ñể ñạt ñược hiệu quả thụ tinh cao
Những yếu tố ảnh hưởng ñến sự ñẻ trứng và thu tinh
- Nhiệt ñộ ảnh hưởng ñến quá trình trao ñổi chất như thúc ñẩy hoặc kìm hãm các quá trình sinh hoá xảy ra trong cơ thể, làm ảnh hưởng ñến quá trình tích luỹ vật chất ñể tạo trứng
- ðộ mặn tác ñộng ñến trung ương thần kinh làm xuất hiện các phản ứng ñiều hoà áp xuất thẩm thấu giữa môi trường trong và ngoài tế bào, từ ñó ñiều khiển các cá thể tham gia sinh sản phân bố theo những vùng nước có ñộ mặn thích hợp cho sự ñẻ trứng và thụ tinh
- Chế ñộ dinh dưỡng của cua mẹ ảnh hưởng trực tiếp ñến chất lượng và
tỷ lệ nở của trứng cũng như tỷ lệ sống của ấu trùng
1.1.4 Mùa vụ ñẻ trứng và tính chu kỳ:
Ở khu vực các tỉnh Nam Trung Bộ Việt Nam, nhiệt ñộ trung bình năm cao
vì thế cua Xanh ñẻ trứng quanh năm Theo kết quả nghiên cứu của Hoàng ðức ðạt [2] thì ở vùng biển phía Nam Việt Nam cua Xanh bắt ñầu di cư vào tháng 7 – 8 và mùa sinh sản chính bắt ñầu từ tháng 10 ñến tháng 2 năm sau, ở vùng biển phía Bắc Việt Nam, mùa ñẻ của cua Xanh tập trung từ tháng 4 ñến tháng 7 Kết quả nghiên cứu của một số tác giả cho thấy: sự ñẻ trứng của cua Xanh hầu như xảy ra quanh năm nhưng mùa vụ sinh sản chính tập trung vào một số tháng trong năm rất rõ rệt (bảng 1.2) [2],[5],[6]
Trang 16Bảng 1.2 Mùa vụ đẻ trứng của cua Xanh (Scylla (sp)) ở vùng Tây Ấn ðộ –
- Quanh năm Cuối xuân đầu thu
Khơng rõ Tháng 7 - 12 Tháng 12 - 2 Tháng 5 - 10
Tháng 5 - 10 Tháng 1 - 8
-
Perrine (1979) Varikul (1972) Pillai và Nai (1968) Pagcatipunan (1972) Ariola (140) Estampador (1949) Brick (1974)
Hð ðạt (1993)
NC Thạch (1990 – 1997) Hill (1975)
Theo Nguyễn Cơ Thạch, 2001 thì mặc dù chưa đủ số liệu điều tra để chứng minh sự đẻ trứng của cua Xanh ngồi tự nhiên tuân theo chu kỳ tuần trăng [6], nhưng tác giả dự đốn rằng sự đẻ trứng của cua Xanh cĩ liên quan đến chu kỳ trăng Bởi trong quá trình nuơi cua bố mẹ để sinh sản nhân tạo thực hiện từ năm 1990 đến tháng 12 năm 1997 tác giả nhận thấy sự đẻ trứng chủ yếu tập trung vào đầu chu kỳ tuần trăng [6]
Hình 1.2 Cơ quan giao phối của cua đực
Trang 171.1.5 Sự phát triển của phôi
Sau khi cua ñẻ khoảng 45 phút ñến 1 giờ tất cả trứng ñược thụ tinh sẽ bắt ñầu phân cắt Ở ñiều kiện nhiệt ñộ nước dao ñộng từ 26 – 300C, ñộ mặn từ 30 – 33‰, pH từ 7 – 8,6 quá trình phát triển phôi xảy ra bình thường và ñược thể hiện ở bảng 1.3
Bảng 1.3: Tóm tắt quá trình phát triển phôi cua Xanh
Các giai ñoạn phát triển phôi Màu sắc
của trứng
Kích thước trứng
- Sau khi ñẻ khoảng 1 giờ trứng bắt ñầu phân cắt
- Quá trình phôi vị xảy ra sau 5 ñến 7 ngày tính
từ lúc ñẻ
- Xuất hiện mầm chân ngực và ñiểm mắt sau 7 –
10 ngày
- Xuất hiện các ñiểm hình sao và hình thành ñôi mắt
kép màu ñen hình bầu dục sau 10 ñến 12 ngày
- Khi tuổi phôi từ 12 ñến 17 ngày thì tim phôi
bắt ñầu xuất hiện nhịp tim tăng dần số lần ñập,
vỏ ñầu ngực, chân hàm, các ñốt bụng ñược hình
thành cơ bắt ñầu co bóp, các phần phụ của ấu
trùng ñã phát triển hoàn thiện, phôi hoạt ñộng
trong vỏ trứng mạnh dần, tăng liên tục cho ñến
khi vỏ trứng vỡ ra và ấu trùng xuất hiện
- Kết thúc thời gian phát triển phôi từ 15 ñến 17
ngày ở ñiều kiện nhiệt ñộ 26 – 300C, ñộ mặn
25%o ñến 35%o và các ñiều kiện khác nằm
trong phạm vi cho phép
Vàng da cam Vàng xám
Xám vàng nâu
Trang 181.1.6 Vòng ñời của cua Xanh và các giai ñoạn biến thái của ấu trùng
Từ những năm 1940 ñã có những công trình nghiên cứu về ñặc ñiểm sinh sản, người mà ñược nhiều tác giả trích dẫn là Ariola F.J 1940, Ông ñã nghiên cứu về vòng ñời cua Xanh và nhận thấy: Cua Xanh sinh trưởng và phát triển ở vùng nước lợ có ñộ mặn thấp, sau khi giao vĩ có quá trình di cư ñến vùng cửa sông ñể ñẻ trứng, ấu trùng Zoae và Megalop sống ở biển Trong thời gian nuôi thí nghiệm 186 ngày ñã xảy ra 12 ñến 15 lần lột xác [11]
Bảng 1.4 Các chỉ tiêu hình thái bên ngoài căn cứ phân loại các giai ñoạn
phát triển của ấu trùng Zoae
Giai ñoạn
phát triển ðặc ñiểm bên ngoài Kích thước trb (cm)
ñầu nhìn chưa rõ Kết thúc giai ñoạn Zoae1 từ 5 –
6 ngày
1,25
rõ gai trên ñầu Kết thúc giai ñoạn Zoae 2 từ 4- 5 ngày
1,55
chưa phân ñốt, chưa có mầm chân bụng Kết thúc giai ñoạn Zoae 3 từ 3 – 4 ngày
2,0
chân bụng có lông tơ Kết thúc giai ñoạn Zoae 5 từ 3- 4 ngày
3,86
thoái hoá dần và co gập lại mặt bụng của giáp ñầu ngực Kết thúc giai ñoạn Megalope từ 7 – 8 ngày
4,5
(Nguồn: Nguyễn Cơ Thạch, 1998 - 1999)
Trang 191.1.7 Vài nét về dinh dưỡng và thức ăn của ấu trùng cua xanh:
1.1.7.1 Nghiên cứu về nhu cầu protein và năng lượng:
Nghiên cứu của Sheen(1999) cho thấy cua xanh có thể sinh trưởng và phát triển tốt với thức ăn chứa hàm lượng protein 48% và lipit 4- 14%
Các nghiên cứu của Catacutan (2002) lại cho kết quả về nhu cầu protein ñối với cua xanh thấp hơn Với hàm lượng protein trong thức ăn từ 32 - 40 % với mức lipit ñược giữ ổn ñịnh 6% hay 12% và có năng lượng từ 14.7- 17.6 MJ/kg thức ăn có thể ñáp ứng ñủ nhu cầu về protein cho cua xanh Thức ăn có
tỷ số giữa protein và năng lượng (31.1mg protein/kJ) hay thức ăn có năng lượng cao (18.7 MJ/kg) sẽ không phù hợp cho cua
Trên cơ sở phân tích nhu cầu dinh dưỡng và phân tích thành phần hàm lượng các amino acid cơ bản, các acid béo không no (HUFA) có trong một số nguyên liệu dùng ñể chế biến thức ăn cho cua, các tác giả: Osemi M Millamena và Emilia T Quinitio, xác ñịnh tỷ lệ phần trăm của các loại nguyên liệu trong việc phối chế thức ăn ñạt hàm lượng Protein từ 30 – 35%, Lipit, chất xơ và các khoáng vi lượng vừa ñủ ñể ñảm bảo cho quá trình sinh trưởng và phát triển tốt của cua Xanh giai ñoạn nuôi thịt và nuôi vỗ béo Thành phần nguyên liệu dùng ñể chế biến thức ăn nuôi thịt bao gồm 20% bột ñầu tôm; 20% bột mực; 20% bột lúa mỳ; 17% rong biển; 4% dầu gan cá; 5% Lecithin; 1% Cholesterol; 3% Polivitamin và 3% một số phụ gia vừa ñủ Tuy vậy thức ăn này cần phải ñảm bảo ñủ 10 axit amine thiết yếu: Methionine; Arginine; Threonine; Tryptophan; Histidine; Isoleucine; Leucine; Lysine; Valine; Pheny lanine và các axit béo thiết yếu (EFA) mà cua không thể tự tổng hợp ñược (Akiyawa, 1991)
Các nghiên cứu về nhu cầu lipit, các axit béo thiết yếu (EFA) và Cholesterol:
Trang 20Theo nghiên cứu của Sheen và Wu(1999), nhu cầu lipit của cua giống, tác giả ñã thử nghiệm với hàm lượng lipit thay ñổi từ 5,3% ñến 13,8% trong thức
ăn (nguồn lipit chiết xuất từ dầu gan cá và dầu bắp) Kết quả khá thú vị là cua xanh có thể sử dụng thức ăn có hàm lượng lipit cao mà không bị giảm về sinh trưởng trong khi ñó nếu mức lipit vượt 8% thì tốc ñộ sinh trưởng của tôm bị chậm lại (Glencross, 2002) Như vậy cua xanh có khả năng ñồng hóa lipit ở mức cao, do vậy có thể giảm ñược hàm lượng protein trong thức ăn mà vẫn ñảm bảo ñủ năng lượng cho cua xanh có thể sinh trưởng và phát triển tốt Theo kết quả nghiên cứu của Castel (1982), cua xanh không thể tự ñồng hóa các axit béo không no bậc cao (n-3 HUFA) và (n-6 HUFA) mà các axit béo này cần thiết phải ñược bổ sung trong thức ăn bằng con ñường chọn nguyên liệu phối trộn (Kanazawa, 1982)
Nhu cầu về Cholesterol: Theo kết quả nghiên cứu của Ponat và Adelung (1983) trong thức ăn cho cua cần phải có Cholesterol 1.5 %; 6- 9% dầu gan cá thu sẽ cung cấp ñủ các axit béo thiết yếu và Cholesterol cần thiết cho quá trình lột xác và sinh trưởng của cua, trong thức ăn ở giai ñoạn cua giống cần
có 1.5- 2.2 % cholesterol trong thức ăn Nghiên cứu của Sheen (2000) về nhu cầu cholesterol của cua, kết quả cho thấy ở mẫu thức ăn không thêm cholesterol cua có sự tăng trọng kém, tần suất lột xác thấp và tỷ lệ sống cũng thấp hơn so với cua ñược nuôi bằng các mẫu thức ăn có bổ sung cholesterol Tác giả cũng cho biết hàm lượng cholesterol trong thức ăn nuôi cua nếu vượt 1.12% sẽ ảnh hưởng không tốt ñến sự sinh trưởng của cua Hàm lượng cholesterol tối ưu trong thức ăn của cua là 0.51% (5.1g/ kg thức ăn)
Nghiên cứu về ñộ dễ tiêu của các nguyên liệu phối trộn trong thức ăn thử nghiệm nuôi cua
Trang 21Theo nghiên cứu của Catacutan và cộng sự (2003), thử nghiệm ñánh giá
ñộ dễ tiêu của một số nguyên liệu phối trộn trong thức ăn trên nuôi cua bao gồm: bột cá, bột mực, bột moi, bột thịt và bột xương và các nguyên liệu từ thực vật như: bột bắp, như sau: 34- 54 % protein, 4.8- 10.8% lipit, 2.1- 4.3% xơ, 18.7- 42.5 % NFE và 0.6- 22% tro Kết quả cho thấy cua có thể tiêu hóa các các chất dinh dưỡng trong thức ăn bột lúa mỳ, cám gạo và cỏ copra, thức ăn sau khi phối trộn ñảm bảo ñựơc hàm lượng dinh dưỡng với một khoảng khá rộng, mức ñộ hấp thụ các chất béo của thức ăn chứa có nguồn gốc từ sản phẩm thực vật cao hơn các sản phẩm từ ñộng vật và khả năng tiêu hóa các chất xơ có trong thức ăn chiếm từ 94.4- 96.1% ðộ tiêu hóa các chất khoáng thay ñổi từ 64.4% (bột thịt và bột xương) ñến 82.2% (bột mực) ðộ tiêu hóa cacbohydrat (NFE) chiếm từ 91.6- 95.8% (thức ăn chứa hàm lượng NFE từ 31.3- 42.5%) Kết quả này cũng cho thấy cua cũng có khả năng sử dụng hữu hiệu nguồn tinh bột có trong thức ăn
Nghiên cứu về hệ men trong ống tiêu hóa của cua:
Xuất phát từ quan ñiểm cho rằng cua xanh là loài ăn thịt nên các xu hướng giải quyết thức ăn cho cua xanh trong qúa trình nuôi ñều dựa vào nguồn cung cấp thức ăn giàu protein có nguồn gốc từ ñộng vật như cá tạp, thịt ñộng vật nhuyển thể Việc cho ăn như vậy có thể không hiệu qủa và chịu ảnh hưởng của sự biến ñộng về tính sẳn có theo mùa của nguồn cung cấp Gần ñây, theo kết qủa nghiên cứu của Rutledge, 1999 và Pavasovic, 2003 về
hệ enzim trong ống tiêu hóa của cua xanh ñã cho thấy: Hệ enzim chuyển hóa protein, amyl hoạt ñộng rất mạnh và các enzim chuyển hóa xenlulo và xylan
có nhiều trong dịch tiêu hoá và ống tiêu hóa có khả năng tiêu hóa protein và xenlulo từ nguyên liệu thực vật ðây là một phát hiện quan trọng vì nó chỉ ra rằng cua xanh có khả năng tiêu hóa tốt thức ăn ñược chế biến từ nguyên liệu thực vật
Trang 22Dinh dưỡng là một trong những yếu tố quan trọng quyết ủịnh tốc ủộ sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trựng cỏc loài giỏp xỏc như tụm, cua và cỏc loài cỏ biển Sau khi trứng nở ra sử dụng hết noón hoàng (như loài tụm, cỏ biển) thỡ mới cần sử dụng thức ăn bờn ngoài ủể cung cấp năng lượng cho sinh trưởng
và phỏt triển Nhưng ủối với ấu trựng cua xanh ngay sau khi trứng nở ra phải cần ngay thức ăn từ bờn ngoài nhằm cung cấp kịp thời nguồn dinh dưỡng cho
sự sinh trưởng và phỏt triển qua cỏc giai ủoạn biến thỏi, nhất là những loại thức ăn dầu hàm lượng Lipid, cỏc axit bộo khụng no cần thiết, cỏc vi khoỏng
và Vitamin dễ hấp thu ủồng thời kớch cỡ con mồi và tốc ủộ vận ủộng của con mồi cũng ủều ảnh hưởng chất lượng và tỷ lệ sống của ấu trựng Nếu ấu trựng khụng bắt ủược mồi hay mồi kộm chất lượng sẽ dẫn ủến suy dinh dưỡng và chết Theo Nguyễn Cơ Thạch 2001 ấu trựng cua xanh thường sống ở những thuỷ vực chịu sự tỏc ủộng lớn của dũng chảy, thuỷ triều và nước ngọt, ở những thuỷ vực này thành phần đa dạng và phong phỳ Mặt khỏc trong tự nhiờn quan hệ mật thiết cú tớnh sống cũn giữa con mồi và vật săn mồi là mối quan hệ bền vững và luụn luụn ủược duy trỡ từ thế hệ này sang thế hệ khỏc Như vậy thuỷ vực mà ấu trựng cua xanh phõn bố cú liờn quan tới vựng nước
cú sinh khối lớn ủộng, thực vật phự du [6]
1.1.7.2 Thức ăn cho ấu trựng cua xanh
Dinh dưỡng là vấn ủề rất quan trọng nú ảnh hưởng trực tiếp đến tốc ủộ sinh trưởng, phỏt triển và tỷ lệ sống của ủối tượng nuụi
Những ủiều kiện ủể ấu trựng cú thể bắt ủược mồi và tiờu hoỏ ủể cú năng lượng bao gồm sự sẵn cú của cỏc loại thức ăn cú trong mụi trường, mật ủộ thức ăn, kớch cỡ, hỡnh dạng, mựi vị (tớnh hấp dẫn), chất lượng và thành phần dinh dưỡng, dễ tiờu hoỏ, ổn ủịnh và khả năng vận ủộng của ấu trựng cua xanh Như (vi tảo, rotifer và Artemia) ủược cung cấp ngay những ngày ủầu sau khi trứng nở [3], [23]
Trang 23Vi tảo
Các loµi vi tảo khác nhau có kích thước từ 2-20 µm là nguồn chất dinh
dưỡng gián tiếp cho các ấu trùng thông qua thức ăn sống Vi tảo có khả năng làm tăng số lần ăn của ấu trùng bằng việc tăng cường sự tương phản thị giác và
sự tán xạ ánh sáng Ngoài ra vi tảo còn có vai trò ổn ñịnh chất lượng nước trong các hệ thống nuôi, “kỹ thuật nuôi nước xanh” ñược áp dụng phổ biến trong quá trình sản xuất gống thuỷ sản nói chung và các ñối tượng giáp xác nói riêng
Bảng 1.5 Thành phần dinh dưỡng của 1 số loài vi tảo
Loài vi tảo KL.khô Chlorophyla Protein Hydrat
Trang 24mannose, deoxiglucose, fucose và xylose (Whyte và Naga, 1992) Lipit thường chiếm từ 9-28% trọng lượng khô
Bảng 1.6 Thành phần dinh dưỡng của Rôtifer
R«tifer Thành phần %
Artemia
Việc sử dụng trực tiếp các bào xác Artemia ñã khử vỏ là 1 thức ăn thích
hợp ñối với nuôi các loài ấu trùng khác nhau như ấu trùng các loài cá chép
(Cyprinus carpiro), tôm biển, cua biển, cá măng Các bào xác có ưu ñiểm bên
ngoài và các ưu ñiểm thực tiễn của 1 loại thức ăn khô trái với nauplius của
Artemia (470-550µm), kích thước hạt nhỏ (200-250µm) của chúng thích hợp
hơn với các giai ñoạn của các sinh vật ăn mồi sống nhỏ Nếu ñược sấy khô chúng có khả năng nổi và chìm từ từ xuống ñáy bể nuôi Tuy nhiên chúng
Trang 25không có hiện tượng lọc các thành phần dinh dưỡng vì màng biểu bì ngoài hoạt ñộng như là 1 tấm chắn các phân tử lớn và tính bất ñộng, tính nhanh chìm trong nước muối của chúng làm giảm khả năng bắt mồi của ấu trùng Vì vậy, cần phải sục khí và sấy khô làm cho những tiểu phần này ở dạng huyền phù [9]
Trên quan ñiểm dinh dưỡng, thành phần hoá học có thể so sánh các bào xác với các nauplius vừa mới nở:
Bảng 1.7 Thành phần (% của chất khô) của các bào xác Artemia
ñã khử vỏ và các nauplius ở giai ñoạn Instar I
(Nguồn: Patrick Lavens & Patrick Sorgeloos, 1996)
Mặt khác, người ta còn thấy có một số khác biệt các chất dinh dưỡng mà các chất này có thể có ảnh hưởng ñến chất lượng dinh dưỡng của chúng như:
• Các axít béo của các bào xác và nauplius gần giống nhau, mặc dầu có thể có sự khác nhau ở hàm lượng lipid, FAME, thành phần axít béo và hàm lượng năng lượng của các dòng khác nhau
• Các axít amin tự do: tỷ lệ giữa các axít amin tự do và hàm lượng protein nói chung của nauplius giai ñoạn Instar I cao hơn các bào xác mặc dù
có thể có những biến ñổi từ dòng này sang dòng kia
• Vitamin C (axit ascoobic) là chất dinh dưỡng chủ yếu trong thời gian nuôi ấu trùng Trong các bào xác sunphat-axit ascoobic 2 (AAS) ổn ñịnh những tính có sẵn sinh học thấp Trong quá trình nở sunphat- ascoobic 2 bị
Trang 26thuỷ phân thành axít ascoobic tự do, một dạng không ổn ñịnh nhưng có trực tiếp trong các nauplius dùng làm thức ăn cho ấu trùng các loài thuỷ sản như tôm, cua và các loài cá biển Việc khử vỏ bào xác không dẫn ñến sự thuỷ phân sunphat-axít ascoobic 2 Cho ấu trùng cá ăn các bào xác ñã khử vỏ trong thời gian dài có thể dẫn ñến tình trạng thiếu Vitamin C trong trường hợp sinh vật
ăn mồi sống thiếu enzym sunphat cần thiết ñể phá huỷ sunphat- ascoobic
• Các carotenid: Các hàm lượng cantaxantin cho thấy sự khác biệt chất lượng giữa các bào xác và các nauplius Ở các bào xác có cấu hình ñều bất thường trong khi ở các nauplius ñang phát triển, cấu hình này ñược biến ñổi thành cantaxantin lệch ổn ñịnh hơn
Artemia khi sử dụng ở giai ñoạn ñầu có thể làm giàu hoặc không nhưng giai ñoạn sau khi nhu cầu dinh dưỡng của ấu trùng cao hơn thì nhất thiết phải ñược làm giàu Các chất dinh dưỡng ñược sử dụng trong quá trình làm giàu là lipid, protein, vitamin và các axit béo như EPA, DHA, ARA, n-3 HUFA Các
chất dinh dưỡng này thường ñược lấy từ thức ăn là vi tảo như Nanochloropsis
oculata, Isochrysis galbana, tetraselmis s… hoặc từ các sản phẩm công nghiệp như protein Selco (Ps), DHA – selco (Dhert, 1997) Áp dụng việc làm giàu
thức ăn Artemia bằng HUFA cho thấy có ảnh hưởng lớn ñến nuôi ấu trùng các
loài giáp xác và ấu trùng cá biển và nói chung làm tăng tỷ lệ sống sót và làm giảm biến ñổi về sản lượng của trại giống [9] Chất lượng của ấu trùng các loài giáp xác và ấu trùng cá biển, về phương diện chịu ñựng stress, hình thành sắc tố tốt, giảm biến dạng, túi bơi phồng tốt hơn, sức sống tăng, xem ra có mối liên quan trực tiếp ñến việc làm giàu thức ăn của ấu trùng bằng (n-3) HUFA
Trang 27Bảng 1.8 Thành phần dinh dưỡng của Artemia ñược và không ñược làm giàu
(Nguồn: Rimmer M.A, A.W Reed, M.S Levitt, A.T Lisle, 1994)
Bảng 1.9 Thành phần dinh dưỡng (% trọng lượng khô) và năng lượng thô
(J/mg) trong thức ăn sống)
ñược làm giàu
Artemiactrưởng thành
Năng lượng/ tiểu phần (J) 0,007 0,04-0,06 0,08
Nguồn: aFernández-Reiriz và ctv, 1993
b Mourente, Tocher, 1992
c Artemia trưởng thành 3 ngày, Reitan và ctv
Các nauplius ở giai ñoạn Instar I phát triển hoàn toàn dựa vào các dự trữ năng lượng nên chúng cần ñược thu hoạch và cho ấu trùng cá ăn, giáp xác ăn
ở dạng còn nhiều năng lượng nhất (ngay sau khi nở càng sớm càng tốt) Nauplius của Artemia ở giai ñoạn phát triển ñầu tiên không thể tự kiếm ñược thức ăn, vì vậy nó tiêu thụ năng lượng dự trữ bản thân Vấn ñề quan trọng là cần cho sinh vật ăn mồi sống ăn các nauplius ở giai ñoạn Intsar I hơn cho
Trang 28chúng ăn các meta - nauplius ở giai ñoạn Instar II ñang bị ñói vì những meta - nauplius này tiêu thụ 25% - 30 % dự trữ năng lượng của chúng trong 24 giờ sau khi nở [3] Do ñó, nếu cho ấu trùng ăn Artemia giai ñoạn bung dù (trước khi nở thành Instar I) thì chất lượng dinh dưỡng sẽ cao nhất, năng lượng dự trữ chưa bị tiêu thụ do chúng chưa có khả năng vận ñộng Tuy nhiên, việc sử
dụng Artemia ở giai ñoạn bung dù còn bị hạn chế về mặt dinh dưỡng do chưa
làm giàu ñược
1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu sản xuất giống cua Xanh
1.2.1 Tình hình nghiên cứu sản xuất giống cua Xanh trên thế giới
Các công trình của Ketut Sugama (1964 – 1966) ñã nghiên cứu về sự thành thục của cua Xanh Từ kết quả nghiên cứu, tác giải kết luận: cua Xanh thành thục ở 5 tháng tuổi, ứng với chiều rộng của giáp ñầu ngực là 11,42 cm Trong ñó Anon, 1984 nghiên cứu vòng ñời của cua Xanh cho rằng tuổi thành thục giới tính là từ 1,5 ñến 2,5 năm
Xác ñịnh khả năng chịu ñựng về ñộ mặn và nhiệt ñộ của ấu trùng cua Xanh ở giai ñoạn Zoae, một số công trình nghiên cứu cho rằng: ở nhiệt ñộ trên 250C và ñộ mặn dưới 17 ‰ là nguyên nhân chính gây ra sự chết hàng loạt của ấu trùng cua Xanh Vì vậy ấu trùng Zoae không thích hợp sống ở ñiều kiện vùng cửa sông Kết quả nghiên cứu của Hill B.J 1974 cho thấy: ở nhiệt ñộ dưới 100C, ấu trùng không hoạt ñộng, vì vậy 100C có thể ñược coi là giới hạn nhiệt ñộ thấp nhất Dựa trên các kết quả nghiên cứu cña Cheng H.C, Jeng K.H., 1980, Thạch, 1998 nhận ñịnh: Nhiệt ñộ 260C, ñộ mặn từ 25‰ ñược coi là ñiều kiện thích hợp nhất cho sự phát triển của ấu trùng cua Xanh Thức ăn dùng ñể ương nuôi ấu trùng trong quá trình thí nghiệm gồm có Natuplius của Artemia, Brachionus, men bánh mì, Copepoda, tảo lục (Chlorella) tảo khuê (Chaetoceros, Skentonema costatum), thịt tôm, nhuyễn thể [3],[13],[16]
Trang 29Từ những kết quả nghiên cứu về ñặc ñiểm sinh học sinh sản, nhiều tác giả
ñã thử nghiệm cho cua Xanh ñẻ và ương nuôi ấu trùng trong ñiều kiện nhân taọ Năm 1974 Brick, R.W ñã thử nghiệm tìm hiểu ảnh hưởng của chất lượng nước, thuốc kháng sinh, phytoplankton và thức ăn ñến tỷ lệ sống của ấu trùng
cua Xanh (S.serrata, Forskal) Qua kết quả nghiên cứu tác giả kết luận: ấu
trùng cua Xanh ñã ñược nuôi thành công khi sử dụng phối hợp giữa thuốc kháng sinh – Phytoplankton – Nauplius của Artemia Tảo Chlorella có tác dụng làm tăng tỷ lệ sống của ấu trùng Zoae, nauplius của Artemia ñược coi là thức
ăn thích hợp nhất, lọc nước và khử trùng nước bằng tia cực tím không làm thay ñổi tỷ lệ sống của ấu trùng Nhiệt ñộ nước từ 260C - 300C, ñộ mặn 25‰ - 30‰
và pH = 7,0 - 8,5 ñược coi là những ñiều kiện thích hợp ñể ương nuôi ấu trùng cua Xanh[16] Năm 1983, Heasman, M.P và Fielder, D.R ñã thử nghiệm cho ñẻ
ở phòng thí nghiệm và nuôi ñại trà cua Xanh từ giai ñoạn Zoae ñến cua bột, tác giả cho rằng [17]: cần duy trì chất lượng nước bằng hệ thống lọc nước tuần hoàn, các ñiều kiện nhiệt ñộ nước 270C, ñộ mặn 30±2‰, mật ñộ thức ăn từ 5 – 30con/ l (nauplius của Artemia) ñược coi là các ñiều kiện thích hợp cho quá trình ương nuôi ấu trùng Với các ñiều kiện như trên thì thời gian chuyển từ Zoae ñến cua bột là 30 ngày, tỷ lệ sống ñạt từ 1% ñến 4% [17]
Tuy những kết quả nghiên cứu của các tác giả nói trên ñã mô tả các ñặc ñiểm sinh học sinh sản, kỹ thuật cho ñẻ, ương nuôi các giai ñoạn ấu trùng, thức ăn, nhiệt ñộ nước, ñộ mặn, chất lượng nước, ảnh hưởng của thuốc kháng sinh vv ñến ñối tượng nghiên cứu Nhưng sự mô tả ñó có tính chất khái quát, ñể áp dụng vào sản xuất ñòi hỏi phải có những nghiên cứu cụ thể chi tiết phù hợp với từng ñiều kiện sinh thái của từng vùng ñịa lý và từng thủy vực
1.2.2 Tình hình nghiên cứu sản xuất giống cua xanh ở Việt Nam
Từ những năm 1980 ở Việt Nam bắt ñầu nghiên cứu sinh sản cua Xanh, nhưng ở thời ñiểm ñó các tác giả như Serene, Starologatov, Nguyễn Văn
Trang 30Chung vv Chủ yếu tập trung nghiên cứu về ñịnh loại loài và một số ñặc ñiểm sinh học làm cơ sở cho những nghiên cứu sau này Trong những năm ñầu của thập kỷ chín mươi, các tác giả như Hoàng ðức ðạt, ðoàn Văn ðẩu, Nguyễn Cơ Thạch ñã tích cực nghiên cứu các ñặc ñiểm sinh học sinh sản và sản xuất giống, với mong muốn tìm ra quy trình sản xuất cua giống nhân tạo, song kết quả ñạt ñược vẫn còn rất hạn chế[5],[6]
Từ năm 1998 ñến năm 2000, Nguyễn Cơ Thạch và ctv nghiên cứu sinh sản nhân tạo và xây dựng quy trình sản xuất cua xanh Tỷ lệ sống từ giai ñoạn
ấu trùng Zoae 1 ñến cua giống qua các lần thí nghiệm ñạt 4,09% Từ kết quả nghiên cứu tác giả nhận ñịnh: Có thể sản xuất ñược con giống cua Xanh và giống cua Xanh sẽ trở thành sản phẩm hàng hoá
ðồng thời nghiên cứu ñã ñịnh:
- Môi trường thích hợp ñể ương các giai ñoạn ấu trùng:
+ Giai ñoạn ấu trùng Zoae: ðộ mặn 30 ± 1‰, nhiệt ñộ 26 – 31 0C, pH =
8 – 8,6; NH3 < 0,05 mg/l; NO2 < 0,1 mg/l
+ Giai ñoạn ấu trùng Megalope: ðộ mặn 26 – 27 ‰; pH = 7,5 – 8; NH3
< 0,05 mg/l; NO2 <0,1 mg/l
- Thức ăn thích hợp cho quá trình phát triển của cua:
+ Giai ñoạn ấu trùng Zoae: Luân trùng, nauplius của Artemia, Artemia sinh khối và tảo
+ Giai ñoạn ấu trùng Megalope: Nauplius của Artemia, Artemia giàu ñạm, thức ăn chế biến bao gồm thịt: tôm, cua, mực, nhuyễn thể
Thức ăn là luân trùng rất tốt cho giai ñoạn Zoae 1 và ñầu Zoae 2 nhưng cho ăn bằng luân trùng rất dễ gây nên bệnh phát sáng vì luân trùng là thức ăn tươi sống rất khó xử lý phòng trị bệnh triệt ñể; cho ấu trùng ăn Nauplius của Artemia ngay từ những ngày ñầu ñạt kết quả thấp
Trang 31CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 ðối tượng, ñịa ñiểm và thời gian nghiên cứu:
2.1.1 ðối tượng nghiên cứu
Cua Xanh Scylla serrara
2.1.2 ðịa ñiểm nghiên cứu
Trại sản xuất giống thuỷ sản Hải Yến xã Hoằng Phụ - huyện Hoằng Hoá
- Nguyên tắc thực hiện thí nghiệm: tất cả thí nghiệm ñược thực hiện trong bocal có dung tích 10 lít, riêng giai ñoạn Megalope thí nghiệm ñược hiện trong bể composite hình trụ tròn ñáy phẳng màu ñen có ñường kính 1m, cao 0.5m có thể tích 500 lít và các thí nghiệm ñược lặp lại 3 lần
- Cách tính mật ñộ thức ăn: Sau khi ñã lọc sạch cho vào ly thuỷ tinh 1 lít nước dùng pipet 2ml cắm thẳng ñứng vào ly lấy mẫu 3 lần ở 3 vị trí khác nhau của ly rồi tính mật ñộ trung bình cả 3 lần lấy mẫu (1 thí nghiệm 10 lít/bocal thả 500 âú trùng thí nghịêm mỗi lần cho ăn 7.500 con nauplius Artemia hoặc rotifer)
2.2.1 Bố trí thí nghiệm ương ấu trùng giai ñoạn Zoae1 và Zoae 2 bằng các loại thức ăn khác nhau
- Giống thả: giống ñược lấy từ các bể ương nuôi của trại sản xuất (Zoae 2), riêng giai ñoạn Zoae 1 ñược lấy ngay sau khi cua mẹ nở xong khoảng 2-3 h
Trang 32- Mật ủộ giống thả ương: 50 ấu trựng/lớt
- Thức ăn dựng trong thớ nghiệm là: 3 loại thức ăn khỏc nhau
+ Cụng thức 1 (CT1): dựng Rotifer ủó ủược cường hoỏ sau 18h
+ Cụng thức 2 (CT2): dựng Rotifer chưa ủược cường hoỏ
+ Cụng thức 3 (CT3): dựng Artemia (loại Cần Thơ SX) ở dạng bung dự Phương thức cho ăn: cho ăn ngày 4 lần vào cỏc giờ 4h30”; 10h30”; 16h30”
và 22h 30”
- Mật ủộ thức ăn: cho ăn 15 con rotifer (artermia bung dự loại Cần Thơ sản xuất)/ ấu trựng cua
- Cỏch làm và tính mật độ: 1 thớ nghiệm 10 lớt/bocal thả 500 õỳ trựng thớ
nghiệm mỗi lần cho ăn 7.500 con rotifer (Artemia bung dự 7.500 con) Sau khi
rotifer ủó lọc sạch cho vào ly thuỷ tinh 1 lớt nước sau ủú dựng pipộp 2ml cắm thẳng ủứng vào ly vài lần (lấy giỏ trị trung bỡnh)
- Quản lý chăm súc: hàng ngày trước và sau khi cho ăn kiểm tra ấu trựng
sử dụng thức ăn như thế nào ủể ủiều chỉnh, hoạt ủộng của ấu trựng ủể biết tỡnh trạng sức khoẻ và quan sỏt dấu hiệu bệnh lý
2.2.2 Bố trớ thớ nghiệm ương ấu trựng giai ủoạn Zoae 3 – Zoae 5 bằng cỏc loại thức ăn khỏc nhau
- Mật ủộ giống thả ương: 50 ấu trựng/lớt
- Thức ăn dựng trong thớ nghiệm là: 2 loại thức ăn khỏc nhau (Artemia
do Mỹ sản xuất O.S.I)
+ Cụng thức 4 (CT4): dựng Artemia (Artemia của hóng Mỹ sản xuất) ủó ủược cường hoỏ sau 18h
+ Cụng thức 5 (CT5): dựng Artemia chưa ủược cường hoỏ
- Phương thức cho ăn: cho ăn ngày 4 lần vào cỏc giờ 4h30”; 10h30”; 16h30” và 22h 30”
- Mật ủộ thức ăn cho ăn 15 con nauplius/ ấu trựng cua
Trang 33- Quản lý chăm sóc: hàng ngày trước và sau khi cho ăn kiểm tra ấu trùng
sử dụng thức ăn như thế nào ñể ñiều chỉnh, hoạt ñộng của ấu trùng ñể biết tình trạng sức khoẻ và quan sát dấu hiệu bệnh lý
2.2.3 Bố trí thí nghiệm ương ấu trùng giai ñoạn Megalope – cua bột (cua1)
- Mật ñộ thả ương: 10 con ấu trùng/lit
- Thức ăn dùng trong thí nghiệm: là 2 loại thức ăn khác nhau
+ Công thức 4 (CT4): dùng Artemia ñã ñược cường hoá sau 18h
+ Công thức 5 (CT5): dùng Artemia không cường hoá
- Phương thức cho ăn: cho ăn ngày 4 lần vào các giờ 4h30”; 10h30”; 16h30” và 22h 30”
- Mật ñộ thức ăn cho ăn 15 con nauplius/ ấu trùng cua
- Sử dụng vỏ sò và lưới tạo giá thể cho ấu trung ẩn nấp, vỏ sò ñược rải ñều dưới ñáy bể kể cả bể thí nghiệm và bể làm ñối chứng, lưới ñược bổ sung vào bể thí nghiệm bằng cách treo, căng lưới hoặc bó tạo thành như cây rong dựng ñứng biển 1 ñầu nằm sát ñáy 1 ñầu thẳng ñứng lơ lửng trong nước Mật
ñộ vỏ sò bỏ sát nhau còn lưới cách nhau 10 cm một bó hoặc treo song song cách nhau 10-20 cm
2.3 Phương pháp cường hoá rotifer và artemia (làm giàu)
+ Vật liệu cường hoá và hàm lượng phối trộn trong 1 gam dung dịch ñưa vào cường hoá (làm giàu)
Lansy 45% Dầu mực 2% Fripark 45% Dầu DHA 4%
Tảo khô 2% ET600 2%
Tất cả ñược cho vào máy xay sinh tố xay khoảng 30” – 40” sau ñó ñưa
ra xô nhựa nhỏ ñã ñược chuẩn bị sẵn (có chứa rôtifer hoặc artemia) sau ñó
tiến hành sục khí liên tục 18h mới cho ấu trùng cua xanh ăn
Trang 342.3.1 Phương pháp cường hoá rotifer
Sau khi rotifer ñược ñưa về từ nơi sản xuÊt là Trung Tâm Nghiên Cứu và sản xuất giống thuỷ sản Hoằng Thanh Hoằng Hoá Thanh Hoá tiến hành rửa lại bằng nước biển sạch (nước nuôi ấu trùng), sau ñó ñưa vào xô phải sục khí liên tục ñể xử lý 10-15 phút bằng formaline với nồng ñộ 100-150cc nhằm loại
bỏ mầm bệnh, lọc lại và rửa sạch cho vào xô nước 1 lít nước ñã ñược chuẩn bị sẵn (ñã ñược hoà dung dịch cường hoá) và sục khí liên tục sau 18h lọc cho ăn giai ñoạn Zoae 1và Zoae 2
2.3.2 Phương pháp cường hoá Artemia
Artemia loại Red Top (Mỹ sản xuất ký hiệu O.S I) ñược ấp nở theo hướng dẫn của nhà sản xuất, thời gian ấp khoảng 24h tất cả trứng ñã nở thành nauplius tuỳ thuộc vào nhiệt ñộ nước mà trứng có thể nở sớm hơn hoặc muộn hơn Trước khi lọc chúng ta phải kiểm tra trứng ñã nở hết khi ñó mới lọc nhằm hạn chế ñược những trứng chưa nở hết sẽ hao hụt về số lượng mà ấu trùng nauplius mà chúng ta cần Sau khi kiểm tra trứng ñã nở hết ta tiến hành
xử lý bằng formaline với nồng ñộ 100-150cc trong khoảng thời gian 10-15 phút nhằm loại bỏ mầm bệnh, sau ñó tắt sục khí ñể khoảng 15-20 phút cho vỏ nổi lên còn những trứng bị ung chìm xuống dưới dùng ống tio lọc qua túi lọc artemia sau ñó ñem rửa sạch bằng nước ngọt khi ñã rửa sạch cho vào xô ñã ñược chuẩn bị sẵn dung dịch cường hoá (làm giàu) Nước ấp artemia và làm giàu là nước mặn (nước nuôi ấu trùng) cho ăn giai ñoạn từ Zoae 3 ñến giai ñoạn cua bột (cua 1)
2.4 Phương pháp xác ñịnh các yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm
- Phân tích các thông số môi trường như: N-NO2-; N-NO3-; N-NH4 +; pH thu mẫu nước ñầu và cuối thí nghiệm ñem phân tích tại Trạm kiểm dịch ñộng vật Thuỷ sản thuộc Chi Cục Bảo Vệ Nguồn Lợi Thuỷ sản Thanh Hoá
Trang 35- ðo nhiệt ñộ bằng nhiệt kế thuỷ ngân, ño vào 8h sáng lúc và 15h chiều
- ðo ñộ mặn bằng máy ño khúc xạ kế (Salinity hãng Nhật Bản sản xuất)
Tổng số ấu trùng ñưa vào thí nghiệm
Số liệu ñược mã hoá, xử lý theo phương pháp thống kê sinh học và dựa vào phần mềm Excel 2003 ñể tính các giá trị trung bình, ñộ lệch chuẩn và vẽ
ñồ thị Phân tích phương sai 1 nhân tố (ANOVA-Single Factor) và LSD0.05
(Least Significant Diffrence-dấu hiệu sai khác nhỏ nhất) ñược sử dụng ñể xác ñịnh mức ñộ sai khác của yếu tố tỷ lệ sống và các chỉ số thời gian lột xác biến thái của các công thức thí nghiệm Các thống kê ñược sử dụng với mức ñộ tin cậy 95% (α = 0,05)
Ấu trùng giai ñoạn
Sử dụng Artemia
Sử dụng
vỏ sò và lưới làm giá thể
Sử dụng
vỏ sò làm giá thể
- Xác ñịnh tỷ lệ sống (%)
- Xác ñịnh thời gian chuyển giai ñoạn (ngµy)
- Xác ñịnh các yếu tố môi trường ñầu và cuối thí nghiệm
Trang 36Sơ ñồ 1: Bố trí thí nghiệm cho ăn bằng các loại thức ăn khác nhau ở các
giai ñoạn khác nhau
Ghi chú: + Ở giai ñoạn Zoae 1 và Zoae 2:
CT1: Rotifer ñã ñược cường hoá sau 18h CT2: Rotifer chưa ñược cường hoá CT3: Artemia dạng bung dù (artemia loại Cần Thơ sản xuất)
+ Ở giai ñoạn Zoae 3 – giai ñoạn Megalope:
CT4: Artemia (loại Mỹ sản xuất) ñã ñược cường hoá sau 18h CT5: Artemia (loại Mỹ sản xuất) chưa ñược cường hoá
Trang 37CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3 1 Một số yếu tố môi trường của hệ thống thí nghiệm:
Hệ thống các bể thí nghiệm này ñược ñặt trong phòng nên ít chịu ảnh hưởng của các yếu tố ngoại cảnh (trừ yếu tố nhiệt ñộ giao ñộng) và chế ñộ chăm sóc quản lý là như nhau do vậy việc theo dõi các yếu tố môi trường ñược thu tại thời ñiểm ñầu và cuối thí nghiệm (ngoại trừ yếu tố nhiệt ñộ thay ñổi theo ngày ñêm)
Bảng 3.1 Các yếu tố môi trường trong hệ thống bể thí nghiệm
Min – Max
27.42±1.0825.5 –29
Min – Max
0.009±0.008 0.001– 0.025
Min - Max
0.84±0.086 0.01 – 0.215
Min - Max
0.042±0.0042 0.002 – 0.098
Min - Max
8.154±0.247 7.8 – 8.5
• Nhiệt ñộ:
Môi trường nước ương nuôi ấu trùng trong hệ thống thí nghiệm có nhiệt
ñộ biến ñộng trong khoảng 25.5 – 290 C, nhiệt ñộ chênh lệch giữa buổi sáng
và buổi chiều, khoảng 10C (Phụ lục 1) Nhiệt ñộ trong ương nuôi ấu trùng cua xanh giao ñộng từ 26 – 310C (Nguyễn Cơ Thạch, 2001), cũng như Cheng, H.C; Jeng K.H, 1980 thì nhiệt ñộ nước ñược coi là thích hợp ñể ương nuôi ấu trùng cua Xanh, nhưng nhiệt ñộ nước cần ñược duy trì trong ương nuôi ñại trà
ấu trùng cua Xanh là 270C (Heasman.M.P và Filder, D.R, 1983) Tuy vậy