1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tác dụng của phương pháp châm cứu trong điều trị chứng rối loạn khứu giác thứ phát

26 653 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 96,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua thực hành lâm sàng tại khoa khámbệnh bệnh viện Y học cổ truyền Bộ công an bằng phương pháp châm cứuđiều trị rối loạn khứu giác thứ phát với số lượng bệnh nhân hữu hạn đã chokết quả k

Trang 1

Theo Y học hiện đại, rối loạn khứu giác tiên phát có thể do các tổnthương thực thể ở mũi xoang (polyp mũi, K mũi, u xơ, viêm mũi xoang vậnmạch, dị ứng, nhiễm khuẩn…) triệu chứng luôn kèm theo ngạt mũi, tắc mũi.Rối loạn khứu giác thứ phát sau các bệnh toàn thân như đái tháo đường, suythận, thiểu năng tuyến giáp, zona, viêm não, sau chấn thương sọ não, chấnthương vùng hàm mặt nhiễm độc hơi khí…

Theo Y học cổ truyền, rối loạn khứu giác thứ phát thuộc phế khí hư: phếkhai khiếu ra mũi, phế khí thông với mũi, bệnh mũi và phế có quan hệ mật thiếtvới nhau Cơ thể hư nhược hoặc bệnh lâu không khỏi làm phế âm hao tổn nêncác khiếu không được nuôi dưỡng dẫn đến công năng thất thường

Hiện nay có rất ít nghiên cứu về điều trị rối loạn khứu giác thứ phát kể

cả y học hiện đại và y học cổ truyền Qua thực hành lâm sàng tại khoa khámbệnh bệnh viện Y học cổ truyền Bộ công an bằng phương pháp châm cứuđiều trị rối loạn khứu giác thứ phát với số lượng bệnh nhân hữu hạn đã chokết quả khả quan nên chúng tôi mạnh dạn đưa ra nghiên cứu này với mụctiêu:

Đánh giá tác dụng của phương pháp châm cứu trong điều trị chứng rối loạn khứu giác thứ phát.

Trang 2

CHƯƠNG 1TỔNG QUAN

I TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN KHỨU GIÁC THỨ PHÁT

1 Đại cương:

- Rối loạn khứu giác thứ phát là một chứng bệnh bao gồm giảm, mấthoặc loạn khứu giác sau các bệnh lý toàn thân như rối loạn khứu giác dothuốc (liệu pháp xạ trị, tiếp xúc với chất độc chất…), rối loạn khứu giác thầnkinh do AIDS, nghiện rượu, Alzheimer, trầm cảm, đái tháo đường, bệnh múagiật Huntington, giảm năng tuyến giáp, hội chứng Kallman, loạn tâm thầnKorsakoff, suy dinh dưỡng, Parkinson, thiếu vitamin B12, thiếu kẽm, do sựlão hóa cơ thể gây nên làm ảnh hưởng đến sinh hoạt, tiêu hóa và sức khỏe

người bệnh.

- Theo Y học cổ truyền, rối loạn khứu giác thứ phát thuộc phế khí hư: phếkhai khiếu ra mũi, phế khí thông với mũi, bệnh mũi và phế có quan hệ mật thiếtvới nhau Cơ thể hư nhược hoặc bệnh lâu không khỏi làm phế âm hao tổn nêncác khiếu không được nuôi dưỡng dẫn đến công năng thất thường

Con người là một tiểu vũ trụ, sức sống bên trong của nó luôn luôn biếnđộng để đảm bảo sự phát triển theo quy luật: sinh, trưởng, hóa, thu, tang củavạn vật Trong quá trình sống con người có lúc khỏe, lúc yếu, lúc có bệnh, khi

âm dương cân bằng thì khỏe, yếu khi sức chống đỡ của cơ thể suy yếu lúc này

dễ bị bệnh Cơ thể yếu thể hiện sự biến động âm dương đến giới hạn sinh lýtối đa, dễ chuyển sang trạng thái âm dương mất cân bằng Âm dương mất cânbằng thì sinh bệnh

Trang 3

Con người sống trong môi trường thiên nhiên, gia đình và xã hội luônluôn thay đổi, với các hoạt động sống phong phú của bản thân Những điềukiện sống này đã thúc đẩy sức sống bên trong mạng lên theo quy luật chung.Song nếu trái thường chúng làm sức sống yếu đi, nặng hơn thì gây bệnh Mặtkhác mỗi con người có sức chống đỡ của cơ thể (chính khí), khi chính khí yếutác động môi trường vượt quá ngưỡng chịu đựng cơ thể thì các yếu tố trên trởthành nguyên nhân gây bệnh

Bệnh phát sinh là do ngoại tà (tà khí) xâm phạm vào cơ thể, tà chính giaotranh, chính khí hư không đủ mạnh để thắng tà khí, hoặc thất tình thái quá,hoặc ẩm thực thất thường, lao lực… tất cả đều dẫn đến âm dương mất cânbằng biểu hiện bệnh

Tạng phủ khí huyết hư tổn: do bẩm sinh không đủ, bệnh lâu không khỏi,lao dộng nghỉ ngơi, phòng dục quá độ dẫn đến khí huyết, tạng phủ hư tổn màsinh bệnh

2 Các phương pháp điều trị:

- Y học hiện đại: vitamin, bổ thần kinh, corticoid…

- Y học cổ truyền: châm cứu (điện châm, thủy châm), bấm huyệt, các bàithuốc cổ phương gia giảm…

II TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP CHÂM CỨU

Châm cứu là thủ thuật chèn và thao tác kim vào một điểm cụ thể trên cơ

thể để giảm đau hoặc cho các mục đích điều trị Ở đây chúng tôi tiến hànhnghiên cứu đánh giá tác dụng của việc châm cứu trên 2 huyệt : Thái xung vàThượng tinh để điều trị chứng rối loạn khứu giác thứ phát

CƠ CHẾ TÁC DỤNG CHÂM CỨU

1 Giải thích theo y học hiện đại:

1.1 Phản ứng tại chỗ:

Trang 4

- Châm cứu vào huyệt gây kích thích 1 cung phản xạ mới có tác dụng ứcchế cung phản xạ bệnh lý: làm giảm cơn đau, giải phóng sự co cơ.

- Những phản xạ đột trục của hệ thần kinh thực vật làm ảnh hưởng đến

sự vận mạch, nhiệt và sự tập trung bạch cầu làm thay đổi tính chất của tổnthương, giảm xung huyết, bớt nóng, giảm đau

- Phản ứng tại chỗ hay xung quanh nơi bị tổn thương Đông y gọi làthống điểm, A thị huyệt hay Thiên ứng huyệt

1.2 Phản ứng theo tiết đoạn thần kinh:

Cơ thể có 31 tiết đoạn, mỗi đoạn gồm đôi dây thần kinh tủy sống, mộtkhoanh tuỷ, đôi hạch giao cảm và 1 số cơ quan bộ phận thuộc tiết đoạn đó,khi một bộ phận trong tiết đoạn có bệnh sẽ gây nên sự thay đổi bất thường ở

da (ấn đau điện trở giảm) ở cơ co rút gây đau

Bất cứ 1 kích thích nào cũng liên quan đến hoạt động vỏ não, như vậy sựphân chia phản ứng cục bộ, phản ứng tiết đoạn chỉ có giá trị về mặt vị trí cơ thể

vµ sự liên quan cục bộ từng vùng thông qua hoạt động của não với nội tạng

2 Giải thích theo y học cổ truyền:

Châm cứu có tác dụng điều khí, làm thông kinh lạc do đó lập lại sự cânbằng âm dương trong cơ thể và giảm đau

Trang 6

2.1 Về sinh lý:

Dưới sự thúc đẩy của kinh khí, khí huyết, tuần hoàn không ngừng trongkinh lạc đưa dinh dưỡng đến lục phủ ngũ tạng, làm cho cơ thể trong ngoài -trên dưới giữ được cân bằng sinh lý trong trạng thái bình thường

2.2 Về bệnh lý :

Kinh lạc là đường liên hệ nối thông phần ngoài cơ thể với nội tạng.Trong trạng thái bình thường kinh lạc có thể giữ được sự cân bằng, điều khiểnnhịp nhàng hoạt động của cơ thể Nhưng nếu sự điều hòa tổng hợp của kinhlạc không bình thường sẽ xuất hiện bệnh

2.3 Về chẩn đoán:

Mỗi nhánh của kinh lạc đều có bộ vị tuần hành nhất định và liên hệ vớicác tạng phủ nào đó Cho nên bệnh của tạng phủ có thể biểu hiện qua kinh lạctrên bề mặt da cơ thể

2.4 Về trị liệu:

Nếu một tạng phủ nào đó bị bệnh ta có thể theo 1 kinh đại diện tạng phủ

mà dùng huyệt khôi phục lại công năng bình thường của kinh lạc

* Sự mất cân bằng âm dương phản ánh qua 4 trạng thái:

+ Hư là chính khí suy giảm

+ Thực tà là khí quá mạnh

+ Hàn là sức nóng của cơ thể giảm sút

+ Nhiệt là sức nóng của cơ thể quá tăng

* Dựa vào các trạng thái trên để định phép châm cứu

+ Hư châm bổ (châm sâu - lưu lâu - kích thích nhẹ )

+ Thực châm tả (châm nông - kích thích mạnh )

+ Hàn thì cứu hoặc ôn châm

Trang 7

+ Nhiệt bốc hỏa không cứu chỉ châm hoặc nặn máu.

- Mối quan hệ giữa các tạng phủ: tuân theo quy luật âm dương, ngũhành Các chức năng hoạt động của các tạng phủ được tiến hành đều đặn, ănkhớp nhịp nhàng là nhờ khí huyết lưu chuyển trong các kinh lạc Nếu kinh lạc

bị bế tắc sẽ sinh bệnh Châm cứu là thông kinh hoạt lạc, làm cho khí huyếtlưu thông, nhờ vậy điều chỉnh được sự mất cân bằng âm dương

Châm cứu điều trị chứng rối loạn khứu giác thứ phát bằng phương phápchâm bổ huyệt Thượng tinh và châm tả huyệt Thái xung

Huyệt Thượng tinh

+ Tên khác: thần đường, minh đường, quỷ đường

+ Đặc tính: huyệt thứ 23 của mạch Đốc

+ Vị trí: trên đường dọc giữa đầu, chính giữa đoạn nối huyệt Bách hội và

Ấn đường (nơi mé tóc phía trước sâu vào 1 thốn có lỗ sủng là vị trí của huyệt)+ Giải phẫu: dưới da là cân sọ, dưới cân sọ là xương sọ, da vùng huyệtchi phối bởi dây thần kinh sọ não số 5 chi phối cảm giác ở mặt trong đónhánh 1 và nhánh 2 chi phối cảm giác niêm mạc mũi

Trang 8

+ Tác dụng: trong chứng rối loạn khứu giác thứ phát nguyên nhân do phếkhí hư, mà phế khí chủ dương khí nên phế khí hư làm dương khí không đầy

đủ trong khi đó huyệt Thượng tinh lại có tác dụng bài tiết dương khí, Đốcmạch bài tiết hơi nóng làm kinh mạch lưu thông Sách Đồng nhơn dạy mũikhông biết mùi, chóng mặt nên bổ châm huyệt này

Huyệt Thái xung:

Đây là huyệt nguyên, huyệt du của kinh Can, nơi nguyên khí sở cư, khíhuyết hưng thịnh là yếu đạo để khí huyết thông hành

+ Đặc tính: huyệt thứ 3 của kinh Can ( kinh túc quyết âm can)

+ Vị trí: sau khe giữa ngón 1,2 đo lên 1,5 thốn, huyệt ở chỗ lõm tạo nên bởi

2 đầu xương ngón 1,2 hoặc sờ dọc theo khoảng gian đốt xương bàn chân 1, tìmxác định góc tạo nên bởi 2 đầu xương bàn chân 1 và 2, lấy huyệt ở góc này

+ Giải phẫu: dưới da là gân cơ duỗi dài riêng ngón cái, cơ duỗi ngắn cácngón chân, cơ gian cốt mu chân, khe giữa các đầu sau của các xương bànchân 1,2 Thần kinh vận động cơ là các nhánh của dây thần kinh chày trước

Trang 9

và nhánh của dây thần kinh chày sau Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạnthần kinh L5.

+ Tác dụng: chứng rối loạn khứu giác thứ phát nguyên nhân do phế khí

hư, âm dương mất cân bằng, khí huyết hư tổn Bình thường phế kim khắc canmộc nhưng khi có bệnh thì can phản khắc phế, phế khí hư không chế đượccan do đó can khí thượng nghịch làm cho phế khí túc giáng bị vướng Chính

vì vậy việc châm tả huyệt Thái xung có tác dụng bình can, lý huyết, sơ tiếtthấp nhiệt ở hạ tiêu, thanh can hỏa tức can dương, điều hòa khí huyết

Theo Châm cứu học đại thành, Hoàng đế nội kinh phần linh khu, Namkinh, Chủ bệnh nguyên hậu luận nói việc kết hợp của 2 huyệt trên có tác dụngđiều hòa khí huyết, thông kinh hoạt lạc, khai khiếu có tác dụng tốt trong điềutrị chứng rối loạn khứu giác

Trang 10

CHƯƠNG 2ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

I ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

1 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân

- Các bệnh nhân bị chứng rối loạn khứu giác thứ phát sau sau các bệnh

toàn thân như đái tháo đường, suy thận, thiểu năng tuyến giáp, zona, viêmnão, sau chấn thương sọ não, chấn thương vùng hàm mặt nhiễm độc hơikhí…

- Đang được điều trị ngoại trú tại khoa khám bệnh

- Đồng ý tham gia nghiên cứu

2 Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân

- Bệnh nhân có các tổn thương thực thể ở mũi xoang (polyp mũi, K mũi,

u xơ, viêm mũi xoang vận mạch, dị ứng, nhiễm khuẩn…)

- Cơ thể suy nhược, sức đề kháng giảm

- Viêm nhiễm vùng da định châm

II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Thiết kế nghiên cứu: Thử nghiệm lâm sàng mở, lựa chọn ngẫu

nhiên, so sánh trước và sau điều trị

2 Cớ mẫu: 20 bệnh nhân được chẩn đoán rối loạn khứu giác thứ

phát, điều trị tại khoa Khám bệnh trong thời gian từ tháng 3/2014đến tháng 11/2014

3 Các chỉ tiêu nghiên cứu:

- Các đặc điểm chung.

+ Tuổi, giới, thời gian mắc bệnh

Trang 11

+ Các yếu tố liên quan khởi phát bệnh: sau các bệnh lý toàn thân như rốiloạn khứu giác do thuốc (liệu pháp xạ trị, tiếp xúc với chất độc chất…), rốiloạn khứu giác thần kinh do AIDS, nghiện rượu, Alzheimer, trầm cảm, đáitháo đường, bệnh múa giật Huntington, giảm năng tuyến giáp, suy dinhdưỡng, Parkinson, thiếu vitamin B12, thiếu kẽm, do sự lão hóa cơ thể

+ Mức độ rối loạn khứu giác: giảm, mất

+ Đánh giá hiệu quả điều trị: Theo các mức độ tốt, khá, trung bình, kém

4 Phương pháp đánh giá kết quả:

- Đánh giá khả năng khứu giác bằng phương pháp nhận biết mùi ( ở đây

ta sử dụng 1 lọ đựng hạt cà phê mới rang), khi đánh giá bảo bệnh nhân nhắmmắt, tiến hành mở nắp lọ, ở mỗi khoảng cách để mở trong khoảng 5 giây,đánh giá theo thang điểm sau:

+ 0 điểm: khứu giác bình thường (thấy mùi ở khoảng cách trên 30 cm)+ 1 điểm: khứu giác hơi kém (thấy mùi ở khoảng cách dưới 30 cm)+ 2 điểm: khứu giác kém (thấy mùi ở khoảng cách dưới 15cm)

+ 3 điểm: khứu giác rất kém (để xa không thấy, để sát mũi thì thấy mùi)+ 4 điểm: mất khứu giác hoàn toàn (để sát mũi bệnh nhân không thấy mùi)

- Đánh giá kết quả điều trị:

(điểm TĐT- điểm SĐT)/ điểm TĐT x 100%

+ Tốt: điểm sau điều trị giảm > 70% so với trước điều trị

+ Khá: Tổng điểm sau điều trị giảm 51 - 70% so với trước điều trị

+ Trung bình: Tổng điểm sau điều trị giảm 21 - 50% so với trước điều trị+ Kém: Tổng điểm sau điều trị giảm < 20% so với trước điều trị

Trang 12

III TIẾN HÀNH NGHIÊN CỨU

- Châm bổ huyệt Thượng tinh: châm luồn kim dưới da sâu 0,2 – 0,5 thốn,

mũi kim hướng về phía trán, châm hết kim

Phương pháp châm: khi người bệnh thở ra thì châm kim vào, gây đượccảm giác đắc khí, sau khi đạt cảm giác đắc khí, hướng mũi kim đi theo chiềuvận hành của kinh mạch (hướng về phía trán) để dẫn khí, do đó có tác dụng

bổ Lưu kim 20 phút , cứ 5 phút vê kim theo chiều kim đồng hồ một lần.Hết

Trang 13

thời gian rút kim, bệnh nhân hít vào thì rút kim nhanh, sau khi rút kim thì day

ấn để bịt ngay lỗ châm không cho khí thoát ra ngoài

- Châm huyệt tả Thái xung 2 bàn chân: châm thẳng, châm hết kim.

Phương pháp châm: khi người bệh hít vào thì châm kim vào, gây đượccảm giác đắc khí Lưu kim 20 phút, cứ 5 phút vê kim ngược chiều kim đồng

hồ một lần Hết thời gian rút kim, bệnh nhân thở ra thì rút kim ra từ từ, saukhi rút kim không day bịt lỗ châm để cho khí tản ra ngoài

- Sát trùng da chỗ kim châm

4 Yêu cầu kĩ thuật

- Đắc khí: theo Đông y, khi châm đạt được cảm giác đắc khí chứng tỏkhí của bệnh nhân được huy động đến thông qua mũi châm đạt kết quả tốt.nếu châm mà không đạt được cảm giác đắc khí chứng tỏ khí của bệnh nhân đãsuy kém thì ta sẽ không áp dụng phương pháp châm để điều trị Có thể hiểuđây là đáp ứng của người bệnh thông qua hệ thần kinh đối với kích thích củamũi châm Có thể xác định cảm giác đắc khí của bệnh nhân thông qua 1 trong

- Các cách thường dùng để tạo cảm giác đắc khí:

 Búng kim: búng vào cán kim nhiều lần

 Vê kim: ngón cái và ngón trỏ vê đốc kim theo hai chiều nhiều lần

 Tiến và lui kim: vừa châm vừa kéo kim lên xuống

Trang 14

- Rút kim:

 nếu kim lỏng lẻo cầm kim rút lên nhẹ nhàng

 nếu kim còn rút chặt: vê kim nhẹ trước khi rút lên sau đó sát trùngchỗ châm

5 Các tai biến khi châm và cách đề phòng:

5.1 Kim bị vít chặt không rút ra được:

- Thường do cơ tại chỗ co lại khi châm hoặc do sợi cơ xoắc chặt thân kim

- Xử trí: ấn nắn, xoa bóp nhẹ nhàng xung quanh để làm giãn cơ hoặc vênhẹ kim, rút ra từ từ

5.2 Kim bị cong, không vê kim được:

- Xử trí: lựa chiều cong rút ra, vuốt thẳng kim lại

- Ngừa: cầm kim đúng cách hoặc để bệnh nhân ở tư thế thích hợp

5.3 Gãy kim:

- Do kim gỉ sắt hoặc gấp khúc nhiều lần

- Xử trí: giữ nguyên tư thế người bệnh khi kim gãy

 Nếu đầu kim gãy thò lên mặt da: rút kim ra

 Nếu đầu kim gãy sát mặt da: dùng hai ngón tay ấn mạnh hai bênkim để đầu kim ló lên, dùng kẹp rút ra

 Nếu đầu kim gãy lút vào trong da: can thiệp ngoại khoa

- Phòng ngừa: kiểm tra kỹ mỗi cây kim trước khi châm

5.4 Say kim (choáng do châm, vượng châm)

 Biểu hiện:

 nhẹ: mặt nhợt, vã mồ hôi, hoa mắt, bồn chồn có thể buồn nôn

 nặng: ngất, chân tay lạnh

- Xử trí:

Trang 15

 nhẹ: rút hết kim, cho bệnh nhân nằm đầu thấp

 nặng: rút kim, nằm đầu thấp, bấm day huyệt Nhân trung, Hợp cốc,

có thể chích nặn máu 10 đầu ngón tay( nhóm huyệt Thập tuyên)hoặc hơ nóng: Khí hải, Quan nguyên, Dũng tuyền

- Phòng ngừa: không châm kim khi đói quá hoặc no quá, mới đi xa đếncòn mệt, quá sợ

5.5 Rút kim gây chảy máu hoặc tụ máu dưới da:

- Xử trí: dùng bông vô trùng chặn lên lỗ kim day nhẹ

- Phòng ngừa: rút bớt kim lên, đổi chiều khi xuất hiên cảm giác đau buốtdưới da vì kim đã châm trúng mạch máu

5.5 Châm trúng dây thần kinh: thường có cảm giác tê như điện giật theo đường dây thần kinh

- Xử trí: tương tự như khi châm trúng mạch máu

- Lưu ý: nếu đã châm trúng dây thần kinh mà vẫn tiếp tục vê kim có thểlàm tổn thương sợi thần kinh

Trang 16

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

I ĐẶC ĐIỂM CỦA NHÓM BỆNH NHÂN NGHIÊN CỨU

1 Đặc điểm phân bố giới tính của bệnh nhân

Bảng 1: Đặc điểm phân bố giới tính của bệnh nhân

Giới n %

Nam 7 35

Nữ 13 65

N 20 100

Nhận xét: Số BN bị chứng rối loạn khứu giác giới tính nữ chiếm tỷ lệ cao hơn nam giới 2 Đặc điểm phân bố nhóm tuổi của bệnh nhân. Bảng 2: Đặc điểm phân bố nhóm tuổi của bệnh nhân Lứa tuổi n %

20- 30 1 5

31- 40 3 15

41- 50 7 35

51- 60 9 45

Nhân xét: Độ tuổi bị bệnh nhiều nhất là từ 51 – 60 chiếm tỷ lệ 45%, tiếp theo

là độ tuổi 41 - 50 chiểm 35%, độ tuổi thanh niên chiếm tỷ lệ thấp

Ngày đăng: 05/11/2015, 12:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w