Trong khi đó đối tượng nộp thuế thì những cá nhân cư trú chiếm tỷ lệ lớn trong số đối tượng nộp thuế mà trong đó phần lớn là người Việt Nam nên khi mà vẫn còn những ý kiến về sự bất bình
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRỊNH THU HẢO
B¶O VÖ QUYÒN LîI CñA NG¦êI NéP THUÕ THU NHËP
Lµ C¸ NH¢N C¦ TRó THEO PH¸P LUËT VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRỊNH THU HẢO
B¶O VÖ QUYÒN LîI CñA NG¦êI NéP THUÕ THU NHËP
Lµ C¸ NH¢N C¦ TRó THEO PH¸P LUËT VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS ĐINH DŨNG SỸ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình khoa học của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất
kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Trịnh Thu Hảo
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Bảng chữ viết tắt
Danh mục các bảng
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THUẾ TNCN VÀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI NỘP THUẾ LÀ CÁ NHÂN CƯ TRÚ 6
1.1 Những vấn đề lý luận về thuế TNCN 6
1.1.1 Khái niệm thuế TNCN 6
1.1.2 Đặc điểm của thuế TNCN 9
1.1.3 Nguyên tắc và phương pháp đánh thuế TNCN 12
1.1.4 Cơ sở xác định thuế TNCN 16
1.2 Khái quát chung về pháp luật thuế TNCN và bảo vệ quyền lợi của người nộp thuế là cá nhân cư trú 19
1.2.1 Các nguyên tắc xây dựng luật thuế TNCN 20
1.2.2 Khái quát vấn đề bảo vệ quyền của người nộp thuế là cá nhân cư trú theo quy định của luật thuế TNCN của Việt Nam 24
Chương 2: THỰC TRẠNG BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ LÀ CÁ NHÂN CƯ TRÚ THEO LUẬT THUẾ TNCN VIỆT NAM 31
2.1 Luật thuế TNCN được xây dựng và hoàn thiện để bảo vệ quyền lợi của người nộp thuế là cá nhân cư trú 31
2.1.1 Từ 1990 đến 2008 31
2.1.2 Từ 2009 đến nay 33
Trang 52.2 Thực trạng bảo vệ quyền lợi người nộp thuế là cá nhân cư
trú của pháp luật thuế TNCN 35
2.2.1 Các kết quả đã đạt được 35
2.2.2 Các vấn đề còn bất cập 54
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT THUẾ TNCN ĐỂ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ LÀ CÁ NHÂN CƯ TRÚ 65
3.1 Những định hướng cơ bản trong việc hoàn thiện pháp luật thuế TNCN ở Việt Nam hiện nay 65
3.1.1 Hoàn thiện luật thuế TNCN cần đặt trong tiến trình cải cách hệ thống thuế quốc gia 65
3.1.2 Luật thuế TNCN phải công bằng, minh bạch, hiệu quả 66
3.1.3 Luật thuế TNCN phải là công cụ hữu hiệu để nhà nước đảm bảo nguồn thu NSNN, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội 67
3.1.4 Điều chỉnh pháp luật thuế TNCN phải đảm bảo nguyên tắc hội nhập 68
3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế TNCN để bảo vệ quyền lợi của người nộp thuế là cá nhân cư trú 68
3.2.1 Sửa đổi, bổ sung quy định về một số loại thu nhập chịu thuế TNCN 69
3.2.2 Hoàn thiện quy định về giảm trừ gia cảnh 71
3.2.3 Hoàn thiện quy định về thuế suất thuế TNCN 72
3.2.4 Quy định lại một số thu nhập được miễn thuế 74
KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 6BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
CNTT: Công nghệ thông tin GTGT: Giá trị gia tăng NSNN: Ngân sách nhà nước TNCN: Thu nhập cá nhân TNDN: Thu nhập doanh nghiệp TTCK: Thị trường chứng khoán
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Bảng 1.1 Cơ cấu nguồn thu từ thuế TNCN giai đoạn 2009-2011 28
Bảng 2.1 Biểu thuế lũy tiến từng phần đối với thu nhập thường
xuyên của công dân Việt Nam và cá nhân khác định
cư tại Việt Nam theo Pháp lệnh thuế thu nhập đối với
Bảng 2.2 Biểu thuế lũy tiến từng phần đối với thu nhập thường
xuyên của người nước ngoài cư trú tại Việt Nam và công dân Việt Nam lao động, công tác ở nước ngoài theo Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu
Bảng 2.3 Thống kê các khoản giảm trừ gia cảnh của Luật thuế
Bảng 3.1 Bảng dự toán thu NSNN theo lĩnh vực năm
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
“Trong cuộc sống không có gì tất yếu, ngoài cái chết và thuế” Đó là một trong những phát biểu bất hủ của Ông Benjamin Franklin, người soạn thảo tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ Nói như vậy để thấy rằng sự ra đời và hình thành của thuế là tất yếu bên cạnh các hiện tượng kinh
tế - xã hội khác, gắn với sự hình thành và phát triển của Nhà nước Không phân biệt là mô hình Nhà nước nào thì quan hệ giữa Nhà nước và người nộp thuế dường như là không thay đổi Nộp thuế là nghĩa vụ của công dân đối với Nhà nước Về phía Nhà nước, đánh thuế vừa là đặc quyền vừa là một trong những bài toán khó nhất, đòi hỏi sự xem xét thận trọng và kỹ lưỡng Liên quan đến vấn đề này, Adam Smith cho rằng thu thuế phải “bình đẳng, xác thực, tiện lợi và ít tốn kém”
Là một trong những loại thuế trực thu cơ bản, thuế TNCN có tác động mạnh mẽ đối với mỗi công dân bởi vì thuế gắn liền với thu nhập của họ Nếu Nhà nước có một chính sách thuế hợp lý sẽ tạo ra một nguồn thu lớn và ổn định cho ngân sách Nhưng ngược lại, nếu chính sách thuế TNCN chưa phù hợp sẽ dẫn đến những hiện tượng tiêu cực như né thuế, trốn tránh nộp thuế hoặc gian lận trong việc nộp thuế
Kể từ khi Luật thuế TNCN có hiệu lực thi hành chính thức kể từ ngày 01/01/2009, đã có nhiều ý kiến về những ưu điểm của luật thuế mới này như thuế đã xóa bỏ sự phân biệt đối xử giữa cá nhân trong nước và cá nhân là người nước ngoài, tính giảm trừ gia cảnh cho người nộp thuế để giảm bớt nghĩa vụ đóng thuế của người nộp thuế khi phải chăm sóc, phụng dưỡng nhiều người phụ thuộc Những cải thiện đó phần nào rút bớt khoảng cách giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội Tuy nhiên, có không ít ý kiến dư luận vẫn chưa hoàn toàn đồng tình với các quy định của Luật thuế TNCN như mức
Trang 9giảm trừ gia cảnh còn thấp, chưa cập nhật theo tình hình kinh tế xã hội và bình quân thu nhập tính trên đầu người; quy định khoán doanh thu và thu nhập tính thuế đối với cá nhân, hộ gia đình kinh doanh nhưng không duy trì
sổ sách kế toán, chế độ hóa đơn chứng từ; quy định tính thuế thu nhập của cá nhân có thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán chưa hợp lý dẫn đến người chuyển nhượng chứng khoán bị lỗ vẫn phải nộp thuế, v.v
Thuế TNCN là một trong những sắc thuế có tính ảnh hưởng sâu sắc đến
xã hội Trong khi đó đối tượng nộp thuế thì những cá nhân cư trú chiếm tỷ lệ lớn trong số đối tượng nộp thuế mà trong đó phần lớn là người Việt Nam nên khi mà vẫn còn những ý kiến về sự bất bình đẳng giữa các đối tượng nộp thuế hoặc sự bất hợp lý trong cách tính thuế đối với các khoản thu nhập của cá nhân thì khi ấy hiện tượng tiêu cực như trốn thuế, né thuế, gian lận thuế vẫn
có cơ hội thực hiện và hậu quả là Nhà nước sẽ mất một nguồn thu ngân sách không nhỏ Bên cạnh đó, tâm lý tin tưởng ổn định của người dân vào chính sách nhà nước, yếu tố giúp tạo nên sự ổn định chung cho toàn xã hội khó mà giữ vững
Vì vậy, tôi lựa chọn đề tài “Bảo vệ quyền lợi của người nộp thuế thu nhập là cá nhân cư trú theo pháp luật Việt Nam” để phân tích sâu hơn
những nguyên nhân phải bảo vệ người nộp thuế thu nhập là cá nhân cư trú, những ưu điểm cũng như những vấn đề còn tồn tại trong việc bảo vệ quyền lợi của người nộp thuế là cá nhân cư trú theo quy định của pháp luật về thuế TNCN của Việt Nam từ đó mong muốn đưa ra những giải pháp để hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật thuế TNCN của Việt Nam
2 Mục tiêu nghiên cứu
Bảo vệ quyền lợi của người nộp thuế thu nhập là cá nhân góp phần mang lại một cách nhìn toàn diện về những ưu điểm, nhược điểm của Luật
Trang 10thuế TNCN nói chung, những nội dung cần phải sửa đổi, bổ sung để tạo ra một sắc thuế có tính thực tiễn, được người nộp thuế tự nguyện chấp hành và nguồn thu của ngân sách nhà nước từ thuế TNCN được bảo đảm
Mục tiêu cụ thể của đề tài là phân tích hiện trạng bảo vệ quyền lợi của người nộp thuế là cá nhân cư trú của pháp luật thuế TNCN của Việt Nam đặt trong sự so sánh giữa Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới, trong đó sẽ nêu các kết quả đã đạt được, những quy định còn bất cập và những kiến nghị
để khắc phục các vấn đề đó
3 Tính mới và những đóng góp của đề tài
Cho đến nay đã có nhiều luận văn thạc sĩ, công trình khoa học nghiên cứu về thuế TNCN Các công trình này được viết ở hai thời kỳ là (i) giai đoạn Luật thuế TNCN chưa có hiệu lực thi hành như luận án tiến sĩ với đề tài là
“Thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam và định hướng hoàn thiện” năm 1995 của tác giả Vũ Văn Trường; luận văn thạc sĩ với đề tài là “Hoàn thiện hệ thống chính sách thuế của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế” năm
2006 của tác giả Mai Đình Lâm và (ii) giai đoạn Luật thuế TNCN có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2009 và các văn bản sửa đổi Luật thuế TNCN từ đó đến nay như luận án tiến sĩ với đề tài là: “Nguyên tắc công bằng trong pháp luật thuế TNCN ở Việt Nam” năm 2012 của tác giả Trần Minh Đức; luận văn thạc sĩ với đề tài là: “Xây dựng mức giảm trừ gia cảnh trong thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam” năm 2011 của tác giả Phan Thị Tố Như, luận văn thạc sĩ với đề tài là “Hoàn thiện quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam” năm
2011 của tác giả Lưu Thị Thu An; luận văn thạc sĩ với đề tài là: “Hoàn thiện thuế thu nhập cá nhân trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hiện nay” năm
2012 của tác giả Nguyễn Thị Thu Huyền; luận văn thạc sĩ với đề tài là: “Hoàn
Trang 11thiện thuế thu nhập cá nhân trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hiện nay” năm 2012 của tác giả Nguyễn Thị Thu Huyền, v v
Phần lớn các công trình đều tiếp cận thuế TNCN dưới góc độ quản lý thuế nhằm nêu lên những phương hướng, giải pháp để Nhà nước có thể thu đủ thuế, nhằm giải quyết vấn nạn trốn thuế, né thuế hoặc gian lận trong nộp thuế Một cách tiếp cận khác là nghiên cứu phân tích đánh giá từng nội dung trong quy định của luật thuế như vấn đề công bằng của pháp luật thuế TNCN, thu nhập chịu thuế TNCN, thu nhập miễn thuế TNCN, phương thức xây dựng mức giảm trừ gia cảnh của thuế TNCN hoặc thuế TNCN đối với cá nhân không cư trú, v.v Tuy nhiên, ít có công trình nào tiếp cận thuế TNCN dưới góc độ người nộp thuế và bảo vệ quyền lợi của người nộp thuế, cụ thể là cá nhân cư trú Ngoài việc làm rõ những vấn đề lý luận, cơ sở bảo vệ quyền lợi của người nộp thuế TNCN là cá nhân cư trú, phân tích và đánh giá thực trạng bảo vệ quyền lợi của người nộp thuế là cá nhân cư trú, luận văn cũng so sánh quy định của pháp luật thuế TNCN của Việt Nam một số quy định về thuế TNCN đối với cá nhân cư trú như cách xác định đối tượng cư trú, quy định về loại thu nhập chịu thuế, quy định về các khoản giảm trừ đối với người nộp thuế của một số quốc gia tại Châu Á và các bài học kinh nghiệm có thể áp dụng tại Việt Nam
4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định về thuế TNCN đối với các cá nhân cư trú (bao gồm người Việt Nam và người nước ngoài) theo quy định của luật thuế TNCN tại Việt Nam, bao gồm các nội dung chính như sau: quy định về đối tượng chịu thuế, thu nhập chịu thuế, thu nhập miễn thuế, xác định chịu thuế và tính thuế đối với cá nhân cư trú, biểu thuế suất lũy tiến từng phần áp dụng đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công và thu nhập từ kinh doanh của cá nhân, hộ gia đình, khấu trừ, kê khai và nộp thuế TNCN
Trang 12Phạm vi nghiên cứu của đề tài không có giới hạn về không gian vì quy định của luật thuế TNCN được áp dụng chung trên toàn quốc từ năm 1991; tuy nhiên, về mặt thời gian thì luận văn tập trung phân tích các quy định của Luật thuế TNCN 2007 có hiệu lực thi hành chính thức ngày 01/01/2009 và các nội dung sửa đổi, bổ sung của luật thuế TNCN năm 2012, có hiệu lực thi hành chính thức kể từ ngày 01/7/2013
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài sẽ dựa trên phương pháp luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Ngoài ra, các phương pháp khác
sẽ được sử dụng trong quá trình chuẩn bị luận văn bao gồm: phương pháp so sánh, phương pháp diễn dịch, phương pháp quy nạp, phương pháp phân tích
và tổng hợp
6 Nội dung khóa luận
Ngoài lời mở đầu và kết luận, khóa luận được trình bày thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thuế TNCN và bảo vệ quyền lợi của người nộp thuế là cá nhân cư trú
Chương 2: Thực trạng bảo vệ quyền lợi của người nộp thuế thu nhập là
cá nhân cư trú theo quy định của pháp luật Việt Nam
Chương 3: Hoàn thiện quy định pháp luật về thuế TNCN để bảo vệ quyền lợi của người nộp thuế là cá nhân cư trú tại Việt Nam
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Trang 13Chương 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THUẾ TNCN VÀ
BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI NỘP THUẾ LÀ CÁ NHÂN CƯ TRÚ 1.1 Những vấn đề lý luận về thuế TNCN
1.1.1 Khái niệm thuế TNCN
Để có nguồn vật chất bảo đảm cho sự tồn tại và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình, nhà nước phải dùng quyền lực chính trị vốn có để huy động một bộ phận của cải của xã hội Để huy động tập trung nguồn của cải xã hội, nhà nước có thể thực hiện bằng nhiều cách thức khác nhau như đóng góp bắt buộc, vận động dân đóng góp tự nguyện hoặc vay, trong đó, biện pháp huy động, tập trung của cải có tính bắt buộc đối với mọi thành viên trong xã hội được gọi là thuế
Với phạm vi tác động rộng rãi lên hầu hết lĩnh vực của đời sống xã hội,
hệ thống thuế của các quốc gia được xây dựng linh hoạt với chức năng và đối tượng chịu tác động riêng biệt Cách phân loại phổ biến nhất hiện nay đó là dựa trên căn cứ đối tượng bị đánh thuế hay đối tượng chịu thuế, theo đó sắc thuế hiện nay được phân loại thành thuế thu nhập, thuế tiêu dùng và thuế tài sản
Thuế thu nhập là tên gọi chỉ những sắc thuế mà nhà nước sử dụng để điều tiết một phần thu nhập của các tổ chức, cá nhân vào NSNN với mục đích tạo nguồn thu cho NSNN và thực hiện công bằng xã hội
Trong hệ thống thuế ở các quốc gia, thuế thu nhập là loại thuế quan trọng được áp dụng phổ biến ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển Thuế thu nhập gồm hai loại là thuế TNDN và thuế TNCN dựa trên cơ sở đối tượng nộp thuế là cá nhân hay tổ chức có thu nhập chịu thuế Lần đầu tiên được biết đến tại Anh năm 1779, thuế TNCN là một sắc thuế nhằm tập trung của cải nhân dân để phục vụ cuộc chiến tranh chống Napoleon Về sau, với
Trang 14yêu cầu tự do hóa thương mại để phát triển kinh tế của các nước, hàng rào thuế quan đánh vào hàng hóa nhập khẩu sẽ phải được xóa bỏ để san bằng thuế đánh vào hàng hóa trong nước và nhập khẩu khiến cho một phần của khoản thu của NSNN bị giảm xuống Trong tình hình đó, để tăng nguồn thu cho NSNN, nhằm đáp ứng những nhu cầu chi tiêu của chính phủ thì các loại thuế khác cần phải được phát huy tác dụng
Khi trình độ kinh tế ngày càng phát triển thì thuế thu nhập ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong tổng số thu về thuế Trên thế giới, nguồn tài chính đóng góp lớn nhất vào NSNN của các quốc gia phát triển là khoản thuế thu được từ TNCN
Thuế TNCN là sắc thuế đã được áp dụng từ lâu ở các nước phát triển, đối tượng nộp thuế này mọi cư dân trong nước và người nước ngoài có thu nhập phát sinh ở nước sở tại không phân biệt nghề nghiệp và địa vị xã hội Bất kỳ một quốc gia có nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường đều coi thuế TNCN là một sắc thuế có tầm quan trọng lớn trong việc huy động nguồn thu cho ngân sách và thực hiện công bằng xã hội Sự ra đời của thuế TNCN bắt nguồn từ các lý do sau đây:
Thứ nhất, thuế TNCN ra đời xuất phát từ yêu cầu bảo đảm sự cộng
bằng trong phân phối thu nhập Điều này đặc biệt cần thiết trong điều kiện kinh tế thị trường khi sự phân hóa giàu nghèo là điều khó tránh khỏi, thuế TNCN sẽ là một biện pháp tốt để rút ngắn khoảng cách giàu nghèo trong xã hội mà vẫn đảm bảo tính công bằng trong đóng góp của cá nhân cho xã hội Thuế TNCN đánh vào thu nhập của cá nhân dựa trên các nguyên tắc “lợi ích”,
“công bằng” và “khả năng nộp thuế” Theo nguyên tắc lợi ích kinh tế học công cộng, công dân phải có nghĩa vụ nộp thuế để được hưởng những lợi ích
do nhà nước mang lại, thí dụ hệ thống pháp luật, quốc phòng, an ninh-trật tự, dịch vụ, hàng hóa công…Thuế TNCN đảm bảo tính “công bằng” theo cả
Trang 15chiều ngang và chiều dọc Công bằng theo chiều ngang được hiểu là những người có thu nhập như nhau và có hoàn cảnh tương tự nhau thì phải nộp thuế như nhau, công bằng theo chiều dọc là những người có thu nhập cao thì phải nộp thuế nhiều hơn người có thu nhập thấp Bên cạnh đó, cũng cần phải xem xét “khả năng nộp thuế” của đối tượng nộp thuế để đảm bảo tính khả thi của chính sách thuế, vì người dân không thể nộp thuế khi thu nhập của họ còn chưa đảm bảo được duy trì cuộc sống tối thiểu Trên ý nghĩa đó, thuế TNCN
là sắc thuế đảm bảo tính công bằng, hợp lý và hiệu quả trong phân phối thu nhập giữa các cá nhân trong xã hội
Thứ hai, do nhu cầu chi tiêu của nhà nước ngày càng tăng trong điều
kiện chức năng của nhà nước ngày càng mở rộng Hơn nữa, cùng với việc ký kết và tham gia các hiệp định thương mại song phương và đa phương về tự do hóa thương mại dẫn đến nguồn thu từ thuế xuất khẩu giảm đi đáng kể Điều
đó đặt ra nhu cầu tăng cường các nguồn thu quan trong trong tổng thu NSNN
Vì thuế TNCN có diện chịu thuế khá rộng, khả năng tạo nguồn thu cho NSNN cao nhất, đặc biệt là những quốc gia có nền kinh tế phát triển Bên cạnh đó, thuế TNCN có độ co giãn theo thu nhập tương đối lớn nên cùng với sự phát triển của nền kinh tế, thu nhập của các đối tượng nộp thuế cũng không ngừng tăng lên, nếu có chính sách động viên hợp lý, ổn định thì không cần phải thường xuyên thay đổi mà vẫn thu được số thu mong muốn Do sự ổn định trong mức huy động thuế đã tạo một môi trường phù hợp với mục tiêu kinh tế dài hạn của quốc gia, góp phần khuyến khích, thúc đẩy sản xuất kinh doanh
có hiệu quả, thu được nhiều lợi nhuận, tạo ra mức thu nhập ngày càng cao làm gia tăng nguồn thu cho NSNN
Thứ ba, thuế TNCN được sử dụng như một công cụ điều tiết vĩ mô,
kích thích tiết kiệm và đầu tư theo hướng nâng cao năng lực hiệu quả xã hội
Do vậy, để tăng phúc lợi xã hội cần thiết phải điều tiết bớt thu nhập của
Trang 16những đối tượng có thu nhập cao và phân phối lại cho những đối tượng có thu nhập thấp hơn Bên cạnh đó, thông qua những chính sách miễn giảm, hỗ trợ,
ưu đãi…thuế TNCN có thể tác động trực tiếp đến định hướng tiêu dùng và đầu tư theo hướng có lợi, thực hiện mục tieu điều chỉnh kinh tế nhà nước
Thứ tư, thuế TNCN lũy tiến còn có tác dụng bù lại sự lũy thoái của các
loại thuế tiêu dùng Tính chất lũy thoái của thuế tiêu dùng được thể hiện: nếu người giàu và người nghèo cùng một sản phẩm đều chịu thuế tiêu dùng như nhau Vì vậy, thuế TNCN được coi là một sắc thuế có vai trò rất lớn trong việc đảm bảo tính công bằng của hệ thống thuế
Như vậy, từ các phân tích trên thì có thể định nghĩa: thuế TNCN là sắc thuế mà nhà nước sử dụng để điều tiết một phần thu nhập của các cá nhân vào NSNN với mục đích tạo nguồn thu cho NSNN và thực hiện công bằng xã hội
1.1.2 Đặc điểm của thuế TNCN
Thuế TNCN có những đặc điểm cơ bản như sau:
1.1.2.1 Thuế TNCN là thuế trực thu
Thuế trực thu là loại thuế mà chủ thể nộp thuế cũng đồng thời là chủ thể phải chịu thuế, nghĩa là chủ thể nộp thuế sẽ mất một phần thu nhập của chính mình vì thuế
Thuế TNCN là thuế trực thu bởi cá nhân có thu nhập chịu thuế là người nộp thuế, việc nộp thuế được tiến hành từ việc khấu trừ trực tiếp từ thu nhập của cá nhân đó mà không thông qua hành vi tiêu dùng hoặc chủ thể trung gian khác
Do thuế trực tiếp tác động vào thu nhập, tài sản của cá nhân, có xem xét đến hoàn cảnh, điều kiện và khả năng đóng góp của người nộp thuế nên nó rất
có tác dụng trong việc điều hòa thu nhập, góp phần giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập và tài sản giữa các tầng lơp dân cư Tuy nhiên, thuế trực thu có hạn chế là dễ gây phản ứng từ phía đối tượng chịu thuế hoặc dễ xảy ra tình trạng
Trang 17trốn, lậu thuế nếu quy định mức thuế suất cao Hơn nữa, việc theo dõi, tính toán và thu thuế phức tạp, đặc biệt là thuế TNCN với diện thu thuế rộng và phân tán Vì vậy, nếu không có biện pháp quản lý thu thuế hiệu quả thì dễ dẫn đến hạn chế tác dụng của loại thuế này trong việc tập trung đầy đủ, kịp thời về cho NSNN
1.1.2.2 Thuế TNCN có đối tượng chịu thuế là thu nhập của cá nhân
Trong quá trình lao động, con người tạo ra thu nhập dưới nhiều hình thức khác nhau tùy thuộc vào tiêu chí phân loại Mục đích của việc phân loại thu nhập là cơ sở cho việc phân định đối tượng chịu thuế của các sắc thuế khác nhau cũng như đặt ra cơ chế hành thu hiệu quả
Khái niệm “thu nhập” hiện nay vẫn chưa được hiểu thống nhất nên vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau Chính vì vậy, các nhà làm luật thường chỉ liệt kê các khoản được coi là thu nhập của tổ chức, cá nhân mà không đưa ra khái niệm thu cụ thể Trong nền kinh tế thị trường, thu nhập của cá nhân phát sinh rất đa dạng Nếu căn cứ vào hoạt động của các giao dịch làm phát sinh thu nhập thì thu nhập bao gồm: thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh; thu nhập từ lao động; thu nhập từ tài sản, tiền vốn; thu nhập từ thừa kế quà tặng, thu nhập từ tiền gửi tiết kiệm, v.v Các loại thu nhập kể trên không phải thu nhập nào cũng phải chịu thuế mà chỉ có một số khoản thu nhập được pháp luật quy định rõ ràng là đối tượng chịu thuế mới là thu nhập chịu thuế Thí dụ: Luật thuế TNCN của Hàn Quốc quy định thu nhập chịu thuế toàn cầu bao gồm (1) Thu nhập từ lao động; (2) thu nhập từ kinh doanh; (3) Thu nhập từ cho thuê bất động sản; (4) Thu nhập từ tài sản tạm thời; (5) Thu nhập khác và thu nhập chịu thuế riêng biệt: (6) Thu nhập từ lương hưu; (7) Thu nhập từ chuyển nhượng tài sản; (8) Thu nhập từ trồng rừng và khai thác gỗ Luật thuế TNCN của Nhật Bản quy định thu nhập chịu thuế bao gồm: (1) Thu nhập từ công việc lao động; (2) Thu nhập từ hoạt động kinh doanh; (3)Thu nhập do
Trang 18buốn bán bất động sản; (4) Thu nhập từ tiền lãi cổ phần; (5) Thu nhập từ lợi tức; (6) Thu nhập từ các khoản hưu trí; (7) Thu nhập từ buôn bán gỗ; (8) Thu nhập từ các khoản vốn; (9) Thu nhập bất thường; Thu nhập khác.[15, trang 5]
Pháp luật thuế TNCN nói riêng và thuế thu nhập nói chung ở các nước đều quy định khoản thu nhập chịu thuế làm cơ sở cho việc đánh thuế Thông thường thu nhập chịu thuế phải là thu nhập hợp pháp, thực tế phát sinh, có tính phổ biến và nhà nước có thể kiểm soát được Tuy nhiên, quy định về loại thu nhập chịu thuế sẽ không hoàn toàn giống nhau ở các nước (thí dụ: Trung Quốc quy định 11 loại thu nhập chịu thuế TNCN, Thái Lan quy định 8 loại thu nhập chịu thuế TNCN, Philippin quy định 10 loại thu nhập chịu thuế TNCN [15, trang 4] vì các lý do như sau:
Mỗi quốc gia sẽ có nguyên tắc đánh thuế riêng Các nguyên tắc đánh thuế phổ biến bao gồm: đánh thuế theo quốc tịch, đánh thuế theo theo phạm vi lãnh thổ (nguồn của thu nhập phát sinh từ quốc gia nào) và đánh thuế trên cơ
sở cư trú/không cư trú của đối tượng nộp thuế Mỗi quốc gia có thể lựa chọn
sử dụng một hoặc hai hoặc phối hợp cả ba phương thức đánh thuế này [16, trang 178-179]
Thuế TNCN chỉ được áp dụng cho các khoản thu nhập mà nhà nước có thể kiểm soát và quản lý được Như vậy, tùy thuộc khả năng và trình độ quản
lý về thuế của mỗi nhà nước mà quy định về loại thu nhập chịu thuế TNCN cũng khác nhau
Trong quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế và hội nhập sâu rộng, việc xác định loại thu nhập nào chịu thuế cũng phụ thuộc không nhỏ vào việc các quốc gia đó có tham gia các hiệp định song phương và đa phương theo đó quy định, xác nhận các loại thu nhập phải chịu thuế trên lãnh thổ của mình hay không
1.1.2.3 Thuế TNCN là loại thuế có tính ổn định không cao và phức tạp
Trang 19Đặc điểm này của thuế TNCN thể hiện ở chỗ các quy định về thu nhập chịu thuế hoặc không chịu thuế thường xuyên thay đổi theo biến dộng của nền kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ Ngoài ra, những quy định về giảm trừ gia cảnh cho bản thân người nộp thuế và người phụ thuộc cũng có sự thay đổi linh hoạt do thuế điều tiết trực tiếp vào thu nhập của cá nhân nên có sự tác động rất lớn đến mức sống của cư dân và chịu tác động của giá cả thị trường
1.1.2.4 Văn bản điều chỉnh quan hệ về thuế TNCN bao gồm các văn bản pháp luật của quốc gia và pháp luật quốc tế
Cả ba phương pháp thu thuế phổ biến là đánh thuế theo quốc tịch, đánh thuế theo theo phạm vi lãnh thổ (nguồn của thu nhập phát sinh từ quốc gia nào) và đánh thuế trên cơ sở cư trú/không cư trú của đối tượng nộp thuế dẫn đến hệ quả tất yếu là việc điều chỉnh thuế không chỉ dừng lại ở các văn bản pháp luật của một quốc gia được thu thuế mà còn liên quan đến văn bản pháp luật về thuế TNCN của quốc gia khác nơi người nộp thuế là công dân Pháp luật quốc tế phổ biến về thuế TNCN là các điều ước quốc tế, hiệp định song phương về tránh đánh thuế hai lần mà các quốc gia ký kết để tránh đánh trùng thuế trên một khoản thu nhập của cá nhân khi cá nhân đó đồng thời hiện diện hoặc có thu nhập từ các quốc gia là thành viên của các hiệp định
1.1.3 Nguyên tắc và phương pháp đánh thuế TNCN
1.1.3.1 Nguyên tắc đánh thuế TNCN
Trên thực tế, một cá nhân tuy có thu nhập từ nhiều nguồn khác nhau nhưng không phải tất cả thu nhập phát sinh của cá nhân đều là đối tượng điều chỉnh của thuế TNCN Ngoài ra, với ý nghĩa tạo tính công bằng, tăng thu cho NSNN và thúc đẩy phát triển kinh tế, chính phủ các nước cần phải lựa chọn phương pháp đánh thuế và thời gian tính thuế hợp lý để đảm bảo thuế TNCN được áp dụng đúng với ý nghĩa của nó Có ba nguyên tắc mà các nước áp dụng thuế TNCN cần phải tuân theo, đó là:
Trang 20(i) Đánh thuế TNCN trên cơ sở thu nhập thực tế
Trong số các thu nhập phát sinh từ các nguồn khác nhau của một cá nhân, chỉ có phần thu nhập chịu thuế - cơ sở để đánh thuế thu nhập - là đối tượng điều chỉnh của thuế TNCN Để phản ánh đúng khả năng kinh tế của người nộp thuế, thu nhập chịu thuế của một cá nhân luôn là thu nhập ròng - nghĩa là thu nhập thực tế của cá nhân đó sau khi đã trừ đi những chi phí cần thiết để tạo ra nó và những khoản theo quy định được phép giảm trừ Các nước khác nhau có cách xác định thu nhập chịu thuế và thu nhập được miễn trừ trong tổng thu nhập của một cá nhân khác nhau Thu nhập không chịu thuế thu nhập thông thường là những khoản thu nhập sau khi đã nộp thuế thu nhập hay một loại thuế tương đương ở một khâu nào đó hoặc những thu nhập nằm trong diện ưu tiên, khuyến khích theo chính sách của nhà nước
Thu nhập chịu thuế của một cá nhân, về nguyên tắc là tất cả các khoản thu nhập phát sinh, kể cả tiền và hiện vật, không phân biệt nguồn tạo ra nó (sản xuất kinh doanh, lao động, đầu tư) sau khi loại bỏ những khoản được pháp luật quy định không phải chịu thuế TNCN Ở hầu hết các nước, thu nhập chịu thuế được xác định trong các trường hợp cụ thể sau đây:
Thu nhập phát sinh từ những giao dịch trên thị trường được quy về hình thức tiền tệ Thu nhập phát sinh từ những giao dịch trên thị trường được quy
về hình thức tiền tệ trừ đi các khoản chi phí khách quan gắn liền với quá trình tạo ra thu nhập (cả chi phí sản xuất và chi phí khách quan khác) Tùy theo điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước mà các khoản chi phí miễn trừ này được quy định khác nhau
Thu nhập của các tổ chức, cá nhân phát sinh từ giao dịch trên thị trường được miễn trừ thêm một khoản thu nhập để khuyến khích những hoạt động kinh doanh, đầu tư theo đinh hướng của nhà nước
(ii) Áp dụng phương pháp lũy tiến để tính thuế TNCN
Trang 21Thuế suất lũy tiến được coi là phương pháp hiệu quả nhất để đánh thuế theo "khả năng nộp thuế" của cá nhân và làm tăng tính hữu dụng đối với thu nhập, giảm thiểu sự mất mát tổng thể của xã hội do tính hữu dụng của thu nhập đối với chủ càng giảm khi thu nhập càng tăng
Hiện nay, biểu thuế lũy tiến đã và đang được áp dụng ở hầu hết các quốc gia trên thế giới vói những hình thức khác nhau Có những quốc áp dụng biểu thuế toàn phần đối với từng loại thu nhập riêng biệt của cá nhân nhưng cũng có những quốc gia áp dụng biểu thuế lũy tiến trên toàn bộ thu nhập của
cá nhân không phân biệt nguồn gốc phát sinh
(iii) Xác định đúng thời gian phát sinh thu nhập chịu thuế TNCN Thu nhập của một cá nhân được hình thành từ rất nhiều nguồn khác nhau Chính vì vậy, việc xác định thời gian phát sinh thu nhập chịu thuế chỉ
có tính tương đối về mặt thời gian Chẳng hạn, khoản lợi tức mà cá nhân nhận được tại thời điểm hiện tại là kết quả của việc đầu tư của cá nhân đó tại quá khứ, hay khoản trả trước tiền nhà cá nhân nhận được là thu nhập ứng trước của hoạt động cho thuê nhà trong tương lai Do vậy, để đảm báo tính khả thi
và công bằng khi tính thuế, cần phải quy ước một sự phân đoạn về mặt thời gian để xác định thu nhập chịu thuế thu nhập của cá nhân Thời gian tính thu nhập chịu thuế được áp dụng phổ biến trên thế giới thường là một năm tính thuế trùng với năm tài chính hoặc năm ngân sách Những khoản thu nhập phát sinh trong thời gian đó là đối tượng chịu thuế thu nhập trong giai đoạn đó
1.1.3.2 Phương pháp đánh thuế TNCN
Mỗi quốc gia với những điều kiện kinh tế, xã hội, trình độ quản lý, phong tục tập quán và chính sách khác nhau có thể chọn cho mình một phương pháp riêng để đánh thuế TNCN Trên thế giới, nhìn chung các nước đều chọn một trong ba phương pháp đánh thuế TNCN là:
(i) Đánh thuế theo từng nguồn hình thành thu nhập
Trang 22Theo phương pháp này, thuế suất thuế TNCN có rất nhiều mức độ khác nhau áp dụng cho những thu nhập có nguồn phát sinh khác nhau Số thuế mà một cá nhân phải nộp sẽ là tổng số thuế cá nhân đó phải nộp theo từng nguồn
Vì đánh thuế trên từng loại thu nhập nên thuế TNCN sẽ được áp dụng với toàn bộ thu nhập chịu thuế của cá nhân và phương pháp này sẽ giúp nhà nước hạn chế tình trạng trốn thuế Tuy nhiên, phương pháp đánh thuế trên từng nguồn hình thành thu nhập vẫn không phải là không có nhược điểm Thứ nhất, việc áp dụng mức thuế suất khác nhau đối với từng loại thu nhập khác nhau sẽ khiến cho việc tính thuế, quản lý thu thuế của nhà nước trở thành công việc hết sức phức tạp và khó khăn Thứ hai, một người có thu nhập từ nhiều nguồn khác nhau, vì vậy, ranh giới để phân chia thu nhập xuất phát từ nguồn nào là rất khó chính xác Để được hưởng mức thuế suất thấp hơn, người nộp thuế có thể sẽ gian lận trong khâu kê khai nguồn hình thành thu nhập và dẫn đến tình trạng trốn thuế Ngoài ra, rất khó để áp dụng thuế suất lũy tiến cho phương pháp này, dẫn đến việc làm giảm tính công bằng khi đánh thuế TNCN
(ii) Đánh thuế trên tổng thu nhập
Đây là phương pháp đang được hầu hết các nước phát triển trên thế giới
áp dụng Trái với phương pháp trên, ở phương pháp này, thu nhập của một cá nhân sẽ được tính tổng lại, không phân biệt nguồn hình thành thu nhập và chi phí tạo ra thu nhập Sau đó, một biểu thuế suất lũy tiến sẽ được áp dụng chung cho toàn bộ thu nhập ròng của cá nhân đó Phương pháp đánh thuế thu nhập này, về cơ bản, có thể khắc phục được những nhược điểm của phương pháp đánh thuế thu nhập trên từng nguồn phát sinh, do không có việc phân chia thu nhập của cá nhân Bên cạnh đó, nó còn có ưu điểm là đơn giản, áp dụng biểu thuế lũy tiến một cách dễ dàng và hiệu quả, đạt được ý nghĩa công bằng khi đánh thuế TNCN Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp này là không
Trang 23phân chia rõ từng loại thu nhập của một cá nhân nén rất khó để theo sát được từng nguồn thu nhập, dễ dẫn đến tình trạng trốn thuế của cá nhân
(iii) Đánh thuế hỗn hợp
Để hạn chế nhược điểm và phát huy ưu điểm của cả hai phương pháp trên, thuế TNCN có thể được đánh theo phương pháp hỗn hợp Nghĩa là ban đầu đánh thuế trên từng nguồn hình thành thu nhập vổi những mức thuế suất khác nhau, sau đó tổng hợp tất cả các thu nhập lại và đánh thuế trên thu nhập tổng đó một mức thuế suất chung khác nữa Đây là phương pháp lý tưởng nhất cho việc áp dụng thuế TNCN Vì nó vừa áp dụng được thuế suất lũy tiến (cho phần thu nhập tổng) lại vừa đảm bảo được việc theo sát từng nguồn thu nhập của cá nhân Nhưng phương pháp này lại quá phức tạp khi tính toán, tốn kém trong khâu quản lý nên nó chỉ có ý nghĩa là "hình mẫu lý tưởng trên lý thuyết"
1.1.4 Cơ sở xác định thuế TNCN
Để xác định được số thuế thu nhập một cá nhân phải đóng, điều kiện cần và đủ là phải xác định được 3 yếu tố sau:
(i) Thu nhập chịu thuế
(ii) Thu nhập được miễn trừ khỏi diện chịu thuế
(iii) Thuế suất thuế TNCN
Một trong những yếu tố quan trọng nhất dể xác định chính xác thuế TNCN chính là thu nhập tính thuế của cá nhân đó Thu nhập tính thuế của cá nhân có thể được tính bằng công thức:
Thu nhập tính thuế = thu nhập chịu thuế - các khoản giảm trừ
Qua đó có thể thấy, để xác định thu nhập tính thuế của cá nhân cần xác định thu nhập chịu thuế và các khoản giảm trừ trong thu nhập của cá nhân đó
1.1.4.1 Xác định thu nhập chịu thuế
Trang 24Thu nhập chịu thuế của cá nhân trong công thức trên là tổng thu nhập của cá nhân không bao gồm các khoản miễn thuế Việc xác định đâu là thu nhập chịu thuế và đâu là thu nhập được giảm trừ trong tổng thu nhập của một
cá nhân đối với mỗi quốc gia là khác nhau tùy theo mục đích đánh thuế của quốc gia đó Để xác định thu nhập chịu thuế, thông thường các quốc gia sẽ quy định căn cứ vào nguồn hình thành thu nhập Thu nhập chịu thuế tại các nước đang phát triển có thể được xác định khác đi tùy chính sách của từng nước
1.1.4.2 Xác định các khoản giảm trừ
Một trong những đặc điểm quan trọng của thuế TNCN là một số khoản thu nhập của đối tượng nộp thuế được trừ khỏi tổng thu nhập khi tính thuế TNCN Thu nhập giảm trừ gồm 2 loại: giảm trừ tiêu chuẩn và giảm trừ cá nhân Giảm trừ tiêu chuẩn là đưa ra một mức giảm trừ áp dụng chung cho toàn xã hội, nó được thực hiện thông qua việc xác định mức khởi điểm chịu thuế - mức thu nhập trung bình của xã hội đảm bảo trang trải đủ những chi phí cần thiết về mặt kinh tế - khoản thu nhập khởi điểm chịu thuế của những nước khác nhau là khác nhau phụ thuộc vào mức sống, quan niệm và tập quán của từng nước Việc áp dụng thu nhập giảm trừ tiêu chuẩn sẽ không gây khó khăn trong quá trình tính toán thuế thu nhập, tiết kiệm chi phí nên đều được hầu hết các nước trên thế giới hiện nay áp dụng Giảm trừ cá nhân gồm giảm trừ có tính chất kinh tế (giảm trừ những chi phí liên quan trực tiếp đến việc tạo ra thu nhập) và giảm trừ có tính chất xã hội (những khoản chi ủng hộ giáo dục, giúp đỡ người có hoàn cảnh khó khăn) Đây là đặc điểm giúp thuế TNCN thực hiện được ý nghĩa tạo ra sự công bằng trong xã hội Tuy nhiên, do tính phức tạp và khó khăn trong tính toán, công nghệ nên những khoản giảm trừ cá nhân mới chỉ được áp dụng rộng rãi tại các nước phát triển và những nước có nền kinh tế đang chuyển đổi
Trang 25Ngoài ra, còn có một số thu nhập được trừ khỏi tổng thu nhập trước khi xác định thu nhập chịu thuế Đó thường là những chi phí phát sinh thường xuyên và khách quan như chi y tế, các loại thuế, đóng góp từ thiện, v.v
1.1.4.3 Thuế suất thuế TNCN
Một yếu tố không kém phần quan trọng để xác định thuế TNCN chính
là thuế suất Do là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến gánh nặng thuế mà mỗi cá nhân phải chịu nên biểu thuế của mỗi quốc gia cũng phải đảm bảo được tính công bằng và kinh tế Để làm được điều đó, các quốc gia cũng cần tuân thủ theo những nguyên tắc nhất định về thuế suất thuế TNCN Trong đó phải đảm bảo:
(i) Đánh thuế vào thu nhập tổng hợp với số lượng thuế suất vừa phải
để dễ dàng trong việc quản lý
(ii) Mức thuế suất không nên quá cao làm ảnh hưởng đến nỗ lực lao động, tiết kiệm và đầu tư
(iii) Sử dụng thuế suất ưu tiên linh hoạt cho từng loại thu nhập căn cứ vào đặc điểm kinh tế, xã hội
Trên thế giới, các nước thường quy định mức thuế suất ưu đãi đối vơi thu nhập từ lao động nhiều hơn là thu nhập từ vốn Bên cạnh đó, một đặc trưng nổi bật nhất của thuế TNCN chính là việc áp dụng mức thuế suất lũy tiến, gồm thuế suất lũy tiến toàn phần và lũy tiến từng phần Thuế suất toàn phần nghĩa là áp dụng một mức thuế suất cho tổng thu nhập chịu thuế Ví dụ Luật thuế TNCN quy định mức thuế suất 5% đối với thu nhập từ bản quyền Như vậy, một cá nhân có thu nhập 5 triệu đồng/lần phát sinh thu nhập và cá nhân có thu nhập 50 triệu đồng/lần phát sinh thu nhập từ bản quyền sẽ phải đóng thuế TNCN với cùng một mức thuế suất Thuế suất toàn phần có ưu điểm là đơn giản, dễ tính toán nhưng lại có nhược điểm là có tính dàn trải, không phần biệt mức thu nhập cao hay thấp Ngược lại, thuế suất lũy tiến
Trang 26từng phần là việc thu nhập tính thuế và thuế suất được thiết kế theo mức độ tăng dần, số thuế phải nộp cũng lũy tiến tăng theo Chính vì vậy, khi tính thuế theo loại thuế suất này, những người có thu nhập cao hơn thì sẽ phải áp dụng mức thuế suất cao hơn và số thuế phải nộp sẽ nhiều hơn Thuế suất lũy tiến từng phần có nhược điểm là phức tạp trong tính toán do có nhiều bậc thuế
Trong quá trình thiết kế biểu thuế, việc một quốc gia lựa chọn loại thuế suất nào để áp dụng cho thuế TNCN của đất nước mình phụ thuộc rất nhiều
vào đặc điểm kinh tế, xã hội và mục tiêu chính sách của quốc gia đó
1.2 Khái quát chung về pháp luật thuế TNCN và bảo vệ quyền lợi của
người nộp thuế là cá nhân cư trú
Thuế thu nhập đầu tiên được áp dụng tại các nước Châu Âu như Anh vào năm 1799, và Phổ vào năm 1808 Hoa Kỳ bắt đầu áp dụng thuế thu nhập vào năm 1864 trong thời kỳ nội chiến nhưng bị gián đoạn vào năm 1872 Các nước Châu Âu khác, cũng như Úc, Niu Dilân, và Nhật Bản áp dụng các loại thuế thu nhập thường xuyên vào nửa cuối Thế kỷ 19 Tại Châu Á: Thái Lan bắt đầu áp dụng năm 1939, Philippin năm 1945, Hàn quốc năm 1948, Indonesia năm 1949, Trung Quốc năm 1984; Các nước Đông Âu mới áp dụng như Rumani năm 1990, Nga năm 1991, Ba Lan năm 1992
Để thực hiện hoạt động thu thuế nói chung và thuế TNCN nói riêng, sự điều chỉnh của nhà nước thông qua các quy định pháp luật là hết sức cần thiết Việc ban hành các văn bản pháp luật về thuế TNCN có ý nghĩa quan trọng, tạo căn cứ pháp lý cho việc áp dụng thuế TNCN trên thực tế Bởi suy cho cùng, mặc dù nhà nước nào cũng có quyền đánh thuế nhưng để nguồn thu từ thuế trở thành hiện thực, nhà nước phải sử dụng pháp luật như một công cụ hữu hiệu và đặc thù nhất của mình để thực hiện mục tiêu đã định
Pháp luật thuế TNCN phải được xây dựng dựa vào những tiêu chuẩn nhất định trong tổng thể các quy định về thuế, trong đó cần xem xét và thực
Trang 27hiện theo những căn cứ cơ bản như đảm bảo nguồn vật chất chi tiêu nhà nước, những yếu tố liên quan đến tình hình phát triển kinh tế, thu nhập của dân cư, định hướng phát triển của nhà nước; yêu cầu đảm bảo bao quát hết nguồn thu cho NSNN và đảm bảo yêu cầu của các quan hệ kinh tế đối ngoại; quan hệ
kinh tế quốc tế trong từng giai đoạn cụ thể
1.2.1 Các nguyên tắc xây dựng luật thuế TNCN
Những nguyên tắc này được xem là nguyên tắc cơ bản được thừa nhận phổ biến trên thế giới trong việc xem xét, đánh giá tác động của thuế, tuân thủ nguyên tắc chung trong xây dựng, ban hành và thực hiện Luật thuế
1.2.1.1 Nguyên tắc khấu trừ tại nguồn
Nguyên tắc quốc tịch, nguyên tắc quốc tịch có nghĩa là rằng mỗi công dân phải có nghĩa vụ đóng thuế cho đất nước mà họ mang quốc tịch Nguyên tắc này làm cơ sở cho quy định đánh thuế lên khoản thu nhập phát sinh ngoài nước của công dân Việt Nam Nguyên tắc quốc tịch không chỉ nêu rõ nghĩa
vụ công dân mà còn bảo vệ công dân của một nước khỏi nghĩa vụ thuế của quốc gia khác, tức là “dân xứ nào phải và chỉ nộp thuế cho xứ đó”, nếu như
họ không có thu nhập phát sinh ở một xứ nào khác
Nguyên tắc nguồn gốc (nguyên tắc lãnh thổ), bất luận thu nhập được tạo ra bởi công dân mang quốc tịch nào, hễ phát sinh trong khuôn khổ lãnh thổ quốc gia nào thì phải nộp thuế cho chính phủ nuớc chủ nhà bởi những bảo
hộ, bảo đảm và tiện ích công cộng mà nước chủ nhà đã cung cấp
Trường hợp xuất hiện xung đột giữa nguyên tắc quốc tịch và nguyên tắc nguồn gốc thì các quốc gia và vùng lãnh thổ sẽ thỏa thuận tránh đánh thuế hai lần bằng một hiệp định Hiệp định không tạo ra các nghĩa vụ thuế mới, khác hoặc nặng hơn so với luật thuế trong nước
Tiêu chuẩn cho một thuế thu nhập tốt, hiệu quả chi phí của những phản ứng hành vi trước thuế, tối thiểu hóa tổn thất xã hội (đánh đổi giữa lợi ích
Trang 28kinh tế và lợi ích xã hội trong việc ban hành thuế TNCN), sử dụng thuế để nội
bộ hóa ngoại tác, cụ thể là các tác động ngược chiều như đã phân tích Công bằng trong việc phân bổ gánh nặng thuế, công bằng ngang: những người có khả năng chi trả bằng nhau thì đóng thuế bằng nhau, công bằng dọc, những người có khả năng chi trả nhiều hơn thì đóng thuế nhiều hơn (thuế suất lũy tiến: thuế suất trung bình tăng khi thu nhập tăng)
Về quản lý thuế, đối với người nộp thuế thì giảm chi phí của những người đóng thuế về thời gian, tiền, những bất tiện, về cơ quan quản lý, giảm chi phí hành chính Thực tế, chi phí hành thu của thuế TNCN thường rất cao, điều này làm cơ sở để áp dụng biện pháp khấu trừ thuế tại nguồn chi trả, đó cũng là một biện pháp để giảm chi phí hành thu
1.2.1.2 Nguyên tắc thu khi phát sinh thu nhập
Đảm bảo nguyên tắc công bằng, giải quyết yêu cầu này, những vấn đề phát sinh trong công tác hành thu như khai man tiền thuế, trốn lậu thuế sẽ được giảm thiểu; hệ thống pháp luật thuế dễ được người dân chấp nhận, tự giác tuân thủ, đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước Như đã phân tích
ở trên, các điểm thể hiện sự mất công bằng trong Luật thuế TNCN cần phải được điều chỉnh: Quy định thu thuế ngay từ đồng đầu tiên với mức thuế suất 0%, điều này đảm bảo vai trò đúng của Luật thuế TNCN chứ không phải thuế thu nhập cao đã thực hiện vừa qua
1.2.1.3 Nguyên tắc khả năng nộp thuế
Thuế nên trích xuất nhiều hơn vào thu nhập cao và giảm xuống cho thu nhập thấp sao cho mức hy sinh là như nhau khi đồng thuế cuối cùng được nộp Từ đó, trên thực tế nguyên tắc công bằng theo khả năng tài chính làm cơ
sở của thuế lũy tiến trên những đồng thu nhập vượt qua các ngưỡng nhất định
Nguyên tắc bình đẳng, đòi hỏi địa vị thế của mỗi chủ thể phải ngang nhau hoặc mỗi đối tượng nộp thuế phải được đối xử không thiên vị Đóng
Trang 29thuế là trách nhiệm công dân, là nghĩa vụ của mọi người bất kể giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp và địa vị xã hội Thực hiện tốt nguyên tắc công khai, minh bạch, minh bạch của hệ thống pháp luật thuế yêu cầu các qui phạm pháp luật thuế TNCN phải rõ ràng, giảm thiểu những quy định dẫn chiếu từ văn bản pháp luật này sang văn bản pháp luật khác hoặc hạn chế dẫn chiếu những quy định chung
Để đảm bảo sự minh bạch, các quy định trong đạo luật thuế liên quan đến phạm vi áp dụng, đối tượng nộp thuế, đối tượng tính thuế, cách xác định mức thuế phải nộp, thời hạn nộp thuế, cách thức nộp thuế, các cơ quan thu, hành vi nào bị coi là vi phạm, thẩm quyền phạt và mức phạt cần phải được quy định cụ thể, rõ ràng, dễ hiểu để đa số dân chúng đều có thể hiểu được quyền và nghĩa vụ về thuế của mình Đây cũng chính là phương án phòng ngừa tốt đối với những hành vi vi phạm pháp luật thuế Ngoài ra, cần áp dụng những biện pháp có hiệu quả cả về tổ chức bộ máy hành chính để đảm bảo sự độc lập ngày càng cao giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp Trong quá trình ban hành luật thuế, tính công khai được thể hiện ở việc công bố văn bản pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời gian luật định, tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho quá trình quản lý, thu và nộp thuế
Đảm bảo tính ổn định, tính ổn định của hệ thống pháp luật thuế thực chất cũng thể hiện sự công bằng, minh bạch của pháp luật Tính ổn định của
hệ thống pháp luật thuế yêu cầu nhà hoạch định chính sách cũng như cơ quan lập pháp- ở đây là Quốc Hội cần có dự báo về xu hướng phát triển và những vấn đề phát sinh, cần điều chỉnh bằng pháp luật đối với những nội dung gắn với phạm vi điều chỉnh của Luật thuế TNCN, điển hình như thuế suất đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn phải có xu hướng giảm để tăng tính cạnh tranh quốc gia trong thu hút vốn đầu tư gián tiếp quốc tế; Thuế suất đánh trên
Trang 30lợi tức và trên thu nhập chuyển nhượng vốn có khuynh hướng xích lại gần nhau để thúc đẩy quá trình tái đầu tư trong doanh nghiệp, v.v
Đảm bảo tính ổn định của hệ thống pháp luật thuế TNCN sẽ dễ dàng hơn trong việc thực hiện, ổn định và thu hút nhân lực có trình độ cao và tăng trưởng kinh tế Tuy vậy, cũng cần phải hiểu rõ rằng, Việt Nam vừa là quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi, vừa là nước có nền kinh tế đang phát triển nhưng ở mức độ thấp, tính ổn định của hệ thống pháp luật thuế bị hạn chế
Trong quá trình áp dụng có thể có những điều chỉnh chính sách pháp luật thuế cũng như từng luật thuế cụ thể nhưng sự điều chỉnh đó phải tuân thủ đúng lộ trình đã dự liệu, hoạch định nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực của chúng
Nguyên tắc minh bạch, thuế làm thu nhập chuyển dịch bắt buộc và không ngang giá từ khu vực tư nhân vào NSNN Vậy nên, thuế phải minh bạch và được giải thích cũng như hướng dẫn thống nhất cả nước Nguyên tắc này cũng đòi hỏi chính phủ phải công bố cho dân chúng biết thuế đã được sử dụng như thế nào Những khoản thuế ngầm (như lạm phát) và thuế tương lai (như nợ công) cũng phải minh bạch Sự không minh bạch trong thuế khóa là nguyên nhân dẫn đến những căn bệnh như: bất bình đẳng, tham nhũng, lạm thu, v.v đồng thời làm suy yếu tính pháp định của thuế Nguyên tắc này thể hiện tại Khoản 3 Điều 4 của Luật Quản lý thuế Việt Nam: “Việc quản lý thuế phải bảo đảm công khai, minh bạch, bình đẳng; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế”
Nguyên tắc trọng pháp (Nguyên tắc pháp định), thuế phải do Quốc Hội thông qua do đó nó đương nhiên là một đạo luật, kể cả cơ quan quản lý thuế lẫn đối tượng nộp thuế và những bên có liên quan đều bị chi phối và buộc phải chấp hành Gọi là nguyên tắc hành chính vì không chứa đựng yếu tố kinh
tế, Chính phủ thường có nhiều lý lẽ và đủ sức mạnh hành thu, nên nguyên tắc
Trang 31này nhằm ngăn chặn Chính Phủ và chính quyền địa phương tự đặt ra các khoản thu đối với người dân và bảo vệ dân chúng trước những nguy cơ lạm thu của cơ quan hành pháp Điều đó có nghĩa là, về mặt nguyên tắc, mọi sắc thuế không được ban hành dưới hình thức một đạo luật thì không có giá trị và không có khả năng ràng buộc đối với người đóng thuế - cử tri Và, ngay cả cơ quan quản lý thuế cũng có khả năng bị kiện nếu làm trái luật
Nguyên tắc mang tính kinh tế, khi một khoản thuế được ban hành nó không chỉ điều chỉnh nghĩa vụ và hành vi công dân mà sẽ tác động đến phân phối và hoặc tái phân phối thu nhập giữa chính phủ và khu vực tư, giữa các nhóm dân cư với nhau
1.2.2 Khái quát vấn đề bảo vệ quyền của người nộp thuế là cá nhân cư trú
theo quy định của luật thuế TNCN của Việt Nam
Một trong các nguyên tắc đánh thuế thu nhập nói chung và thuế TNCN nói riêng là dựa trên tình trạng cư trú của đối tượng nộp thuế Xác định tình trạng cư trú của người nộp thuế không ảnh hưởng đến quốc tịch hoặc tình trạng cư trú hợp pháp của người nộp thuế nhưng nó tác động đến số thuế mà người đó phải nộp Việc quy định cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú trong luật thuế TNCN vừa có thể đảm bảo nguyên tắc “công bằng” khi thu thuế, vừa thực thi các thỏa thuận về quyền đánh thuế của Việt Nam được quy định trong các hiệp định tránh đánh thuế hai lần và phù hợp với thông lệ quốc
tế khi xác định nghĩa vụ thuế của các đối tượng này
1.2.3.1 Xác định cá nhân cư trú theo luật thuế TNCN của Việt Nam
Tính đến ngày 15/7/2014, Việt Nam đã ký Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với thu nhập với 69 nước/vùng lãnh thổ trên thế giới [29] Một trong các nội dung cơ bản của các Hiệp định này là xác định đối tượng cư trú của một quốc gia để tránh tình trạng cá nhân
Trang 32đồng thời phải nộp thuế TNCN tại Việt Nam hoặc quốc gia ký hiệp định tránh đánh thuế với Việt Nam
Các tiêu chí để xác định một cá nhân là đối tượng cư trú tại Việt Nam hoặc quốc gia ký kết Hiệp định tránh đánh thuế hai lần lần lượt được xếp theo thứ tự ưu tiên như sau:
1 Quốc gia nơi cá nhân có nhà ở;
2 Quốc gia nơi cá nhân có các quan hệ cá nhân và kinh tế chặt chẽ hơn (trung tâm của các quyền lợi chủ yếu);
3 Quốc gia nơi cá nhân thường sống;
4 Quốc gia nơi cá nhân mang quốc tịch;
5 Quốc gia nơi cá nhân được coi là đối tượng cư trú theo thỏa thuận chung khi không xác định được tư cách cư trú của cá nhân theo các yếu
tố nêu trên
Theo các quy định của Việt Nam, khái niệm “cư trú”, “nơi cư trú” có thể được quy định tại Bộ luật dân sự, Luật quốc tịch, Luật cư trú, v.v Theo quy định của Bộ luật dân sự không có khái niệm “cư trú” mà chỉ có khái niệm
“nơi cư trú”, cụ thể là “Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống” Trong trường hợp không xác định được nơi cư trú của cá nhân theo nguyên tắc trên đây thì nơi cư trú là nơi người đó đang sinh sống [13, Điều 52] Dưới góc độ Luật cư trú, “cư trú là việc công dân sinh sống tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn dưới hình thức thường trú hoặc tạm trú” [21, Điều 1] Dưới góc độ Luật quốc tịch, “cư trú” không có khái niệm cụ thể
mà chỉ là một yếu tố giúp xác định quốc tịch của một công dân Như vậy, “cư trú” theo các quy định nêu trên phần lớn dẫn chiếu đến một nơi mà cá nhân sinh sống Theo lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật thuế TNCN tại Việt Nam, “cá nhân cư trú” có cùng nội hàm như các quy định nêu trên cho
Trang 33đến trước khi Quốc Hội ban hành Luật thuế TNCN năm 2007, có hiệu lực thi hành chính thức từ ngày 01/01/2009
Với Luật thuế TNCN năm 2007, khái niệm “cá nhân cư trú” là sự kết hợp có chọn lọc giữa các yếu tố xác định đối tượng cư trú theo các hiệp định song phương về tránh đánh thuế hai lần giữa Việt Nam và các quốc gia/vùng lãnh thổ và các quy định của pháp luật Việt Nam Cụ thể là cá nhân “cư trú” phải đáp ứng một trong hai điều kiện là:
- Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam Điều kiện này được xác định trên cơ sở sự hiện diện của cá nhân trên lãnh thổ Việt Nam thông qua các giấy tờ như hộ chiếu, thị thực, giấy thông hành v.v
- Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam Điều kiện này được xác định theo một trong ba yếu tố như sau:
(i) Cá nhân có nơi ở đăng ký thường trú theo quy định của pháp luật
về cư trú:
Đối với công dân Việt Nam: nơi ở thường xuyên là nơi cá nhân sinh sống thường xuyên, ổn định không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú theo quy định của pháp luật về cư trú
Đối với người nước ngoài: nơi ở thường xuyên là nơi ở thường trú ghi trong Thẻ thường trú hoặc nơi ở tạm trú khi đăng ký cấp Thẻ tạm trú do cơ quan có thẩm quyền thuộc Bộ Công an cấp
(ii) Cá nhân có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về nhà ở, với thời hạn của các hợp đồng thuê từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế bao gồm cá nhân chưa hoặc không có nơi ở thường xuyên nhưng có tổng số ngày thuê nhà để ở theo các hợp đồng thuê từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế Nhà thuê để ở bao gồm cả trường hợp ở khách sạn, ở
Trang 34nhà khách, nhà nghỉ, nhà trọ, ở nơi làm việc, ở trụ sở cơ quan, không phân biệt cá nhân tự thuê hay người sử dụng lao động thuê cho người lao động
(iii) Cá nhân có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam nhưng thực tế có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày trong năm tính thuế nhưng không chứng minh được là đối tượng cư trú của nước nào Việc chứng minh là đối tượng cư trú của nước khác được căn cứ vào Giấy chứng nhận cư trú Trường hợp cá nhân thuộc nước hoặc vùng lãnh thổ đã ký kết Hiệp định thuế với Việt Nam không có quy định cấp Giấy chứng nhận cư trú thì cá nhân cung cấp bản chụp
Hộ chiếu để chứng minh thời gian cư trú Cá nhân không đáp ứng điều kiện là
cá nhân “cư trú” là cá nhân không cư trú theo quy định của pháp luật Việt Nam
Như vậy, nếu so sánh với quy định về “đối tượng cư trú” theo các hiệp định song phương về tránh đánh thuế hai lần thì quy định về cá nhân “cư trú” thể hiện sự tương thích khá rõ với hai điều kiện hàng đầu là “Quốc gia nơi cá nhân có nhà ở” và “Quốc gia nơi cá nhân thường sống” khi xác định cá nhân
có là đối tượng cư trú của quốc gia đánh thuế trong các hiệp định Việc xác định một cá nhân có phải cá nhân cư trú hoặc cá nhân không cư trú có ảnh hưởng lớn, quyết định số thuế cá nhân phải nộp theo quy định của Luật thuế TNCN tại Việt Nam nói riêng pháp luật thuế của các quốc gia trên thế giới nói chung
1.2.3.2 Cơ sở lý luận về việc bảo vệ quyền lợi của người nộp thuế là cá nhân
cư trú
Bảo vệ người nộp thuế là cá nhân cư trú có thể được hiểu theo nhiều nghĩa Nếu theo các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần thì bảo vệ người nộp thuế là cá nhân cư trú là để tránh cá nhân bị nộp thuế trùng đối với thu nhập
mà người đó nhận được Cụ thể là, nếu một cá nhân được xác định là cá nhân
cư trú của một quốc gia tham gia ký kết Hiệp định tránh đánh thuế hai lần thì
Trang 35người đó phải nộp thuế đối với thu nhập phát sinh trong và ngoài quốc gia đó, còn quốc gia còn lại tham gia ký kết Hiệp định tránh đánh thuế thì cá nhân là đối tượng nộp thuế là cá nhân không cư trú và theo đó chỉ phải nộp thuế TNCN đối với thu nhập phát sinh trên lãnh thổ quốc gia đó Khi nộp thuế tại quốc gia mà cá nhân được xác định là cá nhân cư trú, cá nhân sẽ được trừ số thuế đã nộp ở quốc gia kia và mức thuế được trừ không quá số thuế TNCN
mà người đó phải nộp
Nếu theo quy định của pháp luật Việt Nam, bảo vệ quyền lợi của người nộp thuế là cá nhân cư trú được hiểu là phải bảo đảm cân bằng lợi ích của người nộp thuế là cá nhân cư trú và lợi ích của nhà nước Theo thống kê của
Bộ Tài chính thì Thuế TNCN đã góp phần đảm bảo huy động nguồn thu cho ngân sách nhà nước Qua 3 năm thực hiện Luật thuế TNCN từ 2009 đến 2011,
số thu thuế TNCN có sự tăng trưởng khá: số thu năm 2009 đạt 110% so với năm 2008, đạt 3,4% trong tổng số thu NSNN, bằng 0,87% GDP (năm 2009 Quốc Hội cho miễn thuế TNCN 6 tháng đầu năm đối với cá nhân cư trú có thu nhập từ kinh doanh và từ tiền lương, tiền công, miễn thuế cả năm đối với thu nhập từ đầu tư vốn, từ chuyển nhượng vốn)
Bảng 1.1: Cơ cấu nguồn thu từ thuế TNCN giai đoạn 2009-2011
Chỉ tiêu
Số thuế (tỷ đồng) Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Ước năm
Trang 364 Thu từ chuyển nhượng
(Báo cáo tổng kết ba năm thi hành Luật thuế TNCN của Bộ Tài chính [2])
Montesquieu đã có một nhận định kinh điển về yêu cầu phải bảo đảm cân bằng lợi ích của người nộp thuế là cá nhân cư trú và lợi ích của nhà nước khi thu thuế như sau:
“Phải vận dụng trí thông minh và tính thận trọng để tính toán, điều chỉnh giữa hai phần; phần lấy của dân và phần để lại cho dân
Không phải là tính toán cái gì mà dân có thể đóng góp mà cần tính toán dân phải đóng góp cái gì Nếu tính những gì người dân có thể đóng góp thì phải tính khả năng đóng góp thường xuyên ở mức ít nhất” [16, trang 20]
Theo quy định của luật thuế TNCN có thể thấy tỷ lệ người nộp thuế TNCN là cá nhân cư trú chiếm tỷ lệ đa số trên tổng số người nộp thuế TNCN tại Việt Nam Trong khi cá nhân cư trú thì phải nộp toàn bộ thuế cho mọi thu nhập phát sinh không chỉ trên lãnh thổ Việt Nam mà cả ở nước ngoài (nếu có) thì cá nhân không cư trú chỉ phải nộp thuế TNCN đối với thu nhập phát sinh trên lãnh thổ Việt Nam Vì vậy, bảo vệ quyền lợi của người nộp thuế TNCN
Trang 37là bảo đảm một trong các nguồn thu cơ bản cho NSNN Thuế TNCN nói riêng
và thuế thu nhập nói chung là một trong những sắc thuế tác động vào “túi tiền” của dân cư, là công cụ điều tiết thu nhập, giảm bớt khoảng cách giàu – nghèo giữa các giai tầng trong xã hội tác động nên việc một số đông dân cư bị tác động đến thu nhập, đời sống sẽ kéo theo nhiều vấn đề an sinh xã hội, an ninh trật tự phức tạp
Cũng cần làm rõ là bảo vệ người nộp thuế là cá nhân cư trú không có nghĩa là không bảo vệ quyền lợi của cá nhân người nộp thuế là đối tượng không cư trú hoặc phân biệt đối xử với người nộp thuế là cá nhân không cư trú Bản thân cá nhân không cư trú theo luật thuế TNCN Việt Nam thì cũng được bảo vệ bởi pháp luật thuế của quốc gia nơi họ đươc coi là cá nhân cư trú (bằng các quy định để tránh đánh trùng thuế như hoàn thuế, bù trừ thuế, v.v), pháp luật Việt Nam cũng không có sự phân biệt đối xử với các đối tượng này
Bảo vệ quyền lợi của người nộp thuế thu nhập là cá nhân cư trú được thể hiện thông qua các quy định về cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú; thu nhập chịu thuế; thu nhập miễn thuế, giảm thuế; cách xác định thu nhập tính thuế của người nộp thuế đối với người có thu nhập từ tiền lương, tiền công và thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh; kê khai và nộp thuế, v.v
Nhìn chung, bảo vệ quyền lợi của người nộp thuế nói chung và người nộp thuế là cá nhân cư trú nói riêng phải là chủ trương lâu dài xuyên suốt quá trình xây dựng và hoàn thiện luật thuế TNCN từ trước tới nay, góp phần đảm bảo nguồn thu NSNN, ổn định chính trị và trật tự xã hội, góp phần xây dựng mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” theo Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng Sản Việt Nam
Trang 38Chương 2:
THỰC TRẠNG BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ LÀ
CÁ NHÂN CƯ TRÚ THEO LUẬT THUẾ TNCN VIỆT NAM 2.1 Luật thuế TNCN được xây dựng và hoàn thiện để bảo vệ quyền lợi
của người nộp thuế là cá nhân cư trú
2.1.1 Từ 1990 đến 2008
Trong 18 năm đầu tiên sau khi Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người
có thu nhập cao Hội đồng nhà nước ban hành năm 1990, thuế TNCN chỉ áp dụng đối với những cá nhân được xác định là có thu nhập cao trong xã hội Thuế TNCN có sự phân biệt giữa người có quốc tịch Việt Nam và người nước ngoài mà theo đó mức thu nhập chịu thuế khởi điểm của người nước ngoài cao hơn của người có quốc tịch Việt Nam Một số điểm chung giữa hai nhóm đối tượng chịu thuế này là loại thu nhập chịu thuế và biểu thuế suất lũy tiến từng phần, biểu thuế lũy tiến từng phần chênh lệch mỗi bậc thuế là 10% áp dụng đối với thu nhập thường xuyên (công dân Việt Nam và người nước ngoài có mức thu nhập khởi điểm chịu thuế khác nhau) và biểu thuế lũy tiến từng phần chênh lệch mỗi bậc 5% áp dụng đối với thu nhập không thường xuyên, thuế suất ấn định cho một số thu nhập đặc thù như chuyền giao công nghệ, trúng thưởng xổ số
Mặc dù góp phần tạo nguồn thu cho NSNN nhưng sau gần hai thập kỷ thực hiện và nhiều lần chỉnh sửa, pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đã bộc lộ nhiều điểm bất cập mà Luật thuế TNCN cần phải khắc phục, cụ thể:
(i) Luật thuế TNCN mới cần phải thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước về lĩnh vực tài chính
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã đề ra:
"Áp dụng thuế TNCN thống nhất và thuận lợi cho mọi đối tượng chịu thuế,
Trang 39bảo đảm công bằng xã hội và tạo động lực phát triển" Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng tiếp tục khẳng định: “Hoàn thiện hệ thống pháp luật về thuế theo nguyên tắc công bằng, thống nhất và đồng bộ Điều chỉnh chính sách thuế theo hướng giảm và ổn định thuế suất, mở rộng đối tượng thu, điều tiết hợp lý thu nhập”
(ii) Ban hành Luật thuế TNCN nhằm thực hiện công bằng xã hội, tăng cường kiểm soát thu nhập và điều tiết, phân phối lại thu nhập, thu hẹp hợp lý sự chênh lệch về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, bảo đảm sự phát triển ổn định của nền kinh tế
Khác với thuế tiêu dùng và thuế tài sản, thuế TNCN động viên một phần thu nhập của cá nhân, thể hiện nghĩa vụ cụ thể của công dân đối với đất nước Công dân được hưởng những thành quả phát triển của đất nước: cơ sở
hạ tầng, phúc lợi xã hội, an ninh trật tự, thì đồng thời có nghĩa vụ đóng góp một phần thu nhập của mình cho xã hội thông qua việc nộp thuế Thuế TNCN được xây dựng trên nguyên tắc "công bằng" và “khả năng nộp thuế” thể hiện: người có thu nhập thấp thì chưa nộp thuế, người có thu nhập cao hơn thì nộp thuế nhiều hơn, người có thu nhập như nhau nhưng có hoàn cảnh khác nhau thì mức nộp thuế cũng khác nhau Thực hiện nộp thuế TNCN góp phần làm giảm hợp lý khoảng cách chênh lệch giữa các tầng lớp dân cư Chính vì vậy
mà thuế TNCN đã được nhiều nước áp dụng từ rất sớm, ngay từ khi nền kinh
tế chưa phát triển, thu nhập của dân cư cũng chưa cao, điều kiện kiểm soát thu nhập còn rất hạn chế
(iii) Ban hành Luật thuế TNCN góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách thuế để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế
Việc động viên thu nhập của cá nhân vào ngân sách nhà nước đang được thực hiện bởi ba văn bản pháp luật thuế: thu nhập của cá nhân kinh
Trang 40doanh thực hiện theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp; thu nhập
từ tiền lương tiền công, trúng thưởng xổ số, chuyển giao công nghệ v.v thực hiện theo pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao; thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất thực hiện theo quy định của Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất Việc thực hiện chính sách thuế như nói trên trong thời gian qua là tương đối phù hợp, nên đã phát huy tác dụng trong quản lý và thu ngân sách
Tuy nhiên, trong giai đoạn tiếp theo, các cá nhân có thể có thêm nhiều nguồn thu nhập khác nhau ngoài nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công cùng với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, không chỉ có người Việt Nam mà người nước ngoài đến làm ăn, sinh sống, có thu nhập tại Việt Nam cũng ngày càng gia tăng nên việc tiếp tục áp dụng ba loại thuế nêu trên đối với thu nhập của cá nhân là không còn phù hợp Do vậy, việc ban hành Luật thuế TNCN là
để hoàn thiện một bước hệ thống chính sách thuế của nước ta, thống nhất một sắc thuế điều chỉnh nghĩa vụ thuế cho mọi thu nhập của cá nhân, góp phần khuyến khích cá nhân tích cực lao động, đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, làm giàu chính đáng và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ổn định, bền vững
2.1.2 Từ 2009 đến nay
Luật thuế TNCN 2007 có hiệu lực thi hành từ 01/01/2009 đã đánh dấu nhiều bước chuyển mình trong chế định về thuế TNCN Nhiều quy định lần đầu tiên được ghi nhận trong luật như quy định về cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú, quy định về giảm trừ gia cảnh cho người nộp thuế và người phụ thuộc, giảm trừ tiền đóng các loại bảo hiểm, các khoản đóng góp từ thiện nhân đạo trước khi tính thu nhập tính thuế của người nộp thuế; không phân biệt người nộp thuế là cá nhân có quốc tịch Việt Nam hay người nước ngoài…Cho đến nay Luật thuế TNCN 2007, được sửa đổi bổ sung năm 2012