1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về tiền lương thực trạng áp dụng tại công ty cổ phần đầu tư và thương mại TNG

113 674 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 753,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mong muốn tìm hiểu những quy định của pháp luật về vấn đề tiền lương, cũng như việc áp dụng những quy định này tại doanh nghiệp, nên tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài “Pháp luật về tiề

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

  

PHẠM THỊ HỒNG

PHÁP LUẬT VỀ TIỀN LƯƠNG - THỰC TRẠNG ÁP DỤNG

TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ THƯƠNG MẠI TNG

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

PHÁP LUẬT VỀ TIỀN LƯƠNG - THỰC TRẠNG ÁP DỤNG

TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ THƯƠNG MẠI TNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo

vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Phạm Thị Hồng

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TIỀN LƯƠNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ TIỀN LƯƠNG

1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TIỀN LƯƠNG

1.1.1 Khái niệm tiền lương

1.1.2 Bản chất của tiền lương

1.1.3 Chức năng của tiền lương

1.1.4 Vai trò của tiền lương

1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ TIỀN LƯƠNG

1.2.1 Tổng quan chính sách, pháp luật về tiền lương

1.2.2 Đối tượng, phạm vi điều chỉnh của pháp luật tiền lương

1.2.3 Một số nội dung cơ bản của pháp luật về tiền lương

Tiểu kết Chương 1

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TIỀN LƯƠNG ÁP DỤNG TRONG DOANH NGHIỆP VÀ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI & ĐẦU TƯ TNG

2.1 THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TIỀN LƯƠNG ÁP DỤNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

2.1.1 Quy định về tiền lương và mức lương tối thiểu

2.1.2 Quy định về thang lương, bảng lương, định mức lao động

2.1.3 Chế độ phụ cấp

2.1.4 Chế độ thưởng

2.1.5 Một số quy định của pháp luật về trả lương khác

2.2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ TIỀN LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP VÀ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ

Trang 5

VÀ THƯƠNG MẠI TNG

2.2.1 Khái quát việc áp dụng pháp luật về tiền lương trong doanh

nghiệp (minh chứng cụ thể qua các doanh nghiệp của ngành Dệt May)

2.2.2 Thực trạng áp dụng pháp luật về tiền lương tại Công ty Cổ

phần Đầu tư và Thương mại TNG

Tiểu kết Chương 2

Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TIỀN

LƯƠNG ÁP DỤNG TRONG DOANH NGHIỆP VÀ CÔNG TY CỔ

PHẦN ĐẦU TƯ & THƯƠNG MẠI TNG

3.1 MỘT SỐ YÊU CẦU VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN

CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT VỀ TIỀN LƯƠNG ÁP DỤNG TRONG

CÁC DOANH NGHIỆP

3.1.1 Những yêu cầu từ thực tiễn phát triển nền kinh tế

3.1.2 Một số định hướng hoàn thiện chính sách pháp luật về tiền

lương trong các doanh nghiệp

3.2 CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

3.2.1 Hoàn thiện chính sách pháp luật về tiền lương áp dụng cho các

doanh nghiệp

3.2.2 Hoàn thiện việc áp dụng chính sách pháp luật về tiền lương tại

Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Pháp luật tiền lương là một bộ phận quan trọng của chính sách kinh tế - xã hội Bởi lẽ, tiền lương không chỉ liên quan đến thu nhập và đời sống của người lao động, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, đến chi phí sản xuất, đến mối quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng, quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động Xây dựng một hệ thống chính sách, pháp luật tiền lương đúng đắn, có căn cứ khoa học sẽ là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, cải thiện và nâng cao đời sống của người lao động, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội

Hiện nay, lực lượng lao động của nước ta vào khoảng 43,9 triệu người trong tổng số 85,789 triệu dân số cả nước, người chiếm 51,1% Trong đó, lực lượng lao động làm việc trong khu vực kinh tế nhà nước chiếm một tỷ lệ nhỏ, khoảng 9,07 %, còn lại chủ yếu là làm việc trong khu vực sản xuất, kinh doanh, không hưởng lương từ ngân sách nhà nước chiếm một tỷ lệ tương đối lớn 96,2% Trong khu vực sản xuất, kinh doanh đó, ngành Dệt May đóng vai trò quan trọng

và được coi là ngành sử dụng một khối lượng lao động khá đông đảo Với hơn 2.000 doanh nghiệp, sử dụng hơn 2 triệu lao động, kim ngạch xuất khẩu của ngành này năm 2012 lên tới 10,5 tỷ USD [32] Chính vì vậy, Dệt May được coi

là ngành xuất khẩu mũi nhọn của nền kinh tế và Dệt May cũng được coi là thế mạnh xuất khẩu của Việt Nam được nhiều nước trên thế giới biết đến Tuy nhiên, có một thực tế là mức lương của lao động ngành Dệt May hiện nay vẫn được coi là thấp so với những gì mà ngành này mang lại cho nền kinh tế Mặt khác, trong tổng số những cuộc đình công diễn ra trong những năm qua, đình

Trang 7

công trong các doanh nghiệp dệt may chiếm một tỉ lệ lớn, đó chủ yếu là những cuộc đình công về lợi ích, xoay quanh vấn đề tiền lương

Với một lực lượng lao động làm việc trong khu vực sản xuất, kinh doanh nói riêng và trong lĩnh vực dệt may đông đảo như vậy, đã đặt ra cho chúng ta một thử thách lớn là làm sao và làm như thế nào để ổn định và đáp ứng được vấn

đề tiền lương, ổn định cuộc sống cho họ? Bằng cách nào để khuyến khích họ làm việc, đóng góp công sức xây dựng đất nước Vì vậy, yêu cầu cần được đặt ra là chúng ta cần xây dựng một hệ thống pháp luật tiền lương không chỉ hợp pháp,

mà còn phải hợp lý Bởi lẽ, mức lương hợp lý sẽ góp phần cân bằng quan hệ lao động, khuyến khích người dân vào làm việc tại các doanh nghiệp thay vì làm nghề tự do Một chính sách tiền lương hợp lý sẽ vừa tạo sự ổn định trong doanh nghiệp, vừa bảo vệ người lao động trong bối cảnh mối quan hệ cung - cầu lao động đang bị mất cân đối như hiện nay Bên cạnh đó, tiền lương được điều chỉnh phù hợp sẽ khuyến khích người dân học nghề, nâng cao chất lượng nguồn lao động, góp phần tăng sức cạnh tranh cho nước ta Điều này cũng sẽ góp phần cho các doanh nghiệp tháo gỡ nhiều khó khăn trong hoạch định và thực hiện các chiến lược

Có thể thấy, vấn đề tiền lương luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, được Quốc hội, Chính phủ cho sửa đổi, bổ sung nhiều lần và đã đạt kết quả đáng

kể Song trong nền kinh tế thị trường, thì những quy định của pháp luật về tiền lương hiện hành đã bộc lộ nhiều bất cập cả về quy mô, nội dung và hình thức, đã hạn chế vai trò và động lực của tiền lương, là nguyên nhân làm tăng bất bình đẳng và cản trở sự phát triển nhanh và ổn định chính trị xã hội của đất nước Chính vì vậy, vấn đề tiền lương đòi hỏi cần được nghiên cứu nghiêm túc và toàn diện để bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp

Trang 8

Với mong muốn tìm hiểu những quy định của pháp luật về vấn đề tiền lương, cũng như việc áp dụng những quy định này tại doanh nghiệp, nên tôi đã

mạnh dạn lựa chọn đề tài “Pháp luật về tiền lương - Thực trạng áp dụng tại

Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG” để làm Luận văn Thạc sĩ luật

học với hy vọng góp một phần nhỏ vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về tiền lương áp dụng trong các doanh nghiệp ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu

Tiền lương là một trong những hình thức hình thành lợi ích vật chất đối với người lao động, vì vậy, để sử dụng đòn bẩy tiền lương nhằm đảm bảo sản xuất phát triển, duy trì một đội ngũ lao động có trình độ kỹ thuật và nghiệp vụ cao với ý thức kỷ luật vững, đòi hỏi tổ chức tiền lương trong doanh nghiệp phải được đặc biệt coi trọng Với ý nghĩa như vậy, nên các vấn đề liên quan đến tiền lương đã được các nhà khoa học nghiên cứu cả dưới giác độ kinh tế và luật học

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này được công bố như: Đề tài

“Chính sách tiền lương: Thực trạng vấn đề và yêu cầu đặt ra cho giai đoạn 1011 -2015” của Viện Khoa học Lao động và Xã hội do TS Nguyễn Hữu Dũng làm

chủ nhiệm, năm 2010; “Giải pháp hoàn thiện chế độ tiền lương cho người lao

động khu vực doanh nghiệp” của ThS Nguyễn Trúc Vân, Viện Nghiên cứu Phát

triển TP Hồ Chí Minh; “Bàn về chính sách tiền lương, tiền công thời gian qua”

của tác giả Đỗ Văn Tính, Khoa Quản trị kinh doanh Đại học Duy Tân (TP Hồ

Chí Minh); “Cơ chế thỏa thuận về tiền lương trong doanh nghiệp”, bài viết đăng

trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Bên cạnh đó, cũng có nhiều bài viết, luận văn đại học và luận văn thạc sĩ về vấn đề

này như: “Chế độ tiền lương trong doanh nghiệp” của tác giả Vũ Thị Hà, Tạp chí Lao động Xã hội, tháng 8 năm 2008; “Chế độ pháp lý về tiền lương trong

Trang 9

các doanh nghiệp và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Thừa Thiên Huế”, Luận văn của

Đại học Huế, năm 2010; “Hoàn thiện công tác trả lương tại Công ty Cổ phần

VINATEX Đà Nẵng”, Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh của tác giả Phạm

Thị Hà Ly, Đại học Đà Nẵng, năm 2012; “Chế độ tiền lương tối thiểu ở Việt

Nam”, Luận văn Thạc sĩ luật học của tác giả Vũ Thị Là, Khoa Luật Đại học

Quốc gia Hà Nội, năm 2011 và nhiều công trình khác

Các công trình trên đây đều đã có các nghiên cứu khái quát về tiền lương, các vấn đề liên quan đến chính sách pháp luật về tiền lương và được coi là tài

liệu tham khảo có giá trị trong quá trình nghiên cứu đề tài “Pháp luật về tiền

lương - Thực trạng áp dụng tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG”

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận văn khi đề cập nghiên cứu đề tài này là:

- Nghiên cứu một cách có hệ thống chính sách pháp luật về tiền lương trong các doanh nghiệp thuộc khu vực sản xuất kinh doanh

- Làm rõ thực tiễn áp dụng pháp luật về tiền lương trong doanh nghiệp và tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG, qua đó, đề xuất các kiến nghị góp phần hoàn thiện chính sách pháp luật tiền lương trong các doanh nghiệp

Để đạt được mục đích nghiên cứu nói trên, luận văn có nhiệm vụ:

- Phân tích khái niệm, đặc điểm của tiền lương; những nội dung pháp lý cơ bản của chính sách pháp luật về tiền lương cho các doanh nghiệp thuộc khu vực sản xuất kinh doanh

- Đánh giá thực trạng pháp luật về tiền lương trong doanh nghiệp và thực trạng áp dụng pháp luật tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG

Trang 10

- Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và áp dụng pháp luật về tiền lương tại các doanh nghiệp nói chung và Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG nói riêng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi một luận văn thạc sĩ luật học, chuyên ngành Luật Kinh tế,

đề tài tập trung nghiên cứu những nội dung pháp lý cơ bản nhất của chính sách, pháp luật về tiền lương ở nước ta được áp dụng đối với người lao động trong các doanh nghiệp Đồng thời, để làm sáng tỏ thêm đề tài nghiên cứu, Luận văn còn xem xét thực tiễn áp dụng những quy định về chính sách, pháp luật tiền lương tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được hoàn thành dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin; quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Bên cạnh đó, để đạt được mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, tác giả luận văn còn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học cơ bản như:

- Phương pháp phân tích: Đây là phương pháp chủ đạo trong luận văn

nhằm làm sáng tỏ và đánh giá tính hiệu quả, cũng như chỉ rõ những bất cập trong pháp luật hiện hành về tiền lương Việc phân tích, đánh giá hiệu quả các quy định này được gắn liền với thực tiễn áp dụng pháp luật và có tính đến sự phù hợp với xu hướng phát triển trong thời gian tới

- Phương pháp so sánh: Tác giả đã so sánh việc áp dụng pháp luật tiền

lương với các lĩnh vực pháp luật khác, từ đó, rút ra những nhận xét khách quan cho việc xây dựng và áp dụng pháp luật tiền lương

- Phương pháp trao đổi, phỏng vấn và điều tra xã hội học: Được sử dụng

khi gặp gỡ các cán bộ chuyên trách, các cán bộ quản lý – những người trực tiếp

Trang 11

thực thi những quy định pháp luật về tiền lương trong doanh nghiệp, các chuyên viên được giao nhiệm vụ xây dựng, áp dụng pháp luật và tiếp thu những kinh nghiệm vũng như những bài học thực tiễn

Ngoài các phương pháp nói trên, trong quá trình nghiên cứu tác giả còn sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Luận văn là chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu có tính hệ thống và tương đối toàn diện chính sách pháp luật về tiền lương trong doanh nghiệp và áp dụng pháp luật tiền lương trong một doanh nghiệp cụ thể là Công ty Cổ phần Đầu tư

và Thương mại TNG

Luận văn có thể làm tư liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy chính sách pháp luật về tiền lương trong doanh nghiệp, cũng như trong thực tiễn thực thi pháp luật về vấn đề này tại doanh nghiệp

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn được kết cấu gồm 3 chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về tiền lương và pháp luật về tiền lương Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật về tiền lương trong doanh

nghiệp và tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về tiền lương áp dụng trong

doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Đầu tư & Thương mại TNG

Trang 12

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TIỀN LƯƠNG

VÀ PHÁP LUẬT VỀ TIỀN LƯƠNG

1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TIỀN LƯƠNG

1.1.1 Khái niệm tiền lương

Tiền lương không chỉ là một phạm trù kinh tế mà còn là yếu tố hàng đầu của các chính sách xã hội liên quan đến trực tiếp cuộc sống của người lao động Thuật ngữ tiền lương đã được nhiều công trình nghiên cứu đề cập Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về tiền lương Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã có quan điểm về tiền lương như sau: “Tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập, bất luận tên gọi hay cách tính thế nào, mà có thể biểu hiện bằng tiền mặt và được ấn định bằng thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động, hoặc bằng pháp luật, pháp quy quốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo một hợp đồng lao động viết hay bằng miệng, cho một công việc đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện, hoặc cho những dịch vụ đã làm hay sẽ phải làm” (Điều 1- Công ước số 45 năm 1949) [7]

Với định nghĩa này, ILO đã đưa ra các dấu hiệu nhận biết tiền lương, bao gồm: (i) Tiền lương là sự trả công lao động; (ii) Hình thức biểu hiện của tiền lương là tiền mặt; (iii) Tiền lương được ấn định bằng sự thỏa thuận của các bên hoặc bằng pháp luật quốc gia; (iv) Lý do mà người sử dụng lao động phải trả lương cho người lao động Có thể thấy, đây là định nghĩa khá toàn diện về tiền lương Pháp luật của nhiều quốc gia đã vận dụng định nghĩa này một cách linh hoạt, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội hiện tại của quốc gia mình [7]

Trang 13

Bên cạnh đó tiền lương còn được tiếp cận dưới góc độ về kinh tế, xã hội

và phương diện về pháp lý

- Dưới góc độ kinh tế: Với sự thừa nhận sức lao động là hàng hóa, có thể

hiểu tiền lương là sự biểu hiện bằng tiền giá trị sức lao động, là giá cả sức lao động được hình thành thông qua sự thỏa thuận giữa người sử dụng lao động trả cho người lao động Như vậy, tiền lương về thực chất là tiền trả cho việc thuê mướn sức lao động, là một trong các yếu tố đầu vào của sản xuất, cấu thành nên chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tiền lương vừa là chi phí trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vừa là lợi ích kinh tế, thu nhập của người lao động

- Dưới góc độ xã hội: Tiền lương là mục đích, là động cơ chủ yếu để

người lao động tham gia quan hệ lao động, bên cạnh đó tiền lương là một vấn đề nhạy cảm của quan hệ lao động và sự thống nhất, ổn định bền vững của quan hệ lao động, đảm bảo được cuộc sống ổn định, ấm no của người lao động

- Dưới góc độ pháp lý: Tiền lương là số tiền tệ mà người sử dụng lao

động trả cho người lao động khi họ hoàn thành công việc theo chức năng, nhiệm

vụ được pháp luật quy định hoặc hai bên đã thỏa thuận theo hợp đồng lao động trên cơ sở năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc

Tiền lương của người lao động được nghiên cứu trên 2 góc độ là tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế:

Tiền lương danh nghĩa: Là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho

người lao động căn cứ trong hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, như vậy, tiền lương danh nghĩa có ích cho việc so sánh tiền lương của người lao động khác nhau tại một thời điểm cho trước Số tiền này ít hay nhiều phụ thuộc trực

Trang 14

tiếp vào năng suất lao động và hiệu quả công việc của người lao động, phụ thuộc vào trình độ, kinh nghiệm làm việc trong quá trình lao động

Tiền lương thực tế: Được hiểu là các loại hàng hóa tiêu dùng và các loại

dịch vụ cần thiết mà người lao động hưởng lương có thể mua được bằng tiền lương danh nghĩa Nếu giá cả tăng lên, thì tiền lương thực tế giảm đi và đời sống của người hưởng lương sẽ bị ảnh hưởng Từ đó, đặt ra yêu cầu điều chỉnh tăng lương danh nghĩa để đảm cho sức mua của nó, tức là đảm bảo giá trị của tiền lương thực tế

Kinh tế học vi mô cổ điển coi sản xuất là sự kết hợp giữa hai yếu tố là lao động và vốn Vốn thuộc quyền sở hữu của một bộ phận dân cư trong xã hội, còn một bộ phân dân cư do không có vốn mà chỉ có sức lao động, phải đi làm thuê cho người có vốn và đổi lại họ nhận được một khoản tiền gọi là tiền lương Bản thân tiền lương có liên quan đến vấn đề lý luận lợi ích, lý luận về sự phân phối

và thu nhập của Nhà nước, của doanh nghiệp và người lao động Tiền lương hàm chứa nhiều mối quan hệ biện chứng, đó là các mối quan hệ giữa sản xuất và nâng cao đời sống, giữa tích lũy và tiêu dùng, giữa thu nhập của các tầng lớp dân cư Trong khu vực sản xuất kinh doanh, tiền lương là giá cả sức lao động, là yếu tố đầu vào của sản xuất, tham gia vào hình thành chi phí sản xuất và phân phối theo kết quả đầu ra của sản xuất kinh doanh Trong nền kinh tế thị trường và hội nhập, tiền lương là một trong những chỉ số quan trọng để xem xét một nền kinh

tế được coi là kinh tế thị trường hay chưa

1.1.2 Bản chất của tiền lương

Trong mỗi giai đoạn khác nhau, thì cách tiếp nhận về bản chất tiền lương khác nhau Tuy nhiên, có hai cách nhận thức cơ bản nhất về bản chất tiền lương Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, hầu hết các doanh nghiệp đều thuộc sở

Trang 15

hữu nhà nước và hoạt động sản xuất, kinh doanh để thực hiện các mục tiêu kinh

tế - xã hội do Nhà nước đặt ra Lúc bấy giờ, sức lao động chưa được coi là hàng hóa, mà tiền lương được coi là một phần thu nhập quốc dân biểu hiện dưới hình thức tiền tệ, được Nhà nước phân phối một cách có kế hoạch cho công nhân viên căn cứ vào số lượng và chất lượng mà họ cống hiến, do đó, người sử dụng lao động không thương lượng, thỏa thuận với người lao động về tiền lương, tiền công, mà đơn phương ấn định mức lương của người lao động trên cơ sở thang lương, bảng lương của Nhà nước Khi đó, người lao động chỉ biết chấp nhận các điều kiện lao động do người sử dụng lao động đơn phương đưa ra để đưa vào làm việc với mức lương được quy định sẵn trong thang lương, bảng lương của người sử dụng lao động Kể từ khi nước ta xóa bỏ cỏ chế kế hoạch hóa tập trung, chuyển sang xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các nhà hoạch định chính sách tiền lương đã thay đổi nhận thức về lý luận trong xây dựng chính sách tiền lương Nhà nước đã công nhận sự tồn tại khách quan của phạm trù hàng hóa sức lao động, tiền lương không chỉ thuộc phạm trù phân phối, mà còn là phạm trù trao đổi, phạm trù giá trị

Trong nền kinh tế thị trường, tiền lương là biểu hiện bằng tiền giá trị sức lao động, là giá cả sức lao động Cũng như các thị trường khác, thị trường sức lao động hoạt động theo quy luật cung cầu Do đó, người lao động có quyền thương lượng, thỏa thuận với người sử dụng lao động về việc làm và điều kiện lao động khác phù hợp với khả năng chuyên môn, năng lực của mình Tiền lương của người lao động do hai bên thỏa thuận và được ghi trong hợp đồng lao động Người sử dụng lao động trả lương cho người lao động theo năng suất, chất lượng và hiệu quả công việc Nhà nước chỉ quy định mức lương tối thiểu và yêu cầu người sử dụng lao động trả lương cho người lao động không được thấp hơn

Trang 16

mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định trong từng thời kỳ Mức lương tối thiểu ấn định theo giá sinh hoạt, bảo đảm cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường bù đắp sức lao động giản đơn và một phần tích lũy tái sản xuất sức lao động mở rộng và được dùng làm căn cứ để tính các mức lương cho các loại lao động khác Trên cơ sở mức lương tối thiểu

và mức lương cụ thể đã thỏa thuận với người lao động, người sử dụng lao động

có quyền lựa chọn một trong các hình thức sau để trả lương cho người lao động,

cụ thể là: Trả lương theo thời gian (giờ, ngày, tháng, tuần) hoặc trả lương theo thỏa thuận khoán sản phẩm Những người sử dụng lao động phải duy trì hình thức trả lương đã được các bên thỏa thuận hoặc lựa chọn trong một thời gian nhất định và phải thông báo cho người lao động Tiền lương có vai trò to lớn trong xã hội, luôn gắn liền với người lao động Chính vì vậy, tiền lương mà các doanh nghiệp trả cho người lao động theo cơ chế thị trường phải đáp ứng các điều kiện: Tiền lương phải thực sự là thước đo cho mỗi hoạt động của mỗi cơ sở kinh tế, từng người lao động và là đòn bẩy kinh tế, tiền lương không phù hợp, phản ánh sai lệch sức lao động, nó sẽ cản trở tính năng động, sáng tạo của người lao động và kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp của nền kinh tế [9]

Như vậy, tiền lương trong nền kinh tế thị trường phải bao gồm 3 vấn đề lớn như sau:

- Tiền lương là giá cả sức lao động, hay biểu hiện bằng tiền của giá trị lao động mà người sử dụng lao động trả cho người lao động;

- Tiền lương phụ thuộc vào quan hệ cung cầu lao động trên thị trường lao động, nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu đủ sống mà pháp luật đã quy định;

Trang 17

- Tiền lương được xác định thông qua cơ chế thỏa thuận giữa các bên trong quan hệ lao động

1.1.3 Chức năng của tiền lương

Tiền lương có vai trò rất quan trọng trong đời sống người lao động cũng như đối với doanh nghiệp Tiền lương là cơ sở để các bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động đồng thời tiền lương cũng là căn cứ xác lập và giải quyết tranh chấp Tiền lương có rất nhiều chức năng như sau:

1.1.3.1 Chức năng thước đo giá trị sức lao động

Cũng như mối quan hệ của hàng hóa khác, sức lao động cũng được trả công căn cứ vào giá trị mà nó đã được cống hiến và tiền lương chính là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động trong cơ chế thị trường Ở nước ta, thì tiền lương còn thể hiện một phần sức lao động mà mỗi cá nhân đã bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh Tiền lương là căn cứ để thuê mướn lao động, là cơ sở

để người sử dụng lao động tạo ra sự linh hoạt trong việc thuê mướn lao động, với những công việc khác nhau sẽ có mức lương khác nhau Chức năng thước đo giá trị phản ánh thông qua thang lương, bảng lương,bậc lương và hệ số lương Với tư cách là thước đo giá trị sức lao động, một mặt, tiền lương phải bù đắp hao phí sức lao động của người hưởng lương trong quá trình lao động, mặt khác, phải tính toán đầy đủ các yếu tố về sinh học và xã hội nhằm bù đắp và bảo đảm cho đời sống của người làm công trước và sau quá trình lao động

Trong quá trình phát triển của nền kinh tế xã hội, giá cả tư liệu sinh hoạt thường xuyên biến động làm cho giá trị sức lao động cũng biến đổi theo Tiền lương muốn phản ánh đúng giá trị sức lao động cũng phải thay đổi theo sự biến động đó Tuy nhiên, trong thực tế tiền lương chưa thực hiện được chức năng này, không phản ánh thực tế và ngày càng xa rời giá trị sức lao động

Trang 18

1.1.3.2 Chức năng tái sản xuất sức lao động

Tái sản xuất sức lao động là nội dung quan trọng của tái sản xuất sức xã hội nói chung Đây là chức năng cơ bản của tiền lương, vì người lao động sau quá trình sử dụng sức lao động thì họ phải được bù đắp sức lao động đã bỏ ra, họ cần có thu nhập bằng tiền lương cộng với các khoản thu khác (mà tiền lương là chủ yếu) Do vậy, tiền lương là cơ sở giúp người lao động bù đắp lại sức lao động đã hao phí để họ có thể duy trì liên tục quá trình sản xuất kinh doanh Bên cạnh đó, trong cơ cấu tiền lương, cần dành một khoản hợp lý cho việc nuôi con của người lao động, tích lũy dự phòng cho cuộc sống lâu dài của bản thân và gia đình họ Nói cách khác, tiền lương phải thực hiện được chức năng tái sản xuất giản đơn và mở rộng (hay tái sản xuất về số lượng và chất lượng lao động) [9 – tr.23]

1.1.3.3 Chức năng kích thích và thúc đẩy phân công lao động xã hội

Cùng với tác dụng duy trì cuộc sống bản thân và gia đình người lao động, tiền lương phải thực sự trở thành đòn bẩy kinh tế, kích thích người lao động phát huy tinh thần sáng tạo, nâng cao năng suất lao động, góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế của doanh nghiệp và của Nhà nước Muốn vậy, mức lương trả cho người lao động không chỉ đủ thanh toán cho các tư liệu sinh hoạt thông thường trong đời sống hàng ngày, mà còn phải tạo điều kiện cho họ nâng cao đời sống, nâng cao trình độ tay nghề, tham gia vào các hoạt động xã hội Khi đó, tiền lương làm động lực cho người lao động hăng hái làm việc sản xuất, năng suất lao động tăng lên, đây là tiền đề cho việc phân công lao động xã hội một cách đầy đủ hơn

1.1.3.4 Chức năng tích lũy

Trang 19

Dự phòng cho cuộc sống lâu dài là điều mà con người luôn quan tâm và tìm cách thực hiện bằng nhiều nguồn và nhiều cách khác nhau Tuy nhiên, đối với người lao động mà cuộc sống phụ thuộc phần lớn vào tiền lương, thì tiết kiệm tiền lương để dự phòng cho cuộc sống lâu dài vẫn là biện pháp chủ yếu Do vậy, tiền lương phải có chức năng tích lũy Để thực hiện chức năng này, thì tiền lương là phần thu nhập chủ yếu trong tổng số thu nhập của họ Tiền lương trả cho người lao động phải đảm bảo duy trì được cuộc sống hàng ngày trong thời gian làm việc và còn dự phòng cho cuộc sống lâu dài khi họ hết khả năng lao động hay gặp rủi ro

1.1.3.5 Chức năng xã hội

Tiền lương là yếu tố kích thích việc hoàn thiện các mối quan hệ lao động Thực tế cho thấy, việc duy trì các mức tiền lương cao và tăng không ngừng được thực hiện trên cơ sở đảm bảo hài hoà các mối quan hệ lao động trong doanh nghiệp Việc gắn tiền lương với hiệu quả sản xuất kinh doanh của người lao động và đơn vị kinh tế sẽ thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau, nâng cao hiệu quả cạnh tranh của doanh nghiệp Bên cạnh đó, tạo tiền đề cho sự phát triển toàn diện của con người và thúc đẩy xã hội phát triển theo hướng dân chủ và văn minh Chức năng xã hội của tiền lương còn được thể hiện ở góc độ điều phối thu nhập trong nền kinh tế quốc dân, tạo nên sự công bằng xã hội trong việc trả lương cho người lao động trong cùng một ngành nghề, một khu vực và giữa các ngành nghề, khu vực khác nhau

Ngoài các chức năng trên, thì tiền lương còn góp phần làm cho việc quản

lý lao động trong các đơn vị sản xuất, kinh doanh trở nên dễ dàng và tiền lương còn góp phần hoàn thiện mối quan hệ xã hội giữa con người với con người trong quá trình lao động Như vậy, bản chất của tiền lương không chỉ bó hẹp trong

Trang 20

phạm trù kinh tế đơn thuần được hiểu như một khoản thù lao bù đắp chi phí thực hiện trong quá trình lao động Tiền lương còn là một phạm trù kinh tế - xã hội tổng hợp, phản ánh giá trị sức lao động trong điều kiện kinh tế - văn hoá và lịch

sử nhất định, có tác động quan trọng đến sản xuất, đời sống và mọi mặt kinh tế -

xã hội Cho nên, xây dựng một hệ thống chính sách tiền lương đúng đắn, có hiệu quản là vô cùng quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp, tổ chức nói riêng và toàn

bộ nền kinh tế nói chung

1.1.4 Vai trò của tiền lương

Tiền lương là một trong những hình thức hình thành lợi ích vật chất đối với người lao động, vì vậy, để sử dụng đòn bẩy tiền lương nhằm đảm bảo sản xuất phát triển, duy trì một đội ngũ lao động có trình độ kỹ thuật nghiệp vụ cao với ý thức kỷ luật cao đòi hỏi tổ chức tiền lương trong doanh nghiệp phải đặc biệt coi trọng Đối với chủ sử dụng lao động, tiền lương là một yếu tố dùng để chi phí sản xuất, còn đối với người lao động tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu Mục đích của các nhà sản xuất là lợi nhuận, còn mục đích của người lao động là tiền lương, với ý nghĩa này, tiền lương không chỉ mang bản chất là chi phí, mà nó trở thành phương tiện tạo ra giá trị mới hay đúng hơn cung ứng sự sáng tạo sức sản xuất, năng lực của lao động trong quá trình sản sinh ra các giá trị gia tăng

Đối với người lao động, tiền lương nhận thoả đáng sẽ là động lực hình thành năng lực sáng tạo để làm tăng năng xuất lao động, mặt khác, khi năng suất lao động tăng thì lợi nhuận doanh nghiệp sẽ tăng, do đó, nguồn phúc lợi của doanh nghiệp mà người lao động nhận được cũng sẽ lại tăng lên, nó là phần bổ sung thêm cho tiền lương, làm tăng thu nhập và tăng lợi ích cho cung ứng sức lao động lên nữa, khi lợi ích của người lao động được bảo đảm bằng mức lương

Trang 21

thoả đáng, nó sẽ tạo ra sự gắn kết cộng đồng những người lao động với mục tiêu

và lợi ích của doanh nghiệp xoá bỏ sự ngăn cách giữa người chủ doanh nghiệp

và người cung ứng sức lao động, làm cho người lao động có trách nhiệm hơn, tự giác hơn với các hoạt động của doanh nghiệp Ngược lại, nếu doanh nghiệp trả lương người lao động không hợp lý hoặc ở mức tiêu lợi nhuận thuần tuý, không chú ý đúng mức đến lợi ích của người lao động thì bản thân người lao động có thể bị kiệt quệ về thể lực, giảm sút về chất lượng công việc, gây hạn chế về động

cơ cung ứng sức lao động Biểu hiện rõ nhất là tình trạng cắt xén thời gian làm việc, lãng phí nguyên vật liệu và thiết bị, làm dối, làm ẩu, mâu thuẫn giữa người lao động và người sử dụng lao động, một trong những nguyên nhân có thể dẫn đến bãi công, đình công [28]

Chính vì vậy, có thể khẳng định, tiền lương là một biện pháp kích thích về mặt vật chất và tinh thần cho người lao động Nếu có một chế độ trả công hợp lý

để người lao động cho năng suất lao động cao, từ đó, sẽ giúp cho doanh nghiệp

có thể cạnh tranh trên thị trường có hiệu quả Việc hoàn thiện các hình thức trả công hợp lý, đối với Nhà nước sẽ bảo đảm tính công bằng, chống lạm phát thất nghiệp, kích thích tăng trưởng kinh tế Đối với doanh nghiệp sẽ tiết kiệm tối đa nguồn lực, thu hút nhiều lao động giỏi, tồn tại và phát triển Còn bản thân người lao động, sẽ tạo ra cho họ sự kích thích vật chất lớn nhằm nâng cao hiệu quả quá trình lao động

1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ TIỀN LƯƠNG

1.2.1 Tổng quan chính sách, pháp luật về tiền lương

Trong nền kinh tế thị trường, lao động là yếu tố cơ bản quyết định quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Muốn quá trình sản xuất, kinh

Trang 22

doanh được diễn ra liên tục, thường xuyên và đạt hiệu quả, doanh nghiệp phải chú trọng đến vấn đề tái tạo sức lao động, tức là phải trả thù lao cho người lao động trong thời gian họ tham gia sản xuất kinh doanh Tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động, ngoài ra, người lao động còn được hưởng một

số nguồn thu nhập khác như: trợ cấp, phụ cấp, tiền thưởng, bảo hiểm Đối với doanh nghiệp thì chi phí tiền lương là một bộ phận cấu thành nên giá thành sản phẩm, dịch vụ do doanh nghiệp sản xuất ra Tiền lương trả cho người lao động phải tương xứng với sự đóng góp của lao động (hay trả đúng giá trị sức lao động) tuỳ theo (hay phụ thuộc vào) năng suất lao động của từng cá nhân (hay thành tích của từng cá nhân) Đây là vấn đề có tính chất nguyên tắc, là chuẩn mực cao nhất của chính sách tiền lương trong khu vực sản xuất kinh doanh (doanh nghiệp)

Chính sách tiền lương là một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách kinh tế - xã hội của đất nước Chính sách tiền lương như một công cụ hiệu quả góp phần điều tiết thị trường lao động, thu hút đầu tư nước ngoài, thu hút công nghệ và góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của quốc gia Chính sách này liên quan trực tiếp đến lợi ích của đông đảo người lao động trong xã hội

và được Nhà nước quản lý Đối với thị trường lao động, thông qua việc ban hành

và sửa đổi chính sách tiền lương trong những năm qua, Nhà nước công nhận tiền lương và tiền công là giá cả của hàng hóa sức lao động Thông qua hoạt động của thị trường lao động chính sách tiền lương góp phần phân bổ điều chỉnh nguồn nhân lực phạm vi vùng, địa phương và toàn bộ nền kinh tế Ở tầm vĩ mô, chính sách tiền lương phải đặt trong tổng thể chính sách việc làm và gắn với việc làm; do thị trường quyết định bằng sự điều tiết khách quan của quy luật thị trường, phụ thuộc vào quan hệ cung - cầu lao động trên thị trường lao động;

Trang 23

được xác định thông qua cơ chế thoả thuận giữa các bên trong quan hệ lao động, đảm bảo hài hoà lợi ích giữa người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước; đồng thời có sự quản lý, điều tiết của Nhà nước để đảm bảo mục tiêu phát triển chung và lợi ích của quốc gia, của cộng đồng [17 – tr.134]

Nhà nước quản lý thống nhất về tiền lương Các chính sách của Nhà nước

về tiền lương được thể hiện cụ thể qua các quy định của pháp luật về lao động Đây là một ngành luật có đối tượng điều chỉnh tương đối rộng vì nó liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của người lao động, người sử dụng lao động, các tiêu chuẩn lao động, các nguyên tắc sử dụng và quản lý lao động, đặc biệt là quy định về vấn đề tiền lương – một vấn đề quan trọng, liên quan đến đời sống của hàng triệu lao động trong xã hội Theo đó, pháp luật về tiền lương được hiểu là một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh lĩnh vực về tiền lương

Pháp luật về tiền lương có ý nghĩa sâu sắc, nó không chỉ liên quan đến thu nhập và đời sống cho người lao động mà nó còn là nhân tố ảnh hưởng đến họat động sản xuất kinh doanh, đến tích lũy và tiêu dùng, quan hệ giữa các tầng lớp lao động Pháp luật về tiền lương được quy định là nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động, cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, tạo điều kiện cho mối quan hệ lao động được hài hòa và ổn định, góp phần phát huy trí sáng tạo và tài năng của người lao động trí óc và lao động chân tay, của người quản lý lao động, nhằm đạt năng suất, chất lượng và tiến bộ xã hội trong lao động, sản xuất, dịch vụ, hiệu quả trong sử dụng và quản lý lao động, góp phần công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì sự nghiệp dân giàu, nước

mạnh, xã hội công bằng, văn minh [19 – tr 47]

Kể từ khi ra đời đến nay, pháp luật tiền lương nước ta trải qua gần 70 năm (từ năm 1945 đến nay) với hàng trăm các văn bản luật, các văn bản dưới luật …

Trang 24

điều chỉnh các chế độ tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp … làm cơ sở để người sử dụng lao động trả lương cho người lao động Pháp luật tiền lương nước ta bao gồm tất cả các quy định của Nhà nước về tiền lương, được xác lập thành một hệ thống, từ văn bản pháp luật có giá trị cao nhất là Hiến pháp đến Bộ luật Lao động, các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành… Pháp luật về tiền lương giúp cho người lao động và người sử dụng lao động căn cứ vào đó để vận dụng, đồng thời, cũng là cơ sở để Nhà nước căn cứ vào đó thực hiện công tác quản lý Nếu một trong các bên tham gia quan hệ lao động không tuân thủ các quy định của Nhà nước về tiền lương, thì Nhà nước sẽ áp dụng các biện pháp chế tài để xử lý

1.2.2 Đối tượng, phạm vi điều chỉnh của pháp luật tiền lương

1.2.2.1 Đối tượng điều chỉnh

Tiền lương là số lượng tiền tệ mà người sử dụng lao động trả cho người lao động khi họ hoàn thành công việc theo chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định hoặc hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động dựa trên năng suất, chất lượng lao động Do vậy, đối tượng điều chỉnh của pháp luật tiền lương là quan hệ trả công giữa người sử dụng lao động và người lao động

Trong đó, quan hệ trả công giữa người sử dụng lao động và người lao động là tổng hợp các quy định của Nhà nước về tiền lương tối thiểu; quan hệ tiền lương; hệ thống thang lương, bảng lương và định mức lao động; chế độ thưởng

và chế độ phụ cấp; cơ chế quản lý, phân phối tiền lương và thu nhập

1.2.2.2 Phạm vi điều chỉnh

Pháp luật tiền lương được áp dụng đối với mọi người lao động, mọi tổ chức, cá nhân sử dụng lao động theo hợp đồng lao động thuộc các thành phần kinh tế, mọi hình thức sở hữu, bao gồm: Người lao động và người sử dụng lao động làm việc trong các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư

Trang 25

trong nước và các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân; Các cơ quan tổ chức nước ngoài hoặc quốc tế đóng trên lãnh thổ Việt Nam có tham gia kí kết hợp đồng thuê mướn lao động là người Việt Nam, người nước ngoài làm việc trong các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân Việt Nam trên lãnh thổ Việt Nam và người lao động làm công trong các cơ quan nhà nước, tổ chức khác (gọi chung là tiền lương thuộc khu vực sản xuất, kinh doanh) [19 – tr 52]

Pháp luật tiền lương còn áp dụng cho đơn vị hành chính sự nghiệp, bao gồm công chức, viên chức nhà nước, người giữ chức vụ bầu cử hoặc bổ nhiệm, người thuộc lực lượng quân đội nhân dân, công an nhân dân, người thuộc các đoàn thể nhân dân, các tổ chức chính trị xã hội khác và các xã viên hợp tác xã

Như vậy, đối tượng và phạm vi điều chỉnh của pháp luật về tiền lương tương đối rộng Tuy nhiên, do giới hạn về mục đích và phạm vi nghiên cứu của

đề tài, nên luận văn này chủ yếu tập trung nghiên cứu đối với hệ thống pháp luật

và áp dụng pháp luật về tiền lương trong các doanh nghiệp thuộc khu vực sản xuất kinh doanh

1.2.3 Một số nội dung cơ bản của pháp luật về tiền lương

1.2.3.1 Tiền lương

Theo quy định của Điều 90 Bộ luật Lao động Việt Nam năm 2012 thì:

“Tiền lương là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động để thực hiện công việc theo thỏa thuận Tiền lương bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác”

Định nghĩa trên đã bao quát tiền lương và các bộ phận cấu thành cơ bản của nó gồm: Lương cơ bản (lương chính), phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác (như tiền thưởng) Trong đó, lương cơ bản là phần tính đủ số lượng, chất lượng lao động đạt được trong điều kiện lao động trung bình Phụ cấp lương là

Trang 26

phần bổ sung cho lương cơ bản, bù đắp cho người lao động làm việc trong điều kiện lao động không bình thường hoặc phải thực hiện các công việc yêu cầu trách nhiệm cao hơn bình thường Tiền thưởng là phần trả cho những yếu tố mới nảy sinh trong quá trình lao động, nâng cáo chất lượng lao động hay sáng kiến mới Có thể nói, dưới giác độ pháp lý, tiền lương có những đặc trưng cơ bản như sau:

(i) Về chủ thể tham gia trong quan hệ pháp luật về tiền lương: Chủ thể

tham gia bao gồm người lao động và người sử dụng lao động, trong đó, người sử dụng lao động là người trả lương cho người lao động, còn người lao động thông qua việc bán sức lao động của mình, họ sẽ được nhận giá trị tiền tệ trên cơ sở lao động bỏ ra

(ii) Về điều kiện trả lương: Điều kiện để người sử dụng lao động trả lương

cho người lao động khi người lao động đã hoàn thành các công việc theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động hoặc theo pháp luật quy định

(iii) Về căn cứ trả lương cho người lao động: Tiền lương của người lao

động do hai bên thỏa thuận, khi người sử dụng lao động trả lương cho họ cần phải căn cứ vào năng suất, chất lượng và hiệu quả công việc được giao, ngoài tiền lương cũng phụ thuộc vào khu vực làm việc và tính chất công việc mà người lao động thực hiện Khi trả lương cũng căn cứ vào quy định của pháp luật, đó là tiền lương tối thiểu, các nguyên tắc xây dựng thang lương, bảng lương

(iv) Về bản chất pháp lý của tiền lương: Tiền lương là giá cả của sức lao

động, thị trường sức lao động hoạt động theo quy luật cung cầu, người lao động

và người sử dụng lao động có quyền thỏa thuận về mức tiền lương, khi kinh tế -

xã hội thay đổi, thì kéo theo tiền lương cũng thay đổi theo Bên cạnh đó, khi người lao động bỏ ra nhiều công sức thì họ được nhận được tiền lương xứng

Trang 27

đáng với công sức mà họ bỏ ra Như vậy, tiền lương luôn được coi là đối tượng quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp và người lao động Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, tiền lương là giá cả cho một loại hàng hóa Tuy nhiên, sức lao động là một loại hàng hóa đặc biệt bởi thuộc tính nảy sinh giá trị và gắn liền với yếu tố con người, vì vậy, chế độ chính sách về tiền lương do Nhà nước quy định, quản lý và giám sát, một mặt, tôn trọng sự khách quan của các quy luật cung cầu, giá trị trong thị trường, mặt khác, phải xuất phát từ yêu cầu là quan tâm tới toàn diện mục đích, động cơ làm việc, các nhu cầu lợi ích kinh tế của người lao động

và người sử dụng lao động và của toàn xã hội

1.2.3.2 Các nguyên tắc cơ bản của tiền lương

(i) Trả lương phải trên cơ sở sự thỏa thuận giữa người lao động với người

sử dụng lao động

Nguyên tắc này đã được quy định cụ thể tại Điều 90 của Bộ luật Lao động năm 2012: “Tiền lương của người lao động do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc”

Tính chất của quan hệ lao động do pháp luật lao động điều chỉnh là tự do thỏa thuận Nhìn chung, những vấn đề về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên đều

do họ tự quyết định bằng cách thỏa thuận không trái luật, trong đó có tiền lương Năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả công việc và quy định của Nhà nước về tiền lương là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới thỏa thuận tiền lương, Bên cạnh đó, tương quan cung cầu lao động trên thị trường, mức sống chung của nhân dân địa phương, sức mạnh của công đoàn, tình trạnh tài chính của đơn vị sử dụng lao động cũng là những nhân tố ảnh hưởng tới việc thỏa thuận tiền lương ở những mức độ khác nhau

Trang 28

Trước khi công bố mức lương tối thiểu, thang lương, bảng lương, Chính phủ tham khảo ý kiến của đại diện các bên trong quan hệ lao động Còn tại đơn

vị sử dụng lao động, việc thỏa thuận tiền lương có thể thực hiện ở nhiều cấp độ khác nhau như thỏa thuận tập thể (thỏa ước tập thể), thỏa thuận cá nhân (hợp đồng lao động, hợp đồng học nghề) Theo đó, tiền lương, phụ cấp, tiền thưởng vấn đề tạm ứng tiền lương… đều do các bên thỏa thuận Khi thực hiện nguyên tắc thỏa thuận cần kết hợp với tính ấn định về tiền lương Trong những trường hợp đặc biệt, để bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động, bảo vệ quan hệ của hai bên và lợi ích chung của xã hội, Nhà nước ấn định mức trả lương, không phụ thuộc hoặc không phụ thuộc trực tiếp vào sự thỏa thuận của hai bên, như trong các trường hợp trả lương trong thời gian ngừng việc, trong những ngày nghỉ có hưởng lương của người lao động, trong thời gian người lao động điều trị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Do phải chịu tác động của yếu tố cung cầu trong nền kinh tế thị trường, trong điều kiện mà sức ép dôi thừa lao động xã hội luôn lớn, thì trong nhiều trường hợp, nguyên tắc thoả thuận, bình đẳng này khó có thể được thực hiện triệt

để Do đó, bên cạnh việc thoả thuận, bình đẳng, đòi hỏi việc trả lương không được trái pháp luật, nhất là phải tuân thủ nghiêm ngặt những qui định có tính bắt buộc nhằm bảo vệ cho người lao động, như về lương tối thiểu về việc trả lương khi làm thêm giờ, làm đêm

(ii) Không được trả hoặc thoả thuận mức lương thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước qui định

Nguyên tắc này cũng được xác định tại Điều 90 Bộ luật Lao động năm

2012: “Mức lương người lao động không thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà

nước quy định” Khi tham gia quan hệ lao động, mục đích quan trọng và có ý

Trang 29

nghĩa nhất đối với người lao động là có thu nhập Đồng thời, khi đã tham gia quan hệ lao động có ý nghĩa là người lao động đã dành hết thời gian lao động trong khả năng cho phép đối với công việc mà mình đảm nhiệm Thu nhập thông qua tiền lương mà họ nhận được từ người sử dụng lao động phải đảm bảo cho họ tái sản xuất sức lao động “Tái sản xuất sức lao động” ở đây bao gồm cả tái sản xuất sức lao động giản đơn và tái sản xuất sức lao động mở rộng Tiền lương của người lao động phải đảm bảo giá trị thực tế để người lao động có thể chi tiêu, duy trì cuộc sống cho mình và một phần cho gia đình của mình cũng như một

phần cho tích luỹ dành cho cuộc sống khi hết tuổi lao động

(iii) Tiền lương phải được thoả thuận và trả theo năng suất, chất lượng và

hiệu quả công việc

Xét về bản chất, tiền lương chính là giá cả của sức lao động, biểu hiện giá trị sức lao động dưới sự tác động của các qui luật cung - cầu trong nền kinh tế thị trường Việc tiền lương phải được trả theo năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả công việc cũng chính là việc tuân thủ và phán ánh bản chất này

- Trả lương theo năng suất lao động: Năng suất lao động là một trong những yếu tố quyết định trực tiếp đến tiền lương của người lao động, bởi để đạt hoặc chỉ tiêu năng suất lao động có phần đóng góp của người lao động từ cung ứng sức lao động của họ Vì vậy, khi năng suất lao động tăng, có khả năng người lao động được tăng lương Ngược lại, khi tiền lương mà người lao động được nhận tăng, thì nó lại chính là nhân tố kích thích người lao động tích cực làm việc, tăng năng suất lao động, góp phần tăng trưởng kinh tế cho đơn vị và cho xã hội

Do vậy, yêu cầu của nguyên tắc này cần đặt tiền lương trong mối quan hệ tác động qua lại với năng suất lao động Tiền lương theo năng suất lao động một mặt đảm bảo sự công bằng trong phân phối thu nhập, mặt khác, còn có tác dụng

Trang 30

khuyến khích người lao động tiết kiệm nguyên vật liệu, sử dụng tối đa thời gian làm việc, phát huy tinh thần sáng tạo, cải tiến kĩ thuật trong công việc…

- Trả lương theo số lượng và chất lượng: Số lượng và chất lượng là căn cứ quan trọng nhất để xác định mức trả lương cho người lao động Số lượng và chất lượng công việc được xác định khác nhau tùy theo hình thức trả lương Ở hình thức trả lương theo thời gian, số lượng lao động được tính được tính căn cứ vào thời gian làm việc của người lao động (theo giờ hay ngày công lao động ), chất lượng lao động được phản ánh qua mức độ phức tạp của công việc thực hiện tương ứng trình độ chuyên môn, kỹ thuật công nghệ… mà người lao động có thể hoàn thành để đáp ứng công việc Ở hình thức trả lương theo sản phẩm và lương khoán số lượng lao động lại được tính tương ứng với số lượng sản phẩm hoặc khối lượng công việc người lao động hoàn thành, chất lượng lao động chính là chất lượng sản phẩm, công việc đó Trên thực tế, số lượng và chất lượng lao động mà người lao động đóng góp thể hiện qua năng suất chất lượng và hiệu quả công việc và đây cũng chính là cơ sở thực tế để các bên thỏa thuận về tiền lương

Theo nguyên tắc này, lao động có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao, thành thạo chất lượng cao, làm việc nhiều thì trả lương nhiều và ngược lại Nội sung này cần được vận dung linh hoạt tùy thuộc vào từng hoàn cảnh và những nhóm lao động cụ thể, điều này phù hợp với đặc điểm của thị trường lao động, khả năng kinh tế của từng địa phương, khu vực, từng ngành và từng đơn vị sử dụng lao động đồng thời tránh việc thực hiện phân phối lao động một cách cứng nhắc, không gắn kết quyền lợi của người lao động với hiệu quả kinh tế của đơn

vị sử dụng lao động, không tính đến những yếu tố tác động từ bên ngoài tới tiền lương của người lao động Thực hiện nguyên tắc này cần tránh tư tưởng bình quân chủ nghĩa và quan điểm người lao động tạo ra bao nhiêu giá trị, thì phải

Trang 31

được hưởng đủ bấy nhiêu Các tư tưởng và quan điểm này sẽ phá vỡ sự công bằng và không đảm bảo tính thực tế trong trả lương

Về phương diện pháp lý, nguyên tắc trả lương theo số lượng và chất lượng được thể hiện chủ yếu và rõ nét nhất trong việc xây dựng thang lương, bảng lương của Nhà nước và đơn vị sử dụng lao động Trong cùng một thang lương, bảng lương, nhóm lương, ngạch lương của người lao động có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao được thiết kế với những hệ số mức lương cao hơn ở từng bậc lương tương ứng so với nhóm lương, ngạch lương của người lao động có trình

độ chuyên môn thấp hơn Trong cùng một nhóm lương, ngạch lương mức độ phức tạp của từng công việc hoặc yêu cầu về trình độ lành nghề của người lao động được phản ánh rõ nét trong hệ số mức lương của từng bậc lương Ngoài ra, nguyên tắc này còn thể hiện qua các quy định cụ thể của pháp luật về tiền lương, làm công việc gì thì hưởng lương theo công việc đó, lương của người lãnh đạo phải cao hơn lương của người bị lãnh đạo… Ý nghĩa của nguyên tắc này là nhằm đảm bảo công bằng và bình đẳng trong phân phối

(iv) Tiền lương phải được trả bình đẳng giữa lao động nam và lao động

nữ cho công việc có giá trị ngang nhau

Nguyên tắc này được quy định tại Điều 90 Bộ luật Lao động năm 2012:

“Người sử dụng lao động phải bảo đảm trả lương bình đẳng, không phân biệt

giới tính đối với người lao động làm công việc có giá trị như nhau”

Xuất phát từ mục đích bảo vệ người lao động nữ do một thực tế đã tồn tại

từ rất lâu trong việc sử dụng lao động là lao động nữ luôn bị xem nhẹ hơn so với lao động nam, nên tiền lương trả cho lao động nữ thường thấp hơn so với lao động nam Do vậy, nguyên tăc này đòi hỏi khi xây dựng chế độ tiền lương cũng như khi thỏa thuận và thực hiện việc trả lương không được có sự phân biêt về

Trang 32

trả lương vì lý do giới tính Nếu công việc như nhau, năng suất và chất lượng công việc như nhau thì lao động nữ và lao động nam phải được trá lương như nhau

(v) Tiền lương phải được trả trực tiếp, đầy đủ, đúng thời hạn và tại nơi làm việc

Nguyên tắc này được xác định tại Điều 96 Bộ luật Lao động năm 2012:

“Người lao động được trả lương trực tiếp, đầy đủ và đúng thời hạn” Tiền lương

là một phần thu nhập chủ yếu để đảm bảo sinh hoạt và cuộc sống của người lao động cũng như gia đình của họ Nguyên tắc này đặt ra nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích tối đa của người lao động việc trả lương và hạn chế được nhiều nguyên nhân như: Trả lương chậm, khấu trừ tiền lương sai quy định, trả lương không đủ, gây khó khăn phiền hà hà cho người lao động Trong một số trường hợp pháp luật cho phép chủ sử dụng lao động được trả lương thông qua cai thầu, hoặc trung gian, qua ngân hàng nhằm mục đích quản lý được nguồn thu nhập của người lao động để người lao động thực hiện nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và không gây phiền hà, khó khăn, nhanh gọn cho cảc các bên trong quan hệ lao động

Do vậy, việc tiền lương được trả trực tiếp, đầy đủ, đúng hạn là một yêu cầu hết sức quan trọng nhằm bảo vệ người lao động Là một nguyên tắc pháp lý quan trọng, nguyên tắc này góp phần đảm bảo cho các nguyên tắc khác được tôn trọng và được thực hiện

1.2.3.3 Các hình thức trả lương

Điều 94 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định: “Người sử dụng lao động

có quyền lựa chọn hình thức trả lương theo thời gian, sản phẩm hoặc khoán ”

(i) Trả lương theo thời gian

Trang 33

Đây là hình thức trả lương căn cứ vào thời gian làm việc của người lao động Thời gian làm việc của người lao động bao gồm thời gian thực tế làm việc

và thời gian được tính là thời gian làm việc theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận của người lao động và người sử dụng lao động

Trả lương theo thời gian có 5 hình thức:

+ Trả lương theo năm: Là tiền lương trả cho một năm làm việc của người lao động theo mức do pháp luật quy định hoặc do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng Hiện nay ở nước ta, chế độ trả lương theo năm làm việc chỉ áp dụng cho các thành viên hội đồng quản trị và giám đốc hay tổng giám đốc các công ty nhà nước Hàng tháng, người lao động được tạm ứng 80% quỹ lương kế hoạch Phần còn lại được thanh toán vào cuối năm tùy theo mức độ hoàn thành nhiệm vụ của

đã ấn định trong hợp đồng lao động hoặc đã quy định thống nhất trong đơn vị sử dụng lao động Đây là hình thức trả lương phổ biến hiện nay Tuy nhiên, hình thức trả lương này trong các doanh nghiệp thuộc khu vực sản xuất, kinh doanh lại bộc lộ những nhược điểm là không khuyến khích được sự chuyên cần của người lao động, không phản ánh năng suất lao động khác nhau giữa những người lao động cùng làm những công việc như nhau, do vậy, cần áp dụng những chế độ khác như chế độ thưởng hay chế độ phụ cấp

Trang 34

+ Trả lương theo tuần: Là mức lương trả cho người lao động theo tuần và được tính trên cơ sở lương tháng nhân với 12 tháng và chia cho 52 tuần

+ Trả lương theo ngày: Là tiền lương trả cho một ngày làm việc của người lao động được xác định theo lương tháng chia cho số ngày làm việc tiêu chuẩn trong tháng của đơn vị sử dụng lao động nhưng không quá 2 ngày

+ Trả lương theo giờ: Là tiền lương được tính và trả cho một giờ của người lao động Lương theo giờ được tính trên cơ sở tiền lương ngày chia cho số giờ làm việc tiêu chuẩn của đơn vị sử dụng lao động nhưng không quá 8 giờ

Về nguyên tắc lương tuần, lương ngày, lương giờ phải được trả ngay sau khi kết thúc tuần, ngày, giờ làm việc của người lao động Hai bên có thể thỏa thuận trả gộp, nhưng chậm nhất sau 15 ngày, người lao động phải được trả lương một lần

Hình thức trả lương theo thời gian có những ưu điểm là tính toán đơn giản, ổn định trong việc trả lương và dự toán tiền lương của doanh nghiệp Áp dụng hình thức trả lương này, người lao động không phải chạy theo số lượng sản phẩm, do vậy, chất lượng sản phẩm làm ra cũng được đảm bảo hơn, người lao động có thời gian để sáng tạo, tích lũy kinh nghiệm, đầu tư cho chất lượng công việc [11]

Tuy nhiên, trả lương theo thời gian lại có nhược điểm là thường mang tính bình quân, không khuyến khích được tính tích cực của người lao động, ít quán triệt nguyên tắc phân phối lao động Để khắc phục nhược điểm này, chúng ta có thể sử dụng kết hợp giữa việc trả lương và thưởng cho người lao động để khuyển khích người lao động làm việc và nâng cao chất lượng công việc của họ Vì vậy, việc trả lương theo thời gian có thể thực hiện theo hai cách: Trả lương theo thời gian đơn giản (trả lương theo thời gian thực tế làm việc) và trả lương theo thời

Trang 35

gian có thưởng (gồm trả lương theo thời gian đơn giản cộng với tiền thưởng) Trên thực tế, các doanh nghiệp áp dụng hình thức trả lương này chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp có việc làm và kinh doanh ổn định

(ii) Trả lương theo sản phẩm

Đây là hình thức trả lương cho người lao động căn cứ theo số lượng và chất lượng của sản phẩm công việc đã hoàn thành Đây là hình thức trả lương được áp dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp sản xuất, chế tạo sản phẩm Để thực hiện trả lương theo sản phẩm, người sử dụng lao động phải xây dựng định mức khoán sản phẩm cho người lao động trong một đơn vị thời gian nhất định và xác định đơn giá tiền lương trên một đơn vị sản phẩm Trả lương theo sản phẩm sẽ gắn kết người lao động với kết quả công việc

Vì vậy, người lao động sẽ tự ý thức trách nhiệm công việc và quyền lợi của mình

từ việc hoàn thành định mức, tăng năng suất lao động

Tiền lương của người lao động phụ thuộc trực tiếp vào số lượng sản phẩm

mà họ làm ra, được người sử dụng lao động chấp nhận và đơn giá tiền lương mà người sử dụng lao động áp dụng cho loại sản phẩm đó Tiền lương theo sản phẩm cũng được trả định kì theo thời gian, thông thường là theo tháng làm việc của người lao động Trả lương theo sản phẩm bao gồm nhiều loại, tùy đối tượng hưởng lương Những hình thức tiêu biểu đang được các doanh nghiệp sử dụng hiện nay đó là:

+ Lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân: Chế độ trả lương này được áp dụng khi người lao động làm việc mang tính chất tương đối độc lập, có định mức

và kiểm tra nghiệm thu sản phẩm một cách cụ thể và riêng biệt

+ Lương theo sản phẩm tập thể: Chế độ này áp dụng đối với những công việc cần một tập thể công nhân cùng thực hiện

Trang 36

+ Lương theo sản phẩm gián tiếp: Chế độ này thường áp dụng đối với công nhân phụ mà công việc của họ ảnh hưởng nhiều đến kết quả sản xuất của những công việc chính hưởng lương theo sản phẩm Tiền lương của công nhân phụ cũng có thể tính bằng cách lấy % hoàn thành vượt mức sản lượng của công nhân chính với cấp bậc của công nhân phụ

+ Lương theo sản phẩm có thưởng: Thực chất của chế độ trả lương này là kết hợp giữa chế độ trả lương kể trên với các hình thức tiền thưởng Khi áp dụng chế độ này, phần tiền lương được tính theo đơn giá cố định, còn tiền thưởng sẽ căn cứ vào mức độ hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu về măt số lượng công việc

Hình thức trả lương theo sản phẩm có những ưu điểm là tính chính xác và công bằng tương đối cao (so với hình thức trả lương theo thời gian), từ đó, có thể phân biệt năng suất lao động của những người lao động khi họ cùng làm những công việc như nhau, gắn chặt công việc với thu nhập cụ thể, kích thích nâng cao trình độ mọi mặt, giúp người lao động sử dụng hợp lý thời gian làm việc và thời gian nghỉ ngơi, góp phần tích cực trong việc thực hiện kỷ luật trong doanh nghiệp

Tuy nhiên, hình thức trả lương theo sản phẩm có những nhược điểm là nảy sinh hiện tượng người lao động chạy theo số lượng sản phẩm làm ra, mà coi nhẹ chất lượng sản phẩm, việc sử dụng tiết kiệm nguyên vật liệu trong sản xuất, việc giữ gìn máy móc trong doanh nghiệp, tranh thủ thời gian quá mức, do vậy, người lao động không còn thời gian để sáng tạo, tích lũy kinh nghiệm, đầu tư cho chất lượng công việc Để khắc phục nhược điểm này, người sử dụng lao động cần xây dựng định mức lao động một cách thật khoa học; tổ chức, phục vụ tốt nơi làm

Trang 37

việc để hạn chế tối đa thời gian ngừng việc; tổ chức tốt việc kiểm tra, nghiệm thu sản phẩm, giáo dục tốt ý thức tuân thủ công việc của người lao động…

(iii) Trả lương khoán

Là hình thức trả lương căn cứ vào khối lượng và chất lượng công việc khoán mà người lao động thực hiện Chế độ tiền lương này áp dụng cho những công việc nếu làm riêng từng chi tiết, từng bộ phận công việc theo thời gian thì không có lợi về mặt kinh tế và thời gian không đảm bảo, đồng thời công việc đòi hỏi một tập hợp nhiều loại công việc khác nhau theo yêu cầu hoàn thành đúng thời hạn Chế độ trả lương này áp dụng chủ yếu trong xây dựng cơ bản và một số công việc trong nông nghiệp Để thực hiện việc trả lương khoán, người sử dụng lao động cần xác định khối lượng (với chất lượng tương ứng) công việc cho người lao động, quỹ thời gian thực hiện, quỹ tiền lương kế hoạch cho toàn bộ công việc Nếu công việc khoán kéo dài trong nhiều tháng, thì hàng tháng, người

sử dụng lao động phải tạm ứng tiền lương cho người lao động tương ứng với khối lượng công việc mà người lao động đã thực hiện được trong tháng

Hình thức trả lương khoán có ưu điểm là hình thức trả lương khoán khá phù hợp với nguyên tắc phân phối theo lao động, gắn thu nhập của người lao động với kết quả sản xuất kinh doanh Người lao động biết trước được số tiền sẽ nhận được sau khi hoàn thành công việc hoặc hoàn thành công việc trước thời hạn, khuyến khích người lao động hăng say lao động, nâng cao năng suất Tuy nhiên, hình thức trả lương khoán cũng có những nhược điểm giống như hình thức trả lương theo sản phẩm làm cho người lao động ít quan tâm đến giữ gìn máy móc thiết bị, chỉ chạy theo số lượng, không chú ý đến chất lượng, không tiết kiệm nguyên vật liệu và không quan tâm đến tập thể và người sử dụng phải tính

Trang 38

toán đơn giá chặt chẽ và tỉ mỉ để xây dựng đơn giá trả lương chính xác cho công nhân, đảm bảo yếu tố lợi nhuận trong kinh doanh

Việc xác định và áp dụng theo hình thức trả lương nào là thuộc về quyền hạn của người sử dụng lao động, tuy nhiên, hình thức trả lương đã chọn phải được duy trì trong một thời gian nhất định; trường hợp thay đổi hình thức trả lương, thì người sử dụng lao động phải thông báo cho người lao động biết trước

ít nhất 10 ngày Điều này góp phần ổn định, tránh sự xáo trộn trong việc nhận tiền lương, kế hoạch chi tiêu trong gia đình và bản thân người lao động

1.2.3.4 Mức lương tối thiểu

Trong lĩnh vực trả công, trả lương cho người lao động, mức lương nào đánh giá giá trị sức lao động đơn giản nhất, thấp nhất để họ có mức sống tối thiểu, đó chính là vấn đề tiền lương tối thiểu Lương tối thiểu được quan tâm vì

nó ảnh hưởng trực tiếp đến cả hai phía trong mối quan hệ lao động Tiền lương tối thiểu có thể thỏa mãn những nhu cầu cá nhân và xã hội của con người ở mức thấp nhất có thể Tiền lương tối thiểu không tuân theo những thương lượng giữa giữa 2 bên mà tuân theo những quy định do pháp luật đặt ra

(i) Thế nào là mức lương tối thiểu?

Về mặt khái niệm, Công ước số 26 ngày 30/5/1928 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cho rằng: “Tiền lương tối thiểu là mức trả công lao động thấp nhất trả cho người lao động làm các công việc đơn giản nhất đủ đảm bảo cho họ một mức sống tối thiểu với tư cách là người chủ gia đình, phù hợp với điều kiện kinh

của ILO ấn định mức lương tối thiểu cho người lao động làm việc tại các doanh nghiệp nông nghiệp và công nghiệp có liên quan” Với quy định này, tất cả các quốc gia tham gia vào tổ chức ILO đều phải tuân thủ Việt Nam là thành viên

Trang 39

của tổ chức ILO từ năm 1983, do đó, chúng ta cũng đã tuân thủ quy định này và quy định về tiền lương tối thiểu trong Bộ luật Lao động Cụ thể, tại Điều 91 Bộ luật Lao động năm 2012 có quy định: “Mức lương tối thiểu là mức thấp nhất trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất, trong điều kiện lao động bình thường và phải bảo đảm nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ”

Mức lương tối thiểu có những đặc trưng cơ bản là: (i) Được xác định với trình độ lao động đơn giản nhất; (ii) Tương ứng với cường độ lao động nhẹ nhàng nhất trong điều kiện lao động bình thường; (iii) Đảm bảo nhu cầu tiêu dùng ở mức độ cần thiết; (iv) Tương ứng với tư liệu sinh hoạt chủ yếu của vùng

có mức giá trị trung bình Như vậy, tiền lương tối thiểu không chỉ áp dụng cho lao động giản đơn mà còn là khung pháp lý quan trọng, là nền tảng để trả công cho người lao động trong toàn xã hội, là mức lương mang tính chất bắt buộc người sử dụng lao động trả ít nhất là bằng chứ không trả thấp hơn Vì vậy, các mức lương khác trong thang lương, bảng lương hoặc thỏa thuận trong hợp đồng lao động không thấp hơn mức Nhà nước ấn định

(ii) Các loại tiền lương tối thiểu

Cơ sở để xác định mức lương tối thiểu là theo tháng, ngày, giờ và được xác lập theo vùng, ngành

- Tiền lương tối thiểu chung: Do Nhà nước quy định và áp dụng trên phạm

vi toàn quốc, áp dụng đối với tất cả mọi người, nó được coi là lưới đỡ an toàn cho mọi người lao động

- Tiền lương tối thiểu vùng: Là mức lương tối thiểu được áp dụng cho từng vùng lãnh thổ nhất định, có tính đến những yếu tố đặc thù của vùng đó Căn

cứ vào nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ, điều kiện kinh

Trang 40

tế - xã hội và mức tiền lương trên thị trường lao động, Chính phủ công bố mức lương tối thiểu vùng trên cơ sở khuyến nghị của Hội đồng tiền lương quốc gia

Trước đây, tồn tại 2 mức lương tối thiểu vùng áp dụng cho 2 loại hình doanh nghiệp Mức lương tối thiểu vùng áp dụng cho nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và mức lương tối thiểu áp dụng cho doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước Quy định này gây ra cách hiểu sai lầm đó là mức sống tối thiểu của người lao động trong khu vực này là khác nhau Kể từ ngày 1/10/2011, pháp luật lao động Việt Nam đã quy định áp dụng một mức lương tối thiểu duy nhất cho cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước

- Tiền lương tối thiểu theo khu vực kinh tế: Tiền lương tối thiểu ở khu vực

- Tiền lương tối thiểu ngành: Là mức lương tối thiểu được áp dụng cho một ngành nhất định, có tính đến những yếu tố lao động đặc thù của ngành đó Xuất phát do có sự chênh lệch về giá cả sinh hoạt giữa các địa phương mà tiền lương tối thiểu có thể khác nhau Mức lương tối thiểu ngành được xác định thông qua thương lượng tập thể ngành, được ghi trong thỏa ước lao động tập thể ngành nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ công

bố

(iii) Ý nghĩa của việc quy định mức lương tối thiểu

Mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định và là sự cụ thể hoá các quy định của Bộ luật Lao động về vấn đề này có tầm quan trọng to lớn trong việc bảo

vệ quyền lợi của người lao động Nó là cơ sở để người sử dụng lao động và người lao động thoả thuận mức tiền công cao hơn và giải quyết các quyền lợi khác cho người lao động theo pháp luật quy định, tạo điều kiện hình thành giá

Ngày đăng: 04/11/2015, 21:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w