Thuế TTĐB là loại thuế gián thu, đánh vào một số hàng hóa, dịch vụ xa xỉ mà Nhà nước cần điều tiết thu nhập của người tiêu dùng có thu nhập cao, hoặc cần định hướng sản xuất, kinh doanh,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Am Hiểu
Hà Nội – 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia
Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Hoàng Thị Tuyết
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ……… 1
1 Lý do chọn đề tài ……… 1
2 Mục tiêu nghiên cứu ……… 2
3 Tính mới và những đóng góp của đề tài……… 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ……… 4
5 Nội dung và phương pháp nghiên cứu ……… 4
6 Kết cấu của Luận văn……… 5
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT ……… 6
1.1 Lý luận chung về thuế ……… 6
1.1.1 Khái niệm 6 1.1.2 Phân loại thuế ……… 7
1.1.3 Vai trò của thuế đối với nền kinh tế - xã hội ………… 10
1.2 Một số vấn đề lý luận về thuế tiêu thụ đặc biệt………… 14
1.2.1 Khái niệm ……… 14
1.2.2 Đặc điểm ……… 16
1.2.3 Vai trò của thuế tiêu thụ đặc biệt ……… 18
1.2.4 Mối liên hệ của thuế tiêu thụ đặc biệt đối với các sắc thuế khác ……… 19
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT……… 22
2.1 Thực trạng chính sách pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt 22
2.1.1 Đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt ……… 22
Trang 52.1.2 Căn cứ và phương pháp tính thuế ……… 39 2.1.3 Hoàn thuế, khấu trừ thuế, giảm thuế tiêu thụ đặc biệt ……… 45
2.2 Thực trạng thực thi pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt ở
Việt Nam hiện nay ……… 49 2.2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế tiêu
thụ đặc biệt ở Việt Nam hiện nay ……… 49 2.2.2 Những kết quả đạt được trong hoạt động thực thi pháp luật
thuế tiêu thụ đặc biệt……… 51 2.2.3 Một số tồn tại, hạn chế trong việc thực thi pháp luật thuế tiêu
thụ đặc biệt ở Việt Nam hiện nay ……… 60
CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY……… 66
3.1 Định hướng cải cách hệ thống thuế của Đảng và Nhà
3.1.1 Quan điểm cải cách hệ thống tài chính nói chung và hệ thống
thuế nói riêng của Đảng ……… 66 3.1.2 Chiến lược hoàn thiện pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt theo
chủ trương của Nhà nước ……… 68
3.2 Kiến nghị, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật
thuế tiêu thụ đặc biệt ở Việt Nam hiện nay ……… 70 3.2.1 Hoàn thiện pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt ……… 71 3.2.2 Tăng cường công tác quản lý, tổ chức thi hành pháp luật thuế
tiêu thụ đặc biệt ……… 81
KẾT LUẬN ……… 86 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1 GDP Tổng sản phẩm quốc nội
2 TTĐB Tiêu thụ đặc biệt
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
1.1 Tỷ lệ đóng góp của thuế trong tổng thu ngân
sách Nhà nước
11
2.1 Biểu thuế tiêu thụ đặc biệt 30
2.2 Cơ cấu thu thuế tiêu thụ đặc biệt từ hàng sản
xuất trong nước
53
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
2.1 Tiêu thụ thuốc lá tại Việt Nam 36
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nhà nước và thuế là hai phạm trù luôn gắn liền với nhau Sử dụng thuế làm công cụ quản lý, điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế là một sự cần thiết khách quan đối với mọi Nhà nước Nhưng mức độ và nội dung sử dụng công
cụ thuế để quản lý, điều tiết kinh tế ở các nước thì không hoàn toàn giống nhau mà tùy thuộc vào từng Nhà nước nhất định, với tình hình kinh tế - xã hội nhất định và định hướng phát triển kinh tế cụ thể trong từng thời kỳ của lịch
sử
Trong bối cảnh tình hình hiện nay, khi mà sự hợp tác kinh tế giữa các nước đang mở rộng theo xu thế khu vực hóa và toàn cầu hóa, thì việc sử dụng công cụ thuế để quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế không thể tiếp tục thực hiện theo những nội dung mang tính truyền thống trước đây nữa, mà nó cần
có những sửa đổi, bổ sung cho phù hợp Chính vì vậy, thuế là vấn đề quan tâm hàng đầu của mọi quốc gia, bất kể quốc gia phát triển hay đang phát triển
Ở nước ta, thuế và hệ thống thuế đã và đang không chỉ là mối quan tâm của các nhà hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô, của các nhà nghiên cứu mà còn của cả các doanh nghiệp và đông đảo quần chúng nhân dân Trong giai đoạn cải cách hệ thống chính sách thuế, nhiều sắc thuế đã được nghiên cứu, xem xét, sửa đổi, bổ sung để phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội trong thời đại mới, đảm bảo hiệu quả quản lý của Nhà nước, trong đó có chính sách thuế TTĐB
Thuế TTĐB là loại thuế gián thu, đánh vào một số hàng hóa, dịch vụ xa
xỉ mà Nhà nước cần điều tiết thu nhập của người tiêu dùng có thu nhập cao, hoặc cần định hướng sản xuất, kinh doanh, phân phối và tiêu dùng nhằm khuyến khích sử dụng tiết kiệm hay hạn chế tiêu dùng Luật Thuế TTĐB ban hành lần đầu tiên vào năm 1990, ban đầu chỉ nhằm vào 6 mặt hàng: thuốc lá,
Trang 9rượu, bia, pháo, bài lá và vàng mã Kể từ khi ban hành đến nay, Luật thuế TTĐB đã qua nhiều lần bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với chính sách kinh tế -
xã hội của Đảng và Nhà nước trong mỗi giai đoạn phát triển Luật thuế TTĐB hiện hành được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 14/11/2008,
có hiệu lực thi hành từ 01/4/2009 và các Nghị định, Thông tư quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành
Luật thuế TTĐB năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung theo hướng minh bạch để kịp thời tháo gỡ những vướng mắc phát sinh, phù hợp với thực tiễn của nước ta những năm qua và từng bước phù hợp với thông lệ quốc tế Tuy nhiên trong quá trình thực hiện, Luật thuế TTĐB hiện hành vẫn bộc lộ một số hạn chế, bất cập dẫn tới khó khăn cho cả cơ quan thuế và người nộp thuế Đồng thời trước yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế như hiện nay đặt
ra yêu cầu cấp thiết đối với việc hoàn thiện pháp luật về thuế TTĐB
Hiện tại, Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TTĐB năm 2008 do Bộ Tài chính soạn thảo đang được tổ chức lấy ý kiến đóng góp của các cơ quan, ban ngành liên quan trước khi trình Chính phủ và Quốc hội thông qua đang nhận được sự quan tâm rất lớn từ dư luận
Vì những lý do trên, tôi đã chọn đề tài “Pháp luật về thuế tiêu thụ đặc
biệt ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp” làm luận văn thạc sỹ
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu tổng quát của luận văn là khái quát được thực trạng của pháp luật thuế TTĐB ở Việt Nam hiện nay, từ đó phân tích, đánh giá được những điểm bất cập từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Tổng kết những vấn đề lý luận chung về thuế và thuế TTĐB;
Trang 10- Khái quát thực trạng của pháp luật thuế TTĐB trong đó bao gồm: thực trạng quy định của pháp luật và thực trạng trong quá trình thực thi pháp luật thuế TTĐB;
- Đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung nhằm xây dựng chính sách thuế TTĐB của Việt Nam phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay
3 Tính mới và những đóng góp của đề tài
Nghiên cứu về thuế là một trong những vấn đề quan trọng nhất trong cải cách chính sách kinh tế vĩ mô ở các nước trên thế giới và luôn thu hút được mối quan tâm hàng đầu của các nhà khoa học, các tổ chức nghiên cứu và các cơ quan chính phủ Ở nước ta, trong thời gian gần đây đã có một số nghiên cứu về phân tích, đánh giá tác động của chính sách thuế nói chung và thuế TTĐB đối với nền kinh tế - xã hội, góp phần quan trọng vào quá trình nghiên cứu, xây dựng các đề án cải cách pháp luật thuế TTĐB phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, trong số đó có thể kể tới như:
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ “Những vấn đề lý luận và thực tiễn hoàn thiện thể chế tài chính 2011 – 2020”, chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Trọng Nghĩa;
- Đề tài nghiên cứu khoa học “Cải cách hệ thống thuế phục vụ phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020”, chủ nhiệm đề tài: Quách Đức Pháp;
- “Báo cáo tổng kết, đánh giá 04 năm tình hình thực hiện Luật thuế TTĐB” của Bộ Tài chính năm 2014;
- “Báo cáo kinh nghiệm quốc tế về chính sách thuế TTĐB” của Bộ Tài chính năm 2013;
Ngoài ra, trong giai đoạn hiện tại Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TTĐB đang được tổ chức lấy ý kiến của các tổ chức, ban ngành liên quan nên nhận được nhiều sự quan tâm và các ý kiến đóng góp, được đăng trên các tạp chí chuyên môn
Trang 11Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chưa thể hiện được tính bao quát, hệ thống đối với các khía cạnh của pháp luật thuế TTĐB, việc đánh giá thực trạng pháp luật thuế TTĐB chưa được toàn diện trên cả hai phương diện là thực trạng quy định của pháp luật và thực trạng thực thi pháp luật thuế TTĐB
ở Việt Nam hiện nay
Vì vậy, đề tài "Pháp luật về thuế tiêu thụ đặc biệt ở Việt Nam – Thực
trạng và giải pháp" mà tôi chọn để viết luận văn thạc sỹ vào thời điểm này
vẫn bảo đảm tính mới của đề tài nghiên cứu
Theo đó, luận văn này có ý nghĩa khoa học và thực tiễn như sau:
- Luận văn đóng góp vào việc hoàn thiện pháp luật thuế TTĐB, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả cải cách thuế tại Việt Nam hiện nay;
- Với một số giải pháp được đề xuất tại luận văn được đưa ra trên cơ sở nghiên cứu, phân tích đánh giá thực trạng pháp luật thuế TTĐB tại Việt Nam
sẽ góp phần hoàn thiện pháp luật về thuế TTĐB trong giai đoạn tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những đối tượng sau:
- Luật thuế TTĐB ở Việt Nam và các văn bản hướng dẫn liên quan;
- Tình hình thực thi pháp luật thuế TTĐB trong giai đoạn hiện nay;
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luật thuế TTĐB ở Việt Nam và các văn bản hướng dẫn áp dụng từ ngày 01/4/2009 đến nay, có tham khảo kinh nghiệm về thuế TTĐB của một
số nước trên thế giới và tình hình thực tế thực hiện chính sách
5 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nội dung nghiên cứu
- Những vấn đề lý luận chung về thuế và thuế TTĐB;
Trang 12- Thực trạng chính sách thuế TTĐB có hiệu lực từ ngày 01/4/2009 đến nay và những kết quả, hạn chế trong quá trình thực thi pháp luật thuế TTĐB;
- Nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng chính sách thuế TTĐB của một số nước trên thế giới;
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử Ngoài ra trong quá trình nghiên cứu đề tài, những phương pháp khoa học như: so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê cũng được sử dụng để giải quyết những vấn đề mà đề tài đặt ra
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thuế và thuế TTĐB
Chương 2: Thực trạng pháp luật về thuế TTĐB
Chương 3: Kiến nghị, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế TTĐB ở Việt Nam hiện nay
Trang 13CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT
1.1 Lý luận chung về thuế
- Thứ nhất, thuế là một khoản thu không bồi hoàn, không mang tính
chất hoàn trả trực tiếp Nộp thuế cho Nhà nước không có nghĩa là cho Nhà nước mượn tiền hay gửi tiền vào ngân sách Nhà nước hoặc là mua một dịch
vụ công.Nộp thuế là một nghĩa vụ cơ bản nhất của công dân
- Thứ hai, thuế là một khoản thu mang tính bắt buộc, để đảm bảo tập
trung thuế trên phạm vi toàn xã hội Chính phủ phải sử dụng hệ thống pháp luật nên thuế thường được quy định dưới dạng văn bản pháp luật hay pháp lệnh Cho nên, trốn thuế hay gian lận thuế đều bị coi là những hành vi phạm pháp và phải chịu xử phạt về hành chính hoặc hình sự
- Thứ ba, các pháp nhân và thể nhân chỉ nộp cho Nhà nước các khoản
thuế đã được pháp luật quy định
Từ việc phân tích những quan niệm về thuế nêu trên, chúng ta có thể đưa ra một định nghĩa tổng quát về thuế như sau:
Trang 14“Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các tổ chức, cá nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, không mang tính chất hoàn trả trực tiếp, nhằm sử dụng cho mục đích chung của toàn xã hội”[27]
1.1.2 Phân loại thuế
Lợi ích của việc phân loại thuế là tạo ra một cách tiếp cận tổng hợp đối với cơ cấu thuế Căn cứ theo đặc điểm, công dụng, chức năng và vai trò của từng loại thuế đối với quá trình phát triển kinh tế, xã hội và tùy theo mục tiêu, yêu cầu của quản lý mà người ta có thể đưa ra các cách phân loại thuế khác nhau, từ đó nhằm sử dụng phát huy vai trò tích cực của từng công cụ thuế trong quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế Dưới đây là một số cách phân loại chủ yếu:
1.1.2.1 Phân loại theo tính chất kinh tế
Theo cách này, thuế có thể được phân loại dựa vào ba tiêu chí chủ yếu: theo các yếu tố kinh tế bị đánh thuế; theo tác nhân kinh tế chịu thuế hoặc theo lĩnh vực kinh tế bị đánh thuế
Nếu dựa theo yếu tố kinh tế bị đánh thuế, thuế được chia thành:
- Thuế đánh vào thu nhập: bao gồm các sắc thuế có cơ sở đánh thuế là thu nhập kiếm được; thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh dưới dạng lợi nhuận, lợi tức, cổ phần …, bao gồm:
+ Thuế thu nhập doanh nghiệp: là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế
+ Thuế thu nhập cá nhân: là loại thuế đánh vào thu nhập cá nhân gồm: tiền lương, tiền công, lợi tức cổ phần và các khoản thu nhập khác
Trang 15- Thuế đánh vào tiêu dùng (sử dụng thu nhập): là các loại thuế có cơ sở đánh thuế là phần thu nhập của tổ chức, cá nhân được mang ra tiêu dùng trong hiện tại Bao gồm các dạng như:
+ Thuế giá trị gia tăng: là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất lưu thông đến tiêu dùng
+ Thuế tiêu thụ đặc biệt;
- Thuế đánh vào tài sản: là các loại thuế có cơ sở đánh thuế là giá trị tài sản
Nếu dựa theo yếu tố và tác nhân kinh tế chịu thuế, có các loại:
- Thuế đánh vào doanh nghiệp
- Thuế đánh vào hộ gia đình
- Thuế đánh vào sản phẩm
Nếu dựa theo lĩnh vực: thuế được phân chia theo các lĩnh vực kinh tế bị
đánh thuế, ví dụ: thuế đánh vào bảo hiểm, thuế đánh vào bất động sản …
1.1.2.2 Phân loại theo tính chất kỹ thuật
Cách phân loại này được dựa vào các tiêu thức kỹ thuật trong việc đánh thuế, mang tính chất cổ điển, được sử dụng nhiều nhất và thường là trung tâm của các cuộc tranh luận Theo cách này, thuế được phân thành các nhóm chủ yếu sau:
Thuế trực thu và thuế gián thu:
- Thuế trực thu: là loại thuế thu trực tiếp vào khoản thu nhập, lợi ích thu được của các tổ chức kinh tế hoặc cá nhân Thuế trực thu trực tiếp điều tiết vào thu nhập hoặc tài sản của người nộp thuế
Ở nước ta hiện nay thuế trực thu bao gồm:
+ Thuế thu nhập doanh nghiệp
+ Thuế thu nhập cá nhân
Trang 16+ Thuế chuyển quyền sử dụng đất
- Thuế gián thu: là loại thuế do các nhà sản xuất, thương nhân hoặc người cung cấp dịch vụ nộp cho Nhà nước thông qua việc cộng số thuế này vào giá bán cho người tiêu dùng chịu
Ở nước ta hiện nay, thuế gián thu bao gồm:
+ Thuế giá trị gia tăng
+ Thuế tiêu thụ đặc biệt
+ Thuế xuất khẩu
+ Thuế nhập khẩu
Thuế tỷ lệ và thuế lũy tiến:
- Thuế tỷ lệ: là loại thuế áp dụng một thuế suất như nhau đối với mọi đối tượng chịu thuế
- Thuế lũy tiến: là loại thuế áp dụng các thuế suất tăng dần đối với nhóm đối tượng chịu thuế hoặc toàn bộ đối tượng chịu thuế
Thông thường, đối với các sắc thuế tiêu dùng thường áp dụng thuế suất
tỷ lệ; đối với các sắc thuế thu nhập, thuế tài sản có thể áp dụng thuế suất lũy tiến
Thuế theo mức riêng biệt hoặc thuế theo giá trị:
- Loại thuế có mức riêng biệt: (cũng có thể được dịch là thuế đặc biệt, quen được gọi là thuế tuyệt đối)
Nếu trong đó, mức thuế suất được xác định bằng mức tiền riêng biệt trên một đơn vị vật chất của đối tượng bị đánh thuế (trọng lượng, khối lượng, diện tích…), độc lập với giá trị tiền tệ của chúng
- Thuế tính theo giá trị: là loại thuế được tính toán bằng cách áp dụng một tỷ lệ (hoặc tỷ lệ phần trăm) trên căn cứ tính thuế
Trang 171.1.2.3 Phân loại theo tính chất hành chính
Cách phân loại này thường được sử dụng trong kế toán quốc gia, theo
đó, dựa vào cách tổ chức quản lý thu và cấp ngân sách thụ hưởng chúng, thuế được phân thành hai loại:
- Thuế nhà nước (quốc gia)
- Thuế địa phương
Ở Việt Nam, Nhà nước được xây dựng theo nguyên tắc tập trung – dân chủ: Trung ương thống nhất ban hành pháp luật, chính sách; các cấp chính quyền không được phép ban hành và quản lý thu các loại thuế riêng Tất cả các nguồn thu thuế do Nhà nước thống nhất quản lý và việc phân bổ nguồn lực cho các địa phương, phân chia các nguồn thu từ thuế trên địa bàn được thực hiện theo quy định của Luật ngân sách Nhà nước Vì vậy, hiện hành ở nước ta không sử dụng cách phân chia này
1.1.3 Vai trò của thuế đối với nền kinh tế xã hội
1.1.3.1 Thuế là công cụ chủ yếu của Nhà nước nhằm huy động tập trung một phần của cải vật chất trong xã hội vào ngân sách nhà nước
Đây là vai trò quan trọng nhất của thuế đối với nền kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Việc các chủ thể nộp thuế - thực hiện nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật thuế đã tạo ra nguồn tài chính quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn thu nội bộ của nền kinh tế quốc dân, ngân sách Nhà nước Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu nội bộ của nền kinh tế quốc dân
- Thứ nhất, thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước
Thuế chiếm một tỷ trọng rất lớn trong thu ngân sách nhà nước Nhà nước có thể thu ngân sách từ nhiều nguồn khác nhau nhưng không có nguồn thu nào ổn định và bền vững bằng thuế Vì mang tính không hoàn trả trực tiếp nên thuế là công cụ chủ yếu để thu ngân sách, phục vụ các chỉ tiêu của quốc
Trang 18gia mà không phải lo lắng về nghĩa vụ bồi hoàn hay trả nợ Hàng năm, thuế luôn đóng góp khoảng trên 90% vào tổng thu ngân sách Nhà nước [35]
Bảng 1.1: Tỷ lệ đóng góp của thuế trong tổng thu ngân sách Nhà nước [35]
Đơn vị (tỷ đồng)
Dự toán thu NSNN 323.000 389.900 461.500 Thu từ thuế, phí 300.100 364.472 432.536 Thuế/tổng thu NSNN 93% 93,5% 93.7%
Có thể nói, bằng nhiều nỗ lực cải cách thuế trong những năm qua đã mang lại những kết quả đáng kể, thu ngân sách liên tục gia tăng Năm 2012, tổng thu thuế của Việt Nam đạt 638.000 tỷ đồng, gấp gần 3,3 lần so với số thu thuế năm 2005 Mức tăng trưởng thu thuế phù hợp với mức tăng trưởng GDP,
vì vậy tỷ lệ động viên từ thuế trên GDP trong 10 năm qua khá ổn định, ở mức 23% - 24% tổng GDP Riêng trong năm 2013, tổng thu ngân sách Nhà nước của cả nước đạt hơn 816.800 tỷ đồng, bằng 101 % dự toán năm, tăng xấp xỉ gần 10% so với cùng kỳ năm 2012[33]
Với việc đóng góp một tỷ trọng cao và ngày càng tăng lên trong tổng thu ngân sách Nhà nước, thuế đang ngày càng chứng tỏ vai trò chủ đạo của mình trong việc huy động tài chính công phục vụ chi tiêu cho cả quốc gia
-Thứ hai, thuế là nguồn động viên GPD vào ngân sách Nhà nước
Thuế là nguồn động viên GDP vào ngân sách Nhà nước để Chính phủ
có tiền thực hiện các nhiệm vụ chi tiêu công, nhằm thực hiện việc phân phối lại tổng sản phẩm cho xã hội.Hiện nay, thuế chiếm khoảng 20% GDP[36]
Giai đoạn 2001 – 2005: Tổng thu nội địa năm 2005 ước đạt 170.500 tỷ đồng, tăng 19.1% so với cùng kỳ Hầu hết các khoản thu, sắc thuế chiếm tỷ
Trang 19trọng lớn đều hoàn thành vượt mức dự toán pháp lệnh và có mức tăng trưởng cao so với năm trước
Giai đoạn 2006-2010: Kết quả thu ngân sách Nhà nước năm 2010 do ngành thuế quản lý ước đạt 400,8 nghìn tỷ đồng, vượt 11% so với dự toán ngân sách pháp lệnh, tăng 21,4%% so với năm 2009, đạt 27,9% GPD trong đó
tỷ lệ huy động từ thuế và phí, lệ phí đạt 25,2% GPD, cao hơn so với mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ 10 đã đề ra là 21-22% GPD [36]
1.1.3.2 Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế và đời sống xã hội
Thứ nhất, thông qua pháp lệnh về thuế, Nhà nước chủ động tác động đến cung – cầu của nền kinh tế góp phần phân bổ lại nguồn lực nhằm thực
hiện tốt chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Thuế có tác động định hướng đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thông qua tác động trực tiếp tới cung – cầu thị trường.Chính sách thuế phải thiết thực, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũ, lạc hậu sang cơ cấu kinh tế mới hiện đại, hợp lý và thay đổi được tỷ lệ tương quan giữa các ngành trong GDP, đúng chiến lược phát triển kinh tế của đất nước Quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế phụ thuộc một phần rất lớn vào mối quan hệ cung cầu của thị trường.Có nhu cầu tất yếu đòi hỏi phát triển sản xuất, dịch vụ đủ để cung ứng cho nhu cầu và ngược lại
Mục tiêu của chuyển dịch cơ cấu kinh tế là làm tăng tổng cung gắn liền với kích cầu để quá trình chuyển dịch cơ cấu đạt hiệu quả tốt Tổng cầu tăng hay giảm phụ thuộc vào nhiều yếu tố liên quan, chủ yếu là thu nhập của các tầng lớp dân cư, giá cả từng loại sản phẩm, cơ cấu hàng hóa trên thị trường …
Ảnh hưởng của chính sách thuế thông qua các mức thuế, các chế độ miễn giảm, các chế độ quản lý thu thuế khác nhau có vai trò quan trọng đến việc tạo nên tổng cầu theo hai hướng: khuyến khích phát triển hay hạn chế
Trang 20Thuế cũng có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới cung của thị trường Đó
là việc đánh thuế cao hay thấp vào các yếu tố sản xuất, tiêu dùng, thu nhập
Vai trò tích cực của thuế với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn
có thể được xem xét ở góc độ tài trợ Tài trợ từ thuế được thực hiện bằng phương pháp: trực tiếp hay gián tiếp
Một là, thực hiện các thuế suất đặc biệt, cho miễn giảm thuế nhằm tạo điều kiện cho các chủ thể kinh tế có thêm thu nhập để giải quyết yêu cầu dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng có lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội
Hai là, qua nguồn thu tăng nhiều từ thuế, Nhà nước có thêm vốn ban đầu cho các cơ sở, địa phương, vùng lãnh thổ có khó khăn trong việc thực hiện các chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế hoặc tài trợ cho các trường hợp dạy nghề để người lao động có trình độ thấp đáp ứng được yêu cầu phục
vụ các ngành cần trình độ kỹ thuật công nghệ cao được hình thành trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực phát triển nông – lâm – ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, bảo quản sau thu hoạch, xây dựng
cơ sở hạ tầng ở nông thôn, hỗ trợ lưu thông nguyên, nhiên, vật liệu, tiêu thụ hàng hóa hay xây dựng các công trình thủy lợi ở những vùng thường xảy ra hạn hán nhằm nâng cao được năng suất lao động, bảo đảm được an toàn lương thực trong hoàn cảnh diện tích đất sản xuất nông nghiệp càng bị thu hẹp trong quá trình đô thị hóa
Thứ hai, thuế là công cụ điều chỉnh giá cả thị trường và kiềm chế lạm phát
Trong điều kiện kinh tế thế giới có nhiều biến động, khủng hoảng, suy thoái … và kinh tế trong nước vẫn đang trong giai đoạn phát triển, thị trường luôn có những biến động khó lường, để kiểm soát được những biến động này, Nhà nước phải sử dụng kết hợp rất nhiều biện pháp và chính sách đồng thời Trong đó có sự tham gia của chính sách thuế
Trang 211.1.3.3 Góp phần đảm bảo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế
và công bằng xã hội
Thứ nhất, hệ thống pháp luật về thuế đã được áp dụng thống nhất cho
các ngành nghề, các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư Sự thống nhất trong hệ thống pháp luật về thuế tại Việt Nam được thể hiện rõ từ quá trình ban hành và thực hiện các văn bản pháp luật Cụ thể đó là mọi nguồn thu từ thuế, lệ phí đều do Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội đặt ra bằng pháp luật và pháp lệnh và được áp dụng thực hiện thống nhất trên toàn lãnh thổ Việt Nam Thêm vào đó, tính thống nhất còn được thể hiện qua việc hệ thống thuế ở nước ta không chia thành các sắc thuế quốc gia và các sắc thuế
địa phương như ở một số nước
Thứ hai, chính sách động viên giống nhau giữa các đơn vị, cá nhân
thuộc một thành phần kinh tế có cùng một điều kiện hoạt động
Để đảm bảo sự bình đẳng, công bằng về cạnh tranh, lợi ích cũng như sự phát triển hài hòa của các chủ thể có cùng một điều kiện hoạt động, và đi cùng với điều kiện hoạt động khác nhau là các mức thuế suất khác nhau
1.2 Một số vấn đề lý luận về thuế tiêu thụ đặc biệt
1.2.1 Khái niệm
Thuế TTĐB thường có ở hầu hết các quốc gia vì đây là một loại thuế rất có hiệu quả bởi số thu rất cao, rất dễ thu, việc đánh thuế thường nhận được
sự đồng thuận rất cao của công chúng Tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể về kinh
tế xã hội, phong tục tập quán, chính sách tiêu dùng, yêu cầu động viên ngân sách, khả năng quản lý, giám sát mà mỗi nước có những quy định riêng về danh mục mặt hàng chịu thuế, mức thuế suất, phương thức tổ chức quản lý thu
Nhiều nước áp dụng thuế TTĐB đánh vào nhiều mặt hàng hoá hoặc dịch vụ, để người dân dễ hiểu, tiện lợi trong tuyên truyền, giải thích cũng như
Trang 22để xây dựng các quy trình thủ tục quản lý hiện đại người ta thường dùng ngay tên của mặt hàng bị đánh thuế để làm tên gọi, ví dụ: thuế xăng dầu, thuế thuốc
lá, thuế rượu, thuế bia Qua thống kê từ thực tiễn các nước cho thấy thuế TTĐB thường được đánh vào các nhóm hàng hoá, dịch vụ sau đây:
- Nhóm hàng hoá, dịch vụ có hại cho sức khoẻ cộng đồng (rượu, thuốc hút)
- Nhóm hàng hoá, dịch vụ mà người sử dụng chúng thuộc lớp người có thu nhập cao, Nhà nước cần điều tiết (ô tô, tàu bay cá nhân, du thuyền, mỹ phẩm cao cấp, dịch vụ làm đẹp )
- Nhóm hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục độc quyền Nhà nước hoặc Nhà nước cần kiểm soát đặc biệt
- Hàng hoá thuộc danh mục cần định hướng để thực hiện chính sách quốc gia về năng lượng, tài nguyên thiên nhiên (xăng dầu, sản phẩm khai khoáng )
- Hàng hoá, dịch vụ mà việc tiêu dùng chúng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến thuần phong, mỹ tục, trật tự xã hội (bài lá, cá độ, mát xa )
Thuế TTĐB là loại thuế tiêu dùng được áp dụng phổ biến ở các nước trên thế giới với những tên gọi khác nhau: Pháp gọi là thuế tiêu dùng đặc biệt, Thụy Ðiển gọi là thuế đặc biệt Đối với Việt Nam, tiền thân của thuế TTĐB hiện hành là thuế hàng hóa được ban hành năm 1951
Thuế TTĐB “là loại thuế đánh lên một số hàng hóa, dịch vụ đặc biệt
nhằm hướng dẫn tiêu dùng xã hội và điều tiết một phần thu nhập của người nộp thuế vào ngân sách Nhà nước” [29]
Theo Luật thuế TTĐB, thuế TTĐB “là loại thuế thu vào hành vi sản
xuất, nhập khẩu các mặt hàng thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt và hành
vi kinh doanh dịch vụ thuộc diện chịu thuế TTĐB”[24].Thuế được cấu thành
Trang 23trong giá cả hàng hóa, dịch vụ và do người tiêu dùng chịu khi mua hàng hóa,
sử dụng dịch vụ
Luật thuế TTĐB đầu tiên được Quốc hội khoá IX ban hành và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/10/1990 và đã qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong từng thời kỳ Trong đó những lần sửa đổi quan trọng vào các năm 1998, 2003 và 2006 Thực hiện chương trình xây dựng Luật của Quốc hội năm 2008, Luật thuế TTĐB số 27/2008/QH12 đã được Quốc hội thông qua vào ngày 14/11/2008,
có hiệu lực thi hành kể từ 01/01/2009 Sau khi Chính phủ ban hành Nghị định
số 26/2009/NĐ-CP ngày 16/3/2009 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế TTĐB, Bộ Tài chính ban hành Thông tư hướng dẫn số 64/2009/TT-BTC ngày 27/3/2009
Tháng 12 năm 2011, Chính phủ cho sửa đổi một số quy định trong Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật (Nghị định số 113/2011/NĐ-CP ngày 08/12/2011 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 26/2009/NĐ-CP ngày 16/3/2009) Các nội dung sửa đổi theo hướng quy định rõ ràng, minh bạch về đối tượng không chịu thuế, trị giá tính thuế, khấu trừ thuế nhằm tạo thuận lợi hơn cho người nộp thuế, đồng thời ngăn ngừa các trường hợp lợi dụng, trục lợi để trốn thuế, góp phần tạo môi trường bình đẳng, lành mạnh
1.2.2 Đặc điểm
- Thứ nhất, thuế TTĐB có tính chất gián thu Tính chất gián thu của
loại thuế này thể hiện: Thuế TTĐB đánh vào thu nhập của người tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ chịu thuế TTĐB một cách gián tiếp thông qua giá cả của hàng hoá, dịch vụ mà người đó tiêu dùng và người sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế TTĐB là người nộp thuế cho Nhà nước thay cho người tiêu dùng Như vậy, người sản xuất, nhập khẩu hàng hoá, kinh doanh dịch vụ
Trang 24sẽ nộp thuế TTĐB và khoản thuế này được chuyển vào giá bán sản phẩm và chuyển sang cho người tiêu dùng cuối cùng phải gánh chịu
- Thứ hai, thuế TTĐB là thuế tiêu dùng, nhưng khác với thuế thu nhập
doanh nghiệp và thuế giá trị gia tăng, thuế TTĐB có đối tượng chịu thuế hẹp, chỉ bao gồm một số hàng hoá, dịch vụ Nhà nước cần điều tiết
Các loại hàng hóa, dịch vụ chịu thuế TTĐB được pháp luật thuế các nước qui định hầu như giống nhau gồm : rượu, bia, thuốc lá, xe ô tô, xăng ; kinh doanh cá cược, đua ngựa, đua xe, sòng bạc Như vậy, đối tượng chịu thuế chủ yếu là những hàng hóa, dịch vụ có tính chất đặc biệt hoặc là loại xa
xỉ phẩm cần điều tiết thu nhập, hoặc cần định hướng sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng do việc tiêu dùng có ảnh hưởng tiêu cực đến con người nhưng không thể cấm tiêu dùng
- Thứ ba, thuế TTĐB thường có mức thuế suất cao nhằm điều tiết sản
xuất và hướng dẫn tiêu dùng hợp lý, thông qua đó nhằm điều tiết một phần thu nhập của những người tiêu dùng các hàng hoá, dịch vụ này
Do đối tượng của thuế TTĐB chỉ áp dụng với một số hàng hoá, dịch vụ nên các nước thường áp dụng mức thuế suất thuế TTĐB cao để hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng qua đó cũng điều tiết một phần thu nhập của những người tiêu dùng các hàng hoá dịch vụ có thu nhập cao, đảm bảo công bằng xã hội
Dưới góc độ điều tiết thu nhập của người có thu nhập cao khi tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ xa xỉ, thuế TTĐB còn góp phần khắc phục hạn chế về công bằng theo chiều dọc của thuế giá trị gia tăng
- Thứ tư, cách thu thuế TTĐB ở các nước cũng giống nhau, tức là Nhà
nước chỉ thu một lần ở khâu sản xuất, nhập khẩu hàng hóa hay kinh doanh các dịch vụ thuộc diện chịu thuế TTĐB Khi hàng hoá và dịch vụ này chuyển qua khâu lưu thông thì không phải chịu thuế TTĐB
Trang 25Tuy nhiên trên thực tế, do có trường hợp nguyên liệu sản xuất đã chịu thuế TTĐB do đó cơ sản sản xuất, kinh doanh bán hàng hóa chịu thuế TTĐB
từ những nguyên liệu này được khấu trừ phần thuế TTĐB đã nộp
Cơ sở được khấu trừ số thuế TTĐB đã nộp đối với nguyên liệu đã nộp thuế TTĐB nếu có chứng từ hợp pháp Số thuế TTĐB được khấu trừ đối với nguyên liệu tối đa không quá số TTĐB tương ứng với số nguyên liệu dùng sản xuất ra hàng hoá đã tiêu thụ Việc khấu trừ tiền thuế TTĐB được thực hiện cùng với việc khai nộp thuế, xác định bằng công thức:
Số thuế TTĐB phải nộp= Số thuế TTĐB phải nộp của hàng xuất kho tiêu thụ trong kỳ - Số thuế TTĐB đã nộp ở khâu nguyên vật liệu mua vào tương ứng với số hàng xuất kho tiêu thụ trong kỳ
Đặc điểm này cho phép phân biệt thuế TTĐB với thuế giá trị gia tăng Thuế giá trị gia tăng được thu trên mỗi khâu sản xuất luân chuyển của hàng hoá, dịch vụ.Vì vậy, việc quản lý thuế TTĐB đòi hỏi phải kiểm tra, giám sát chặt chẽ, đảm bảo hạn chế đến mức tối đa sự thất thu thuế TTĐB tại khâu sản xuất, cung ứng dịch vụ hoặc nhập khẩu
1.2.3 Vai trò của thuế tiêu thụ đặc biệt
Thuế TTĐB có vai trò rất lớn như sau:
- Thông qua chế độ thu thuế TTĐB, Nhà nước động viên một phần thu nhập đáng kể của người tiêu dùng vào ngân sách Nhà nước
Đặc thù các đối tượng chịu thuế là những hàng hóa, dịch vụ xa xỉ phẩm, hoặc các hàng hóa, dịch vụ đặc biệt cần điều tiết tiêu dùng, do đó mức thuế suất thuế TTĐB đều được áp dụng rất cao ở tất cả các nước Trung bình thuế TTĐB chiếm khoảng 15- 18% trong tổng số thuế gián thu và chiếm từ 9-10% tổng số thu từ thuế và phí hàng năm của Nhà nước [35][36]
- Thuế TTĐB là công cụ rất quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng hướng dẫn sản xuất và điều tiết tiêu dùng xã hội
Trang 26Để thực hiện mục tiêu này, việc áp dụng thuế TTĐB nhằm hạn chế sản xuất, cung ứng một số hàng hoá, dịch vụ mà việc sản xuất, tiêu dùng gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường, có hại cho sức khoẻ của người dân làm ảnh hưởng tới sự phát triển của quốc gia về kinh tế, chính trị, xã hội Do đó, thuế TTĐB còn nhằm điều chỉnh nguồn lực tài chính có lợi cho lợi ích quốc gia trên các phương diện kinh tế, xã hội, chính trị Thể hiện vai trò này, hầu hết các nước đều quy định thuế suất cao trong Luật thuế TTĐB.
- Thuế TTĐB cũng là công cụ để Nhà nước điều tiết thu nhập của người tiêu dùng vào ngân sách Nhà nước một cách công bằng hợp lý: ai tiêu dùng nhiều các hàng hóa, dịch vụ chịu thuế TTĐB thì nộp thuế nhiều hơn người tiêu dùng ít hoặc không phải nộp thuế nếu không tiêu dùng các hàng hóa, dịch vụ đó
- Việc ban hành Luật thuế TTĐB để điều chỉnh việc sản xuất, kinh doanh, lưu thông và tiêu dùng một số hàng hóa, dịch vụ mang tính chất xa xỉ, chưa thật cần thiết cho nhu cầu xã hội thể hiện sự tăng cường quản lý, kiểm soát của Nhà nước một cách tập trung, chặt chẽ đối với các loại hàng hóa, dịch vụ này Nó được coi là công cụ đắc lực của Nhà nước giúp điều tiết tiêu dùng trong dân cư.Việc đăng ký, kê khai và nộp thuế là cơ sở quan trọng để Nhà nước quản lý, điều tiết những hàng hóa, dịch vụ nhạy cảm, tác động đến nền kinh tế - xã hội
1.2.4 Mối liên hệ của thuế tiêu thụ đặc biệt với các sắc thuế khác (chủ yếu là thuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu, thuế giá trị gia tăng)
Mỗi sắc thuế có vai trò tác dụng riêng trong việc điều tiết thu nhập cũng như thực hiện các mục tiêu điều tiết nền kinh tế của Đảng và Nhà nước
Vì vậy, các sắc thuế độc lập với nhau Tuy nhiên chúng có mối quan hệ với nhau trong việc chuyển thuế vào giá cả hàng hóa, dịch vụ
- Mối quan hệ của thuế TTĐB và thuế giá trị gia tăng:
Trang 27+ Hàng hóa, dịch vụ chịu thuế TTĐB thì phải chịu thuế giá trị gia tăng
đối với số lượng hàng hóa, dịch vụ đã kê khai nộp thuế TTĐB
Trước đây, khi mới áp dụng thuế GTGT, các cơ sở sản xuất, nhập khẩu hàng hoá hoặc cơ sở cung ứng dịch vụ thuộc danh mục chịu thuế TTĐB không phải nộp thuế GTGT đối với hàng hoá, dịch vụ đã kê khai nộp thuế
TTĐB Điều 4 Luật thuế giá trị gia tăng 2007 quy định: “ Hàng hóa, dịch vụ
thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt không phải nộp thuế giá trị gia tăng ở khâu đã chịu thuế tiêu thụ đặc biệt;…”
Quy định này gây khó khăn trong việc tính, quản lý thuế giá trị gia tăng
do các cơ sở kinh doanh nộp thuế giá trị gia tăng khi mua hàng hoá chịu thuế TTĐB để bán không có hoá đơn thuế giá trị gia tăng để khấu trừ thuế giá trị gia tăng đã nộp ở các khâu trước và chưa phù hợp với bản chất của thuế giá trị gia tăng
Quy định này hiện đã được sửa đổi, bổ sung hàng hoá, dịch vụ chịu thuế TTĐB vào nhóm đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng với mức thuế suất
10%
+ Các hàng hóa, dịch vụ đã chịu thuế TTĐB, khi lưu thông trên thị trường, tức là được chuyển qua khâu thương nghiệp thì các cơ sở kinh doanh các mặt hàng này không phải nộp thuế TTĐB nhưng phải nộp thuế giá trị gia tăng
- Mối quan hệ của thuế TTĐB và thuế nhập khẩu
Cơ sở nhập khẩu hàng hoá chịu thuế TTĐB phải nộp thuế TTĐB cùng với thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng theo từng lần nhập khẩu
Kết luận chương 1
Chương 1 đã khái quát các vấn đề lý luận chung về thuế và thuế TTĐB một cách cơ bản nhất, qua đó trang bị một nền tảng lý luận vững chắc để đi sâu vào phân tích thực trạng pháp luật thuế TTĐB ở Việt Nam hiện nay, bao
Trang 28gồm thực trạng quy định của pháp luật thuế TTĐB hiện hành với những điểm chưa phù hợp cần phải nghiên cứu, xem xét, sửa đổi; đồng thời chỉ ra những kết quả đạt được cũng như những tồn tại, hạn chế cần khắc phục trong công tác thực thi pháp luật thuế TTĐB trong chương tiếp theo
Trang 29CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT
2.1 Thực trạng pháp luật về thuế tiêu thụ đặc biệt
2.1.1 Đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt
2.1.1.1 Quy định của pháp luật về đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt
2.1.1.1.1 Đối tượng chịu thuế
Đối tượng chịu thuế TTĐB được thực hiện theo quy định tại Điều 2 Luật thuế TTĐB số 27/2008/QH12, Điều 2 Nghị định số 26/2009/NĐ-CP ngày 16 tháng 3 năm 2009 của Chính phủ, khoản 1 Điều 1 Nghị định số 113/2011/NĐ-CP ngày 8 tháng 12 năm 2011 của Chính phủ
Theo các quy định trên thì đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt bao gồm:
- Bia: Bao gồm tất cả các loại bia, bia chai, bia hộp (bia lon), bia hơi, bia tươi
- Xe ô tô dưới 24 chỗ, kể cả xe ô tô vừa chở người, vừa chở hàng loại
có từ hai hàng ghế trở lên, có thiết kế vách ngăn cố định giữa khoang chở người và khoang chở hàng;
Trang 30Không đánh thuế TTĐB đối với các loại xe chở người từ 24 chỗ ngồi trở lên; xe buýt, các loại xe tải
- Xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh có dung tích xi lanh trên 125cm3;
Đây là một điểm mới của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt so với các quy định trước đó Xe mô tô có dung tích xi lanh trên 125 phân khối (cm3), với đặc thù là đại bộ phận thuộc loại xe tay ga, xe đua, thường có giá trị lớn, chủ yếu được sử dụng và lưu thông ở các thành phố lớn, người sử dụng phần đông
là bộ phận dân cư có thu nhập cao Việc đưa loại xe môtô có dung tích xi - lanh trên 125 cm3 vào diện chịu thuế TTĐB không ảnh hưởng đến các đối tượng sử dụng xe máy phổ thông là bà con nông dân, người lao động có thu nhập trung bình trở xuống mà vẫn bảo đảm được yêu cầu định hướng tiêu dùng, khuyến khích sử dụng năng lượng có hiệu quả, tiết kiệm nhiên liệu và góp phần giảm ô nhiễm môi trường
- Tàu bay, du thuyền; loại sử dụng cho mục đích dân dụng cá nhân (không dùng để kinh doanh vận chuyển hành khách, du lịch);
Đây là những mặt hàng cao cấp phục vụ cho các đối tượng có thu nhập rất cao Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và thiên hướng tiêu dùng xã hội, một bộ phận dân cư có thu nhập cao có khả năng sở hữu tàu bay, du thuyền để phục vụ nhu cầu tiêu dùng riêng Vì vậy, đối tượng này được đưa vào nhóm chịu thuế TTĐB nhằm thực hiện chính sách điều tiết thu nhập
- Xăng các loại, nap-ta (naphtha), chế phẩm tái hợp (reformade component) và các chế phẩm khác bao gồm cả condensate để pha chế xăng không bao gồm nap-ta (naphtha), condensate, chế phẩm tái hợp (reformade component) và các chế phẩm khác dùng làm nguyên liệu để sản xuất sản phẩm (trừ sản xuất xăng) do cơ sở kinh doanh trực tiếp nhập khẩu hoặc mua trực tiếp của cơ sở sản xuất bán ra;
Trang 31- Điều hoà nhiệt độ công suất từ 90.000 BTU trở xuống: trường hợp cơ
sở sản xuất bán hoặc cơ sở nhập khẩu nhập tách riêng từng bộ phận là cục nóng hoặc cục lạnh thì hàng hóa bán ra hoặc nhập khẩu (cục nóng, cục lạnh) vẫn thuộc đối tượng chịu thuế TTĐB như đối với sản phẩm hoàn chỉnh (máy điều hoà nhiệt độ hoàn chỉnh)
- Bài lá;
- Vàng mã, hàng mã (không bao gồm hàng mã là đồ chơi trẻ em, đồ dùng dạy học và dùng để trang trí)
Dịch vụ:
- Kinh doanh vũ trường;
- Kinh doanh mát-xa (massage), ka-ra-ô-kê (karaoke);
- Kinh doanh ca-si-nô (casino); trò chơi điện tử có thưởng bao gồm trò chơi bằng máy giắc-pót (jackpot), máy sờ-lot (slot) và các loại máy tương tự;
- Kinh doanh đặt cược: đặt cược thể thao, giải trí và các hình thức đặt cược khác theo quy định của pháp luật
- Kinh doanh gôn (golf) bao gồm bán thẻ hội viên, vé chơi gôn;
- Kinh doanh xổ số
Theo đó ta có thể thấy rằng, các hàng hóa, dịch vụ là đối tượng chịu thuế TTĐB đều là những hàng hóa, dịch vụ cần hạn chế tiêu dùng do có hại cho sức khỏe, ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường sống hay có tính chất mê tín,
dị đoan (như thuốc lá, rượu, bia, vàng mã) hoặc các hàng hóa, dịch vụ không khuyến khích tiêu dùng do không có tác động xấu, rõ ràng đến sức khỏe người dân nên yêu cầu hạn chế thấp hơn (như kinh doanh đặt cược, casino) hoặc những hàng hóa, dịch vụ xa xỉ cần điều tiết thu nhập (điều hòa nhiệt độ 90.000BTU trở xuống, ô tô, du thuyền, tàu bay)
Trang 32Phạm vi hàng hóa, dịch vụ chịu thuế TTĐB ở các nước trên thế giới cũng rất khác nhau Tuy nhiên, hầu hết các nước trên thế giới đánh thuế TTĐB vào các nhóm hàng hoá dịch vụ phổ biến sau:
- Thuế đánh vào đồ uống có cồn và thuốc lá: nhìn chung các nước đều
đánh thuế đối với hai nhóm hàng hóa này ở mức cao nhằm chống lại sự nguy hiểm mà việc hút thuốc lá mang lại và khả năng gây nghiện của đồ uống có cồn nhằm thực hiện mục tiêu xã hội Ví dụ, Liên minh Châu Âu, thuế đối với thuốc lá điếu có thể thay đổi từ 5 - 55% của giá bán lẻ và tối thiểu 70 EURO cho 2000 điếu thuốc Ở Trung Quốc, thuế áp dụng cho thuốc lá điếu từ 25 - 30% Ở Hàn Quốc, thuế suất 72% được áp dụng cho rượu và đồ uống có cồn được chưng cất nói chung và thuế suất 100% đối với bia Ở Indonesia, thuế suất 75% cho các loại bia, rượu [3][36]
- Thuế đánh vào xe có động cơ (chủ yếu là ôtô): Hầu hết các nước đánh
thuế TTĐB đối với ôtô.Việc đánh thuế TTĐB đối với xe ôtô cũng luôn tính đến mục tiêu bảo vệ môi trường như vấn đề tắc đường, ô nhiễm khí thải
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, tại nhiều nước, bên cạnh việc sử dụng tiêu chí số chỗ ngồi, họ còn kết hợp với một số tiêu chí khác để định ra mức thuế TTĐB như dung tích xi lanh (hoặc công suất động cơ), kích thước xe liên quan đến diện tích chiếm chỗ, Để khuyến khích người tiêu dùng trong nước sử dụng năng lượng tiết kiệm, nhìn chung các nước đều áp dụng mức thuế suất thuế TTĐB thấp hơn đối với các loại xe có dung tích xi lanh nhỏ, các loại xe tiết kiệm nhiên liệu, xe sử dụng nhiên liệu sạch
- Thuế TTĐB đối với nhiên liệu:
Thuế TTĐB đối với mặt hàng xăng, dầu được áp dụng đối với hầu hết các quốc gia trên thế giới do đây là loại hàng hóa cần hạn chế để bảo vệ môi trường, ngoài ra đây là loại năng lượng tiêu hao, không có khả năng tái tạo do
đó cần điều tiết để người tiêu dùng sử dụng tiết kiệm, hợp lý tài nguyên
Trang 33Mỗi nước có các loại thuế, phí áp dụng đối với xăng dầu khác nhau, ngoài các sắc thuế chung hầu như các nước đều áp dụng các sắc thuế như: thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, một số nước có chung đường biên giới với Việt Nam còn áp dụng thêm các loại thuế, phí đặc thù khác đối với xăng dầu, như: Trung Quốc có thêm thuế giáo dục, thuế kiến thiết; Lào có thêm phí cầu đường, phí rủi ro doanh nghiệp và chi phí hao phí; Campuchia có thêm phụ thu
Thuế TTĐB chiếm một tỷ trọng khá lớn trong giá bán xăng dầu ở hầu hết các nước (chủ yếu trong khoảng từ 20 – 40%), trong đó có nhiều quốc gia
có tỷ trọng thuế TTĐB trong giá bán chiếm hơn 40% như trường hợp của Croatia, Pháp, Ý, Hà Lan hay ở Anh Đối với các nước đang phát triển, tỷ trọng thuế TTĐB trong giá bán đối với mặt hàng xăng dầu trong giá bán nhìn chung thấp hơn so với các nước phát triển[34]
- Thuế TTĐB đối với các hoạt động casino, hộp đêm, cá cược và bài lá:
Hiện nay hầu hết các nước đều áp dụng thuế TTĐB đối với các hoạt động này Xét trên khía cạnh khả năng mang lại thu nhập từ thuế TTĐB đối với hoạt động này thì hiện nay các hoạt động này chưa nhiều bởi pháp luật Việt Nam còn công nhận hạn chế các hoạt động trên Tuy nhiên trong tương lai thì số thuế thu từ các hoạt động trên là rất đáng kể Tuy nhiên việc quản lý thuế TTĐB đối với các hoạt động này khá phức tạp trong việc xác định đối tượng nộp thuế, cách tính thuế và quản lý sự tuân thủ của đối tượng nộp thuế
Ở nhiều nước, dịch vụ kinh doanh casino đều phải nộp thuế tương tự như thuế TTĐB ở Việt Nam, tuy nhiên tên gọi ở mỗi nước khác nhau Ở Singapore, Anh, Áo, Séc, Đan Mạch, Phần Lan … là thuế casino; tại Mỹ được gọi là thuế cá cược; thuế trò chơi đặc biệt tại Úc; thuế đặc biệt tại Macao …
Cơ sở tính thuế đối với loại thuế này tại các nước rất khác nhau: có nước xác định trên lợi nhuận ròng, có nước lại xác định trên tổng doanh thu trò chơi …
Trang 34- Thuế TTĐB đối với các hàng hoá dịch vụ khác: Các hàng hoá dịch vụ
thuộc nhóm này ở các quốc gia rất khác nhau, song thông thường bao gồm một số loại như máy điều hoà không khí (kể cả máy điều hoà tổng và máy điều hoà có công suất nhỏ); đầu máy video, đầu đĩa, hệ thống âm thanh, máy quay phim, máy rửa bát; mỹ phẩm; thuyền máy, thuyền buồm, máy bay, máy bay trực thăng; các dụng cụ chơi gôn và trượt tuyết…
Một số trường hợp hàng hóa không phải chịu thuế TTĐB:
Các trường hợp hàng hoá không phải chịu thuế TTĐB đó là những hàng hoá, dịch vụ trong danh mục kể trên nếu chúng rơi vào các trường hợp dưới đây:
- Hàng hóa do cơ sở sản xuất, gia công trực tiếp xuất khẩu hoặc bán, ủy thác cho cơ sở kinh doanh khác để xuất khẩu;
- Hàng hóa nhập khẩu bao gồm:
+Hàng viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại; quà tặng cho cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị
xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, quà biếu, quà tặng cho cá nhân tại Việt Nam theo mức quy định của Chính phủ;
+Hàng hóa vận chuyển quá cảnh hoặc mượn đường qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam, hàng hóa chuyển khẩu theo quy định của Chính phủ;
+ Hàng tạm nhập khẩu, tái xuất khẩu và tạm xuất khẩu, tái nhập khẩu không phải nộp thuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu trong thời hạn theo quy định của pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu;
+ Đồ dùng của tổ chức, cá nhân nước ngoài theo tiêu chuẩn miễn trừ ngoại giao; hàng mang theo người trong tiêu chuẩn hành lý miễn thuế; hàng nhập khẩu để bán miễn thuế theo quy định của pháp luật;
Trang 35-Tàu bay, du thuyền sử dụng cho mục đích kinh doanh vận chuyển hàng hoá, hành khách, khách du lịch;
- Xe ô tô cứu thương; xe ô tô chở phạm nhân; xe ô tô tang lễ; xe ô tô thiết kế vừa có chỗ ngồi, vừa có chỗ đứng chở được từ 24 người trở lên; xe ô
tô chạy trong khu vui chơi, giải trí, thể thao không đăng ký lưu hành và không tham gia giao thông;
- Hàng hoá nhập khẩu từ nước ngoài vào khu phi thuế quan, hàng hoá từ nội địa bán vào khu phi thuế quan và chỉ sử dụng trong khu phi thuế quan, hàng hoá được mua bán giữa các khu phi thuế quan với nhau, trừ xe ô tô chở người dưới 24 chỗ[7][8][23]
2.1.1.1.2 Đối tượng nộp thuế
Thuế TTĐB được áp dụng theo nguyên tắc điểm đến, tức là đánh vào hàng hoá, dịch vụ chịu thuế TTĐB được tiêu dùng trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia Hàng hoá sản xuất tại một nước nếu xuất khẩu sẽ không phải chịu thuế TTĐB tại nước xuất khẩu mà sẽ chịu thuế TTĐB tại nước nhập khẩu theo quy định của nước nhập khẩu hàng hoá
Cũng theo nguyên tắc điểm đến thuế TTĐB được thiết lập không phân biệt hàng hoá sản xuất trong nước và hàng nhập khẩu Không thể đánh thuế TTĐB đối với mặt hàng nhập khẩu nào đó mà không đánh thuế TTĐB đối với mặt hàng sản xuất trong nước cùng loại Mặt khác, cũng không thể đánh thuế đối với mặt hàng sản xuất trong nước mà không đánh vào mặt hàng cùng loại nhập khẩu Khi tham gia vào Tổ chức Thương mại thế giới WTO, nguyên tắc không phân biệt đối xử đòi hỏi phải áp dụng thuế TTĐB đối với hàng nhập khẩu và sản xuất cùng loại theo cùng phương pháp đánh thuế và theo cùng mức thu về thuế TTĐB
Theo quy định của pháp luật về thuế TTĐB hiện hành, đối tượng nộp thuế TTĐB bao gồm:
Trang 36- Người nộp thuế TTĐB là tổ chức, cá nhân có sản xuất, nhập khẩu hàng hóa và kinh doanh dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế TTĐB, bao gồm:
+ Các tổ chức kinh doanh được thành lập và đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp Nhà nước (nay là Luật Doanh nghiệp) và Luật Hợp tác xã
+ Các tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức sự nghiệp và các tổ chức khác
+ Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp tác kinh doanh theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (nay là Luật đầu tư); các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động kinh doanh ở Việt Nam nhưng không thành lập pháp nhân tại Việt Nam
+ Cá nhân, hộ gia đình, nhóm người kinh doanh độc lập và các đối tượng khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu
- Cơ sở kinh doanh xuất khẩu mua hàng chịu thuế TTĐB của cơ sở sản xuất để xuất khẩu nhưng không xuất khẩu mà tiêu thụ trong nước thì cơ sở kinh doanh xuất khẩu là người nộp thuế TTĐB Khi bán hàng hóa, cơ sở kinh doanh xuất khẩu phải kê khai và nộp đủ thuế TTĐB [7][8][23]
2.1.1.1.3 Thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt
Thuế suất thuế TTĐB đượcquy định tại Điều 7 Luật thuế TTĐB số 27/2008/QH12, Điều 5 Nghị định số 26/2009/NĐ-CP ngày 16/3/2009 của Chính phủ và khoản 4 Điều 1 Nghị định số 113/2011/NĐ-CP ngày 8/12/2011 của Chính phủ
Thuế suất thuế TTĐB áp dụng có tính chất phân biệt giữa các nhóm hàng hoá,dịch vụ và giữa các hàng hoá, dịch vụ trong cùng một nhóm nhằm thực hiện chính sách điều tiết sản sản xuất và hướng dẫn tiêu dùng xã hội củaNhà nước và được quy định cụ thể tại biểu thuế TTĐB như sau [23]:
Trang 37Bảng 2.1: Biểu thuế tiêu thụ đặc biệt
a) Xe ô tô chở người từ 9 chỗ trở xuống, trừ loại quy
định tại điểm 4đ, 4e và 4g Điều này
Loại có dung tích xi lanh từ 2.000 cm3 trở xuống 45
Loại có dung tích xi lanh trên 2.000 cm3 đến 3.000 cm3 50
Loại có dung tích xi lanh trên 3.000 cm3 60
b) Xe ô tô chở người từ 10 đến dưới 16 chỗ, trừ loại quy
định tại điểm 4đ, 4e và 4g Điều này 30
c) Xe ô tô chở người từ 16 đến dưới 24 chỗ, trừ loại quy
định tại điểm 4đ, 4e và 4g Điều này 15
d) Xe ô tô vừa chở người, vừa chở hàng, trừ loại quy 15
Trang 38Stt Hàng hoá, dịch vụ Thuế suất (%)
định tại điểm 4đ, 4e và 4g Điều này
đ) Xe ô tô chạy bằng xăng kết hợp năng lượng điện,
năng lượng sinh học, trong đó tỷ trọng xăng sử dụng
không quá 70% số năng lượng sử dụng
Bằng 70% mức thuế suất áp dụng cho xe cùng loại quy định tại điểm 4a, 4b, 4c và 4d Điều này
e) Xe ô tô chạy bằng năng lượng sinh học
Bằng 50% mức thuế suất áp dụng cho xe cùng loại quy định tại điểm 4a, 4b, 4c và 4d Điều này g) Xe ô tô chạy bằng điện
Loại chở người từ 9 chỗ trở xuống 25
Loại chở người từ 10 đến dưới 16 chỗ 15
Loại chở người từ 16 đến dưới 24 chỗ 10
Loại thiết kế vừa chở người, vừa chở hàng 10
5 Xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh có dung tích xi
Trang 39Stt Hàng hoá, dịch vụ Thuế suất (%)
1 Kinh doanh vũ trường 40
2 Kinh doanh mát-xa, ka-ra-ô-kê 30
3 Kinh doanh ca-si-nô, trò chơi điện tử có thưởng 30
4 Kinh doanh đặt cược 30
Nhìn vào biểu thuế TTĐB trên ta có thể thấy rằng, mặc dù mức thuế suất nhìn chung là cao so với thuế giá trị gia tăng song các nhóm hàng hóa khác nhau được áp dụng các mức thuế suất khác nhau theo mục đích quản lý của Nhà nước Biểu thuế suất hiện hành có 11 mức thuế suất khác nhau từ 10% đến 75% được áp dụng cho các loại hàng hoá và dịch vụ thuộc danh mục hàng hoá và dịch vụ chịu thuế TTĐB, theo nguyên tắc:
- Các thuế suất (từ 60% - 75%) được áp dụng cho mặt hàng không khuyến khích tiêu dùng, những mặt hàng không có lợi cho sức khoẻ và quốc
kế dân sinh, nhằm hướng dẫn tiêu dùng và điều tiết đáng kể thu nhập của người tiêu dùng
Thuộc loại này chủ yếu là các mặt hàng: thuốc lá, vàng mã, hàng mã, rượu trên 40 độ, bia chai, bia hộp
Các mức thuế suất này được xây dựng căn cứ trên thống kê tình hình tiêu thụ, dự báo nhu cầu, mục tiêu hạn chế, mức tăng trưởng thu nhập bình
Trang 40quân đầu người, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, kể cả mức độ buôn lậu
để xác định mức thuế suất phù hợp với mục tiêu hạn chế tiêu dùng trên nguyên tắc là hướng tới giảm dần các sản phẩm có hại cho sức khỏe người dân
- Các thuế suất thấp hơn (từ 25% - 50%) được áp dụng cho các hàng hoá, dịch vụ không khuyến khích tiêu dùng khác, do yếu tố cần hạn chế thấp hơn do không có tác động xấu và rõ ràng đến sức khỏe người dân hoặc nhằm mục đích điều tiết hợp lý một phần thu nhập của người tiêu dùng
Thuộc loại này chủ yếu là các mặt hàng: rượu nhẹ dưới200
(thuế suất: 25%); bia các loại (45-50%); tàu bay, du thuyền (30%); kinh doanh mát xa, karaoke, casino, đặt cược, trò chơi có thưởng (30%)
- Các thuế suất (10% - 20%) được áp dụng cho các mặt hàng được coi
là cần thiết đối với một số ngành sản xuất, cần thiết và là thói quen tiêu dùng của người dân nhằm điều tiết thu nhập ở mức thuế suất thấp hơn
Thuộc loại này chủ yếu là các mặt hàng: xăng các loại, nap-ta, chế phẩm tái hợp và các chế phẩm khác để pha chế xăng (10%); ô tô từ 16 đến dưới 24 chỗ (15%) ; điều hoà nhiệt độ công suất từ 90.000 BTU trở xuống (10%); kinh doanh sân gôn (20%); kinh doanh xổ số (15%)
2.1.1.2 Đánh giá quy định của pháp luật về đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt
Nhìn chung, nguyên tắc xây dựng đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, thuế suất thuế TTĐB trong Luật thuế TTĐB hiện hành của Việt Nam tương đối phù hợp với thông lệ quốc tế
Tuy nhiên, bên cạnh đó các quy định trên của pháp luật vẫn bộc lộ nhiều hạn chế chưa phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, thị trường hiện tại, cũng như để phát huy tốt vai trò của thuế TTĐB đối với nền kinh tế thị trường, cụ thể như sau: