1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Kinh tế quốc tế: Rào cản kỹ thuật hàng nông sản Nhật Bản và đối sách của Việt Nam

42 2,3K 24

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 283 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu luận Kinh tế quốc tế: Rào cản kỹ thuật hàng nông sản Nhật Bản và đối sách của Việt Nam.•Mục đích nghiên cứuTrên cơ sở đó nghiên cứu tổng quan về rào cản thương mại nói chung và rào cản kỹ thuật hàng nông sản nói riêng trên các thị trường lớn; đồng thời nghiên cứu đặc điểm thị trường hàng nông sản 2 nước Việt Nam Nhật Bản; từ đó rút ra những lợi thế cũng như những hạn chế đối với hàng nông sản Việt Nam khi muốn gia nhập thị trường Nhật Bản. Trong đó, hạn chế lớn nhất là rào cản kỹ thuật hàng nông sản Nhật Bản.Dựa trên những kết quả nghiên cứu đó, đề ra những đối sách trong thời gian tới để nâng cao giá trị kim ngạch xuất khẩu cũng như nâng cao chất lượng, nâng cao vị thế hàng nông sản Việt Nam trên thị trường Nhật Bản nói riêng và thị trường quốc tế nói chung.•Bố cục của đề tài: gồm 3 chương chính:Chương I. Khái quát về rào cản kĩ thuật trong thương mại quốc tếChương II. Thực trạng về rào cản kĩ thuật hàng nông sản Nhật Bản đối với nông sản Việt NamChương III. Đối sách của Việt Nam trước rào cản kĩ thuật hàng nông sản Nhật Bản

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Nông sản xuất khẩu hiện nay đang là một trong những mặt hàng có kim ngạch xuấtkhẩu ngày càng cao và chiếm tỉ trọng lớn trong các mặt hàng đang xuất khẩu vào NhậtBản

Trong nhiều năm vừa qua, Nhật Bản là một trong những đối tác quan trọng hàngđầu của Việt Nam Nhật Bản là một trong những bạn hàng lớn nhất của Việt Nam với kimngạch hai chiều đạt 12,2 tỉ USD vào năm 2007 Bên cạnh Hiệp định Đối tác kinh tế toàndiện ASEAN-Nhật Bản (AJCEP) (Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất của Nhật Bảntrong khối ASEAN) thì Hiệp định Đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản VJEPA được kíkết và có hiệu lực đã tạo ra cơ hội lớn cho hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bảnnói chung và hàng hóa nông sản nói riêng Nhất là khi nhu cầu nhập khẩu nông sản củaNhật Bản đang tăng lên, điều này có thể nhận thấy thông qua những ưu đãi đặc biệt đốivới hàng nông sản trong Hiệp định VJEPA

Tuy nhiên, Nhật Bản là một thị trường khá khó tính với những yêu cầu nghiêmngặt vì mục tiêu đảm bảo sức khỏe, vệ sinh và môi trường Chính vì vậy, để hàng nôngsản Việt Nam có thể đáp ứng được các yêu cầu khắt khe của thị trường Nhật Bản khôngphải điều dễ dàng đối với sản xuất nông sản Việt Nam

Với mục tiêu đưa xuất khẩu nông sản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của ViệtNam nói chung và trở thành nhà cung cấp nông sản có uy tín trên thị trường Nhật Bản nóiriêng thì sản xuất nông sản Việt Nam cần bắt đầu phải làm quen và tìm hiểu, tuân thủ theonhững quy định về tiêu chuẩn chất lượng vệ sinh, an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường

Phục vụ cho nhiệm vụ đó, chúng tôi quyết định chọn “Rào cản kỹ thuật hàng

nông sản Nhật Bản và đối sách của Việt Nam” là đối tượng nghiên cứu cho bài viết của

mình

Vì điều kiện thời gian cũng như mức độ hiểu biết của nhóm còn hạn chế, bài tiểuluận khó tránh khỏi những sai sót Mong thầy giáo và các bạn thông cảm Rất mong nhậnđược ý kiến đóng góp để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn Xin chân thành cảm ơn!

Trang 2

Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở đó nghiên cứu tổng quan về rào cản thương mại nói chung và rào cản

kỹ thuật hàng nông sản nói riêng trên các thị trường lớn; đồng thời nghiên cứu đặc điểmthị trường hàng nông sản 2 nước Việt Nam - Nhật Bản; từ đó rút ra những lợi thế cũngnhư những hạn chế đối với hàng nông sản Việt Nam khi muốn gia nhập thị trường NhậtBản Trong đó, hạn chế lớn nhất là rào cản kỹ thuật hàng nông sản Nhật Bản

Dựa trên những kết quả nghiên cứu đó, đề ra những đối sách trong thời gian tới đểnâng cao giá trị kim ngạch xuất khẩu cũng như nâng cao chất lượng, nâng cao vị thế hàngnông sản Việt Nam trên thị trường Nhật Bản nói riêng và thị trường quốc tế nói chung

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu

Rào cản kĩ thuật hàng nông sản của Nhật Bản và những yêu cầu bức thiết đặt ra đốivới chất lượng hàng nông sản Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu

Giới hạn ở việc nghiên cứu rào cản kĩ thuật hàng nông sản ở thị trương Nhật Bản

mà không phải toàn bộ rào cản thương mại hay toàn bộ thị trường thế giới

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu theo phương pháp thống kê các số liệu xuất nhập khẩu, so sánh cácyêu cầu đối với hàng nông sản; từ đó tổng hợp, phân tích và đánh giá những rào cản kĩthuật hàng nông sản Nhật Bản; đánh giá chất lượng hàng nông sản Việt Nam

Bố cục của đề tài: gồm 3 chương chính:

Chương I Khái quát về rào cản kĩ thuật trong thương mại quốc tế

Chương II Thực trạng về rào cản kĩ thuật hàng nông sản Nhật Bản đối với nông sản Việt Nam

Chương III Đối sách của Việt Nam trước rào cản kĩ thuật hàng nông sản Nhật Bản

Trang 3

Chương I

KHÁI QUÁT VỀ RÀO CẢN KỸ THUẬT TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

I Rào cản kĩ thuật trong thương mại quốc tế

1 Khái niệm và các hình thức của rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế

1.1 Rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế

Thương mại quốc tế ngày càng phát triển không chỉ giới hạn ở thương mại hanghóa mà còn mở rộng ra các lĩnh vực khác như dịch vu, sở hữu trí tuệ, đem lại lơi ích chotất cả các quốc gia trên thế giới Vì thế phấn đấu cho nền thương mại tự do toàn cầu làmục tiêu của nhiều quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà

cụ thể là do trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đồng đều mà các biện pháp bảo hộthuế quan và phi thuế quan ra đời nhằm bảo hộ nền sản xuất nội địa Do đó, trong thươngmại quốc tế hiện nay, để thâm nhập vào một thị trường, các doanh nghiệp cần phải vượtqua hai loại rào cản, đó là:

 Hàng rào thuế quan ( Custom duties barriers )

 Hàng rào phi thuế quan ( Non tariff – Trade barriers )

Tuy nhiên hiện nay với xu hướng tự do hóa thương mại, hang rào thuế quan giữacác khối kinh tế, giữa các quốc gia ngày càng giảm đi và tiến tới xóa bỏ hoàn toàn Do đó,

dù thuế quan là một công cụ bảo hộ thị trường quan trọng nhất và từng có hiệu quả tốttrước đây nhưng hiện nay vai trò của nó đã bị suy giảm Bên cạnh hàng rào thuế quan,một số rào cản plhi thuế khác như quota, quy định giá tính thuế cũng sẽ được bãi bỏ Tuynhiên, đieùe đó không có nghĩa là các nhà xuất khẩu có thể dễ dàng tiếp cận vào các thịtrường khác mà việc tiếp cận và thâm nhập thị trường càng trở nên khó khăn hơn do việccác quốc gia tăng cường sử dụng những quy định và các yêu cầu thị trường trong các khíacạnh về an toàn, sức khỏe, chất lượng và các vấn đề mội trường xã hội các quy định nàyđược gọi chung là các rào cản kỹ thuật trong thương mại

Rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế (Technical Barriers to InternationalTrade – TBT) là một hình thức bảo vệ mậu dịch thông qua việc các nước nhập khẩu đưa

ra các yêu cầu về tiêu chuẩn đối với hàng hóa nhập khẩu vào nước hết sức khắt khe Nếu

Trang 4

hàng nhập khẩu không đạt một trong các tiêu chuẩn được đưa ra đều không được nhậpkhẩu vào lãnh thổ nước nhập hàng.

Rào cản kỹ thuật chính là các chỉ tiêu về chất lượng và an toàn cho người tiêu dungcủa hàng hóa mà các nước đưa ra đẻ hạn chế hàng hóa nhập khẩu vào nước mình

Khi chưa hội nhập với các tổ chức thương mại hay quốc tế, các nước thường ápdụng ba loại hàng rào: thuế quan, phi thuế quan và rào cản kỹ thuật để hạn chế sức cạnhtranh của hàng hóa nước ngoài với hàng hóa trong nước Nhưng sau khi hội nhập, thamgia vào các tổ chức thương mại tự do của khu vực và thế giới thì các nước sẽ phải xóa bỏhạn nghạch, thuế xuất nhập khẩu bằng không hoặc áp dụng cùng một loại thuế suất chomột nhóm hàng Do đó, hiện nay, rào cản kỹ thuật là biện pháp rất quan trọng và được cácnước sử dụng ngày càng nhiều Các quốc gia khi áp dụng rào cản kỹ thuật thường đưa ranhững quy định rất nghiêm ngặt và khó vượt qua về chất lượng và tiêu chuẩn kỹ thuật củahàng hóa Vì vậy, rào cản kỹ thuật là một biện pháp hết sức tinh vi và hiệu quả

Sự khác biệt giữa rào cản kỹ thuật với các loại rào cản trước đây là những quy định

và yêu cầu của thị trường được phát triển từ những mối quan tâm chung của cả Chính phủ

và người tiêu dùng về an toàn, sức khỏe, chất lượng và môi trường Các hàng rào thuếquan và phi thuế quan trước đây nhìn chung là nhằm bảo vệ các nhà sản xuất trong nước.ngày nay, bảo vệ môi trưdờng và bảo vệ ngừoi tiêu dùng ngày càng đưdọc quan tâm vàthay thế cho việc bảo vệ nhà sản xuất và lao động

1.2 Các hình thức của rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế

Rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế là một hình thức bảo hộ hết sức phứctạp và tinh vi Các yêu cầu cầu của các thị trường đặt ra cho hàng hóa nhập khẩu liên quanđến nhiều khía cạnh như tiêu chuẩn về quy cách, mẫu mã, bao bì, nhãn mác, về chấtlượng, về vệ sinh, về an tòan cho người tiêu dùng, an toàn cho người lao động, về mức độgây ô nhiễm môi sinh, môi trường Tuy nhiên, chúng ta có thể chia những rào cản đóthành 3 loại cơ bản sau:

 Tiêu chuản về chất lượng và quy cách của sản phẩm

 Tiêu chuẩn về vệ sinh thực phẩm và an toàn cho người sử dụng

 Tiêu chuẩn về môi trường

Trang 5

1.2.1 Tiêu chuẩn về chất lượng và quy cách sản phẩm

Chất lượng là yếu tố quan trọng hàng đầu để hàng hóa có thể thâm nhập vào thịtrường các nước Người tiêu dùng các nước, đặc biệt là người tiêu dùng ở những nướcphát triển đều có yêu cầu cao về chất lượng sản phẩm Người tiêu dùng thường ưa chuộng

và đạnh giá cao những hàng hóa được cấp giấy chứng nhận chất lượng Và các nước cũngđưa ra nhiều các quy định về chất lượng sản phẩm đối với hàng nhập khẩu để bảo vệ lợiích cho người tiêu dùng nước mình Tuy nhiên, chất lượng là một khái niệm rất rộng vàphức tạp do đó có nhiều nước đã lợi dụng việc đưa ra các tiêu chuẩn chất lượng để dựnglên những rào cản về chất lượng đối với hàng nhập khẩu

Hiện nay, hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 gần như là yêu cầu bắt buộc đốivới các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu vì nhiều thị trường nhập khẩu bây giờ đềuyêu cầu các doanh nghiệp xuất khẩu phải có giấy chứng nhận chất lượng quốc tế Ngườitiêu dụng có thể yên tâm hơn khi sử dụng sản phẩm của những doanh nghiệp này Nóicách khác, ISO 9000 có thể được coi như một ngôn ngức xác định chữ tín giữa người sảnxuất và người tiêu dùng, giữa các doanh nghiệp với nhau Và thực tế cho thấy rằng ở mọithị trường nhập khẩu hàng hóa của những doanh nghiệp có giấy chứng nhận ISO 9000 thì

dễ thâm nhập thị trường hơn nhiều so với hàng hóa của các doanh nghiệp khác Đối vớimột số chủng lạo sản phẩm thì chỉ những hàng hóa nào có đủ các giấy chứng nhận chấtlượng nhất định và đáp ứng các yêu cầu cụ thể của nước nhập khẩu thì mới được nhậpvào lãnh thổ nước đó

Trong các tiêu chuẩn về chất lượng có tiêu chuẩn về hàm lượng và các thành phầncấu tạo nên sản phẩm Đối với các chất không cso lợ cho sức khỏe của con người và chomôi trường sinh thái thì các nước quy định hàm lượng tối thiểu của các chất đó

Về quy cách sản phẩm, các quốc gia cũng đưa ra các quy định rất chặt chẽ liênquan đến kích thước, hình dáng thiết kế, độ dài, các chức năng của sản phẩm

Bao bì, nhãn mác của sản phẩm cũng được quy định chặt chẽ Bao bì sản phẩmngoài các yêu cầu phải phù hợp với việc tái sinh, sử dụng lại và không gây ô nhiễm môitrường, còn phải đáp ứng các quy định về mẫu mã và kích cỡ bao bì Việc bao gói và bảoquản phải có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền để có thể đảm bảo chất lượng của hànghóa Trên bao bì phải ghi rõ các hướng dẫn vận chuyển, lưu kho và cac shướng dẫn

Trang 6

chuyên môn khác bằng các ngôn ngữ cần thiết Luật pháp của các nước thường quy địnhhết sức nghiêm ngặt về việc nhãn đối với hàng hóa Các nước yêu cầu trên nhẫn hàng hóaphải ghi đủ những thông tin cần thiết về sản phẩm và nhà sản xuất bằng các ngôn ngữtheo quy định của từng nước để giúp khách hàng lựa chọn và đảm bảo an toàn cho kháchhàng khi sử dụng Nhãn hàng phải đáp ứng đúng quy định thì sản phẩm mới được đượclưu thông trên thị trường

Mục đích của các quy định và tiêu chuẩn này là nhằm bảo vệ an toàn và sức khỏecho con người, cho động thực vật và môi trường của nước nhập khẩu Tuy nhiên do sựchênh lệch về trình độ phát triển nên những quy định này cảu các nước phát triển đã tạo ramột rào cản rấtkhó vượt đối với hàng hóa của các nước đang và kém pát triển vì nhữngnước này có trình độ khoa học công nghệ chưa cao nên khó có thể đáp ứng được nhữngyêu cầu này

1.2.2 Tiêu chuẩn về vệ sinh thực phẩm và an toàn cho người sử dụng

Vệ sinh thực phẩm và an toàn cho người sử dụng là những vấn đề được người tiêudùng và Chính phủ các nước đặc biệt quan tâm vì nó liên quan trực tiếp đến sức khỏe và

an toàn cho người tiêu dùng Đối với hàng thực phẩm, vấn đề vệ sinh và an toàn lại càngquan trọng Và thực tế thì các quốc gia cũng quản lý rất nghiêm ngặt Các biện pháp quản

lý về vệ sinh thực phẩm và an toàn cho người tiêu dùng bao gồm tất cả các luật, nghịđịnh, quy định, yêu cầu và thủ tục liên quan như các tiêu chuẩn đối với sản phẩm cuốicùng; các phương pháp sản xuất chế biến, các thủ tục xét nghiệm, giám định, chứng nhận

và chấp thuận; những xử lý cách ly bao gồm các yêu cầu liên quan đến việc vận chuyểncây trồng, vật nuôi, các chất trong quá trình nuôi dưỡng chúng trong quá trình vậnchuyển; những quy định về phương pháp thống kê, thủ tục chọn mẫu và các phương phápđánh giá rủi ro

Các nước có nên kinh tế phát triển như Mỹ, Nhật Bản, EU, Canada đều ban hànhLuật vệ sinh an toàn thực phẩm và Luật trách nhiệm sản phẩm hay các quy định tương tự

để bảo vệ cho quỳên lợi người tiêu dùng Theo đó, thì cac snhà sản xuất phải chịu tráchnhiệm về những tổn thất xảy ra đối với người tiêu dùng nếu đưa ra một sản phẩm có saisót Nước nào cũng thành lập cơ quan kiểm dịch hàng hóa để kiểm tra vệ sinh và các tiêuchuẩn an toàn của các sản phẩm nhập khẩu

Trang 7

Trong các quy định về vệ sinh và an taòn cho người tiêu dùng thì giấy chứng nhậntiêu chuẩn xác định tình trạng nguy hiểm HACCP là một quy định bắt buộc của rất nhiềuthị trường Nếu các doanh nghiệp không áp dụng và có giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩnHACCP thì không được phép xuất khẩu hàng sang những thị trường có yêu cầu về đìềunày Các doanh nghiệp xuất khẩu cũng cần tuân thủ nghiêm ngặt tiêu chuẩn thực hành sảnxuất tốt GMP – Good Manufacturing Practice ( GMP đòi hỏi người công nhân, nhà máy,các phương tiện chế biến, đồ chứa, nguồn nước phải dảm bảo vệ sinh) và các quy địnhtrong hiệp định về biện pháp vệ sinh và vệ sinh thực phẩm của WTO Ngoài ra, tùy theomặt hàng và tùy theo yêu cầu của từng thị trường mà còn có nhiều quy định khác như quyđịnh về nhãn mác sản phẩm, các chỉ tiêu vi sinh quy định loại, lượng khuẩn có trong sảnphẩm đối với thủy sản, các chỉ tiêu về tiếng ồn, mức phóng xạ đối với người tiêu dùng.

Tóm lại, cũng như các loại rào cản kỹ thuật khác, rào cản về vệ sinh và an tòan chongười tiêu dùng là một loại rào cản hết sức phức tạp, tinh vi, đa dạng và được sử dụngngày càng nhiều khiên cho các doanh nghiệp xuất khẩu rất khó nắm bắt và khó vượt quagây cản trở không ít cho thương mại quốc tế

1.2.3 Tiêu chuẩn về môi trường

Phát triển thương mại gắn với bảo vệ môi trường đang là xu thế thương mại quốc

tế, đó là phát triển thương mại bền vững trong quá trình hội nhập kinh tế quôc tế, đựoc gọichung là ‘thương mại – môi trường” Sau một thời gian dài chạy theo lợi nhuận, phát triển

ồ ạt, không quan tâm đến môi trường sinh thái, các quốc gia đã nhận thấy tầm quan trọngcủa môi trường đối với sự phát triển bền vững và đã thực hiện các biện pháp cần thiết đểbảo vệ môi trường, trong đó có việc đưa ra các tiêu chuẩn về môi trường đối với hàng hóanhập khẩu Tuy nhiên, do các quy định của WTO cho phép các nước sử dụng biện phápbảo hộ vì mục đích môi trường nên các quốc gia đã dựng nên những rào cản về môitrường đối với hàng hóa của nước ngoài nhập khẩu vào nước mịnh Hiện nay giấy chứngnhận ISO 14000 đã trở thành một yêu cầu bắt buộc, một giấy thông hành của doanhnghiệp khi muốn xuất hàng sang nước khác, đặc biệt là khi xuất sang thị trường các nướcphát triển

Hệ thống rào cản môi trường trong thương mại quốc tế hiện nay rất đa dạng vàđược áp dụng rất khác nhau ở các nước tùy vào điều kiện cụ thể của mỗi nước Nhưng

Trang 8

nhìn chung, các rào cản môi trường thường đựoc áp dụng trong thương mại quốc tế baogồm:

 Các phương pháp ché biến và sản xuất theo quy định môi trường

Đây là các tiêu chuẩn quy định sản phẩm cần phải được sản xuất như thế nào Cáctiêu chuẩn này áp dụng cho giai đoạn sản xuất, nghĩa là giai đoạn trứơc khi sản phẩmđược tung ra trên thị trường Về mặt môi trường, việc xem xét quy trình sản xuất là đểgiải quyết một trong những câu hỏi trọng tâm của quá trình quản lý môi trường: sản phẩmphải được sản xuất như thế nào, được sử dụng như thế nào, được vứt bỏ như thế nào,những quá trình này có làm tổn hại đến môi trường hay không Những quy định và tiêuchuẩn về phương pháp chế biến đựoc áp dụng để hạn chế chất thải ô nhiểm và lãng phí tàinguyên không tái tạo Đây là những tiêu chuẩn đối với công nghê, quá trình sản xuất sảnphẩm nhằm đánh giá xem quá trình sản xuất có gây ô nhiễm và hủy hoại môi trường sốnghay không

 Các yêu cầu về đóng gói bao bì

Vấn đề bao bì sau khi tiêu dùng liên quan đến việc xử lý chất thải rắn Các chínhsách đóng gói bao gồm những quy định liên quan đến nguyên vật liệu đóng gói, nhữngquy định về tái sinh, những quy định về xử lý và thu gom sau quá trình sử dụng Nhữngtiêu chuẩn và quy định liên quan đến đặc tính tự nhiên của sản phẩm và nguyên liệu đónggói đòi hỏi việc đóng gói phải phù hợp với việc tái sinh hay dùng lại

 Nhãn môi trường

Sản phẩm đựoc dán nhãn sinh thái nhằm mục đích thông báo cho người tiêu dùngbiết là sản phẩm đó được coi là tốt hơn về mặt môi trường Các tiêu chuẩn về dán nhãnsinh thái được xây dựng trên cơ sở phân tích chu kỳ sống của sản phẩm, một quá trình cònđược gọi là phân tích từ đầu đến cuối Theo phương pháp này, người ta sẽ đánh giá mức

độ ảnh hưởng đối với môi trường của sản phẩm ở các giai đoạn khác nhau trong toàn bộchu kỳ sống của nó Các giai đoạn này bao gồm giai đoạn tiền sản xuất (chế biến nguyênliệu thô), sản xuất, phân phối (bao gồm cả đóng gói), sử dụng hoặc tiêu thụ và loai bỏ saukhi sử dung

 Phí, thuế và các khoản thu liên quan đến môi trường

Trang 9

Các khoản này gọi chung là phí môi trường và thường được áp dụng nhằm ba mụctiêu chính: thu lại các chi phí phải sử dụng cho môi trường, thay đỏi cách ứng xử cá nhân

và tập thể đối với các hoạt động có liên quan tới môi trường và thu quỹ cho các hoạt độngbảo vệ mô trường Thường có các loại phí sau:

- Phí sản phẩm được áp dụng cho các sản phẩm có chứa chất độc hại hoặc một sốthành phần cấu tạo của sản phẩm gây khó khăn cho việc thải loại sau sử dụng

- Phí đối với khí thải được áp dụng đối với các chất gây ô nhiễm thoát vào khôngkhí, nước hoặc đất hoặc gây tiếng ồn Nó có thể được đánh vào thời điểm tiêu thụ

- Phí hành chính được áp dụng với các quy định để trang trải các chi phí và dịch vụcủa Chính phủ và có thể được thu dưới hình thức phí đối giấy phép, đăng ký, phí kiểmđịnh và kiểm soát

Tất cả các rào cản môi trường này đều ảnh hưởng đến thương mại quốc tế, tơi sứccạnh tranh cảu doanh nghiệp, quốc gia Ngoài các hình thức trên, rào cản kỹ thuật còn tồntại dưới những hình thức khác như biện pháp an ninh: các nước đưa ra các quy định hạnchế nhập khẩu, thậm chí cấm nhập khẩu vì những lý do an ninh hay các tiêu chuẩn antoàn cho người lao động; một số quốc gia không nhập hàng hóa từ những doanh nghiệpkhông đáp ứng được các điều kiện an toàn cho người lao động

2 Tác động của rào cản thương mại đến các nước xuất khẩu

Thương mại quôc tế ngày càng phát triển Tiến trình tự do hóa thương mại đã đượctăng tốc có nghĩa rằng các hang rào phi thuế quan như quota sẽ được bãi bỏ và nhữnghang rào thuế quan cũng sẽ được cắt giảm Tuy nhiên, thương mại thế giới vẫn gặp rấtnhiều cản trở, khó khăn do các quốc gia lần lượt dựng lên những rào cản kỹ thuật để bảo

vệ thị trường trong nước, cản trở sự phát triển thương mại tự do Và các rào cản này thực

sự đã gây ra thiệt hại lớn cho các nước khi gặp phải chúng do đó dẫn đến những cuộc trảđũa giữa các nước bóp méo thương mại quốc tế

Do hình thức đa dạng và linh hoạt nên các rào cản kỹ thuật có phạm vi anhurhưởng rất rộng rãi Theo điều tra của Trung tâm thương mại quốc tế (INTRACEN-International Trade Centre), chỉ riêng các rào cản liên quan đến moi trường cũng đã ảnhhưởng trực tiếp đến 3746 sản phẩm trong ssó 4917 sản phẩm được nghiên cứu Trong khi

Trang 10

đó, nghiên cứu năm 1999 của WTO về rào cản thương mại đã chỉ ra rằng chí cso 11%trong số 2.300 các thong báo về các rào cản kỹ thuật trong thương mại là có liên quanđến môi trường Như vậy, có thể thấy hầu hết thương mại thế giới gặp phải cản trở củacác rào cản kỹ thuật Một khi, các nước nhập khẩu sử dụng rào cản kỹ thuật thì các nướcxuất khauar sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn: xuất khẩu bị giảm sút, hang hóa bị thiêu hủyhay trả lại gây tổn thất lớn cho các nước này Thực tế, thương mại thế giới đã xảy ra nhiềutrường hợp bị cản trở và thiệt hại do gặp phải các rào cản thương mại.

Trong các mặt hàng xuất khẩu thì hàng nông sản là mặt hàng nhạy cảm nhất, có thể

kể đến một số ví dụ như việc xuất hiện bệnh lở mồm long móng ở Hongkong, Indonesia

đã cấm nhập khẩu ngô Trung Quốc dù rằng chưa cso bằng chứng nào về dịch bệnh này ởđại lục và cũng không có bằng chứng nào chứng minh mối liên hệ giữa bệnh này với ngônhập khẩu Năm 2002, do bị phát hiện hàm lượng chất chloramphenicol và enrofloxacinequá cao trong cản sản phẩm nên Trung Quốc đã bị EU ra lệnh cấm nhập khẩu tôm trong 3thắng và bị loại ra khỏi danh sách I các nước được phép xuất khẩu thủy sản sang EU EUcũng cấm nhập khẩu thịt gà, thịt thỏ, mật ong Cũng như EU, cơ quan vệ sinh dịch tễ Ngacũng ban hành lệnh cấm tạm thời đối với thịt lợn, thịt bò và thịt gà nhập khẩu từ TrungQuốc Theo báo cáo của Bộ thương mại Trung Quốc, năm 2001, có tới 71% các nhà xuấtkhẩu Trung Quốc Trong năm này, thiệt hại của Trung Quốc là 17 tỷ USD, bằng 5.2%kim ngạch xuất khẩu Trong đó, riêng hầng nông sản chiếm tới 90% và thiệt hại của mặthàng này lên tới 9 tỷ USD

Mức độ ảnh hưởng cảu các loại rào cản kỹ thuật đối với thương mại quốc tế là rấtlớn Các nước có trình độ phát triển cao, có tiềm lực kinh tế lớn và có ảnh hưởng đối vớithương mại quốc tế là những nước thường áp dụng các rào cản kỹ thuật vì các nước này

có đầy đủ cơ sở vật chất và kỹ thuật để đưa ra các rào cản và cũng có thế dựa vào tiềmlực của mình để ép các quốc gia khác phải tuân thủ các điều kiện do mình đặt ra Và thực

tế cugnx chỉ ra rằng các nhà xuất khẩu của các nước đang và kém phát triển là nhữngnước chịu tác động của rào cản kỹ thuật nhiều nhất bởi hàng xuất khẩu của những nướcnày chủ yếu dựa vào thiên nhiên có nguồn gốc đa dạng sinh học mà việc khai thác chếbiến ảnh hưởng đến môi trường, trình độ khoa học công nghệ thấp kém nên các tiêuchuẩn chất lượng và các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn không cao vì vậy khó có thể vượt quađược các rào cản đó khi mà thậm chí các nước phát triển cũng gặp không ít khó khăn khi

Trang 11

gặp phải Trong tương lai thậm chí các nước kém phát triển này còn gặp phải những khókhăn còn lớn hơn khi các nước tăng cường sử dụng rào cản.

Chương II THỰC TRỰNG VỀ RÀO CẢN HÀNG NÔNG SẢN NHẬT BẢN

ĐỐI VỚI NÔNG SẢN VIỆT NAM

I Khái quát về thị trường Nhật Bản và khả năng thâm nhập của hàng nông sản Việt Nam

1 Khái quát về thị trường Nhật Bản

Nhật Bản nằm ở phía Tây Bắc lòng chảo Thái Bình Dương được coi là khu vực kinh

tế phát triển năng động nhất thế giới hiện nay Nhật Bản là một quốc gia có nền kinh tếcông nghiệp phát triển ở mức độ cao Sau sự tàn phá của Đại chiến thế giới lần hai, NhậtBản đã vươn dậy, phục hồi và trở thành một cường quốc kinh tế Tốc độ tăng trưởng kinh

tế Nhật Bản trong thập niên 60 và 70 đã làm cả thế giới thán phục Nhật Bản đã tạo nênmột hiện tượng kinh tế “ thần kỳ “

Hiện nay, Nhật Bản là nước có nền công nghệ phát triển đứng thứ hai thế giới sau

Mỹ đồng thời cũng là nước có tổng thu nhập quốc dân lớn, thu nhập bình quân đầu ngườinăm 2008 (PPP) là 34.100 $ Như vậy đây là một thị trường xuất khẩu hứa hẹn tiềm năngrất lớn

Thị trường nông sản Nhật Bản có đặc trưng là khu vực nông nghiệp nhỏ bé được

hỗ trợ và bảo hộ chặt chẽ, sản lượng và hiệu suất nông nghiệp được xếp vào loại cao nhấtthế giới Sản xuất gạo của Nhật đủ cung cấp tiêu dùng trong nước nhưng nước này hàngnăm vẫn phải nhập 40% lương thực thực phẩm cho tiêu dùng và khoảng 50% sản lượng

Trang 12

các loại hạt và thức ăn cho gia súc, gia cầm Nhật Bản cũng là một trong những quốc gia

có sản lượng đánh bắt cá cao trên thế giới, chiếm khoảng 15% tổng sản lượng toàn thếgiới nhờ có một vùng biển rộng lớn bao quanh đất nước và sở hữu những phương tiệnđánh bắt tiên tiến, hiện đại

Nhật Bản có một vai trò hết sức quan trọng trong thương mại thế giới Năm 2006,kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản đạt 590.4 tỷ USD, nhập khẩu 524,1 tỷ USD, đứng thứ

tư trên thế giới Các mặt hàng xuất khẩu chính của Nhật gồm có động cơ, sản phẩm bándẫn, máy văn phòng, hóa chất Các thị trường xuất khẩu chủ yếu là Mỹ, Đài Loan, HànQuốc, Trung Quốc, Hồng Kông Và Nhật Bản thường nhập khẩu các mặt hàng như nhiênliệu, thực phẩm, hóa chất, dệt may,… phục vụ sản xuất và tiêu dùng từ các thị trườngchính như Mỹ, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc…

Nhật Bản là nước đông dân thứ bảy trên thế giới với 126,1 triệu dân; GDP đầungười tương đối cao, chi phí dành cho sinh hoạt rất lớn Do đó, Nhật Bản là một thịtrường mục tiêu quan trọng của các nhà xuất khẩu Tuy nhiên, Nhật Bản cũng là một thịtrường khó tính, có yêu cầu rất cao đối với hàng hóa nhập khẩu Người tiêu dùng NhậtBản đã quen thuộc với những hàng hóa có chất lượng cao và đảm bảo về các điều kiện vệsinh, an toàn thực phẩm và các tiêu chuẩn về môi trường, trong đó đặc biệt phải kể đếncác mặt hàng nông sản Giống như các nước khác, Nhật Bản cũng đưa ra nhiều quy định,tiêu chuẩn đối với hàng hóa nhập khẩu với mục đích bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ môitrường trong nước Và những quy định, tiêu chuẩn này đã dựng lên những rào cản kỹthuật thực sự cho hàng hóa nhập khẩu vào thị trường Nhật Bản

2 Khả năng tham gia của nông sản Việt Nam vào thị trường Nhật Bản

Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam, tuy đóng góp khoảng 15%vào GDP nhưng lại tạo ra 55% việc làm Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt đượcnhiều thành tựu quan trọng trong phát triển nông nghiệp và nông thôn như tốc độ tăngtrưởng bình quân của ngành nông nghiệp trong hơn 2 thập kỷ qua lên tới 4 đến 5%/năm

Không những thế, ngày nay, xuất khẩu nông nghiệp hiện đang trở thành mũi nhọnphát triển kinh tế của Việt Nam, theo đánh giá của các nhà kinh tế, nông nghiệp không chỉ

là “đòn bẩy”, mà là “phao đỡ”, là hậu phương và chỗ dựa cho nền kinh tế Việt Namchuyển từ nước nhập khẩu lương thực thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới, các

Trang 13

mặt hàng nông, lâm và thủy sản Việt Nam hiện có mặt ở hơn 150 quốc gia trên thế giới.Trong năm 2009, kim ngạch xuất khẩu giá trị hàng nông, lâm, thủy sản chiếm 22% tổnggiá trị kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam

Thực tế những năm vừa qua cho thấy, một số nông sản Việt Nam chiếm vị trí chiphối trên thị trường quốc tế như gạo, cà phê … nhưng vẫn có giá trị xuất khẩu không cao,nguyên nhân chính là do rào cản về phẩm chất nông sản Trong khi đó, để hàng nông sảnViệt Nam có thể vào thị trường quốc tế như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản… thì phải đáp ứngđược các yêu cầu kỹ thuật hàng nông sản, như GAP của EU hay HACCP của Hoa Kỳ;đây là một yêu cầu rất quan trọng và được thực hiện nghiêm ngặt nhưng hiện nay lại rấtkhó đạt được đối với nông sản Việt Nam

Bên cạnh hai thị trường lớn là Hoa Kỳ và EU thì hiện nay Nhật Bản là thị trườngmục tiêu của nông sản Việt Nam, nhất là từ khi Hiệp định đối tác Kinh tế Việt Nam –Nhật Bản được kí kết vào cuối năm 2008 và có hiệu lực từ tháng 10/2009; phát huynhững lợi thế và khắc phục những hạn chế là con đường để nông sản Việt Nam có cơ hộithâm nhập vào thị trường “khó tính” như Nhật Bản

2.1 Lợi thế thúc đẩy hàng nông sản Việt Nam gia nhập thị trường Nhật

Bản

Việt Nam và Nhật Bản đã thiết lập được một mối quan hệ khắng khít trên nhiềulĩnh vực từ chính trị đến kinh tế Nhật Bản hiện nay đang đứng đầu trong danh sách cácđối tác hàng đầu trong quan hệ ngoại thương với Việt Nam, đặc biệt sau khi hiệp định đốitác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản VJEPA được kí kết, mối quan hệ này được nâng lên tầmcao mới

Hưởng lợi trực tiếp từ hiệp định VJEPA là ngành xuất khẩu nông sản Cụ thể, theocác cam kết của VJEPA, Nhật Bản đã cam kết giảm thuế đối với các mặt hàng tươngđương với gần 84% giá trị nông sản xuất khẩu của Việt Nam Các dòng thuế có lộ trìnhgiảm từ 3-5 năm bao gồm 14 sản phẩm có nhiều tiềm năng xuất khẩu như mì chính, đậutương, gừng, cùng các loại hoa quả là chuối, sầu riêng, chôm chôm… Kim ngạch xuấtkhẩu những sản phẩm này chiếm khoảng 14% tổng xuất khẩu nông sản của Việt Namsang thị trường Nhật

Nhật Bản cũng sẽ tiếp tục giảm và loại bỏ thuế nhập khẩu đối với 72 dòng nôngsản trong 7 năm và 214 dòng có lộ trình giảm và loại bỏ thuế quan trong 10 năm Trong

Trang 14

đó, đáng chú ý là có các mặt hàng rau, quả chế biến, ngô, sắn chế biến, các loại gia vị,nước sốt là những mặt hàng mà thời gian qua các doanh nghiệp Việt Nam có khá nhiềulợi thế khi xuất khẩu sang thị trường này.

Đối với mặt hàng thủy sản, trong số 330 mặt hàng, đã có 64 mặt hàng được giảmthuế ngay khi hiệp định được thực thi, chiếm tới 71% xuất khẩu thủy sản của Việt Namsang Nhật Bản trong đó mặt hàng tôm sẽ được giảm thuế suất nhập khẩu xuống 1 - 2%ngay khi Hiệp định có hiệu lực, các mặt hàng chế biến từ tôm cũng được giảm mức thuếnhập khẩu Sản phẩm thuỷ hải sản chủ yếu xuất sang thị trường này bao gồm các loại cánhư cá tra, cá basa, cá hồi, cá đuối, cá bò, cá ghim, cá ngừ hun khói, mực, bạch tuộc,ghẹ Việc miễn thuế cho tôm mở ra cơ hội lớn cho con tôm Việt Nam vào thị trường NhậtBản

Hiện nay, nông sản Việt Nam đã trở nên khá quen thuộc với người tiêu dùng NhậtBản, các mặt hàng nông sản xuất khẩu quen thuộc trong những năm gần đây đạt giá trịlớn như thủy sản, hàng rau quả, gỗ, gạo, cà phê (chiếm 6%):

BẢNG 1: Giá trị mặt hàng nông sản xuất khẩu sang Nhật Bản 2007 – 2009

Trang 15

(Nguồn: Tổng Cục thống kê – www.gso.gov.vn)

Nhu cầu nông sản của Nhật Bản ngày càng tăng, hơn nữa nông sản trong nước chỉđáp ứng 40% nhu cầu của người tiêu dùng, còn 60% là mảnh đất rộng cho nông sản nhậpkhẩu Trung Quốc là đối tác nhập khẩu nông sản lớn nhất của Nhật Bản, trong 4 thángđầu của năm 2009, lượng nhập khẩu rau quả của Nhật Bản từ thị trường này đạt 481nghìn tấn, kim ngạch đạt 63 tỷ yên Tiếp đến là Hoa Kỳ với lượng nhập khẩu đạt 342,3nghìn tấn, kim ngạch đạt 51 tỷ yên…Trong khi đó, lượng và kim ngạch xuất khẩu hàngrau quả của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản đạt khá với lượng xuất đạt 5,3 nghìn tấn,kim ngạch đạt 948 triệu yên Đây là thị trường có nhu cầu khá cao về các chủng loại rau

củ quả, nhất là các loại rau và hoa nhập khẩu từ Việt Nam Hơn nữa, Việt Nam có cơ hộixuất khẩu sang Nhật Bản vì sự khác biệt giữa các mùa vụ, khác biệt về chủng loại rau quả

do khác biệt về vùng khí hậu và mang lại giá trị dinh dưỡng cao, có lợi cho sức khỏengười tiêu dùng như chuối, đu đủ, xoài, dứa, bơ…

Bảng 2 Tham khảo nguồn cung hàng rau quả của Nhật Bản 4 tháng năm 2009

Quốc gia

4 tháng/2009 Khối lượng (kg)

Trị giá (1.000 yên)

Trung Quốc 481.223.127 63.015.650Hoa Kỳ 342.334.902 51.080.724

Trang 16

Thái Lan 50.895.257 7.641.301Hàn Quốc 24.327.189 7.378.786Đài Loan 18.878.565 2.926.190Việt Nam 5.282.058 948.238Singapore 12.500 3.482Malaysia 978.210 143.328

In đô nê xia 7.086.651 856.208

Bảng 3 Thị trường xuất khẩu thuỷ sản 10 tháng đầu năm 2009

Trang 17

11 tháng năm 2009 đạt 209 triệu USD, tăng 16% so với cùng kỳ năm ngoái Việc thay đổi

xu hướng tiêu dùng từ đồ nội thất cao cấp sang đồ nội thất hạng trung là cơ hội tốt đối vớixuất khẩu sản phẩm gỗ Việt Nam Dự kiến kim ngạch XK đồ gỗ sang Nhật Bản tới năm

2010 là khoảng 700 triệu USD, tốc độ tăng trưởng bình quân 25%/năm Trong đó nhómhàng đồ gỗ nội thất khoảng 550 triệu USD, tốc độ tăng trưởng bình quân 28%/năm

Bên cạnh đó, do việc giảm khả năng cạnh tranh trong lĩnh vực nông nghiệp trongnước và mở cửa của thị trường nhập khẩu, Nhật Bản vẫn tăng đều khối lượng nhập khẩu.Như vậy, trong những năm tới nhu cầu nhập khẩu vẫn tăng mạnh do sản xuất nông nghiệptrong nước dần giảm sút

2.2 Hạn chế của hàng nông sản Việt Nam khi gia nhập thị trường Nhật

Trang 18

nghiệp nên vừa không có đủ kinh nghiệm, kiến thức vừa không có đủ vốn để đầu tư côngnghệ và tiếp thị Hơn thế nữa khả năng liên kết giữa các doanh nghiệp lại thiếu nên không

có khả năng đáp ứng các yêu cầu cao về số lượng, kỹ thuật của đối tác Nhật Bản

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp Nhật Bản chưa được cung cấp đầy đủ các thông tinliên quan đến ngành nông - lâm - ngư nghiệp của Việt Nam, cách tiếp cận các nhà đầu tưNhật Bản của phía Việt Nam chưa có bài bản, trong khi phía Việt Nam cũng thiếu thôngtin về thị trường, tập quán và tiêu chuẩn an toàn thực phẩm của Nhật Bản

Một khó khăn khác đối với hàng nông sản Việt nam do nhiều chủng loại hàng hoácủa các nước tương đồng với hàng hoá của Việt Nam, trong giai đoạn khó khăn về xuấtkhẩu, cạnh tranh do vậy quyết liệt hơn Như đối với thị trường tôm xuất khẩu, đối với thịtrường Nhật hiện nay, Việt Nam vẫn là nhà cung cấp tôm số 1 Tuy nhiên, cạnh tranh từphía các nhà cung cấp khác ngày càng gia tăng, đặc biệt là Thái Lan Chín tháng đầu năm

2009, nhập khẩu tôm từ Thái Lan vào Nhật tăng 28,7%, trong khi nhập khẩu từViệt Nam lại giảm 11% Năm 2008, Thái Lan là nhà cung cấp tôm lớn thứ 4 cho Nhật sauViệt Nam, Indonesia và Ấn Độ thì sang năm 2009, nước này đã nhanh chóng vươn lên vịtrí thứ 3 Số liệu thống kê của cơ quan hải quan cho thấy, 7 tháng đầu năm 2009, xuấtkhẩu sang thị trường Nhật Bản đạt kim ngạch 3,3 tỷ USD, giảm 34,8% so với cùng kỳnăm 2008, trong đó thuỷ sản đạt 338 triệu USD, giảm 15,4%

Nhật Bản hiện là một trong những quốc gia đang áp dụng hệ thống tiêu chuẩn chấtlượng, vệ sinh an toàn thực phẩm có yêu cầu rất khắt khe với mục đích bảo vệ sức khỏecộng đồng Các tiêu chuẩn của Nhật Bản tương đương, thậm chí cao hơn cả những tiêuchuẩn quốc tế vì vậy, kỹ thuật nông sản là rào cản lớn nhất của xuất khẩu nông sản ViệtNam sang Nhật Bản Nhật Bản thường yêu cầu tiêu chuẩn kỹ thuật cao, do hệ thống tiêuchuẩn của họ có những chuẩn riêng, không theo hệ thống ISO, nhằm mục đích bảo vệ sứckhỏe con người, đồng thời bảo vệ các ngành sản xuất và chế biến trong nước, Nhật Bản

áp dụng Luật Vệ sinh an toàn thực phẩm, Luật Chống gây nhiễm và kiểm soát các loạidịch bệnh, Tiêu chuẩn nông nghiệp Nhật Bản (JAS), Luật Ngoại thương và Ngoại hối,Luật Thương mại với những quy định chặt chẽ, chỉ cho phép nhập vào Nhật Bản nhữngloại thực phẩm đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm không gây hại cho sức khỏe của conngười

Trang 19

Trong đó quy định rõ những loại thực phẩm không được phép nhập vào Nhật Bảnbao gồm: các loại thực phẩm chứa các thành phần độc tố hoặc có hại, hoặc bị nghi vấn cóchứa các thành phần độc tố; các loại thực phẩm bị thối rữa hoặc bị hỏng; các loại thựcphẩm không đáp ứng được tiêu chuẩn và đặc điểm kỹ thuật trong quá trình chế biến, côngthức chế biến hoặc nguyên liệu chế biến; các loại thực phẩm sử dụng chất phụ gia quámức cho phép; các loại thực phẩm không kèm theo các chứng từ chứng minh

Một số mặt hàng thực phẩm còn phải đáp ứng đầy đủ các quy định kiểm tranghiêm ngặt khác mới được nhập khẩu vào Nhật Bản như: không chứa các côn trùng gâybệnh hoặc có hại tới sức khỏe con người có trong thịt và cá tươi, các sản phẩm thịt chếbiến như hamberger, xúc xích trái cây, rau quả hoặc ngũ cốc Nhà nhập khẩu các sảnphẩm này cũng phải chứng minh được rằng chúng không gây hại tới toàn bộ thực vật vàđộng vật của Nhật Bản Nhật Bản còn quy định giấy phép nhập khẩu đối với một số loài

cá đánh bắt tại các vùng duyên hải và rong biến ăn được

Ngoài ra, còn có một số ít các mặt hàng nằm trong diện quản lý nhập khẩu theoquy định cua Luật Ngoại thương và Ngoại hối yêu cầu Quota nhập khẩu, phải được đồng

ý trước của Bộ trưởng phụ trách chuyên ngành Khâu đóng gói cũng có những tiêu chuẩn

cụ thể và khắt khe Xuất khẩu hàng nông sản sang thị trường Nhật Bản nên đóng góinhững sản phẩm có cùng kích cỡ và hình dáng với nhau Bộ Nông – Lâm và Ngư nghiệpNhật Bản đã đưa ra tiêu chuẩn cho 26 mặt hàng để hướng dẫn giúp cho việc phân phối cóhiệu quả Chẳng hạn với hành tây đường kính từ 8 cm trở lên là cỡ 2L, từ 7 – 8cm cm cỡ

L, từ 6 - 7 cm cỡ M, và nhỏ hơn là cỡ tiêu chuẩn Khi đóng gói sản phẩm không để thừachỗ để tránh va đập giữa các sản phẩm trong quá trình vận chuyển Có rất nhiều trườnghợp rau, quả bị hỏng do đóng gói không cẩn thận, dẫn đến phải loại bỏ sản phẩm đó

Hàng rau, quả muốn nhập khẩu vào Nhật Bản phải được cấp giấy chứng nhận chấtlượng theo các tiêu chuẩn của hệ thống JAS và chứng nhận về bảo vệ sinh thái (ecomark).Các giấy chứng nhận này phải do các phòng thí nghiệm của Nhật cấp hoặc nếu cơ quankiểm định nước khác cấp thì phải tuân thủ theo quy trình kiểm định sản phẩm của Nhật.Những thủ tục giấy phép này nhìn chung thường tốn kém và ảnh hưởng đến thời hạn giaohàng Rau quả tươi sống vào thị trường Nhật Bản còn phải tuân thủ Luật Bảo vệ cây trồng

và Luật Vệ sinh thực phẩm Thủ tục nhập khẩu đối với các mặt hàng tươi sống thường lâu

và không rõ ràng Các tiêu chuẩn của Nhật về độ phân giải thuốc trừ sâu trong hoa quả

Trang 20

tươi, phụ gia thực phẩm, dư lượng thuốc trừ sâu… thường rất cao, thậm chí còn hơn cả

EU, Hoa Kỳ và các tiêu chuẩn quốc tế khác

Để đáp ứng được những yêu cầu trên đòi hỏi các doanh nghiệp xuất khẩu ViệtNam trước tiên phải đầu tư về dây chuyền thiết bị Tuy nhiên hàng hóa nông sản, hải sảnchế biến của Việt Nam dù có dây chuyền công nghệ tiên tiến, nhưng lại chưa thể kiểmsoát được nguồn nguyên liệu đầu vào, mà đây cũng là đòi hỏi bắt buộc từ phía đối tácNhật Đó là còn chưa kể đến những thông tin về thị trường Nhật Bản và các yêu cầu từ thịtrường này còn nhiều hạn chế (hoặc thậm chí ngay chính bản thân doanh nghiệp cũngchưa quan tâm đúng mức đến vấn đề này)

Ngành thuỷ sản nước ta thời gian qua là một trong những ngành đón nhận nhiều cơhội và thách thức của quá trình hội nhập Sau vụ cá basa và tôm ở thị trường Mỹ, NhậtBản cùng với các nước EU đã trở thành thị trường chuyển đổi cho các doanh nghiệp thuỷsản Việt Nam Nhưng khi Việt Nam trở thành một trong ba khách hàng lớn nhất thì cũng

là lúc Nhật tỏ ra chặt chẽ không kém gì Mỹ và có phần khó khăn hơn cả EU Hiện có 2 lô

cá tra của Việt Nam đã bị cảnh báo tại Nhật Bản do phát hiện dư lượng Trifluralin vượtmức cho phép của Nhật Bản (mức cho phép của Nhật Bản 0,001 ppm) Nhật Bản bắt đầu

áp dụng chế độ kiểm tra tăng cường theo mức kiểm 30% số lô hàng cá tra nhập khẩu từViệt Nam cho chỉ tiêu Trifluralin và trong vòng 30 lô tiếp nếu có 1 lô không đạt sẽ bịchuyển thành chế độ đặc biệt kiểm 100% lô hàng

Quay lại với thị trường tôm xuất khẩu, thời điểm cuối năm 2006, số lô tôm xuất

khẩu sang Nhật Bản vi phạm đã vượt mức cho phép Chỉ tính đến ngày 22/11/2006 theothông báo của Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản, tỷ lệ lô tôm bị phát hiện có chứakháng sinh cấm đã chiếm đến 6,7% tổng số lô hàng được kiểm tra Trong khi đó, theo quyđịnh của Luật Vệ sinh thực phẩm Nhật Bản sửa đổi, nếu trong cùng một nhóm hàng củacùng một quốc gia có 3 trong tổng số 60 lô hàng liên tiếp được kiểm tra, phát hiện khángsinh cấm, chiếm tỷ lệ 5% thì cơ quan chức năng nước này có thể xem xét việc cấm nhậpkhẩu nhóm hàng của quốc gia đó Như vậy, mặt hàng tôm của Việt Nam xuất khẩu vào thịtrường Nhật Bản đã có tỷ lệ vi phạm vượt mức ngưỡng đến 1,6%

Từ đó, nếu Việt Nam không xác định được nguyên nhân lây nhiễm và biện phápkiểm soát hữu hiệu thì nguy cơ Nhật Bản tiến hành cấm nhập khẩu mặt hàng này Việckiểm tra ngặt nghèo về chất lượng tại Nhật Bản khiến xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam, đặc

Trang 21

biệt là mặt hàng tôm, sang thị trường này năm 2007 sụt giảm đáng kể Số liệu của Tổngcục Hải quan cho thấy, trong tháng 5/2007, xuất khẩu tôm sang Nhật giảm 15,6% vềlượng và gần 20% về giá trị so với cùng kỳ năm trước Quyết định 06/2007QĐ-BTS của

Bộ Thủy sản chỉ cho phép những Doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn VSATTP của Bộ Thuỷ sản

mới được phép xuất khẩu vào thị trường Nhật Bản Doanh nghiệp phải thực hiện kiểm trachứng nhận Nhà nước về dư lượng, hoá chất kháng sinh cấm đối với 100% lô hàng giápxác, nhuyễn thể chân đầu

Hay như đối với mặt hàng chè; xuất khẩu chè của Việt Nam sang thị trường NhậtBản chiếm khoảng 5% tổng lượng xuất khẩu chè của Việt Nam trong giai đoạn 1996 -

2006 Khối lượng xuất khẩu chè của Việt Nam sang thị trường này năm 2003 là cao nhất,đạt 3,55 nghìn tấn, chiếm gần 6% khối lượng xuất khẩu của Việt Nam Tuy nhiên, trongnhững năm gần đây, xuất khẩu chè sang thị trường này giảm xuống do chè của Việt Namchưa đáp ứng được thị hiếu và chất lượng của người tiêu dùng Nhật khó tính Nhật Bản lànước nhập khẩu chè xanh nhiều nhất của Việt Nam với hơn 50% khối lượng chè xuấtkhẩu sang thị trường này là chè xanh Tuy nhiên, chè Việt Nam chỉ chiếm khối lượng nhỏtrong tổng khối lượng chè nhập khẩu của Nhật Bản (năm 2007 tỷ trọng này là 0,6%) vàgiá chè xuất khẩu của Việt Nam ở mức rất thấp so với giá nhập khẩu của Nhật Bản

Kiểm tra, khống chế dư lượng kháng sinh, thuốc bảo vệ thực vật trong nguyên liệuchế biến hàng nông sản, các hóa chất bị nhiễm trong quá trình chăn nuôi thủy hải sản làđiều nằm ngoài tầm với của doanh nghiệp chế biến xuất khẩu Việt Nam Nhưng ngượclại, không vượt qua được những quy định ngặt nghèo về vệ sinh an toàn thực phẩm, hàngnông thủy sản Việt Nam vào Nhật vẫn tiếp tục manh mún, bị động, và không tận dụngđược lợi thế từ việc miễn giảm thuế (theo cam kết của Hiệp định Đối tác kinh tế Việt –Nhật VJEPA) Việc Nhật Bản liên tục cảnh báo và kiểm tra 100% các lô tôm xuất khẩucủa Việt Nam cũng như đưa ra những quy định khắt khe về an toàn vệ sinh thực phẩm lànhằm mục đích bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng Song cũng cần phải nhìn nhận trên thực

tế đó còn có thể là rào cản kỹ thuật mà các doanh nghiệp của chúng ta phải lường trướckhi thâm nhập vào thị trường khó tính này

Chất lượng nông sản Việt Nam không riêng chỉ gặp phải khó khăn ở thị trườngNhật Bản mà đây là rào cản chính của hàng nông sản Việt Nam Để nông sản Việt Namthực sự bước vào thị trường Nhật Bản thì việc nâng cao chất lượng nông sản không chỉthỏa mãn được các điều kiện khắt khe về tiêu chuẩn, an toàn vệ sinh thực phẩm, mà còn

Ngày đăng: 04/11/2015, 19:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG 1: Giá trị mặt hàng nông sản xuất khẩu sang Nhật Bản 2007 – 2009 - Tiểu luận Kinh tế quốc tế: Rào cản kỹ thuật hàng nông sản Nhật Bản và đối sách của Việt Nam
BẢNG 1 Giá trị mặt hàng nông sản xuất khẩu sang Nhật Bản 2007 – 2009 (Trang 14)
Bảng 2. Tham khảo nguồn cung hàng rau quả của Nhật Bản 4 tháng năm 2009 - Tiểu luận Kinh tế quốc tế: Rào cản kỹ thuật hàng nông sản Nhật Bản và đối sách của Việt Nam
Bảng 2. Tham khảo nguồn cung hàng rau quả của Nhật Bản 4 tháng năm 2009 (Trang 15)
Bảng 3. Thị trường xuất khẩu thuỷ sản 10 tháng đầu năm 2009 - Tiểu luận Kinh tế quốc tế: Rào cản kỹ thuật hàng nông sản Nhật Bản và đối sách của Việt Nam
Bảng 3. Thị trường xuất khẩu thuỷ sản 10 tháng đầu năm 2009 (Trang 16)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w