Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa của thành phố Hà Nội và nhất là tại khu vực ven đô các huyện thuộc khu vực giáp với ranh giới nội thành trong những năm gần đây diễn ra với tốc độ n
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
- -
NGUYỄN BÁ NĂNG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ CHUYỂN ĐỔI
MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THANH OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2005 - 2013
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
HÀ NỘI - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
- -
NGUYỄN BÁ NĂNG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ CHUYỂN ĐỔI
MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THANH OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2005 - 2013
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 60850103
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS TRẦN VĂN TUẤN
HÀ NỘI - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực
và chưa được sử dụng bảo vệ một học vị nào
- Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám ơn và thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Người thực hiện luận văn
Học viên
Nguyễn Bá Năng
Trang 4LỜI CẢM ƠN Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô Khoa Địa lý, trường Đại học Khoa học
Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy và truyền đạt những kiến thức quý giá cho tôi trong suốt quá trình học tập
Đặc biệt, tôi xin tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Trần Văn Tuấn đã dành thời gian để hướng dẫn, góp ý cho tôi trong thời gian thực hiện luận văn
Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến UBND huyện, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện Thanh Oai đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập tài liệu, số liệu cho việc thực hiện và hoàn thành luận văn
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, đồng nghiệp đã động viên tinh thần, tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi an tâm, tập trung hoàn thành luận văn một cách tốt nhất
Ngày tháng năm 2014 Học viên
Nguyễn Bá Năng
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 2
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU………2
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2
6 CƠ SỞ TÀI LIỆU CHỦ YẾU PHỤC VỤ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 3
7 CẤU TRÚC LUẬN VĂN 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA CHUYỂN ĐỔI MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP 4
1.1 Công nghiệp hóa, đô thị hóa và chuyển đổi mục đích sử dụng đất 4
1.1.1 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa 4
1.1.2 Đô thị hoá 6
1.1.3 Công nghiệp hóa, đô thị hóa và nhu cầu chuyển đổi mục đích sử dụng đất trong quá trình đô thị hóa 11
1.2 Những quy định pháp lý về chuyển đổi mục đích đất nông nghiệp cho mục đích phi nông nghiệp ở nước ta 15
1.3 Khái quát tình hình chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội 18
1.4 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang các mục đích phi nông nghiệp 21
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHUYỂN ĐỔI MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP GIAI ĐOẠN 2005 – 2013 TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THANH OAI 24
2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Thanh Oai 24
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 24
2.1.1.1 Vị trí địa lý 24
2.1.1.2 Địa hình địa mạo 24
2.1.1.3 Khí hậu, thời tiết 24
2.1.1.4 Thủy văn 25
2.1.1.5 Các nguồn tài nguyên 25
2.1.1.6 Thực trạng môi trường 27
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 28
2.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 28
2.1.2.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế 28
2.1.2.3 Thương mại dịch vụ 32
2.1.2.4 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập 33
2.1.2.5 Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn 34
2.1.2.6 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng 36
2.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường 39
2.2 Khái quát quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở huyện Thanh Oai và tình hình biến động sử dụng đất từ 2005 - 2013 40
2.2.1 Quá trình CNH, đô thị hóa huyện Thanh Oai 40
2.2.1.1 Giai đoạn trước 2008 khi Hà Tây chưa sát nhập và Hà Nội 40
2.2.1.2 Giai đoạn 2008 – 2013 40
Trang 62.2.2 Tình hình biến động mục đích sử dụng đất từ 2005 - 2013 41
2.2.2.1 Biến động sử dụng đất giai đoạn 2005 – 2010 41
2.2.2.2 Biến động sử dụng đất giai đoạn 2010 – 2013 51
2.3 Thực trạng chuyển đổi mục đích đất nông nghiệp ở huyện Thanh Oai giai đoạn 2005 - 2013 54
CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CHUYỂN ĐỔI MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THANH OAI VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP 56
3.1 Đánh giá chung về hiệu quả chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Thanh Oai 56
3.2 Đánh giá hiệu quả chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp của một số dự án sử dụng đất phi nông nghiệp điển hình 58
3.2.1 Dự án xây dựng khu đô thị mới Thanh Hà A, B – Cienco 5 58
3.2.1.1 Khái quát về dự án 58
3.2.1.2 Hiệu quả về kinh tế đất 59
3.2.1.3 Hiệu quả về xã hội 66
3.2.1.4 Hiệu quả về môi trường 68
3.2.2 Dự án Cụm công nghiệp Thanh Oai, xã Bích Hòa 69
3.2.2.1 Khái quát chung về dự án: 69
3.2.2.2 Hiệu quả về kinh tế : 69
3.2.2.3 Hiệu quả về xã hội: 70
3.2.2.4 Về môi trường: 72
3.2.3 Những vấn đề tồn tại chủ yếu trong chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang các mục đích phi nông nghiệp trên địa bàn huyện Thanh Oai 73
3.3 Đề xuất một số giải pháp 74
3.3.1 Giải pháp về chính sách pháp luật 74
3.3.2 Giải pháp về quản lý thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 75
3.3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả chuyển đổi nghề, tạo việc làm 75
3.3.4 Giải pháp về quản lý môi trường 76
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77
1 Kết luận 77
2 Kiến nghị 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
PHỤ LỤC 82
Trang 82010 – 2013……… ………52
Hình 3.1 Vị trí xây dựng: Khu đô thị Thanh Hà A,B - Cienco 5 59 Hình 3.2 Vị trí xây dựng: Cụm công nghiệp Thanh Oai 69
Trang 9DANH MỤC BẢNG Bảng 1.1 Biến động sử dụng một số loại đất trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2000
– 2010……… ……….18
Bảng 2.1 Giá trị, cơ cấu kinh tế huyện Thanh Oai qua một số năm……….28
Bảng 2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Thanh Oai qua một số năm………… 28
Bảng 2.3 Giá trị sản xuất và cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp……… 29
Bảng 2.4 Thống kê diện tích một số cây trồng chính……… 30
Bảng 2.5 Tình hình phát triển ngành công nghiệp - xây dựng……….31
Bảng 2.6 Hiện trạng diện tích, dân số, mật độ dân số huyện Thanh Oai……….33
Bảng 2.7 Biến động sử dụng đất huyện Thanh Oai giai đoạn 2005 – 2010……….…41
Bảng 2.8 Biến động sử dụng đất huyện Thanh Oai giai đoạn 2010 – 2013………….51
Bảng 2.9: Thực trạng chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp ở huyện Thanh Oai giai đoạn 2005 – 2013……….55
Bảng 3.1 So sánh biến động giá trị sản xuất các ngành của huyện Thanh Oai năm 2005 và năm 2013……….56
Bảng 3.2 Cơ cấu diện tích các loại đất bị thu hồi dự án xây dựng khu đô thị mới Thanh Hà A, B - Cienco5……….………59
Bảng 3.3 Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư kèm theo Quyết định thu hồi đất của dự án Đầu tư xây dựng Khu đô thị Thanh Hà A,B Cienco5………60
Bảng 3.4 Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư áp dụng tại dự án Đầu tư xây dựng Khu đô thị Thanh Hà A,B- Cienco5……… 62
Bảng 3.5 Tổng hợp kết quả thực hiện GPMB dự án khu đô thị mới Thanh Hà A,B-Cienco5 tại thôn Thượng, năm 2010……….63
Bảng 3.6 Tổng hợp kết quả thực hiện GPMB dự án khu đô thị mới Thanh Hà A,B-Cienco5 tại thôn Cự Đà, năm 2011……… 65
Bảng 3.7: Thu nhập bình quân của hộ/tháng của các hộ bị thu hồi đất nông nghiệp tại xã Cự Khê……… 66
Bảng 3.8 Mục đích sử dụng tiền bồi thường hỗ trợ của các hộ gia đình tại hai thôn Cự Đà và thôn Thượng xã Cự Khê……… 66
Bảng 3.9: So sánh tình hình lao động, việc làm của các hộ gia đình trước và sau khi thu hồi đất……… 67
Bảng 3.10 Số lao động hiện tại không có việc làm chia theo độ tuổi……… 68
Bảng 3.11: Thu nhập bình quân của hộ/tháng của các hộ bị thu hồi đất nông nghiệp tại xã Bích Hòa……… 70
Bảng 3.12 Mục đích sử dụng tiền bồi thường hỗ trợ của các hộ gia đình tại xã Bích Hòa……….……… 71
Bảng 3.13: So sánh tình hình lao động, việc làm của các hộ gia đình trước và sau khi thu hồi đất tại xã Bích Hòa………71
Trang 10MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân
cư, xây dựng các công trình kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng,… là nguồn vốn, nguồn nội lực trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay Nhưng đất đai là nguồn tài nguyên có hạn, việc quản lý và sử dụng nguồn tài nguyên này vào việc phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương và cả nước một cách khoa học và đạt hiệu quả cao là vô cùng quan trọng và có ý nghĩa to lớn
Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa của thành phố Hà Nội và nhất là tại khu vực ven đô (các huyện thuộc khu vực giáp với ranh giới nội thành) trong những năm gần đây diễn ra với tốc độ nhanh dẫn đến sự chuyển đổi mục đích một diện tích khá lớn đất nông nghiệp sang sử dụng cho các mục đích phi nông nghiệp Đây là một xu hướng tất yếu nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng đất cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế và xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, xã hội cho sự phát triển khu vực ven đô nói riêng và của thủ đô nói chung Tuy nhiên thực trạng của sự chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp đã và đang đặt ra nhiều vấn đề về tính hiệu quả của chuyển đổi cả về mặt kinh tế, xã hội, môi trường Cùng với lợi ích kinh tế đất thu được thì Nhà nước đã phải đối mặt với các vấn đề mất đất sản xuất của người dân, bồi thường giá trị đất và giải quyết việc làm, an sinh xã hội và tình trạng ô nhiễm môi trường,…
Thanh Oai là một huyện ven đô của thành phố Hà Nội có tổng diện tích đất tự nhiên 12385,56 ha với 8397,64 ha là đất nông nghiệp Trong giai đoạn từ năm 2005 đến nay dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đã có khoảng 510 ha đất nông nghiệp chuyển sang đất phi nông nghiệp
Mặc dù huyện Thanh Oai đã cố gắng triển khai thực hiện công tác chuyển đổi mục đích đất nông nghiệp theo các quy định của pháp luật nhưng còn gặp khá nhiều khó khăn và các vấn đề cần giải quyết trong quá trình chuyển đổi Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp sau khi chuyển đổi sang các mục đích phi nông nghiệp chưa cao và cần có những đánh giá để đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng đất đai
Trang 11Xuất phát từ những vấn đề trên, học viên chọn đề tài "Đánh giá thực trạng và
hiệu quả chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội giai đoạn 2005 - 2013”
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
+ Làm rõ thực trạng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang các mục đích phi nông nghiệp trên địa bàn huyện Thanh Oai giai đoạn 2005 - 2013
+ Đánh giá hiệu quả của việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang các mục đích phi nông nghiệp
+ Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác chuyển đổi mục đích
sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu
3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
+ Tìm hiểu, nghiên cứu tổng quan về cơ sở lý luận sử dụng hợp lý đất đai khu
đô thị trên địa bàn huyện Thanh Oai
+ Đánh giá tình hình chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Thanh Oai trong giai đoạn 2005 - 2013
+ Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của một số dự án sử dụng đất phi nông nghiệp (công nghiệp, đô thị) trên địa bàn huyện
+ Làm rõ những tồn tại, hạn chế trong công tác chuyển đổi mục đích đất nông nghiệp tại các dự án nghiên cứu
+ Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác chuyển đổi mục đích
sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
+ Về không gian: Địa bàn huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội
+ Về thời gian: 2005 – 2013
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
+ Phương pháp điều tra khảo sát: được sử dụng nhằm điều tra, thu thập tài liệu,
số liệu, thông tin cần thiết, điều tra xã hội học cho mục đích nghiên cứu
Trang 12+ Phương pháp thống kê: phân tích thống kê các số liệu về tình hình sử dụng đất nông nghiệp chuyển đổi mục đích, tình hình phát triển kinh tế, xã hội và hiện trạng môi trường các khu vực có đất nông nghiệp bị chuyển đổi mục đích sử dụng
+ Phương pháp so sánh: so sánh làm rõ biến động sử dụng đất nông nghiệp
do tác động của chuyển đổi mục đích giai đoạn 2005 – 2013 trên địa bàn huyện Thanh Oai
+ Phương pháp tổng hợp, phân tích: sử dụng để phân tích, đánh giá hiệu quả của chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp
+ Phương pháp chuyên gia: được sử dụng để thu thập các ý kiến chuyên gia về
đề xuất các giải pháp
6 CƠ SỞ TÀI LIỆU CHỦ YẾU PHỤC VỤ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
- Luật Đất đai năm 2003
- Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về việc hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 2003
- Các văn bản pháp luật liên quan đến chuyển đổi mục đích sử dụng đất
- Các số liệu thống kê, báo cáo của huyện Thanh Oai liên quan đến chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp giai đoạn 2005 – 2013 và tình hình sử dụng đất tại một số dự án trên địa bàn huyện
- Các số liệu điều tra xã hội học
- Các giáo trình, tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu
7 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
- Phần I: Mở đầu: nêu lên tính cấp thiết, mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
- Phần II: Nội dung nghiên cứu
Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý của chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông
nghiệp
Chương 2: Thực trạng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp giai đoạn
2005 - 2013 trên địa bàn huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội
Chương 3: Đánh giá hiệu quả của chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp
và đề xuất một số giải pháp
Kết luận
Cuối cùng là tài liệu tham khảo, phần phụ lục
Trang 13CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA CHUYỂN ĐỔI MỤC ĐÍCH
SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
1.1 Công nghiệp hóa, đô thị hóa và chuyển đổi mục đích sử dụng đất
1.1.1 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH-HĐH) đã trở thành phương thức hữu hiệu cho quá trình phát triển của mỗi quốc gia Bất kể ở nơi nào, để phát triển kinh tế - xã hội thì đều cần thực hiện quá trình CNH-HĐH Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia khác nhau, trong các điều kiện khác nhau thì CNH-HĐH cũng có những đặc điểm riêng biệt Có nhiều khái niệm CNH-HĐH được đưa ra Mỗi khái niệm lại có một góc nhìn khác nhau về vấn đề này
Nếu tách riêng, theo nghĩa hẹp, công nghiệp hóa được hiểu là quá trình chuyển dịch từ nền kinh tế trong đó nông nghiệp giữ vai trò chủ đạo sang nền kinh tế công nghiệp là chủ đạo Còn theo nghĩa rộng, công nghiệp hóa là quá trình biến đổi xã hội,
từ một xã hội nông nghiệp lạc hậu lên xã hội công nghiệp Quá trình biến đổi này gắn liền với quá trình biến đổi kỹ thuật, công nghệ, chủ yếu là gắn với cuộc cách mạng kỹ thuật Hay nói cách khác, công nghiệp hóa là quá trình biến đổi lao động thủ công thành lao động máy móc Đó là quá trình trang bị kỹ thuật và công nghệ hiện đại cho nền kinh tế quốc dân [7]
Theo cuốn từ điển Tiếng Việt giải thích thì “Công nghiệp hóa là quá trình nâng cao tỷ trọng của công nghiệp trong toàn bộ các ngành kinh tế của một vùng kinh tế hay một nền kinh tế Đó là tỷ trọng về lao động, về giá trị gia tăng,…” [16]
Theo cách hiểu phổ biến hiện nay thì hiện đại hóa là quá trình thường xuyên đưa trình độ kỹ thuật và công nghệ sản xuất lên trình độ tiên tiến của thời đại Công nghệ mới chính là nguồn gốc, là điều kiện tồn tại, đồng thời là yếu tố then chốt thúc đẩy hiện đại hóa Với những công nghệ mới, con người sẽ nâng cao được năng lực của mình, phát triển ý tưởng mới, thúc đẩy xã hội phát triển Quá trình hiện đại hóa được bắt đầu vào thế kỷ XVII cho đến nay vẫn còn chưa kết thúc Có người chia hiện đại hóa thành hai giai đoạn: Hiện đại hóa lần thứ nhất tương ứng với công nghiệp hóa cổ điển và hiện đại hóa lần thứ hai tương ứng với thời kỳ tri thức hóa [7]
Nhìn chung, công nghiệp hóa và hiện đại hóa là hai quá trình vừa nối tiếp, vừa đan xen nhau, chúng gắn liền với nhau ngay từ đầu và trong suốt các giai đoạn phát
Trang 14triển Thực chất của quá trình này là sự thay thế kỹ thuật thủ công, lạc hậu thành kỹ thuật máy móc hiện đại, trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế, nhằm đạt tới năng suất lao động cao Đó là quá trình thay đổi căn bản, toàn diện cách thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, hoạt động quản lý trong nền kinh tế, dựa trên sự ứng dụng cao về công nghệ hiện đại Trên cơ sở đó tạo điều kiện để thay thế nền văn minh nông nghiệp bằng văn minh công nghiệp, xây dựng một xã hội hiện đại
Và trong điều kiện bùng nổ của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại trên
cơ sở thừa kế có chọn lọc những nhận thức của nhân loại về CNH-HĐH, xuất phát từ tình hình thực tế của nền kinh tế mà Đảng ta đã đưa ra quan niệm về CNH-HĐH:
“CNH-HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lí kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang
sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động cao” [2]
Đặc điểm của CNH-HĐH:
- Công nghiệp hóa gắn liền với hiện đại hoá
CNH-HĐH theo định hướng XHCN gắn với việc phát triển kinh tế tri thức, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
Trong sự nghiệp đổi mới, khi thực hiện CNH-HĐH, chúng ta thấy cần và có thể rút ngắn thời gian bằng những bước nhảy vọt xen lẫn những bước tuần tự Chính vì vậy trong Đại Hội Đảng X, Đảng ta đã đề ra chủ trương : “Tranh thủ thời cơ thuận lợi
do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng XHCN gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức, kết hợp việc sử dụng nguồn vốn tri thức của người ViệtNam với tri thức mới nhất của nhân loại” [2] Và chủ trương này được kế thừa phát triển tại Đại hội Đảng lần thứ XI
- CNH - HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước Nhà nước phải xây dựng thể chế xã hội và chính sách kinh tế năng động, mở rộng, khuyến khích sáng tạo và ứng dụng có hiệu quả nhiều tri thức mới Thúc đẩy kinh doanh, tác động cho doanh nghiệp phát triển Phải tạo dựng một nền hành chính
Trang 15có hiệu quả, tránh phiền hà tham nhũng, giảm mạnh các chi phí hành chính, góp phần tăng sức cạnh tranh Nhà nước phải nắm bắt được sự tác động khách quan của các quy luật trong nền kinh tế thị trường để định hướng đúng đắn chiến lược phát triển kinh tế
tế đối ngoại đúng đắn vừa hiệu quả cao, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, vừa giữ vững được độc lập và chủ quyền dân tộc, xây dựng thành công chủ nghĩa
xã hội ở nước ta Quan hệ kinh tế nước ta với các nước và các tổ chức quốc tế được
mở rộng, việc thực hiện các cam kết về khu vực mậu dịch tự do ASEAN, tổ chức thương mại thế giới (WTO) và thực hiện các hiệp định hợp tác đa phương Trong CNH-HĐH một mặt để hòa vào trình độ phát triển của thế giới, mặt khác vừa giữ gìn được bản sắc văn hóa của mình, chúng ta cần phát huy các giá trị truyền thống để tiếp thu những thành quả khoa học công nghệ, tin học hiện đại Hội nhập trên cơ sở định hướng với sự lựa chọn, hòa nhập nhưng không hòa tan, lấy bản sắc văn hóa của mình làm gốc, lấy tiêu chí văn hóa dân tộc làm bộ lọc, lấy cái tiến bộ bổ sung cho những cái thiếu hụt trong văn hóa truyền thống, tạo thuận lợi cho văn hóa dân tộc phát triển
1.1.2 Đô thị hoá
Đô thị hoá là một quá trình tất yếu đang diễn ra rộng rãi trên toàn thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Nền kinh tế càng phát triển thì quá trình đô thị hoá diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh
Khái niệm "đô thị hoá" ngày nay được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khoa học
và kinh tế - xã hội Chính vì vậy, trong mỗi một quan điểm tiếp cận thì khái niệm đô thị hoá lại được hiểu theo một cách khác nhau
Trang 16Cách hiểu đơn giản nhất và thông dụng nhất về đô thị hóa là sự gia tăng tỉ lệ dân cư đô thị, sự xuất hiện của các đô thị mới và là sự nâng cao cơ sở hạ tầng của không gian thành phố [13]
Theo các học giả Mỹ, hiện tượng đô thị hoá còn gọi là “sự phục hưng nông thôn” Phát triển đến một lúc nào đó, bằng các chính sách của mình, các chính phủ sẽ điều chỉnh hướng vào sự phát triển nông thôn Quá trình này sẽ góp phần san bằng khoảng cách và chất lượng sống giữa thành thị và nông thôn
Về mặt bản chất, đô thị hoá gắn liền với quá trình tăng trưởng kinh tế của một khu vực, một quốc gia Tuy nhiên tốc độ và đặc điểm của đô thị hoá còn phụ thuộc vào trình độ phát triển của khu vực hay quốc gia đó Bản chất của quá trình đô thị hoá bao gồm:
- Tỷ lệ gia tăng dân số tại các đô thị
- Thu nhập bình quân của cư dân đô thị
- Tốc độ gia tăng thu nhập của các ngành kinh tế - xã hội và GDP
- Chất lượng cơ sở hạ tầng
- Lối sống của cư dân địa phương
- Cấu trúc xã hội và vai trò của các tổ chức xã hội trong khu vực
Đô thị hoá trên thế giới
Quá trình đô thị hoá hiện nay mang tính toàn cầu, nó xuất hiện ở hầu hết các quốc gia với chế độ xã hội chính trị khác nhau Đô thị hoá xuất hiện là một quá trình tất yếu của sự phát triển kinh tế - xã hội của nhân loại Trong lịch sử loài người đã hình thành
2 kiểu cộng đồng dân cư, dân cư nông thôn và dân cư đô thị Cộng đồng dân cư đô thị
đã hình thành trong lịch sử với các dạng đô thị như đô thị hành chính, đô thị thương mại, đô thị sản xuất
Ở các nước đang phát triển quá trình đô thị hoá tập trung chủ yếu trên bề rộng, tức là tăng dân số đô thị, tăng số lượng đô thị Còn ở các nước phát triển thì ngoài việc
mở rộng đô thị để trở thành “ các quốc gia đô thị “, họ còn chú ý phát triển đô thị theo chiều sâu, tức là nâng cao chất lượng, điều kiện sống của đô thị bằng việc áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại nhằm thoả mãn nhu cầu ngày một tăng của dân cư đô thị, làm cho con người có thể sống thoải mái trong một không gian sinh tồn hết sức hạn chế của đô thị
Trang 17Hình 1.1: Dự báo mức độ đô thị hóa của từng khu vực trên thế giới
(Nguồn: Ngân hàng phát triển Á châu (ADB),dự báo trong những thập kỷ tới,
quá trình đô thị hóa của một số khu vực trên thế giới)
Ta có thể thấy giai đoạn đầu châu Á có mức độ đô thị hóa là khá thấp (dưới 20%) tuy nhiên đã tăng rất nhanh cho đến nay và được dự báo là sẽ tiếp tục tăng mạnh cho đến năm 2050 Tuy nhiên, theo ADB, mặc dù tốc độ đô thị hóa nhanh chóng tại châu Á là điều không thể bàn cãi, song vấn đề lớn nhất đó là quá trình đô thị hóa lại diễn ra không đều trên toàn châu Á Trong khi đó tại các khu vực khác trên toàn thế giới thì vấn đề đô thị hóa lại diễn ra sớm cùng với sự ổn định từ năm 1950 đến nay
Tại một số các nước đang phát triển do trình độ đô thị hoá là thấp (trừ châu Mỹ Latinh), tỷ lệ dân cư thành thị ít có tính chất tiêu biểu cho đặc tính của quá trình đô thị hoá hiện nay Nguyên nhân chủ yếu là do sự nhập cư quá mức của dân cư nông thôn vào thành phố cho nên tại các thành phố phải chứa một số lượng lớn hơn mức có thể
Sự phát triển của các thành phố phải đi đôi với việc phát triển về lối sống, trình độ văn hoá, công trình kiến trúc phát triển đô thị hoá mang tính tự phát, thiếu tính quy hoạch khoa học
Đô thị hoá tại Việt Nam
Tại Việt Nam, đô thị hoá đặc trưng cho sự bùng nổ về dân số, còn sự phát triển của công nghiệp tỏ ra yếu kém Sự gia tăng dân số không dựa trên cơ sở phát triển công nghiệp và phát triển kinh tế Mâu thuẫn giữa thành thị và nông thôn trở nên sâu sắc do sự mất cân đối, do độc quyền trong kinh tế
Trang 18Đô thị hóa ở Việt Nam nhìn chung tương tự như Trung Quốc, Ấn Độ, và nê-xia cho đến cuối những năm 1970, sau đó chậm lại, trong khi Trung Quốc và In-đô-nê-xia tiếp tục thúc đẩy đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế Gần đây, do các cải cách Đổi Mới và các chính sách công nghiệp hóa theo định hướng xuất khẩu, đô thị hóa ở Việt Nam bắt đầu tăng tốc
In-đô-Xét đến tốc độ đô thị hóa tăng nhanh ở Việt Nam trong thời gian gần đây, Liên Hợp Quốc dự báo rằng đến năm 2040, dân số đô thị tại Việt Nam sẽ vượt quá dân số nông thôn (Liên Hợp Quốc, 2008) Nhận thức được tầm quan trọng của những chuyển đổi đô thị và kinh tế sẽ xảy ra trên diện rộng tại Việt Nam, Chính phủ đã đưa ra một Chiến lược phát triển kinh tế xã hội mới cho giai đoạn 2011-2020 với mục tiêu tiếp tục thúc đẩy công nghiệp hóa và hiện đại hóa, song song với phát triển nhanh và bền vững Chiến lược này cũng thúc đẩy sự bình đẳng giữa các nhóm dân cư trong cả nước, hướng tới một tương lai trong đó công nghiệp đóng vai trò chủ yếu và phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Nói tóm lại, trọng tâm của chiến lược là tập trung vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa, kết hợp với phát triển xã hội toàn diện
Hình 1.2: Tốc độ đô thị hóa của Việt Nam và một số nước giai đoạn 1960 - 2010
(Nguồn: Các chỉ số Phát triển Thế giới, Ngân hàng Thế giới)
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng với tốc độ nhanh chóng trong một khoảng thời gian khá dài Đô thị hoá trở thành hiện tượng diễn ra phổ biến ở hầu khắp các đô thị Việt Nam
Trang 19Sức “hấp dẫn” của cuộc sống đô thị và của các vùng đã được đô thị hoá là nguyên nhân chính lôi cuốn một khối lượng khổng lồ cư dân nông thôn đi tìm miền
“đất hứa” Mặt khác những thành phố lớn ngày càng hấp dẫn và lôi cuốn cư dân từ các
đô thị nhỏ hơn cũng như từ các vùng nông thôn nên càng làm cho tình hình thêm phức tạp (hạ tầng kỹ thuật quá tải; cây xanh, mặt nước, không gian trống hiếm hoi…)
“Đô thị hóa là một quá trình diễn thế kinh tế - xã hội - văn hoá - không gian gắn liền với những tiến bộ khoa học kỹ thuật, trong đó diễn ra sự phát triển các nghề nghiệp mới, sự chuyển dịch cơ cấu lao động, sự phát triển đời sống văn hoá, sự chuyển đổi lối sống và sự mở rộng không gian thành đô thị, song song với việc tổ chức bộ máy hành chính và quân sự” Theo quan điểm này thì quá trình đô thị hóa cũng bao gồm sự thay đổi toàn diện về các mặt: cơ cấu kinh tế, dân cư lối sống, không gian đô thị, cơ cấu lao động,… [13]
Như vậy đô thị hóa thực chất là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu
xã hội với các đặc trưng sau:
- Một là hình thành và mở rộng quy mô đô thị với xây dựng hạ tầng kỹ thuật dẫn đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp là chủ yếu sang sản xuất công nghiệp và dịch vụ
- Hai là, tăng nhanh dân số đô thị trong tổng số dân cư khu vực, dẫn đến thay đổi cơ cấu giai cấp, phân tầng xã hội
- Ba là, chuyển từ lối sống phân tán (mật độ dân cư thưa) sang sống tập trung (mật độ dân cư cao)
- Bốn là, chuyển từ lối sống nông thôn sang lối sống đô thị, từ văn hoá làng xã sang văn hoá đô thị, văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp [13]
Đô thị hóa là biểu hiện của nền sản xuất công nghiệp Dưới góc độ nhìn nhận về hình thức sinh sống đô thị thì quá trình này làm thay đổi cơ cấu kinh tế và lao động trong dân cư Một trong những hệ quả cơ bản của quá trình đô thị hóa là sự thay đổi cơ cấu thành phần kinh tế – xã hội và lực lượng sản xuất, thể hiện qua sự biến đổi và chuyển dần lao động xã hội từ khối kinh tế này sang khối kinh tế khác
Quá trình đô thị hóa không chỉ là sự phát triển về quy mô, số lượng, nâng cao vai trò của các đô thị trong khu vực, hình thành và phát triển các vùng đô thị, quần tụ
đô thị mà còn gắn với sự biến đổi sâu sắc về các mặt kinh tế - xã hội của đô thị trên cơ
Trang 20sở phát triển công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng nhà ở, công trình và các hoạt động dịch vụ công cộng,…Quá trình này gắn liền với sự thay đổi cơ cấu và mục đích
sử dụng đất
1.1.3 Công nghiệp hóa, đô thị hóa và nhu cầu chuyển đổi mục đích sử dụng đất trong quá trình đô thị hóa
Quá trình đô thị hóa ở nước ta có những đặc điểm chủ yếu sau:
- Quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn quốc và gắn liền với CNH - HĐH CNH là động lực của đô thị hóa, đô thị hóa là điều kiện để gia tăng nhịp
độ và hiệu quả của CNH Tại các đô thị, nhất là các đô thị lớn, hàng loạt các khu công nghiệp tập trung, các khu đô thị mới, đường cao tốc, khu liên hợp thể thao, khu vui chơi giải trí,… xuất hiện ngày càng nhiều Quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp được đẩy mạnh
- Công nghiệp hóa, đô thị hóa dẫn đến diện tích đất nông nghiệp giảm và chuyển đổi sang các mục đích phi nông nghiệp Tuy nhiên tại một số đô thị, diện tích đất nông nghiệp giảm nhanh chóng, chưa cân xứng với tốc độ phát triển còn chậm của các nghề phi nông nghiệp và dịch vụ Sự dôi dư về lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa là vấn đề cần quan tâm giải quyết
- Môi trường đô thị, đặc biệt là ở các đô thị lớn và đô thị công nghiệp đang có nguy cơ bị ô nhiễm, uy hiếp sự bình yên và tác hại đến sức khoẻ của nhân dân trong khu vực [1]
Đất đô thị với vai trò là địa bàn cư trú, tư liệu sản xuất và là địa bàn phân bố các hoạt động công nghiệp, xây dựng, cơ sở hạ tầng,… là cơ sở cho sự phát triển KT - XH
đô thị Tuy nhiên do sự có hạn về đất đai, cùng với sự hạn chế trong việc khai thác tiềm năng đất đai đòi hỏi con người phải đưa ra được phương án sử dụng đất hợp lý để đảm bảo cho sự phát triển bền vững KT - XH của đô thị
Quá trình công nghiệp hoá gắn liền với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội Thực hiện quá trình công nghiệp hoá là đồng nghĩa với việc chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất, từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp Hiện nay, đất dành cho nông nghiệp ngày càng trở nên chật hẹp do dân số tăng nhanh, do các công trình giao thông, các nhà máy công nghiệp, các trung tâm văn hóa, thương mại, khu vui chơi giải trí chiếm đất ngày càng nhiều Nhưng trong thực tế người dân không phải lúc nào cũng sử dụng
Trang 21đất nông nghiệp một cách hợp lý để đạt hiệu quả sử dụng cao nhất, phục vụ tốt nhất cuộc sống của mình và cả xã hội
Trong giai đoạn từ 2006 đến 2011, tuy diện tích đất nông nghiệp của nước ta
có tăng lên nhờ khai hoang, cải tạo phục hóa đất chưa sử dụng, nhưng diện tích đất lúa vẫn giảm do việc chuyển đổi mục đích sử dụng sang đất phi nông nghiệp Theo Tổng cục Thống kê, tổng diện tích đất nông nghiệp thời điểm 1-1-2011 là gần 26,21 triệu ha chiếm gần 75% tổng diện tích tự nhiên của cả nước Chia ra: đất sản xuất nông nghiệp gần 10,13 triệu ha (38,64%); đất lâm nghiệp gần 15,37 triệu ha (58,63%); đất nuôi trồng thủy sản gần 690 nghìn ha (2,63%) và đất nông nghiệp khác 26,1 nghìn ha (0,1%)
Năm 2011, tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp cả nước tăng 7,6% so với năm 2006 Trong đó, có hơn 4,12 triệu ha đất trồng lúa, giảm gần 32 nghìn ha (-0,76%) so với năm 2006
Đất lâm nghiệp: 2011 cả nước có gần 15,37 triệu ha đất lâm nghiệp, tăng trên 6,4%
Đất nuôi trồng thuỷ sản: Vào thời điểm 01/01/2011 cả nước có gần 690 nghìn
ha, giảm 11,8 nghìn ha (-1,7%) so với năm 2006
Nhận thấy, diện tích đất lúa và đất nuôi trồng thủy sản giảm trong giai đoạn
2006 - 2011, lí do chính là do trong giai đoạn này, đất nước đang đẩy mạnh quá trình CNH-HĐH và đô thị hóa với sự chuyển dịch mạnh mẽ về cơ cấu đầu tư, cơ cấu sử dụng đất đai - tài nguyên thiên nhiên, cơ cấu lao động để tạo sự chuyển dịch mạnh về
cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng kinh tế công nghiệp, dịch vụ Đất nông nghiệp chuyển sang mục đích phi nông nghiệp để phục vụ cho phát triển kinh
tế đất nước và chủ yếu để sử dụng vào mục đích phát triển hạ tầng cơ sở, xây dựng nhà ở, phát triển đô thị, xây dựng các cơ sở sản xuất, xây dựng các khu chế xuất, công nghiệp
Hai cực kinh tế chính của Việt Nam là thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh phát triển theo hai xu hướng khác nhau, một phần do sự kế thừa hệ thống quản
lý nhà nước cũ Trong khi miền Nam Việt Nam đi theo các chính sách thị trường tự
do, miền Bắc Việt Nam đi theo mô hình xã hội chủ nghĩa Mặc dù đặc điểm đô thị hóa của hai thành phố này có khác nhau nhưng quá trình đô thị hóa theo chiều rộng và
Trang 22chiều sâu ở hai thành phố này đều gắn với việc chuyển đổi mục đích đất nông nghiệp sang các mục đích phi nông nghiệp
Quan điểm về sử dụng hợp lý đất đai trong quá trình đô thị hóa
Sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, trong đó có nguồn tài nguyên đất là vấn
đề quan tâm của hầu hết các nước trên thế giới Cách đây 46 năm, Hội nghị chuyên viên giữa các Chính phủ về những cơ sở khoa học của việc sử dụng hợp lí và bảo vệ các nguồn dự trữ của sinh quyển đã diễn ra năm 1968 tại Pháp do Liên Hợp Quốc tổ chức Các điều kiện để sử dụng một nguồn dự trữ nào đó một cách hợp lý được xem xét đánh giá là: a/ Chất lượng và những thuận lợi về vị trí; b/sự cần thiết thỏa mãn nhu cầu của một nhóm dân cư nào đó; c/ hiệu quả của những kết quả có thể đưa lại; d/ khả năng duy trì những kết quả này trong một thời gian dài; e/giá thành của đầu tư; f/ ảnh hưởng của việc sử dụng tài nguyên đó đến các hoạt động khác của dân cư Để sử dụng hợp lý các nguồn dự trữ, nhất là nước, đất đều cần phải có sự phối hợp toàn diện các mặt kinh tế, xã hội, chính trị, và phụ thuộc trực tiếp vào nhận thức của xã hội về vấn
đề đó một cách cụ thể [15] Nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra định nghĩa cụ thể về sử dụng hợp lý đất đai: sử dụng hợp lý đất là sự sử dụng phù hợp với lợi ích của nền kinh
tế trong tổng thể, đạt hiệu quả nhất đối với mục đích đặt ra trong khi vẫn đảm bảo tác động thuận với môi trường xung quanh và bảo vệ một cách hữu hiệu đất đai trong quá trình khai thác sử dụng [15]
Trong điều kiện ở nước ta và cụ thể là tại khu vực đô thị, do quỹ đất đai hạn chế trong khi nhu cầu sử dụng đất cho phát triển kinh tế và các nhu cầu xã hội của con người ngày càng tăng nên vấn đề giải quyết mối quan hệ giữa bảo vệ môi trường và các mục đích kinh tế, xã hội là vấn đề mang tính mâu thuẫn, xung đột Tuy nhiên, mâu thuẫn này có thể từng bước được giải quyết trên cơ sở đưa ra phương án sử dụng đất hợp lý đảm bảo hài hòa 3 lợi ích: kinh tế, xã hội và môi trường, cụ thể phải đạt được 3 yêu cầu cơ bản sau:
- Về mặt kinh tế: sử dụng đất cho hiệu quả kinh tế tương đối cao, đáp ứng mục tiêu phát triển các ngành kinh tế của đô thị, nhất là các ngành công nghiệp, dịch vụ
- Về mặt xã hội: Thu hút được lao động, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống của người dân; đáp ứng nhu cầu sử dụng đất cho xây dựng cơ sở hạ tầng xã hội đô thị
Trang 23- Về môi trường: giảm thiểu và cơ bản ngăn chặn được ô nhiễm môi trường hướng tới bền vững môi trường sinh thái đô thị
Nhận thức được tầm quan trọng của đất đô thị, Nhà nước ta cũng đã quy định nguyên tắc trong sử dụng đất đô thị, tuy nhiên những nguyên tắc này chủ yếu mới phục vụ cho việc quản lý hành chính về đất đô thị:
- Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về đất đô thị trong cả nước Nhà nước giao đất cho các tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang, cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị
xã hội, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài và được cấp giấy chứng nhận Ngoài ra Nhà nước còn cho tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thuê đất Uỷ ban nhân dân (UBND) các cấp thực hiện quản lý nhà nước về đất đô thị trong địa phương mình theo thẩm quyền quy định; các cơ quan địa chính, cơ quan quản lý đô thị chịu trách nhiệm trong việc quản lý sử dụng đất đô thị
- Đất đô thị phải được sử dụng đúng mục đích, đúng chức năng theo quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt Khi có sự thay đổi chức năng hoặc thay đổi chủ sử dụng đều phải được sự đồng ý của cơ quan quản lý đô thị có thẩm quyền Chính quyền các cấp đô thị có trách nhiệm về quản lý quỹ đất chưa sử dụng ở đô thị
- Sử dụng đất đô thị phải đảm bảo hài hoà về lợi ích cá nhân, tập thể và lợi ích của cộng đồng xã hội bằng cách thiết lập chiến lược phát triển KT - XH phù hợp với quy luật phát triển: xây dựng các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất một cách hợp lý; thực hiện tốt các đòi hỏi về kinh tế với đất đô thị; sử dụng hàng loạt các phương pháp quản lý đồng thời thực hiện tốt các công cụ luật pháp trong quá trình quản lý đất đai
- Cơ quan quản lý đô thị phải lập kế hoạch sử dụng đất theo nội dung:
+ Xác định nhu cầu về đất đô thị, khoanh định các khu đất và việc sử dụng từng loại đất trong từng thời kỳ kế hoạch có kèm theo các điều kiện khai thác khi sử dụng Đối với thành phố trực thuộc Trung ương, Chính phủ sẽ phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất UBND cấp trên có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của đô thị cấp dưới;
+ Điều chỉnh kế hoạch sử dụng đất đô thị cho phù hợp với thực tế cải tạo, xây dựng và phát triển đô thị Chính quyền cấp nào có quyền phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thì có quyền phê duyệt quy hoạch, kế hoạch điều chỉnh [10]
Trang 241.2 Những quy định pháp lý về chuyển đổi mục đích đất nông nghiệp cho mục đích phi nông nghiệp ở nước ta
Theo Điều 36 trong Luật đất đai năm 2003, việc chuyển mục đích sử dụng đất giữa các loại đất quy định tại Điều 13 của Luật này được thực hiện như sau:
1 Trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền bao gồm:
a) Chuyển đất chuyên trồng lúa nước sang đất trồng cây lâu năm, đất trồng rừng, đất nuôi trồng thuỷ sản
b) Chuyển đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ sang sử dụng vào mục đích khác
c) Chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp
d) Chuyển đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất sang đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất
đ) Chuyển đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở
2 Trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất không thuộc quy định tại khoản 1 Điều này thì người sử dụng đất không phải xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhưng phải đăng ký với văn phòng của tổ chức có thẩm quyền đăng ký quyền sử dụng đất (sau đây gọi chung là văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất) hoặc Uỷ ban nhân dân xã nơi có đất;
3 Khi chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì chế độ sử dụng đất, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất được áp dụng theo loại đất sau khi được chuyển mục đích sử dụng; thời hạn sử dụng đất được thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này;
4 Khi chuyển mục đích sử dụng đất trong trường hợp quy định tại các điểm c, d
và đ khoản 1 Điều này thì người sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định sau đây:
- Nộp tiền sử dụng đất theo loại đất sau khi được chuyển mục đích sử dụng đối với trường hợp chuyển đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất phi nông nghiệp không thu tiền sử dụng đất sang đất phi nông nghiệp có thu tiền sử dụng đất
Trang 25- Nộp tiền sử dụng đất theo loại đất sau khi được chuyển mục đích sử dụng trừ
đi giá trị quyền sử dụng đất của loại đất trước khi chuyển mục đích sử dụng tính theo giá đất do Nhà nước quy định tại thời điểm được phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với trường hợp chuyển đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối sang đất phi nông nghiệp có thu tiền sử dụng đất
- Nộp tiền sử dụng đất theo loại đất sau khi được chuyển mục đích sử dụng trừ
đi tiền sử dụng đất theo loại đất trước khi chuyển mục đích sử dụng đối với trường hợp chuyển đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở
- Trả tiền thuê đất theo loại đất sau khi chuyển mục đích sử dụng đối với trường hợp người sử dụng đất lựa chọn hình thức thuê đất
- Việc tính giá trị quyền sử dụng đất được áp dụng chế độ miễn, giảm tiền sử dụng đất theo quy định của Chính phủ
T ạ i Đ i ều 3 7 q u y đ ị n h thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất:
1 Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với tổ chức; giao đất đối với
cơ sở tôn giáo; giao đất, cho thuê đất đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài; cho thuê đất đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài
2 Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân; giao đất đối với cộng đồng dân cư
3 Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn cho thuê đất thuộc quỹ đất nông nghiệp
sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn
Cơ quan có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này không được ủy quyền
Luật Đất đai năm 2013 được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2014 Công tác chuyển đổi mục đích sử dụng đất quy định tại Điều 57:
1 Các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền bao gồm:
a) Chuyển đất trồng lúa sang đất trồng cây lâu năm, đất trồng rừng, đất nuôi
Trang 26d) Chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp;
đ) Chuyển đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất sang đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất;
e) Chuyển đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở;
g) Chuyển đất xây dựng công trình sự nghiệp, đất sử dụng vào mục đích công cộng có mục đích kinh doanh, đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp không phải là đất thương mại, dịch vụ sang đất thương mại, dịch vụ; chuyển đất thương mại, dịch vụ, đất xây dựng công trình sự nghiệp sang đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp
2 Khi chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định tại khoản 1 Điều này thì người sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật; chế
độ sử dụng đất, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất được áp dụng theo loại đất sau khi được chuyển mục đích sử dụng
- Pháp luật về đầu tư và pháp luật về đất đai trước đây chưa quy định rõ ràng điều kiện gì đối với chủ đầu tư xin giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất Đây là một trong các nguyên nhân dẫn đến tình trạng nhiều địa phương đã giao đất, cho thuê đất nhưng các chủ đầu tư không sử dụng đất, chậm đưa đất vào sử dụng, dẫn đến lãng phí đất đai, gây bức xúc trong nhân dân Vì vậy, Điều 58 của Luật Đất đai 2013 đã quy định hai loại điều kiện:
Điều kiện thứ nhất áp dụng đối với cơ quan có thẩm quyền trong việc quyết định giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất để đảm bảo an ninh, quốc phòng, an ninh lương thực, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu (khoản 1
và khoản 2);
Điều kiện thứ hai áp dụng đối với chủ đầu tư xin giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất như có năng lực tài chính, có ký quỹ, không vi phạm pháp luật (khoản 3)
Trang 27Trên cơ sở đó có quy định cụ thể đối với loại điều kiện thứ hai để đảm bảo tính khả thi của khoản 3 Điều 58 của Luật Đất đai 2013, cụ thể được quy định tại Điều 10:
- Điều kiện về năng lực tài chính của chủ đầu tư để đảm bảo việc sử dụng đất theo tiến độ của dự án đầu tư giao cho Sở Tài chính chịu trách nhiệm đánh giá trên cơ
sở các báo cáo tài chính, báo cáo kiểm toán
- Điều kiện về ký quỹ giao cho Sở Kế hoạch và Đầu tư chịu trách nhiệm đánh giá trên cơ sở quy định của địa phương, của pháp luật về kinh doanh bất động sản, pháp luật về đầu tư
- Điều kiện về chủ đầu tư không vi phạm các quy định của pháp luật đất đai đối với trường hợp đang sử dụng đất do Nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự
án đầu tư khác giao cho Sở Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm đánh giá theo tiêu chí xác định vi phạm pháp luật về đất đai
1.3 Khái quát tình hình chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội
Bảng 1.1 Biến động sử dụng một số loại đất trên địa bàn thành phố Hà Nội giai
đoạn 2000 – 2010 Đơn vị tính: ha
Thứ tự Mục đích sử dụng đất Diện tích
năm 2000
Diện tích năm 2010
Tăng(+), Giảm(-)
Trang 282.7 Đất di tích, danh thắng 697 528 -169
Nguồn: Báo cáo quy hoạch sử dụng đất thành phố Hà Nội đến 2020, trong đó
có đánh giá tình hình chuyển đổi mục đích giai đoạn 2000-2010
* Hiện trạng đất nông nghiệp năm 2000 là 203.862 ha, Quy hoạch đến năm
2010 được Chính phủ duyệt là 179.967 ha, (giảm 23.895 ha) Đến hết năm 2010 là 188.365 ha, giảm 15.497 ha do chuyển sang mục đích khác, đạt 65% so với quy hoạch.Cụ thể:
+ Đất trồng lúa, năm 2000 là 133.421 ha, đến hết năm 2010 còn 114.780 ha (giảm 18.641 ha, đạt 82% so với quy hoạch)
+ Đất rừng phòng hộ: Hiện trạng năm 2000 là 3.824 ha, đến hết năm 2010 là 5.413 ha (tăng 1.589 ha, đạt 161% so với quy hoạch)
+ Đất rừng đặc dụng: Hiện trạng năm 2000 là 8.823 ha, đến hết năm 2010 là 10.295 ha (tăng 1.472 ha, đạt 49% so với quy hoạch)
+ Đất rừng sản xuất: Hiện trạng năm 2000 là 13.228 ha, đến hết năm 2010 còn 8.550 ha (giảm 4.678 ha, đạt 89% so với quy hoạch)
+ Đất nuôi trồng thủy sản: Hiện trạng năm 2000 là 8.736 ha, đến hết năm 2010
là 10.710 ha (tăng 1.974 ha, đạt 98% so với quy hoạch)
* Đối với đất phi nông nghiệp, Hiện trạng năm 2000 là 88.888 ha, Quy hoạch được Chính phủ duyệt là 145.909 ha, đến hết năm 2010 thực hiện được 135.193 ha, đạt 81% so với quy hoạch Cụ thể:
+ Đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp: Hiện trạng năm 2000 là 1.346 ha, đến hết năm 2010 thực hiện được 1.908 ha, đạt 100% so với quy hoạch
+ Đất quốc phòng, an ninh: Hiện trạng năm 2000 là 7.957 ha, đến hết năm 2010 thực hiện được 8.824 ha, đạt 85,4% so với quy hoạch
Trang 29+ Đất khu, cụm công nghiệp: Hiện trạng năm 2000 là 2.365 ha, đến hết năm
2010 thực hiện được 4.318 ha, đạt 36% so với quy hoạch
+ Đất cho hoạt động khoáng sản: Hiện trạng năm 2000 là 112 ha, đến hết năm
2010 thực hiện được 400 ha, đạt 65,8% so với quy hoạch
+ Đất phát triển hạ tầng: Hiện trạng năm 2000 là 40.751 ha, đến hết năm 2010 thực hiện được 45.493 ha, đạt 86,1% so với quy hoạch Trong đó: đất giao thông: hiện trạng năm 2000 là 16.888 ha, đến hết năm 2010 thực hiện được 22.895 ha, đạt 99,9%
so với quy hoạch
+ Đất di tích, danh thắng: Hiện trạng năm 2000 là 697 ha, đến năm 2010 thực hiện được 528 ha, đạt 65,1% so với quy hoạch
+ Đất tôn giáo, tín ngưỡng: Hiện trạng năm 2000 là 529 ha, đến năm 2010 thực hiện được 836 ha, đạt 64,8% so với quy hoạch
+ Đất nghĩa trang, nghĩa địa: Hiện trạng năm 2000 là 2.775 ha, đến hết năm
2010 là 2.848 ha, đạt 41% so với quy hoạch
+ Đất ở: Hiện trạng năm 2000 là 26.655 ha, đến hết năm 2010 thực hiện được 35.779 ha, đạt 89% so với quy hoạch
* Đối với đất chưa sử dụng: Hiện trạng năm 2000 là 41.857 ha, Quy hoạch được Chính phủ duyệt là 8.761 ha, đến hết năm 2010 còn 9.331,2 ha, đạt 98,3% so với quy hoạch, trong đó:
+ Đất bằng chưa sử dụng: Hiện trạng năm 2000 là 16.785 ha, đến hết năm 2010 còn 4.280,1 ha, đạt 95% so với quy hoạch;
+ Đất đồi núi chưa sử dụng: Hiện trạng năm 2000 là 7.548 ha, đến hết năm
2010 còn 2.600,1 ha, đạt 88% so với quy hoạch;
+ Đất núi đá không có sử dụng: Hiện trạng năm 2000 là 17.524 ha, đến hết năm
2010 còn 2.451 ha, đạt 106% so với quy hoạch
Như vậy trong giai đoạn 2001 – 2010 trên địa bàn thành phố Hà Nội đã có
15497 ha đất nông nghiệp chuyển đổi mục đích sang các mục đích phi nông nghiệp, bình quân mỗi năm khoảng 1500 ha
Theo báo cáo của UBND thành phố, từ 01/01/2011 đến tháng 6 năm 2012, Thành phố đã thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất được 362 dự án, với tổng diện tích 841,67 ha
Trang 30Cụ thể diện tích các loại đất như sau: Đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp: 4,90 ha; Đất quốc phòng: 37,33 ha; Đất an ninh: 2,35 ha; Đất khu, cụm công nghiệp: 43,45 ha; Đất phát triển hạ tầng: 52,38 ha, trong đó: đất cơ sở văn hóa 0,01 ha; đất cơ
sở y tế 29,12 ha; đất cơ sở giáo dục đào tạo 23,24 ha; Đất xử lý chất thải 13,90 ha; Đất nghĩa trang nghĩa địa 4,91 ha; Đất ở tại đô thị 431,93 ha; Các loại đất khác 250,52 ha 1.4 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang các mục đích phi nông nghiệp
* Hiệu quả kinh tế:
Hiệu quả là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế Mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế, xã hội là đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất và tinh thần của toàn xã hội, khi nguồn lực sản xuất của xã hội ngày càng trở nên khan hiếm, việc nâng cao hiệu quả là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội [5]
Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau Trên cơ sở thực hiện vấn đề “tiết kiệm và phân phối một cách hợp lý thời gian lao động (vật hoá và lao động sống) giữa các ngành” Theo quan điểm của C Mác, đó là qui luật “tiết kiệm”, là “tăng năng suất lao động xã hội”, hay
đó là “tăng hiệu quả” Ông cho rằng: “Nâng cao năng suất lao động vượt quá nhu cầu
cá nhân của người lao động là cơ sở của hết thảy mọi xã hội” Như vậy, theo quan điểm của Mác, tăng hiệu quả phải được hiểu rộng và nó bao hàm cả việc tăng hiệu quả kinh tế và xã hội [6 ]
Các nhà khoa học kinh tế Samuel – Nordhuas cho rằng: “Hiệu quả có nghĩa là không lãng phí Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội, “Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hoá này mà không cắt giảm sản lượng một loại hàng hoá khác Mọi nền kinh tế có hiệu quả nằm trên đ-ường giới hạn khả năng năng suất của nó" [6]
Theo L.M Canirop:" Hiệu quả của sản xuất xã hội được tính toán và kế hoạch hoá trên cơ sở những nguyên tắc chung đối với nền kinh tế quốc dân bằng cách so sánh kết quả của sản xuất với chi phí hoặc nguồn lực đã sử dụng" [6]
Trang 31Tác giả Phan Sĩ Mẫn cho rằng: “Thông thường hiệu quả được hiểu như một hiệu số giữa kết quả và chi phí, tuy nhiên trong thực tế đã có trường hợp không thực hiện được phép trừ hoặc phép trừ không có ý nghĩa” Do vậy, nói một cách linh hoạt hơn nên hiểu hiệu quả là một kết quả tốt phù hợp mong muốn và hiệu quả có nghĩa là không lãng phí [9].
Tóm lại, có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế nhưng đều thống nhất nhau ở bản chất của nó Người sản xuất muốn thu được kết quả phải bỏ ra những chi phí nhất định, những chi phí đó là nhân lực, vật lực, vốn,…So sánh kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó sẽ có hiệu quả kinh tế Tiêu chuẩn của hiệu quả là sự tối đa hoá kết quả với một lượng chi phí định trước hoặc tối thiểu hoá chi phí để đạt được một kết quả nhất định
* Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là phạm trù có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế và thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người, việc lượng hoá các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả xã hội còn gặp nhiều khó khăn mà chủ yếu phản ánh bằng các chỉ tiêu mang tính chất định tính như tạo công ăn việc làm cho lao động, xoá đói giảm nghèo,định canh, định cư, công bằng xã hội, nâng cao mức sống của người dân
* Hiệu quả môi trường
Môi trường là một vấn đề mang tính toàn cầu, hiệu quả môi trường được các nhà môi trường học rất quan tâm trong điều kiện hiện nay Một hoạt động sản xuất được coi là có hiệu quả khi hoạt động đó không gây tổn hại hay có những tác động xấu đến môi trường như đất, nước, không khí và hệ sinh học, là hiệu quả đạt được khi quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra không làm cho môi trường xấu đi mà ngược lại, quá trình sản xuất đó làm cho môi trường tốt hơn, mang lại một môi trường xanh, sạch, đẹp hơn trước [4]
Đối với các dự án sử dụng đất phi nông nghiệp được chuyển đổi từ đất nông nghiệp đề xuất sử dụng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sau:
*Về kinh tế:
- Tác động chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn (tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế; bình quân GDP/người)
Trang 32- Các nguồn thu ngân sách từ việc chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang các mục đích phi nông nghiệp (thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất,…)
- Số tiền bồi thường, hỗ trợ - giải phóng mặt bằng phải chi trả để chuyển đổi mục đích sử dụng đất
- Tỷ lệ sử dụng đất (lấp đầy) của dự án
* Về xã hội:
- Sự thay đổi về khả năng tiếp cận cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội
- Việc làm (việc làm được tạo thêm mới và số người chuyển đổi nghề nghiệp sau khi chuyển mục đích sử dụng đất; Tình trạng thiếu việc làm do mất đất nông nghiệp)
- Thu nhập của người dân trước và sau chuyển đổi mục đích sử dụng đất
- Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
* Về môi trường:
- Tình hình (thực trạng) môi trường trước và sau khi chuyển đổi mục đích sử dụng đất
Trang 33CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHUYỂN ĐỔI MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP GIAI ĐOẠN 2005 – 2013 TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THANH OAI
2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Thanh Oai
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Thanh Oai là một huyện đồng bằng nằm ở phía Tây Nam của thành phố Hà Nội, có vị trí địa lý liền kề với quận Hà Đông, với trung tâm kinh tế - chính trị là thị trấn Kim Bài cách quận Hà Đông khoảng 14 km, cách trung tâm thành phố Hà Nội 20
km về phía Bắc Toàn huyện có 20 xã và 01 thị trấn, có tổng diện tích tự nhiên tính đến tháng 05 năm 2010 là 12.385,56 ha và dân số là 176.336 người Huyện có địa giới hành chính tiếp giáp như sau:
- Phía Đông giáp huyện Thường Tín, huyện Thanh Trì;
- Phía Tây giáp huyện Chương Mỹ;
- Phía Nam giáp huyện Ứng Hoà và huyện Phú Xuyên;
- Phía Bắc giáp quận Hà Đông
Với vị trí nằm liền kề với quận Hà Đông và trung tâm thành phố Hà Nội Thanh Oai có nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, giao lưu buôn bán, đặc biệt thuận lợi trong việc tiêu thụ các sản phẩm nông sản và các sản phẩm sản xuất từ các làng nghề truyền thống
2.1.1.2 Địa hình địa mạo
Thanh Oai có địa hình đồng bằng tương đối bằng phẳng với hai vùng rõ rệt là vùng đồng bằng sông Nhuệ và vùng bãi sông Đáy, có độ dốc từ Tây sang Đông và từ Bắc xuống Nam Điểm cao nhất là xã Thanh Mai với độ cao 7,50 m so với mực nước biển và điểm thấp nhất là xã Liên Châu có độ cao 1,50 m so với mực nước biển
Với đặc điểm địa hình như vậy, huyện có đủ điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất đa dạng hoá cây trồng và vật nuôi, có khả năng thâm canh tăng vụ
2.1.1.3 Khí hậu, thời tiết
Thanh Oai nằm trong huyện đồng bằng sông Hồng chịu ảnh hưởng của lưu khí quyển cơ bản nhiệt đới gió mùa của miền Bắc với 2 mùa rõ rệt, đó là mùa mưa nắng nóng, mưa nhiều, mùa khô lạnh rét mưa ít với số giờ nắng trong năm từ 1.600 - 1.700 giờ
Trang 34Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa tập trung nhiều nhất vào tháng 8,
9 và các tháng này thường hay có gió, bão Lượng mưa bình quân năm của huyện khoảng 1.600 - 1.800 mm
Độ ẩm không khí từ 84 - 96%, lượng bốc hơi cả năm 700 - 900 mm, lượng bốc hơi nhỏ nhất vào tháng 12, tháng1, lớn nhất vào tháng 5 và tháng 6
Nhìn chung, thời tiết có những biến động thất thường gây ảnh hưởng xấu cho đời sống và sản xuất Vào mùa mưa, xuất hiện những đợt mưa lớn, kéo dài gây ngập, úng Mùa đông, có những đợt gió mùa đông bắc về làm nhiệt độ giảm đột ngột gây ảnh hưởng tới sức khỏe và sản xuất nông nghiệp
2.1.1.4 Thủy văn
Hệ thống thuỷ văn của huyện bao gồm hai con sông lớn đó là sông Nhuệ và sông Đáy với các hệ thống hồ, đầm lớn tập trung ở các xã Thanh Cao, Cao Viên, Cao Dương
Sông Đáy chạy dọc phía Tây của huyện với chiều dài khoảng 20,5 km với độ rộng trung bình từ 100 - 125m, hiện tại bề mặt sông đã bị người dân trong vùng thả bè rau muống nên chỉ còn một lạch nhỏ cho thuyền đi qua Đây là tuyến sông quan trọng có nhiệm vụ phân lũ cho sông Hồng
Sông Nhuệ ở phía Đông của huyện có chiều dài 14,50 km lấy nước từ sông Hồng để cung cấp cho sản xuất nông nghiệp và phục vụ đời sống của nhân dân các xã ven sông và còn là nơi cung cấp nguồn nước cho công trình thuỷ lợi La Khê
2.1.1.5 Các nguồn tài nguyên
Tài nguyên đất
Đất đai trên địa bàn huyện Thanh Oai được hình thành chủ yếu do quá trình bồi đắp phù sa của hệ thống sông Hồng, thông qua sông Đáy Theo kết quả điều tra thổ nhưỡng trên địa bàn huyện có các loại đất chính sau [18]:
+ Đất phù sa được bồi hàng năm (Pb): Loại đất này được phân bố ở khu vực ngoài đê trong vùng phân lũ sông Đáy, có độ màu mỡ cao, thành phần cơ giới cát pha thịt nhẹ, thích hợp cho canh tác các loại rau màu và cây trồng cạn
+ Đất phù sa không được bồi (P): Loại đất này chiếm chủ yếu, phân bố rộng khắp khu vực đồng bằng, đã được khai thác cải tạo lâu đời phù hợp cho thâm canh tăng vụ, với nhiều loại mô hình canh tác cho hiệu quả kinh tế cao
Trang 35+ Đất phù sa glây (Pg): Phân bố chủ yếu ở các khu vực địa hình trũng và canh tác ruộng nước, mực nước ngầm nông Đây là loại đất chuyên để chuyển đổi sang dạng lúa - cá, lúa - cá - vịt, nuôi trồng thủy sản
Nhìn chung, đất đai của huyện có độ phì cao, có thể phát triển nhiều loại cây trồng như cây lương thực, cây rau màu, cây lâu năm, cây ăn quả
Tài nguyên nước
- Nguồn nước mặt: Chủ yếu là sông Hồng và sông Nhuệ qua hệ thống thủy nông La Khê và sông Đáy Ngoài ra còn có hệ thống hồ, đầm, ao rất rộng lớn (hơn 300 ha) đặc biệt là đầm Thanh Cao - Cao Viên Nguồn nước mặt cung cấp đáp ứng cơ bản nhu cầu tưới cho cây trồng
- Nguồn nước ngầm: Tầng chứa nước nằm ở độ sâu 30-60 m, bao gồm 2 lớp cát và sỏi cuộn Về chất lượng nước: theo kết quả phân tích mẫu nước thô ở nhà máy Bia Kim Bài ngày 15/09/1999 cho thấy hàm lượng sắt và mangan cao hơn tiêu chuẩn cho phép
Như vậy, với hệ thống kênh mương và ao, hồ, đầm của huyện sẽ rất thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp và phục vụ sinh hoạt của người dân Tuy nhiên vào mùa mưa hệ thống kênh mương và ao hồ cũng gây ra ngập úng ở một số vùng trũng
Tài nguyên du lịch
Thanh Oai là huyện có nhiều di tích lịch sử văn hoá, trong đó có 88 di tích đã được xếp hạng với nhiều di tích gắn liền với sự phát triển của dân tộc trong quá trình dựng nước và giữ nước, trong đó chủ yếu là đình chùa, đền thờ cổ, làng nghề truyền thống; đây là những tiềm năng to lớn có thể quy hoạch thành các trung tâm du lịch như: du lịch văn hoá làng nghề truyền thống, du lịch sinh thái… Hơn thế nữa, Thanh Oai còn nằm chủ yếu trên tuyến du lịch Chùa Hương nên rất thuận lợi cho việc quảng
bá, phát huy tiềm năng du lịch của huyện
Tài nguyên nhân văn
Thanh Oai nằm trong vùng Đồng Bằng sông Hồng nơi có nền văn hóa dân tộc phát triển lâu đời và phong phú điển hình đó là hệ thống đình chùa, nhà thờ, miếu mạo
đã có từ rất lâu không những đẹp mà còn tiêu biểu cho nhiều kiểu kiến trúc khác nhau như: chùa Bối Khê, đình Bình Đà, nhà thờ Thạch Bích tại xã Bích Hòa…
Tiềm năng con người là một trong những thế mạnh, với lực lượng lao động lớn
có trình độ khoa học, kỹ thuật, có tay nghề cao, giàu kinh nghiệm là điều kiện tiên
Trang 36quyết cho việc khai thác và sử dụng đất đai hợp lý trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế - xã hội Thanh Oai có nhiều ngành nghề tiểu thủ công nghiệp cổ truyền [đặc sắc nhất là làng làm nón lá ở Làng Chuông (Phương Trung), điêu khắc ở Võ Lăng (Dân Hòa), Dư Dụ (Thanh Thùy) ] Ngoài ra rải rác khắp huyện là nghề mây tre đan
2.1.1.6 Thực trạng môi trường
- Môi trường không khí, tiếng ồn:
Trên địa bàn huyện có tuyến đường 21B chạy qua, đây là tuyến đường huyết mạch nối giao thông của huyện với các vùng lân cận Hiện tại ô nhiễm về bụi ngày càng lớn do tốc độ phát triển các công trình xây dựng trên địa bàn huyện và vùng giáp danh, nồng độ bụi đều lớn hơn chỉ số tiêu chuẩn cho phép [18]
- Môi trường nước:
Nước thải sinh hoạt của các khu dân cư nông thôn hiện nay phần lớn chưa qua
xử lý mà thải trực tiếp vào các nguồn nước mặt tiếp nhận là sông, hồ, kênh mương; nhiều sông, hồ đã trở thành nơi chứa nước thải do vậy đã gây ô nhiễm nguồn nước mặt
Nước thải từ các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp có xu hướng tăng cả về khối lượng và hàm lượng do các hệ thống xử lý nước thải chưa được lắp đặt hoặc có hệ thống xử
lý nước thải nhưng chưa đi vào hoạt động hoặc hoạt động kém hiệu quả
Nhìn chung ô nhiễm nước sông chủ yếu biểu hiện về ô nhiễm chất hữu cơ
- Môi trường khu vực sản xuất nông nghiệp và làng nghề
Các hoạt động của con người thông qua các biện pháp kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp tuy đã làm tăng năng xuất cây trồng nhưng ở một khía cạnh nào đó cũng gây hậu quả tiêu cực tới môi trường Điển hình nhất là việc sử dụng các hoá chất từ phân bón hoá học đến thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, thuốc tăng trưởng,
Vấn đề sử dụng nước thải sinh hoạt và các khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chưa được xử lý trong sản xuất nông nghiệp đang trở thành vấn đề cấp bách hiện nay và trong những năm tiếp theo
Nguồn rác thải, nước thải từ các làng nghề cũng là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm tới môi trường nước do hầu hết các làng nghề không được quy hoạch, vị trí không còn phù hợp, sản xuất mang tính tự phát, sử dụng công nghệ sản xuất lạc hậu vì vậy các chất thải và nước thải hầu như chưa có biện pháp xử lý trước khi đổ ra ao hồ
Trang 372.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
2.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
a Tăng trưởng kinh tế
Nhìn chung trong những năm qua kinh tế - xã hội của huyện Thanh Oai phát triển khá toàn diện, duy trì được mức tăng trưởng kinh tế ngang với mức bình quân chung của cả nước, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội
Tổng giá trị sản xuất tăng nhanh, năm 2005 đạt 930,7 tỷ đồng, đến năm 2010 đạt 1.792,5 tỷ đồng, gấp 1,92 lần so với năm 2005 Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2005-2010 đạt 12,96%, cao hơn so với mức tăng trưởng bình quân chung của thành phố Hà Nội (TP Hà Nội 10,2%); thu nhập bình quân đầu người năm 2005 đạt 5,63 triệu đồng, đến năm 2010 đạt 10,48 triệu đồng/người/năm
Bảng 2.1 Giá trị, cơ cấu kinh tế huyện Thanh Oai qua một số năm
(theo giá hiện hành)
b Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Bảng 2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Thanh Oai qua một số năm
Đơn vị tính: %
(Nguồn: UBND huyện Thanh Oai - Tình hình phát triển KT-XH huyện Thanh Oai 2005-2010)
Trang 38Trong những năm qua cơ cấu kinh tế của huyện đã có sự chuyển dịch quan trọng [nhất là khi tỉnh Hà Tây (cũ) được nhập về Hà Nội] theo hướng tích cực, giảm
tỷ trọng ngành nông nghiệp - thủy sản, tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ - thương mại - du lịch, đồng thời phát huy lợi thế trong từng ngành, lĩnh vực
Năm 2005 tỷ trọng ngành nông nghiệp - thuỷ sản chiếm 47,57%, đến năm 2010
tỷ trọng ngành nông nghiệp - thuỷ sản giảm xuống còn 28,37%, tỷ trọng công nghiệp - xây dựng tăng lên 42,12%, tỷ trọng ngành dịch vụ - thương mại - du lịch 29,51% Tỷ trọng các ngành phi nông nghiệp tăng lên, tạo ra sự thay đổi đáng kể trong cơ cấu kinh
tế Bước đầu đã hình thành một số ngành, lĩnh vực, sản phẩm quan trọng tạo động lực cho phát triển kinh tế - xã hội
2.1.2.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
a Khu vực kinh tế nông nghiệp
Ngành nông nghiệp giữ vai trò khá quan trọng và có tác động lớn đến tăng trưởng kinh tế của huyện Năm 2010 ngành nông - lâm - thủy sản chiếm tỷ trọng 28,37% trong tổng GDP của huyện theo giá hiện hành và 30,27% theo giá so sánh Tốc độ phát triển của ngành giai đoạn 2005 - 2010 trung bình ở mức 3,4%/năm và năm 2010 đạt 4,49%
Bảng 2.3 Giá trị sản xuất và cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp
Trang 39Bình quân giá trị sản xuất trên 1 ha canh tác ở huyện còn chưa cao, năm 2005 đạt 26,6 triệu đồng/ha/năm, tới năm 2010 đạt 30,0 triệu đồng/ha/năm
Diện tích gieo trồng một số cây trồng chính của huyện giai đoạn 2005 - 2010 được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2.4 Thống kê diện tích một số cây trồng chính
5 BQ giá trị SX/1ha canh tác (Tr.đ) 26,6 27,7 26,1 28,5 30,0
(Nguồn: Phòng Thống kê huyện Thanh Oai)
Trang 40Ngành chăn nuôi
Cho đến nay chăn nuôi luôn là một ngành quan trọng trong sản xuất nông nghiệp của huyện Thanh Oai Vật nuôi chủ yếu trên địa bàn huyện là trâu, bò, lợn và gia cầm Trong những năm vừa qua với phong trào thực hiện chương trình “nạc hoá’’ đàn lợn , đang hình thành các hộ chăn nuôi theo hướng công nghiệp và bán công nghiệp, tốc độ tăng trưởng ngành chăn nuôi khá ổn định về số lượng và chất lượng
Ngành chăn nuôi của huyện chủ yếu cung cấp nhu cầu thực phẩm cho huyện và các quận nội thành Tuy nhiên, ngành chăn nuôi còn mang tính tự phát, nhỏ lẻ, chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của một huyện ngoại thành
Ngành thủy sản
Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản của huyện là 333,20 ha Sản lượng đánh bắt thủy sản đạt 589 tấn; sản lượng nuôi trồng đạt 2.351 tấn
b Khu vực kinh tế công nghiệp
Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của huyện đã khôi phục lại được các làng nghề truyền thống thành các điểm du lịch làng nghề (quạt Vác, tăm hương, giò chả Ước Lễ, nón Chuông ), mở rộng được các loại hình ngành nghề mới (mộc, đồ gỗ gia dụng) từng bước ổn định phát triển theo cơ chế thị trường
Các ngành nghề thủ công truyền thống và các nghề mới vẫn được duy trì và phát triển ở các làng nghề và các làng có nghề Các nghề mới đang phát triển mạnh như tăm hương ở Hồng Dương; mây, tre đan xuất khẩu ở Dân Hòa
Các dự án thuê đất của các công ty, hộ đã tổ chức sản xuất, kinh doanh ổn định
và có giá trị sản xuất lớn như: Công ty DHA, công ty sản xuất cấu kiện bê tông Ngọc Hương, Công ty TNHH Minh Châu, các cơ sở sản xuất đồ nhựa gia dụng
Tình hình phát triển của ngành công nghiệp xây dựng từ năm 2005 - 2010 được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2.5 Tình hình phát triển ngành công nghiệp - xây dựng