79 CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG ĐẤT VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG ĐẤT ĐAI NHẰM SỬ DỤNG HỢP LÝ VÀ BẢO VỆ NGUỒN TÀI NGUYÊN ĐẤT TRONG THỜI KỲ CÔNG N
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Ngô Huyền Giang
PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT VÀ TIỀM NĂNG ĐẤT ĐAI CHO MỤC TIÊU CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI TỈNH THANH HÓA ĐẾN NĂM 2020
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội, 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Ngô Huyền Giang
PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT VÀ TIỀM NĂNG ĐẤT ĐAI CHO MỤC TIÊU CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI TỈNH THANH HÓA ĐẾN NĂM 2020
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 60850103
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Nguyễn Xuân Thành
Hà Nội, 2014
Trang 3Tôi xin cảm ơn Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thanh Hóa đã giúp đỡ cung cấp tài liệu, số liệu từ những ngày đầu định hướng đề tài
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do trình độ và kinh nghiệm còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những khiếm khuyết Rất mong được sự chỉ dẫn và đóng góp thêm của thầy cô và các bạn để tôi rút kinh nghiệm và hoản chỉnh thêm đề tài của mình!
Tác giả
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chƣa hề đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đƣợc cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đƣợc chỉ
rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Ngô Huyền Giang
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG 1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 1
MỞ ĐẦU 3
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 3
2 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 4
3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 5
6 CƠ SỞ TÀI LIỆU 6
7 CẤU TRÚC LUẬN VĂN 7
Chương 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 8
1.1 ĐÁNH GIÁ ĐẤT ĐAI VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 8
1.1.1 Khái niệm về đất, đánh giá đất đai, sử dụng đất, hệ thống sử dụng đất 8
1.1.2 Tiềm năng đất đai và đánh giá tiềm năng đất đai 9
1.1.3 Các nghiên cứu về đánh giá đất đai trên thế giới 10
1.1.4 Đánh giá đất theo FAO 13
1.1.5 Khái quát tình hình nghiên cứu về đất đai ở nước ta 17
1.2 ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 19 1.2.1 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất 19
1.2.2 Đánh giá loại hình, hiệu quả và mức độ thích hơp sử dụng đất đai 22
Chương 2: PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT VÀ ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG ĐẤT ĐAI CỦA TỈNH THANH HÓA 24
2.1 PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT TỈNH THANH HÓA 24
Trang 62.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 24
2.1.2 Các nguồn taì nguyên thiên nhiên 26
2.1.3 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 31
2.2 PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG VÀ ĐÁNH GIÁ BIẾN ĐỘNG SỬ DỤNG ĐẤT42 2.2.1 Phân tích hiện trạng sử dụng các loại đất 42
2.2.2 Đánh giá biến động các loại đất giai đoạn 2005 – 2010 và 2010 - 2013 46
2.3 ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG ĐẤT ĐAI PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA TỈNH THANH HÓA 53
2.3.1 Tiềm năng đất đang sử dụng 54
2.3.2 Tiềm năng đất chưa sử dụng 57
2.3.3 Tiềm năng đất đai cho phát triển các ngành 59
2.3.4 Đánh giá chung 79
CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG ĐẤT VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG ĐẤT ĐAI NHẰM SỬ DỤNG HỢP LÝ VÀ BẢO VỆ NGUỒN TÀI NGUYÊN ĐẤT TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA 80
3.1 QUAN ĐIỂM VÀ MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH THANH HÓA ĐẾN NĂM 2020 80
3.1.1 Quan điểm phát triển 80
3.1.2 Mục tiêu phát triển 81
3.2 XÂY DỰNG ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2020 TRÊN CƠ SỞ ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG ĐẤT PHỤC VỤ QUÁ TRÌNH CNH – HĐH VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA TỈNH THANH HÓA 83
3.2.1 Dự báo về sử dụng đất 83
3.2.2 Phương án tổ chức không gian kinh tế - xã hội 85
Trang 73.3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG ĐẤT ĐAI NHẰM SỬ DỤNG HỢP LÝ VÀ BẢO VỆ NGUỒN TÀI NGUYÊN ĐẤT 88 3.3.1 Các quan điểm khai thác, sử dụng đất đai hợp lý và bảo vệ nguồn tài
nguyên đất 88
3.3.2 Những vấn đề cần hoàn thiện về đánh giá tiềm năng đất đai 91
3.3.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đánh giá tiềm năng đất đai nhằm sử dụng hợp lý và bảo vệ nguồn tài nguyên đất trong thời kỳ CNH – HĐH 92
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 97
I KẾT LUẬN 97
II KIẾN NGHỊ 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC 102
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
STT Tên bảng Trang
Bảng 2.1: Trữ lượng nước dưới đất ở một số vùng trong tỉnh Thanh Hóa 28
Bảng 2.2: Tốc độ tăng trưởng kinh tế thời kỳ 2005 – 2013 31
Bảng 2.3: Một số chỉ tiêu phát triển nông lâm nghiệp và thủy sản 32
Bảng 2.4: Hiện trạng phát triển công nghiệp 34
Bảng 2.5: Dân số trung bình năm 2013 theo đơn vị hành chính trên địa bàn tỉnh 38
Bảng 2.6: Dân số và lao động tỉnh Thanh Hóa 2005 – 2013 40
Bảng 2.7: Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế 42
Bảng 2.8: Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Thanh Hoá năm 2013 43
Bảng 2.9: Hiện trạng sử dụng đất phân theo loại đất và phân theo huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Thanh Hoá năm 2013 44
Bảng 2.10: Biến động đất đai giai đoạn 2005-2013 47
Bảng 2.11: Biến động diện tích đất phân theo loại đất và phân theo huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giai đoạn 2010 - 2013 50
Trang 9
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1 ASEAN Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
2 APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương
3 DS & KHH Dân số và Kế hoạch hóa
10 KH & ĐT Kế hoạch và đầu tư
11 KTQD Kinh tế quốc dân
12 KTTD Kinh tế trọng điểm
14 LUT Loại hình sử dụng đất
16 NLN Nông lâm nghiệp
17 UNCED Hội nghị về Môi trường và phát triển của Liên Hiệp Quốc
18 UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc
25 VHTT & DL Văn hóa thể thao và du lịch
26 WTO Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 10MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên, tài sản quốc gia quý giá, là địa bàn phân bố dân cư, để thực hiện các hoạt động kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh; là nguồn nội lực để xây dựng và phát triển bền vững quốc gia Việc quản lý, sử dụng đất đai nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ quan trọng đang được Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành đặc biệt quan tâm thực hiện Chính vì vậy, Hiến pháp của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam qua các thời kỳ đã khẳng định điều đó, Nhà nước ta luôn quan tâm đến vấn đề quản lý
và sử dụng đất và đã ban hành, đổi mới Luật Đất đai: Luật Đất đai 1987, Luật Đất đai năm 1993; Luật sửa đổi và bổ sung một số điều của Luật Đất đai 1993 năm
1998, năm 2001; Đặc biệt, Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo hành lang pháp lý đưa công tác quản lý đất đai dần vào nề nếp, việc sử dụng đất đai ngày càng có hiệu quả hơn
Trong quá trình đổi mới ở nước ta, đặc biệt những năm gần đây, việc xây dựng cơ sở hạ tầng, khu công nghiệp, khu đô thị mới đã phát triển nhanh đáp ứng nhu cầu CNH-HĐH đất nước với mục tiêu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020
Thanh Hoá là một tỉnh có vị trí địa lý thuận lợi , có diện tích tự nhiên rộng, địa hình đa dạng (cả miền núi, trung du, đồng bằng và ven biển), tài nguyên thiên nhiên phong phú; mạng lưới cơ sở hạ tầng tương đối hoàn thiện, nhất là hệ thống đường giao thông khá phát triển; có tiềm năng lớn để phát triển kinh tế xã hội, trong
đó tiềm năng về đất đai rộng lớn Tuy nhiên, để khai thác hiệu quả đất đai cần phải
có sự đầu tư nghiên cứu nghiêm túc để đánh giá được một cách đầy đủ tiềm năng về
số lượng và chất lượng đất đai một cách khoa học, phù hợp cho các mục tiêu phát triển Trong thời kỳ quy hoạch từ nay đến năm 2020, theo yêu cầu của phát triển kinh tế của các ngành, tiềm năng đất đai của tỉnh sẽ được bố trí khai thác hiệu quả phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của từng địa phương Ngoài ra Thủ tướng Chính Phủ đã phê duyệt phương hướng phát triển kinh tế - xã hội miền Tây
Trang 11khu kinh tế Nghi Sơn với nhiều công trình kinh tế lớn của quốc gia và những chính
sách ưu đãi sẽ là "cú hích" lớn để Thanh Hóa thu hút mạnh đầu tư, tạo bước đột phá
trong tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng CNH – HĐH [15] Để hỗ trợ cho những định hướng phát triển trên, học viên đã lựa chọn nghiên
cứu đề tài: “Phân tích hiện trạng sử dụng đất và tiềm năng đất đai cho mục tiêu
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững tại tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020”
2 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
a) Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu hiện trạng và biến động sử dụng đất của tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn 2005 – 2013 nhằm đánh giá đúng tiềm năng đất đai của tỉnh, đảm bảo sử dụng hợp lý và bảo vệ nguồn tài nguyên đất, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội phục vụ mục tiêu CNH – HĐH và phát triển bền vững đến năm 2020
b) Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu đề ra, nhiệm vụ nghiên cứu cần thực hiện bao gồm:
- Tổng quan các tài liệu, số liệu, bản đồ có liên quan đến hướng nghiên cứu của luận văn
- Phân tích đánh giá tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa
- Phân tích hiện trang và biến động sử dụng đất giai đoạn 2005 – 2013
- Đánh giá tiềm năng đất đai cho các mục tiêu phát triển
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả đánh giá tiềm năng đất đai nhằm
sử dụng hợp lý và bảo vệ nguồn tài nguyên đất trong thời kỳ CNH - HĐH
3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
a) Phạm vi không gian
Đề tài được thực hiện trên toàn bộ địa bàn tỉnh Thanh Hóa, bao gồm 24 huyện, 2 thị xã và 1 thành phố với tổng diện tích đất tự nhiên tính đến năm 2013 là 1.112.948,00 ha
b) Phạm vi khoa học
Phạm vi nghiên cứu của Luận văn giới hạn trong việc:
- Phân tích hiện trạng và đánh giá biến động sử dụng đất của tỉnh Thanh
Hóa giai đoạn 2005 – 2010 và 2010 - 2013
Trang 12- Đề xuất các định hướng phát triển kinh tế, xã hội và sử dụng đất đến
năm 2020
- Dự báo tiềm năng đất đai của tỉnh phục vụ cho các mục tiêu phát triển
đến năm 2020
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp điều tra thu thập tài liệu số liệu: sử dụng để thu thập thông
tin tư liệu về đặc điểm tự nhiên, tình hình phát triển kinh tế- xã hội và hiện trạng sử dụng đất đai; về công tác quy hoạch sử dụng đất và tiểm năng đất đai của tỉnh Thanh Hóa
- Phương pháp dự báo: Các đề xuất dựa trên kết quả nghiên cứu của đề tài và
những dự báo về nhu cầu kinh tế - xã hội, về nhu cầu sử dụng đất, biến động sử
dụng đất và tiền năng đất đai trên địa bàn
- Phương pháp tham vấn chuyên gia: Tranh thủ tham vấn ý kiến của những
các chuyên gia trong lĩnh vực chuyên môn để đưa ra các giải pháp tối ưu phù hợp với tình hình thực tế của địa phương
- Phương pháp tổng hợp phân tích và xử lý tài liệu, số liệu: Trên cơ sở các tài
liệu, số liệu thu thập được, tiến hành tổng hợp và phân tích theo các bảng, biểu kết hợp với phần thuyết minh Các số liệu đầu vào thu thập được phân tích, xử lý với sự
hỗ trợ hiệu quả của các phần mềm vi tính nhằm đưa ra kết quả nhanh gọn và chuẩn xác hơn Sử dụng phần mềm Excel để xử lý và tổng hợp dữ liệu phục vụ cho xây dựng báo cáo tổng hợp
5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
- Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm phong
phú hệ thống lý luận của khoa học quản lý đất đai về hướng phân tích hiện trạng và đánh giá tiền năng đất đai đối với một lãnh thổ cấp tỉnh và hướng nghiên cứu quy hoạch sử dụng đất lồng nghép phát triển bền vững theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Ý nghĩa thực tiễn: Các phương án đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả
đánh giá tiềm năng đất đai trong luận văn được xem là tư liệu khoa học tham khảo
Trang 13cung cấp cho các cơ quan quản lý phục vụ lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh Thanh Hóa
6 CƠ SỞ TÀI LIỆU
Các tài liệu chính sau được sử dụng trong quá trình thực hiện luận văn:
a) Tài liệu khoa học tham khảo: bao gồm các sách, giáo trình, luận văn,
công trình nghiên cứu liên quan tới hướng nghiên cứu lý thuyết của đề tài:
- Hướng quản lý đất đai: cơ sở địa chính, hồ sơ địa chính, hệ thống chính sách pháp luật đất đai,
- Hướng phân tích sử dụng đất: đánh giá đất đai, phân tích và đánh giá biến động sử dụng đất
- Hướng phát triển bền vững: phát triển bền vững và quy hoạch bảo vệ môi trường, chương trình nghị sự 21 của Việt Nam (2005), chương trình nghị sự 21 cho một số địa phương (Bình Định, Ninh Bình,…),…
b) Cơ sở thông tin, tư liệu bản đồ
- Quy hoạch sử dụng đất tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020;
- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2010-2020;
- Quy hoạch tổng thể hệ thống đô thị tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020;
- Quy hoạch tổng thể phát triển ngành nông nghiệp tỉnh Thanh Hóa đến năm
2015 và định hướng đến 2020;
- Kết quả rà soát, quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2006-2015;
- Quy hoạch thủy lợi vùng trung du miền núi tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020;
- Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản tỉnh Thanh Hóa đến năm
2015 và định hướng đến 2020;
- Kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ cuối (2006- 2010) tỉnh Thanh Hóa;
- Số liệu Kiểm kê, thống kê đất đai năm 2005, 2010 và 2013;
- Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2005 và 2010 của tỉnh Thanh Hóa;
Trang 14- Các loại bản đồ có liên quan: Giao thông, thuỷ lợi, khu đô thị, công nghiệp, nông nghiệp,
7 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về định hướng sử dụng đất bền vững tại tỉnh
Thanh Hóa
- Chương 2: Phân tích hiện trạng sử dụng đất và đánh giá tiềm năng đất đai
của tỉnh Thanh Hóa
- Chương 3: Đề xuất các định hướng sử dụng đất phục vụ cho mục tiêu sử
dụng đất bền vững theo hướng CNH – HĐH của tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020
Trang 15Chương 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 ĐÁNH GIÁ ĐẤT ĐAI VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN
1.1.1 Khái niệm về đất, đánh giá đất đai, sử dụng đất, hệ thống sử dụng đất
- Đất: Docuchaev (1846 – 1903) đã đưa ra một định nghĩa tương đối hoàn
chỉnh về đất: “Đất là lớp vỏ phong hoá trên cùng của trái đất, được hình thành
do tác động tổng hợp của năm yếu tố sinh vật, khí hậu, đá mẹ, địa hình và thời gian Nếu là đất đã sử dụng thì có thêm sự tác động của con người là yếu tố hình thành đất thứ 6” Giống như vật thể sống khác, đất cũng có quá trình phát sinh,
phát triển và thoái hoá vì các hoạt động về vật lý, hoá học và sinh học luôn xảy ra trong nó
Theo Wiliam (1863 – 1939) đưa ra định nghĩa: "Đất là lớp tơi xốp của vỏ lục địa có khả năng sản xuất ra những sản phẩm của cây trồng" Như vậy theo quan
điểm này, đặc tính cơ bản nhất của đất là độ phì nhiêu, là khả năng cho sản phẩm
- Đất đai: Là một vùng đất có ranh giới, vị trí, diện tích cụ thể và có các thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi nhưng có tính chất chu kỳ có thể dự đoán được có ảnh hưởng tới việc sử dụng đất trong hiện tại và tương lai của các yếu
tố tự nhiên, kinh tế, xã hội như thổ nhưỡng, khí hậu, địa hình, địa mạo, địa chất, thuỷ văn, thực vật, động vật cư trú và hoạt động sản xuất của con người [23] Theo học thuyết sinh thái học cảnh quan, đất đai được coi là vật mang của hệ sinh thái
- Khái niệm về đánh giá đất: Theo FAO (1976) “Đánh giá đất đai là quá trình so sánh, đối chiếu những tính chất vốn có của vạt/khoanh đất cần đánh giá với những tính chất đất đai mà loại hình sử dụng đất yêu cầu phải có”
- Sử dụng đất: Đó là hoạt động tác động của con người vào đất đai nhằm đạt kết quả mong muốn trong quá trình sử dụng Trên thực tế có nhiều loại hình sử dụng đất chủ yếu như đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất trồng cỏ, đất trồng rừng, đất cảnh quan du lịch, v.v…, ngoài ra còn có đất sử dụng đa mục đích với hai hay nhiều kiểu sử dụng chủ yếu trên cùng một diện tích đất Kiểu sử dụng đất có thể là trong hiện tại nhưng cũng có thể là trong tương lai, nhất là khi các điều kiện kinh tế, xã hội, cơ sở hạ tầng, tiến bộ khoa học thay đổi Trong mỗi kiểu
sử dụng đất thường gắn với những đối tượng cây trồng hay vật nuôi cụ thể [19]
Trang 16- Yêu cầu sử dụng đất đai là những đòi hỏi về đặc tính và tính chất đất đai để đảm bảo cho mỗi loại sử dụng đất đưa vào đánh giá có thể phát triển bền vững [21]
- Hệ thống sử dụng đất: là sự kết hợp của một loại sử dụng đất với một điều kiện đất đai riêng biệt tạo thành hai hợp phần khăng khít tác động lẫn nhau, từ các tương tác này sẽ quyết định các đặc trưng về mức độ và loại chi phí đầu tư, loại cải tạo đất đai và năng suất, sản lượng của loại sử dụng đất [23]
1.1.2 Tiềm năng đất đai và đánh giá tiềm năng đất đai
- Tiềm năng: thuật ngữ tiềm năng được sử dụng rất rộng rãi, tiềm năng có thể
là những khả năng tiềm ẩn, những thế mạnh còn chưa được khai thác, chưa được biết đến hoặc chưa được sử dụng hợp lý vào các hoạt động vì lợi ích của con người [14]
- Đánh giá tiềm năng đất đai: là quá trình xác định số lượng, chất lượng đất,
liên quan đến mục đích của đất được sử dụng Đó là việc phân chia hay phân hạng đất đai thành các nhóm dựa trên các yếu tố thuận lợi hay hạn chế trong sử dụng đất như độ dốc, độ dày tầng đất, đá lẫn, tình trạng xói mòn, khô hạn, mặn hoá, v.v… trên cơ sở đó có thể lựa chọn những loại sử dụng đất phù hợp [13]
Đánh giá tiềm năng cung cấp thông tin về số lượng, chất lượng đất gắn với mục đích sử dụng, mức độ thích hợp và thuận lợi, đây là cơ sở để phân bổ, bố trí quỹ đất hợp lý theo hướng bền vững Đánh giá tiềm năng đất đai là cơ sở cho hoạch định phát triển bền vững kinh tế xã hội, phát huy lợi thế so sánh theo đặc trưng vùng, miền Đánh giá tiềm năng đất đai là cơ sở khoa học cho công tác lập quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển các ngành (nông – lâm nghiệp, xây dựng, giao thông, thương mại, dịch vụ, v.v…) [14]
- Mục tiêu của việc đánh giá tiềm năng đất đai:
+ Đánh giá được sự thích hợp của vùng đất với các mục tiêu sử dụng khác nhau theo mục đích và nhu cầu của con người
+ Đối với mọi mục đích sử dụng được lựa chọn thì mức độ thích hợp và hiệu quả như thế nào
Trang 17+ Có những chỉ tiêu, yếu tố hạn chế gì đối với mục đích sử dụng được lựa chọn [14]
+ Đánh giá mức độ thích hợp đất đai: Là quá trình xác định mức độ thích hợp cao hay thấp của các kiểu sử dụng đất cho một đơn vị đất đai và tổng hợp cho toàn khu vực dựa trên so sánh yêu cầu kiểu sử dụng đất với đặc điểm các đơn vị đất
đai [13]
1.1.3 Các nghiên cứu về đánh giá đất đai trên thế giới
Tiếp theo những thành tựu nghiên cứu của ngành khoa học đất, công tác đánh giá đất trên thế giới đã được quan tâm và chú trọng Các phương pháp đánh giá đất mới đã dần phát triển thành lĩnh vực nghiên cứu liên ngành mang tính hệ thống (tự nhiên - kinh tế - xã hội) nhằm kết hợp các kiến thức khoa học về nguồn tài nguyên đất và việc sử dụng đất Đã có rất nhiều các phương pháp đánh giá đất đai khác nhau, nhưng nhìn chung có hai khuynh hướng chính và ba phương pháp cơ bản sau:
- Đánh giá đất đai về mặt tự nhiên nhằm xác định tiềm năng và mức độ thích hợp của đất đai với các mục đích sử dụng đất cụ thể
- Đánh giá đất đai về mặt kinh tế là đánh giá hiệu quả về mặt kinh tế cho các loại hình sử dụng đất đai xác định, trên cơ sở tính toán các chỉ tiêu kinh tế nhằm so sánh về mặt giá trị trong các kiểu sử dụng đất ở cùng một loại để tìm ra kiểu sử dụng đất có hiệu quả nhất Đánh giá đất đưa ra nhiều phương pháp khác nhau để giải thích hoặc dự đoán việc sử dụng tiềm năng đất đai, song có thể tóm tắt đánh giá đất trong ba phương pháp cơ bản sau:
+ Đánh giá về mặt tự nhiên theo định tính, chủ yếu dựa trên sự xét đoán chuyên môn
+ Đánh giá đất dựa theo phương pháp thông số xác định các đặc tính, tính chất đất đai
+ Đánh giá đất theo định lượng dựa trên các mô hình, mô phỏng [21]
Trang 18* Tình hình đánh giá đất đai ở Liên Xô (cũ)
Đánh giá đất đai ở đây đã xuất hiện từ trước thế kỷ thứ 19 Tuy nhiên, đến những năm 60 của thế kỷ 20, việc phân hạng và đánh giá đất đai mới được quan tâm
và tiến hành trên cả nước Liên Xô cũ Theo quan điểm đánh giá đất của Docutraep (1846 - 1903) bao gồm 3 bước:
- Đánh giá lớp phủ thổ nhưỡng (so sánh các loại thổ nhưỡng theo tính chất
đó phương pháp đánh giá đất của Docutraep đã được thừa nhận và phổ biến ra nhiều nước trên thế giới Ngoài những ưu điểm trên, phương pháp đánh giá đất của Docutraep cũng còn một số hạn chế như quá đề cao khả năng tự nhiên của đất mà chưa xem xét đầy đủ các khía cạnh kinh tế - xã hội của việc sử dụng đất Mặt khác, phương pháp đánh giá đất đai cho điểm cụ thể chỉ đánh giá được đất hiện tại mà không đánh giá được đất đai trong tương lai, tính linh động kém vì chỉ tiêu đánh giá đất đai ở các vùng cây trồng khác nhau là khác nhau, do đó không thể chuyển đổi việc đánh giá đất đai giữa các vùng khác nhau
* Tình hình đánh giá đất đai ở Mỹ:
Hệ thống đánh giá phân loại đất đai theo tiềm năng của Hoa Kỳ đã được Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) đưa ra vào những năm 1961, phương pháp đánh giá
phân hạng đất đai có tên: “Đánh giá tiềm năng đất đai” Cơ sở đánh giá tiềm năng
sử dụng đất đai dựa vào các yếu tố hạn chế trong sử dụng đất, chúng được phân ra thành 2 nhóm:
Trang 19- Nhóm các yếu tố hạn chế vĩnh viễn: bao gồm những hạn chế không dễ
thay đổi và cải tạo được như: độ dốc, độ dày tầng đất, lũ lụt và khí hậu khắc nghiệt, v.v…
- Nhóm những yếu tố hạn chế tạm thời: có khả năng khắc phục được bằng
các biện pháp cải tạo trong quản lý đất đai như độ phì, thành phần dinh dưỡng và những trở ngại về tưới tiêu, v.v …
Nguyên tắc chung của phương pháp là các yếu tố nào có mức độ hạn chế lớn
là yếu tố quyết định mức độ thích hợp mà không cần tính đến những khả năng thuận lợi của các yếu tố khác có trong đất Đánh giá tiềm năng đất đai ở Mỹ được ứng dụng rộng rãi theo 2 phương pháp:
* Phương pháp tổng hợp
Phương pháp này lấy năng suất của cây trồng trong nhiều năm làm tiêu chuẩn (thường là 10 năm) Phương pháp này có chú ý đến việc phân hạng đất đai cho từng loại cây trồng cụ thể trong đó lấy cây lúa mì làm cây trồng chính và xác định mối tương quan giữa đất đai và giống lúa mì được trồng trên đó để đề ra những biện pháp kỹ thuật làm tăng năng suất
* Phương pháp đánh giá đất theo từng yếu tố
Phương pháp này dựa vào việc thống kê các yếu tố tự nhiên, yếu tố kinh tế
để so sánh dựa vào một mốc lợi nhuận tối đa theo thang điểm 100 hoặc 100% để làm mốc so sánh lợi nhuận ở các loại đất khác nhau
- Điều kiện tự nhiên: Độ dày tầng đất, thành phần cơ giới, độ thẩm thấu, chất lẫn vào, lượng độc tố trong đất, địa hình, mức độ xói mòn và khí hậu
- Điều kiện kinh tế xã hội: năng suất cây trồng chính trong 10 năm, thống kê thu nhập và chi phí
Phương pháp đánh giá tiềm năng sử dụng đất đai (USDA) tuy không đi sâu vào từng loại sử dụng cụ thể đối với sản xuất nông nghiệp và hiệu quả kinh tế - xã hội, song trong đánh giá rất quan tâm đến những yếu tố hạn chế bất lợi của đất đai và việc xác định các biện pháp bảo vệ đất, đây cũng chính là điểm mạnh của phương pháp đối với mục đích duy trì bảo vệ môi trường và sử dụng đất bền vững [3]
Trang 20* Ở Anh: có hai phương pháp đánh giá đất là dựa vào sức sản xuất tiềm tàng
của đất hoặc dựa vào sức sản xuất thực tế của đất
Phương pháp đánh giá đất căn cứ trên thống kê sức sản xuất thực tế của đất
và năng suất bình quân nhiều năm làm chuẩn (10 năm) so sánh với năng suất thực tế trên đất để cho phân hạng Tuy nhiên phương pháp này còn gặp nhiều khó khăn vì sản lượng, năng suất không những phụ thuộc vào giống cây trồng mà còn phụ thuộc vào khả năng của người sử dụng đất
Phương pháp đánh giá đất dựa vào thống kê sức sản xuất tiềm tàng của đất, trên cơ sở đó người ta chia đất làm các hạng, mỗi hạng được xem xét bởi những yếu
tố hạn chế của đất đối với sản xuất nông nghiệp trong vùng nghiên cứu Tuy nhiên phương pháp này cũng khó xác định do con người thực hiện các biện pháp đầu tư thâm canh có thể tiềm năng của đất [14]
Như vậy, các nước trên thế giới đều đã nghiên cứu về đánh giá đất và phân hạng đất đai ở mức vĩ mô tới vi mô, từ đánh giá chung cả nước cho đến chi tiết ở các vùng cụ thể, các loại hình sử dụng đất đặc thù Hạng đất phân ra đều thể hiện tính thực tế theo từng điều kiện cụ thể theo mục tiêu đánh giá
1.1.4 Đánh giá đất theo FAO
Nhận thức rõ vai trò quan trọng, cấp thiết của thực tiễn sản xuất là cần phải
có những giải pháp hợp lý trong sử dụng đất nhằm hạn chế và ngăn chặn những tổn thất đối với tài nguyên đất đai, về tính cấp thiết của đánh giá đất đai, phân hạng đất đai làm cơ sở cho công tác quy hoạch sử dụng đất đai, qua quá trình nghiên cứu, các chuyên gia về đánh giá đất đã nhận thấy cần có những cuộc thảo luận quốc tế nhằm đạt được sự thống nhất và tiêu chuẩn hóa các phương pháp đánh giá đất, tổ chức Nông Lương của Liên Hiệp quốc (FAO) đã tổ chức tổng hợp kinh nghiệm của nhiều nước và đề ra phương pháp đánh giá đất đai dựa trên cơ sở phân hạng thích hợp đất đai Cơ sở của phương pháp này là so sánh giữa yêu cầu sử dụng đất với chất lượng đất, gắn với phân tích các khía cạnh về kinh tế - xã hội, môi trường để lựa chọn phương án sử dụng đất tối ưu
Trong quy trình đánh giá đất của FAO, điều tra đất được xem là một phần thiết yếu và yêu cầu thu thập những thông tin từ nhiều phương diện của đất đai bao
Trang 21gồm: thổ nhưỡng, địa hình, địa mạo, các điều kiện địa chất, khí hậu, thủy văn, lớp phủ thực vật và cả các điều kiện kinh tế - xã hội có liên quan đến mục đích sử dụng đất Năm 1996 tổng kết về các hệ thống đánh giá đất trên đây, FAO đã có nhận định: Các nhân tố kinh tế, xã hội, môi trường yêu cầu phải cân nhắc kỹ trong quá trình đánh giá đất Tiêu chí đánh giá sử dụng đất bền vững của FAO (1976) như sau:
Hiệu quả kinh tế:
- Giá trị sản xuất (sản lượng * giá sản phẩm)
- Tổng chi phí biến đổi (đầu tư cơ bản và hàng năm)
- Thu nhập hỗn hợp
- Hiệu quả đồng vốn
- Giá trị ngày công lao động
Tác động đến xã hội:
- Công ăn việc làm (số công lao động/ha/năm)
- Khả năng chấp nhận của người lao động (thu hút lao động)
- Khả năng chấp nhận sản phẩm của thị trường
- Phân hóa xã hội (phân chia giàu nghèo, khả năng đầu tư và nợ vốn)
- Các xung đột xã hội và môi trường (mang lại hiệu quả kinh tế cao trước mắt nhưng tổn hại lâu dài đến môi trường, v.v…)
Môi trường – sinh thái:
- Xét trên quan điểm hệ sinh thái (nhân tạo hay tự nhiên, năng suất sinh học cao hay thấp, dễ hay khó bị thay đổi, v.v…)
- Tác động đến môi trường; Nước thải (hàm lượng các chất thải độc hại có trong nước thải); Đất, trầm tích (hàm lượng dinh dưỡng và các chất thải độc hại có trong đất theo độ sâu tầng đất); Dịch bệnh (có hay không khả năng xảy ra dịch bệnh trong sản xuất)
- Điều kiện tự nhiên khác (thay đổi bề mặt tự nhiên của đất, v.v…)
Trang 22- Tác động đến sức khỏe con người (khả năng tạo ra các chất độc hại đến sức khỏe con người)
Từ những tiêu chí trên tùy theo từng quốc gia hay vùng lãnh thổ có thể hình thành bộ chỉ tiêu đánh giá các hệ thống sử dụng đất khác nhau phù hợp với điều kiện thực tế (FAO, 1976)
* Ưu điểm của phương pháp đánh giá đất theo FAO
* Nguyên tắc đánh giá đất đai theo FAO
- Đánh giá đất đai đòi hỏi phương pháp kết hợp đa ngành, trên quan điểm tổng hợp với sự phối hợp và tham gia của các nhà khoa học ở các lĩnh vực khác nhau như nông học, lâm nghiệp, kinh tế và xã hội học, v.v… rất cần thiết cho việc đánh giá bao quát và chính xác
+ Việc đánh giá đất phải xem xét tổng hợp các yếu tự nhiên, kinh tế - xã hội, các loại hình sử dụng đất được lựa chọn phải phù hợp với mục tiêu phát triển, bối cảnh và đặc điểm về tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng nghiên cứu
- Đánh giá đất đai phải dựa trên cơ sở phát triển bền vững: Trong quá trình đánh giá phải xem xét đến các quá trình thoái hóa đất và ô nhiễm đất, hiệu quả kinh
tế - xã hội và môi trường của loại hình sử dụng đất
- Đánh giá đất đai bao hàm cả việc so sánh hai hoặc nhiều kiểu sử dụng đất khác nhau Có thể so sánh giữa vùng sản xuất nông nghiệp năng suất cao với phát triển các khu công nghiệp, nhà máy, v.v… để lựa chọn loại hình thích hợp nhất
Trang 23+ Các loại hình sử dụng đất cần được mô tả và định rõ các thuộc tính về kỹ thuật, kinh tế, xã hội
- So sánh các LUT khác nhau trong vùng nghiên cứu, mức độ thích hợp của đất đai được đánh giá và phân hạng cho các LUT cụ thể
+ Việc đánh giá khả năng thích nghi đất đai yêu cầu có sự so sánh hiệu quả kinh tế giữa các LUT về lợi nhuận thu được và đầu tư cần thiết (về phân bón, lao động, thuốc trừ sâu, máy móc, v.v…)
(1) Đối với đất nông nghiệp:
- Mức độ thích hợp của đất đai được đánh giá và phân hạng cho các loại hình
sử dụng đất (các LUT) cụ thể
- Việc đánh giá đòi hỏi sự so sánh giữa lợi nhuận thu được và đầu tư cần thiết trên các loại đất khác nhau (phân bón, lao động, thuốc trừ sâu, máy móc, v.v…)
- Yêu cầu phải có quan điểm tổng hợp, nghĩa là phải có sự phối hợp và tham gia đầy đủ của các nhà nông học, lâm nghiệp, kinh tế và xã hội học
- Việc đánh giá đất phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng, khu vực đất nghiên cứu
Khả năng thích hợp đưa vào sử dụng phải được dựa trên cơ sở bền vững, các nhân tố sinh thái trong sử dụng đất phải được dùng để quyết định [14], [21]
* Yêu cầu đạt được trong đánh giá đất đai theo FAO
+ Thu thập được những thông tin phù hợp về tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu
+ Đánh giá được sự thích hợp của vùng đất đó với các mục tiêu sử dụng khác nhau theo mục tiêu và nhu cầu của con người
+ Phải xác định được mức độ chi tiết đánh giá đất theo quy mô và phạm vi quy hoạch là toàn quốc, tỉnh, huyện hay cơ sở sản xuất
+ Đánh giá đất có thể thực hiện ở các cấp khác nhau và thể hiện kết quả trên các bản đồ tỷ lệ khác nhau tuỳ theo mục đích [21]
Trang 24* Các phương pháp đánh giá đất đai theo FAO
Sự liên hệ giữa những khảo sát tài nguyên và phân tích kinh tế - xã hội cũng như đối chiếu với cách thức mà các loại hình sử dụng đất được xây dựng có thể tiến hành theo phương pháp 2 bước hoặc phương pháp song song )
- Phương pháp 2 bước: bao gồm bước thứ nhất chủ yếu là đánh giá điều kiện
tự nhiên, sau đó là bước thứ 2 bao gồm những phân tích về kinh tế - xã hội
- Phương pháp song song: Trong phương pháp này, sự phân tích mối liên hệ
giữa đất đai và loại hình sử dụng đất được tiến hành đồng thời với phân tích kinh tế - xã
hội [21]
1.1.5 Khái quát tình hình nghiên cứu về đất đai ở nước ta
* Khái quát về tình hình nghiên cứu đánh giá đất đai ở nước ta trước khi ứng dụng quy trình đánh giá đất theo FAO
Ở Việt Nam, khái niệm về phân hạng đất đã có từ lâu qua việc phân chia “tứ hạng điền, lục hạng thổ” Từ xa xưa, trong quá trình sản xuất, nhân dân ta đã đánh giá đất với cách thức hết sức đơn giản như: đất tốt, đất xấu [20]
Trong thời kỳ Pháp thuộc, việc nghiên cứu đánh giá đất đã được tiến hành ở những vùng đất đai phì nhiêu, những vùng đất có khả năng khai phá với mục đích xác định tiềm năng sử dụng để lựa chọn đất lập đồn điền, nông trại Từ những năm
1930, các chuyên gia thổ nhưỡng người Pháp đã có những công trình nghiên cứu về đất và sử dụng đất ở vùng Đông Nam Bộ nhằm mục đích cho việc xây dựng các đồn điền cao su, tiêu biểu là các công trình của Henry (1931) [14]
Sau khi Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, hòa bình lập lại, ở miền Bắc, Vụ Quản lý Ruộng đất, Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, Viện Quy hoạch và Thiết
kế Nông nghiệp đã tiến hành nghiên cứu phân hạng đất các vùng sản xuất nông nghiệp (áp dụng phương pháp đánh giá đất đai của Docutraep)
Từ đầu những năm 1970, Bùi Quang Toản cùng nhiều nhà khoa học khác của Viện Thổ nhưỡng Nông hóa đã nghiên cứu và thực hiện công tác phân loại đánh giá phân hạng đất đai ở 23 huyện, 286 hợp tác xã và 9 vùng chuyên canh Qua đó đã
đề ra quy trình kỹ thuật gồm 4 bước: (1) Thu thập tài liệu, (2) Vạch khoanh đất
Trang 25(với hợp tác xã) hoặc khoanh đất (với vùng chuyên canh), (3) Đánh giá và phân hạng chất lượng đất, (4) Xây dựng bản đồ phân hạng đất Các yếu tố tham gia trong đánh giá, phân hạng đất được chia thành 4 mức độ thích hợp và được phân chia thành 4 hạng [1]
- Có thể khái quát về tình hình quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp và đánh giá đất nông nghiệp ở Việt Nam trong thời kỳ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung (thập kỷ những năm 60, 70, 80), hầu hết các tỉnh đã xây dựng bản đồ quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp (ngắn, trung và dài hạn) hay bản đồ quy hoạch các cây trồng
cụ thể nhằm phục vụ chiến lược phát triển kinh tế của tỉnh mình Những quy hoạch
đó đã góp phần thay đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, phục vụ đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp, góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp của nước ta Tuy nhiên, quy hoạch trước đây có nhiều hạn chế, còn nặng về thổ nhưỡng mà ít hoặc chưa quan tâm đến đất đai, sử dụng đất đai và đánh giá đất đai nên những quy hoạch đó chưa có độ chính xác cao và các phương pháp xây dựng chưa được thống nhất và chuẩn hoá
* Khái quát về tình hình nghiên cứu đánh giá đất đai ở nước ta khi ứng dụng quy trình đánh giá đất theo FAO (từ năm 1990 đến nay)
Từ đầu những năm 1990, các nhà khoa học đất Việt Nam đã nghiên cứu và ứng dụng phương pháp đánh giá đất đai của FAO dựa vào điều kiện tự nhiên, kinh
tế - xã hội cụ thể ở Việt Nam Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, áp dụng phương pháp đánh giá đất của FAO để đánh giá tài nguyên đất đai trên các phạm vi khác nhau
Trong chương trình 48C (1989), Viện Thổ nhưỡng Nông hóa do Vũ Cao Thái chủ trì đã nghiên cứu đánh giá, phân hạng đất Tây Nguyên với cây cao su, cà phê, chè, dâu tằm Đề tài đã vận dụng phương pháp đánh giá phân hạng đất đai của FAO để đánh giá khái quát tiềm năng đất đai của vùng [1]
Từ năm 1990 đến nay, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp đã thực hiện nhiều công trình nghiên cứu đánh giá đất trên phạm vi toàn quốc với 9 vùng sinh thái và nhiều vùng chuyên canh theo các dự án đầu tư [1]
Trang 261.2 ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 1.2.1 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất
Đánh giá tình hình sử dụng đất giai đoạn 2000 - 2010 chúng ta nhận thấy bên cạnh những mặt tích cực đã đạt được thì việc sử dụng đất vẫn có những biểu hiện thiếu bền vững như sau:
* Đối với khu vực đất nông nghiệp: Mặc dù đó tập trung thực hiện việc dồn
điền, đổi thửa thành công ở nhiều nơi nhưng nhìn chung thửa đất nông nghiệp còn quá nhỏ, toàn quốc còn tới 70 triệu thửa đất nông nghiệp, bình quân mỗi hộ có từ 3
- 15 thửa, do đó canh tác manh mún, chưa tạo điều kiện thuận lợi để công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn
Chưa có sự đầu tư để sử dụng đạt hiệu quả cao đối với 1.168.529 ha đất nương rẫy, việc sử dụng đất chưa trở thành động lực để xoá đói, giảm nghèo và tiến tới phát triển bền vững kinh tế - xã hội miền núi, vùng sâu, vùng xa
Việc chuyển một bộ phận đất chuyên trồng lúa cho mục đích phát triển công nghiệp và dịch vụ chưa được cân nhắc một cách tổng thể đang là vấn đề cần chấn chỉnh Cần cân nhắc hiệu quả đầu tư cả về hiệu quả kinh tế lẫn xã hội và môi trường, khuyến khích đầu tư hạ tầng cơ sở để chuyển đổi đất nông nghiệp kém hiệu quả sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp, hạn chế việc tận dụng hạ tầng hiện
có tại các vùng đất nông nghiệp có năng suất cao để đầu tư công nghiệp và dịch vụ
Mặc dù diện tích rừng tăng nhưng rừng tự nhiên vẫn tiếp tục bị tàn phá và suy giảm chất lượng ở nhiều nơi, mức độ phục hồi chậm; nơi có nhiều đất có thể trồng rừng thì mật độ dân cư thưa, hạ tầng quá thấp kém
Việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để thực hiện các dự án đầu tư phi nông nghiệp chưa giải quyết được quyền lợi, việc làm, ổn định tại khu vực nông thôn Nhiều nơi trao cho người nông dân tiền bồi thường, hỗ trợ về đất khá cao nhưng không định hướng được phương thức sử dụng nên đã dẫn đến tình trạng tiêu cực trong sử dụng
* Đối với đất phi nông nghiệp: đất dành cho đầu tư hạ tầng kỹ thuật chưa
thực sự được chú ý trong quy hoạch dài hạn Đặc biệt, đầu tư hạ tầng cho khu vực
Trang 27nông thôn còn thiếu nên chưa bảo đảm điều kiện để giải quyết xoá đói, giảm nghèo thực sự cho người nông dân
Vấn đề đất ở, nhà ở đang là khâu yếu và có nhiều vướng mắc hiện nay, đặc biệt là nạn đầu cơ đất ở, đất dự án nhà ở kéo dài trong nhiều năm, mặc dù gần đây
đã được chấn chỉnh nhưng hậu quả để lại khá nặng nề, nhất là giá đất vẫn còn ở mức cao làm hạn chế những cố gắng về nhà ở, đất ở
Nhiều tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam bộ còn có tình trạng đất ở, đất nghĩa địa, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp chưa được quy hoạch, vẫn còn phân bố rải rác, xen kẽ giữa các cánh đồng và trong khu dân cư, ảnh hưởng đến vệ sinh môi trường, khó nâng cấp đời sống cho người nông dân trong khu dân cư nông thôn với hạ tầng đồng bộ
Quỹ đất dành cho xã hội hoá các lĩnh vực giáo dục - đào tạo, y tế, văn hoá, thể dục - thể thao chưa được quy hoạch đầy đủ, chưa thực hiện đúng các chính sách
ưu đãi về đất cho các nhà đầu tư thuộc các lĩnh vực này
Đến nay, cả nước đã và đang xây dựng khoảng 249 khu công nghiệp, khu chế xuất tập trung nhưng vẫn đang ở trạng thái bị động vì thiếu các nhà đầu tư có tiềm lực lớn; sử dụng đất còn lãng phí do chưa có quy hoạch đồng bộ; nhiều khu công nghiệp đã hình thành nhưng mức độ lấp đầy rất thấp; còn nhiều nhà đầu tư được bàn giao đất nhưng không sử dụng hoặc sử dụng không đúng tiến độ, thiếu hiệu quả; giá thuê đất gắn với hạ tầng ở nhiều nơi còn quá cao, chưa thu hút nhà đầu
tư sản xuất vào khu công nghiệp; vấn đề bảo vệ môi trường chưa được chú trọng ngay từ đầu nên đang phát sinh nhiều hậu quả xấu về môi trường, khó khắc phục
Về đối tượng sử dụng đất ngoài hộ gia đình, cá nhân, phần lớn là do các tổ chức trong nước sử dụng, diện tích đất do tổ chức, các nhân nước ngoài sử dụng chiếm tỷ trọng không đáng kể (toàn quốc có 43.364 ha đất do tổ chức, cá nhân nước ngoài sử dụng, chiếm 0,13% tổng diện tích đất tự nhiên)
Chất lượng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất không cao, thiếu tính hệ thống, chưa có lời giải tốt về hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường, chưa bảo đảm tính liên thông giữa cả nước với các tỉnh
Trang 28Sự chuyển cơ cấu sử dụng đất nói chung đã đảm bảo tính phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhưng hiệu quả chưa cao Hiện tượng chuyển đổi mục đích sử dụng đất tự phát, chạy theo lợi ích riêng vẫn chưa được khắc phục Nhiều tỉnh để dự trữ quỹ đất phi nông nghiệp nhiều hơn khả năng đầu tư nên dẫn tới tình trạng hoặc là “quy hoạch treo” do không triển khai được hoặc là tình trạng “dự án treo” do giao đất cho chủ đầu tư thiếu năng lực Việc chuyển mục đích sử dụng đất
ào ạt từ đất lúa sang đất nuôi tôm tại một số tỉnh ven biển đã dẫn đến ô nhiễm môi trường, mặn hoá diện tích trồng lúa, người nông dân không còn đất để sản xuất nông nghiệp mà nuôi tôm lại bị bệnh dịch, thua lỗ
Như vậy, để ngăn chặn tình trạng sử dụng lãng phí tài nguyên đất do sự thiếu hiểu biết cũng như do chạy theo lợi ích trước mắt của người dân gây ra, Nhà nước cần có những quyết định hướng dẫn cụ thể về sử dụng đất và quản lý đất đai sao cho nguồn tài nguyên này có thể được khai thác tốt nhất cho nhu cầu của con người hiện tại và trong tương lai phục vụ phát triển kinh tế - xã hội một cách hiệu quả
* Vấn đề sử dụng đất nông thôn, đô thị:
- Sử dụng đất nông thôn: Hiện nay, trong quá trình công nghiệp, hiện đại hoá
đất nước, diện tích đất nông nghiệp đang giảm mạnh do thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, xây dựng đô thị và xây dựng kết cấu hạ tầng Các vùng kinh tế trọng điểm là khu vực có diện tích đất nông nghiệp thu hồi lớn nhất, chiếm khoảng 50% diện tích đất thu hồi trên toàn quốc Những ruộng nhất đẳng điền, toàn những bờ xôi ruộng mật được thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất, sân golf hoặc xây các khu nhà để kinh doanh
Hiện tượng quy hoạch treo, quy hoạch tràn lan là khá phổ biến Thời gian triển khai công tác thu hồi đất kéo dài nhiều năm gây bất lợi đến tâm lý cũng như việc ổn định đời sống và việc làm của các hộ dân nằm trong diện bị thu hồi đất Các yếu tố trượt giá hầu như chưa được tính đến trong định giá bồi thường cho người dân Công tác tuyển dụng lao động tại các địa phương có đất bị thu hồi chưa có hiệu quả Lao động nông nghiệp nhìn chung không đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp Chỉ mới có một tỷ lệ rất nhỏ (khoảng vài %) chuyển được sang nghề mới và tìm được việc làm ổn định Việc làm và thu nhập của các hộ sống chủ yếu dựa vào
Trang 29sản xuất nông nghiệp, là đối tượng bị tác động lớn nhất sau khi thu hồi đất và gặp nhiều khó khăn trong tìm kiếm việc làm mới Trong quá trình bồi thường, hỗ trợ tái định cư, nhiều nơi lại thiên về bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư mà chưa cân đối quyền lợi với người dân bị thu hồi đất
Quy hoạch xây dựng nông thôn mới theo bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới đang được các địa phương triển khai thực hiện Tuy nhiên, do trước đây ở khu vực nông thôn công tác quy hoạch chưa được coi trọng đúng mức nên có nhiều công trình, khu dân cư, hạ tầng đã được hình thành, xây dựng tuỳ tiện, gây khó khăn cho công tác lập quy hoạch mới
- Sử dụng đất ở và đất giao thông đô thị: Trong 30 năm qua, mặc dù thời
gian đầu gặp nhiều khó khăn nhưng hàng năm Nhà nước đó rất quan tâm đến việc đầu tư cho xây dựng nhà ở và các cơ sở hạ tầng tại các đô thị Trong những năm gần đây với cơ chế mới, đất ở đô thị cũng tăng lên nhanh chóng do Nhà nước cấp đất và
mở rộng thị trường bất động sản cho người dân tự do mua bán nhưng đồng thời thấy
rõ quỹ đất đô thị đã ngày càng bị thu hẹp
Giao thông đô thị là một yếu tố quan trọng quyết định hình thành cơ cấu đô thị và sự phát triển kinh tế - xã hội đô thị, là yếu tố tác động trực tiếp với đời sống thường nhật của người dân đô thị nhưng đất giao thông đô thị hiện nay còn ở mức thấp chỉ chiếm trên dưới 10% đất đô thị Theo dự báo, tỷ lệ đất giao thông đô thị ở nước ta trong tương lai phải đạt 15 - 20% diện tích đô thị, bình quân diện tích giao thông đầu người là khoảng 15 - 20 m2 Nhưng hiện nay ở Hà Nội và nhiều đô thị bình quân diện tích đất giao thông trên đầu người thấp, đó là một trong những nguyên nhân gây ra hiện tượng tắc nghẽn giao thông thường xuyên tại các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh,…
1.2.2 Đánh giá loại hình, hiệu quả và mức độ thích hơp sử dụng đất đai
Loại hình sử dụng đất:
Loại hình sử dụng đất đai được xác định thống nhất trong cả nước Sau khi điều tra phân loại thực trạng sử dụng đất đai, tùy thuộc vào các loại hình sử dụng đất sẽ đánh giá các chỉ tiêu:
Trang 30- Tỷ lệ (%) diện tích so với toàn bộ quỹ đất, tổng diện tích đất đang sử dụng
và diện tích của các loại đất chính
- Đặc điểm phân bố các loại đất trên địa bàn lãnh thổ
- Bình quân diện tích các loại đất trên đầu người
Tỷ lệ SD loại đất (%) =
Tổng diện tích đất đai Tổng diện tích gieo trồng hàng năm
sử dụng là tốt nhất và có lợi nhất Để đánh giá mức độ thích hợp sẽ dựa vào kết quả đánh giá mức độ thích nghi của đất đai
Trang 31Chương 2: PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT VÀ ĐÁNH GIÁ
TIỀM NĂNG ĐẤT ĐAI CỦA TỈNH THANH HÓA
2.1 PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT TỈNH THANH HÓA
2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Thanh Hoá là tỉnh nằm ở cực Bắc vùng Duyên hải Bắc Trung bộ, cách Thủ
đô Hà Nội 153km về phía Bắc, về phía Nam cách Thành phố Vinh tỉnh Nghệ An
138 km, cách thành phố Hồ Chí Minh 1.560km Thanh Hoá Nằm ở vị trí từ 19,18ođến 20,40o vĩ độ Bắc; 104,22o đến 106,40o kinh độ Đông Có ranh giới như sau:
- Phía Bắc giáp 3 tỉnh: Ninh Bình, Hoà Bình, Sơn La
- Phía Nam giáp tỉnh Nghệ An
- Phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn - CHDCND Lào
- Phía Đông giáp biển Đông
Thanh hoá nằm trong vùng ảnh hưởng của những tác động từ vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, các tỉnh Bắc Lào và vùng trọng điểm kinh tế Trung Bộ, ở vị trí cửa ngõ nối liền Bắc Bộ với Trung Bộ, có hệ thống giao thông thuận lợi như: Đường sắt xuyên Việt, đường Hồ Chí Minh, các quốc lộ 1A, 10, 45, 47, 217, cảng biển nước sâu Nghi Sơn và hệ thống sông ngòi thuận lợi cho lưu thông Bắc Nam, với các vùng trong tỉnh và đi quốc tế Thanh Hoá có sân bay Sao Vàng và quy hoạch mở thêm sân bay Thanh Hóa thuộc địa bàn 3 xã Hải Ninh, Hải An, Hải Châu huyện Tĩnh Gia phục vụ cho kinh tế Nghi Sơn và toàn tỉnh
Thanh Hoá có địa hình khá phức tạp, bị chia cắt nhiều và nghiêng theo hướng Tây Bắc - Đông Nam: Phía Tây Bắc có những đồi núi cao trên 1.000 m đến 1.500 m, thoải dần, kéo dài và mở rộng về phía Đông Nam; đồi núi chiếm trên 3/4 diện tích tự nhiên của cả tỉnh Địa hình Thanh Hoá có thể chia thành 3 vùng rõ rệt: Vùng núi và trung du, vùng đồng bằng và vùng ven biển
Thanh Hoá nằm ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với 2 mùa rõ rệt: Mùa hạ nóng, ẩm mưa nhiều và chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam khô, nóng Mùa đông lạnh và ít mưa
Trang 32Thanh Hóa là tỉnh có mạng lưới sông suối khá dầy, với địa hình dốc từ Tây Bắc xuống Đông Nam có 264 khe suối chằng chịt thuộc 4 hệ thống sông chính là sông Hoạt, sông Mã, sông Chu, sông Yên, sông Bạng Trong đó, các suối chủ yếu như: Suối Sim, suối Quanh, suối Xia… cùng một số sông như: Sông Luồng, Sông
Lò, Hón Nủa, sông Bưởi, sông Cầu Chày, sông Chu, sông Khao, sông Âm, sông Đạt… với tổng chiều dài 881km, tổng diện tích lưu vực là 39.756 km2, tổng lượng nước trung bình hàng năm 19,52 tỉ m3 Sông suối Thanh Hóa chảy qua nhiều địa hình phức tạp, mật độ lưới sông trung bình khoảng 0,5 - 0,6 Km/Km2, có nhiều vùng có mật độ lưới sông rất cao như vùng sông Âm, sông Mực tới 0,98 - 1,06 Km/Km2 Đây là tiềm năng lớn cho phát triển thủy điện, tuy nhiên có sự biến động lớn giữa các năm và các mùa trong năm
SƠ ĐỒ VỊ TRÍ TỈNH THANH HÓA
Trang 332.1.2 Các nguồn taì nguyên thiên nhiên
a) Tài nguyên đất
Theo kết quả phúc tra thổ nhưỡng theo phương pháp của FAO- UNESCO, tỉnh Thanh Hoá có 8 nhóm đất chính với 20 loại đất khác nhau và được phân bố như sau:
- Nhóm đất cát: Diện tích 20.247 ha, chiếm 1,82% diện tích tự nhiên, phân
bố tập trung ở các huyện ven biển Đất có thành phần cơ giới nhẹ, nghèo chất dinh dưỡng, khả năng giữ nước, giữ màu kém nên năng suất cây trồng thấp Song đất
có thành phần cơ giới nhẹ nên dễ canh tác, thích hợp cho nhiều loại cây trồng như hoa màu, cây công nghiệp, cây ăn quả, trồng rừng ven biển và nuôi trồng thủy sản Tuy nhiên trong quá trình canh tác cần tăng cường bón phân cho đất và áp dụng các biện pháp cải tạo đất
- Nhóm đất mặn: Diện tích 21.456 ha, chiếm 1,93% diện tích tự nhiên, phân
bố chủ yếu ở vùng ven biển Đất thường có độ phì nhiêu khá cao, thành phần cơ giới từ trung bình tới thịt nặng, độ pH từ 6,0 - 7,5 thích hợp cho trồng cói, nuôi trồng thuỷ sản
và phát triển rừng ngập mặn
- Nhóm đất phù sa: Diện tích 191.216 ha, chiếm 17,2% diện tích tự nhiên,
phân bố chủ yếu ở các vùng đồng bằng, ven biển Đất có thành phần cơ giới thường
là thịt nhẹ, ít chua, giàu chất dinh dưỡng nên có chất lượng tốt, thích hợp với nhiều loại cây trồng, nhất là các loại cây ngắn ngày như lương thực, hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày khác
- Nhóm đất glây: Diện tích 2.583 ha, chiếm 0,23% diện tích đất tự nhiên
Hầu hết đất đã bị bạc màu cần được cải tạo đưa vào sản xuất nông lâm nghiệp
- Nhóm đất đen: Diện tích 5.903 ha, chiếm 0,53% diện tích tự nhiên Đất bị
lầy thụt và bùn, cần cải tạo đưa vào sản xuất nông lâm nghiệp
- Nhóm đất xám: Diện tích 717.245 ha, chiếm 64,6% diện tích tự nhiên toàn
tỉnh, phân bố chủ yếu ở vùng trung du miền núi, thuộc các huyện Quan Hoá, Bá Thước, Như Xuân, Thường Xuân, Cẩm Thuỷ, Ngọc Lặc, Thạch Thành, Lang Chánh Đất có tầng dầy, dễ thoát nước, thích hợp cho phát triển lâm nghiệp và các cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả như cao su, cà phê, chè, cam, chanh, dứa
Trang 34- Nhóm đất đỏ: Diện tích 37.829 ha, chiếm 3,4% diện tích tự nhiên, phân bố
ở độ cao trên 700 mét tại các huyện: Quan Hoá, Lang Chánh, Thường Xuân Nhóm đất này có tầng dày, thành phần cơ giới từ nhẹ đến trung bình, ít chua nên thích hợp với nhiều loại cây trồng và khoanh nuôi tái sinh rừng Tuy nhiên, do phân bố ở địa hình cao, chia cắt mạnh và dễ bị rửa trôi nên việc khai thác sử dụng gặp nhiều khó khăn và cần có biện pháp bảo vệ đất
- Nhóm đất tầng mỏng: Diện tích 16.537 ha, chiếm 1,49% diện tích đất tự
nhiên, phân bố chủ yếu ở vùng trung du và các dãy núi độc lập ở đồng bằng ven biển như Nông Cống, Thiện Hoá, Yên Định, Hoằng Hoá, Hà Trung, Hậu Lộc, Tĩnh Gia, Đông Sơn Đặc điểm của nhóm đất này là có tầng mỏng và bị xãi mòn trơ sỏi
đá, trên cần được đầu tư, cải tạo và đưa vào khai thác
- Đất khác: Diện tích 97.610 ha, chiếm 8,79% diện tích tự nhiên toàn tỉnh,
trong đó núi đá vôi là 37.909 ha và ao, hồ, sông suối là 60.701 ha
b) Tài nguyên nước
- Tài nguyên nước mặt
Tài nguyên nước mặt tỉnh Thanh Hoá tương đối phong phú và đa dạng Ngoài 4 hệ thống sông chính cung cấp nước là sông Hoạt, sông Mã, sông Chu, sông Yên, sông Lạch Bạng còn có 264 suối nhỏ và 1.760 hồ chứa lớn nhỏ khác nhau, tạo
ra một mạng lưới thủy văn dày đặc và phân bố khá đều trên địa bàn tỉnh Ngoài ra, trong tỉnh còn một hệ thống hồ chứa nước cấp quan trọng quốc gia và cấp tỉnh như:
Hồ sông Mực, hồ Yên Mỹ, hồ Đồng Ngư, hồ Duồng Cốc, hồ Thung Bằng, hồ Cửa Đặt, hồ Cống Khê
Bình quân trữ lượng nước trên đầu người trên địa bàn tỉnh là thấp so với trung bình cả nước, chỉ có 5.600 m3/người.năm (cả nước: 11.000 m3/người.năm) và còn tiếp tục giảm Do vậy, ngay từ bây giờ cần có những biện pháp hữu hiệu để điều tiết và sử dụng tiết kiệm tài nguyên nuớc nhằm đảm bảo cho nhu cầu phát triển trong tương lai
- Tài nguyên nước dưới đất
Như đã trình bày ở trên, nước dưới đất trong phạm vi tỉnh Thanh Hóa chủ yếu được tàng trữ ở tầng chứa nước lỗ hổng và tầng chứa nước khe nứt, trữ lượng nước dưới đất ở một số vùng được thống kê trong bảng sau:
Trang 35Bảng 2 1: Trữ lượng nước dưới đất ở một số vùng trong tỉnh Thanh Hóa
(Nguồn: Báo cáo tổng hợp kết quả điều tra địa chất thủy văn tỉnh Thanh Hóa, 2013)
Qua đó ta thấy trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa có những tầng giàu hoặc rất
giàu nước
- Tài nguyên nước khoáng, nước nóng
Cho đến nay vùng đồng bằng Thanh Hóa đã có 02 địa điểm phát hiện được nước khoáng, nước nóng như: Chà Khốt (Sơn Điện - Quan Sơn) và Yên Vực (Quảng Yên - Quảng Xương)
Điểm nước nóng Chà Khốt theo các tài liệu hiện có đều có quy mô nhỏ
Điểm nước khoáng Yên Vực được nhân dân phát hiện khi khoan nước từ những năm 1997 Diện tích gặp nước khoáng gần 1 km2 trên diện tích 03 thôn Làng Vực II, Chính Cảnh và Yên Trung Nước nằm trong tầng Laterits (đá ong) ở độ sâu
45 - 50m kể từ mặt đất Đây được đánh giá là điểm nước khoáng nóng có chất lượng tốt, lưu lượng đáng kể Theo đánh giá cảm quan của các nhà chuyên môn thì nước khoáng ở đây trong, không màu, không mùi, vị hơi lợ, thuộc loại nước Clorua
- Natri - Calci và được xếp vào loại nước khoáng silic khoáng hóa vừa
Diện tích điều tra (km 2 )
Tầng chứa nước
Trang 36c) Tài nguyên rừng
Với hơn 2/3 diện tích tự nhiên là đồi núi, tỉnh Thanh Hoá có tài nguyên rừng khá lớn, đóng vai trò hết sức quan trọng đối với việc phòng hộ đầu nguồn và phát triển kinh tế xã hội Theo kết quả kiểm kê đất đai về số liệu hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp năm 2013, diện tích đất có rừng toàn tỉnh là 585.592,1 ha; chiếm 52,62% diện tích đất nông nghiệp của tỉnh với tỷ lệ che phủ đạt 54% trong đó 183.378,7 ha là rừng phòng hộ, 84.919,8 ha là rừng đặc dụng và 317.293,6 ha là rừng sản xuất Rừng của Thanh Hóa rất phong phú và đa dạng về chủng loại rừng
và lâm sản, nhưng chất lượng rừng thấp Do địa hình phức tạp, giao thông cách trở nên công tác quản lý và bảo vệ rừng gặp nhiều khó khăn; Tình trạng đốt nương làm rẫy và khai thác lâm sản trái phép vẫn còn tái diễn
d) Tài nguyên biển
Thanh Hoá có bờ biển dài 102 km (từ cửa Càn, Nga Sơn đến Hà Nẫm, Tĩnh Gia); vùng lãnh hải rộng hơn 1,7 vạn km2 Vùng biển và ven biển Thanh Hoá có tài nguyên khá phong phú, đa dạng, trong đó nổi bật là tài nguyên thuỷ sản với tổng trữ lượng hải sản ước khoảng 140.000 – 165.000 tấn gồm cá, tôm, mực, Khả năng nuôi trồng thủy hải sản cũng lớn, tới hàng nghìn ha, có điều kiện hình thành khu vực nuôi trồng, đánh bắt và chế biến tập trung Ngoài ra Thanh Hóa còn có tiềm năng lớn về tài nguyên du lịch biển và tiềm năng xây dựng cảng và dịch vụ hàng hải, trong đó đáng chú ý nhất là khu vực Nghi Sơn Đây là khu vực được đánh giá
có điều kiện thuận lợi nhất của vùng ven biển từ Hải Phòng đến Nam Hà Tĩnh Đây
là lợi thế rất lớn để Thanh Hoá phát triển kinh tế nhanh, hội nhập mạnh với khu vực và với thế giới
e) Tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên khoáng sản ở Thanh Hoá khá phong phú về chủng loại và đa dạng về cấp trữ lượng Hiện toàn tỉnh có tới 257 mỏ và điểm quặng, với 42 loại khoáng sản, trong đó có một số loại có ý nghĩa quốc tế và khu vực như Crôm, đá ốp lát, đô lô mít, chì kẽm, thiếc, vonfram, antimoan, đá quý Nhiều mỏ có trữ lượng lớn
và phân bố tập trung, cho phép khai thác với quy mô công nghiệp như đá vôi, đất
Trang 37sét làm xi măng Đây là một lợi thế lớn của tỉnh trong việc phát triển công nghiệp khai khoáng, công nghiệp sản xuất xi măng, công nghiệp vật liệu xây dựng
Ngoài ra, còn có nhiều loại khoáng sản khác như chì kẽm, Ăngtimon, Niken - Coban, đồng, thiếc, thiếc-vonfram, Manhezit, Asen, thuỷ ngân, Barit, Pyrit, Berin, Môlip đen, cát kết (chất trợ dung), sét trắng, Fensfat, cát thuỷ tinh,
đá xây dựng, đá granit, đá thạch anh và than chì, than đá và than bùn tuy trữ lượng không lớn nhưng có giá trị cao, có thể khai thác ở quy mô nhỏ phục vụ phát triển công nghiệp địa phương
f) Tài nguyên du lịch, di sản văn hóa
Thanh Hoá là miền đất có nền văn hoá rất lâu đời Các nền văn hoá Đông Sơn, văn hoá Đa Bút cùng với những địa danh gắn liền với những tên tuổi của các anh hùng hào kiệt, các danh nhân như Lê Hoàn, Lê Lợi, Lê Văn Hưu, Đào Duy Từ, Triệu Trinh Nương, Dòng họ Trịnh, dòng họ Nguyễn (thời kỳ Hậu Lê) đã để lại nhiều dấu ấn trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam Trong đó, nhiều di tích đã được Nhà nước xếp hạng và đang được trùng tu, tôn tạo ở quy mô quốc gia như khu Lam Kinh, thành Nhà Hồ, thái miếu nhà Lê Đây là những tài sản vô cùng quý giá, không chỉ có ý nghĩa lịch sử, giáo dục mà còn có thể khai thác phục vụ phát triển du lịch
Đặc biệt Thanh Hoá có nền văn hoá đa dân tộc có ý nghĩa to lớn đối với du lịch Mỗi dân tộc có những nền văn hoá đặc trưng riêng gồm cả văn hoá phi vật thể
và văn hoá vật thể Những thiết chế văn hoá xã hội truyền thống của từng dân tộc như: thiết chế Bản mường của người Thái dựa trên lãnh thổ công, thiết chế lang đạo của người Mường, thiết chế dòng họ của người H’Mông những phong tục tập quán trong sản xuất, sinh hoạt và trong tín ngưỡng, hội hè cùng với những món ăn đặc sản mang đậm nét của mỗi dân tộc là những tài nguyên du lịch nhân văn rất hấp dẫn đối với khách du lịch, nhất là các du khách quốc tế Thêm vào đó, tinh thần mến khách và lòng nhiệt thành của con người Thanh Hoá cũng là nền tảng vững chắc cho ngành du lịch phát triển
Trang 382.1.3 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội
2.1.3.1 Tăng trưởng kinh tế
Trong hơn 20 năm đổi mới, cùng với xu thế phát triển chung của cả nước, kinh tế của tỉnh Thanh Hoá đã từng bước ổn định và đang trên đà phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt Đặc biệt từ năm 2001 trở lại đây, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV và XVI, kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội các giai đoạn 2001– 2005 và 2006 – 2010, đến nay kinh tế của tỉnh có bước phát triển khả quan
Tốc độ tăng trưởng bình quân 2001-2005 là 9,1%/năm và 11,3% giai đoạn 2006-2010; trong đó nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,5%/năm, công nghiệp - xây dựng tăng 15,6%/năm và dịch vụ tăng 10,2%/năm Điều đáng chú ý là tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh có xu hướng tăng dần vào các năm cuối kỳ của kế hoạch 5 năm, tạo đà tăng trưởng thuận lợi cho thời kỳ tiếp theo
Bảng 2.2: Tốc độ tăng trưởng kinh tế thời kỳ 2001 – 2010
Nguồn: Niên giám Thống kê tỉnh Thanh Hoá và số liệu Sở KH&ĐT, 2011
Nhìn chung cơ cấu kinh tế của Thanh Hoá thời gian qua có sự chuyển dịch đúng hướng, phù hợp với lợi thế của tỉnh, góp phần bảo đảm cho nền kinh tế phát triển nhanh phù hợp với yêu cầu đẩy mạnh tiến trình CNH, HĐH Tuy nhiên, tỉnh cần có những chính sách và giải pháp tích cực để tăng nhanh tỷ trọng các ngành
Trang 39công nghiệp và dịch vụ, đồng thời giảm dần mức chênh lệch bảo đảm phát triển bền vững giữa các vùng miền trong tỉnh
2.1.3.2 Thực trạng phát triển các ngành chính
- Nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp phát triển khá ổn định, góp phần quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm cho nhân dân, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân gia đoạn 2001-2005 là 5,4%/năm; dự kiến 2006-2010 đạt 5,6%/năm, trong đó ngành chăn nuôi phát triển khá cao (9,5%), góp phần đáng kể vào tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Sản xuất nông nghiệp đang có bước chuyển biến tích cực theo hướng sản xuất hàng hoá
Diện tích, năng suất, sản lượng các cây trồng chủ yếu trong tỉnh đều tăng, diện tích đất canh tác được mở rộng, góp phần tăng nhanh giá trị sản xuất Trong trồng trọt đã chú trọng việc đẩy mạnh thâm canh, áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, chuyển đổi mạnh cơ cấu cây trồng, cơ cấu mùa vụ và đạt kết quả tốt Sản xuất lương thực đạt những thành tựu quan trọng, bảo đảm yêu cầu về an ninh lương thực trên địa bàn, có khối lượng hàng hóa đáng kể tham gia thị trường lương thực cả nước và xuất khẩu, hỗ trợ phát triển chăn nuôi Các mô hình chăn nuôi trang trại, chăn nuôi tập trung công nghiệp và bán công nghiệp phát triển mạnh; công tác thú y luôn được quan tâm
Bảng 2.3: Một số chỉ tiêu phát triển nông lâm nghiệp và thủy sản
Nguồn: Niên giám Thống kê Thanh Hoá ; Sở KH&ĐT, 2011
Mặc dù sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản phát triển khá toàn diện, đạt tốc độ tăng trưởng cao, các mô hình sản xuất có hiệu quả được xây dựng và nhân
Trang 40rộng ở nhiều địa phương trong tỉnh, cơ sở hạ tầng phục vụ nông nghiệp, thủy sản được tăng cường và ứng dụng các kỹ thuật - công nghệ mới vào sản xuất nhưng sản xuất nông nghiệp vẫn còn nhiều hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển Chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp đúng hướng, song chủng loại sản phẩm còn tương đối đơn điệu, chất lượng chưa cao, sức cạnh tranh của sản phẩm còn hạn chế Công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư đến với người dân chưa kịp thời, công tác thanh tra, kiểm tra thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, giống cây trồng chưa thực hiện thường xuyên và còn nhiều bất cập Cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ nông lâm nghiệp tuy đã được cải thiện, song nhìn chung vẫn còn thiếu và yếu chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất Chưa phát huy tốt tiềm năng về khai thác và nuôi
trồng thuỷ sản của tỉnh, nhất là tiềm năng nuôi trồng thủy sản trên biển
- Công nghiệp
Trong những năm qua, mặc dù có những khó khăn do biến động giá cả và sự cạnh tranh gay gắt trong cơ chế thị trường, nhưng sản xuất công nghiệp trên địa bàn vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, bình quân giai đoạn 2001-2005 GTSX tăng 16,9%/năm Tính đến năm 2005, trên địa bàn Thanh Hoá có 53.450 cơ
sở sản xuất công nghiệp, tăng 6.362 cơ sở so với năm 2000, trong đó có 25 doanh nghiệp quốc doanh (Trung ương: 15 doanh nghiệp, địa phương: 10 doanh nghiệp)
và 6 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Trong 2 năm 2006-2007, năng lực sản xuất công nghiệp được tăng lên đáng kể, một số cơ sở lớn đã hoàn thành và đi vào sản xuất như: Nhà máy bia Tây Bắc ga, công suất 10 triệu lít/năm; Dây chuyền 2 nhà máy gạch ceramic tại KCN Lễ Môn; Nhà máy xi măng Công Thanh; Tổng giá trị sản xuất công nghiệp năm 2009 đạt 7250 tỷ đồng (giá 94), đạt tốc độ tăng trưởng thời kỳ 2006-2010 là 16,9%
Nhiều cơ sở công nghiệp lớn tiếp tục mở rộng quy mô sản xuất như Nhà máy
xi măng Bỉm Sơn, nhà máy bia Thanh Hóa mở thêm dây truyền 2 tại khu công nghiệp Nghi Sơn, công suất 30 triệu lít/năm; nhà máy bao bì PP, công ty may Việt Thanh Một số cơ sở công nghiệp lớn đã khởi công xây dựng như nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn, nhà máy đóng mới và sửa chữa tầu biển Nghi Sơn tạo tiền đề cho tăng trưởng nhanh hơn trong thời gian tới