1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Rèn luyện năng lực tạo lập văn bản cho học sinh trong dạy học bài thao tác lập luận so sánh (SGK ngữ văn 11)

68 1,4K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 759,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để rèn luyện năng lực tạo lập văn bản cho HS trong dạy học bài: “ Thao tác lập luận so sánh” trong sách Ngữ Văn lớp 11 theo hướng tiếp cận năng lực mới là nhằm góp phần thực hiện những

Trang 1

TÓM TẮT KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ Văn

Người hướng dẫn khoa học

ThS DƯƠNG THỊ MỸ HẰNG

HÀ NỘI, 2015

Trang 2

cô giáo hướng dẫn trực tiếp - Thạc sỹ Dương Thị Mỹ Hằng

Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc của mình tới cô giáo Dương Thị Mỹ Hằng, người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn em hoàn thành khoá luận

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong tổ Phương pháp dạy học Ngữ văn, khoa Ngữ văn, Trường ĐHSP Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập, nghiên cứu

Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2015

Người thực hiện

Nguyễn Thị Dung

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những nội dung tôi trình bày trong khoá luận là kết quả nghiên cứu của bản thân, dưới sự hướng dẫn của cô giáo Dương Thị Mỹ Hằng Những nội dung này không trùng với kết quả nghiên cứu của tác giả khác

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về công trình nghiên cứu của cá nhân mình

Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2015

Người thực hiện

Nguyễn Thị Dung

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG KHOÁ LUẬN

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Đóng góp của khóa luận 8

NỘI DUNG 9

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC RÈN LUYỆN NĂNG LỰC TẠO LẬP VĂN BẢN CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC BÀI: “THAO TÁC LẬP LUẬN SO SÁNH” (SGK NGỮ VĂN 11) 9

1.1 Năng lực 9

1.1.1 Khái niệm năng lực 9

1.1.2 Phân loại năng lực 10

1.1.3 Cấu trúc năng lực 14

1.2 Kỹ năng 17

1.2.1 Khái niệm kỹ năng 17

1.2.2 Quá trình hình thành kỹ năng 18

1.3 Khái niệm về thao tác 18

1.4 Lập luận 19

1.5 Thao tác lập luận 20

1.6 Văn nghị luận 20

1.6.1 Khái niệm văn bản nghị luận 20

1.6.2 Các thao tác trong văn nghị luận 22

1.7 Kết luận chương 1 30

Trang 6

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VIỆC RÈN LUYỆN NĂNG LỰC TẠO LẬP VĂN BẢN CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC BÀI: “THAO

TÁC LẬP LUẬN SO SÁNH” (SGK NGỮ VĂN 11) 31

2.1 Thực trạng dạy học rèn luyện năng lực tạo lập văn bản cho học sinh trong dạy học bài: "Thao tác lập luận so sánh" (SGK Ngữ văn 11) của giáo viên 31

2.1.1 Khảo sát, điều tra về việc dạy học bài: “Thao tác lập luận so sánh” của GV 31

2.1.2 Thực trạng học trong việc rèn năng lực tạo lập văn bản cho học sinh trong dạy học bài: "Thao tác lập luận so sánh" (SGK Ngữ văn 11) của học sinh 33

2.2 Nội dung dạy học bài: “Thao tác lập luận so sánh” (SGK Ngữ văn lớp 11) 34

2.2.1 Về chương trình và sách giáo khoa 34

2.2.2 Nhận xét 35

2.3 Kết luận chương 2 36

CHƯƠNG 3 NHỮNG PHƯƠNG HƯỚNG RÈN LUYỆN NĂNG LỰC TẠO LẬP VĂN BẢN CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC BÀI: “THAO TÁC LẬP LUẬN SO SÁNH” (SGK NGỮ VĂN 11) 37

3.1 Định hướng dạy học bài: “Thao tác lập luận so sánh” (SGK Ngữ văn 11) 37

3.1.1 Định hướng về mục tiêu dạy học bài: “Thao tác lập luận so sánh” (SGK Ngữ văn 11) 37

3.1.2 Định hướng về nội dung dạy học bài: “Thao tác lập luận so sánh” (SGK Ngữ văn 11) 38

3.1.3 Định hướng phương pháp dạy học bài: “Thao tác lập luận so sánh” (SGK Ngữ văn 11) 39

Trang 7

3.2 Hệ thống bài tập rèn luyện năng lực tạo lập văn bản cho học sinh trong

dạy học bài: "Thao tác lập luận so sánh" (SGK Ngữ Văn 11) 43

3.2.1 Dạng bài tập nhận diện 43

3.2.2 Bài tập vận dụng 47

3.2.3 Bài tập sáng tạo 48

3.3 Kết luận chương 3 52

KẾT LUẬN 54 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Mục tiêu của dạy học hiện nay là tạo ra những con người mới, phát triển

toàn diện, năng động, sáng tạo và thích ứng với mọi sự phát triển của khoa học; có năng lực cần thiết để bước vào cuộc sống Nghị quyết Trung ương 2 khóa VII ban chấp hành Trung ương Đảng đã chỉ rõ nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là xây dựng những con người có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, kỹ năng giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức kỷ luật… Vì vậy, việc học không đơn thuần là cung cấp kiến thức cơ bản cho học sinh mà qua đó giúp học sinh có một hướng tiếp cận, phương pháp mới phù hợp với bản thân Tránh hướng tiếp cận thụ động, làm theo yêu cầu của GV mà học sinh mất đi năng lực tiếp nhận bài học một cách khoa học và đúng đắn Để rèn luyện năng lực tạo lập văn bản cho HS

trong dạy học bài: “ Thao tác lập luận so sánh” trong sách Ngữ Văn lớp 11 theo

hướng tiếp cận năng lực mới là nhằm góp phần thực hiện những mục tiêu giáo dục

đã đề ra

1.2 Ngày nay, hòa cùng với sự phát triển của giáo dục và đào tạo trên thế

giới, công cuộc cải cách giáo dục ở nước ta đã được tiến hành thường xuyên phù hợp và đạt được những tiến bộ đáng kể Đặc biệt là Nghị Quyết số 29NQ/TW về:

“Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa,

hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã được hội nghị TW8 (khóaXI) thông qua, đặc biệt chú trọng dạy

học theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh Trước tình hình xã hội phát triển, yêu cầu cấp bách đạt ra là nền giáo dục phải không ngừng đổi mới nội dung cũng như phương pháp dạy học.Trong quá trình đổi mới đó, với tầm quan trọng to lớn của mình, môn Ngữ văn không thể là trường hợp ngoại lệ Khi tiến hành xây dựng lại nội dung chương trình môn văn thì phần Làm văn cũng được điều chỉnh về phương pháp cho phù hợp Một trong những nội dung mới và những phương pháp

Trang 9

2

phù hợp để rèn luyện năng lực - đặc biệt là năng lực tạo lập văn bản cho HS đã được triển khai trong phần Làm văn trong SGK Ngữ văn là hệ thống các thao tác lập luận dùng trong văn nghị luận như: thao tác lập luận phân tích, so sánh, bác bỏ, bình luận,… Trong đó nội dung thao tác lập luận so sánh là một thao tác lập luận khá mới mẻ đòi hỏi yêu cầu cao từ người tiếp nhận và GV cần truyền đạt đến học sinh được một phương hướng tiếp cận mới đặc biệt là năng lực tạo lập văn bản để

đáp ứng được nhu cầu giáo dục đề ra

1.3 So sánh là một thao tác lập luận quan trọng thường được sử dụng bên

cạnh những thao tác khác như thao tác lập luận, phân tích, bình luận… Trong thực

tế so sánh được sử dụng rất nhiều trong cuộc sống hằng ngày Bởi lẽ trong thế giới khách quan, các sự vật, hiện tượng tuy có những điểm chung, có liên quan mật thiết tới nhau nhưng giữa chúng lại có những nét riêng biệt Bởi vậy, trong quá trình nhận thức người ta phải mượn hoạt động so sánh đối chiếu để tìm ra những điểm giống và khác nhau giữa những đối tượng, rồi từ đó có những nhận xét, đánh giá chính xác về đối tượng Do đó, việc tiếp nhận bài học theo hướng tiếp cận mới đặc biệt là năng lực tạo lập văn bản là rất cần thiết, thiết thực Nhờ có phương pháp giúp học sinh tiếp cận theo hướng mới mà GV có thể rèn luyện cho học sinh năng lực tạo lập những bài văn hay, tạo ra sự hấp dẫn, lôi cuốn cho người đọc

Tuy nhiên, việc dạy Làm văn hiện nay chưa thực sự phát huy được năng lực của HS, dạy học Làm văn vẫn theo hướng truyền thống Để có thể đưa học sinh tiếp cận theo hướng năng lực mới thì cần đòi hỏi học sinh phải có năng lực xử lý thông tin khéo léo, tránh vận dụng khô cứng, gượng ép Mặt khác, người GV cần tìm ra được những phương hướng cụ thể để phát huy được tính tích cực, năng lực của HS Đòi hỏi GV phải có năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực

xã hội, năng lực cá thể Giáo viên không chỉ là người nắm chắc văn bản, kiến thức, cần truyền thụ mà cần có khả năng định hướng, dẫn dắt học sinh giải quyết các vấn

đề trong thực tiễn Đặc biệt, chú ý xây dựng câu hỏi định hướng cho học sinh chuẩn

bị bài, tránh phụ thuộc quá nhiều vào câu hỏi trong sách giáo khoa

Từ yêu cầu cụ thể đó, SGK Ngữ Văn 11 (tập1) đã giới thiệu những kiến thức

Trang 10

3

cơ bản về thao tác lập luận so sánh Tuy nhiên, từ việc nghiên cứu và tìm ra phương hướng học mời là cần thiết, bởi qua đó ta có thể đưa ra những cách trang bị kiến thức khoa học nhất giúp các em có thể lĩnh hội tốt bài học và vận dụng những kiến thức vào làm bài tập để hình thành những năng lực nhất định

Xuất phát từ nhu cầu bản thân, với tư cách sinh viên sư phạm Ngữ văn năm cuối , chuẩn bị hành trang cho người GV tương lai tôi nhận thấy việc nghiên cứu về một vấn đề phương pháp giảng dạy là rất cần thiết Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài:

“Rèn luyện năng lực tạo lập văn bản cho học sinh trong dạy học bài: "Thao tác lập luận so sánh" (SGK Ngữ Văn 11)” Tôi mong muốn, góp tiếng nói của mình vào công cuộc giáo dục, nâng cao chất lượng dạy học

2 Lịch sử vấn đề

Để có cơ sở khoa học cho việc rèn luyện năng lực tạo lập văn bản cho học

sinh trong dạy học bài: “Thao tác lập luận so sánh” (SGK Ngữ Văn 11), chúng tôi

tìm hiểu lịch sử nghiên cứu từ trước đến nay về vấn đề này

Năng lực là yếu tố cần thiết trong bất kỳ hoạt động nào Các nghiên cứu gần đây đều chỉ rõ và nhấn mạnh vai trò của năng lực để thành công trong học tập Dựa vào năng lực chung cho đến các năng lực thành phần, nghiên cứu của tác giả

Nguyễn Quang Việt (2009), Đánh giá kết quả học tập theo định hướng năng lực

hành nghề của học sinh trong các cơ sở dạy nghề, đã áp dụng vào công tác đào tạo

nghề, học nghề cũng cần phải có năng lực Tác giả nghiên cứu đã nhận diện một số vấn đề về thực trạng và đề xuất giải pháp thực hiện đánh giá kết quả học tập định hướng năng lực hành nghề trong các cơ sở nghề ở Việt Nam

Vấn đề về năng lực đã được nhiều tác giả đề cập tới như Dương Thu Mai

(2012), “Đổi mới đánh giá theo đường hướng tiếp cận năng lực của học sinh-

những vấn đề cơ bản và trọng tâm cho giáo dục phổ thông tại ViệtNam”; Vũ Thị

Phương Anh và Nguyễn Bích Hạnh (2004), Năng lực tiếng Anh của sinh viên các

trường đại học trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trước yêu cầu của một nền kinh

tế tri thức: Thực trạng và những giải pháp Đa phần các tác giả phản ánh xu hướng

mới để giáo dục đạt kết quả cao, đó là dựa vào năng lực

Trang 11

4

Đề cập đến năng lực cần hình thành cho HS trong dạy và học Làm văn trong

quyển “Phương pháp dạy học văn” (tập 1) của Phan Trọng Luận và Trương Dĩnh

nói đến hệ thống cấu trúc năng lực Ngữ văn cần hình thành cho HS Tác giả đã đưa

ra các năng lực tiếp nhận văn bản gồm: năng lực tri giác ngôn ngữ nghệ thuật, năng lực tái hiện hình tượng, năng lực liên tưởng, năng lực cảm thụ kết hợp với năng lực khái quát hoá các chi tiết nghệ thuật của tác phẩm trong tính chỉnh thể của nó, năng lực nhận biết loại thể, năng lực cảm xúc thẩm mĩ, năng lực tự nhận thức và năng lực sáng tạo văn bản

Nằm trong chuỗi nghiên cứu về năng lực và kiểm tra đánh giá là nghiên cứu của Bachman (1990); Boddy và Langham (2000) Trong đó, các tác giả đề cập đến thành phần năng lực của ngôn ngữ, bao gồm: năng lực tổ chức sử dụng cấu trúc ngữ pháp và ngôn từ; năng lực ngữ dụng và ngôn ngữ trong giao tiếp xã hội Cụ thể hơn, tác giả đã định nghĩa năng lực ngôn ngữ như là một cụm các thành tố được sử dụng trong giao tiếp thông qua ngôn ngữ, đồng thời một lần nữa tái khẳng định tác động của hình thức kiểm tra đánh giá với kết quả và quá trình học tập, các tác giả đã đặt ra câu hỏi liệu mục đích kiểm tra ngôn ngữ giao tiếp có thực sự khả thi? Kiểm tra ngôn ngữ giao tiếp nhằm mục đích cung cấp cho người kiểm tra những thông tin về năng lực của người học trong việc thực hiện những nhiệm vụ cụ thể bằng ngôn ngữ đích Tác giả T.Lobanova và Yu Shunin (2008) cho rằng, năng lực giao tiếp ngôn ngữ bao gồm các khả năng và kỹ năng giao tiếp Năng lực giao tiếp ngôn ngữ là cần thiết để lựa chọn nội dung học tập, hiểu rõ hơn về những kiến thức cần học, về loại kiến thức, kỹ năng, phẩm chất cần có cho những chuyên gia trẻ trong thế kỷ 21 Năng lực giao tiếp ngôn ngữ là một hệ thống riêng đầy đủ về những chiến lược giao tiếp bằng lời hoặc bằng cử chỉ giao văn hóa được quy định bởi khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ, kiến thức chuyên môn, kỹ năng, kinh nghiệm có được, thái độ và những đặc điểm riêng biệt của một cá nhân nhằm đạt được mục đích giao tiếp và hiểu nhau trong các tình huống giao tiếp trực tiếp hoặc gián tiếp.Theo nhóm tác giả, năng lực ngôn ngữ bao gồm: năng lực từ vựng, ngữ pháp, ngữ nghĩa, âm vị, chính tả

Ngoài những vấn đề bàn về một phương pháp mới là phát triển dựa vào năng

Trang 12

5

lực thì còn có một số nhà nghiên cứu về cách thức tạo lập văn bản và về “Thao tác

lập luận so sánh” (SGK Ngữ văn 11) Cụ thể như:

Trong cuốn “Làm văn” (NXB Giáo dục, 1989) của các tác giả Đình Cao, Lê

A đã đưa ra một hệ thống khái niệm, đặc điểm của văn học thường gặp Bên cạnh

đó, nhóm tác giả này còn nghiên cứu về cách thức tạo lập văn bản nói chung và cách thức tạo lập văn bản nói riêng Tuy nhiên, ở thời điểm nhóm tác giả nghiên cứu thì văn nghị luận vẫn ở các kiểu bài: bình luận, phân tích, chứng minh,… Cho nên, nghiên cứu đến từng thao tác lập luận vẫn còn chưa được làm rõ

Bàn về so sánh, các tác giả Trần Đình Sử (chủ biên), Phan Trọng Luận,

Nguyễn Minh Thuyết trong cuốn “Làm văn 12” (NXB Giáo dục, 2004) coi so sánh

như một cách luận chứng bên cạnh những cách khác như diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, nêu phản đề, phân tích nhân - quả… và đã chia so sánh thành 2 dạng: so sánh tương đồng và so sánh tương phản Để chúng minh quan điểm trên các tác giả đưa ra vấn đề lý thuyết, sau đó lấy ví dụ minh họa giúp người đọc dễ hình dung ra kiểu so sánh Theo các tác giả, so sánh tương đồng là từ một chân lý đã biết suy ra một chân lý tương tự có chung một logic bên trong Còn so sánh tương phản là đối

chiếu các mặt trái ngược nhau để làm nổi bật vấn đề mà mình muốn làm sang tỏ.[19] Tác giả Bảo Quyến trong cuốn: "Rèn luyện kỹ năng làm văn nghị luận”

(NXB Giáo Dục, 2014) đã quan niệm thao tác là một thao tác tổ chức nên bài văn nghị luận bên cạnh những thao tác khác như phân tích và tổng hợp, giải thích, chứng minh, bình luận… Tác giả quan niệm so sánh là thao tác đối chiếu tìm ra cái chung, cái khác biệt giữa các đối tượng, các vấn đề… So sánh còn giúp ta nhấn

mạnh nét đặc sắc, độc đáo trong ý kiến của mình

Các tác giả Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên), Đỗ Ngọc Thống, Lưu Đức Hanh

trong cuốn: “Muốn viết được bài văn hay” (NXB Giáo Dục, 2006) cũng trình bày sự

khác nhau giữa so sánh như một biện pháp tu từ để tạo ra hình ảnh với so sánh như một phương pháp, một cách trình bày khi viết bài văn nghị luận Theo tác giả, trong quá trình làm văn nếu gặp những vấn đề ghi rõ yêu cầu so sánh thì không nói làm

gì, điều đáng lưu ý là cả vấn đề không yêu cầu so sánh người viết cũng có thể vận

Trang 13

6

dụng so sánh như một biện pháp “lợi hại” có tác dụng rất lớn trong việc diễn đạt

nhằm làm sáng tỏ vấn đề mà mình cần nghị luận Bất kì ai, muốn cho bài viết của mình sinh động, phong phú và có sức thuyết phục thì cần phải sử dụng thao tác này, bởi nhiều khi chỉ với so sánh người viết có thể làm nổi bật vấn đề Nhưng để so sánh đạt hiệu quả người viết cần phải có vốn tri thức rộng và luôn cần nhớ so sánh để làm nổi bật vấn đề mà mình cần nghị luận, tránh lan man gây cảm giác khó chịu cho người đọc Những so sánh đạt hiệu quả là so sánh giúp người đọc cảm thấy tự nhiên

mà vấn đề vẫn được làm sáng tỏ, nổi bật được các góc cạnh và màu sắc của nó

Qua sự thống kê như trên ta thấy có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn

đề dạy học Làm văn theo hướng tiếp cận năng lực nói chung và nghiên cứu về

"Thao tác lập luận so sánh" nói riêng Hầu hết các công trình và bài viết đều đưa ra

những cơ sở theo hướng tiếp cận năng lực Đồng thời, xác định những định hướng chung nhất về nội dung cũng như phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng

lực trong việc dạy học Làm văn

Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu về năng lực và tìm hiểu về so sánh

mà chúng tôi tập hợp mới chỉ là những định hướng, là chìa khóa hết sức quý báu để chúng tôi có cái nhìn khái quát, đúng đắn khi triển khai và hoàn thành khóa luận Vì

vậy, chúng tôi thấy cần thiết đi sâu nghiên cứu đề tài: “Rèn luyện năng lực tạo lập văn bản cho học sinh trong dạy học bài: "Thao tác lập luận so sánh" (SGK Ngữ Văn lớp 11)” với hi vọng tìm ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học Làm văn ở THPT

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc trình bày những tri thức cơ bản về thao tác lập luận so sánh, chúng tôi muốn vận dụng việc tổ chức dạy học theo hướng tiếp cận năng lực theo nội dung này cho học sinh THPT đặc biệt là học sinh lớp 11 Qua đó, góp phần giúp học sinh có đủ kiến thức và tự tin sử dụng thao tác lập luận so sánh cũng như vận dụng kết hợp thao tác lập luận này với thao tác lập luận khác để tạo ra những văn bản nghị luận đạt yêu cầu có giá trị cao

Trang 14

7

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài, khóa luận có những nhiệm vụ chủ yếu sau:

- Trình bày hệ thống kiến thức về thao tác lập luận so sánh

- Vận dụng những tri thức đó vào dạy học để rèn luyện năng lực tạo lập văn bản cho học sinh trong dạy học bài: “Thao tác lập luận so sánh” (SGK Ngữ Văn lớp 11)

- Đánh giá hiệu quả của việc vận dụng các tri thức đó vào dạy học theo hướng tiếp cận năng lực về tạo lập văn bản

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Xuất phát từ nội dung của đề tài, chúng tôi tập trung nghiên cứu việc rèn luyện năng lực tạo lập văn bản cho học sinh trong dạy học bài: “Thao tác lập luận

so sánh" (SGK Ngữ Văn lớp 11)

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi cho phép của đề tài chúng tôi tìm hiểu về những kiến thức chung về thao tác lập luận so sánh theo hướng tiếp cận để rèn luyện năng lực tạo lập văn bản cho HS Và việc vận dụng kết hợp thao tác lập luận này với thao tác lập luận khác (thao tác lập luận phân tích trong SGK Ngữ văn lớp 11) Trên cơ sở đã định hướng nghiên cứu chúng tôi tiến hành tìm ra các phương hướng dạy học bài:

“Thao tác lập luận so sánh” trong SGK Ngữ Văn 11 theo hướng năng lực về tạo lập

văn bản

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện nhiệm vụ mà đề tài đặt ra, chúng ta sử dụng các phương pháp:

- Phương pháp nghiên cứu lý luận để nghiên cứu tài liệu nhằm thu thập thông tin dựa trên những cơ sở lý luận, hiểu được thành tựu và kết quả nghiên cứu của những đề tài liên quan đến vấn đề chúng ta đang tìm hiểủ về rèn luyện năng lực tạo lập văn bản cho HS trong dạy học bài: “Thao tác lập luận so sánh” (SGK Ngữ Văn

lớp 11)

Trang 15

8

- Phương pháp tổng hợp được dùng trong việc nghiên cứu rèn luyện năng lực tạo lập văn bản cho HS nhằm nghiên cứu và thu thập thông tin về tài liệu cần thiết

để tổng hợp, khái quát những kiến thức có liên quan một cách, đúng đắn phù hợp

với vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp phân tích ngôn ngữ để hiểu được những công trình đã nghiên

cứu về vấn đề rèn luyện năng lực tạo lập văn bản cho HS trong dạy học bài: "Thao

tác lập luận so sánh" (SGK Ngữ Văn lớp11) có những thành tựu, đóng góp nào cần

được tiếp thu, học hỏi và những đóng góp riêng của đề tài đang nghiên cứu

- Phương pháp khảo sát thực nghiệm sư phạm là một phương pháp thu thập thông tin được thực hiện trong quan sát, trải nghiệm thực tế Đối tượng mà đề tài dùng phương pháp thực nghiệm đó là HS lớp 11 và GV tại trường THPT Văn Lâm

6 Đóng góp của khóa luận

trong quá trình tạo lập văn bản nghị luận theo hướng tiếp cận năng lực mới

Trang 16

9

NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC RÈN LUYỆN NĂNG LỰC TẠO LẬP VĂN BẢN CHO HỌC SINH TRONG

DẠY HỌC BÀI: “THAO TÁC LẬP LUẬN SO SÁNH”

(SGK NGỮ VĂN 11)

1.1 Năng lực

1.1.1 Khái niệm năng lực

Ở góc độ tâm lý học, nhiều tác giả có quan niệm chung về năng lực như sau:

“Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với yêu cầu của

một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có hiệu quả cao”[12]

Theo đó, năng lực bao gồm những thuộc tính tâm lý và sinh lý tuơng ứng với những đòi hỏi của một hoạt động nhất định, trong một bối cảnh, tình huống nhất định, chứ không phải tất cả những thuộc tính tâm lý, sinh lý của con người Tuy nhiên, năng lực không phải là sinh ra đã có, mà được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động trong một bối cảnh cụ thể

Ở góc độ giáo dục học: “Năng lực là một hệ thống các cấu trúc tinh thần bên

trong và khả năng huy động các kiến thức, kỹ năg nhận thức, kỹ năng thực hiện thành công các hoạt động trong một bối cảnh cụ thể” [22]

Như vậy ở góc độ này, năng lực là sự tích hợp và kết nối nhu cầu bên ngoài (yêu cầu của bối cảnh, tình huống cụ thể) với các đặc điểm cá nhân (kiến thức, kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hành và thái độ, cảm xúc, động cơ, giá trị, đạo đức)

để thực hiện thành công các nhiệm vụ thực tiễn Và nhấn mạnh, các đặc điểm cá nhân có thể được hình thành và phát triển thông qua quá trình giáo dục, hoạt động

và giao tiếp xã hội

Năng lực theo “Từ điển Tiếng Việt” năng lực được hiểu theo:

1 Là khả năng hoặc điều kiện chủ quan, tự nhiên sẵn có để thực hiện một loạt hoạt động nào đó: năng lực tư duy, năng lực tài chính,…

Trang 17

10

2 Phẩm chất sinh lý và trình độ chuyên môn tạo cho con người khả năng hình thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao: năng lực lãnh đạo, năng lực chuyên môn, năng lực sư phạm [11, 848]

Trong tâm lý học, năng lực là một vấn đề được quan tâm nghiên cứu nó có ý nghĩa thực tiễn và lý luận to lớn bởi sự phát triển năng lực của mọi thành viên trong

xã hội sẽ đảm bảo cho mọi người tự do lựa chon nghề nghiệp phù hợp với khả năng của cá nhân, làm cho hoạt động của cá nhân có kết quả cao hơn… và cảm thấy hạnh phúc khi lao động Tâm lý học Liên Xô từ năm 1936 đến 1941 có rất nhiều công trình nghiên cứu về những vấn đề năng lực, có thể điểm qua một số công trình nổi tiếng của các tác giả như: Năng lực toán học của V.A Crutexki, V.N Miaxisốp; Năng lực văn học của Coovaliốp; V.P Iaguncôva…, những công trình nghiên cứu này đưa ra các định hướng cơ bản về mặt lý luận và thực tiễn cho các nghiên cứu sau này của dòng Tâm lý học Liên Xô những nghiên cứu về năng lực

Năng lực được định nghĩa như sau: “Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc

đáo của cá nhân, phù hợp với yêu cầu của một hoạt động nhất định đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả” [10, 193]

1.1.2 Phân loại năng lực

Người ta chia năng lực ra làm nhiều mức độ khác nhau: năng lực, tài năng, thiên tài

- Năng lực là một mức độ nhất định của khả năng con người, biểu thị khả năng hoàn thành có kết quả một hoạt động nào đó

- Tài năng là mức độ năng lực cao hơn, biểu thị sự hoàn thành sáng tạo của một hoạt động nào đó

- Thiên tài là mức độ cao nhất của năng lực, biểu thị ở mức độ kiệt xuất, hoàn chỉnh của những vĩ nhân trong lịch sử nhân loại

Nhìn vào các CT thiết kế theo hưóng tiếp cận năng lực của các nước, có thể thấy năng lực được phân thành 2 loại chính: năng lực chung (general competence)

và năng lực chuyên biệt (subject-specìic competencíe)

Trang 18

11

1.1.2.1 Năng lực chung

Năng lực chung là năng lực cơ bản, thiết yếu giúp cá nhân có thể sống, làm việc và tham gia hiệu quả trong nhiều hoạt động và các bối cảnh khác nhau của đời sống xã hội, như năng lực nhận thức, nắng lực trí tuệ, năng lực về ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực giao tiếp, năng lực vận động Các năng lực này được hình thành và phát triển dựa trên bản năng di truyền của con người, quá trình giáo dục và trải nghiệm cuộc sống; đáp ứng yêu cầu của nhiều loại hình, hoạt động khác nhau

Các nhà giáo dục ở các nước (OECD) đề suất các tiêu chí xác định các năng lực cốt lõi như sau:

- Phải cần thiết đối với tất cả mọi thành viên của xã hội

- Phải tuân theo các giá trị văn hoá và kinh tế, đạo đức, tập quán, quy ước của xã hội

- Bối cảnh áp dụng không riêng cho các phong cách sống cá biệt, mà là những tình huống phổ biến nhất mà người công dân sẽ gặp phải trong cuộc sống

Năng lực này được hình thành và phát triển do nhiều môn học, liên quan đến nhiều môn học khác (nhà trường, gia đình, các đoàn thể, xã hội) Vì thế có nước gọi

là năng lực xuyên CT (Cross-curricular competencies) Hội đồng Châu Âu gọi là năng lực chính (key competence) Cũng cần lưu ý là khái niệm năng lực chính được nhiều nước trong khối EU sử dụng với các thuật ngữ như sau:[22]

- Năng lực nền tảng (soclesdecompétences)

- Năng lực chủ yếu (essentialcompetencies)

- Kỹ năng chính (keyskills)

- Kỹ năng cốt lõi (coreskills)

- Năng lực cơ sở (basccompetencises)

- Kỹ năng chuyển giao được (keytransferable skills)

Theo quan niệm của EU, mỗi năng lực chung cần: Góp phần tạo nên kết quả

có giá trị cho xã hội và cộng đồng; giúp cho cá nhân đáp ứng được đòi hỏi của một bối cảnh rộng lớn và phức tạp; chúng có thể không quan trọng với các chuyên gia, nhưng rất quan trọng với tất cả mọi người

Trang 19

Trong Làm văn, dạy học tạo lập văn bản là nhiệm vụ chủ yếu Muốn đạt hiệu quả giao tiếp, người viết phải lựa chọn ngôn ngữ cho phù hợp với đối tượng giao tiếp Trong khi tạo lập văn bản người viết/ người nói phải trả lời được câu hỏi: Mình viết cho ai đọc? Nói cho ai nghe? Những câu trả lời là căn cứ để người viết/ người nói lựa chọn phương tiện ngôn ngữ và thậm chí điều chỉnh cả nội dung giao tiếp sao cho phù hợp với đối tượng tiếp nhận

Không những năng lực chung còn được thể hiện ở nhân vật giao tiếp mà còn thể hiện ở hoàn cảnh giao tiếp Trong việc tạo lập văn bản hoàn cảnh giao tiếp chi phối các yếu tố ngôn ngữ Sự huy động và lựa chọn ngôn ngữ vào trong hoạt động giao tiếp là do hoàn cảnh giao tiếp quy định Có thể cùng một nội dung giao tiếp,

Trang 20

13

thậm chí cùng một nhân vật giao tiếp nhưng nếu giao tiếp theo nghi thức thì cách lựa chọn và tổ chức văn bản hoàn toàn khác với giao tiếp thông thường không theo nghi thức Như vậy, trong mỗi hoàn cảnh giao tiếp người tạo lập văn bản phải xác định được những câu nói phù hợp, tránh tạo ra những tình huống không thích hợp trong giao tiếp Trong dạy học Làm Văn, GV cần tạo ra những tình huống giao tiếp giả định để rèn luyện năng lực giao tiếp cho HS

Khi tạo lập văn bản để phát huy năng lực giao tiếp, để xác định hiện thực được nói tới, người nói/ người viết phải trả lời câu hỏi: nói/ viết về vấn đề gi? Gửi gắm điều (thông điệp) gì tới người nghe/ người đọc? Hiện thực được nói tới tạo nên

đề tài, chủ đề cho cuộc giao tiếp Tuỳ theo hiện thực được nói tới các nhân vật giao tiếp sẽ lựa chọn nội dung chi tiết cũng như phương tiện ngôn ngữ để giao tiếp

Mặt khác, trong quá trình tạo lập văn bản thì phương tiện giao tiếp đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên hiệu quả giao tiếp Việc sử dụng lựa chọn các phương tiện giao tiếp còn phụ thuộc rất lớn vào mục đích, nhân vât, nội dung và hoàn cảnh giao tiếp Hơn nữa, trình độ hiểu biết, khả năng sử dụng tiếng Việt của người tiếp nhận cũng ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng và hiệu quả của hoạt động giao tiếp

Tóm lại, hoạt động tạo lập văn bản để giao tiếp bị chi phối bởi rất nhiều yếu

tố, nhân tố giao tiếp khác nhau Các nhân tố đó không chỉ chi phối tới việc tạo lập văn bản ở người nói/ người viết mà còn là căn cứ cho việc tiếp nhận văn bản ở người nghe/ người đọc Đây chính là tiền đề quan trọng giúp người GV xây dựng những định hướng trong việc dạy Làm văn Thông qua việc rèn luyện năng lực tạo lập văn bản giúp cho HS phát huy năng lực giao tiếp của mình

Hoạt động giao tiếp của con người được thực hiện nhờ nhiều phương tiện khác nhau, nhưng quan trọng nhất đó là việc giao tiếp bằng ngôn ngữ - đây là phương tiện cơ bản, ưu tú nhất Chính vì vậy, mà việc dạy học để phát huy được năng lực giao tiếp ở HS qua mỗi bài học có thể đạt hiệu quả cao

1.1.2.2 Năng lực chuyên biệt

 Khái niệm chung

Năng lực chuyên biệt là những năng lực được hình thành và phát triển trên

Trang 21

14

cơ sở các năng lực chung theo hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu cao và sâu hơn cho một môn học / hoạt động nào đó Vì thế CT Qúebec gọi là năng lực môn học cụ thể (Subject- specìic competencíe) để phân biệt năng lực chuyên sâu và năng lực chung

VD: Năng lực chuyên biệt của môn Toán là tính toán Năng lực chuyên biệt của môn Ngữ văn là tạo lập văn bản, lĩnh hội văn bản

1.1.3 Cấu trúc năng lực

Nhà bác học Edisơn đã từng nói: “Thiên tài là 1% cảm hứng và 99% đổ mồ

hôi” Thật đúng như vậy muốn hoàn thành bất cứ công việc gì để đạt được kết quả

cao rất cần đến sự nỗ lực phấn đấu của con người Năng lực nói chung và năng lực nghề nghiệp nói riêng không có sẵn như một số nhà Tâm lý học tư sản quan niệm

mà nó được hình thành và phát triển qua hoạt động học tập, lao đông và trong các hoạt động nghề nghiệp Chúng ta có thể khẳng định rằng học hỏi và lao động không mệt mỏi là con đường phát triển năng lực nghề nghiệp của mỗi cá nhân Và theo tác giả Mạc Văn Trang thì năng lực nghề nghiệp được hình thành bởi 3 yếu tố:

- Tri thức chuyên môn

- Kỹ năng hành nghề

- Thái độ đối với nghề

Chỉ khi nào con người cố gắng phấn đấu để đạt có được những tri thức chuyên môn, có kỹ năng, kỹ xảo trong công việc, có thái độ đúng đắn đối với nghề thì mới thực sự trở thành người có năng lực Và năng lực không phải là thứ có sẵn bẩm sinh

mà phải trải qua quá trình rèn luyện của con người thì mới có được Quá trình này diễn ra trong một thời gian dài, xuất phát từ lòng ham học hỏi, khát vọng muốn hoàn thành công việc của mình tốt Làm bất cứ công việc gì cũng cần có năng lực

Như vậy, vấn đề đặt ra đối với các cơ sở đào tạo đặc biệt là các trường THPT nơi đào tạo ra các chuyên gia tương lai trong những lĩnh vực khoa học, công nghệ thì việc tổ chức chương trình đào tạo cần căn cứ vào hệ thống năng lực của từng

HS, có như vậy HS sau khi học xong những tri thức trên lớp biết vận dụng vào cuộc sống thì mới có năng lực phù hợp đáp ứng được đòi hỏi ngày càng cao của thị

Trang 22

15

trường Mặt khác, nó giúp cho xã hội có được những nhân tài góp công xây dựng Đất nước thêm giàu đẹp, văn minh

1.1.4 Năng lực chuyên biệt của môn Ngữ văn

Chương trình môn Ngữ văn này từ trước đế nay; từ cách hiểu chung về năng lực, có thể nói năng lực Ngữ văn là trình độ vận dụng các kiến thức, kĩ năng cơ bản

về văn học và tiếng Việt để thực hành giao tiếp trong cuộc sống Năng lực Ngữ văn gồm 2 năng lực bộ phận là: Năng lực (NL) tiếp nhận văn bản và Năng lực tạo lập văn bản

Về kiến thức, để tiếp nhận tốt một VB, HS cần nắm vững hệ thống kiến thức

cơ bản gồm:

- Kiến thức về tác phẩm văn học cụ thể;

- Kiến thức về lí luận văn học (khái niệm công cụ để tìm hiểu văn học);

- Kiến thức văn học sử (các giai đoạn, trào lưu, tác gia,…);

- Kiến thức văn hóa tổng hợp (hiểu biết về tiếng Viêt, kiến thức các môn khoa học cơ bản, kiến thức đời sống)

Về kĩ năng, HS cần được rèn luyện để đạt được các yêu cầu sau: Phải đọc nhiều, đọc có chọn lọc, biết hệ thống những gì đã đọc để tích lũy kiến thức tác phẩm, phải ghi nhớ chính xác những kiến thức đó Kiến thức về tác phẩm là rất quan trọng nó làm cơ sở tiền đề cho việc hình thành NL tiếp nhận VB Bên cạnh đó kiến thức văn học sử, lí luận văn học là điều kiện, là chìa khóa giúp HS tiếp nhận

Trang 23

16

VB chính xác, khoa học, dễ dàng hơn Về kĩ năng tiếp nhận VB, HS cần được rèn luyện cách nhận ra thông điệp nội dung và ý nghĩa của VB thông qua hệ thống ngôn ngữ, nhân vật, chi tiết, giọng điệu tác phẩm,… Từ cảm nhận chung, phân tích chi tiết các hình thức nghệ thuật đặc sắc, chỉ ra nội dung tiềm ẩn đến khái quát tổng hợp lại để nêu nhận xét, đánh giá về giá trị VB, độc đáo về nghệ thuật là một quá trình nhiều bước, cần có sự rèn luyện thường xuyên NL tiếp nhận VB liên quan đến NL chung, cốt lõi là NL đọc hiểu

Chương trình (CT) Ngữ văn ở Việt Nam quan niệm đọc hiểu là quá trình giải

mã VB, tiếp xúc trực tiếp với VB, thông hiểu cả nghĩa đen nghĩa bóng của VB; là toàn

bộ hoạt động cảm thụ, phân tích và tiếp nhận tác phẩm VB ở trường phổ thông Dạy đọc hiểu là nhằm giúp HS biết đọc các kiểu VB theo đặc trưng kiểu VB, nâng cao năng lực đọc và viết các VB thông dụng Đối tượng đọc hiểu trong CT, SGK Ngữ văn trung học là VB văn học bao gồm cả VB tác phẩm hư cấu (gồm thơ, truyện, kịch,…) và không hư cấu (hồi kí, văn nghị luận, VB nhật dụng, VB thuyết minh,…)

1.1.4.2 NL tạo lập VB

Tức là khả năng nói lên, viết ra những gì mình suy nghĩ Để nói và viết trước hết HS phải biết suy nghĩ trước một vấn đề trong cuộc sống hay trong văn học Suy nghĩ đúng, sâu sắc và biết dùng ngôn ngữ tiếng Việt thành thạo để diễn đạt, trình bày lại những suy nghĩ đó một cách rành mạch, thuyết phục Để rèn luyện NL tạo lập VB cần chú ý những kĩ năng cơ bản như kĩ năng tìm hiểu đề, phân tích đề văn;

kĩ năng tìm ý và lập dàn ý chi tiết cho bài viết; kĩ năng phát triển ý; kĩ năng trình bày,… Trong đó mỗi kĩ năng đều có vai trò riêng cần được rèn luyện thường xuyên,

kĩ lưỡng Như vậy, NL tạo lập VB tuy là NL chuyên biệt đặc thù nhưng bao giờ cũng có mối quan hệ tương hỗ chặt chẽ với NL chung, cốt lõi, như NL giao tiếp, NL thuyết trình, NL hợp tác, NL phê phán,…

Hai loại năng lực chung và năng lực riêng biệt luôn bổ sung, hỗ trợ cho nhau Tóm lại theo quan điểm của người viết, năng lực chính là khả năng con người có được để thực hiện một công việc nào đó Năng lực bao gồm hai yếu tố đó

là kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp Nguời có năng lực sẽ có cơ hội

và hoàn thành tốt mọi công việc

Trang 24

17

1.2 Kỹ năng

1.2.1 Khái niệm kỹ năng

Theo các định nghĩa của các nhà nghiên cứu,A.G Côvaliốp trong Tâm lí học

xã hội, NXBGD, 1976: “Kỹ năng là khả năng nắm được tri thức về hành động và

áp dụng hay lựa chọn phương thức để thực hiện hành động có kết quả” Tác giả

Hoàng Hữu Bội - đề tài cấp bộ, mã số b96-03-07 đã kết luận: “Kỹ năng là một khái

niệm biểu thị năng lực sử dụng hệ thống những tri thức, những dữ liệu, những khái niệm đã có để phát hiện những thuộc tính của các sự vật để giải quyết thành công các nhiệm vụ lý luận hay thực tiễn nhất định Đó là một quá trình thực thi một hệ thống các hành động và thao tác mà con người có thể sử dụng trong điều kiện mới đối với họ, là sự chỉnh hợp lý hoạt động của một chỉnh thể cá nhân dựa trên những tri thức và kinh nghiệm vốn có của họ”

→ "Kỹ năng" là một năng lực thực tiễn được kết tinh lại và "gửi" vào trong đối tượng Kỹ năng chỉ được hình thành khi chủ thể phát hiện ra sự logic vốn có trong chính nó

Nguồn gốc của kỹ năng chính là trong đối tượng, trong sự vật Từ khi con người phát hiện ra nó (mặc dù trước đó nó vẫn tồn tại khách quan) khi kỹ năng có thêm một "chỗ ở" thứ 2 là trong đầu óc của con người Để tiện lưư trữ cho các thế

hệ sau con người đã dùng ngôn từ, chủ nghĩa để gói gém nội dung kỹ năng lại ở trong sách, báo Sự gói ghém có thể tồn tại ở một hoặc một vài câu gọi là định nghĩa hoặc bằng một từ để đặt trên cho nó gọi là thuật ngữ

Kỹ năng diễn đạt mối quan hệ nội tại, logic giữa các yếu tố tạo nên kỹ năng ấy

=> Như vậy, kỹ năng không phải là cái có thể nhìn thấy được, đọc lên được

mà muốn có được kỹ năng thì phải tiến hành hoạt động để chiếm lĩnh kỹ năng (thông qua hành động học tập và phải lặp lại đúng chuỗi thao tác mà trước đó loài người đã phát hiện ra kỹ năng ấy Mỗi lần như vậy chủ thể có thêm một năng lực mới chưa hề có) [12]

Trang 25

18

1.2.2 Quá trình hình thành kỹ năng

1.2.2.1 Các nguyên tắc hình thành kỹ năng: Bao gồm 3 nguyên tắc

- Xác định chính xác đối tượng cần thiết chiếm lĩnh của HS thông qua từng bài giảng, trong đó đặc biệt phải xác định chính xác bản thân kỹ năng (logic của đối tượng) Bên cạnh đó cần xác định phương tiện, công cụ không thể thiếu cho việc tổ chức quá trinh hình thành kỹ năng

- Phải dẫn dắt HS một cách có ý thức qua tất cả các giai đoạn của hoạt động, nhất là hoạt động vật chất nhằm phanh phui logic của kỹ năng ra ngoài một cách cảm tính

- Vì thực chất của sự lĩnh hội kỹ năng là sự thống nhất giữa cái tổng quát với cái cụ thể cho nênn trong quá trình hình thành kỹ năng phải tổ chức tốt 2 giai đoạn: giai đoạn chiếm lĩnh cái tổng quát, giai đoạn chuyển cái tổng quát sang cái cụ thể

1.2.2.2 Các bước hình thành kỹ năng: Bao gồm các bước

- Cung cấp những lý thuyết cần thiết để hình thành kỹ năng

- “Làm mẫu”

- Mô phỏng lại những thao tác

- Tạo ra cho mình những kỹ năng cơ bản qua quá trình hình “chế biến” những lý thuyết được cung cấp

- Rèn luyện để hình thành những kỹ năng riêng cho bản thân qua các

“nguyên liệu” cung cấp

1.3 Khái niệm về thao tác

Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê (chủ biên) thì thao tác được định nghĩa như sau: "thực hiện những động tác nhất định để làm một việc gì đó

trong sản xuất"

Trong tâm lý học, thao tác được xem như là một hệ thống những hành động trong tư duy Thao tác chính là cốt lõi của các cách thức hành động bị quy định và phụ thuộc chặt chẽ bởi điều kiện, phương tiện cụ thể

Thao tác là một yếu tố không thể thiếu trong hoạt động của con người Nó nảy sinh từ nhu cầu hoạt động của con người Nhu cầu ấy chi phối tới việc xác định

Trang 26

Theo SGK lớp 10 có định nghĩa khái niệm lập luận là: Lập luận là đưa ra các

lí lẽ, bằng chứng nhằm dẫn dắt người nghe (đọc) đến một kết luận nào đó mà người viết (nói) muốn đạt tới

Lập luận được định nghĩa rất khác nhau tùy theo ngữ cảnh của hiểu biết về lí tính như là một hình thức của tri thức Định nghĩa lôgic là hành động sử dụng lí tính

để rút ra một kết luận từ các tiền đề nhất định bằng cách sử dụng một phương pháp luận cho trước, và hai phương pháp tường minh được sử dụng rộng rãi nhất để đạt đến kết luận là lập luận suy diễn và lập luận quy nạp

+ Lựa chọn phương pháp luận: Cách thức lựa chọn, sắp xếp luận điểm, luận

cứ sao cho lập luận chặt chẽ, thuyết phục Ngoài ra còn có các phương pháp như:

Phương pháp ngoại suy: Dựa vào sự so sánh hai đối tượng, chúng ta có thể tìm ra được những thuộc tính giống nhau nào đó từ đó có thể suy ra chúng có một thuộc tính giống nhau

Phương pháp phản đề: Là phương pháp xuất phát từ một luận cứ sẵn (sai hoặc đúng) để suy ra một kết luận khác (sai hoặc đúng) Kết luận chung có thể đúng hoặc sai

Phương pháp nguỵ biện: Là phương pháp xuất phát từ một thực tế hiển nhiên nào đó để suy ra những kết luận chủ quan nhằm bác bỏ ý kiến đối phương Kết luận

Trang 27

Lập luận trong văn nghị luận ngoài các yếu tố luận điểm, luận cứ, luận chứng còn có cách lập luận, phương pháp lập luận Trong đó luận điểm chính là ý kiến xác định của người viết về vấn đề đặt ra Còn luận chứng là sự phối hợp tổ chức các lý

lẽ dẫn chứng để thuyết phục

1.6 Văn nghị luận

1.6.1 Khái niệm văn bản nghị luận

Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta vẫn thường gặp các vấn đề và câu hỏi

kiểu như thế này:

- Vì sao bạn đi học?

- Vì sao con người cần có bạn bè?

- Hút thuốc lá, lợi hay hại?

Trang 28

21

coi là phương pháp tốt nhất giúp chúng ta đạt được những mục đích cao nhất

Theo “Từ điển Tiếng Việt” của viện ngôn ngữ học do Hoàng Phê (chủ biên) thì nghị luận là: Bàn và đánh giá cho rõ về một vấn đề nào đó Văn nghị luận là thể văn dùng lí lẽ phân tích, giải quyết vấn đề Nói cách khác, văn nghị luận là kiểu văn bản được viết ra nhằm xác lập cho người đọc, người nghe một tư tưởng, quan điểm nào đó Muốn thế văn nghị luận phải có luận điểm rõ ràng, có lí lẽ thuyết phục, dẫn chứng chính xác

Để hiểu rõ vấn đề này chúng ta xét ngữ liệu sau:

“Ngạn ngữ có câu: Thời gian là vàng Nhưng vàng thì mua được còn thời

gian không mua được Thế mới biết vàng có giá trị mà thời gian thì vô giá

Thật vậy thời gian là sự sống Bạn vào bệnh viện mà xem người bệnh nặng, nếu kịp thời chạy chữa thì sống, để chậm thì chết

Thời gian là thắng lợi Bạn hỏi các anh bội đội mà xem, trong chiến đấu biết nắm thời cơ, đánh địch đúng lúc là thắng, để mất thời cơ là thất bại

Thời gian là tiền Trong kinh doanh sản xuất hàng hóa đúng lúc thì lãi, không đúng thì lỗ

Thời gian là tri thức Phải thường xuyên học tập thì mới giỏi Học ngoại ngữ

mà bữa đực bữa cái, thiếu kiên trì thì học mấy đi nữa cũng như không

Thế mới biết tận dụng thời gian thì làm được bao nhiêu điều cho bản thân và cho xã hội Bỏ phí thời gian thì có hại về sau hối tiếc cũng không kịp”

(“Thời gian là vàng”- Phương Liên) Trong thực tế cuộc sống, có nhiều người cho rằng thời gian của chúng ta là

vô hạn và không biết quý trọng thời gian Để phủ nhận tư tưởng lệch lạc đó, tác giả Phương Liên đã khẳng định: “ Thời gian là vàng” Điều đó cũng có nghĩa, thời gian

là vô cùng quí giá, ta phải biết trân trọng từng giây, từng phút trong cuộc đời này

Đó là nội dung là vấn đề chính tác giả đưa ra “ nghị luận” Và để làm sáng tỏ vấn đề này, tác giả lần lượt đưa ra các luận điểm: thời gian là sự sống, thời gian là thắng lợi, thời gian là tiền, thời gian là tri thức Cùng đó là hàng loạt các dẫn chứng thuyết phục Thông qua lý lẽ, lập luận và các dẫn chứng cụ thể người viết đã xác lập cho người đọc, người nghe một quan điểm, một tư tưởng, một chân lý đúng đắn: “ Biết

Trang 29

22

tận dụng thời gian thì làm được bao nhiêu điều cho bản thân và cho xã hội Bỏ phí thời gian thì có hại về sau hối tiếc cũng không kịp.” Cách trình bày một vấn đề như vậy chính là phương thức biểu đạt của văn nghị luận

Từ những sự phân tích trên chúng ta có thể khẳng định: “Văn bản nghị luận

là một kiểu văn bản, trong đó, người nói, (người viết) đưa ra những lý lẽ, dẫn chứng

về một vấn đề nào đó và thông qua cách bàn luận mà làm cho người nghe, người đọc hiểu, tán đồng những ý kiến mình đưa ra và hành động theo những gì mà mình

đề xuất (đối với vấn đề đó)

1.6.2 Các thao tác trong văn nghị luận

Khi tạo lập văn bản nghị luận, một trong những đặc trưng quan trọng nhất là

tổ chức lập luận Lập luận là yếu tố quan trọng tạo nên giá trị cho bài văn nghị luận Bởi thế, chương trình Ngữ văn 11 có trình bày các thao tác lập luận như: thao tác lập luận so sánh, thao tác lập luận phân tích, thao tác lập luận bình luận, thao tác lập luận bác bỏ Trước khi đi tìm hiểu về thao tác lập luận so sánh đặc biệt hơn đó là việc rèn luyện năng lực tạo lập văn bản cho HS thì chúng ta cần có cái nhìn khái quát về các thao tác lập luận, cụ thể như sau:

1.6.2.1 Thao tác lập luận phân tích

Mỗi sự việc, hiện tượng bao giờ cũng được tạo nên bởi nhiều yếu tố Các yếu

tố này không tồn tại một cách độc lập mà có mối quan hệ, tác động qua lại lẫn nhau trong một chỉnh thể nhất định Trong quá trình nhận thức việc chia nhỏ đối tượng thành nhiều sâu chuỗi, xem xét một cách kỹ càng về nội dung và mối quan hệ bên trong cũng như bên ngoài của chúng gọi là phân tích Có phân tích thì mới có mở rộng vấn đề và qua đó nội dung bài văn nghị luận mới phong phú và sâu sắc hơn Mục đích của phân tích là làm rõ đặc điểm nội dung, hình thức, cấu trúc và mối quan hệ bên ngoài của đối tượng (sự vật, hiện tượng) Khi phân tích cần chia tách đối tượng thành nhiều tiêu chí, quan hệ nhất định (quan hệ giữa đối tuợng với đối tượng liên quan, quan hệ giữa người phân tích và đối tượng phân tích ) Phân tích cần đi sâu vào từng đối tượng khía cạnh,song cần lưu ý đến quan hệ giữa chúng với nhau trong một chỉnh thể toàn vẹn và thống nhất

Trang 30

23

Để tiến hành phân tích chúng ta cần thực hiện theo trình tự sau:

- Xác định nội dung vấn đề hoặc nội dung của luận điểm cần phân tích

- Tiến hành xác định các khía cạnh, các bộ phận nội dung cần phân tích

- Sắp xếp các khía cạnh, bộ phận theo một trình tự

- Trình bày từng khía cạnh, bộ phận đã đựoc sắp xếp Cần lưu ý tới mối quan

hệ của từng khía cạnh để từ đó lụa chọn các phép liên kết cho thích hợp vớ nội dung của chúng

- Dùng ngôn ngữ để lập luận, có thể trình bày bằng cách kết hợp ví dụ minh hoạ

- Cuối cùng chốt lại vấn đề cần phân tích

Tuy nhiên trong văn nghị luận, việc phân tích vấn đề phải được tiến hành theo nhứng nguyên tắc nhất định Đó là:

 Phải đảm bảo sự phân chia phản ánh đúng nhất tổ chức của đối tượng Để làm được điều này,chúng ta phải phân xuất được từng khía cạnh, từng bộ phận của vấn

đề và sắp xếp chúng theo một trình tự cụ thể

 Phải đáp ứng tốt nhất cho mục đích thực hiện Khi phân tích vấn đề chúng ta cần căn cứ vào mục đích phân tích vấn đề, phải xác định cụ thể phân tích vấn đề như vậy để làm gì Từ việc xác định mục đích phân tích như thế, chúng ta lựa chọn cách phân tích chia vấn đề sao cho tương ứng với mục đích thực hiện thao tác

 Khi phân tích một vấn đề, chúng ta phải phân chia theo cùng một cơ sở Thông thường chúng ta chọn mục đích phân tích để làm cơ sở phân tích

 Phải phân chia theo nguyên tắc cấp bậc Khi phân chia vấn đề chúng ta cần phân chia thành các bộ phận lớn và sau đó tiếp tục chia thành các bộ phận nhỏ, không được chia một cách nhảy vọt, thiếu tính hệ thống

Tóm lại, phân tích là thao tác được thực hiện nhằm tìm hiểu một mặt nội dung bao hàm trong một ý kiến, một nhận định, một luận điểm nào đó, đồng thời chỉ ra mức độ chính xác và giá trị đạt được của chúng Trong bài văn nghị luận, phân tích là thao tác cơ bản, được thực hiện nhằm giúp cho người tiếp nhận văn bản

có thể hiểu từng khía cạnh của vấn đề được bàn luận

Trang 31

24

1.6.2.2 Thao tác bác bỏ

Đây là một thao tác lập luận trong văn nghị luận Trong đời sống cũng như trong sách báo, ta có thể gặp những ý kiến sai lầm những lời nói, bài viết lệch lạc thiếu chính xác (trái ngược với thực tế, đạo lý, không phù hợp với chân lý…) Trước những tình huống ấy ta thường trao đổi lại, tranh luận để phủ định những yếu

tố sai đó Xuất phát từ thực tế, thao tác lập luận bác bỏ ra đời Như vậy, thao tác lập luận bác bỏ là dùng lý lẽ và chứng cứ để gạt bỏ, phản bác lại những quan điểm, ý kiến sai lệch hoặc thiếu chính xác từ đó đưa ra ý kiến của mình để thuyết phục người đọc (người nghe) Trong văn nghị luận, người viết có thể bác bỏ một luận điểm, luận cứ hoặc cách lập luận nêu tác hại, chỉ ra nguyên nhân hoặc phân tích khía cạnh sai lệch, thiếu chính xác của luận điểm, luận cứ, lập luận ấy Khi bác bỏ người viết cần tỏ thái độ khách quan, đúng mực

1.6.2.3 Thao tác bình luận

Bình luận là một thao tác không thể thiếu, đặc biệt quan trọng trong văn nghị luận Trong quá trình trình bày vấn đề để suy nghĩ, thái độ, quan điểm của mình đối với vấn đề nghị luận, người viết phải dùng ngôn ngữ, lý lẽ, dẫn chứng để nhận xét,

tỏ thái độ quan điểm của bản thân Việc dùng ngôn ngữ, lý lẽ để thể hiện thái độ, quan điểm của bản thân Việc dùng ngôn ngữ lý lẽ để thể hiện suy nghĩ, thái độ như vậy gọi là bình luận Như vậy, bình luận là cách người viết dùng ngôn ngữ, lý lẽ, lập luận để bàn luận, đánh giá và phê bình, nhận xét, tỏ thái độ của bản thân về một

sự kiện, một vấn đề nào đó và qua đó đi đến những nhận định, kết luận đúng đắn, sâu sắc Đồng thời, thể hiện được quan điểm của người viết về vấn đề được bình luận Khi thực hiện thao tác lập luận bình luận chúng ta cần tuân thủ các bước sau:

- Xác định nội dung cần bình luận (luận điểm)

- Làm sáng tỏ ý nghĩa vấn đề cần bình luận thông qua phân tích, chứng minh, hoặc giải thích

- Dùng lý lẽ, dẫn chứng để chỉ ra tính đúng sai, tính chân lý của vấn đề để tạo

ra tính cơ sở cho việc đánh giá, nhận xét vấn đề

- Dùng lý lẽ, lập luận ngôn ngữ, để bình và đánh giá nội dung vấn đề

Trang 32

25

1.6.2.4 Thao tác giải thích

Trong cuộc sống hàng ngày nhiều khi muốn cho ai hiểu rõ vấn đề hoặc hiểu đúng một vấn đề nào đó, con người phải tìm đủ mọi cách để làm sáng rõ vấn đề đó Việc làm sáng rõ vấn đề gọi là giải thích Giải thích là thao tác làm cho người khác hiểu rõ, hiểu đúng, hiểu đầy đủ một vấn đề bằng lý lẽ (có dẫn chứng hỗ trợ) Trong làm văn nghị luận, giải thích là một thao tác thực hiện nhằm lý giải hoặc làm rõ vấn

đề và qua đó người viết có thể bàn luận một cách cụ thể, sâu sắc nội dung vấn đề Giải thích thường là một quá trình diễn dịch: đi từ một khái niệm, một nhận định khái quát đến cụ thể, sống động, dễ hiểu Theo quá trình khi thực hiện thao tác giải thích, chúng ta phải tiến hành theo các bước sau:

- Xác định nội dung vấn đề cần bàn luận

- Tìm nội dung, các bộ phận, từ ngữ trong vấn đề được trình bày một cách chưa rõ ràng, cần giải thích

- Tiến hành giải thích bằng cách nêu định nghĩa, nêu các biểu hiện, nêu các nguyên nhân, chỉ ra các mặt lợi hại của vấn đề cần phải giải thich Có thể tìm ra dẫn chứng hỗ trợ, bổ sung cho vấn đề cần giải thích Sau đó, người viết có thể phân tích, tổng hợp, chứng minh hoặc bình luận nội dung của vấn đề vừa giải thích

- Chốt lại vấn đề

Như vậy, trong bài văn nghị luận, giải thích là một thao tác có thể được thực hiện trong từng câu văn hoặc được thực hiện trong cả một câu văn Căn cứ vào chính nội dung của vấn đề mà chúng ta thực hiện thao tác này trong một câu hoặc trình bày chúng cả đoạn văn

1.6.2.5 Thao tác chứng minh

Chứng minh là một thao tác lập luận Đặc điểm của thao tác này là người viết dùng lý lẽ dẫn chứng để minh chứng, xác định, khẳng định, bênh vực một cách chắc chắn sự đúng đắn của một ý kiến, một nhận định, một vấn đề giả định người đọc đã thừa nhận hoặc đã thừa nhận một phần Nhờ có thao tác này mà trong quá trình tạo lập văn bản nghị luận, người viết mới có thể làm sự đúng sai, phải trái trong nội dung vấn đề và đó là cách để người viết dẫn dắt người tiếp nhận tìm đến một chân lý

Trang 33

26

Trong bài văn nghị luận để chứng minh một vấn đề, một luận điểm, chúng ta

có thể tiến hành cách bước như sau:

- Xác định rõ vấn đề (luận đề) cần được chứng minh

- Giải thích ngắn gọn nội dung vấn đề cần chứng minh

- Chứng minh vấn đề bằng cách:

+ Tách các vấn đề thành từng nội dung, phương diện, từng luận điểm nhỏ + Đưa ra hệ thống dẫn chứng để làm rõ các biểu hiện, các đặc điểm của luận đề + Phân tích dẫn chứng

+ Bàn luận nội dung đã được làm sáng rõ

+ Chốt lại nội dung luận điểm và mở rộng sang nội dung của luận điểm khác

và tiến hành theo trình tự trên

Tuy nhiên khi thực hiện thao tác này cần lưu ý:

- Hệ thống dẫn chứng phải sát thực và phù hợp với vấn đề, sắp xếp một cách trình tự hợp lý, tránh hình thức liệt kê Dẫn chứng phải được dẫn dắt, phân tích, bình luận

- Lý lẽ phải được giải thích, phân tích, bình luận hoặc tổng hợp một cách dễ hiểu, lập luận chặt chẽ, đồng thời cũng phải kết hợp cả lý lẽ dẫn chứng tạo ra sức thuyết phục cho ngưòi đọc

Cần chú ý, trong quá trình tạo lập văn bản trong văn nghị luận, chúng ta cần phải biết sử dụng kết hợp các thao tác một cách mền dẻo, linh hoạt, tránh cứng nhắc qua đó làm nổi bật vấn đề

1.6.2.6 Thao tác lập luận so sánh

Trong viết văn nghị luận người ta hay sử dụng thao tác so sánh để làm sáng

tỏ, vững chắc luận điểm của mình Để hướng tới kết luận (tức là một luận điểm nào đấy trong bài văn nghị luận: một ý kiến, một nhận định về đối tượng nghị luận) Người ta thường so sánh với một hoặc nhiều đối tượng khác nhau trên một nét tương đồng nào đây Thông qua so sánh những đặc điểm tương đồng hoặc khác biệt của đối tượng nghị luận với đối tượng so sánh được thể hiện bằng sự phân tích, lý giải, kết quả là người đọc (người nghe) nắm được, hiểu và công nhận tính đúng đắn

Trang 34

27

của nhận định (kết luận của lập luận) người viết (ngưòi nói) hướng tới

Trong văn nghị luận thường có 2 cách so sánh: so sánh tương đồng và so sánh tương phản

Lập luận bằng cách so sánh tương đồng là cách trình bày hệ thống lý lẽ chặt chẽ mạch lạc bằng cách đối chiếu đối tượng đem ra bàn luận này bên đối tượng khác, vấn đề này bên vấn đề khác trên cơ sở có chung nét tương đồng mà người đọc

đã hay dễ chấp nhận để làm nổi bật vấn đề nghị luận, làm cho ý nghĩa của nó thêm bộc lộ rõ nét Lập luận bằng so sánh tương đồng không có sự đối lập giữa các ý, trái lại các ý nâng đỡ nhau, thuyết minh cho nhau làm rõ ý

Ví dụ: "Nếu vì dư luận của giới văn học như một dòng nước thì Vũ Trọng

Phụng như một vật nổi trong một dòng nước xoáy Vật nổi này cứ nổi đạp dềnh có khi chìm sâu ấy thế mà cuối cùng lại hiện lên, từ tốn, lặng lẽ theo dòng quy luật Acsimet" So sánh tương đồng ở đây đã nêu bật thân phận đầy long đong, sóng gió

của sự nghiệp văn chương Vũ Trọng Phụng như một vật nổi trong dòng nước xoáy Lập luận so sánh dựa trên sự tương đồng giưa 2 đối tượng: tình trạng nổi, dập dềnh với số phận thăng trầm, lận đận của nhà văn Cách so sánh giúp tác giả thuyết minh sáng tỏ và gợi cảm cái nét bản chất của đối tượng và nhấn mạnh ý kiến của mình về nhà văn hiện thực Vũ Trọng Phụng

Lập luận so sánh tương phản (đối lâp) là so sánh theo kiểu đối chiếu đối tượng này với đối tượng khác trong sự tương phản lẫn nhau để nhằm khẳng định một trong hai đối tượng mà lập luận hướng tới

Chẳng hạn: “Các cụ ưa những màu đỏ choét, ta lại ưa nhưng màu xanh

nhạt Các cụ bâng khuâng vì tiếng trống đêm khuya, ta nao nao vì tiếng gà lúc đúng ngọ Nhìn một cô gái xinh xắn, ngây thơ, các cụ coi như là một tội lỗi ta thì một cánh đồng xanh Cái ái tình của các cụ chỉ là sự hôn nhân, nhưng đối với ta trăm hình muôn trạng: cái tình say đắm, cái tình thoáng qua, cái tình gần gũi, cái tình xa xôi, cái tình giây phút, cái tình ngàn thu" [16,97]

Cách so sánh bằng lập luận dựa trên sự đối chiếu giữa các mặt trái nguợc nhau giữa quan điểm "thơ cũ" và "thơ mới" tác giả nhằm bênh vực cho "thơ mới"

Ngày đăng: 04/11/2015, 14:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Lê A, Nguyễn Trí, (1994), Làm văn, NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm văn
Tác giả: Lê A, Nguyễn Trí
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1994
5. Phạm Văn Đồng (1973), “ Dạy học là một quá trình rèn luyện toàn diện”,tạp chí nghiên cứu giáo dục (12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học là một quá trình rèn luyện toàn diện”
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Năm: 1973
6. Vũ Nho, (1988) “Dạy văn trong nhà trường hiện nay”, tạp chí quân đội (3) 7. Phan Trọng Luận (tổng chủ biên) SGK Ngữ Văn 11, tập 1, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy văn trong nhà trường hiện nay
Nhà XB: NXB GD
8. Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên), “Văn bồi dưỡng học sinh giỏi THPT”, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bồi dưỡng học sinh giỏi THPT
10. Trần Ngọc Thêm (chủ biên), (1999), Hệ thống liên kết văn bản Tiếng việt, NXB GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống liên kết văn bản Tiếng việt
Tác giả: Trần Ngọc Thêm (chủ biên)
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1999
11. Lưu Khánh Thơ (biên soạn), (1999), Xuân Diệu tác phẩm văn chương và lao động nghệ thuật, NXB GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuân Diệu tác phẩm văn chương và lao động nghệ thuật
Tác giả: Lưu Khánh Thơ (biên soạn)
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1999
12. Đinh Thị Kim Thoa (chủ biên) Tâm lý học đại cương, (2009), NXBDHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học đại cương
Tác giả: Đinh Thị Kim Thoa (chủ biên) Tâm lý học đại cương
Nhà XB: NXBDHQG Hà Nội
Năm: 2009
13. Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên),(2000), Tâm lý học đại cương (in lần 4), NXB Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học đại cương
Tác giả: Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên)
Năm: 2000
14. Hoàng Phê (chủ biên) (2009), Từ điển Tiếng Việt, trung tâm từ điển học, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng
Tác giả: Hoàng Phê (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2009
15. Nguyến Quang Việt, 2009, Đánh giá kết quả học tập theo định hướng năng lực hành nghề của học sinh trong các cơ sở dạy nghề, Tạp chí Khoa học Giáo dục,số 36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả học tập theo định hướng năng lực hành nghề của học sinh trong các cơ sở dạy nghề
16. Bảo Quyến, (2004), Rèn luyện kỹ năng làm văn nghị luận, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện kỹ năng làm văn nghị luận
Tác giả: Bảo Quyến
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2004
17. Trần Đình Sử, Phan Trọng Luận, Nguyễn Minh Tuyết, (1994), Làm văn 12, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm văn 12
Tác giả: Trần Đình Sử, Phan Trọng Luận, Nguyễn Minh Tuyết
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1994
18. Nguyễn Như Ý (chủ biên) Đỗ Việt Hùng, Đặng Ngọc Lệ (1996), “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học”, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học”
Tác giả: Nguyễn Như Ý (chủ biên) Đỗ Việt Hùng, Đặng Ngọc Lệ
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1996
19. Nhiều tác giả, Từ điển thuật ngữ và lý luận văn học2 (1991), NXB GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ và lý luận văn học2
Tác giả: Nhiều tác giả, Từ điển thuật ngữ và lý luận văn học2
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1991
20. Nhiều tác giả, Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học (1996), NXBGD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học
Tác giả: Nhiều tác giả, Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1996
21. Nhiều tác giả, Từ điển bách khoa Việt Nam, (2005), tâp 4, NXB GD Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển bách khoa Việt Nam
Tác giả: Nhiều tác giả, Từ điển bách khoa Việt Nam
Nhà XB: NXB GD Hà Nội
Năm: 2005
22. Tài liệu hội thảo: “ Xây dựng chương trình giáo dục phổ thông stheo định hướng phát triển năng lực học sinh” (20014),NXBGD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Xây dựng chương trình giáo dục phổ thông stheo định hướng phát triển năng lực học sinh”
Nhà XB: NXBGD
3. Đình Cao, Lê A, (1989), làm văn, NXBGD (Giáo trình Đại học Sư phạm, 2 tập) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w