1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Di tích và lễ hội chùa trăm gian với việc phát triển du lịch văn hóa

76 1K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Toà gác chuông hai tầng tám mái Gác chuông chùa Trăm Gian là một trong số ít gác chuông cổ nhất ở Việt Nam còn lại đến ngày nay.. Đây là một thế mạnh của chùa Trăm Gian đê

Trang 1



NGUYỄN THỊ HIỀN

DI TÍCH VÀ LỄ HỘI CHÙA TRĂM GIAN

VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN DU LỊCH

VĂN HÓA

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên nghành: Việt Nam học

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA: NGỮ VĂN



NGUYỄN THỊ HIỀN

DI TÍCH VÀ LỄ HỘI CHÙA TRĂM GIAN

VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN DU LỊCH

VĂN HÓA

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên nghành: Việt Nam học

Người hướng dẫn khoa học

TS Bùi Minh Đức

HÀ NỘI - 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Khóa luận tốt nghiệp là kết quả cuối cùng của 4 năm học đại học tại trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2 của em Trước hết em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô đã tạo điều kiện cho em được học tập và trau dồi kiến thức , em đã học hỏi được rất nhiều điều để phục vụ cho công việc sau này

Em xin chân thành cảm ơn TS Bùi Minh Đức đã tận tình hướng dẫn và giúp

đỡ em hoàn thành khóa luận này

Em xin cảm ơn sự giú p đỡ của Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Chương

Mỹ đã cung cấp số liệu đồng thời đóng góp cho em ý kiến giúp em trong quá trình tìm hiểu hoàn thành khóa luận này

Cuối cùng em xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn ở bên động viên, chia sẻ và giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này

Khóa luận của em còn nhiều thiếu sót, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy , cô giáo và các nhà nghiên cứu để khóa luận của em được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn !

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Sinh viên

Nguyễn Thị Hiền

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của em dưới

sự hướng dẫn của TS Bùi Minh Đức Kết quả thu được là hoàn toàn trung thực và

không trùng với kết quả nghiên cứa của các tác giả khác

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Sinh viên

Nguyễn Thị Hiền

Trang 5

DANH MỤC TƢ̀ VIẾT TẮT

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng nghiên cứa và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp của khóa luận 5

7 Bố cục của khóa luận 5

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TẠI DI TÍCH VÀ LỄ HỘI CHÙA TRĂM GIAN 6

1.1 Giới thiệu chung về huyện Chương Mỹ 6

1.1.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch tự nhiên 6

1.1.1.1 Điều kiện tự nhiên 6

1.1.1.2 Tài nguyên du lịch tự nhiên 9

1.1.2 Điều kiện kinh tế- xã hôi và tài nguyên du lịch nhân văn 10

1.1.2.1 Điều kiện kinh tế - xã hội 10

1.1.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 10

1.1.3 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật 14

1.1.3.1 Cơ sở hạ tầng 14

1.1.3.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật 15

1.2 Đặc sắc di tích chùa Trăm Gian 17

1.2.1 Chùa Trăm Gian - ngôi chùa cổ có cấu trúc đặc biệt 17

1.2.2 Toà gác chuông hai tầng tám mái 19

1.2.3 Những bức phù điêu 21

1.2.3.1 Bộ phù điêu “Thập Điện Diêm Vương” 21

1.2.3.2 Bộ phù điêu khắc các vị La Hán 22

1.2.4 Hệ thống tượng 23

1.2.4.1 Tượng Đô đốc Đặng Tiến Đông 23

1.2.4.2 Tượng Thánh Bối 24

1.2.4.3 Tượng Tuyết Sơn 25

Trang 7

1.2.4.4 Tượng Quan Âm 26

1.2.5 Một số hiện vật cổ quý giá khác 27

1.3 Lễ hội chùa Trăm Gian 28

1.3.1 Phần lễ 28

1.3.2 Phần hội 30

1.3.3 Giá trị lễ hội chùa Trăm Gian 31

1.4 Tiểu kết 32

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TẠI DI TÍCH VÀ LỄ HỘI CHÙA TRĂM GIAN 33

2.1 Cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật 33

2.2 Hoạt động quản lý, đầu tư và phát triển du lịch văn hóa 38

2.3 Công tác đảm bảo an ninh trật tự và vệ sinh môi trường 41

CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TẠI DI TÍCH VÀ LỄ HỘI CHÙA TRĂM GIAN 43

3.1 Biện pháp chung 43

3.1.1 Quy hoạch phát triển du lịch chùa Trăm Gian theo hướng phát triển du lịch văn hóa tâm linh 43

3.1.2 Hoàn thiện cơ chế, chính sách theo hướng khuyến khích phát triển bền vững 44

3.1.3 Xây dựng thương hiệu cho du lịch văn hóa 45

3.1.4 Mở rộng và liên kêt với các điểm, các vùng du lịch 46

3.1.5 Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, quảng bá 46

3.2 Biện pháp cụ thể 47

3.2.1 Đầu tư xây dựng, hoàn thiện cơ sở hạ tầng 47

3.2.2 Phát triển nguồn nhân lực mang tính chuyên nghiệp 49

3.2.3 Giữ gìn, bảo tồn và phát triển tài nguyên du lịch 50

3.2.4 Nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch 52

3.2.5 Giáo dục nâng cao nhận thức và tham gia của cộng đồng 53

3.2.6 Bảo vệ môi trường 55

KẾT LUẬN 56 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

Sinh viên: Nguyễn Thị Hiền 1 Lớp: K37D – Việt Nam học

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay phát triển du lịch đang l à xu thế chung của các nước trên thế giới , nhất là với các nước giàu tiềm năng du lịch Du lịch phát triển con người không chỉ thỏa mãn nhu cầu vui chơi giải trí , tham quan, nghỉ dưỡng… mà còn là cơ hội giao lưu, tự khẳng đ ịnh mình, nâng cao tầm hiểu biết về con người và văn hóa trên thế giới

những tài nguyên đã và đang được khai thác phát triển du lịch nhưng cũng có nhữ ng tài nguyên ở dạng tiềm ẩn và cần được khám phá , đưa vào khai thác Tài nguyên du lich nhân văn của Việt Nam đang là yếu tố hấp dẫn đối với khách du lịch trong và ngoài nước Đây cũng chính là thế mạnh để du lịch Việt N am phát triển hiệu quả trên nền tảng của một quốc gia giàu truyền thống chống giặc ngoại xâm , có một nền văn hóa phong phú đậm đà bản sắc dân tộc

Miền đất Phật của Hà Nội thuộc Hà Tây (cũ) quy tụ nhiều ngôi chùa cổ, trong tín ngưỡng dân gian, trong niềm tin của nhân dân và du khách hành hương về đây là rất linh thiêng Từ khi sáp nhập đến nay, không chỉ mở rộng về diện tích, không gian sinh hoạt văn hoá, nhiều vùng của Hà Nội cũng được đầu tư và chú trọng hơn Với việc mở rộng diện tích, Hà Nội đã có thêm nhiều di tích thắng cảnh mới về hành chính, nhưng xét về gốc tích và giá trị văn hóa, chúng đều có từ lâu đời và mang những ý nghĩa lớn về mặt tâm linh và huyền bí Nhưng vẫn phải thừa nhận rằng tất cả những điều đó làm cho vốn văn hóa của Hà Nội thêm giàu đẹp Những ngôi chùa được coi là miền đất phật như chùa Hương, chùa Thầy, chùa Trầm, chùa Tây Phương, chùa Trăm Gian… Đây là những miền cực lạc mà khách hành hương kéo về lễ tế, thăm quan để tỏ lòng thành kính Chính những địa danh này đã và đang làm cho Hà Nội mở rộng với không gian văn hóa giàu truyền thống và đa dạng hơn Quảng Nghiêm tự còn được gọi bằng những cái tên giản dị, đậm chất dân gian như chùa Sở, chùa Núi, chùa Tiên Lữ nhưng có lẽ được biết đến nhiều nhất là

Trang 9

Sinh viên: Nguyễn Thị Hiền 2 Lớp: K37D – Việt Nam học

chùa Trăm Gian, chùa tọa lạc tại xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ, trước đây thuộc tỉnh Hà Tây, nay là Hà Nội Đây là ngôi cổ tự nổi tiếng ở Việt Nam

Từ thành phố Hà Đông theo quốc lộ 6, qua cầu Mai Lĩnh và phía sau thị trấn

Chúc Sơn, đi thêm chừng 2km thì rẽ phải, men theo chân núi Sở khoảng 3km sẽ tới

chùa Trăm Gian Trải qua đoạn đường dài nóng nực, đến với chùa Trăm Gian, dừng lại trước ao sen, mùi hương sen, cùng với những cơn gió đầu ngày sẽ giúp bạn quên

đi cái mệt mỏi ngày thường

Chùa Trăm Gian nằm trên một quả đồi cao khoảng 50m có tên là núi Mã,

thuộc thôn Tiên Lữ, xà Tiên Phương, huyện Chương Mỹ - Hà Nội Chùa được xây dựng vào năm Trịnh Phù thứ 10 (1185) đời Lý Cao Tông, và đã qua vài lần tu sửa và mở rộng, năm Đinh Sửu (1577) các tòa tiền đường và thiêu hương được tôn tạo Theo “Quảng Nghiêm tự bi ký” khắc năm Hoằng Định thứ 4 (1603) thì chùa này đẹp nhất phủ Quốc Oai thời đó, nay được công nhận Di tích lịch sử – văn hóa quốc gia Chùa Trăm Gian là một quần thể kiến trúc độc đáo Theo cách tính cứ 4 góc cột là một gian thì chùa có cả thảy 104 gian Trăm gian, cái tên rất bình dân, dường như muốn nói lên vẻ bề thế của ngôi chùa Trong chùa có nhà Giá Ngự nhìn ra mặt hồ sen, nơi đặt kiệu thánh để xem trò múa rối nước Trèo qua mấy trăm bậc gạch xây là tới một toà gác chuông hai tầng tám mái được xây dựng vào đời Lê Hy Tông (1693) là một công trình kiến trúc có giá trị nghệ thuật cao Đây là một trong số ít gác chuông cổ còn lại đến nay Qua gác chuông, leo 25 bậc đá xanh hình rồng mây, đến sân trên có kê một sập đá hình chữ nhật Chùa chính gồm nhà bái đường, toà thiêu hương và thượng điện Trong cùng là nhà tổ, giữ lại có lầu trống bên trong treo một trống lớn Tại đây có 153 pho tượng, hầu hết bằng gỗ, một số ít bằng đất nung, đặc biệt quý là tượng Tuyết Sơn, tượng Quan Thế Âm Bồ Tát , có bộ tranh “ Thập điện Diên Vương”, những bức phù điêu quý báu và rất nhiều những nét đặc sắc khác của ngôi chùa, lễ hội chùa Trăm Gian mang điến cho ngôi chùa này một vẻ đẹp đặc biệt , hấp đẫn khách du lịch Hằng năm, từ ngày mùng 4 đến ngày mùng 6 tháng giêng âm lịch thì nhà chùa cùng với các bộ, ban ngành có liên quan và nhân dân trong vùng tổ

Trang 10

Sinh viên: Nguyễn Thị Hiền 3 Lớp: K37D – Việt Nam học

chức hội chùa Trăm Gian để lễ phật và cũng là dịp để tưởng nhớ tới đức thánh Bối - người có công xây dựng chùa, người tài giỏi luôn giúp đỡ nhân dân

Hoạt động du lịch phát triển trên cơ sở khai thác các giá trị tiềm năng sẵn có của vùng đất Tiên Lữ, Chương Mỹ không chỉ góp phần phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa mà còn có ý nghĩa giáo dục và nâng cao ý thức cho cán bộ, nhân dân hiểu được các giá trị tốt đẹp này; từ đó giữ gìn và phát huy những truyền thống vô cùng quý báu của cha ông để lại

Chính vì lẽ đó mà em đã lựa chọn đề tài : Di tích và lễ hội chùa Trăm Gian với việc phát triển du lịch văn hóa để em có thể góp phần quảng bá và giới thiệu về di tích và lễ hội Chùa Trăm Gian đến với du khách và bạn bè quốc tế , nhất là có dịp để tìm hiểu sâu hơn , có một cái nhìn toàn diện hơn về di tích này Hơn nữa, qua bài khóa luận này em cũng rất muốn góp một phần nhỏ nào đó vào việc giới thiệu cho độc giả để họ biết đến nhiều hơn về di tích này , để nó thật sự trở thành một điểm du lịch hấp dẫn có ý nghĩa với Chương Mỹ nói riêng và Hà Nội nói chung

2 Lịch sử vấn đề

Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu , những đề tài khoa học , các trang wed tìm hiểu về di tích lịch sử văn hóa chùa Trăm Gian và lễ hội chùa Trăm Gian nhằm phục vụ cho việc phát triển du lịch nơi đây như:

Huyện Chương Mỹ , Tỉnh Hà Tây , Bảo tàng Tổng hợp Hà Tây Nghiên cứu này đã

cung cấp cho bạn đọc những nội dung chi tiết về ngôi chùa Trăm Gian, từ vị trí địa

lý, tên gọi, cấu trúc của ngôi chùa, hệ thống tượng, phù điêu và các di vật cổ quý hiếm khác, khảo tả di tích , những lần trùng tu, tôn tạo và những thay đổi sau mỗi lần tôn tạo Và nêu ra những ý kiến đóng góp đối với công tác bảo tồn và tôn tạo di tích

Tô Thị Huyền Trang (Lớp VH 902), đã triển khai nghiên cứu đề tài Nghiên

cứu phát triển du lịch huyện Chương Mỹ – Thành phố Hà Nội Khóa luận đã chỉ ra

những tiềm năng phát triển du lịch của huyện Chương Mỹ, thực trạng phát triển du lịch của huyện và đề xuất những giải pháp để phát triển du lịch huyện Chương Mỹ

Trang 11

Sinh viên: Nguyễn Thị Hiền 4 Lớp: K37D – Việt Nam học

Ngoài ra còn có rất nhiều báo cáo, hội nghị, bài báo… nghiên cứu về ngôi chùa Trăm Gian

Về cơ bản , các công trình nghiên cứu trên mới chỉ dừng lại ở việ c giới thiệu khái quát về di tích và lễ hội chùa Trăm Gian Chưa có công trình nào nghiên cứu

tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch văn hóa tại chùa Trăm Gian

Trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu đã công bố , khóa luận tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu tổng hợp , giới thiệu chi tiết và toàn diện về di tích và lễ hội chùa Trăm Gian với việc phá t triển du lịch văn hóa thông qua tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch văn hóa tại di tích và lễ hội chùa Trăm Gian

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

nhận xét về kết quả đạt được cũng như những mặt hạn chế của hoạt động du lich tại đây

+ Đề xuất các giải pháp mang tính khả thi để đẩy mạnh việc khai thác , phục vụ

di lịch tại quần thể di tích và lễ hội chùa Trăm Gian

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch văn hóa tại

di tích lich sử- văn hóa và lễ hội chùa Trăm Gian

Trang 12

Sinh viên: Nguyễn Thị Hiền 5 Lớp: K37D – Việt Nam học

viết đã mở rộng tìm hiểu ý nghĩa của quần th ể di tích đối với sự phát triển du lịch của thành phố

5 Phương pháp nghiên cứu

Để khoàn thành khóa luận này người viết đã sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

+ Phương pháp mô tả

+ Phương pháp khảo sát thực địa (điền dã)

+ Phương pháp phân tích, tổng hợp

6 Đóng góp của khóa luận

- Đề tài góp phần đem lại một cái nhìn khá đầy đủ về quần thể di tích và lễ hội chùa Trăm Gian từ quá khứ đến hiện tại , khẳng định những giá trị phục vụ cho phát triển du lịch

- Đề xuất các biện pháp phát triển du lịch văn hóa tại di tích và lễ hội chùa Trăm Gian

7 Bố cục của khóa luận

Bố cục của khóa luận gồm 3 phần:

MỞ ĐẦU

NỘI DUNG, gồm có 3 chương:

Chương 1 Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tại di tích và lễ hội chùa Trăm Gian

Chương 2 Thực trạng phát triển du lịch văn hóa tại di tích và lễ hội chùa Trăm Gian

Chương 3: Biện pháp phát triển du lịch văn hóa tại di tíc h và lễ hội chùa Trăm Gian

KẾT LUẬN

Trang 13

Sinh viên: Nguyễn Thị Hiền 6 Lớp: K37D – Việt Nam học

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TẠI DI TÍCH VÀ LỄ HỘI CHÙA TRĂM GIAN

1.1 Giới thiệu chung về huyện Chương Mỹ

1.1.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch tự nhiên

1.1.1.1 Điều kiện tự nhiên

* Vị trí địa lý

Huyện Chương Mỹ là huyện bán sơn địa, đồng thời cũng là một trong 5 cửa ô

- địa bàn trọng điểm ở cửa ngõ phía Tây Nam Thăng Long - Hà Nội

Huyện Chương Mỹ nằm trên trục đường quốc lộ 6 có thể xuôi xuống Thành phố Hà Đông, Hà Nội và ngược lên Hoà Bình rồi qua Sơn La, Lai Châu Thị trấn Xuân Mai vừa là giao điểm của quốc lộ 6, vừa có thể nối với quốc lộ số 21 ở vị trí về phía Bắc và với Tam Điệp (Ninh Bình) ở phía Nam, ngoài ra có thể nối với đường cao tốc Láng - Hoà Lạc, trục giao thông mới rất quan trọng của Hà Nội Về địa lý hành chính, phía Bắc giáp với huyện Hoài Đức và huyện Quốc Oai, phía Nam giáp huyện Ứng Hoà và huyện Mỹ Đức, phía Đông giáp huyện Thanh Oai, phía Tây giáp huyện Lương Sơn tỉnh Hoà Bình

Theo số liệu thống kê của tổng cục thống kê tính đến năm 2006 huyện Chương

Mỹ có diện tích tự nhiên là 232 km2, dân số 28,2 vạn người, mật độ dân số là 1.173

ng/km2 Tỷ lệ dân số hàng năm là 1,03% Về cơ cấu giới tính, nữ còn chiếm tỷ

trọng cao hơn do hậu quả của chiến tranh lâu dài, nay trong hoà bình đang có xu hướng chuyển đổi để cân bằng

Trang 14

Sinh viên: Nguyễn Thị Hiền 7 Lớp: K37D – Việt Nam học

* Địa hình

Huyện Chương Mỹ có địa hình khá đa dạng, vừa có đặc trưng của vùng đồng bằng châu thổ, vừa có đặc trưng của vùng bán sơn địa với núi, sông, đồng bãi, hồ, hang động…Cùng dệt nên bức tranh sơn thuỷ hữu tình Nhưng thiên nhiên cũng thật

dữ dội khi biến nơi đây thành rốn nước của các con suối lớn đổ về từ thượng nguồn, mang trên vai trọng trách phân lũ khi sức đê sông Hồng chở che Thủ đô trở nên quá tải

Huyện có 32 đơn vị hành chính: 02 thị trấn và 30 xã, chia thành 3 vùng kinh tế

rõ rệt:

+ Vùng bán sơn địa, giới hạn bởi: phía Bắc và đông bắc giáp bờ hữu sông Tích

(chiều dài con sông chảy qua huyện 5km), sông Bùi (chiều dài con sông chảy qua huyện 23km Phía Tây và phía Nam giáp huyện Lương Sơn tỉnh Hoà Bình phía

Nam giáp huyện Mỹ Đức; gồm 10 xã, thị trấn Chạy dọc giữa vùng bán sơn địa là quốc lộ 21A có hơn 10 km thuộc đoạn đầu đường Hồ Chí Minh, nối liền chuỗi đó trong tương lai: Miếu Môn - Xuân Mai - Hoà Lạc Thế mạnh của vùng đất bán sơn địa là có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế trang trại, phát triển kinh tế thương mại, dịch vụ; phát triển du lịch sinh thái vùng hồ

+ Vùng bãi ven đáy, giới hạn bởi: đê hữu Đáy và dòng sông Đáy (chiều dài

con sông chạy qua huyện 28km) gồm 9 xã Đây là vùng đất màu mỡ, có nhiều tiềm

năng phát triển cả lúa và màu, nhất là phát triển các loại cây ăn quả, các loại cây rau, mầu có giá trị kinh tế cao - có tiềm năng phát triển khu du lịch tâm linh, sinh thái và vui chơi giải trí

+ Vùng trũng giữa huyện: từ bên tả sông Bùi, sông Tích đến giáp các vùng hữu sông Đáy gồm 14 xã Vùng này có quốc lộ 6A chạy qua, nối liền thủ đô Hà Nội với vùng Tây Bắc bao la có nhiều thế mạnh của tổ quốc; là vùng có nhiều làng nghề, đặc biệt có xã Tiên Phương nằm trên một dãy núi đất trù phú hữu tình với chùa Trăm Gian nổi tiếng Vùng đất này vừa có nhiều tiềm năng phát triển lúa có năng suất, chất lượng cao; vừa có nhiều tiềm năng phát triển các điểm, cụm công

Trang 15

Sinh viên: Nguyễn Thị Hiền 8 Lớp: K37D – Việt Nam học

nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; phát triển du lịch tâm linh, sinh thái, du lịch làng nghề

* Khí hậu

Khí hậu, thuỷ văn trong vùng mang đặc điểm chung của khu vực đồng bằng sông Hồng: chủ yếu là chế độ nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh, nhiệt độ trung bình năm dao động từ 23 – 24°C Mùa hạ nóng ẩm, nhiệt độ trung bình là 27°C, nóng nhất là vào thàng 6 và tháng 7 nhiệt độ có khi lên cao nhất tới 36 đến 38ºC Mùa đông nhiệt độ trung bình là 19°C, tháng giêng và tháng hai là tháng lạnh nhất, có năm nhiệt độ xuống thấp chỉ vào khỏang 6°C đến 8°C

Sông Tích hay còn gọi sông Tích Giang là phụ lưu cấp I của sông Đáy thuốc

hệ thống sông Hồng , bắt nguồn từ dãy núi Ba Vì , đầu nguồn là các hồ suối Hai, Đồng Mô

Chiều dài sông Bùi chảy qua địa phận huyện Chương Mỹ 23km từ cầu Tân

Trượng đến Ba Thá, chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, chủ yếu là cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp

* Sinh vật

Sinh vật của huyện Chương Mỹ tương đối đa dạng , tập trung và có giá trị nhất đối với hoạt động du lịch , cũng như việc phục vụ cho hoạt động lâm nghiệp đó là diện tích rừng trong núi chạy dọc theo hình cánh cung tạo thành một bức tường án ngữ ở phía Tây của huyện Rừng Chương Mỹ là rừng nhiệt đới ẩm gió mùa, thảm

Trang 16

Sinh viên: Nguyễn Thị Hiền 9 Lớp: K37D – Việt Nam học

thực vật phát triển quanh năm và là nơi cư trú của nhiều loài động thực vật Tuy nhiên hiện nay do tình trạng khai thác lâm nghiệp không có quy hoạch nên diện tích rừng đã giảm đi nhiều

Theo thống kê của Phòng Tài nguyên và môi trường huyện thì hiện nay hệ động vật của rừng Chương Mỹ chỉ còn lại rất ít và đang có nguy cơ bị tuyệt diệt Động vật với 13 loài thú, 24 loài chim, 17 loài bò sát, 5 loài ếch nhái, 19 loài cá, 17 loài côn trùng, ngoài ra còn một số loài sinh vật khác

Thảm thực vật ngoài các giá trị kinh tế và tác động phòng hộ giữ đất, giữ nước và là nơi trú ẩn, sinh sống của các loài động vật thì nó cũng là đối tượng hấp dẫn khách du lịch ưa thích loại hình du lịch sinh thái, nghiên cứu hoặc săn bắn

1.1.1.2 Tài nguyên du lịch tự nhiên

Thắng cảnh núi Trầm

Thắng cảnh núi Trầm thuộc thôn Long Châu, xã Phụng Châu, huyện Chương

Mỹ, cách trung tâm Thành phố Hà Đông chừng trên 10km về phía Tây Ở đây có

chùa Trầm, hang Trầm, có tiếng là một danh thắng Gần đó là chùa Vô Vi, một di tích nổi tiếng

Nay ở khu vực núi Trầm còn có nhiều cây thuốc quý như: cây núc lác, cây phấn chiều (sâm nam), cây sâu róm, cây sống đời…vẫn được khắp nơi, có người tìm mua

Khu du lịch sinh thái Xuân Mai

Khu di lịch sinh thái Xuân Mai thuộc thị trấn Xuân Mai, có diện tích gần 4 ha, gồm một hồ câu cá, khu bể bơi ngoài trời cho người lớn và trẻ em, khu nhà nghỉ, khu massage, khu nhà ăn và nhà bếp Rất thuận lợi cho việc phát triển du lịch cuối tuần

Khu du lịch sinh thái Văn Sơn

Khu du lịch sinh thái Văn Sơn với các hồ Văn Sơn, uốn lượn quanh co với các khu thể thao nước, khu vui chơi giải trí… Cùng các khu đồi cây xanh có khả năng phát triển các loại biệt thự, khách sạn, sân golf, khu nghỉ dưỡng…

Trang 17

Sinh viên: Nguyễn Thị Hiền 10 Lớp: K37D – Việt Nam học

Hồ Đồng Sương

Hồ Đồng Sương phẳng lặng trong lành thuộc xã Trần Phú với diện tích 203ha mặt nước Ngoài ra nơi đây còn có những nếp nhà tranh ven núi, toả khói lam chiều, những đàn cò trắng - cò lửa, le le nghiêng mình nhào lộn soi bóng xuống mặt hồ tạo cho du khách sự yên bình, để quên đi bao lo toan, bận rộn đời thường

1.1.2 Điều kiện kinh tế- xã hôi và tài nguyên du lịch nhân văn

1.1.2.1 Điều kiện kinh tế - xã hội

* Dân cư

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê tính đến năm 2006, dân số của huyện Chương Mỹ là 28,2 vạn người, mật độ dân số là 1.173 người/km2, gồm 2 dân tộc: Kinh và Mường, có 1 thôn (thôn Đồng Ké - xã Trần Phú) có 110 hộ với 460 người

* Kinh tế và xã hội

Trong những năm qua, kinh tế của huyện có mức tăng trưởng khá, năm sau cao hơn năm trước Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm khá cao (năm 2006 là 15,5%) Bình quân thu nhập đầu người tăng từ 4,2 triệu đồng (năm 2004) lên 5,8 triệu đồng (năm 2006) Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá, trong đó giảm tỷ trọng của ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng của ngành công nghiệp và dịch vụ

1.1.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn

* Tài nguyên vật thể

Theo thống kê của sở Văn hoá Thành phố Hà Nội thì hiện nay toàn huyện Chương Mỹ có hơn 1000 di tích các loại, trong đó có 32 di tích cấp quốc gia, 74 di tích cấp tỉnh

Chùa Trăm Gian

Chùa Trăn Gian có tên chữ là Quảng Nghiêm tự, hay chùa Tiên Lữ, có người còn gọi là chùa Núi, vì ở xóm Núi thuộc xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ, Hà Nội Chùa được lập từ đời Lý Cao Tông (1185) trên một quả đồi cao khoảng dăm chục mét, có tên là núi Mã, xung quanh có nhiều cây cổ thụ che rợp mặt đồi

Trang 18

Sinh viên: Nguyễn Thị Hiền 11 Lớp: K37D – Việt Nam học

Là một trong những di tích lịch sử văn hoá nổi tiếng của Hà Nội, chùa Trăm Gian không chỉ là một trung tâm tín ngưỡng và tôn giáo mà còn là một ngôi chùa có giá trị to lớn về mặt nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc Chính vì vậy chùa luôn thu hút một số lượng lớn Phật tử du khách về chiêm bái

Khu danh thắng núi Trầm

Nằm cách trung tâm Thành phố Hà Nội khoảng 25 km, danh thắng chùa Trầm là một địa điểm du lịch khá thú vị thuộc xã Phụng Châu, huyện Chương Mỹ, Hà Nội Không bề thế như chùa Trăm Gian ở cách đó vài kilômét, nhưng rất hợp với cái tên của mình, chùa Trầm lại có những nét "duyên thầm" rất riêng

Không chỉ ghi dấu tích của một thời phong kiến xa xưa, chùa Trầm còn là nơi đài Tiếng nói Việt Nam từng đặt cơ sở trong kháng chiến chống Pháp và truyền đi lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Bác Hồ năm 1946 Phong cảnh hữu tình, đó là một tiềm năng lợi thế về du lịch của Chương Mỹ

Đình Quán Cốc

Cùng nằm trên một dải đê sông Đáy, các ngôi đình Quán Cốc thượng, Quán Cốc Trung, Quán Cốc Hạ khá gần nhau về cự ly, thờ chung các vị thành hoàng và

xa xưa cùng chung tên Kim Cốc Cụm di tích này thuộc xã Hoàng Diệu huyện

Chương Mỹ Từ Hà Nội, thị xã Hà Đông theo quốc lộ số 6, đi khoảng 8km gần đến

thị trấn Chúc Sơn, rẽ tay trái theo đê sông Đáy, đi khoảng 12 km trên đê là tới di tích

Nhìn tổng thể, các di tích ở Quán Cốc đều nằm bên tả ngạn sông Đáy Theo

đường chim bay, các di tích cách nhau dưới 1km Nếu căn cứ vào truyền thuyết và

tư liệu điền dã, hồi cố thì giá trị của các di tích này chủ yếu là địa điểm lịch sử, còn về kiến trúc và điêu khắc thì thời gian và chiến tranh đã hủy hoại mất nhiều

Trang 19

Sinh viên: Nguyễn Thị Hiền 12 Lớp: K37D – Việt Nam học

Nhìn tổng thể, đình Tốt Động khá bề thế, khang trang Đình còn đủ cột trụ, tường bao, các mái đao cong vút và các hạng mục khác như sân gạch, hai dãy tả, hữu mạc…

* Tài nguyên phi vật thể

* Lễ hội: Huyện Chương Mỹ có 32 xã, thị trấn trong đó có tất cả 23 lễ hội

truyền thống

Lễ hội Phú Hoa Trang

Cách thủ đô Hà Nội 25 km theo đường quốc lộ 6A đi Hoà Bình, qua thị trấn Chúc Sơn - huyện Chương Mỹ Từ km 25 rẽ tay phải trên con đường bê tông thẳng tắp về tời điểm du lịch làng nghề mây - tre - đan nổi tiếng, cũng là một vùng quê văn hoá, nơi có lễ hội truyền thống dân gian đậm nét của vùng đồng trũng Phú Hoa Trang vào 3 ngày, từ ngày 16 đến 18 tháng 7 âm lịch, ngày nay là xã Phú Nghĩa -

Chương Mỹ - Thành phố Hà Nội

Lễ hội chùa Trăm Gian

Đã là chùa thì phải thờ Phật, song ở chùa Trăm Gian Phật giáo đã hoà nhập tín ngưỡng địa phương nên còn thờ cả Thánh, và hội chùa Trăm Gian là để kỷ niệm đức thánh Nguyễn Bình An, được tổ chức vào ngày mồng 4 tháng Giêng (thường kéo dài đến mồng 6) Lễ hội quan trọng có rước kiệu thánh, thi cỗ chay và trình rối cạn, ngoài ra còn có các trò vui như đánh cờ người, đấu vật, múa rối nước, đốt pháo

hoa…

* Làng nghề truyền thống:

Theo dấu thời gian, tìm trong các trang sử của quê hương thấy "Người quê ta tài hoa lỗi lạc, đất quê ta tụ khí anh tài" Thiên nhiên, trời đất đã ban tặng cho Chương Mỹ một vùng đất trù phú, con người yêu lao động sáng tạo Nhờ đó mà những hình ảnh về con người Chương Mỹ ngày càng đẹp hơn trong con mắt bạn bè và càng tự hào hơn bởi những sản phẩm có giá trị cao giàu trí sáng tạo Nếu nói Hà Tây là đất trăm nghề thì cũng không ngại nói Chương Mỹ là quê hương của những làng nghề truyền thống như: nghề Mây tre giang Phú Vinh; Tạc tượng Long Châu; Nón lá Văn Võ…nghề thêu ren truyền thống Hồng Phong, Tiên Phương… Về ẩm

Trang 20

Sinh viên: Nguyễn Thị Hiền 13 Lớp: K37D – Việt Nam học

thực ở Chương Mỹ có thôn Chi Nê xã Trung Hoà nấu rượu gạo, xã Phụng Châu có nghề làm nem chạo…

Mỗi làng nghề truyền thống ở Chương Mỹ mang những màu sắc, nghề luôn gắn liền với tên làng, tên xã Song điểm chung của các làng nghề truyền thống ở Chương Mỹ là nghề luôn thu hút được nhiều lao động, nghề làm đẹp con người, làm đẹp lòng người và làm đẹp cho đời Có những sản phẩm chuyên để trưng bày và trang trí ở những nơi sang trọng Nhưng có những sản phẩm phục vụ đời sống sinh hoạt hàng ngày của người dân mà không thể thiếu hoặc thay thế hoàn toàn được Giữa những nét đặc sắc của từng nghề và những điểm chung hiếm có của các làng nghề đang đan xen vào nhau tạo thành một bức tranh "làng nghề" nhiều màu sắc và có ý nghĩa quan trọng góp phần vào sự phát triển chung của huyện

Mây tre giang đan ở Phú Vinh

Làng nghề Mây tre giang đan Phú Vinh, nằm ven đường quốc lộ 6 cách thủ đô

Hà Nội trên 20 km Đến Phú Vinh ta vẫn được nghe câu thơ:

"Hỡi cô thắt bao xanh Có về Phú Nghĩa với anh thì về

Phú Nghĩa có giếng Bồ đề

Có nơi nghỉ mát, có nghề mây đan"

Cũng như dự án về du lịch làng nghề, lao động của 30/32 xã, thị trấn tham gia làng nghề đã chứng minh rằng nghề Mây tre giang đan ở Chương Mỹ (nghề truyền thống có nguồn gốc Phú Vinh) vẫn đang khởi sắc

Trang 21

Sinh viên: Nguyễn Thị Hiền 14 Lớp: K37D – Việt Nam học

một con rồng đá ở Văn Miếu Quốc Tử Giám, sau đó nghệ nhân được nhận làm tiếp cho chùa Yên Tử một cây cầu bằng đá có chiều rộng 3m, chiều dài 32m và một cây đèn cùng một số con giống trong chùa Và một số sản phẩm khắc đá như: Tượng Phật Bà được đặt ở Quảng Ninh, ngựa đá đặt ở Hà Bắc và một con rồng được đặt ở Đền Đô, nơi thờ các vị vua triều Lý thuộc huyện Từ Sơn, có những sản phẩm được đưa vào Thành phố Hồ Chí Minh

1.1.3 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật

1.1.3.1 Cơ sở hạ tầng

* Giao thông vận tải

Nằm ở phía Tây Nam của Thành phố, huyện chương Mỹ có các tuyến đường Hồ Chí Minh và quốc lộ 6A, tuyến tỉnh lộ 419, chạy qua với tổng chiều dài gần 60

km

- Quốc lộ 6A chạy qua địa phận Chương mỹ nối thủ đô Hà Nội với vùng Tây Bắc bao la có nhiều thế mạnh của Tổ quốc Có hàng ngàn ha đất chuyên dụng để

mở rộng các khu, cụm, điểm công nghiệp dọc theo các tuyến quốc lộ 6A

- Chạy dọc bán sơn địa là quốc lộ 21A, có hơn 10 km thuộc đoạn đầu đường Hồ Chí Minh nối liền chuỗi giao thông quan trong trong tương lai: Miếu Môn - Xuân Mai - Hoà Lạc

- Ngoài ra còn có đường tỉnh lộ 80, 419

Hệ thống giao thông đường thuỷ sông Bùi, sống Đáy, sông Tích cũng khá thuận tiện tạo điều kiện để Chương Mỹ phát triển kinh tế và đảm bảo công tác an ninh quốc phòng

Đồng thời các tuyến giao thông đường huyện, xã, liên thôn được bố trí, phân bố tương đối đều và hợp lý, nên Chương Mỹ có nhiều điều kiện thuận lợi cho giao thông giữa các miền trong và ngoài huyện, thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển

* Hệ thống điện lực

Hiện nay toàn huyện bao gồm 30 xã và 2 thị trấn đều có điện sinh hoạt, tiêu thụ bình quân đầu người hàng năm là vào khoảng 190kwh/người/năm, trong đó khoảng 48% cho sản xuất và 52% cho sinh hoạt - dịch vụ

Trang 22

Sinh viên: Nguyễn Thị Hiền 15 Lớp: K37D – Việt Nam học

* Nước sinh hoạt

Nhìn chung nước sinh hoạt của huyện tương đối dồi dào do có hệ thống cácsông lớn: sông Tích, sông Đáy, sông Bùi chảy qua địa bàn huyện, cung cấp một lượng nước lớn cho sinh hoạt cũng như cho sản xuát công nghiệp

* Thông tin liên lạc

Mạng lưới viễn thông, bưu chính của huyện được thành phố, Nhà nước cung cấp khá hoàn chỉnh, phát triển cả về chiều sâu lẫn chiều rộng

Huyện có đài phát thanh sóng FM, 100% số xã, thị trấn có đài truyền thanh 27/32 xã, thị trấn có điểm bưu điện văn hoá xã, 03 bưu cục nhỏ và 01 bưu cục trung tâm thuộc thị trấn Xuân Mai và thị trấn Chúc Sơn

1.1.3.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật

* Phương tiện vận chuyển

Toàn huyện gồm có 5 xe chuyên chở khách tham quan du lịch thuộc các khu công nghiệp lớn Khách ở đây chủ yếu là công nhân, cán bộ, thường đi dải dác vào các ngày nghỉ, lễ, tết…

Bên cạnh đó toàn huyện còn có 2 hãng Taxi với tổng số 70 xe Huyện có 1 bến

xe với qui mô nhỏ Do huyện nằm trên trục đường quốc lộ 6 nên có rất nhiều xe khách chạy qua và đặc biệt có tuyến xe bus Hà Đông - Xuân Mai, 15 phút một chuyến

|* Cơ sở y tế

Về cơ sở y tế có 1 bệnh viện huyện, 32 trạm y tế xã, thị trấn chưa kể mạng lưới y tế trong khu vực kinh tế công nghiệp Hệ thống y tế được đầu tư và xây dựng mới từ huyện đến cơ sở, 28/32 xã, thị trấn có bác sỹ, 10/32 trạm đạt tiêu chuẩn quốc gia 100% thôn, xóm có các bộ y tế thôn

Ngành y tế huyện đã thực sự thực hiện tốt các chương trình y tế quốc gia, y tế cộng đồng đảm bảo chức năng là ngành chăm sóc sức khoẻ cho toàn dân

Trang 23

Sinh viên: Nguyễn Thị Hiền 16 Lớp: K37D – Việt Nam học

* Về giáo dục đào tạo

Ngành giáo dục đào tạo Chương Mỹ đã góp công sức to lớn của mình vào sự nghiệp nâng cao dân trí của nhân dân Từ một huyện dân trí thấp (1945 - 95% dân số mù chữ) đến nay gần 99,8% số dân biết chữ Đại bộ phận nhân dân có học vấn từ tiểu học trở lên

Hệ thống giáo dục đào tạo của huyện gồm có: 02 trường Đại học, 03 trường cao đẳng, 02 trường trung cấp, 01 trường trung tâm giáo dục thường xuyên, 06 trường trung học phổ thông, 36 trường trung học sơ sở, 39 trường tiểu học, 37 trường mầm non Trong những năm gần đây giáo dục đào tạo của huyện phát triển tương đối toàn diện Giáo dục huyện đã góp phần đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho các ngành kinh tế trong toàn huyện cũng như các địa phương khác

* Cơ sở lưu trú

Cơ sở lưu trú hiện nay của huyện đang từng bước đầu tư, tuy nhiên vẫn chưa xứng với tiềm năng đang có Theo thống kê sơ bộ của UBND huyện thì số cơ sở lưu trú của huyện bao gồm 21 nhà nghỉ, nhà khách và 01 khách sạn với tổng cộng 178 phòng tất cả đều có qui mô vừa và nhỏ, nằm rải rác trong toàn huyện và tập trung nhiều nhất ở thị trấn, trục đường quốc lộ 6A

Do có qui mô nhỏ nên các cơ sở lưu trú chủ yếu phục vụ khách qua đường, khách bình dân và khách vãng lai với thời gian lưu trú không nhiều

Thực trạng khai thác của các cơ sở lưu trú vẫn còn nhiều hạn chế, hầu hết các nhà nghỉ, khách sạn chỉ làm các nhiệm vụ về kinh doanh ăn nghỉ cho khách còn các dịch vụ khác thì rất thiếu

* Nhà hàng phục vụ ăn uống

Số lượng các nhà hàng phục vụ ăn uống thường gắn liền với các nhà nghỉ, nhà khách, khách sạn Ngoài ra còn có các nhà hàng chỉ chuyên phục vụ ăn uống nằm nhiều ở các khu dân cư tập trung, thị trấn, các điểm du lịch và dọc đường quốc lộ Cũng như nhà nghỉ, quy mô của các cơ sở phục vụ ăn uống phần lớn trung bình và nhỏ, thường phục vụ các món ăn bình dân, các món thông dụng… Bên cạnh đó cũng có các nhà hàng phục vụ các món ăn độc đáo, mang hương vị núi rừng là niềm cảm hứng cho du khách gần xa

Trang 24

Sinh viên: Nguyễn Thị Hiền 17 Lớp: K37D – Việt Nam học

Hiện nay theo nguồn của Phòng Văn hoá thông tin huyện, số cơ sở phục vụ cho nhu cầu ăn uống là vào khoảng 259 cơ sở Nổi tiếng là các cơ sở ở thị trấn Xuân Mai với khu du lịch sinh thái Xuân Mai, và thị trấn Chúc Sơn

1.2 Đặc sắc di tích chùa Trăm Gian

1.2.1 Chùa Trăm Gian - ngôi chùa cổ có cấu trúc đặc biệt

“Đỉnh núi non dài cảnh Thiên Thai, Quảng Nghiêm tên tự ấy chẳng sai Xuân nhật thượng quan lai vãng cảnh Quốc tế ngàn năm để tiếng truyền ”

Xa xưa nơi đây là xã Tiên Lữ, tổng Tiên Lữ, huyện Yên Sơn, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây, sau chuyển sang huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Đông, nay thuộc Hà Nội Từ Hà Đông theo quốc lộ 6, qua cầu Mai Lĩnh và phía sau thị trấn Chúc Sơn,

đi thêm chừng 2km thì rẽ tay phải, men theo chân núi Sở khoảng 3km sẽ tới

Núi Sở là con ngựa, cạnh đó có núi So là con hổ, các gò đồi xung quanh có các tên là con Mộc, con Hỏa, con Long… Tất cả đã tạo cảnh quan văn hóa hội xuân chơi núi, chơi hang Khuôn viên chùa trải rộng trên quả đồi, hướng Nam, song cổng

mở đầu là hướng Đông - Nam để giáp đường đi tiện cho du khách thăm chùa Cổng chùa được xây hai trụ lớn tạo một lối đi ở giữa, hai bên là hai tường nối với hai trụ nhỏ, như vậy mang tính chất nghi môn là cổng của đền - đình

Chùa Trăm Gian là một quần thể kiến trúc rộng lớn Tính từ cổng ngõ ven đường tỉnh lộ lên tận đỉnh đồi có thể chia thành 3 khu vực chính Đầu tiên du khách

đi qua 4 cột trụ nghi môn vào một sân gạch có đôi voi đá đứng chầu, hai bên là 2 ngôi quán mái cong cong làm chỗ bán hàng giải khát và đồ lưu niệm, cũng để du khách chỉnh đốn y trang và đồ lễ trước khi lên chùa Đi thẳng theo con đường rộng rãi hơi dốc sẽ đến bậc thềm lên nhà Giá Ngự, nơi đặt kiệu rước Đức Thánh Bối và ngồi xem múa rối nước trên một hồ sen hình bán nguyệt ở dưới chân đồi Đó là khu vực thứ nhất

Trang 25

Sinh viên: Nguyễn Thị Hiền 18 Lớp: K37D – Việt Nam học

Nếu rẽ phải ở chỗ có đôi rồng đá và leo hơn trăm bậc gạch lên đồi du khách sẽ tới khu vực thứ hai, bao gồm nhà bia và gác chuông Gác chuông là một toà phương đình 2 tầng 8 mái dưới bóng thông già Đây là khu vực thứ hai

Leo tiếp 25 bậc đá thềm rồng thì đến sân bái đường, nơi có kê một sập đá hình chữ nhật dùng để sắp đồ lễ Du khách bắt đầu vào khu vực thứ ba mà trung tâm kiến trúc là ngôi chùa chính được xây kiểu truyền thống “nội Công ngoại Quốc”, quay mặt về hướng đông - nam Các di vật quý giá chủ yếu của chùa Trăm Gian được đặt

ở đây Bước hết 9 bậc thềm cao du khách sẽ tới toà Tam bảo, gồm tiền đường 7 gian, thiêu hương và thượng điện 3 gian Hậu đường cùng chiều dài như tiền đường nhưng chia thành 9 gian hơi hẹp hơn, nối với nhau bằng hai dãy hành lang dài, mặt bằng tạo thành một hình chữ nhật kín, ở giữa là lầu trống

Mé bên trái sau hậu đường là khu sinh hoạt của tăng ni và một nhà thờ Mẫu được xây muộn hơn Xung quanh chùa là khuôn viên xanh ngát, trong đó gần 30 cây thông đã vượt xa tuổi bách niên Hai bên sân trước tiền đường có lối đi xuống hai vườn tháp với hàng chục ngôi mộ rêu phong thấp thoáng dưới bóng các cổ thụ ở lưng chừng quả đồi, càng làm tăng vẻ u tịch của ngôi chùa

Từng ấy công trình ở hai khu chính và phụ gắn bó với nhau theo hai không gian đạo và đời, khác nhau nhưng lại hòa quyện thống nhất dàn khắp đỉnh đồi Khu trước hoàn toàn là kiến trúc tôn giáo, phục vụ đời sống tâm linh, được quây kín theo kiểu nội công - ngoại quốc, nhưng chẳng những hệ thống của bức bàn phía trước Thượng điện có thể đóng hoặc mở tùy ý, mà các khoảng sân ở trước các dãy hành lang và trước tòa Phương đình tuy đóng ngang nhưng lại mở dọc, có thể thông với nhau qua các cửa, vẫn tiếp với bầu trời để nhận ánh sáng và mưa gió

Chùa Trăm Gian vừa là di tí ch kiến trúc nghệ thuật vừa là danh lam thắng cảnh nổi tiếng của tỉnh Hà Tây cũ Chùa được xây dựng ở một vị trí lý tưởng , toàn bộ các công trình kiến trúc của chùa được xây dựng dàn trải trên khắp quả núi Mã , tập trung chủ yếu về hướng Nam và Đông Nam Nơi đây có núi , có chùa, có cảnh quan thiên nhiên phong phú, là nơi danh lam thắng tích và thiêng liêng phù hợp đạo thiền Lại có thêm sông , hồ, có giếng nước trong vắt , xung quanh có nhiều gò đống

Trang 26

Sinh viên: Nguyễn Thị Hiền 19 Lớp: K37D – Việt Nam học

với nhiều tên gọi khác nhau Người xưa quan niệm rằng muốn cho kiến trúc ấy được linh thiêng, phải chọn thế đất nằm trong dòng chảy của sinh lực Mà sinh lực từ trên chảy xuống rồi lan tỏa đi , có nghĩa là phải đặ t trên cao, trước mặt có hồ bán nguyệt để tụ phúc Di tích quay về hướng nam , mang ý nghĩa tốt đẹp : hướng Bát nhã, hướng của trí tuệ theo đạo Phật Hướng nam cũng là hướng phù hợp với khí hậu Việt Nam tạo sự mát mẻ mà thoáng Ngoài ra ở đây có sự hỗ trợ của cây cỏ xung quanh kiến trúc làm cho ngôi chùa mang một hình thức đầm ấm , hợp với tâm

lý của người Việt Ở chùa Trăm Gian , phía trước bên trái có trồng nhiều mít , với ý nghĩa thực dụng thì mít l à thứ gỗ dễ tạc t ượng, nhưng ý nghĩa khác mít là cây “Đáo bỉ ngạn” có nghĩa là đến bờ giác ngộ Như vậy ta có thể thấy , chỉ mới thông qua một loại cây mít đã nhắc nhở phật tử và du khách hướng tới b ến bờ của sự giác ngộ Ngoài ra, xung quanh chùa có rất nhiều cây cổ thụ tỏa bóng mát , nhất là gần 30 gốc thông có tới vài trăm tuổi , thân cao vút , ngày đêm gió thổi vi vu , hòa cùng tiếng chuông chùa Vừa tạo vẻ cổ kính lại tăng thêm vẻ đẹp cảnh quan của ngôi chùa Chùa Trăm Gian là một trong vô vàn những sáng tạo quý báu của người xưa để lại đến nay, khi mà cuộc hành trình “ Trở về cội nguồn” đang được mọi tầng lớp quan tâm, thì những d i tích văn hóa này ngày càng được chứng tỏ rằng không bao giờ bị lạc lõng Nó đã giúp cho chúng ta biết đến truyền thống về một nền kiến trúc nghệ thuật đậm đà bản sắc dân tộc Tháng 4 năm 1962 Bộ Văn Hóa thông tin đã xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia cho chùa Trăm Gian Năm 1996 ngội chùa này lại được công nhận là di tích đặc biệt quan trọng Tuy nhiên hồ sơ về chùa Trăm Gian hầu như chưa có gì

1.2.2 Toà gác chuông hai tầng tám mái

Gác chuông chùa Trăm Gian là một trong số ít gác chuông cổ nhất ở Việt Nam còn lại đến ngày nay Đây là một thế mạnh của chùa Trăm Gian để thu hút khách du lịch, những nhà nghiên cứu và những người hành hương về đây

Họa tiết trang trí trên Gác chuông của chùa gồm có nhiều hình chạm rồng xen lẫn mây lửa thuộc cuối thế kỷ XVII sang đầu thế kỷ XVIII

Trang 27

Sinh viên: Nguyễn Thị Hiền 20 Lớp: K37D – Việt Nam học

Kiến trúc của Gác chuông là kiến trúc mặt bằng vuông dựng kiểu chồng diêm , hai tầng tám mái như một bông sen khổng lồ thanh quý Gác chuông cao 6m50 (tính từ nóc xuống nền dươi ), nền cao 0m27, ngang 8m, dọc 8m20 Tòa gác chuông có 2 tầng 8 mái dựng năm 1693, phần cổ diêm lắp lan can chấn song con tiện, tạo cho bên trong thoáng mát Với tính chất Tam quan, gác chuông có 1 gian chính và 2

xuống chân tảng đá phân đều trên nền chùa , nhưng tập trung vào 4 cột cái Nếu tính

4 cột là một gian thì Gác chuông có 9 gian, gian giữa rộng hon gian 2 bên và gian chính được tạo bởi 4 cột cái là rộng nhất

Các cột đều được kê trên những chân tảng bằng đá để trơn trên nền nát gạch nung đỏ Đặc biệt có 2 chân tảng đỡ hai cột cái phía trước có kích thước 87x87cm được chạm hình cánh sen Chân tảng bên phải ( nhìn từ phía trước vào ) có 16 cánh đều nhau, chân tảng bên trái có 16 cánh không đều nhau lắm Phong cách tạo tác có thể là ở thời Trần , giai đoạn cuối Nhưng ở thời Trần chưa có Gác chuông , như thế có lẽ đây là sự vay mượn kiến trúc , người ta nhấc chân tảng đá ở một kiến trúc khác sang đặt vào Gác chuông

Phần trang trí ở đây được tập trung vào những mảng lớn , đó chính là những mảng cốn Hai cốn dọc mặt trong được chạm t heo đề tài : rồng đàn , rồng mẫu tử , lân… trông khá đầm ấm Đuôi rồng mập mạp , đao mác , thân ngắn , trán nhô cao , miệng rộng, sừng có con có con không, như vậy ta có thể tin rằng những mảng kiến trúc này được tạo tác vào khoả ng cuối thế kỷ XVII (thời Lê Trung Hưng ) Các bức

hướng ra ngoài, mặt ngoài trang trí guột đơn giản Hai cốn ngang hai bên đề tài như hai cốn dọc nhưng được chạm đơn giản hơn

chuông, tầng dưới tượng trưng cho Tam quan Sàn được ghép bằng gỗ khít nhau chỉ để hở một ô hình chữ nhật vừa đủ để một người chui lên gác qua một chiếc thang gỗ

Trang 28

Sinh viên: Nguyễn Thị Hiền 21 Lớp: K37D – Việt Nam học

Gác chuông tầng trên cũng có 16 cột nhưng lực chủ yếu vẫn dồn vào 4 cột cái

ở giữa Bộ vì được làm theo kiểu: chồng rường giả đấu, vì được tạo bởi 3 con rường đặt chồng lên nhau rồi đặt thẳng lên câu đầu , mảng chạm ở đây chỉ là những hình khối nổi guột xoắn một chút Bộ vì trái làm kiểu ván mê , phần trung tâm tạo thàh vòng hào quang lớn , cả vòng trong vòng ngoài đều có tia mây sáng , mập, ngắn bay

chiếc lá, có phần cuống lá phía dưới, gợi lên liên tưởng như hình lá đề

Các đầu dư chạm hình đầu rồng , râu xoắn miệng có răng , ngậm ngọc , trên lưng có con lân trông rất ngộ nghĩnh Đây là phong cách trang trí thường gặp ở cuối thế kỷ XVII

Năm 1794 Cảnh Thịnh 2, Đô đốc Đặng Tiến Đông cho trùng tu chùa và đúc chuông_ quả chuông lớn mang tên Quảng Nghiêm cổ tự, đây là một trong số những hiện vật cổ quý giá ở chùa Trăm Gian

1.2.3 Những bức phù điêu

1.2.3.1 Bộ phù điêu “Thập Điện Diêm Vương”

Bộ tranh có tên “Thập Điện Diêm Vương” là một trong những bảo vật ghi nhận giá trị lịch sử lâu đời của chùa Trăm Gian

Ở Việt Nam có hàng trăm bộ tranh Thập điện Diêm vương dựa vào nội dung tác phẩm Phật giáo như “Thập Vương kinh” hoặc tác phẩm Đạo giáo như “Ngục lí truyện”, nhưng bộ tranh ở chùa Trăm Gian thuộc loại cổ và quý nhất Các bức tranh được tạc bằng gỗ mít nặng mỗi bức đến cả trăm cân trải qua gần nghìn năm đã lên màu đen bóng Các bức tranh cổ làm bằng gỗ mít, khắc trên đó những hình ảnh thể hiện 10 cửa địa ngục trần gian, nội dung trên mỗi bức tranh thường là phần trên Phán quan ngồi giữa hai bên có người hoặc quỷ sứ đứng hầu để xét hỏi tội, phần dưới là các tầng địa ngục mà tội nhân phải nhận các án trừng phạt như đeo gông, trói, chặt đầu, bỏ vào vạc dầu Nội dung các bức tranh bao hàm ý nghĩa tâm linh, có tác dụng giáo dục con người tránh những cái xấu, cái ác để hướng thiện

Theo lời kể của ni sư Thích Đàm Quang thì niên đại của bộ tranh "Thập Điện Diêm Vương" tương đương với lịch sử của ngôi chùa Trăm Gian cổ kính Cách đây

Trang 29

Sinh viên: Nguyễn Thị Hiền 22 Lớp: K37D – Việt Nam học

gần nửa thế kỷ, khi ni sư Đàm Quang còn nhỏ thì đã quen với 10 bức tranh Diêm vương đồ sộ treo dọc ở hành lang dẫn lên đại điện 4 bức tranh trông cũ kỹ nhưng có một uy lực đáng sợ khiến ai nhìn vào cũng đều phải cúi đầu kính cẩn

Nội dung trên mỗi bức tranh thường là phần trên Phán quan ngồi giữa hai bên có người hoặc quỷ sứ đứng hầu để xét hỏi tội, phần dưới là các tầng địa ngục mà tội nhân phải nhận các án trừng phạt như đeo gông, trói, chặt đầu, bỏ vào vạc dầu 10 vị Diêm Vương được khắc họa trong bộ tranh là Tần Quảng Vương, Sở Giang Vương, Tống Đế Vương, Ngũ Quang Vương, Diêm La Thiên Tử, Biện Thanh Vương, Thái Sơn Vương, Đô Thị Vương, Bình Đẳng Vương, Chuyển Luân Vương Màu sắc trên tranh là màu nguyên, màu chủ đạo là đen, trắng, đỏ vàng với nét vẽ gọn, rõ ràng, gây ấn tượng rất mạnh

Các tranh vẽ, chạm khắc miêu tả cảnh phạt tội ở địa ngục: địa ngục tăm tối, máu chảy, đầu rơi, các hình phạt kinh hồn cốt không ngoài mục đích khuyến thiện răn ác, nhằm làm cho người đời thấy đó mà kiêng dè, thấy đó mà hướng thiện, nhắc nhở người đời phương châm đạo lý "Ở hiền gặp lành, ở ác gặp dữ"

1.2.3.2 Bộ phù điêu khắc các vị La Hán

Dọc các gian tả và hữu hai bên chùa Trăm Gian là nơi phụng thờ các vị La hán được chạm khắc tinh xảo trên các bức phù điêu

La Hán có ba nghĩa:

- Bất sinh: vĩnh viễn vào cõi niết bàn, giải thoát khỏi vòng sinh tử, luân hồi, không còn phải tái sinh nữa, vĩnh viễn trở thành bất tử

- Ứng cúng: xứng đáng được hưởng thụ sự cúng dâng

- Sát tặc: trừ bỏ được ba độc: tham, sân, si

Trong mĩ thuật, các vị La Hán thường được thể hiện dưới 3 dạng: tượng, phù điêu và tranh vẽ, để thờ ở các chùa Ở chùa Việt Nam, các La Hán chỉ thể hiện ở hai dạng tượng và phù điêu, như La Hán ở chùa Trăm Gian (Quảng Nghi Tự), Chùa Thầy (Thiên Phúc Tự), Chùa Mía (Sùng Nghiêm Tự), 3 chùa này đều ở Hà Tây Cách bài trí: tượng La Hán được đặt ở hai nhà giải vũ Tượng La Hán ở Miền Bắc thường trong tư thế ngồi trên loại bệ tự nhiên như tảng đá, mô đất, gốc cây Tượng

Trang 30

Sinh viên: Nguyễn Thị Hiền 23 Lớp: K37D – Việt Nam học

La Hán ở Miền Nam trong tư thế cưỡi trên lưng các con thú Hình hài, động tác, nét mặt mỗi vị một vẻ rất sinh động và gần gũi với con người đời thường

1.2.4 Hệ thống tượng

Chùa Trăm Gian có số lượng tượng phật khá lớn , hệ thống tượng ở đây đầy đủ cho một Phật điện thông thường , từ Tam Thế xuống đến Hộ Pháp Tại đây có 153 pho tượng cổ , hầu hết bằng gỗ , một số ít bằng đất nung sơn son thếp vàng Sự sắp xếp bố cục giữa các ban thờ đều tuân theo một hệ hống chặt chẽ từ trên xuống dưới , từ giữa rồi trái trước phải sau Sự tách biệt giữa các cấp bậc được thờ có ranh giới

rõ ràng trông thật thâm nghiêm

1.2.4.1 Tượng Đô đốc Đặng Tiến Đông

Chùa Trăm Gian nổi tiếng có tượng Đô đốc Đặng Tiến Đông Đây không chỉ là một tác phẩm nghệ thuật điêu khắc quý hiếm , có giá trị n ghệ thuật tạo hình thời Tây Sơn mà còn là hình ảnh cụ thể của một vị anh hùng dân tộc đã góp phần quan trọng vào chiến công oanh liệt của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống quân Thanh xâm lược cuối thế kỷ XVIII

Trang 31

Sinh viên: Nguyễn Thị Hiền 24 Lớp: K37D – Việt Nam học

Đô đốc Đặng Tiến Đông _ một quan võ ở thời Tây Sơn, tượng tạc một vị quan vận triều phục trong tư thế ngồi, cao 1,3m, khuôn mặt to lớn, gò má hơi cao, môi dày, râu quai nón, nét mặt trang nghiêm Đô đốc Đặng Tiến Đông sau chiến công đánh thắng quân Thanh đầu xuân Kỷ Dậu (1789) đã về quê đóng góp vào việc tu bổ chùa, được tạc tượng chân dung thờ ở chùa ngay khi còn sống, tương truyền giống đến mức khi bước vào chùa, người xem không phân biệt được người hay tượng

Hà Tây, được người đời gọi là đức Thánh Bối

Gian bên phải là khám thờ “đức Thánh Bối” Nguyễn Bình An, vị thánh đã được thờ ở chùa Bối Khê Tượng thánh Bối được làm bằng mây đan ngoài bọc vải phủ sơn, tương truyền đây là tượng bỏ hài cốt của ông Khu thờ Thánh không xây riêng mà quây ván bưng bên trái Thượng điện, cũng gọi là Cung Thánh thiêng liêng chỉ nhà sư trụ trì mới được vào hành lễ

Truyền thuyết kể rằng vào đời Trần, ở làng Bối Khê có một người phụ nữ nằm mộng thấy đức Phật giáng sinh, rồi có mang, sinh ra một con trai Năm lên 6 tuổi, cha mẹ mất, người con phải đi chăn trâu, nhưng rất mộ đạo Phật, thường làm bàn thờ cúng lễ Đến năm 9 tuổi, người con trai ấy bỏ nhà vào tu ở chùa Đại Bi trong làng Lên 15 tuổi, đi vân du khắp nơi, đến thôn Tiên Lữ, xã Tiên Phương, huyện Hoài Đức, Hà Tây ngày nay, thấy cảnh đẹp, Người xin yết kiến và theo học kinh kệ với vị trưởng lão tu tại ngôi chùa trên núi Mười năm học đạo, người thanh niên đó hiểu thấu mọi phép linh thông Vua Trần nghe tiếng, sắc phong là Hòa Thượng, đặt đạo hiệu là Đức Minh rồi mời về tu ở chùa trong kinh đô

Sau khi vị trưởng lão ở chùa Tiên Lữ viên tịch, Hòa Thượng Đức Minh xin về làng dựng ngôi chùa mới Tương truyền rằng Ngài có phép hóa cỗ bàn cơm chay, thợ xây chùa ăn mãi không hết Khi chùa dựng xong, Hòa thượng mang guốc gỗ đi

Trang 32

Sinh viên: Nguyễn Thị Hiền 25 Lớp: K37D – Việt Nam học

qua đi lại trên kèo như đi trên mặt đất, ai nấy đều bái phục vái lạy phép thần thông của Ngài Năm 95 tuổi, Ngài ngồi vào một cái khám gỗ, từ biệt đệ tử rồi siêu thoát Một trăm ngày sau, đệ tử mở cửa khám, kim quang Ngài bay mùi thơm nức, ngào ngạt gần xa Dân làng và đệ tử xây tháp để gìn giữ kim thân và tôn thờ là đức Thánh Bối

Sách “Lĩnh Nam chích quái’’ cũng có ghi sự tích đức Thánh Bối có thể làm mưa, gọi gió Truyền thuyết còn kể rằng vào đầu thế kỷ XV, quân Minh xâm lược nước ta, có một toán giặc nghe nói chùa Tiên Lữ rất thiêng, bèn phóng hỏa đốt chùa, phá tượng Đức Thánh Bối nổi giận hóa phép làm ra một trận mưa kéo dài ba ngày ba đêm, nước đỏ như máu, dâng cao tới ba thước dìm chết hết lũ giặc bạo ngược kia Sau đó một đám mây năm sắc hiện lên nền trời, cuộc sống thanh bình trở lại, ngôi chùa vẫn nguyên như cũ Dân làng quanh năm hương khói, mỗi khi gặp đại hạn, làm lễ cầu mưa tại chùa, rất được linh ứng Các triều vua sau đều phong đức Thánh Bối là "Thượng đẳng tối linh Đại Thánh"

1.2.4.3 Tượng Tuyết Sơn

Tượng Tuyết Sơn chùa Trăm Gian, một trong những pho tượng Tuyết Sơn đẹp nhất, và cũng là pho tượng đẹp nhất chùa Trăm Gian

Trong nhiều chùa, trên bàn thờ có thể gặp một pho tượng một người cực kì gầy gò, chỉ còn da bọc xương ngồi trong một tư thế khắc khổ, đó là tượng Tuyết Sơn Theo Phật giáo, thì khi thái tử Tất Đạt Đa Cồ Đàm lìa bỏ gia đình đi tìm con đường giải thoát, đã trải qua việc tu học với nhiều vị thầy Sau đó ông đã tự mình tu tập khổ hạnh trong núi tuyết (Tuyết sơn), mỗi ngày chỉ ăn một hạt vừng, khiến cho thân thể suy kiệt Tu khổ hạnh là một trong các phương thức tu tập của Bàlamôn nhằm đạt chứng ngộ chân lý thượng đế

Khi đó Tất Đạt Đa suy kiệt đến mức cùng cực, đúng lúc đó có một thôn nữ mang một bình sữa đi qua, thấy ông đã kiệt sức nên dâng tặng một bát sữa Tất Đạt

Đa nhận ra rằng phương thức tu ép xác khổ hạnh không phải là con đường đúng để đạt tới chính đẳng chính giác Ông lập tức từ bỏ phương pháp tu đó, nhẹ nhàng không vương vấn, sau đó thành đạo dưới gốc Bồ Đề , khi đó thành Phật Tượng

Trang 33

Sinh viên: Nguyễn Thị Hiền 26 Lớp: K37D – Việt Nam học

Tuyết Sơn do đó mô tả Tất Đạt Đa khi đang tu khổ hạnh , tức là khi chưa chính quả , khi còn đang "sai lầm" Do khi đó chưa đạt quả vị Phật, nên tượng Tuyết Sơn không ngồi trên tòa sen

Tượng Tuyết Sơn chùa Trăm Gian, một trong những pho tượng Tuyết Sơn đẹp nhất, và cũng là pho tượng đẹp nhất chùa Trăm Gian , tượng được tạc bằng gỗ mít sơn then đen nhánh Pho thượng Tuyết Sơn ở chùa Trăm Gian rất giống với pho thượng Tuyết Sơn ở chùa Tây Phương, song các đường gân và mạch máu lại nổi lên rất rõ Nhìn bức tượng Tuyết Sơn này ta có thể thấy được tài năng điêu khắc của các nghệ sĩ dân gian xưa Các khớp xương, mạch máu nổi lên dưới da, móng tay dài, xương chân tay hiện rõ Hốc mắt sâu, má hóp rất đúng giải phẫu

Tượng ngồi trên một ván tròn hơi giống hình chiếc lá dày độ 5 cm, phần bệ có khắc nổi hoa văn chanh , hai nửa bông hoa chanh ghép lại thành hình ô trám , chính giữa có hình hoa thị với 4 cánh tròn… Phong cách pho thư ợng này ở khoảng cuối thế kỷ XVII

1.2.4.4 Tượng Quan Âm

Dạng tượng Quan Âm Tọa Sơn có lẽ chính là sự kết hợp của tín ngưỡng thờ Mẫu với Phật giáo Trong điện Mẫu ở các chùa, ba Mẫu Thiên – Thoải (Thủy) – Thượng Ngàn thường được tạo hình giống nhau và được đặt ở vị trí ngang hàng nhau Tuy nhiên ở nhiều nơi Mẫu Thượng Ngàn còn được tách ra thờ riêng trong Sơn Trang, được tạo hình là cả một cảnh rừng núi, hang động còn hoang sơ Như thế Mẫu Thượng Ngàn theo đúng nghĩa là người Mẹ ngồi trên đỉnh núi Khi tín ngưỡng thờ Mẫu thâm nhập vào ngay chính Phật điện thì Mẫu được Phật hóa thành Bồ Tát, cụ thể Mẫu Thượng Ngàn hóa thân thành Bồ Tát Quan Âm Tọa Sơn Loại tượng này có bế một đứa bé – tượng trưng cho chúng sinh đau khổ, nên còn được gọi là Quan Âm Tống Tử Trong quá trình dân gian hóa hình thức này chuyển thành Quan Âm Thị Kính, cũng gọi là Mụ Thiện

Tượng Quan âm tọa sơn tại chùa Trăm Gian có niên đại vào khoảng cuối thế

kỷ XVIII

Trang 34

Sinh viên: Nguyễn Thị Hiền 27 Lớp: K37D – Việt Nam học

1.2.5 Một số hiện vật cổ quý giá khác

Ngoài ra, ở chùa Trăm Gian còn có một số lượng lớn di vật như:

Quảng Nghiêm cổ tự là một trong số những hiện vật cổ quý giá ở chùa Trăm

Gian Quả chuông cao 140cm, đường kính miệng là 79cm, miêng loe khỏi thân 7cm,

là điển hình của chuông đồng Tây Sơn , miệng để trơn, có 4 núm đánh, quanh núm có từ 24- 26 hạt nhân Phần quai chuông là hai con rồng chung lưng vào nhau , rồng

ở đây không có đuôi , phía dưới lưng là cụm mây xoắn , vây lưng rồng là vây gai Trên thân có khắc bài minh do Thuỵ Nhâm hầu Phan Huy Ích soạn có niên đại Cảnh

nhuận sắc

Một khánh đồng có niên đại “Cảnh Hưng thập niên cửu nguyệt nhị thập cửu nhật chú” tức đúc ngày 29-9- Cảnh Hưng thứ 10 (1750) Chính giữa khánh có hình mặt trăng là núm đánh gồm 2 vòng tròn nổi khối Mặt trước có 4 chữ đại tự viết

Dưới 4 chữ đại tự mắt trước có băng chạy nagng với dòng chữ viết theo kiểu chữ Phạn Khánh dài 147cm, rộng 94cm do một vị cung tần của chúa Trịnh cung tiến (Vương thị phủ nội cung tần Nguyễn Thị Vinh cung tiến )

Hiện nay chùa cò n bảo lưu được 14 tấm bia đá , trong đó có 2 tấm bia nằm ở sân trên phía trước nhà tiền đường hầu như không còn nét chữ , hoa văn, còn lại đều nguyên lành về hình dáng , chữ viết, hoa văn trang trí _ đó chính là tài sản vô cùn g quý giá của người xưa để lại Trong số này phần lớn là bia hậu , bia trùng tu nhưng đặc biệt nhà chùa còn giữ đ ược 3 tấm bia quý đó là : “Quảng Nghiên tự bi ký” ,

“Đặng tướng công bi”, “ Tiên Lữ đức thánh bi ký”

Bệ gạch đ ất nung ở Tam bảo chùa Bệ gạch cao , đồ sộ , có kích thước dài 2m60, rộng 1m30, cao 0m96 Đây là ví dụ tiêu biểu cho bệ đất nung thời nhà Mạc Trang trí trên bệ rất phong phú , tầng trên bệ là lớp cánh sen , cánh sen ở đây to , mập và trang trí nhiều hình mây xoắn Tiếp đến là lớp thứ hai hơi thu vào , bốn góc của lớp này có bốn hình chim thần Ga ru đa Phía trong các khoang nhỏ được trang trí nhiều về đề tài rồng , lân, ngựa, voi và hoa lá Năm 1973 có tình trạng nứt đổ nền

Trang 35

Sinh viên: Nguyễn Thị Hiền 28 Lớp: K37D – Việt Nam học

chùa, Sở văn hóa tổ chức tháo ra tu sửa lại và qua đó chúng ta thấy trong lòng bệ còn nhiều đồ đất nung có giá trị như : những viên gạch có hoa văn khá đẹp , người ta gọi là gạch hòm sớ , trên đó chạm những họa tiết trang trí phong phú như : rồng yên

những lớp cánh sen úp giống như tầng trên

Hơn 40 pho tượng thổ và mộc , trong đó phần l ớn là tượng được tạo tác vào thời Lê

Đó là rồng đá thời Trần làm lan can thành bậc cửa chùa, có thân dài mập nhưng ghép đầu rồng thời Nguyễn

Trong chùa còn có nhiều bia, hoành phi, câu đối…, riêng có hai câu đối khảm trai, tương truyền có từ thời nhà Hồ (1400-1406)

1.3 Lễ hội chùa Trăm Gian

1.3.1 Phần lễ

Hàng năm chùa chùa Trăm Gian mở hội vào ngày mồng 4 tháng giêng Ở chùa Trăm Gian, Phật giáo đã hòa nhập với tín ngưỡng địa phương nên ngoài thờ Phật thì Chùa còn thờ cả Thánh, hội chùa Trăm Gian kỷ niệm ngày hoá của đức Thánh Nguyễn Bình An ( thánh Bối ), trụ trì chùa Trăm Gian vào cuối đời Trần, là người đón thợ khéo về mở rộng cảnh chùa Ông tu tại ngôi chùa này và là người nổi tiếng là thông tuệ phật pháp và có nhiều phép lạ giúp đỡ dân chúng

Lễ hội chùa Trăm Gian là lễ hội vùng, gồm các thôn như thôn Nội, thôn Thượng, thôn Phương Khê, (thuộc xã Tiên phương) và thôn Thổ Nghĩa ( nay thuộc xã Tân Hoà, Quốc Oai) Trước ngày hội, làng có dán bảng giấy hội ở nhiều nơi để mời khách thập phương về dự

Sáng ngày mùng 4, đại đám có rước kiệu Thánh, rước nhang yến (án), rước giá cỗ (cỗ bánh chưng bánh dày của nhà chùa), rước giá văn bản (để bản văn tế), rước mâm ngũ quả và bát nhang Riêng kiệu Thánh là kiệu bát công do 18 người khiêng, mỗi giá rước có bốn người khiêng Người rước đều mặc áo Mã tiền gồm trong là thân áo, ngoài đính các dải phướn màu xanh-đỏ-tím-vàng phía trên nhỏ bằng đũa cả, phía dưới to bằng mái chèo

Trang 36

Sinh viên: Nguyễn Thị Hiền 29 Lớp: K37D – Việt Nam học

Bắt đầu vào giờ Thìn (7-9 giờ sáng) thì rước kiệu ra sập đá trước nhà Tiền đường để trí kiệu (tức chồng đòn ), cắm tàn quạt xung quanh và bày dàn bát bửu Sau đó rước xuống núi theo đường chữ chi từ chùa xuống gác chuông thì vòng qua phải rồi quay lại đi giữa nhà giá ngự và hồ bán nguyệt để ra đường làng, từ đây đi thẳng ra Quán Thánh ở giữa đồng chiêm là nơi có dấu tích bước chân thứ nhất của Thánh về quê xin tương cà

Đến hòn đá ở Quán Thánh thì tổ chức tế Chỉ huy đám rước là ông Quản Tuần cùng các chức sắc chánh phó tổng, do trương tuần dẹp đường Tế xong thì rước về, khi đi đến chân núi thì rước thẳng lên chùa mà không phải đi chữ chi nữa

Đến tối Thánh hoàn cung thì đoàn Mai Lĩnh phải vào trước cửa điện Thánh làm lễ trình rối với ý nghĩa là sự trình diện của quân Minh xưa Đoàn Mai Lĩnh có 4-5 người, gồm một người gánh những con rối đựng trong hai bồ to và mấy người

đi trình rối Khi trình rối, họ căng màn lên, người trình đứng sau màn lần lượt giơ con rối bà mẹ rồi thứ tự rối các con Trình xong, các con rối được cất đi để năm sau dùng lại, sáng hôm sau đoàn về

Về mâm ngũ quả thực ra có nhiều thứ quả gồm chuối tiêu sáu nải, cam đường

10 quả, cam sành 10 quả, quýt 10 quả, bưởi đào một quả, bưởi chua một quả, bưởi đường một quả, bưởi gấc một quả, na một quả, mít một quả, dứa một quả… càng nhiều thứ quả càng tốt

Đoàn đại biểu Bối Khê quê hương Đức Thánh sang dự hội chùa Trăm Gian được gọi là các cụ Sãi quan anh, gồm tám cụ ông và tám cụ bà Đến hội chùa Bối Khê 12 tháng Giêng, đoàn đại biểu của tứ bích lên dự cũng được gọi như thế

Để đón tiếp, làng bình chọn trong “Tứ bích” mỗi thôn hai người, phải là người cao tuổi, có uy tín trong dân, đạo cao đức trọng, đủ tư cách, khi tiếp chuyện phải nói năng lễ độ, nhún nhường, hàn huyên thân tình sau một năm xa cách Các cụ Sãi Bối Khê được lấy từ bảy sào ruộng do làng cấp để tổ chức hai bữa cơm (trưa ngày 4, sáng ngày 5) và một bữa nước (tối ngày 4) Cỗ chứa Sãi rất to bày trên mâm vuông hai tầng Trưa ngày 5 dân anh trở về

Trang 37

Sinh viên: Nguyễn Thị Hiền 30 Lớp: K37D – Việt Nam học

Ngày 5 thổi cỗ chùa, người đến lượt phải làm không được cấp ruộng Từ tối hôm trước, gia đình thổi cỗ đã cho người đi mời khắp lượt, người đến chùa đều có quà mừng Gia đình phải chuẩn bị gạo ngon, rá mới để vo và chậu mới để đựng cơm canh Vo gạo cả dãy dài, ông chủ đi xem thọc tay vào từng rá gạo để kiểm tra Ăn

cỗ chùa vào trưa ngày 5

Đặc biệt những gia đình được chọn thi cỗ chay (xôi, chuối) để tế tạ ngày 6, phải chuẩn bị từ nhiều tháng trước Ngay từ tháng tám phải nhờ các cụ đi lùng trong làng ngoài xã, thấy nhà nào có chuối trổ hoa thì đặt mua trước, khi chuối rụng bẹ thì mua cót vuông cắt thủng đáy bao lại để tránh bụi bẩn và côn trùng làm xây sát, chuối lớn một chút thì lấy giấy bản đệm để tạo hình cho quả xòe đều

Đến rằm tháng chạp sửa lễ quan Giám Trai để cắt chuối và sắm gạo Gạo nếp cái chừng dăm yến, giã từ rằm, đến ngày 25 thì sàng hạt to nhất và tấm bỏ riêng, chỉ lấy hạt 2/3 gạo thôi, đủ đóng được 16 phẩm oản to, đến ngày 28-29 thì cất vào chum, sáng mùng 5 mang ra vo để mùng 6 thôi xôi đóng oản Tiêu chuẩn thi là chuối tiêu bốn nải dài còn xanh, dáng đẹp tròn, quả mập to vừa chín tới, vỏ quả không bị chấu đá, không có vết xước hay tàn nhang và bụi trần Oản cả 16 phẩm phải trắng rền, mịn màng, óng ánh như gương Gia đình được giải nhất mang phẩm oản và nải chuối biếu quan đầu tỉnh

tú Cờ người được tổ chức trên sàn ở giữa hồ bán nguyệt, người xem đứng trên bờ quanh hồ Trong nhà Giá ngự và trên bờ phía sườn núi đặt kiệu Thánh chí ở đấy để cũng xem trò dưới hồ Những người giỏi cờ khắp thiên hạ muốn vào đấu phải xin

Trang 38

Sinh viên: Nguyễn Thị Hiền 31 Lớp: K37D – Việt Nam học

Ban quản cờ ghi tên rồi vào trong nhà khảo qua cờ bàn để xem tài cao thấp, sau đó chờ đến lượt mới lên sàn đấu

Đấu vật cũng có nhưng ít thôi, vì đây không có hói vật, tổ chức trên bãi cỏ quanh chùa, thường thu hút các hói vật Quảng Bị, Chúc Sơn, Đồng Lư…

Hội pháo cũng sôi nổi, có pháo bông, pháo hoa, pháo ném vào màn pháo trên cao, pháo chuột, pháo nhị thanh Đoàn dân anh Bối Khê thường mang dàn pháo hoa lên mừng Pháo hoa khi nổ nở ra các hình người xay lúa, người giã gạo và có khi là cả câu đối - chẳng hạn như câu vốn có trong chùa:

" Bắc quốc chí kim kinh lộ vũ Nam phương tự cổ vong trường vân"

Rối nước được tổ chức dưới hồ, do người thuộc phường rối nước các nơi được đón về biểu diễn

Không khí tưng bừng náo nhiệt, hương khói mù mịt, tiếng chiêng trống, đàn sáo nổi lên làm cho mọi người như say rượu Có phường hát Rô ở Quốc Oai đến, phường chèo Tàu từ Đan Phượng sang Có cả đặc sản “Xẩm chợ” Hà Đông Chùa Trăm Gian là một trong những ngôi chùa cổ nhất miền Bắc Việt Nam Mở hội ở chùa là hình thức tổ chức sớm hơn kiểu tổ chức ở đình Do vậy, lễ hội chùa Trăm Gian còn vọng lại nhiều âm thanh và màu sắc điển hình của một quá khứ xa xưa với những nét hùng tráng mang tính nghệ thuật độc đáo của dân tộc Việt Nam

Lễ hội chùa Trăm Gian truyền thống là lễ hội Phật giáo của cư dân nông nghiệp lúa nước, trong cái áo khoác tín ngưỡng xưa, là việc giáo dục tinh thần yêu nước và đoàn kết, rèn luyện tinh thần thượng võ và thi tài khéo léo Tinh thần ấy vẫn cần cho xã hội hôm nay, tất nhiên có sự đổi mới ở chừng mực cho thích hợp

1.3.3 Giá trị lễ hội chùa Trăm Gian

Giá trị tiêu biểu nhất của lễ hội là “ tính cộng đồng và sự cố kết cộng đồng” Tức là, mọi lễ hội dù được phân chia ra sao, dù mang nội dung tôn giáo, nghề nghiệp, vòng đời, hay một ý nghĩa gì khác đi chăng nữa thì bao giờ cũng là sinh hoạt của một cộng đồng người để biểu dương những vốn liếng văn hóa và sức mạnh cộng đồng gia tộc, cộng đồng địa phương, cộng đồng tôn giáo hay quốc gia

Ngày đăng: 04/11/2015, 14:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thúy Anh (chủ biên) (2011), Giáo trình Du lịch văn hóa, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Du lịch văn hóa
Tác giả: Trần Thúy Anh (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2011
2. Vũ Thế Bình (1988), Non nước Việt Nam, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Non nước Việt Nam
Tác giả: Vũ Thế Bình
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1988
3. Phạm Trung Lương (2000), Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: nguyên và môi trường du lịch Việt Nam
Tác giả: Phạm Trung Lương
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
4. Trần Thị Mai (chủ biên) (2006), Giáo trình Tổng quan du lich, Nxb Lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tổng quan du lich
Tác giả: Trần Thị Mai (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2006
5. Phan Ngọc (2002), Bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hóa Việt Nam
Tác giả: Phan Ngọc
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2002
6. Hoàng Phê (2006), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2006
7.Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở năn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở năn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm