1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khoá luận tốt nghiệp lễ hội lồng tồng nét đẹp văn hóa của đồng bào dân tộc tày tỉnh lào cai

53 5,7K 41

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua lễ hội Lồng Tồng cho chúng ta thấy được nhiều nét văn hóa, phong tục của dân tộc Tày như hát Then hát hội, các điệu múa.... Lễ hội Lồng Tồng đã có từ rất lâu đời, được truyền từ đời

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

MAI THỊ CHINH t

LẺ HỘI LỒNG TỒNG - NÉT ĐẸP VĂN HÓA

TỈNH LÀO CAI

KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI HỌC • • • •

Chuyên ngành: Việt Nam học

Người hướng dẫn khoa học:

ThS VŨ NGỌC DOANH

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ Đ Ầ U

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đ ề 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cún 3

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Đóng góp của khóa luận 4

7 Bố cục khóa luận 4

NỘI DUNG Chương 1: MỘT SỐ VÁN ĐÈ CHUNG 1.1 Khái quát về dân tộc T à y 5

1.1.1 Tộc danh và địa bàn phân bố của dân tộc Tày 5

1.1.2 Hoạt động kinh tế của đồng bào dân tộc T à y 5

1.1.3 Quan hệ xã hội của đồng bào dân tộc Tày 6

1.1.4 Tín ngưỡng dân gian của đồng bào dân tộc Tày 8

1.1.5 Văn hóa vật chất của đồng bào dân tộc T à y 9

1.2 Khái quát về tỉnh Lào Cai và dân tộc Tày ở Lào Cai 15

1.2.1 Khái quát về tỉnh Lào C ai 15

1.2.1.1 Vị trí địa lí, địa hình, khí hậu 16

1.2.1.2 Tiềm năng kinh t ế 16

1.2.2 Khái quát về người Tày ở Lào Cai 17

Chương 2: LẺ HỘI LÒNG TÒNG - NÉT ĐẸP VĂN HÓA CỦA ĐÒNG BÀO DÂN TỘC TÀY TỈNH LÀO CAI 2.1 Khái niệm lễ hội 19

2.1.1 Khái niệm “Lễ” 20

2.1.2 Khái niệm “Hội” 21

Trang 3

2.2.1 Tên lê hội: Lê hội Lông Tông 22

2.2.2 Lịch sử hình thành lễ hội 22

2.2.3 Thời gian và địa điểm tổ chức lễ h ộ i 22

2.2.4 Công tác chuẩn bị lễ hội 23

2.3 Nội dung Lễ hội Lồng Tồng 23

2.3.1 Phần lễ 23

2.3.2 Phần hội 26

2.4 Lễ hội Lồng Tông của đồng bào dân tộc Tày ở xã Phú Nhuận, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào C a i 28

2.4.1 Vị trí và vai trò của các thành phần tham gia lễ h ộ i 28

2.4.2 Lễ vật 29

2.4.3 Không gian tổ chức lễ h ộ i 29

2.4.4 Diễn trình tổ chức lễ h ộ i 29

2.4.4.1 Khai m ạc 30

2.4.4.2 Trò diễn và trò chơi diễn ra trong lễ h ộ i 30

2.5 So sánh Lễ hội Lông Tồng của đông bào dân tộc Tày ở Lào Cai với Lễ hội xuống đồng của các dân tộc khác 31

2.5.1 Lễ hội Roóng Poọc của đồng bào dân tộc Giáy ở Tả Van (SaPa) 31

2.5.2 Lễ hội Lồng Tồng của đồng bào dân tộc Tày ở huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang 33

Chương 3: GIÁ TRỊ, THựC TRẠNG YÀ MỘT SỔ GIẢI PHÁP GIỮ GÌN NÉT VĂN HÓA Ở LẺ HỘI LÒNG TÒNG 36

3.1 Giá trị của lễ hội Lồng Tồng 36

3.1.1 Giá trị văn hóa 36

3.1.2 Giá trị Lịch s ử 37

3.1.3 Giá trị kinh t ế 38

3.1.4 Giá trị xã hội trong đời sống đương đại 38

3.2 Thực trạng và giải pháp giữ gìn nét văn hóa trong lễ hội Lồng Tồng38

Trang 4

3.2.1.1 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền và nâng cao nhận thức vềgiữu gìn nét văn hóa trong lễ hội Lồng T ồng 393.2.1.2 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và biện pháp quản lí củalãnh đạo của Tỉnh đối với Lễ hội Lồng T ồng 40KẾT LUẬN 41TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

MỞ ĐÀU

1 Lí do chọn đề tài

Từ xưa đến nay lễ hội là một món ăn tinh thần không thế thiếu đối với mỗi người dân Việt Lễ hội cũng là nơi thế hiện truyền thống quý báu cho dân tộc, đó là truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, là nơi mọi người cùng sinh hoạt văn hóa, giao lưu cộng cảm trong không khí thiêng liêng nhưng cũng không kém phần nhộn nhịp Lễ hội được tổ nhằm tưởng nhớ và tôn vinh những hiện tượng tự nhiên được định danh là các vị thần, các vị anh hùng có thật trong lịch sử dân tộc, các vị tố nghề

Đen với bất kì vùng miền nào trên đất nước Việt Nam vào bất kì một khoảng thời gian nào trong năm đều thấy sự xuất hiện và tồn tại của các lễ hội Lễ hội là nơi lưu giữ các giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc về nhiều mặt của đời sống (chính trị, văn hóa xã hội, tôn giáo tín ngưỡng .) của cư dân vùng lúa nước Đa phần các lễ hội đều diễn ra trong khoảng thời gian vào mùa xuân Đó là mùa chuyển giao thời vụ, cũng là thời điểm giao mùa hết đông sang xuân, khi tiết trời đẹp, ngày tháng nông nhàn, cư dân có điều kiện

về thời gian cũng như về tinh thần để tổ chức lễ hội Bởi thế mà dân gian có câu " Tháng giêng là tháng ăn chơi " Lễ hội ngoài mục đích tưởng nhớ công

ơn, tri ân các vị thần để cầu cho một năm mới may mắn, một vụ mùa bội thu, một cuộc sống sung túc, còn là nơi đế người dân giải trí, nghỉ ngơi sau một vụ mùa, một năm lao động vất vả

Mỗi lễ hội lại có những đặc trưng, những nét văn hóa riêng biệt Lễ hội Lồng Tồng là một lễ hội như vậy Lồng Tồng theo cách gọi của người Tày - Nùng là lễ hội xuống đồng với nhiều nghi thức và thành phần lễ hội sinh động Vào ngày hội, tất cả mọi người trong thôn, bản đều tham gia làm lễ Nhà nào cũng có mâm cúng, gà luộc, bánh chưng, xôi đỏ, xôi vàng, trứng nhuộm màu những ước mơ, những khát vọng về cuộc sống ấm no, sinh sôi

Trang 6

nảy nở, an lành đều được gửi gắm vào đó Qua lễ hội Lồng Tồng cho chúng ta thấy được nhiều nét văn hóa, phong tục của dân tộc Tày như hát Then (hát hội), các điệu múa Lễ hội Lồng Tồng đã có từ rất lâu đời, được truyền từ đời này sang đời khác trong cộng đồng người dân tộc Tày Lễ hội Lồng Tồng cũng như lễ xuống đồng của người Kinh đều mang đậm dấu vết tín ngưỡng phồn thực và thành phần lễ hội sinh động Tại Lễ hội, mỗi sản vật được dâng lên cúng trời đất, Thần Nông đều mang một ý nghĩa thể hiện được sự giao hoà của trời đất, là thành quả lao động của những bàn tay cần cù, chịu khó, chắt chiu làm lụng, thể hiện sự cảm tạ trời đất, các vị tiền nhân, thánh thần luôn phù hộ, che chở cho nhân dân được thuận lợi và bội thu trong sản xuất, an khang trong đời sống.

Lễ hội Lồng Tồng là một lễ hội dân gian giàu bản sắc và sinh động trong các dạng thức biểu hiện, tuy nhiên trước nguy cơ đồng nhất về văn hoá cần có sự phục dựng và bảo tồn kịp thời để không mất đi một lễ, hội đầy ý nghĩa trong ngày xuân và đời sống tinh thần của đồng bào các dân tộc ở các tỉnh miền núi phía Bắc vấn đề bảo tồn và phát huy những đặc điểm đặc sắc của văn hóa lễ hội Lồng Tồng là cần thiết

Tuy không phải là người dân tộc Tày, nhưng tôi đang sinh sống ở Lào Cai, đã được chứng kiến quá trình chuẩn bị lễ hội Lồng Tồng và thưởng thức văn hóa trong lễ hội, với những giá trị truyền thống tốt đẹp, đã làm cho tôi thêm yêu con người và mảnh đất nơi đây, thêm yêu cái tưng bừng, sinh động của không khí lễ hội mỗi khi xuân về Với tình yêu văn hóa lễ hội, phong tục tập quán sinh hoạt của đồng bào dân tộc Tày, tôi đã quyết định chọn đề tài:

“Lễ hội Lồng Tồng - Nét đẹp văn hóa của đồng bào dân tộc Tày ở tỉnh Lào Cai” làm đề tài khóa luận.

2 Lịch sử vấn đề

Tìm hiếu về lễ hội Lồng Tồng có rất nhiều bài viết, nghiên cứu, những thước phim trên các bài báo, tạp chí, Internet Tuy nhiên, chưa có bài viết nào

Trang 7

đi sâu nghiên cứu về đề tài này Dưới đây là một số bài viết, nghiên cứu về lễ

1_ ^ * T Л _ ГТЧ Ạ

hội Lông Tong:

“Các lễ hội ở Lào Cai” trên trang Web “Du lịch SaPa”; “Lễ hội Lồng Tồng đặc sắc của SaPa” trên trang Web “Du lịch Khát Vọng Việt”

Còn rất nhiều các nguồn tư liệu khác cũng tìm hiểu và nghiên cứu về đề tài này Tuy nhiên, trên các bài viết được kế ra ở trên chủ yếu nói rất chung chung về lễ hội Hầu hết các bài báo chỉ trình bày tóm tắt nội dung của lễ hội thông qua phần lễ và phần hội của lễ hội Lồng Tồng cùng với một số hình ảnh minh họa cho lễ hội Các bài báo chỉ khai thác lễ hội ở một khía cạnh hẹp, chỉ mang tính chất liệt kê những trò chơi, trò diễn trong lễ hội mà chưa khai thác sâu vào những nét văn hóa nổi bật, những giá trị văn hóa cần được lưu giữ và bảo tồn Ngoài ra, các bài viết, tư liệu trên chưa đánh giá được kĩ thực trạng phát triển được lễ hội để từ đó đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm khôi phục những giá trị văn hóa truyền thống đang dần bị mai một hoặc các biện pháp

để phát triển lễ hội, biến lễ hội thành một địa điểm du lịch hấp dẫn

Chính vì vậy, trên cơ sở kế thừa những thành tựu đã đạt được của những người đi trước, cùng với việc nghiên cứu, tìm hiếu của bản thân Thông qua bài khóa luận của mình em mong muốn góp phần nào đó công sức vào việc bảo tồn, lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống cũng như đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển và biến lễ hội Lồng Tồng từ phạm vi lễ hội bản địa trở thành một điểm du lịch văn hóa hấp dẫn khách du lịch

3 Mục đích và nhiệm yụ nghiên cún

3.1 Mục đích nghiên cứu

Khắng định giá trị văn hóa của lễ hội Lồng Tồng ở Lào Cai

Góp phần vào việc bảo tồn và phát huy những nét văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Tày ở Lào Cai

Trang 8

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Khái quát văn hóa lễ hội Lồng Tồng của dân tộc Tày ở Lào Cai

Tìm hiểu và chỉ ra những nét văn hóa đặc sắc, đặc điểm riêng biệt trong

lễ hội Lồng Tồng của người Tày ở Lào Cai với các tỉnh khác ở phía Bắc.Tìm ra phương hướng, giải pháp để bảo tồn và phát huy những nét văn hóa đặc sắc của lễ hội Lồng Tồng ở Lào Cai

4 Đối tượng nghiên cún và phạm vi nghiên cún

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là lễ hội Lồng Tồng - nét đẹp văn hóa của đồng bào dân tộc Tày ở Lào Cai

6 Đóng góp của khóa ỉuận

Nâng cao hiểu biết về lễ hội Lồng Tồng

Đánh giá thực trạng của lễ hội Lồng Tồng

Trang 9

Sử dụng kết quả đánh giá để từ đó đề xuất một số giải pháp giữ gìn nét văn hóa trong lễ hội Lồng Tồng.

Quảng bá hình ảnh của lễ hội chùa Lồng Tồng ra phạm vi cả nước

Trang 10

CHƯƠNG 1

M ỘT SỐ VẤN ĐÈ CHƯNG

1.1 KHÁI QUÁT VẺ DÂN TỘC TÀY

1.1.1 Tộc danh và địa bàn phân bố của dân tộc Tày

Tên gọi: Thổ

Nhóm địa phương: Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao, Pa Dí

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Kadai)

Lịch sử: người Tày có mặt ở Việt Nam rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên kỉ thứ nhất trước Công Nguyên

Địa bàn cư trú: người Tày chủ yếu phân bố ở các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc (hơn 1,4 triệu người), đông nhất ở các tỉnh Cao Bằng, Lạng Son, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lào Cai, Bắc Cạn Trong thời gian gần đây người Tày bắt đầu di cư tới một số tỉnh như Tây Nguyên, Đăk Lăk, Lâm Đồng

1.1.2 Hoạt động kinh tế của đồng bào dân tộc Tày

Kinh tế nông nghiệp

Người Tày là cư dân nông nghiệp có truyền thống làm mộng nước, từ lâu đời đã biết thâm canh và biết áp dụng rộng rãi các biện pháp thủy lợi như đào mương, bắc máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới ruộng Họ có tập quán

đập lúa ở ngoài ruộng trên những máng gỗ mà họ gọi là loỏng rồi mới dùng

dậu gánh thóc về nhà Ngoài lúa nước người Tày còn làm nương rẫy, soi bãi

và phát triển vườn tược theo lối truyền thống Nương rẫy là một hình thức sản xuất cổ truyền, có nguồn gốc từ lâu đời Trên nương rẫy, đồng bào tiến hành trồng các cây ngũ cốc như: ngô, khoai, sắn Những nương đã trồng một hai vụ lúa, ngô người ta dùng đế trồng đậu đế tận dụng được đất, vừa tái tạo đất

Trang 11

Sau trồng trọt, chăn nuôi là hoạt động kinh tế quan trọng Trước đây, người Tày vẫn chú ý đến việc chăn nuôi các loai gia súc, gia cầm như: trâu,

bò, lợn, gà nhưng chủ yếu là chăn thả chứ ít làm chuồng trại kiên cố Từ khi

có chính sách khuyến nông của Đảng và Nhà nước, đồng bào đã biết áp dụng các thành tựu khoa học kĩ thuật vào chăn nuôi Các loại gia súc, gia cầm đã có chuồng trại on định, nuôi các giống vật nuôi cho năng suất cao như: lợn siêu nạc, gà siêu nạc Nhờ vậy, chăn nuôi không chỉ phục vụ nhu cầu của đồng bào mà còn tạo ra sản phấm để trao đổi, buôn bán tạo thêm thu nhập cho gia đình Có thể nói đồng bào dân tộc Tày đã đưa kinh tế hàng hóa vào trong chăn nuôi Ngoài ra đồng bào còn chú trọng nuôi cá Hầu như gia đình nào cũng có

ao nuôi cá, vừa để cải thiện đời sống vừa để tạo cảnh quan môi trường đẹp hơn Neu là ao chuyên canh thì đồng bào thả nhiều loại cá khác nhau như: cá chép, cá trôi, cá mè, cá rô phi

Bên cạnh trồng lúa và chăn nuôi người Tày còn săn bắn, hái lượm Sau buối làm nương rẫy người Tày hái thêm rau rừng, nấm, măng, bắt cá suối, đây

là hoạt động kiếm sống tự nhiên khá phát triển của đồng bào dân tộc Tày

Kinh tế thủ công nghiệp

Ngoài ra, người Tày còn phát triển nghề dệt Nghề dệt đã gắn chặt với phong tục cưới xin truyền thống của người Tày từ bao đời Đe chuẩn bị về nhà chồng, các thiếu nữ người Tày phải tự tay dệt nhiều vỏ gối, vỏ chăn, vỏ đệm để biếu những người thân trong gia đình chồng Ngoài ra, nghề đan lát của người Tày tạo ra các sản phấm phục vụ cho sản xuất, sinh hoạt như: dần, sàng, gùi, phên

1.1.3 Quan hệ xã hội của đồng bào dân tộc Tày

Quan hệ cộng đong làng bản

Người Tày có tập quán cư trú thành làng bản Bản là đon vị tụ cư của nhiều dòng họ lấy quan hệ láng giềng làm cơ sở, có thiết chế tự quản và quy

Trang 12

định riêng Quy mô của các bản vừa và nhỏ, mỗi bản có từ 30 đến 60 nóc nhà Làng bản của người Tày thường được tạo dựng ở các thung lũng ven suối hay

có đồi núi bao quanh Mỗi bản có phạm vi cư trú, đất đai trồng trọt riêng, đường phân giới thường là đường mòn, khe núi, con suối được công nhận theo quy ước của dân bản Mặc dù, các quy định đó không được thành văn nhưng do sự tôn trọng và tin tưởng nhau nên dân bản đều công nhận Ý thức

về địa vực cư trú ấy được truyền từ đời này sang đời khác Mỗi bản thường có các nghi lễ chung liên quan đến nghề nông, chăn nuôi, lễ cúng thổ thần, lễ xuống đồng nhằm cầu mong cho con người, cây trồng, vật nuôi được phát triển, ấm no, hạnh phúc Thông qua hoạt động sản xuất, sinh hoạt văn hóa tinh thần mà mỗi thành viên trong bản dù đồng tộc hay khác tộc đều đoàn kết, giúp đỡ, tương trợ, hòa thuận với nhau

Quan hệ dòng họ

Thông thường những người có cùng dòng họ trong một bản hoặc vài bản khác nhau luôn giúp đỡ lẫn nhau trong sinh hoạt cũng như trong sản xuất Chẳng hạn, khi con gái của gia đình nào trong dòng họ có người đến dạm hỏi, gia đình phải có lời mời anh em thân tộc đến hỏi ý kiến Trong quan hệ dòng

họ, về nguyên tắc hôn nhân thực hiện nguyên tắc hôn nhân ngoại tộc Điều này có nghĩa là phải thực hiện hôn nhân với người ngoài dòng họ, những người cùng dòng họ không được kết hôn với nhau

Quan hệ gia đình

Gia đình của người Tày là gia đình phụ hệ, quan hệ huyết tộc theo dòng

họ của cha, tính chất phụ quyền ảnh hưởng của lễ giáo phong kiến Nho giáo Trước đây, gia đình người Tày còn tồn tại nhiều gia đình lớn với nhiều thế hệ chung sống cùng với nhau Ngày nay, các gia đình chủ yếu là hai thế hệ bố

mẹ và con cái Con cái sinh ra lấy theo họ của bố Mỗi gia đình là một đơn vị kinh tế độc lập, có tài sản riêng, đồng mộng riêng, tiêu dùng riêng Chủ gia

Trang 13

đình là người cha, người chồng Chủ gia đình là chủ tất cả các tài sản, là người quyết định tất cả mọi việc trong gia đình Điều khiến hoạt động sản xuất, sinh hoạt, cúng bái và người thay mặt gia đình giải quyết các công việc bên ngoài Trong khi tiến hành công việc người chủ gia đình có thể bàn bạc với các thành viên trong gia đình, song quyền quyết định vẫn là do người chủ gia đình.

Tính chất phụ quyền trong gia đình người Tày không chỉ thể hiện qua vai trò của người cha, người chồng mà còn thể hiện qua việc thừa kế tài sản - chỉ có con trai mới được thừa hưởng tài sản Tài sản để phân chia bao gồm: ruộng đồng, trâu, bò, lợn, lúa gạo, rừng, tài sản trong gia đình, công cụ sản xuất Người Tày có tục nhận con nuôi, nhận bạn Tồng kể cả trong trường họp khác dân tộc

1.1.4 Tín ngưỡng dân gian

Người Tày không có một tôn giáo chính thống nào nhưng là xã hội ảnh hưởng của đa giáo, trong đó có Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo kết hợp với các tín ngưỡng dân gian

Thờ cúng tố tiên và các vị thần che chở trong gia đình

Một hình thức thờ cúng quan trọng nhất trong đời sống tâm linh của người Tày đó là thờ cúng tổ tiên Vì vậy, gia đình nào cũng có một bàn thờ cúng tổ tiên được đặt ở gian giữa nhà, đây là nơi tôn nghiêm nhất Người Tày thường thắp hương thờ cúng tổ tiên vào ngày mùng 1 và ngày rằm hàng tháng với những đồ lễ đơn giản như: hoa quả, rượi hay nước sạch Vào các ngày lễ tết, lớn nhất là Tet nguyên đán và Rằm tháng Giêng thì cỗ cúng thường được sắm sửa, bày biện đầy đủ, thịnh soạn, đủ các loại bánh trái, thịt gà, thịt lợn Bên cạnh đó, người Tày còn thờ cúng thần bếp: người Tày cho rằng thần bếp là vị thần cai quản theo dõi công việc làm ăn trong nhà trong suốt cả năm để cuối năm lên trình với Ngọc Hoàng Người Tày thờ thần bếp ngay

Trang 14

trong bếp nhà mình, ngày mùng 1 và rằm chỉ thắp hương, khấn vái và cho đến

23 tháng Chạp mới phải có lễ vật

Thờ thổ công: đây là vị thần che chở, bảo vệ cho cả bản làng Theo quan niệm của người Tày thì vị thần này có thật, có công lao xây dựng bản làng Khi qua đời được nhân dân nhớ ơn, thờ làm thần bản mệnh của cacr làng Thờ thố công ở đầu hay cuối bản đều được, ở nơi thờ có cây to, nơi có nhiều người qua lại

Một sô nghỉ lê liên quan đên sản xuât

Vào dịp đầu xuân người Tày thường tổ chức lễ hội Lồng Tồng nhằm cầu mong mưa thuận gió hòa, một năm mùa màng bội thu, gia đình yên ấm no

đủ Khi cày bừa xong, khi gieo mạ, lúc lúa ra đòng, khi gặt hái đồng bào cũng đều tổ chức một lễ cúng nhỏ cho thần ruộng và thần lúa Đặc biệt là lễ cơm mới Khi lúa bắt đầu chín, gia chủ hái vài bông đặt lên bàn thờ tố tiên với ngụ

ý mời tổ tiên về chứng giám Sau đó, họ thổi cơm từ những bông lúa gặt về để cúng tố tiên và thần thánh, mời anh em, họ hàng đến ăn uống mừng cho mùa

vụ bội thu

Không chỉ có tín ngưỡng dân gian phong phú mà người Tày còn có đời sống văn hóa tinh thần hết sức đa dạng thể hiện qua các làn điệu dân ca như: hát then, hát lượn, phong slư, truyện nôm, tục ngữ, câu đố

1.1.5 Văn hóa vật chất của đồng bào dân tộc Tày

Văn hóa âm thực

Trước kia, ở một số nơi người Tày ăn nếp là chủ yếu và hầu như gia đình nào cũng có ninh và chõ đồ xôi Trong các ngày tết, ngày lễ thường làm nhiều loại bánh trái như bánh chưng, bánh giày, bánh gai, bánh dợm, bánh gio đặc biệt có món bánh hấp dẫn nhân bằng trứng kiến và cốm được làm từ thóc nếp non hơ lửa rồi rang hoặc giã

Trang 15

Bữa ăn quen thuộc trong ngày được phân bố như sau: có hai bữa chính (bữa trưa và bữa tối), bữa phụ thì có người ăn người không, bữa phụ thường

là bữa dành cho người già và trẻ nhỏ Bữa ăn hàng ngày thường có các món như: món thịt, cá, rau tự trồng hoặc hái trên nương rẫy Phương thức chế biến món ăn của người Tày cũng đa dạng bao gồm chế biến dùng lửa (món rán, nướng, xào, quay ) và không dùng lửa (thịt lạp, thịt chua, )

Các món ăn từ rau rừng ngoài giá trị ẩm thực còn chữa bệnh rất tốt Có thể kể đến hàng chục loại rau rừng thường xuyên được dùng trong các bữa ăn của người Tày như: rau bò khai, rêu đá, rau chuối rừng, hoa ban Trong số

đó, có rất nhiều loại mà du khách không thể bỏ qua khi được thưởng thức hoặc mua về cho người thân Cách chế biến của người Tày cũng rất đa dạng, vừa đem lại cảm giác mới lạ, vừa tạo mỹ quan lại kết hợp hài hòa giữa các vị đắng - cay - mặn - ngọt Nhiều loại rau rừng dùng để ăn ghém như cỏ mần trầu, rau bò khai, rau ngót rừng Người Tày thường ăn các món như:

Cơm tẻ: cơm là món ăn chính hàng ngày của người Tày Gạo tẻ vào nồi nấu cùng nước Khi nước cạn đem đặt nồi cạnh bếp đến khi chín

Xôi: là món ăn đặc trưng của người Tày Gạo nếp đồ trong chõ xôi Người Tày thường ăn xôi trắng, ngoài ra còn một số loại xôi khác như: xôi màu, xôi rau ngót rừng, xôi trứng kiến Xôi màu là xôi mà gạo nếp được nhuộm thành các màu xanh, tím, vàng Gạo được trộn bằng nhiều loại lá cây khác nhau thành nhiều màu khác nhau

Cơm lam: là món ăn đặc trưng của người Tày Trước tiên, người ta ngâm gạo nếp rồi cho vào ống tre non cùng một ít nước Đậy nút lá chuối kín rồi nướng trên bếp lửa hoặc đồ lên cho chín Đe ống tre nguội, bóc vỏ ống tre

để lại lóp lót mỏng của tre bao quanh cơm Khi ăn dùng dao sắt thành từng khúc nhỏ

Trang 16

Cá nướng và cá sấy: là cách chế biến thường thấy nhất của người Tày

Cá làm sạch rồi xiên vào que nướng, khi chín gỡ cá ra và chấm với nước chấm Khi có nhiều cá thì người ta đem sấy khô

Thịt lợn tái: thịt lợn lạc thái mỏng rồi trộn với ít muối, vắt chanh vừa

đủ cho thịt tái Món này thường để nhắm rượu

Bánh chưng: đồ lên sẽ được xôi nhiều màu Nguyên liệu chính làm bánh là gạo nếp, nhân bánh làm bằng đỗ, thịt, hành hoặc lạc Gạo nếp vo đãi sạch, sau đó gói bằng lá dong hoặc lá chuối Bánh ăn trong Tet Nguyên đán

và Rằm tháng Bảy

Bánh dày: thường làm vào dịp lễ hội, cưới xin Bánh to, tròn, thường làm để biếu Bánh nhỏ làm để nhà ăn hoặc cúng Bánh có thể có nhân hoặc không, nhân làm bằng đậu, lạc, vừng, đường Có loại bánh được nhuộm đỏ,

có loại được vẽ hoa văn trên mặt bằng phẩm đỏ, vàng Có loại làm bằng bột gạo và lá ngải để ăn vào Tet Thanh minh

Một so đồ uống của người Tày

Người Tày thường ngày uống nước xôi để nguội, lá vỏ cây rừng Khi đi lên nương hay rừng thì họ thường uống nước khe suối

Trong đời sống của người Tày, rượu là một nét văn hóa ẩm thực đặc sắc và gắn bó với cuộc sống đồng bào từ lâu đời Rượu của người Tày được làm từ gạo, ngô, khoai, sắn, có khi làm từ mật mía, chuối men dùng ủ rượu thường làm từ lá rừng nên rượu uống rất êm Với người Tày, rượu là cách để chủ nhà thế hiện lòng hiếu khách của mình Dù quen hay lạ, trước khi bắt đầu một câu chuyện bao giờ người chủ nhà cũng mời rượu Có thể nói rượu của người Tày như “miếng trầu” mở đầu câu chuyện của người Kinh Điều đặc biệt trong các cuộc rượu của người Tày đó là hiếm khi xảy ra hiện tượng quá chén dẫn đến mất tự chủ, xô xát mà thường kết thúc trong sự vui vẻ, thân ái

Trang phục

Trang 17

Bộ trang phục truyền thống của người Tày làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm, hầu như không thêu thùa, trang trí Phụ nữ mặc váy hoặc quần,

có áo cánh ngắn ở bên trong và áo dài ở bên ngoài Nhóm Ngạn mặc áo ngắn hơn một chút, nhóm Phén mặc áo màu nâu, nhóm Thu Lao quán khăn thành chóp nhọn trên đỉnh đầu, nhóm Pa Dí đội mũ hình mái nhà còn nhóm Thổ mặc như người Thái ở Mai Châu (Hòa Bình)

Nhà ở

Người Tày cư trú ở vùng thung lũng các tỉnh Đông Bắc từ Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, đến Lào Cai Họ thích sống thành bản làng đông đúc, có bản có hàng trăm nóc nhà Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn, nhà đất lợp mái gianh

và một số vùng giáp biên giới có nhà phòng thủ Xưa kia nhà sàn được sử dụng một cách tống hợp, bên trong gồm hai phần: phần trong và phần ngoài, gắn với nó là tập quán của gia đình Ở những gia đình khá giả, nhà sàn được xây dựng bằng gỗ có ván bưng xung quanh và lót sàn, mái lợp ngói, trông rất khang trang Tuy nhiên, ngày nay nhà gạch được xây dựng ngày càng nhiều

Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn có bộ sườn làm theo kiểu vì kèo 4, 5, 6 hoặc 7 hàng cột Nhà có 2 hoặc 4 mái lợp ngói, gianh hay

lá cọ Xung quanh nhà thưng ván gỗ hoặc ken bằng liếp nứa

Khi làm nhà phải chọn đất xem hướng, xem tuổi, chọn ngày tốt Trong ngày vào nhà mới, chủ gia đình phải nhóm lửa và giữ ngọn lửa cháy suốt đêm đến sáng hôm sau

Trong nhà phân biệt phòng nam ở ngoài, nữ ở trong buồng Phố biến là loại nhà đất 3 gian 2 mái (khong có chái), tường trình bằng đất hoặc đan liếp nứa, bưng gỗ xung quanh, mái lợp lá cọ, gianh hoặc ngói hoặc tấm Prôximăng Bố trí mặt bằng sinh hoạt một cách thống nhất qua từng vị trí

Trang 18

trong ngôi nhà Người Tày sống định cư, quây quần thành từng bản chừng 15 đến 20 hộ, có quan hệ gần gũi.

Вер của người Tày rất quan trọng Tùy theo nhà rộng hay hẹp mà họ thường bố trí từ 1 đến 2 cái bếp Вер bên ngoài giành cho chủ và khách là nam giới, bếp bên trong giành cho bà chủ và khách nữ giới Thông thường, người Tày thường làm bếp mới khi dựng nhà mới Và bếp đó sẽ được sử dụng theo đúng tuổi thọ của ngôi nhà Sàn nhà sẽ được khoét xuống một ô vuông

để làm bếp Tùy theo nhà lớn hay nhỏ để tạo kích thước bếp, nhưng thông thường mỗi bề khoảng lm và được kê chắc chắn bằng loại gỗ tốt Những người đàn ông trong gia đình sẽ dùng đất sét nhuyễn nện chặt vào ô vuông để làm nền Nen bếp thường nằm thấp hơn sàn nhà khoảng 5 cm Theo truyền thống, người Tày dùng ba hòn đá để kê lại làm đầu rau bếp Tuy nhiên, hiện nay nhiều gia đình đã dùng kiềng ba chân Phía trên bếp là giàn bếp gồm hai tầng Tầng trên là nơi chứa những đồ dùng cồng kềnh, ít sử dụng đến Tầng dưới treo lọ muối, lọ mở, hạt giống hoặc đồ mới đan lát xong

Giống như người Kinh, người Tày cũng thờ Táo quân và lập bàn thờ ngay bên bếp Họ không bao giờ gõ vào đầu rau bếp hay nhố bọt vào bếp lửa Người Tày cũng cúng tiễn ông Táo về chầu Trời vào ngày 23 tháng Chạp Nhưng họ không đón ông Táo vào chiều 30 mà đón vào tối mùng 1 tết Người Tày cho rằng nếu đón ông Táo quá sớm, dễ gặp phải ông Táo “háu ăn” sẽ thường xuyên quấy rầy gia đình, nên cúng muộn hơn về tối mong đón được ông Táo “điềm đạm” hơn trong năm mới

Cưới xin

Nam nữ được tự do tìm hiếu, yêu đương nhưng có thành vợ thành chồng hay không lại tùy thuộc vào bố mẹ hai bên và số mệnh của họ có hợp nhau hay không Vì thế, trong quá trình đi tới hôn nhân phải có bước nhà trai tới xin lá số của cô gái về so với lá số của con mình Sau khi cưới cô dâu ở

Trang 19

nhà bố mẹ đẻ cho tới khi có mang sắp đến ngày sinh nở mới về ở hắn bên nhà chồng.

Sinh đẻ

Khi có mang cũng như thời gian đầu sau khi đẻ, người phụ nữ phải kiêng cữ nhiều thứ khác nhau với ước muốn được mẹ tròn, con vuông, đứa bé chóng lớn khỏa mạnh và tránh được những vía độc hại Sau khi sinh được ba ngày thì làm lễ cúng tẩy vía và lập bàn thờ bà mụ Khi đầy tháng làm lễ ăn mừng và đặt tên cho bé

Ma chay

Đám ma thường được tổ chức linh đình với nhiều nghi lễ nhằm mục đích báo hiếu và đưa linh hồn người chết về thế giới bên kia Sau khi chôn cất được 3 năm làm lễ mãn tang, đưa hồn người chết lên bàn thờ tổ tiên Hàng năm, họ tố chức cúng giỗ vào một ngày nhất định

h ễ tết

Hằng năm, người Tày có nhiều lễ tết với những ý nghĩa khác nhau Tet Nguyên Đán, mở đầu năm mới và tết rằm tháng Bảy cúng các vong hồn là các ngày tết lớn được tổ chức linh đình hơn cả Lễ hội Lồng Tồng mở đầu cho mùa vụ mới tổ chức vào tháng Giêng, Tet gọi hồn trâu, bò được tổ chức vào ngày mồng 6 tháng 6 âm lịch, sau vụ cày cấy và tết cơm mới được tổ chức trước khi thu hoạch là cái tết rất đặc trưng cho dân nông nghiệp lúa nước

Văn học, văn nghệ

Người Tày có nhiều làn điệu dân ca như lượn, phong slư, là lối hát giao duyên được phổ biến rộng rãi ở nhiều vùng Người ta thường lượn trong hội Lồng Tồng, trong đám cưới, mừng nhà mới hay khi có khách đến bản Ngoài múa trong nghi lễ ở một số nơi còn có múa rối bằng gỗ khá độc đáo và hấp dẫn về trò chơi, trong ngày hội Lồng Tồng nhiều trò chơi được tổ chức như

Trang 20

ném còn, đấu vật, kéo co, trẻ con đánh củ quay, đánh khăng, đánh chất, chơi/V

0

1.2 Khái quát về tỉnh Lào Cai và dân tộc Tày ở Lào Cai

1.2.1 Khái quát về tĩnh Lào Cai

Bản đô hành chính tỉnh Lào Cai

Lào Cai là bắt nguồn từ địa danh khu đô thị cổ “Lão Nhai” có nghĩa là

“Phố cổ” Ngày 12/7/1907, tỉnh Lào Cai được thành lập, tên đô thị cổ trở thành tên của tỉnh Lào Cai Thời dựng nước, Lào Cai là trung tâm kinh tế, chính trị quan trọng của vùng thượng lưu sông Hồng Nhiều nhà sử học cho rằng, Lào Cai là quê hương của Thục Phán An Dương Vương Thời phong kiến, Lào Cai là địa bàn của châu Thủy Vĩ, Châu Văn Bàm và một phần đất Chiêu Tấn, phủ Qui Hóa, tỉnh Hưng Hóa Ngày 12/7/1907, tỉnh Lào Cai được thành lập với hai châu là Thủy Vĩ và Bảo Thắng và các đại lý Mường Khương, Bát Xát, Phong Thổ, Bắc Hà và đặc khu Sapa Năm 1955, huyện

Trang 21

Phong Thố chuyến sang khu tự trị Thái Mèo về sau thuộc tỉnh Lai Châu Ngày 1/1/1976, ba tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Nghĩa Lộ được sáp nhập thành tỉnh Hoàng Liên Sơn Ngày 1/10/1991, tỉnh Lào Cai được tái thành lập.

1.2.1.1 Vi trí đia lí, đia hình, khí hâu• • 7 • 7 «

Lào cai là một tỉnh miền núi nằm ở phái Bác Việt Nam, cách Hà Nội

296 km theo đường sất và 375 theo đường bộ Tỉnh có 203,5 km đường biên giới với tỉnh Vân Nam - Trung Quốc, trong đó 144,3 km là sông suối và 59,2

km là đất liền Phía Bắc tỉnh Lào Cai giáp với tỉnh Vân Nam của Trung Quốc; phía Nam giáp tỉnh Yên Bái; phía Đông giáp tỉnh Hà Giang; phía Tây giáp tỉnh Sơn La và Lai Châu Hiện nay tỉnh có 10 đơn vị hành chính (1 thành phố,

1 thị xã và 8 huyện)

Địa hình tỉnh Lào Cai đặc trưng là núi cao xen kẽ với đồi núi thấp, bị chia cắt lớn, với phần thung lũng dọc sông Hồng và các tuyến đường bộ, đường sắt chạy qua vùng trung tâm của tỉnh Các huyện miền núi nằm bao quanh hành lang trung tâm này từ Đông - Bắc sang Tây - Nam, gồm nhiều dãy núi và thung lũng nhỏ biệt lập nơi có các cộng đồng dân cư sinh sống Những vùng có độ dốc trên 25 độ chiếm tới 80% diện tích đất đai của tỉnh Địa hình tựu nhiên của tỉnh có độ cao thay đổi từ 80 m trên mực nước biển lên tới 3.143 m trên mực nước biển tại đỉnh Phan Si Păng, đỉnh núi cao nhất Việt Nam Địa hình núi với các kiểu khí hậu đã tạo nên một môi trường đa dạng

Khí hậu có chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa rất rõ rệt do bị chi phối bởi nhiều yếu tố địa hình phức tạp, phân tầng độ cao lớn nên có đan xen một

số tiểu vùng á nhiệt đới và ôn đới thuận tiện cho phát triển nông - lâm nghiệp, chăn nuôi Nhiệt độ trung bình từ 22 - 24 độ c, cao nhất là 36 độ с và thấp nhất là 10 độ c Riêng Sapa nhiệt độ có thể xuống dưới 0 độ c.

Trang 22

1.2.1.2 Tiềm năng kỉnh tế

Lào Cai có vị trí địa lí thuận lợi, nơi có hai con sông Hồng và sông Chảy, có cửa khẩu quốc tế Lào Cai và có nhiều tiềm năng khác thuận lợi cho việc phát triển kinh tế đối ngoại và du lịch Lào Cai nối tiếng với khu du lịch SaPa là nơi có khí hậu và thời tiết mát mẻ vào mùa hè hấp dẫn khách du lịch.Lào Cai là một tỉnh giàu tài nguyên khoáng sản và nguồn tài nguyên rừng rất phong phú là cơ sở để phát triển nông - lâm nghiệp

Cặp cửa khấu quốc tế Lào Cai - Hà Khẩu nằm trên tuyến hành lang kinh tế Côn Minh - Hải Phòng, là cửa ngõ lớn thuận lợi phát triến du lịch và thương mại giữa Việt Nam với phái Tây Nam Trung Quốc Lào Cai hội tụ tất

cả thuận lợi về đường sắt, đường bộ, đường sông và tương lai có cả đường hàng không Là cửa khẩu duy nhất nằm ngay tỉnh lỵ, có hệ thống hạ tầng và dịch vụ khá phát triển

Tiềm năng phát triển du lịch: Lào Cai có tiềm năng lớn để phát triển du lịch với các loại hình nghỉ dưỡng, sinh thái, leo núi, văn hóa Thiên nhiên ban tặng cho Lào Cai nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng gắn với các địa danh như Sapa, Bắc Hà, Bát Xát Trong đó, khu du lịch Sapa nổi tiếng trong nước

và quốc tế, là trọng điểm du lịch quốc gia số khách du lịch đến Lào Cai năm

2002 là 350.000 khách, khách xuất nhập cảnh qua cửa khẩu quốc tết đạt 1,4 triệu người năm 2002 Tiếp giáp với tỉnh Vân Nam - Trung Quốc, một trong

4 tỉnh, thành phố có kinh tế du lịch phát triển nhất Trung Quốc, du khách Vân Nam đều muốn qua du lịch ở Việt Nam qua cửa khấu quốc tế

1.2.2 Khái quát về nguxri Tày ở Lào Cai

Lào cai là một tỉnh có 27 dân tộc anh em chung sống Trong đó, người Tày chiếm 82.516 người (chiếm 15,84% dân số toàn tỉnh)

Dân tộc Tày ở Lào Cai chủ yếu phân bố tại các huyện Bảo Thắng, Bảo Yên, Văn Bàn

Trang 23

T R U N G g u ố c

Dân tộc Tày ở Lào Cai cũng giống như dân tộc Tày ở các nơi khác có nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu Họ thường định cư ở các thung lũng ven sông, suối Họ canh tác lúa nước là chính Bên cạnh đó, họ còn phát triển trồng trợt các cây như ngô, khoai, sắn và các loại hoa màu, chăn nuôi Mà nông nghiệp lại phụ thuộc vào thiên nhiên rất nhiều Vì vậy, việc cầu cho mùa màng tốt tươi là nguyện vọng tha thiết của họ, chính vì vậy từ xa xưa họ đã tin vào các vị thần linh, mong được thần linh phù hộ Trời có cho mưa thuận gió hòa thì mùa màng mới tươi tốt, nhân dân mới no ấm, do vậy ngoài việc thờ thần linh, tin tưởng vào sức mạnh của thần linh, người Tày còn tiến hành các nghi lễ cầu mưa, cầu phúc, cầu lành

Dân tộc Tày ở Lào Cai hằng năm tổ chức lễ hội Lồng Tồng vào sau tết Nguyên Đán, đây chính là nghi lễ nông nghiệp cổ xưa của họ

Trang 24

CHƯƠNG 2

LỄ HỘI LÒNG TÒNG - NÉT ĐẸP VĂN HÓA CỦA ĐÒNG BÀO

DÂN TỘC TÀY Ờ LÀO CAI 2.1 Khái niệm lễ hội

Trên thế giới, dân tộc nào cũng có lễ hội Nó như là một loại hình sinh hoạt văn hóa tinh thần đặc biệt manh tính tập thế nhằm thỏa mãn nhu cẩu tâm linh, củng cố ý thức cộng đồng Lễ hội chứa đựng và phản ánh nhiều mặt của đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội - tâm lí, tính cách và tín ngưỡng, tôn giáo của các tộc người trên khắp hành tinh của chúng ta

Tuy nhiên, lễ hội phát huy giá trị và phát triến mạnh mẽ nhất ở những vùng cư dân quần tụ trong tinh thần cộng đồng làng xã, như cư dân nông nghiệp ruộng nước, nông nghiệp nương rẫy và cả cư dân ở những vùng ven biển, đầm p h á Đối với cư dân nương rẫy, do sống trong môi trường khắc nghiệt của vùng rừng núi, họ phải cố kết với nhau để chống lại sự hiểm trở, hung vĩ của tự nhiên; đối với cư dân nông nghiệp ruộng nước, do nhu cầu thời

vụ và trị thủy họ phải sống quần tụ thành những làng xã ổn định; đối với cư dân vùng đầm phá ven biển, do nhu cầu nghề nghiệp họ cũng phải cố kết với nhau trong quan hệ cộng đồng bền chặt Và chính tinh thần cộng đồng đó là cái nôi nuôi dưỡng các hình thức lễ hội; nơi đó dân cư của làng có dịp vui chơi, giao lưu tình cảm xóm làng, quê hương và gửi gắm cho nhau những ước vọng về một cuộc sống ấm no hạnh phúc

Lễ hội (hay hội lễ) là một sinh hoạt văn hóa dân gian nguyên họp mang tính cộng đồng cao của nông dân hay thị dân, diễn ra trong một chu kì không gian và thời gian nhất định Lễ hội gồm có hai phần: Một là phần lễ, có tính cách nghiêm trang, vừa để tưởng niệm công lao của người mà ngày lễ hội đó

đề cập đến, đồng thời thể hiện sự tôn sùng của nhân dân với đối tượng được thờ phụng; Hai là phần hội: Là tố chức vui chơi cho cộng đồng Ví dụ Lễ hội

Trang 25

đình Phù Liễn tố chức vào ngày mùng 8 tháng Giêng là một lễ hội.

Như vậy ta nhận thấy lễ hội là một hoạt động văn hóa cố truyền của làng xã Việt Nam, góp phần tạo nên văn hóa truyền thống Văn hóa làng truyền thống là sự lưu giữ bản sắc văn hóa dân tộc Trải qua bao thăng trầm của lịch sử dân tộc, kẻ thù của dân tộc có thể cướp được nước, thậm chí có hàng nghìn năm biến nước ta thành châu, quận như phương Bắc, hàng trăm năm biến dân ta thành nô lệ, áp dụng chính sách nô dịch văn hóa với sức mạnh của một nền văn minh công nghiệp như thực dân Pháp nhưng không thể đồng hóa được văn hóa mang bản sắc dân tộc Việt Nam là nhờ sức sống của văn hóa làng truyền thống Việc điều tra khảo sát, nghiên cứu về văn hóa lễ hội đã góp phần trả về cho lễ hội những giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc, khẳng định vai trò của lễ hội truyền thống của các làng cổ trong điều kiện hiện nay

Chữ “Lễ” được hình thành từ thời nhà Chu (thế kỉ XII) Lúc đầu “Lễ” được hiểu là lễ vật của các gia đình quý tộc nhà Chu cúng tế thần, tổ tong gọi

là lễ Dần dần chữ “Lễ” được mở rộng nghĩa là hình thức, phép tắc để phân biệt trên, dưới, sanh, hèn hay thứ bậc lớn nhỏ, thân sơ trong xã hộ phân hóa

Trang 26

thành đẳng cấp Cuuối cùng khi xã hội phát triển thì ý nghĩa “lễ” càng được

mở rộng như lễ Gia tiên, lễ Thành Hoàng làng

Trong lễ hội, thì “Lễ” có ý nghĩa quan trọng và thiêng liêng, chứa đựng những giá trị văn hóa truyền thống, giá trị thẩm mĩ và triết học sâu sắc của cộng đồng Phần “Lễ” là những nghi thức bắt buộc gồm các thủ tục rước kiệu, cúng tế, hát trẩu văn, múa cung đình, múa xinh tiền và đọc các sắc phong, ngọc phả thần phả ca ngợi công đức và ôn lại lịch sử xây dựng, phát triển của các di tích lịch sử để tỏ lòng thành kính và ca ngợi công lao của người có công giúp dân làng trong cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước, xây dựng quê hương, lập nên những di tích lịch sử truyền thống của làng, xã Đó là các

vị Thần linh, các vị Anh hùng dân tộc được coi là Thần Thánh, Thành Hoàng Làng, được gắn liền với các sự tích cội nguồn của làng, xã, thôn, xóm Phần

“Lễ” được xem là phần hạt nhân của lễ hội

2.1.2 Khái niệm “Hội”

Là sự tập hợp đông người nhằm thực hiện nghi lễ bày tỏ sự tôn kính và thực hiện các hoạt động vui chơi, giải trí Hội nằm trong lễ, ví dụ như Lễ hội Đúc Bụt làng Phù Liễn (xã Đồng Tĩnh - huyện Tam Dương - tỉnh Vĩnh Phức), cùng với đó là những trò chơi dân gian như: chọi gà, cờ tướng

Như vậy hội là cuộc vui chơi bằng vô số hoạt động giải trí cộng đồng diễn ra tại một địa điểm nhất định vào dịp cuộc lễ kỉ niệm một sự kiện xã hội hay tự nhiên, nhằm diễn đạt sự phấn khích của công chúng dự lễ Hội và lễ là một thế thống nhất, hội nằm trong lễ

Tóm lại lễ và hội là hai yếu tố chính tạo nên hội làng Sự đậm nhạt giữa chúng là tùy thuộc vào từng đặc điểm ở từng nơi và tính chất của từng loại lễ hội Lễ và hội là một thể thống nhất, tồn tại song song với nhau trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của con người Neu nói phẫn lễ là phần đạo thì hội chính là phần đời, đạo đức là tâm linh mà đời chính là cuộc sống hiện thực

Ngày đăng: 04/11/2015, 14:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w