1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng một số phương pháp dạy học toán ở tiểu học theo mô hình VNEN

54 573 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 531,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu này còn đòi hỏi GV khi tổ chức cho HS học tập phải phối hợp linh hoạt các phương pháp dạy học có tác dụng phát huy tính tích cực, chủ động nhận thức của người học như: phương ph

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

NGUYỄN THỊ QUỲNH TRANG

VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TOÁN Ở TIỂU HỌC THEO MÔ HÌNH VNEN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy toán ở tiểu học

Người hướng dẫn khoa học:

TS NGUYỄN VĂN HÀO

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

khóa luận này

Do điều kiện thời gian nghiên cứu có hạn nên đề tài không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Em rất mong tiếp tục nhận đƣợc sự đóng góp của thầy cô và các bạn để khóa luận đƣợc hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2015

Sinh viên

Nguyễn Thị Quỳnh Trang

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp với đề tài “ Vận dụng một số phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học theo mô hình VNEN” là kết quả

nghiên cứu của riêng tôi, trên cơ sở giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn và tham khảo các tài liệu có liên quan

Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu của mình không trùng với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác Nếu sai, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Hà Nội, tháng 5 năm 2015

Sinh viên

Nguyễn Thị Quỳnh Trang

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu 2

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

5 Phạm vi nghiên cứu 2

6 Phương pháp nghiên cứu 2

7 Cấu trúc khóa luận 3

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4

1.1 Đặc điểm tâm lí và sinh lí của học sinh Tiểu học 4

1.1.1 Đặc điểm về mặt cơ thể 4

1.1.2 Đặc điểm về hoạt động môi trường sống 4

1.1.3 Sự phát triển của quá trình nhận thức 5

1.1.4 Sự phát triển tình cảm của học sinh tiểu học 7

1.1.5 Sự phát triển nhân cách của học sinh tiểu học 8

1.2 Đặc điểm của việc dạy học môn Toán theo mô hình VNEN 8

1.3 Một số phương pháp dạy học toán ở tiểu học 9

1.3.1 Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề 9

1.3.2 Phương pháp dạy học trực quan 13

1.3.3 Phương pháp dạy học môn Toán theo thuyết kiến tạo 17

1.3.4 Phương pháp dạy học phân hóa 22

1.3.5 Phương pháp dạy học hợp tác nhóm 26

1.4 Quy trình giảng dạy môn toán theo mô hình VNEN 30

Chương 2 VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TOÁN Ở TIỂU HỌC THEO MÔ HÌNH VNEN 33

Trang 6

2.1 Vận dụng phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề 33

2.2 Vận dụng phương pháp dạy học trực quan 37

2.3 Vận dụng phương pháp dạy học môn Toán theo thuyết kiến tạo 40

2.4 Vận dụng phương pháp dạy học phân hóa 42

2.5 Vận dụng phương pháp dạy học hợp tác nhóm 43

KẾT LUẬN 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO 47

Trang 7

là con người thì càng phải đổi mới để tạo ra những con người lao động có trình độ cao, học vấn cao, có năng lực, có bản lĩnh đáp ứng được mọi nhu cầu của cuộc sống hiện đại Đổi mới trong giáo dục được hiểu là đổi mới toàn diện, đổi mới từ mục tiêu, nội dung đến phương pháp và hình thức tổ chức dạy học

Đổi mới phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS phù hợp với từng lứa tuổi, từng môn học Ở bậc Tiểu học, nội dung môn học phong phú, mỗi môn học đảm nhận một vai trò khác nhau Cùng với Tiếng Việt, Khoa học, Tự nhiên- Xã hội,… môn Toán trang bị cho HS những kiến thức cơ bản của bậc học, góp phần bồi dưỡng phẩm chất, nhân cách toàn diện của con người Thông qua việc học Toán, HS nhìn nhận thế giới xung quanh qua tư duy logic chặt chẽ của toán học, từ đó các em có những ứng dụng vào thực tế cuộc sống Để thực hiện được mục tiêu này đòi hỏi hoạt động tổ chức, hướng dẫn của GV phải hướng tới hoạt động tự chiếm lĩnh tri thức và hình thành kĩ năng học tập của HS Mục tiêu này còn đòi hỏi GV khi tổ chức cho

HS học tập phải phối hợp linh hoạt các phương pháp dạy học có tác dụng phát huy tính tích cực, chủ động nhận thức của người học như: phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề, phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp trò chơi học tập,…

Vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực không phải là vấn đề hoàn toàn mới Cho đến nay đã có nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu

đề cập đến các phương pháp dạy học này Thực tế GV đứng lớp đã có nhiều

Trang 8

2

kinh nghiệm quý báu về việc sử dụng các phương pháp đem lại hiệu quả cao trong giờ học Cơ sở lí luận về các phương pháp này đã được nhiều chuyên gia nghiên cứu và không ai phủ nhận được mặt tích cực việc tổ chức lớp học mang lại sau một tiết dạy

Trên cơ sở nhận biết thực trạng nêu trên, tôi mạnh dạn tìm hiểu và

nghiên cứu đề tài: “Vận dụng một số phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học theo mô hình VNEN”

2 Mục đích nghiên cứu

Một số phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học theo mô hình VNEN

3 Đối tượng nghiên cứu

Một số phương pháp dạy học môn Toán thông qua các hoạt động dạy học của mô hình trường học mới VNEN

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của một số phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học theo mô hình trường học mới VNEN

- Thiết kế một số bài dạy phát huy tính tích cực của học sinh theo mô hình trường học mới VNEN

5 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu một số phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học thông qua các hoạt động dạy học của mô hình trường học mới VNEN

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lí luận: đọc tài liệu, phân tích, tổng hợp,

khái quát hóa các thông tin liên quan làm cơ sở cho khóa luận

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: điều tra, quan sát, thực nghiệm

khoa học

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Thống kê số liệu sau khi thử

nghiệm của lớp thử nghiệm, lấy ý kiến đánh giá phản hồi

Trang 9

3

7 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 2 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 2: Vận dụng một số phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học

theo mô hình VNEN

Trang 10

- Hệ cơ đang trong thời kỳ phát triển mạnh nên các em rất thích các trò chơi vận động như chạy nhảy, nô đùa Vì vậy các nhà giáo dục nên đưa các

em vào các trò chơi từ đơn giản đến phức tạp và đảm bảo sự an toàn cho trẻ

- Hệ thần kinh cấp cao đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư duy các em chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy hình tượng, tư duy trừu tượng Do đó, các em rất hứng thú với các trò chơi trí tuệ với các câu hỏi nhằm phát triển tư duy của các em

1.1.2 Đặc điểm về hoạt động môi trường sống

- Hoạt động của học sinh tiểu học: Nếu như ở bậc mầm non hoạt động chủ đạo của trẻ là vui chơi thì đến tuổi tiểu học hoạt động chủ đạo của trẻ đã có sự thay đổi về chất, chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập

 Những thay đổi kèm theo:

- Trong gia đình: các em luôn cố gắng là một thành viên tích cực, có thể tham gia các công việc trong gia đình Điều này thể hiện rõ nhất trong các gia đình neo đơn, hoàn cảnh, các vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, các em phải tham gia lao động sản xuất cùng gia đình từ rất nhỏ

- Trong nhà trường: do nội dung, tích chất, mục đích của các môn học đều thay đổi so với bậc mầm non đã kéo theo sự thay đổi ở các em về phương

Trang 11

1.1.3 Sự phát triển của quá trình nhận thức

+ Ở đầu tuổi tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững và dễ thay đổi

Trang 12

6

+ Ở cuối tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới, trẻ bắt đầu khả năng làm thơ, vẽ tranh, làm văn,

 Ngôn ngữ và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học

Hầu hết học sinh tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo Khi trẻ vào lớp 1 bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết Đến lớp 5 thì ngôn ngữ viết đã thành thạo và bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá bản thân thông qua kênh thông tin khác nhau

Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng như vậy nên các nhà giáo dục phải trau dồi vốn ngôn ngữ cho trẻ trong giai đoạn này bằng cách hướng hứng thú của trẻ vào các loại sách

 Chú ý và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học

Ở đầu tuổi tiểu học chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế Ở giai đoạn này chú ý không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đến những môn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh, trò chơi hoặc có cô giáo xinh đẹp, dịu dàng

Ở cuối tuổi tiểu học trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú

ý của mình Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ có sự nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập như học thuộc lòng một bài thơ, một công thức toán Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạn của yếu

tố thời gian, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian cho phép để làm một việc nào đó và cố gắng hoàn thành công việc trong khoảng thời gian quy định

 Trí nhớ và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học

Loại trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - lôgic

Trang 13

7

- Giai đoạn lớp 1, 2 ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm

ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa Nhiều học sinh chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cách khái quát hóa xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu

- Giai đoạn lớp 4, 5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường Ghi nhớ chủ định phát triển Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thú của các em

 Ý chí và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học:

Ở đầu tuổi tiểu học hành vi mà trẻ thực hiện còn phụ thuộc nhiều vào yêu cầu của người lớn Khi đó sự điều chỉnh ý chí đối với việc thực thi hành

vi ở các em còn yếu Đặc biệt các em chưa đủ ý chí để thực hiện đến cùng mục đích đã đề ra nếu gặp khó khăn

Đến cuối tuổi tiểu học các em đã có khả năng biến yêu cầu của người lớn thành mục đích hành động của mình, tuy vậy năng lực ý chí còn thiếu bền vững, chưa thể trở thành nét tính cách của các em.Việc thực hiện hành vi vẫn chủ yếu phụ thuộc vào hứng thú nhất thời

1.1.4 Sự phát triển tình cảm của học sinh tiểu học

- Tình cảm của học sinh tiểu học manh tính cụ thể trực tiếp và luôn gắn liền với các sự vật hiện tượng sinh động, rực rỡ Lúc này khả năng kiềm chế cảm xúc của trẻ còn non nớt, trẻ dễ xúc động và cũng có thể nổi giận, biểu hiện cụ thể là trẻ dễ khóc mà cũng nhanh cười, rất hồn nhiên vui tư

- Vì thế có thể nói tình cảm của trẻ chưa bền vững, dễ thay đổi với tuổi mầm non thì tình cảm của trẻ tiểu học đã "người lớn" hơn rất nhiều

- Trong quá trình hình thành và phát triển tình cảm của học sinh luôn luôn kèm theo sự phát triển năng khiếu Trẻ nhi đồng có thể xuất hiện các

Trang 14

8

năng khiếu như thơ ca, hội họa, kĩ thuật, khoa học… khi đó cần phát hiện và bồi dưỡng kịp thời cho trẻ sao cho vẫn đảm bảo kết quả học tập mà không làm thui chột năng khiếu của trẻ

1.1.5 Sự phát triển nhân cách của học sinh tiểu học

- Nét tính cách của trẻ đang dần được hình thành, đặc biệt trong môi trường nhà trường còn mới lạ, trẻ có thể nhút nhát, rụt rè, cũng có thể sôi nổi, mạnh dạn Sau 5 năm học, "tính cách học đường" mới dần ổn định và bền vững của trẻ

- Nhìn chung việc hình thành nhân cách của học sinh tiểu học mang những đặc điểm cơ bản sau: Nhân cách của các em lúc này mang tính chỉnh thể và hồn nhiên, trong quá trình phát trẻ luôn bộc lộ nhận thức, tư tưởng, tình cảm, ý nghĩ của mình một cách vô tư, hồn nhiên, thật thà và ngay thẳng, nhân cách của các em lúc này còn mang tính tiềm ẩn, những năng lực, tố chất của các em còn chưa được bộc lộ rõ rệt, nếu có được tác động thích ứng chúng sẽ bộc lộ và phát triển

1.2 Đặc điểm của việc dạy học môn Toán theo mô hình VNEN

Tổ chức dạy học theo mô hình VNEN khuyến khích, tạo điều kiện để

HS tự học, tự tìm ra kiến thức mới rồi vận dụng chúng vào trong thực tiễn Chính điều này đã đòi hỏi GV hướng dẫn HS học Toán cần chú trọng hơn vào vấn đề phát huy tối đa khả năng tự học, tích cực và hòa đồng của HS Khi ấy, người GV chỉ đóng vai trò định hướng, tư vấn – gợi mở, khích lệ, đánh giá tiến trình học tập của HS

Mô hình VNEN xây dựng tài liệu hướng dẫn học Toán được viết theo cấu trúc chung, bao gồm: tên bài học, mục tiêu, hoạt động cơ bản, hoạt động thực hành và hoạt động ứng dụng Trong từng hoạt động cũng có những tiêu chí riêng nhằm giúp HS đạt được những tiêu chuẩn cần hướng tới

Trang 15

mà HS có thể tự thực hiện và hoàn thành theo cá nhân, theo nhóm hoặc theo cặp và do vậy phát huy khả năng học tích cực và năng động Bên cạnh đó, tài liệu cũng tạo điều kiện thuận lợi cho GV trong việc giảng dạy và tăng sự tương tác với cộng đồng

SGK Toán và Tài liệu hướng dẫn học có nội dung giống nhau với các mạch kiến thức tương đồng Tuy nhiên, SGK môn Toán được viết để GV thiết

kế bài giảng rồi giảng dạy trên lớp và như thế sẽ khó hình thành tính độc lập,

tự học của HS

1.3 Một số phương pháp dạy học toán ở tiểu học

1.3.1 Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

a) Những quan điểm về phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn

đề

Một số tác giả đã đưa ra quan niệm về PPDH này như sau:

V Okon cho rằng: “Hoạt động nêu và giải quyết vấn đề là hoạt động dạy học dựa trên sự điều khiển quá trình người học độc lập giải quyết các bài toán thực hành hay lí thuyết”

Theo M I Maxutov: “Tạo ra một chuỗi các tình huống có vấn đề và điều khiển hoạt động của HS nhằm độc lập giải quyết các vấn đề học tập, đó thực chất là quá trình của dạy học nêu và giải quyết vấn đề”

Từ những quan điểm cơ bản nêu trên, GS Nguyễn Bá Kim đã khái quát được quan niệm về PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề sau:

Trang 16

10

“PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề là PPDH trong đó thầy giáo tạo

ra những tình huống có vấn đề, điều khiển HS phát hiện ra vấn đề, hoạt động

tự giác, tích cực để giải quyết vấn đề và thông qua đó lĩnh hội tri thức, kĩ năng

và đạt được những mục tiêu học tập khác”

Như vậy, PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề là PPDH trong đó GV đưa ra các tình huống gợi vấn đề để thu hút sự chú ý của HS Điều này tạo nên động lực học tập của HS: HS sẽ chủ động, tự giác tìm hiểu, khám phá vấn

đề và mong muốn, hi vọng tham gia giải quyết được vấn đề Chính quá trình hoạt động độc lập của HS dưới sự tổ chức, tư vấn của GV đã giúp cho HS lĩnh hội được các tri thức và phát triển được các năng lực cũng như hình thành các phẩm chất

b) Bản chất của phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

+ Tồn tại mâu thuẫn giữa yêu cầu nhận thức tri thức mới với vốn kiến thức và kinh nghiệm cũ của HS làm cơ sở để đưa ra tình huống gợi vấn đề

+ Tình huống gợi vấn đề mang tính hệ thống (đảm bảo tính liên tục của quá trình dạy học và logic chặt chẽ của quá trình tư duy) và tính vừa sức (tồn tại vấn đề, gợi nhu cầu nhận thức, có niềm tin, hi vọng giải quyết vấn đề)

+ HS phát hiện vấn đề dựa trên tình huống gợi vấn đề và từ đó chủ động, tự giác, tích cực tham gia giải quyết vấn đề

+ Trong PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề, HS không chỉ thu nhận được các tri thức mà còn nhận biết được con đường giải quyết vấn đề

Như vậy, trong quá trình dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề kết quả thu được không chỉ là tri thức mới mà HS còn lĩnh hội được các tri thức, con đường tìm kiếm tri thức, từ đó hình thành cho các em cách làm việc khoa học, bước đầu gây dựng được ở các em tinh thần say mê nghiên cứu khoa học

Trang 17

11

c) Quy trình vận dụng phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề

Theo GS Nguyễn Bá Kim trong “Giáo trình PPDH Toán”, quy trình dạy học theo phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề bao gồm 4 bước sau đây:

Bước 1: Phát hiện, thâm nhập vấn đề

- Từ tình huống gợi vấn đề, HS phát hiện, suy nghĩ, tìm tòi, dự đoán

- Giải thích và chính xác hóa tình huống để hiểu đúng vấn đề

- Phát hiện vấn đề và đặt mục đích giải quyết vấn đề đó

Trang 18

12

Bước 3: Trình bày giải pháp

Khi đã giải quyết được vấn đề đặt ra, người học trình bày lại toàn bộ quá trình tiến hành dẫn đến giải pháp đúng

Bước 4: Nghiên cứu sâu và mở rộng giải pháp

- Tìm hiểu và đề xuất khả năng ứng dụng của kết quả

- Đề xuất những vấn đề mới có liên quan như xem xét tính tương tự, khái quát hóa, lật ngược vấn đề… và giải quyết vấn đề nếu có thể

d) Ưu điểm và hạn chế của phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề

* Ưu điểm

- Tạo ra một môi trường dạy học thuận lợi giúp HS rèn luyện thói quen học tập chủ động, tự giác, tích cực

- Có nhiều cơ hội để phát triển tư duy sáng tạo cho HS

- Tạo dựng được năng lực, phẩm chất (giá trị cá nhân) cho HS

- Phát huy được sự hợp tác giữa HS với HS; HS với GV Tạo ra một môi trường cho cả thầy và trò đều sáng tạo

- PPDH này có thể sử dụng thường xuyên, phối hợp dễ dàng với các PPDH khác tùy theo tình huống dạy học

* Hạn chế

- PPDH này đòi hỏi kĩ năng ứng xử sư phạm rất cao đối với GV

- Dưới sự hỗ trợ, tư vấn của GV, HS phải tạo cho mình động lực học tập giúp HS có quyết tâm bền bỉ xuyên suốt cả quá trình dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

- PPDH này đòi hỏi GV phải chuẩn bị bài giảng rất công phu, tỉ mỉ, dự đoán được các tình huống sư phạm điển hình xuất hiện trong quá trình triển khai tiết dạy học Nếu GV không chủ động dự kiến được trước các hoạt động tương thích phù hợp của thầy và trò thì sẽ dẫn đến tình trạng GV vẫn áp đặt,

HS bị động hoặc không đủ thời gian để hoàn thành nhiệm vụ của tiết dạy học

Trang 19

13

1.3.2 Phương pháp dạy học trực quan

a) Một số quan niệm về trực quan

- Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh định nghĩa: “Trực quan giáo dục

là phép giáo dục không dùng đến tư tưởng, kí ức, suy lí, chỉ dạy học trò theo những cái thấy trước mắt mà dùng cái tri giác trực tiếp của mình”

- Phan Trọng Ngọ: “Trực quan theo đúng nghĩa của nó không đơn giản chỉ là quan sát sự vật bằng các giác quan mà là hành động, tác động lên sự vật, làm biến đổi các dấu hiệu bề ngoài của chúng, làm cho cái bản chất, các mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của chúng được bộc lộ, phơi bày một cách cảm tính, mà nếu không có sự tác động đó thì chúng mãi còn là bí ẩn đối với nhận thức của con người”

Phương tiện trực quan

Theo Phan Trọng Ngọ: Phương tiện trực quan trong dạy học là những phương tiện được sử dụng trong hoạt động dạy học, có vai trò là công cụ để

GV và HS tác dộng vào đối tượng; có chức năng khơi dậy, dẫn truyền, tăng cường khả năng hoạt động của các giác quan, góp phần tạo nên những biểu tượng của sự vật, hiện tượng nhằm đạt được những mục đích dạy học cụ thể

Trang 20

+ Phương tiện nghe – nhìn hiện đại

Phương pháp dạy học trực quan

Quá trình nghiên cứu của các học giả vào những giai đoạn khác nhau với những điều kiện khác nhau nên quan niệm về trực quan trong dạy học cũng khác nhau:

+ M A Đanhilop lại đề cập đến phương pháp trực quan khi nói về phương pháp giảng giải minh họa

+ Đặng Thành Hưng: Nhóm các phương pháp trực quan bao gồm: thị phạm, quan sát độc lập, tham quan

+ Nguyễn Bảo Ngọc, Hà Thị Đức, Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt: phương pháp trực quan bao gồm: phương pháp trình bày trực quan và phương pháp quan sát

Như vậy, có thể hiểu: PPDH trực quan trong dạy học Toán ở tiểu học là một PPDH trong đó GV tổ chức, hướng dẫn cho HS thao tác trên các phương tiện trực quan, từ đó hỗ trợ HS nhận thức được những kiến thức và kĩ năng cần thiết của môn Toán

Trang 21

15

b) Bản chất của phương pháp dạy học trực quan

Bản chất của PPDH trực quan trong dạy học Toán ở tiểu học là quá trình dạy học theo đúng quy luật nhận thức “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn”, vừa tạo được động lực vừa đảm bảo được tính vừa sức đối với HS

c) Quy trình vận dụng phương pháp dạy học trực quan

Có một số tác giả đã đề xuất quy trình vận dụng PPDH trực quan, chủ yếu chỉ khác nhau về các bước triển khai Theo tôi có thể tiến hành theo 4 bước sau:

Bước 1: GV chuẩn bị đồ dùng dạy học (có thể sử dụng thiết bị có sẵn

hoặc tự làm) đảm bảo tính sư phạm, phù hợp với mục tiêu và đặc điểm nội dung của tiết dạy học

Bước 2: GV giới thiệu phương tiện trực quan, nêu nhiệm vụ học tập và

gợi ý, hướng dẫn HS cách sử dụng đồ dùng trực quan

Bước 3: HS thực hiện các thao tác trên đồ dùng trực quan để thu nhận

thông tin, tự phân tích, nhận xét, thảo luận, bổ sung và trình bày kết quả Trong trường hợp cần thiết, GV có thể định hướng, gợi mở - tư vấn

Bước 4: GV nhận xét, đánh giá kết quả của HS, củng cố lại kiến thức

của bài học (Bao gồm các hoạt động tự đánh giá của cá nhân và nhóm HS)

d) Ưu điểm và hạn chế của phương pháp dạy học trực quan

* Ưu điểm

- Gây hứng thú học tập, gợi nhu cầu nhận thức của HS

- Phù hợp với đặc điểm tâm lí và đặc điểm nhận thức của HS tiểu học: huy động sự tham gia của nhiều giác quan kết hợp với lời nói sẽ tạo điều kiện

dễ hiểu, dễ nhớ và nhớ lâu, làm phát triển năng lực chú ý, năng lực quan sát,

óc tò mò khoa học của các em

Trang 22

tư duy trừu tượng của HS

- GV tốn nhiều thời gian để tìm kiếm, tự làm phương tiện trực quan để dạy học

- Dạy học phụ thuộc nhiều vào điều kiện vật chất, trang thiết bị Phương tiện trực quan nếu không đảm bảo tính khoa học, thẩm mĩ thì sẽ làm giảm hiệu quả của tiết dạy

d) Một số yêu cầu khi sử dụng phương pháp dạy học trực quan

Khi sử dụng PPDH trực quan trong dạy học Toán ở tiểu học, GV cần lưu ý những vấn đề sau:

Thứ nhất, phương tiện trực quan phải phù hợp với đặc điểm nhận thức

của HS

Thứ hai, các phương tiện trực quan cần sử dụng đúng lúc, đúng mức

độ Khi cần tạo điểm tựa trực quan để hình thành kiến thức mới thì dùng các phương tiện, khi HS đã hình thành được kiến thức thì hạn chế dùng để phát triển khả năng tư duy của HS

Thứ ba, các phương tiện trực quan phải tăng dần mức độ trừu tượng

Mức độ trừu tượng của phương tiện phụ thuộc vào khả năng nhận thức của trẻ

Thứ tư, không quá đề cao và tuyệt đối hóa phương pháp trực quan Cần

sử dụng linh hoạt và phối hợp PPDH trực quan với các PPDH khác

Trang 23

17

1.3.3 Phương pháp dạy học môn Toán theo thuyết kiến tạo

a) Các quan niệm về dạy học theo lí thuyết kiến tạo

- Các lí thuyết học tập với tư cách đối tượng nghiên cứu của tâm lí học dạy học là những mô hình lí thuyết nhằm mô tả và giải thích cơ chế tâm lí của việc học tập Các lí thuyết học tập đặt cơ sở lí thuyết cho việc tổ chức quá trình dạy và cải tiến PPDH

- Dạy học kiến tạo là một học thuyết về các hoạt động học của người học phải dựa vào tri thức đã học và vốn kinh nghiệm sống của các em Như vậy theo thuyết này, chúng ta tự xây dựng nên hiểu biết cho chính mình về thế giới mà chúng ta đang sống Việc học tập chính là một quá trình thích ứng những khuôn mẫu đã có thể hòa hợp được với những kinh nghiệm mới

- Tóm tắt những quan niệm chính của thuyết kiến tạo như sau:

+ Không có tri thức khách quan tuyệt đối Tri thức được xuất hiện thông qua chủ thể nhận thức tự cấu trúc vào hệ thống bên trong của mình, vì thế tri thức mang tính chủ quan

+ Với việc nhấn mạnh chủ thể nhận thức trong việc giải thích và kiến tạo tri thức, thuyết kiến tạo thuộc lí thuyết định hướng chủ thể

+ Cần tổ chức sự tương tác giữa người học và đối tượng học tập, để giúp người học xây dựng thông tin mới vào cấu trúc tư duy của chính mình,

đã được chủ thể điều chỉnh

+ Học không chỉ là để khám phá mà còn là sự giải thích, cấu trúc mới tri thức

Trang 24

18

b) Những đặc điểm cơ bản của học tập theo thuyết kiến tạo

* Tri thức được lĩnh hội trong học tập là một quá trình và sản phẩm kiến tạo theo từng cá nhân thông qua tương tác giữa người học và nội dung học tập

* Về mặt nôi dung, dạy học phải định hướng theo những lĩnh vực và vấn đề phức hợp, gần gũi với cuộc sống và nghề nghiệp, được khảo sát một cách tổng thể

* Việc học tập chỉ có thể được thực hiện trong hoạt động tích cực của người học, vì chỉ từ những kinh nghiệm và kiến thức mới của bản thân thì mới có thể thay đổi và cá nhân hóa những kiến thức và kĩ năng đã có

* Học qua sai lầm là điều có ý nghĩa

* Nội dung học tập cần định hướng vào hứng thú người học, vì có thể học hỏi dễ nhất từ những từ những nội dung mà người ta thấy hứng thú hoặc

có tính thách thức

* Thuyết kiến tạo không chỉ giới hạn ở những khía cạnh nhận thức của việc dạy và học Sự học tập hợp tác đòi hỏi và khuyến khích phát triển không chỉ có lí trí

Đặc điểm của quá trình dạy học theo thuyết kiến tạo:

Theo giáo trình PPDH Toán ở tiểu học do PGS TS Vũ Quốc Chung chủ biên thì quá trình dạy học theo thuyết kiến tạo gồm những đặc điểm cơ bản sau:

- HS phải là chủ thể tích cực kiến tạo nên kiến thức của mình dựa trên tri thức và kinh nghiệm có từ trước Chỉ khi nào tạo nên mối liên hệ hữu cơ giữa kiến thức cũ và mới, sắp xếp tri thức và cấu trúc hiện có hoặc thay đổi cho phù hợp thì quá trình học tập mới có ý nghĩa

- Quá trình kiến tạo tri thức mang tính chất cá thể, ngay trong cùng một hoàn cảnh thì kiến tạo tri thức của mỗi HS cũng khác nhau Vì vậy đòi hỏi

Trang 25

- Mục đích của dạy học không chỉ là truyền thụ kiến thức mà chủ yếu là làm thay đổi hoặc phát triển các quan niệm của HS, qua đó HS kiến tạo tri thức mới, đồng thời phát triển trí tuệ và nhân cách của mình

c) Quy trình sử dụng phương pháp dạy học theo thuyết kiến tạo ở tiểu học

Theo nhiều tác giả quy trình của việc dạy học theo lối kiến tạo bao gồm năm pha chính (thể hiện ở sơ đồ) sau:

Trang 26

20

Theo tôi, quy trình dạy học theo thuyết kiến tạo bao gồm 5 bước sau:

Bước 1: Tiếp cận tình huống có vấn đề cần nhận thức; nêu vấn đề (có

thể từ GV hoặc từ HS)

Bước 2: Liên tưởng các kiến thức, kĩ năng cũ, tập hợp các ý tưởng của

HS có liên quan đến vấn đề cần giải quyết

Bước 3: Thảo luận, đề xuất giả thuyết: tập hợp các ý tưởng của HS; so

sánh các ý tưởng đó và đề xuất một ý tưởng chung của cả lớp (hoặc của cả nhóm)

Bước 4: Kiểm nghiệm, phân tích kết quả; HS kiểm tra giả thuyết (Thử -

Sai), phân tích kết quả Ở bước này nếu sai làm lại, nếu đúng thì chuyển qua bước tiếp theo

Bước 5: Kết luận, rút ra kiến thức, kĩ năng mới HS phân tích kết quả,

trình bày trong nhóm hoặc cả lớp, nêu kết luận chung (tri thức mới) GV nhận xét, đánh giá

d) Ưu điểm và hạn chế của việc vận dụng thuyết kiến tạo

* Ưu điểm

Việc vận dụng thuyết kiến tạo trong dạy học Toán ở tiểu học mang ưu điểm của những PPDH tích cực như:

- HS trở thành trung tâm của quá trình dạy học

- HS giữ vai trò chủ động trong các hoạt động học tập

- Người học được tích cực hoạt động khám phá và sáng tạo lại tri thức cho bản thân theo con đường của các nhà khoa học dẫn đến HS được phát triển không chỉ kĩ năng học tập mà còn phát triển kĩ năng nghiên cứu khoa học

- HS không chỉ học tập tri thức mà còn học tập cả phương pháp học tập

- HS thấy được ý nghĩa việc học tập của bản thân

- Các em được rèn luyện sự tự tin, chủ động

Trang 27

- Dễ gặp trở ngại nếu HS chưa thực sự chủ động, tích cực

- Để vận dụng PPDH nói trên có hiệu quả đòi hỏi mỗi GV cần đánh giá được đúng năng lực học tập ban đầu của từng cá nhân HS

d) Một số điểm cần lưu ý khi vận dụng thuyết kiến tạo

- GV cần nắm vững trình độ của từng HS để lựa chọn biện pháp khơi gợi hứng thú học tập một cách phù hợp và lựa chọn nội dung học tập vừa sức với từng đối tượng HS

- GV cần chuẩn bị nội dung dạy học và đầu tư công sức thiết kế hệ thống hoạt động, chuẩn bị đồ dùng thiết bị học tập để đạt hiệu quả dạy học

- Kết hợp hài hòa giữa dạy học theo thuyết kiến tạo với các PPDH tích cực khác sẽ khắc phục được những nhược điểm của phương pháp và đem lại hiệu quả giáo dục cao

- Với đa số HS tiểu học ở Việt Nam, đặc biệt là HS ở các vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa, HS dân tộc thiểu số, việc rèn luyện tính tích cực, chủ động trong học tập của các em cần tiến hành từng bước phù hợp với trình độ học tập của các em

Ngày đăng: 04/11/2015, 11:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Nguyễn Ngọc Bảo (1980), Tổ chức dạy học – Một số vấn đề lý luận dạy học, Tủ sách trường cán bộ quản lý và nghiệp vụ giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức dạy học – Một số vấn đề lý luận dạy học
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bảo
Năm: 1980
[2]. Nguyễn Hữu Châu (2005), Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học
Tác giả: Nguyễn Hữu Châu
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2005
[3]. Vũ Quốc Chung (2007), Phương pháp dạy học toán ở Tiểu học, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Dự án phát triển giáo viên Tiểu học, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học toán ở Tiểu học
Tác giả: Vũ Quốc Chung
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2007
[4]. Vũ Quốc Chung – Đào Thái Lai – Đỗ Tiến Đạt – Trần Ngọc Lan – Nguyễn Hùng Quang – Lê Ngọc Sơn (2007), Phương pháp dạy học toán ở Tiểu học, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học toán ở Tiểu học
Tác giả: Vũ Quốc Chung – Đào Thái Lai – Đỗ Tiến Đạt – Trần Ngọc Lan – Nguyễn Hùng Quang – Lê Ngọc Sơn
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2007
[5]. Hoàng chúng (1969), Rèn khả năng sáng tạo Toán học ở phổ thông, NXB GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn khả năng sáng tạo Toán học ở phổ thông
Tác giả: Hoàng chúng
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1969
[6]. Trần Thị Thu Hà (2009), Bước đầu hình thành năng lực tự học cho học sinh lớp 5 thông qua dạy học môn Toán, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo, Đại học Sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu hình thành năng lực tự học cho học sinh lớp 5 thông qua dạy học môn Toán
Tác giả: Trần Thị Thu Hà
Năm: 2009
[7]. Trần Diên Hiển (chủ biên) (2007), Toán và phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học, Dự án phát triển giáo viên Tiểu học, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toán và phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học
Tác giả: Trần Diên Hiển (chủ biên)
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2007
[8]. Trần Diên Hiển (2008), Giáo trình chuyên đề rèn kỹ năng giải toán ở Tiểu học, NXB Đại học Sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chuyên đề rèn kỹ năng giải toán ở Tiểu học
Tác giả: Trần Diên Hiển
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm
Năm: 2008
[9]. Đặng Vũ Hoạt (chủ biên) – Hà Thị Đức (2004), Lý luận dạy học đại học, NXB Đại học Sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học đại học
Tác giả: Đặng Vũ Hoạt (chủ biên) – Hà Thị Đức
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm
Năm: 2004
[10]. Đỗ Đình Hoan (chủ biên) (2004), Toán lớp 1, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toán lớp 1
Tác giả: Đỗ Đình Hoan (chủ biên)
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2004
[11]. Đỗ Đình Hoan (chủ biên) (2004), Toán lớp 2, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toán lớp 2
Tác giả: Đỗ Đình Hoan (chủ biên)
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2004
[12]. Đỗ Đình Hoan (chủ biên) (2004), Toán lớp 3, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toán lớp 3
Tác giả: Đỗ Đình Hoan (chủ biên)
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2004
[13]. Đỗ Đình Hoan (chủ biên) (2004), Toán lớp 4, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toán lớp 4
Tác giả: Đỗ Đình Hoan (chủ biên)
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2004
[14]. Đỗ Đình Hoan (chủ biên) (2004), Toán lớp 5, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toán lớp 5
Tác giả: Đỗ Đình Hoan (chủ biên)
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2004
[15]. Trần Bá Hoành, Nguyễn Đình Khuê, Đào Nhƣ Trang (2003), Áp dụng dạy học tích cực trong môn Toán, NXB Đại học Sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng dạy học tích cực trong môn Toán
Tác giả: Trần Bá Hoành, Nguyễn Đình Khuê, Đào Nhƣ Trang
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm
Năm: 2003
[16]. Đặng Thành Hƣng (2004), Hệ thống kĩ năng học tập hiện đại, Tạp chí giáo dục, tr.25 – 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống kĩ năng học tập hiện đại
Tác giả: Đặng Thành Hƣng
Năm: 2004
[17]. Nguyễn Bá Kim (2002), Phương pháp dạy học môn Toán, NXB Đại học Sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học môn Toán
Tác giả: Nguyễn Bá Kim
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thành giải pháp - Vận dụng một số phương pháp dạy học toán ở tiểu học theo mô hình VNEN
Hình th ành giải pháp (Trang 17)
HÌNH HỘP CHỮ NHẬT (Toán 5) - Vận dụng một số phương pháp dạy học toán ở tiểu học theo mô hình VNEN
o án 5) (Trang 43)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w