1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện và phát triển nghiệp vụ bảo lãnh tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Thăng Long

89 968 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 652 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trải qua hơn 20 năm đổi mới nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành quả vô cùng tốt đẹp như tốc độ tăng trưởng GDP liên tục tăng đều, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao...Để đạt được những thành quả đó là do có một chiến lược phát triển kinh tế đúng hướng của nhà nước. Góp phần vào sự phát triển đó thì hệ thống ngân hàng cũng chiếm một vị trí hết sức quan trọng, vì ngày nay, ngân hàng đã trở thành một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế Trong điều kiện nền kinh tế mở cửa và hội nhập như hiện nay mà đỉnh cao là việc Việt Nam đã ra nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Vì vậy, việc quan hệ giao lưu buôn bán, kí kêt hợp đồng giữa các bên đã ngày càng phát triển, để đáp ứng kịp thời những yêu cầu của khách hàng thì hệ thống ngân hàng không ngừng đổi mới, bên cạnh những nghiệp vụ truyền thống thì ngân hàng đã và đang áp dụng những nghiệp vụ mới có tính hiện đại. Một trong số nghiệp vụ đó là nghiệp vụ “bảo lãnh ngân hàng”. Nghiệp vụ bảo lãnh ra đời từ những năm 70 của thế kỷ XX và đã trở thành nghiệp vụ phi tín dụng phát triển mạnh nhất trên thế giới. Đối với hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam, tuy mới chỉ xuất hiện trong những năm gần đây nhưng nó đã đóng vai trò lớn trong nền kinh tế, giúp các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn dễ dàng hơn đồng thời đem lại khoản thu không nhỏ cho ngân hàng. Trong quá trình thực tập tại Chi nhánh ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Thăng Long, thấy được tầm quan trọng của nghiệp vụ bảo lãnh cũng như muốn hiểu sâu về hơn, kỹ hơn về nghiệp vụ này vì vậy em đã chọn đề tài “Hoàn thiện và phát triển nghiệp vụ bảo lãnh tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Thăng Long” làm đề tài cho khóa luận của mình. Bố cục của chuyên đề gồm: Phần 1: Lý luận về nghiệp vụ bảo lãnh của ngân hàng thương mại Phần II: Thực trạng hoạt động bảo lãnh tại chi nhánh Ngân hàng ĐTPT Thăng Long Phần III: Giải pháp hoàn thiện và phát triển nghiệp vụ bảo lãnh tại chi nhánh Ngân hàng ĐTPT Thăng Long. Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô trong khoa Ngân hàng – Tài Chính, đặc biệt là sự chỉ bảo, hướng dẫn tận tình của thầy giáo – GS.TS Cao Cự Bội cùng sự giúp đỡ nhiệt tình của các anh chị cán bộ tại Phòng giao dịch 1 Chi nhánh Thăng Long ngân hàng ĐT PT đã tạo điều kiện cho em hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này. Với thời gian tiếp cận và khả năng kiến thức còn hạn chế nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự nhận xét, chỉ bảo của thầy cô để em có thêm những kinh nghiệm, kiến thức nhằm phục vụ tốt hơn trong quá trình làm việc sau này.

Trang 1

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG, BIỂU

LỜI NÓI ĐẦU 1

PHẦN I: LÝ THUYẾT VỀ NGHIỆP VỤ BẢO LÃNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3

1.1.KHÁI NIỆM BẢO LÃNH NGÂN HÀNG 3

1.1.1.Thế nào là bảo lãnh 3

1.1.2 Khái niệm về bảo lãnh ngân hàng 4

1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA BẢO LÃNH NGÂN HÀNG 8

1.2.1,Bảo lãnh có sự tham gia của nhiều bên phụ thuộc lẫn nhau 8

1.2.2.Bảo lãnh ngân hàng mang tính độc lập 9

1.2.3.Bảo lãnh ngân hàng là một hoạt động ngoại bảng của ngân hàng 9

1.2.4.Bảo lãnh ngân hàng là một nghiệp vụ hàm chứa rủi ro rất cao 10

1.3 VAI TRÒ VÀ CHỨC NĂNG CỦA BẢO LÃNH NGÂN HÀNG 10

1.3.1 Chức năng của bảo lãnh ngân hàng 10

1.3.2 Vai trò của bảo lãnh ngân hàng 12

1.4.PHÂN LOẠI BẢO LÃNH NGÂN HÀNG 14

1.4.1 Theo phương thức phát hành bảo lãnh 14

1.4.2 Theo đối tượng của bảo lãnh 18

1.4.3 Phân loại theo điều kiện thanh toán 21

1.5 CÁC HÌNH THỨC PHẤT HÀNH BẢO LÃNH 22

1.5.1 Phát hành thư bảo lãnh, xác nhận bảo lãnh 23

1.5.2 Ký xác nhận bảo lãnh trên các hối phiếu lệnh phiếu 25

1.5.3.Hình thức khác theo quy định của pháp luật 25

1.5.4.Phân biệt bảo lãnh ngân hàng với L/C và bảo hiểm 25

Trang 2

1.6.CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG VÀ HOẠT

ĐỘNG BẢO LÃNH 26

1.6.1 Chất lượng nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng 26

1.6 2 Chỉ tiêu phản ánh chất lượng hoạt động bảo lãnh ngân hàng 27

1.7 NHỮNG RỦI RO TRONG MỘT NGHIỆP VỤ BẢO LÃNH 28

1.7.1 Rủi ro đối với bên nhận bảo lãnh 28

1.7.2 Rủi ro đối với ngân hàng bảo lãnh 29

PHẦN II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐT&PT THĂNG LONG 30

2.1.TỔNG QUAN VỀ CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐT&PT THĂNG LONG .30

2.1.1 Sự hình thành và phát triển 30

2.1.2 Đặc điểm thị trường hoạt động của Chi nhánh 31

2.1.3 Nguồn nhân lực và cơ cấu tổ chức của Chi nhánh 32

2.2.TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CHI NHÀNH NGÂN HÀNG ĐT&PT THĂNG LONG TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 34

2.2.1 Đánh giá tình hình thực hiện các chỉ tiêu KHKD năm 2007 36

2.2.2 Đánh giá các chỉ tiêu về chất lượng, cơ cấu tín dụng 41

2.3.THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐT&PT THĂNG LONG 43

2.3.1 Các quy định chung về nghiệp vụ bảo lãnh và quy trình nghiệp vụ bảo lãnh tại Chi nhánh 43

2.3.2 Tình hình thực hiện bảo lãnh tại chi nhánh Ngân hàng ĐT&PT Thăng Long 56

2.4.HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN TRONG HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH .61

2.4.1 Những hạn chế trong hoạt động bảo lãnh 62

Trang 3

2.4.2 Nguyên nhân 64

Trang 4

PHẦN III:GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ

BẢO LÃNH TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐT&PT THĂNG LONG 68

3.1:MỤC TIÊU CHUNG TRIỂN KHAI KHKH NĂM 2008 68

3.1.1 Mục tiêu tăng trưởng bền vững 68

3.1.2 Mục tiêu hoạt động an toàn hiệu quả 68

3.1.3 Mục tiêu phát triển khách hàng 69

3.1.4 Một số chỉ tiêu cụ thể 69

3.2.GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH TẠI CHI NHÁNH 70

3.2.1.Giải pháp hoàn thiện hoạt động bảo lãnh tại Chi nhánh 70

3.2.2 Nhóm giải pháp phát triển nghiệp vụ bảo lãnh tại Chi nhánh 75

3.3.KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT 79

3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ cà các cơ quan có thẩm quyền 79

3.3.2 Với Ngân hàng Nhà nước 80

3.3.3 Kiến nghị với Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 81

KẾT LUẬN 82

DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

Trang 5

DNNN : Doanh nghiệp nhà nước

DNNQD : Doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Trang 6

DANH MỤC BẢNG, BIỂU

Bảng 2.1: Biểu thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh 35

Bảng 2.2: Về cơ cấu nguồn vốn: 37

Bảng 2.3: Chi tiêu công tác dịch vụ 38

Bảng2.4: các chỉ tiêu cơ cấu 43

Bảng 2.5: Tổng doanh số bảo lãnh qua các năm 57

Bảng2.6: Quy mô doanh só bảo lãnh trong và ngoài nước 58

Bảng2.7: Cơ cấu các loại hình bảo lãnh tại ngân hàng 59

Bảng2.8: Cơ cấu bảo lãnh theo thành phần kinh tế 60

Bảng 2.9: Kết quả thu phí 61

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

Trải qua hơn 20 năm đổi mới nền kinh tế Việt Nam đã đạt được nhữngthành quả vô cùng tốt đẹp như tốc độ tăng trưởng GDP liên tục tăng đều, đờisống nhân dân ngày càng được nâng cao Để đạt được những thành quả đó là

do có một chiến lược phát triển kinh tế đúng hướng của nhà nước Góp phầnvào sự phát triển đó thì hệ thống ngân hàng cũng chiếm một vị trí hết sứcquan trọng, vì ngày nay, ngân hàng đã trở thành một trong các tổ chức tàichính quan trọng nhất của nền kinh tế

Trong điều kiện nền kinh tế mở cửa và hội nhập như hiện nay mà đỉnhcao là việc Việt Nam đã ra nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Vìvậy, việc quan hệ giao lưu buôn bán, kí kêt hợp đồng giữa các bên đã ngàycàng phát triển, để đáp ứng kịp thời những yêu cầu của khách hàng thì hệthống ngân hàng không ngừng đổi mới, bên cạnh những nghiệp vụ truyềnthống thì ngân hàng đã và đang áp dụng những nghiệp vụ mới có tính hiệnđại Một trong số nghiệp vụ đó là nghiệp vụ “bảo lãnh ngân hàng”

Nghiệp vụ bảo lãnh ra đời từ những năm 70 của thế kỷ XX và đã trởthành nghiệp vụ phi tín dụng phát triển mạnh nhất trên thế giới Đối với hệthống Ngân hàng thương mại Việt Nam, tuy mới chỉ xuất hiện trong nhữngnăm gần đây nhưng nó đã đóng vai trò lớn trong nền kinh tế, giúp các doanhnghiệp tiếp cận nguồn vốn dễ dàng hơn đồng thời đem lại khoản thu khôngnhỏ cho ngân hàng

Trong quá trình thực tập tại Chi nhánh ngân hàng Đầu Tư và Phát TriểnThăng Long, thấy được tầm quan trọng của nghiệp vụ bảo lãnh cũng nhưmuốn hiểu sâu về hơn, kỹ hơn về nghiệp vụ này vì vậy em đã chọn đề tài

“Hoàn thiện và phát triển nghiệp vụ bảo lãnh tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Thăng Long” làm đề tài cho khóa luận của mình.

Trang 8

Bố cục của chuyên đề gồm:

Phần 1: Lý luận về nghiệp vụ bảo lãnh của ngân hàng thương mại

Phần II: Thực trạng hoạt động bảo lãnh tại chi nhánh Ngân hàng ĐT&PTThăng Long

Phần III: Giải pháp hoàn thiện và phát triển nghiệp vụ bảo lãnh tại chinhánh Ngân hàng ĐT&PT Thăng Long

Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô trong khoaNgân hàng – Tài Chính, đặc biệt là sự chỉ bảo, hướng dẫn tận tình của thầygiáo – GS.TS Cao Cự Bội cùng sự giúp đỡ nhiệt tình của các anh chị cán bộtại Phòng giao dịch 1 Chi nhánh Thăng Long ngân hàng ĐT & PT đã tạo điềukiện cho em hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này

Với thời gian tiếp cận và khả năng kiến thức còn hạn chế nên luận vănkhông thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự nhận xét, chỉbảo của thầy cô để em có thêm những kinh nghiệm, kiến thức nhằm phục vụtốt hơn trong quá trình làm việc sau này

Trang 9

PHẦN I : LÝ THUYẾT VỀ NGHIỆP VỤ BẢO LÃNH CỦA

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1.KHÁI NIỆM BẢO LÃNH NGÂN HÀNG

1.1.1.Thế nào là bảo lãnh

Trong mối quan hệ kinh tế quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi bên thường gắn

bó và liên quan mật thiết đến nhau.Vì vậy để các mối quan hệ trở lên tốt đẹp thìcác bên phải thực hiện đúng nghĩa vụ của mình Do đó, các bên tham gia quan

hệ kinh tế đều muốn có sự đảm bảo bằng uy tín hay tài sản của bên thứ ba vềviệc thực hiện nghĩa vụ của đối tác Sự đảm bảo đó được gọi là bảo lãnh

Có hai hình thức bảo lãnh chủ yếu:

-Bảo lãnh đối nhân được áp dụng đối với các quan hệ phi tài sản trongcác lĩnh vực hình sự, tố tụng hình sự, chế tài hành chính và quan hệ phi tài sảntrong dân sự

-Bảo lãnh đối vật được sử dụng trong quan hệ kinh tế và dân sự có yếu

tố tài sản Với sự đảm bảo rằng, nếu người được bảo lãnh không thực hiệnđược nghĩa vụ thì bên bảo lãnh phải đền bù cho bên nhận bảo lãnh một số tiềnthỏa thuận từ trước

Ở Việt Nam, bảo lãnh xuất hiện từ rất sớm trong các văn bản pháp luật,tại điều 306 của bộ luật Dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam bảo lãnh được định nghĩa như sau:

“Bảo lãnh là việc bên thứ ba (gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên cóquyền (gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa

vụ (gọi là bên được bảo lãnh ) nếu đến hạn mà bên được bảo lãnh không thựchiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”

Tại điều 2 khoản 3, nghị định số 17/HĐBT ngày 16/1/1990 của Chủ tịchHội đồng Bộ trưởng nay là Thủ tướng chính phủ quy định chi tiết thi hànhpháp lệnh hợp đồng kinh tế thì bảo lãnh được ghi:

Trang 10

“ Bảo lãnh tài sản là sự đảm bảo bằng tài sản thuộc quyền sở hữu củangười bảo lãnh để chịu trách nhiệm tài sản thay cho người được bảo lãnh khingười này vi phạm hợp đồng kinh tế đã ký”.

Tóm lại, bảo lãnh là sự cam kết của bên bảo lãnh đối với bên nhận bảolãnh về việc đảm bảo sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh khi họkhông thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ của mình đối với bên nhận bảo lãnh

1.1.2 Khái niệm về bảo lãnh ngân hàng

1.1.2.1 Sự ra đời và phát triển của bảo lãnh ngân hàng

a Sự ra đời và phát triển của bảo lãnh Ngân hàng là yêu cầu khách quan và cần thiết đối với các hoạt động kinh tế.

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các chủ thể kinh tế luôn phải thamgia vào các quan hệ kinh tế Một trong những phương pháp để xác lập cácquan hệ kinh tế là phải ký kết các hợp đồng kinh tế Đây là yêu cầu của phápluật vì đó là cơ sở pháp lý để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên thamgia hợp đồng khi có tranh chấp về kinh tế xảy ra Việc tham gia hợp đồng củacác bên là tự giác, các bên thoả thuận với nhau về quyền và nghĩa vụ của cácbên quy định trong bản hợp đồng và phải dựa trên những quy định của phápluật Trong thực tế, việc chấp hành các quy định trong hợp đồng không phải aicũng tự giác, nó dễ gây ra rủi ro cho đối tác tham gia hợp đồng Vì vậy cácchủ thể kinh tế phải tìm cách phòng ngừa và hạn chế rủi ro Biện pháp hạnchế rủi ro mà các chủ thể kinh tế áp dụng là có sự bảo đảm chắc chắn bằng tàisản từ phía đối tác hoặc bảo lãnh từ một tổ chức có uy tín nào đó Các tổ chứcđược lựa chọn là Nhà nước hoặc các tổ chức tài chính trung gian có uy tíntrong nền kinh tế như Ngân hàng, Bảo hiểm…

* Khả năng đáp ứng của Ngân hàng

Khi nền kinh tế đã xuất hiện nhu cầu thì cần có những công cụ nhằmhạn chế thấp nhất các rủi ro có thể xảy ra trong quan hệ kinh tế giữa các chủ

Trang 11

thể Nắm bắt được nhu cầu đó, NHTM bằng uy tín, khả năng hoạt động tronglĩnh vực kinh doanh tiền tệ và cung ứng các dịch vụ đã cho ra đời một hìnhthức dịch vụ mới đó là nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng Đây là một hình thứctín dụng mà ngân hàng sử dụng uy tín của mình cam kết thực hiện nghĩa vụtrả thay cho khách hàng, hạn chế rủi ro cho những người được hưởng lợi ích.Hay nói cách khác bảo lãnh ngân hàng được sử dụng như một công cụ bảo vệlợi ích của những người có quyền được hưởng Nghiệp vụ bảo lãnh này nókhông chỉ mang tính chất dịch vụ mà nó còn mang chức năng tài trợ chodoanh nghiệp và nền kinh tế.

* Quy định của pháp luật

Sự ra đời của bảo lãnh Ngân hàng hoàn toàn được pháp luật các nướccho phép bởi vì đây là một nghiệp vụ có vai trò to lớn trong việc phát triểnlành mạnh hoá quan hệ kinh tế trong mọi lĩnh vực tài chính, phi tài chính,thương mại

b Sự phát triển của bảo lãnh ngân hàng

Bảo lãnh dưới hình thức nào đó, dường như đã xuất hiện từ rất xa xưatrong xã hội loài người Ban đầu rất thô sơ và bắt đầu từ thập niên 70 đến naybảo lãnh không những tồn tại mà còn phát triển rất đa dạng và phong phútrong tất cả các lĩnh vực Hầu như không một giao dịch lớn nào được thựchiện mà không có sự hỗ trợ của một loại bảo lãnh dưới hình thức nào đó Màcác giao dịch thường kéo dài nên có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nó và dovậy làm tăng khả năng rủi ro của việc thực hiện không đúng hợp đồng Trongkhi đó khả năng đánh giá và phòng ngừa rủi ro của người mua hay chủ đầu tưlại có hạn

Trước tình hình đó thì bảo lãnh Ngân hàng ra đời và nó ngày càng pháttriển khi nền kinh tế được mở rộng và phát triển Nếu như thư tín dụng chỉ sửdụng trong thương mại quốc tế như là một phương tiện thanh toán an toàn cho

Trang 12

cả hai phía thì thư bảo lãnh là một công cụ được sử dụng rất linh động đápứng các nhu cầu về thương mại và phi thương mại, tài chính và phi tài chínhnhư bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh hoàn trả tiền, bảo lãnh thực hiện hợp đồng,bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh tiền ứng trước, bảo lãnh hải quan…

Bảo lãnh thường xuất hiện khi một người muốn vay một khoản tiền hoặcmuốn tham gia vào thực hiện một hoạt động nào đó nhưng chưa có đủ sự tincậy đối với đối tác của mình, họ phải nhờ người thứ ba có đủ tài sản và uy tínđứng ra bảo lãnh cho mình Mỗi quốc gia có những quy định khác nhau vềhoạt động bảo lãnh, song người bảo lãnh bao giờ cũng phải là chủ thể có đầy

đủ uy tín, khả năng về tài chính có thể thực hiện được những cam kết nếungười được bảo lãnh không làm được thông thường người bảo lãnh thường làngân hàng Người bảo lãnh có thể phải thực hiện nghĩa vụ nhưng cũng có thểkhông vì vi phạm không xảy ra và bảo lãnh tự động hết

Ngày nay, bảo lãnh đã trở thành một nghiệp vụ của ngân hàng tại nhiềunước trên thế giới và ngày càng mở rộng với tổng giá trị bảo lãnh tăng mộtcách đáng kể Sự mở rộng đó được bắt nguồn từ một thực tế rằng bảo lãnhngân hàng vừa mang lại thu nhập cho ngân hàng và cũng là nghiệp vụ tài trợngắn hạn hiệu quả cho doanh nghiệp Hơn nữa, bảo lãnh còn được sử dụng để

hỗ trợ cho bất kỳ một hoạt động kinh tế nào từ hợp đồng phi tài chính nhưhợp đồng mua bán, cho thuê và hợp đồng xây dựng cho đến các hợp đồng tàichính như các khoản tín dụng, cho vay theo món hay thấu chi, tham gia liêndoanh, phát hành trái phiếu, tái bảo hiểm hay các cam kết tài chính khác

Ở Việt Nam, lần đầu tiên bảo lãnh ngân hàng xuất hiện tại các NHTMvào năm 1994 và nhanh chóng khẳng định vị trí của mình đang đổi mới theohướng hiện đại

Trang 13

1.1.2.2 Khái niệm bảo lãnh Ngân hàng

Theo quy chế “Bảo lãnh ngân hàng” được ban hành kèm theo quyết định

số 283/2000/QĐ NHNN ngày 25 tháng 8 năm 2000 của Thống đốc NHNN

và theo quyết định số 112/2003/QĐ – NHNN của Thống đốc NHNN banhành ngày 11/02/2003 về việc sửa đổi và bổ sung một số điều của quy chếbảo lãnh đã nêu rõ:

“Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng (bênbảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tàichính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiệnhoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh” Kháchhàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay.Bên bảo lãnh là các tổ chức tín dụng bao gồm NHTM quốc doanh,NHTM cổ phần, ngân hàng đầu tư, ngân hàng phát triển, ngân hàng chínhsách, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam,ngân hàng hợp tác, các loại hình ngân hàng khác và các tổ chức tín dụng phingân hàng thành lập và hoạt động theo luật Luật các Tổ chức tín dụng

Bên được bảo lãnh là các tổ chức và cá nhân trong nước và nước ngoàibao gồm các doanh nghiệp đang hoạt động kinh doanh hợp pháp tại Việt Namnhư DNNN, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh,doanh nghiệp của các Tổ chức chính trị, doanh nghiệp liên doanh, doanhnghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, doanh nghiệp tư nhân, hộkinh doanh cá thể, các TCTD được thành lập và hoạt động theo Luật cácTCTD, hợp tác xã; các tổ chức kinh tế nước ngoài tham gia các hợp đồng hợptác, liên doanh và tham gia đấu thầu các dự án đầu tư tại Việt Nam Ngânhàng sẽ không được bảo lãnh đối với những người sau: Thành viên Hội đồngquản trị, Ban kiểm soát, Tổng Giám Đốc, Phó Giám Đốc của các TCTD; cán

bộ, nhân viên của chính tổ chức tín dụng đó thực hiện nhiệm vụ thẩm định,quyết định bảo lãnh; bố, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên Hội đồng quản trị,

Trang 14

Ban kiểm soát, Tổng Giám Đốc (Giám Đốc)., Phó Tổng Giám Đốc( PhóGiám Đốc).

Bên nhận bảo lãnh là các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, có quyềnthụ hưởng các cam kết bảo lãnh của các tổ chức tín dụng

Cam kết bảo lãnh là cam kết đơn phương bằng văn bản của TCTD hoặcvăn bản thỏa thuận giữa TDTD, khách hàng được bảo lãnh với bên nhận bảolãnh về việc TCTD sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàngkhông thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh

Hợp đồng bảo lãnh là văn bản thỏa thuận giữa TCTD với khách hàng vềquyền lợi và nghĩa vụ của các bên trong việc bảo lãnh và hoàn trả

1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA BẢO LÃNH NGÂN HÀNG

1.2.1.Bảo lãnh có sự tham gia của nhiều bên phụ thuộc lẫn nhau

Trong quan hệ bảo lãnh thường có sự tham gia của các bên người yêu cầubảo lãnh, bên được bảo lãnh và ngân hàng bảo lãnh Giữa các chủ thể này tồn tạinhững mối quan hệ đan xen nhau được thể hiện qua các hợp đồng kinh tế

vụ mình phát hành một bảo lãnh, còn ngân hàng cam kết sẽ thực hiện nghĩa

vụ tài chính cho khách hàng theo những điều kiện đã thỏa thuận trước

Ngân hàng phát hành

Trang 15

(3) : Quan hệ giữa ngân hàng phát hành và bên thụ hưởng là thư bảo lãnhcam kết thanh toán khi phát sính nghĩa vụ.

Nếu không có quan hệ (1) thì không có quan hệ (2) và cũng không cóquan hệ (3)

Đặc điểm này của nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng giúp ta phân biệt bảo lãnhvới các hình thức tín dụng khác của ngân hàng như cho vay, chiết khấu

1.2.2.Bảo lãnh ngân hàng mang tính độc lập

Khi bên nhận bảo lãnh phải chịu những thiệt hại do bên được bảo lãnhkhông thực hiện đúng như trong hợp đồng gốc thì ngân hàng phát hành bảolãnh sẽ bồi thường cho bên thụ hưởng, song việc thanh toán một bảo lãnh chỉcăn cứ vào các điều khoản và các điều kiện quy định trong cam kết bảo lãnh.Điều này có nghĩa là bên bảo lãnh chỉ được quyền đòi tiền bảo lãnh đối vớingân hàng nếu những điều kiện ghi trong cam kết bảo lãnh xảy ra và ngânhàng cũng không thể từ chối thực hiện nghĩa vụ của mình

Tính độc lập còn được thể hiện ở chỗ ngân hàng có quyền truy đòi khoảntiền bảo lãnh đã trả thay cho khách hàng ngay sau khi ngân hàng thực hiệnyêu cầu thanh toán từ bên nhận bảo lãnh mà không hề bị ảnh hưởng bởi cácđiều khoản của hợp đồng gốc

1.2.3.Bảo lãnh ngân hàng là một hoạt động ngoại bảng của ngân hàng

Khi ngân hàng phát hành một cam kết bảo lãnh thì ngân hàng chưa thực

sự phải bỏ ra số tiền bảo lãnh, mà ngân hàng dùng uy tín để đảm bảo cho bênđược bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ của mình Nghiệp vụ này không ảnh hưởng đếnnguồn vốn và sử dụng vốn của ngân hàng, do vậy nó chưa được hạch toán vào nộibảng mà được hạch toán vào ngoại bảng Chính đặc điểm này đã khuyến khíchngân hàng phát triển nghiệp vụ ngoại bảng nhằm tăng lợi nhuận đa dạng hoá cáchình thức hoạt động của mình..

Trang 16

1.2.4.Bảo lãnh ngân hàng là một nghiệp vụ hàm chứa rủi ro rất cao

Bảo lãnh chính là hình thức tín dụng chữ ký của ngân hàng do vậy nócũng mang nhiều rủi ro không kém gì hoạt động cho vay, mục đích của bảolãnh để hạn chế rủi ro cho người được hưởng cũng chính là ngân hàng nhậnphần rủi ro đó

Rủi ro xuất phát từ việc người được bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụcủa mình với người được hưởng hoặc cũng có thể xuất phát từ đặc điểm củabảo lãnh là ngân hàng thực hiện nghĩa vụ ngay khi có yêu cầu mà không được

từ chối với bất cứ lý do gì

Bình thường, bảo lãnh là hoạt động ngoại bảng không thuộc bảng cânđối tài sản nhưng khi ngân hàng phải đứng ra thực hiện nghĩa vụ thanh toánthay cho bên được bảo lãnh thì bảo lãnh trở thành một bộ phận của bảng cânđối tài sản

1.3 VAI TRÒ VÀ CHỨC NĂNG CỦA BẢO LÃNH NGÂN HÀNG

1.3.1 Chức năng của bảo lãnh ngân hàng

1.3.1.1 Bảo lãnh được dùng như một công cụ bảo đảm

Mục đích của bảo lãnh là cung cấp cho bên nhận bảo lãnh một khoảnbồi hoàn tài chính khi bên được bảo lãnh vi phạm hợp đồng Đó là hìnhthức bảo đảm cho bên nhận bảo lãnh Thực tế, bên nhận bảo lãnh mongmuốn bên được bảo lãnh thực hiện đúng nghĩa vụ của mình đã cam kếttrong hợp đồng hơn là mong muốn nhận được tiền bảo lãnh từ phía ngânhàng Họ chỉ coi bảo lãnh ngân hàng như là công cụ để đảm bảo an toàncho mình khi có sự vi phạm hợp đồng của bên được bảo lãnh Có thể nóirằng, bảo lãnh ngân hàng được dùng như một công cụ bảo đảm hữu hiệuhơn rất nhiều so với các hình thức bảo đảm khác vì khi hợp đồng bảo lãnh

bị vi phạm thì ngân hàng sẽ đền bù tiền bảo lãnh mà không cần biết bênđược bảo lãnh vi phạm hợp đồng vì lý do gì

Trang 17

1.3.1.2 Bảo lãnh là công cụ tài trợ

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thì vốn làyếu tố hết sức cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp đó, vớinhững doanh nghiệp mới, chưa đủ uy tín và sự tin cậy với bạn hàng trên thịtrường thì nghiệp vụ bảo lãnh của ngân hàng là một công cụ rất hiệu quả, giúpdoanh nghiệp có thể tìm được nguồn vốn trên thị trường để đầu tư mở rộngsản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh tạo dần uytín của mình trên thị trường

Với những hợp đồng có giá trị lớn, thời gian thực hiện kéo dài thì nhucầu tài trợ cho dự án là rất cần thiết Do các nhà đầu tư hoặc người bán sẽ gặpphải nhiều khó khăn về tài chính và chịu nhiều rủi ro nếu như phải hoàn tấtcâc hạng mục hoặc toàn bộ hợp đồng thì mới được thanh toán Vì vậy, đểcông trình tiến hành thuận lợi thì chủ thầu hoặc người mua thường tạm ứngtrước cho từng công đoạn với điều kiện nhà thầu hoặc người mua có một bảolãnh của một ngân hàng uy tín đứng ra cam kết sẽ trả lại số tiền ứng trướcđó.Vì vậy, bảo lãnh ngân hàng được coi là một công cụ tài trợ

1.3.1.3 Bảo lãnh có chức năng thúc đẩy hoàn thành hợp dồng

Phần lớn các loại bảo lãnh ngân hàng đều có thời hạn hiệu lực, thườngthời hạn hiệu lực căn cứ vào hợp đồng kinh tế được ký giữa bên được bảolãnh và bên yêu cầu bảo lãnh Trong thời hạn có hiệu lực của bảo lãnh thì bênyêu cầu bảo lãnh có thể yêu cầu ngân hàng bảo lãnh thanh toán bất kỳ lúc nàonếu bên được bảo lãnh vi phạm hợp đồng, nhưng ngân hàng bên bảo lãnh vàbên được bảo lãnh không muốn trường hợp đó xảy ra Vì vậy, bảo lãnh như

có tác dụng đôn đốc bên được bảo lãnh thực hiện đúng các điều khoản tronghợp đồng đã ký kết Đối với bên yêu cầu bảo lãnh thì bảo lãnh đối với họ chỉ

là công cụ để bên được bảo lãnh có trách nhiệm trong việc thực hiện hợpđồng đã ký kết chứ họ không mong đợi được bồi hoàn do vi phạm hợp đồng

Trang 18

Do vậy, bảo lãnh mang ý nghĩa thúc đẩy việc thực hiện hợp đồng nhiều hơn làbồi hoàn.

Như vậy, ta thấy rằng chức năng thứ 3 này có liên hệ chặt chẽ với chứcnăng đầu tiên, do người bảo lãnh luôn có sự thúc ép thực hiện đúng hợp đồngnên càng làm tăng thêm tính bảo đảm cho người thụ hưởng hay thông quabảo lãnh người thụ hưởng có thể yên tâm hơn

1.3.1.4 Bảo lãnh được dùng như một công cụ để đánh giá

Thông qua bảo lãnh ngân hàng giúp bên nhận bảo lãnh có những đánhgiá nhất định về năng lực tài chính và hoạt động của bên đối tác qua việc ngânhàng có chấp thuận hay không chấp thuận bảo lãnh Do ngân hàng là mộtđịnh chế tài chính có chuyên môn cao, có khả năng phân tích, đánh giá đượctình trạng khách hàng của mình.Vì vậy, việc ngân hàng không sẵn sàng chấpthuận bảo lãnh cho đối tác chứng tỏ họ có điều gì không ổn về mặt tài chínhhoặc năng lực sản xuất kinh doanh Dựa vào điều đó giúp bên nhận bảo lãnh

sẽ tìm được đối tác thật sự tin cậy

1.3.2 Vai trò của bảo lãnh ngân hàng

1.3.2.1 Vai trò đối với nền kinh tế

Bảo lãnh ngân hàng đáp ứng nhu cầu về vốn của nền kinh tế để pháttriển và mở rộng sản xuất kinh doanh Bảo lãnh ngân hàng tạo điều kiện chocác chủ đầu tư thực hiện vay vốn trong nước và nước ngoài, đáp ứng nhu cầu

về vốn, phục vụ cho đầu tư phát triển Đối với các doanh nghiệp mới thànhlập thì nhu cầu về vốn là hết sức cần thiết Tuy nhiên, việc vay vốn các TCTDtrong và ngoài nước lại hết sức khó khăn, do họ chưa chắc chắn được rằngliệu doanh nghiệp có khả năng trả nợ được hay không Trong khi việc dùngtài sản cầm cố hay thế chấp để xin vay không phải lúc nào cũng dễ dàng đốivới các doanh nghiệp Trong trường hợp này, bảo lãnh ngân hàng đóng vai trò

là phương tiện bảo đảm cho món vay có hiệu quả hơn nhiều so với hình thức

Trang 19

cầm cố hay thế chấp Khi đó nhờ có các khoản vốn vay mà doanh nghiệp cóthể đầu tư đổi mới thiết bị, xây dựng các dự án đầu tư có tính khả thi và đemlại hiệu quả kinh tế cao, tạo ra công ăn việc làm, góp phần ổn định xã hội vàđem lại phồn vinh cho nền kinh tế đất nước.

Đối với những nước như nước ta, các doanh nghiệp phần lớn chưa có đủ

uy tín trên thị trường quốc tế Vì vậy, bảo lãnh ngân hàng là cơ sở để cácdoanh nghiệp nước ngoài tin tưởng, mạnh dạn mở rộng hợp tác và quan hệthương mại tạo điều kiện cho các sản phẩm trong nước có điều kiện cạnhtranh với sản phẩm nước ngoài, làm tăng vị thế của các doanh nghiệp và uytín của ngân hàng trong nước

1.3.2.2 Vai trò đối với ngân hàng

Một xu hướng của các NHTM hiện đại là phát triển các hoạt động ngoạibảng hay các hình thức dịch vụ Xu hướng này giúp cho ngân hàng khôngnhững giảm được sự phụ thuộc vào hoạt động cho vay mà còn đa dạng hoáhoạt động của ngân hàng Do vậy, việc phát triển các hoạt động ngoại bảng(trong đó có bảo lãnh) sẽ đem lại nhiều lợi ích cho ngân hàng

Chúng ta biết rằng hoạt động bảo lãnh ngân hàng không phải sử dụngngay đến vốn kinh doanh của mình, lại thu được phí bảo lãnh làm tăng lợinhuận cho ngân hàng Khi ngân hàng đứng ra bảo lãnh thì khách hàng phải kýquỹ một số tiền tại ngân hàng, ngân hàng có thể sử dụng một phần số tiền này

để kinh doanh Vì thế nên nghiệp vụ bảo lãnh vừa giúp ngân hàng thu phí vừatạo thêm nguồn vốn cho ngân hàng kinh doanh

Thông qua nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng có thể thu hút thêm kháchhàng mới, đồng thời tạo thêm sự tin tưởng cho những khách hàng truyềnthống và thông qua nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng biết được thông tin vềkhách hàng, khi khách hàng thiết lập quan hệ tín dụng thì ngân hàng khôngphải mất nhiều thời gian để tìm hiểu khách hàng

Trang 20

Bảo lãnh còn giúp ngân hàng mở rộng quan hệ với các doanh nghiệptrong nước và quan hệ với các doanh nghiệp và ngân hàng nước ngoài Từ đótăng làm uy tín của ngân hàng trên thị trường trong nước và nước ngoài.

Làm tăng sức cạnh tranh của ngân hàng, ngân hàng nào sử dụng tốt hơncông cụ này thì sẽ thu hút được nhiều khách hàng và đòi hỏi ngân hàng tựnâng cao uy tín của mình trên thị trường vì ngân hàng nào có uy tín cao và cónhiều tiện ích thì cơ hội có nhiều doanh nghiệp đến bảo lãnh

1.3.3.2 Vai trò đối với khách hàng

Vai trò lớn nhất của bảo lãnh đối với khách hàng là hạn chế rủi ro đảmbảo lợi ích cho họ khi có những thiệt hại do việc vi phạm hợp đồng giúp cáckhách hàng tin tưởng nhau, yên tâm trong thực hiện hợp đồng

Doanh nghiệp có thể huy động được những nguồn vốn lớn với chi phíthấp thông qua bảo lãnh của ngân hàng góp phần làm giảm tình trạng thiếuvốn cho doanh nghiệp Bảo lãnh tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể thamgia các hợp đồng đấu thầu, làm giảm ứ đọng vốn thông qua bảo lãnh tiền ứngtrước, bảo hành chất lượng công trình…

Tăng uy tín của doanh nghiệp đối với bạn hàng do uy tín của ngân hàngbảo lãnh từ đó doanh nghiệp có thể mở rộng quan hệ tín dụng, thương mạivới các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài

Bảo lãnh tác động đến hoạt động kinh doanh của khách hàng có hiệu quả

để đảm bảo uy tín với ngân hàng, thực hiện chế độ hạch toán chính xác, sửdụng vốn có hiệu quả

1.4 PHÂN LOẠI BẢO LÃNH NGÂN HÀNG

1.4.1 Theo phương thức phát hành bảo lãnh

1.4.1.1 Bảo lãnh trực tiếp

Bảo lãnh trực tiếp là loại bảo lãnh mà ngân hàng bảo lãnh cam kết sẽtrực tiếp thanh toán cho người thụ hưởng bảo lãnh nếu bên được bảo lãnh

Trang 21

vi phạm hợp đồng một hoặc một số các điều kiện ghi trong các cam kếtbảo lãnh

Thông thường có ba bên tham gia vào một nghiệp vụ bảo lãnh thanh toán

là ngân hàng bảo lãnh, bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh

Người được bảo lãnh sẽ yêu cầu ngân hàng phát hành một bảo lãnh vớicác điều kiện và thời hạn thường được quy định trước trong hợp đồng gốc.Đồng thời cam kết sẽ bồi hoàn lại cho ngân hàng phát hành nếu ngân hàngphải thực hiện nghiệp vụ thanh toán Sau khi xem xét, nếu chấp nhận thì ngânhàng sẽ ký phát hành một bảo lãnh

Sau khi bảo lãnh ngân hàng có hiệu lực, bên nhận bảo lãnh có quyền yêucầu ngân hàng phải thanh toán đền bù khi có sự vi phạm của bên được bảolãnh Sau đó, nếu đúng là có sự vi phạm điều khoản trong cam kết bảo lãnh,ngân hàng phát hành sẽ thanh toán và sẽ đòi bên được bảo lãnh phải hoàn trảlại số tiền mà mình đã thanh toán

Bảo lãnh ngân hàng sẽ hết hiệu lực khi thời hạn bảo lãnh kết thúc hoặckhi ngân hàng đã thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình Trong một sốtrường hợp, xuất hiện ngân hàng thứ hai là ngân hàng thông báo, phục vụ chongười nhận bảo lãnh

Sơ đồ bảo lãnh trực tiếp

(5)

(1)

(1) Bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh ký kết hợp đồng gốc trong

đó quy định bên A phải mở một bảo lãnh

NH phát hành

bảo lãnh

NH thông báo

Bên nhận bảo lãnh (B) Bên được bảo

lãnh (A)

Trang 22

(2) Bên được bảo lãnh đề nghị ngân hàng mình phục vụ mình phát hànhmột bảo lãnh ngân hàng.

(3) Nếu chấp thuận, ngân hàng phát hành sẽ phát hành một thư bảo lãnhcho bên thụ hưởng thông qua thông báo hoặc thông báo trực tiếp cho bênnhận bảo lãnh

(4) Ngân hàng thông báo bảo lãnh sẽ kiểm tra tính trung thực và thôngbáo lại cho bên nhận bảo lãnh

(5) Ngân hàng phát hành thực hiện thanh toán cho bên được bảo lãnh khi

có sự vi phạm hợp đồng của bên xin bảo lãnh

1.4.1.2 Bảo lãnh gián tiếp

Bảo lãnh gián tiếp là loại hình bảo lãnh trong đó ngân hàng bảo lãnhchính mở bảo lãnh theo chỉ thị của một ngân hàng trung gian phục vụ bênđược bảo lãnh dựa trên một bảo lãnh khác gọi là bảo lãnh đối ứng Trong bảolãnh gián tiếp, ngân hàng phát hành bảo lãnh đối ứng không có quan hệ bảolãnh đối với người nhận bảo lãnh Nghĩa vụ của ngân hàng đối với ngân hàngphát hành bảo lãnh khi ngân hàng phát hành thanh toán tiền bảo lãnh là nghĩa

vụ bảo lãnh đối ứng Khi có vi phạm xảy ra, ngân hàng phát hành bảo lãnh sẽthực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, sau đó sẽ đòi tiền từ ngân hàng phát hành bảolãnh đối ứng và đến lượt ngân hàng này sẽ đòi tiền từ bên được bảo lãnh

Sơ đồ bảo lãnh gián tiếp

Ngân hàng thông báo

lãnh

Trang 23

(1) Bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh ký kết hợp đồng gốc trong

đó quy định về bảo lãnh ngân hàng và các điều khoản cũng như thời hạn củabảo lãnh

(2) Bên được bảo lãnh đề nghị ngân hàng phục vụ mình yêu cầu mộtngân hàng khác tại quốc gia của bên nhận bảo lãnh phát hành bảo lãnh

(3) Ngân hàng thứ hai phát hành bảo lãnh cho bên nhận bảo lãnh

(4) Ngân hàng phát hành bảo lãnh thông báo cho ngân hàng thông báo.(5) Ngân hàng thông báo sẽ kiểm tra tính xác thực sau đó sẽ thông báocho bên nhận bảo lãnh

(6) Bên nhận bảo lãnh yêu cầu ngân hàng phát hành phải thực hiện thanhtoán khi bên được bảo lãnh vi phạm hợp đồng đã ký kết

(7) Ngân hàng phát hành thanh toán cho bên nhận bảo lãnh

(8) Ngân hàng phát hành bảo lãnh đối ứng yêu cầu bên được bảo lãnhphải hoàn trả số tiền bảo lãnh

(9) Ngân hàng phát hành bảo lãnh đối ứng yêu cầu bên được bảo lãnhphải hoàn trả số tiền bảo lãnh

1.4.1.3.Bảo lãnh được xác nhận

Trong trường hợp khác, bên nhận bảo lãnh có thể yêu cầu một ngân hàngtrong nước của mình xác nhận một bảo lãnh do ngân hàng nước ngoài pháthành và như vậy bên nhận bảo lãnh có thể xuất trình những chứng từ theo yêucầu đến ngân hàng xác nhận để thanh toán Tuy nhiên, trong thực tế, nếu bênnhận bảo lãnh không tin tưởng vào tiềm lực tài chính của ngân hàng pháthành thì họ có thể yêu cầu một nghiệp vụ tái bảo lãnh

1.4.1.4 Đồng bảo lãnh

Với các hợp đồng mà số tiền bảo lãnh có giá trị rất lớn vượt quá quỹ bảolãnh hiện có của ngân hàng hoặc vượt quá tỷ lệ cho phép đối với một kháchhàng Nhiều trường hợp một ngân hàng riêng lẻ thường không đủ điều kiện để

Trang 24

một mình đứng ra bảo lãnh Khi đó, phân tán và hạn chế rủi ro, ngân hàng sẽmời các ngân hàng khác cùng tham gia phát hành bảo lãnh này.

Khi ngân hàng chủ trì đã thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho bên nhận bảolãnh thì có quyền truy đòi các ngân hàng thành viên đồng bảo lãnh số tiền mà

họ cam kết trong bảo lãnh đối ứng

Đồng bảo lãnh thường được áp dụng đối với những dự án liên doanh cóvốn đầu tư lớn và những công trình đòi hỏi nhiều công ty cùng tham gia

1.4.2 Theo đối tượng của bảo lãnh

1.4.2.1 Bảo lãnh vay vốn

Bảo lãnh vay vốn là loại bảo lãnh ngân hàng do ngân hàng phát hành chobên nhận bảo lãnh về việc cam kết trả nợ thay cho khách hàng trong trườnghợp khách hàng không trả nợ hoặc không trả đầy đủ, đúng hạn

Số tiền bảo lãnh và thời hạn bảo lãnh được ghi trên thư bảo lãnh theo yêucầu của bên được bảo lãnh và được sự đồng ý của bên nhận bảo lãnh Thôngthường thời hạn bảo lãnh là khoảng 10 ngày từ ngày nợ đến hạn Loại bảo lãnhnày thường được áp dụng để doanh nghiệp đi vay các ngân hàng nước ngoài

1.4.2.2 Bảo lãnh dự thầu

Bảo lãnh dự thầu là loại t bảo lãnh ngân hàng do tổ chức tín dụng pháthành cho bên mời thầu để đảm bảo nghĩa vụ tham gia dự thầu của kháchhàng Trường hợp khách hàng bị phạt do vi phạm quy định dự thấu mà khôngnộp hoặc nộp không đủ tiền phạt cho bên mời thầu thì ngân hàng sẽ thực hiệnnghĩa vụ bảo lãnh cam kết

Mục đích của bảo lãnh dự thầu là đảm bảo cho chủ đầu tư rằng dự thầukhông rút lui, nếu họ rút lui thì sẽ mất một khoản phí ngân hàng, đảm bảongười dự thầu không có ý định không kí hợp đồng

Giá trị của một món bảo lãnh dự thầu thường là không quá 3% giá trịhợp đồng đấu thầu Thời hạn của bảo lãnh dự thầu thường được quy định phù

Trang 25

hợp với thời gian mở thầu và hết hạn vào ngày chủ đầu tư thông báo trúngthầu cho nhà thầu.

1.4.2.3 Bảo lãnh thanh toán

Bảo lãnh thanh toán là một bảo lãnh ngân hàng do ngân hàng phát hànhcho bên nhận bảo lãnh cam kết sẽ thanh toán thay cho khách hàng trongtrường hợp khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa

vụ của mình khi đến hạn

Loại bảo lãnh này nhằm đảm bảo chính xác đúng hạn trong thanh toán.Đối với bảo lãnh thanh toán, số tiền bảo lãnh thường bằng 100% giá trị hợpđồng còn thời hạn bảo lãnh thường do các bên thỏa thuận sao cho phù hợp vớihợp đồng gốc

Bảo lãnh thanh toán bao gồm 2 loại:

-Bảo lãnh thanh toán tiền xây lắp công trình

-Bảo lãnh thanh toán tiền mua hàng hóa, máy móc thiết bị

1.4.2.4 Bảo lãnh thực hiện hợp đồng

Bảo lãnh thực hiện hợp đồng là một hình thức bảo lãnh ngân hàng được

sử dụng khá phổ biến, do ngân hàng phát hành cho bên nhận bảo lãnh bảođảm việc thực hiện đầy đủ, đúng các nghĩa vụ của khách hàng với bên nhậnbảo lãnh theo hợp đồng đã ký

Giá trị bảo lãnh tùy theo giá trị hợp đồng và thường là không quá 10%giá trị hợp đồng

Hiện nay, ở Việt Nam, bảo lãnh dự thầu và bảo lãnh thực hiện hợp đồng

là hai loại bảo lãnh được sử dụng nhiều nhất, do cả hai đều có thể vận dụngcho bất cứ loại hình giao dịch nào

1.4.2.5.Bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm

Bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm là một bảo lãnh ngân hàng dongân hàng phát hành cho bên nhận bảo lãnh bảo đảm khách hàng thực hiện

Trang 26

đúng các thỏa thuận về chất lượng sản phẩm theo hợp đồng đã ký kết với bênnhận bảo lãnh.Trong trường hợp, khách hàng bị phạt tiền do không thực hiệnđúng các thỏa thuận trong hợp đồng về chất lượng sản phẩm với bên nhận bảolãnh thì ngân hàng sẽ thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đã cam kết.

Bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm được sử dụng với mục đích làbảo đảm cho chất lượng sản phẩm trong suốt thời hạn bảo hành của sản phẩm.Bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm bao gồm:

-Bảo lãnh bảo đảm chất lượng công trình

-Bảo lãnh bảo đảm chất lượng hàng hóa, máy móc thiết bị

Thời hạn và số tiền bảo lãnh do hai bên thống nhất và thỏa thuận sao chophù hợp với các điều khoản cụ thể về các chỉ tiêu gồm cả định lượng và địnhtính để xác định chất lượng công trình

1.4.2.6 Bảo lãnh hoàn thanh toán

Bảo lãnh này thường được sử dụng trong các hợp đồng cung ứng hànghóa, dịch vụ mà trong đó bên mua đã ứng trước tiền hàng cho bên cung ứng Bằng việc cam kết sẽ trả lại khoản tiền ứng trước này cho người mua,ngân hàng phát hành bảo lãnh sẽ tạo ra sự tin tưởng cho bên mua, đồng thờicũng giúp bên bán có được sự hỗ trợ về ngân quỹ trong thời gian ngắn

Giá trị của bảo lãnh thường tương đương với số tiền đã ứng trước củabên mua cộng với số tiền lãi và tiền phạt phát sinh nếu không thực hiện hợpđồng Để tránh sự lạm dụng của bên thụ hưởng, bảo lãnh chỉ phát sinh hiệulực khi bên mua đã thực sự thực hiện hành vi ứng trước tiền

1.4.2.7 Bảo lãnh hải quan

Hiện nay, có rất nhiều doanh nghiệp muốn đem hàng hóa của mình sangnước khác để tham gia hội chợ quốc tế hay trưng bày tại triển lãm trong mộtkhoảng thời gian nhất định rồi sẽ tái xuất hay trường hợp một công ty xâydựng cần nhập tạm thời một thiết bị xây dựng để thi công và sau đó sẽ lại xuất

Trang 27

khẩu về bản quốc Thông thường những hàng hóa hay thiết bị đó không phảinộp thuế nhập khẩu nếu người nhập trình với hải quan một hợp đồng tái xuất

có kèm theo bảo lãnh thuế

Bảo lãnh thuế được sử dụng với mục đích bảo đảm rằng nếu quá thờihạn đăng ký mà hàng hóa hay thiết bị đó không tái xuất hoặc bên nhập khẩukhông thực hiện nghĩa vụ nộp thuế nhập khẩu thì hải quan sẽ có quyền truyđòi khoản miễn thuế đối với ngân hàng Bảo lãnh này thường được sử dụng ởcác nước thuộc Cộng đồng châu âu (EU)

Tại Việt Nam, hải quan cho phép nhà nhập khẩu chậm nộp tiền thuếnhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt trong một thời gian Khi

đó nhà nhập khẩu phải có bảo lãnh nộp thuế do một ngân hàng phát hành thìmới được phép nhận hàng nhập khẩu khi chưa nộp thuế

1.4.3 Phân loại theo điều kiện thanh toán

1.4.3.1 Bảo lãnh theo yêu cầu( bảo lãnh vô điều kiện)

Bảo lãnh theo yêu cầu là loại bảo lãnh mà ngân hàng phát hành bảo lãnh

sẽ phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh ngay khi bên nhận bảo lãnh yêu cầu màkhông được phép trì hoãn Khi đó bên nhận bảo lãnh chỉ cần xuất trình mộtvăn bản yêu cầu thanh toán

Loại văn bản này tạo ra lợi thế rất lớn cho bên nhận bảo lãnh vì họ cóquyền yêu cầu thanh toán bất cứ lúc nào trong thời gian hiệu lực của bảo lãnhkhi mà họ nhận thấy bên được bảo lãnh đã vi phạm hợp dồng Tuy nhiên nógây bất lợi rất lớn cho bên được bảo lãnh và cả phía ngân hàng Do việc đòitiền mang tính chủ quan nên khả năng xảy ra gian lận hoặc lừa đảo từ bênnhận bảo lãnh là rất cao

1.4.3.2 Bảo lãnh có điều kiện

Bảo lãnh có điều kiện là loại bảo lãnh ngân hàng mà trong đó bên nhậnbảo lãnh muốn nhận tiền bồi thường phải xuất trình giấy tờ do bên thứ ba xác

Trang 28

nhận hay phán quyết của tòa án chứng minh rằng bên được bảo lãnh đã viphạm trong quá trình thực hiện hợp đồng.

Loại bảo lãnh này giúp bên được bảo lãnh và ngân hàng giảm bớt nguy

cơ bị lừa đảo vì việc bồi thường chỉ có thể tiến hành nếu có sự xác nhận củabên thứ ba do đó nó đảm bảo tính khách quan

Tuy nhiên, nó gây bất lợi tương đối lớn cho bên nhận bảo lãnh vì thờigian thanh toán bị kéo dài, do để được bồi thường bên nhận bảo lãnh phải đềnghị bên thứ ba xác nhận việc vi phạm của bên được bảo lãnh vì thế sẽ mấtkhá nhiều thời gian Do tính kém linh hoạt và mất nhiều thời gian nên bảolãnh có điều kiện được sử dụng rất ít trên thực tế

Ở Việt Nam, các NHTM mới chỉ cung cấp cho khách hàng các loại bảolãnh sau:

-Bảo lãnh vay vốn

-Bảo lãnh dự thầu, chủ yếu là dự thầu xây lắp và dự thầu cung ứng máymóc thiết bị

-Bảo lãnh thực hiện hợp đồng

-Bảo lãnh hoàn thanh toán, chủ yếu là tiền ứng trước thi công công trình

và tiền ứng khi mua hàng hóa

Trang 29

1.5.1 Phát hành thư bảo lãnh, xác nhận bảo lãnh

Đây là hình thức được sử dụng khá phổ biến trong thực tế Một thư bảolãnh phải thật rõ ràng, đầy đủ, chính xác, chặt chẽ và tránh những chi tiếtthừa, dùng từ chính xác, không đa nghĩa Do đó tất cả các thư bảo lãnh phảighi rõ:

- Tên của thư bảo lãnh: Thường thể hiện được mục đích của việc bảolãnh chẳng hạn như bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng

- Tên và địa chỉ người nhận

+ Số tiền tối đa và loại tiền tệ phải trả (bằng số và chữ)

+ Điều kiện đòi tiền là điều khoản quan trọng nhất của một thư bảo lãnh

vì nó thể hiện mối quan hệ giữa các bên trong hợp đồng cơ sở và sự thoảthuận về việc phân chia rủi ro giữa các chủ thể này Thường có 3 điều kiện trảtiền như sau:

- Bảo lãnh trả tiền theo yêu cầu đầu tiên: Thư bảo lãnh này chỉ quy địnhngười thụ hưởng xuất trình yêu cầu đòi tiền hoặc một văn bản tuyên bố đơnphương người được bảo lãnh đã vi phạm hợp đồng cơ sở

- Bảo lãnh trả tiền trên cơ sở xuất trình chứng từ nghĩa là người thụhưởng được phép đòi tiền nếu xuất trình đầy đủ các chứng từ quy định trongthư bảo lãnh

Trang 30

- Bảo lãnh trả tiền trên cơ sở xuất trình phán quyết của toà án về sự viphạm của người được bảo lãnh.

+ Thời hạn hiệu lực: thời gian mà bảo lãnh vẫn còn hiệu lực có thể quyđịnh đến một ngày cụ thể hoặc bao nhiêu ngày kể từ khi phát hành, hay hếthạn dựa trên một sự kiện xảy ra trong quan hệ hợp đồng cơ sở, có thể kết hợpcác hình thức trên

Việc quy định thời hạn hiệu lực có ý nghĩa quan trọng đối với các bêntham gia

- Với ngân hàng: trong thời gian còn hiệu lực của thư bảo lãnh, ngânhàng có thể sẽ phải thực hiện nghĩa vụ với người thụ hưởng, vì thế phải luônchuẩn bị ngân quỹ để đề phòng

- Với người thụ hưởng: trong thời gian này họ có quyền đòi tiền theo thưbảo lãnh để đảm bảo quyền lợi cho mình

- Với người được bảo lãnh: phải thực hiện nghĩa vụ về tài chính, trả phíbảo lãnh, rủi ro

+ Việc trả lại thư bảo lãnh: người thụ hưởng bảo lãnh phải trả lại thư bảolãnh khi hết hạn hoặc thư bảo lãnh sẽ tự động hết hạn cho dù nó có được trảlại hay không

+ Điều khoản khấu trừ (nếu có): Có ý nghĩa làm giảm số tiền tối đa củathư bảo lãnh theo tiến độ thực hiện hợp đồng cơ sở, do đó làm giảm dần tráchnhiệm của ngân hàng và người được bảo lãnh theo thư bảo lãnh

+ Luật áp dụng và cơ quan tài phán: Nếu là bảo lãnh trong nước thì tấtnhiên là áp dụng luật và cơ quan toà án trong nước Trong bảo lãnh quốc tếthì cần xác định rõ thư bảo lãnh này áp dụng theo luật pháp nước nào, cơ quantoà án nào được chọn khi kiện tụng

+ Chữ ký của người có thẩm quyền

Trang 31

1.5.2 Ký xác nhận bảo lãnh trên các hối phiếu, lệnh phiếu

Hình thức này được sử dụng chủ yếu đối với loại hình bảo lãnh vay vốn

và bảo lãnh thanh toán Sau khi kiểm tra và đối chiếu giữa bộ hối phiếu dobên được bảo lãnh phát hành hoặc lệnh phiếu do bên nhận bảo lãnh phát hànhvới các nội dung tương xứng trong hợp đồng gốc, ngân hàng sẽ ký nhận bảolãnh cam kết sẽ thực hiện nghĩa vụ thanh toán thay cho bên được bảo lãnh nếu

họ không thực hiện hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình

1.5.3.Hình thức khác theo quy định của pháp luật

-Thư tín dụng trả chậm: Loại này thường được sử dụng trong bảo lãnhthanh toán và bảo lãnh vay vốn

-Giấy chứng nhận kỳ hạn nợ với nước ngoài, thường được sử dụng trongbảo lãnh vay vốn nước ngoài

1.5.4.Phân biệt bảo lãnh ngân hàng với L/C và bảo hiểm

Bảo lãnh và một số công cụ khác như L/C, bảo hiểm đều cùng chức năngđảm bảo thanh toán cho bên thụ hưởng khi có rủi ro xảy ra Tuy nhiên, bảolãnh và L/C, bảo hiểm vẫn có nhiều sự khác biệt rất lớn

1.5.1.1.Sự khác nhau giữa bảo lãnh ngân hàng và L/C

Nghiệp vụ bảo lãnh mang tính dự phòng còn nghiệp vụ thư tín dụng cótính thực hiện, do bảo lãnh có chức năng đảm bảo quyền lợi cho bên thụ hưởngkhi xảy ra rủi ro (không thanh toán, không giao hàng theo hợp đồng …), cònnghiệp vụ thư tín dụng có chức năng bảo đảm thanh toán cho bên thụ hưởngkhi bên thụ hưởng thực hiện việc giao hàng theo đúng điều kiện hợp đồng.Bảo lãnh ngân hàng không chịu sự điều chỉnh thống nhất bởi một bộLuật mà do nhiều bộ Luật khác nhau điều chỉnh (Luật quốc gia liên quan đếnbảo lãnh, các quy tắc thống nhất về bảo lãnh hợp đồng – URCG ICC…).Trong khi đó nghiệp vụ thư tín dụng được điều chỉnh theo các quy tắc thốngnhất thực hành về tín dụng chứng từ - UCP ICC)

Trang 32

Kỹ thuật thực hiện cũng khác nhau: Bảo lãnh không tự động tất toán vàkết thúc khi hết hạn hiệu lực, chi phí thì thông thường bên yêu cầu bảo lãnhchịu, còn thư tín dụng sẽ tự động hết hạn sau thời hạn hiệu lực và chi phíđược phân bổ đều cho các bên liên quan.

1.5.1.2.Sự khác nhau giữa bảo lãnh ngân hàng và bảo hiểm

Bảo lãnh ngân hàng do ngân hàng thực hiện còn bảo hiểm thường docông ty bảo hiểm thực hiện

Bảo lãnh có tác dụng ngăn ngừa rủi ro phát sinh nhiều hơn là khắc phụchậu quả Bảo hiểm thì ngược lại, tức là có tác dụng khắc phục hậu quả rủi ronhiều hơn là tác dụng ngăn ngừa rủi ro

Bảo lãnh lấy tiền của bên vi phạm trả cho bên thụ hưởng còn Bảo hiểmphân chia tổn thất của người nhận tiền bảo hiểm cho những người tham giabảo hiểm

1.6.CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH VÀ CHẤT LƯỢNG BẢO LÃNH NGÂN HÀNG

1.6.1 Chất lượng nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng

Trong bất kỳ một nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng nào cũng đều có sựtham gia của ít nhất ba chủ thể, đó là bên yêu cầu bảo lãnh, ngân hàng bảolãnh, bên nhận bảo lãnh Giữa các chủ thể nói trên có mối quan hệ mật thiếtvới nhau Một bảo lãnh được coi là có chất lượng khi đảm bảo được các mốiquan hệ trên là có chất lượng, tức là ngân hàng đáp ứng được yêu cầu của bênnhận bảo lãnh, làm thỏa mãn được lợi ích của bên được bảo lãnh Chất lượngbảo lãnh đối với các chủ thể được thể hiện:

+ Đối với khách hàng: khách hàng ở đây bao gồm cả bên được bảo lãnh

và bên nhận bảo lãnh

+ Đối với bên được bảo lãnh, một nghiệp vụ bảo lãnh có chất lượng đãtạo điều kiện cho doanh nghiệp hoàn thành tốt hoạt động cần bảo lãnh của

Trang 33

mình như thu hút được vốn, công nghệ, có được hợp đồng , tạo thêm thu nhập

và tạo thêm công ăn việc làm…

+ Đối với bên nhận bảo lãnh: một nghiệp vụ bảo lãnh có chất lượng sẽtạo niềm tin và sự an toàn cho người thụ hưởng khi thực hiện hợp đồng gốc

và sẽ có cơ hội để đạt hiệu quả tốt nhất

+ Đối với ngân hàng: một nghiệp vụ bảo lãnh tốt tức là mang lại doanhthu cao cho ngân hàng, tức là ngân hàng thu được đầy đủ lệ phí và ngân hàngkhông phải tiến hành trả thay cho khách hàng Nhờ đó mà hỗ trợ cho kháchhàng phát triển, đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh Qua đó ngân hàngtăng cường mối quan hệ với khách hàng, đẩy mạnh uy tín của ngân hàng trêntrường quốc tế, thu hút thêm khách hàng

+ Đối với nền kinh tế: Giúp các doanh nghiệp giải quyết được vấn đề vềvốn, công nghệ, phát triển và mở rộng sản xuất, góp phần vào sự tăng trưởng

và phát triển kinh tế đất nước

1.6.2 Chỉ tiêu phản ánh chất lượng hoạt động bảo lãnh ngân hàng

Trang 34

- Ngân hàng phải luôn luôn đảm bảo rằng khi phát sinh nghĩa vụ bảolãnh thì ngân hàng sẽ thu lại được tiền từ người được bảo lãnh một cáchnhanh chóng nhất.

1.6.2.2 Nhóm chỉ tiêu định lượng

- Tổng phí thu được từ dịch vụ bảo lãnh trên tổng doanh thu dịch vụngân hàng Nếu hệ số này lớn chứng tỏ hoạt động dịch vụ bảo lãnh tại ngânhàng phát triển, số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ bảo lãnh là đáng kể

- Số lượng món bảo lãnh ngân hàng phải thực hiện nghĩa vụ trên tổng sốlượng món bảo lãnh đã thực hiện Nếu số lượng món bảo lãnh phải thực hiệnthanh toán thay cho khách hàng lớn chứng tỏ hoạt động bảo lãnh tại ngânhàng chất lượng không cao và ngược lại

- Tổng số tiền ngân hàng phải trả thay trên tổng doanh số bảo lãnh Nếuchỉ tiêu này lớn chứng tỏ hoạt động bảo lãnh tại ngân hàng đó không được tốt.Ngân hàng cần xem xét lại quá trình thẩm định, nghiên cứu khách hàng trướckhi ra quyết định bảo lãnh

- Số món bảo lãnh mà ngân hàng phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh nhưngbên được bảo lãnh không hoàn trả được Đây được coi như là khoản nợ khóđòi Nếu ngân hàng có quá nhiều món bảo lãnh không thu hồi được tiền trả thì

sẽ gây hậu quả xấu cho ngân hàng, nếu quá lớn dẫn đến sụp đổ ngân hàng

1.7.NHỮNG RỦI RO TRONG MỘT NGHIỆP VỤ BẢO LÃNH

1.7.1 Rủi ro đối với bên nhận bảo lãnh

Bên nhận bảo lãnh sẽ được ngân hàng đảm bảo chi trả đầy đủ các thiệthại phát sinh do bên được bảo lãnh vi phạm hợp đồng Tuy nhiên, trong thực

tế không phải lúc nào cũng được như vậy, bên nhận bảo lãnh rất có thể gặpphải rủi ro do khả năng nhận được tiền bồi thường phụ thuộc rất lớn vào khảnăng tài chính của ngân hàng

Trang 35

1.7.2 Rủi ro đối với ngân hàng bảo lãnh

- Rủi ro do bên được bảo lãnh không trả số tiền đã cam kết trong hợp đồng bảo lãnh: Hoạt động bảo lãnh được hạch toán ngoại bảng, song nếu

khách hàng vi phạm hợp đồng đã ký kết thì ngân hàng phải trả thay kháchhàng và ngân hàng sẽ gặp rủi ro lớn nếu khách hàng không hoàn trả được đầy

đủ số tiền ngân hàng đã thanh toán hộ Nếu có quá nhiều trường hợp như vậythì, ngân hàng sẽ bị mất vốn, khoản mục nợ quá hạn tăng nhanh

- Rủi ro thanh khoản : Thông thường ngân hàng phải trích vốn để thành

lập quỹ bảo lãnh nhằm đề phòng có khoản thanh toán thay thế bên được bảolãnh nhưng nếu số tiền phải trả quá lớn, vượt quá giá trị của quỹ, ngân hàng

sẽ lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, lúc này phải chuyển một phầnnguồn vốn dùng để cho vay sang chi trả cho quỹ bảo lãnh Các hoạt động nàykhi thực hiện một cách bị động thường làm cho ngân hàng lâm vào tình trạngkhó khăn

- Rủi ro lãi suất: Trong nghiệp vụ bảo lãnh, đặc biệt là bảo lãnh vay vốn,

ngân hàng phải cam kết hoàn trả cả gốc và lãi cho bên nhận bảo lãnh khi bênđược bảo lãnh không thực hiện đúng hợp đồng

Trang 36

PHẦN II : THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐT&PT THĂNG LONG

2.1 TỔNG QUAN VỀ CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐT&PT THĂNG LONG 2.1.1 Sự hình thành và phát triển

Chi nhánh NH ĐT&PT Thăng Long là một trong số 79 Chi nhánh trựcthuộc của hệ thống Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam Tiền thân củaChi nhánh đó là một phòng chuyên quản trực thuộc Ngân hàng Kiến thiếtTrung ương theo Quyết định số 103/TC-QĐ/TCCB ngày 03/4/1974, với nhiệm

vụ chính là cấp phát, kiểm tra và thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản choviệc xây dựng công trình Cầu Thăng Long Phòng này đặt trụ sở tại xã ĐôngNgạc - Từ Liêm - Hà Nội và con dấu riêng lấy tên dấu là: “Ngân hàng kiếnthiết Trung ương - Phòng chuyên quản công trình cầu Thăng Long”

Từ khi có Quyết định số75/NH-QĐ ngày 17/7/1981 của Tổng Giám ĐốcNHNN Việt Nam, phòng được mang tên “Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư Xâydựng công trình trọng điểm Cầu Thăng Long”, được giao nhiệm vụ quản lýcác nguồn vốn dành cho đầu tư xây dựng cơ bản cầu Thăng Long, thực hiệnhạch toán và tiến hành cho vay, cấp phát, thanh toán quản lý tiền mặt, kiểmsoát thu chi quỹ tiền lương trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản đối với cácdoanh nghiệp xây lắp có mở tài khoản tại Chi nhánh, thực hiện theo đúng chế

độ chính sách, thể lệ và kế hoạch của Nhà nước

Ngày 27/6/1988 theo quyết định số 52/NH-QĐ của Tổng Giám ĐốcNHNN Việt Nam về việc đổi tên “Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư Xây dưngcông trình trọng điểm cầu Thăng Long” thành “Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư

và Xây dựng cầu Thăng Long” Để phù hợp với tổ chức bộ máy ngân hàngĐT&PT Việt Nam, năm 1991 theo Quyết định số 38/NH-QĐ ngày 2/4/1991của Thống đốc NHNN Việt Nam, Chi nhánh được đổi tên thành “Chi nhánh

Trang 37

ngân hàng ĐT&PT Thăng Long” trực thuộc ngân hàng ĐT&PT Việt Nam vàchuyển trụ sở làm việc ra địa điểm tại đường cao tốc Thăng Long - Nội Bàithuộc xã Cổ Nhuế - Từ Liêm - Hà Nội, nay đổi tên là đường Phạm Văn Đồng

- Từ Liêm - Hà Nội

Đến năm 1994, Thống đốc NHNN Việt Nam ra Quyết định số 38NH/QĐ-NH9 ngày 10/11/1994 điều chỉnh chức năng và nhiệm vụ của ngânhàng ĐT&PT Thăng Long - Trực thuộc ngân hàng ĐT&PT Việt Nam chophép Chi nhánh được chuyển sang hoạt động kinh doanh như một NHTM

2.1.2 Đặc điểm thị trường hoạt động của Chi nhánh

Nằm trong khối các NHTM Quốc doanh nhưng hệ thống ngân hàngĐT&PT Việt Nam nói chung và Chi nhánh ngân hàng ĐT&PT Thăng Longnói riêng chuyển sang hoạt động theo cơ chế kinh doanh muộn hơn cácNHTM Quốc doanh khác, do đó kinh nghiệm kinh doanh còn rất nhiều hạnchế, đồng thời về đặc điểm riêng của Chi nhánh là ở vị trí xa trung tâm và xakhu dân cư, do đó có nhiều điểm bất lợi trong hoạt động kinh doanh

Với xuất phát điểm là một ngân hàng được giao quản lý và cấp phát vốnxây dựng công trình cầu Thăng Long, Chi nhánh đã có được mối quan hệ vớicác đơn vị thi công xây lắp trực thuộc Tổng công ty xây dựng cầu ThăngLong Sau khi hoàn thành công trình cầu Thăng Long, các đơn vị này đã gặthái được nhiều kinh nghiệm về xây dựng cầu và trở thành đơn vị hàng đầucủa ngành cầu đường Việt Nam Với kinh nghiệm và thiết bị sẵn có, nhữngcông ty này đã vươn ra chiếm lĩnh thị trường trên phạm vi cả nước Họ chính

là những khách hàng truyền thống của Chi nhánh

Hiện nay, Chi nhánh không chỉ tập chung vào các khách hàng truyềnthống mà còn tiếp cận nhiều đối tượng khác như khu vực kinh tế ngoài quốcdoanh nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ Trong suốt quá trình hoạt độngcủa mình, Chi nhánh cũng đã rút ra được những kinh nghiệm quý báu trong

Trang 38

hoạt động thẩm định các dự án đầu tư, nhất là đối với các hoạt động đầu tưtrung và dài hạn.

Cho đến nay, đã trải qua hơn 14 năm hoạt động với tư cách là mộtNHTM, Chi nhánh đã đạt được những thành tựu như: Hai năm đầu được xếploai “giỏi”, những năm tiếp theo Chi nhánh luôn được xếp loại “xuất sắc”trong toàn hệ thống ngân hàng ĐT&PT Việt Nam Đồng thời Chi nhánh cònđược Nhà nước trao tặng huân chương lao động hạng ba Có thể nói rằngtrong hoạt động kinh doanh, Chi nhánh luôn đặt sự tồn tại và phát triển củacác doanh nghiệp làm mục đích cho sự phát triển của ngân hàng

2.1.3 Nguồn nhân lực và cơ cấu tổ chức của Chi nhánh

2.1.3.1 Nguồn nhân lực:

Nhận thức rõ vai trò của công tác cán bộ trong lĩnh vực hoạt động, Chinhánh đã chủ động trong việc tuyển dụng, bố trí, đào tạo cán bộ và xây dựngđược một cơ cấu tổ chức hợp lí Với những cán bộ có trình độ, có phẩm chấtđạo đức tốt và không ngừng lớn mạnh cả về số lượng lẫn chất lượng, đã đápứng mọi nhu cầu về vốn và dịch vụ ngân hàng cho khách hàng đến với ngânhàng, luôn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ

2.1.3.2.Cơ cấu tổ chức:

Năm 1991, Chi nhánh gồm 22 người đựợc chia làm 3 phòng, đó là :

- Phòng Tín dụng cấp phát và Kinh doanh, phòng Kế toán thường vụ,phòng tổ chức – hành chính – ngân quỹ

Tính đến thời điểm năm 31/12/ 2007 Chi nhánh có 6 phòng; Bao gồm

140 cán bộ công nhân viên, trong đó có hơn 79 nữ và 61 nam, số cán bộ chủchốt là 24 người trong đó Ban giám đốc gồm 3 người (1 Giám đốc và 2 Phógiám đốc)

Trang 39

Cơ cấu tổ chức của chi nhánh Ngân hàng ĐT&PT Thăng Long

PHÒNG DV - KH PHÒNG TIỀN TỆ - KQ PHÒNG TÍN DỤNG 1 PHÒNG TÍN DỤNG 2 PHÒNG KH – NGUỒN VỐN PHÒNG T.ĐỊNH QLNV PHÒNG GIAO DỊCH 1 PHÒNG GIAO DỊCH 2 PHÒNG GIAO DỊCH 3 PHÒNG GIAO DỊCH 4

PHÒNG KT NỘI BỘ PHÒNG TC - HC PHÒNG TC - KT

Trang 40

2.2 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐT&PT THĂNG LONG TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

Thời kỳ này Việt Nam đang phải đương đầu với hàng loạt những khókhăn thách thức về các điều kiện khách quan như thiên tai lũ lụt, xăng dầu lêngiá, dịch cúm gia cầm tái phát ở nhiều địa phương, chỉ số giá cả tiêu dùng tăngcao 12,6% Bên cạnh đó hoạt động ngân hàng diễn ra trong bối cảnh: sức épcạnh tranh giữa các NHTM lớn, nhu cầu vốn cho nền kinh tế ngày càng cao,…Tình hình đó ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh doanh của ngành ngânhàng nói chung và Chi nhánh ngân hàng ĐT&PT Thăng Long nói riêng

Trong năm vừa qua 2005-2007, hoạt động của Chi nhánh Thăng Long cóbước phát triển mạnh Tổng tài sản liên tục tăng cao trong các năm do hoạtđộng tín dụng và hoạt động huy động vốn tăng trưởng cao, cơ cấu tài sản nợ-tài sản có dần dần được cải thiện, tăng khả năng tự chủ trong hoạt động kinhdoanh của Chi nhánh Kết quả hoạt động kinh doanh của Chi nhánh ngânhàng ĐT&PT Thăng Long được thể hiện như sau:

Ngày đăng: 04/11/2015, 10:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Quyết định 283/2000/QĐ- NHNN ngày 25/8/2000 về “Quy chế bảo lãnh ngân hàng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế bảo lãnh ngân hàng
9. Tài liệu nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng ĐT&PT Việt Nam 10.Các trang web: http://www. bidv.com.vnhttp://www.dddn.com.vn Link
1. PGS.TS. Nguyễn Thị Mùi, Nghiệp vụ NHTM, NXB Thống Kê, Hà Nội, 2004 Khác
2. PGS.TS. Phan Thị Thu Hà, Giáo trình NHTM, NXB Thống Kê, Hà Nội, 2006 Khác
5. Quyết định 386/2001- QĐ- NHNN và 112/2003/QĐ – NHNN về việc sửa đổi bổ sung một số điểu của quy chế bảo lãnh Khác
6. Các tạp chí Ngân hàng các số năm 2004 – 2007 Khác
7. Các tạp chí Tài chính tiền tệ, Thời báo ngân hàng các số năm 2004- 2007 Khác
8. Báo cáo tổng kết hoạt động của chi nhánh ngân hàng ĐT&PT Thăng Long giai đoạn 2005- 2007 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ bảo lãnh trực tiếp - Hoàn thiện và phát triển nghiệp vụ bảo lãnh tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Thăng Long
Sơ đồ b ảo lãnh trực tiếp (Trang 21)
Sơ đồ bảo lãnh gián tiếp - Hoàn thiện và phát triển nghiệp vụ bảo lãnh tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Thăng Long
Sơ đồ b ảo lãnh gián tiếp (Trang 22)
Bảng 2.2: Về cơ cấu nguồn vốn: - Hoàn thiện và phát triển nghiệp vụ bảo lãnh tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Thăng Long
Bảng 2.2 Về cơ cấu nguồn vốn: (Trang 43)
Bảng 2.5: Tổng doanh số bảo lãnh qua các năm - Hoàn thiện và phát triển nghiệp vụ bảo lãnh tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Thăng Long
Bảng 2.5 Tổng doanh số bảo lãnh qua các năm (Trang 63)
Bảng 2.9: Kết quả thu phí - Hoàn thiện và phát triển nghiệp vụ bảo lãnh tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Thăng Long
Bảng 2.9 Kết quả thu phí (Trang 67)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w