Xuất phát từ tình cảm yêu mến tác giả và yêu thíchLục Vân Tiên truyện, cùng với những giá trị bất hủ mà tác phẩm để lại cho kho tàng văn học Việt Nam nói chungvăn học Nam Bộ nói riêng, c
Trang 1TR TRƯỜ ƯỜ ƯỜNG NG NG ĐẠ ĐẠ ĐẠIIII H H HỌ Ọ ỌC C C C C CẦ Ầ ẦN N N TH TH THƠ Ơ KHOA
KHOA KHOA KHOA KHOA H H HỌ Ọ ỌC C C X X XÃ Ã Ã H H HỘ Ộ ỘIIII V V VÀ À À NH NH NHÂ Â ÂN N N V V VĂ Ă ĂN N
B BỘ Ộ Ộ M M MÔ Ô ÔN N N NG NG NGỮ Ữ Ữ V V VĂ Ă ĂN N
NGUY NGUYỄ Ễ ỄN N N TH TH THỊỊỊỊ H H HỒ Ồ ỒNG NG NG NGUY NGUY NGUYÊ Ê ÊN N
MSSV: MSSV: 6106413 6106413
CH CHẤ Ấ ẤT T T NAM NAM NAM B B BỘ Ộ Ộ TRONG TRONG L LỤ Ụ ỤC C C V V VÂ Â ÂN N N TI TI TIÊ Ê ÊN N N TRUY TRUY TRUYỆ Ệ ỆN N N C C CỦ Ủ ỦA A
NGUY NGUYỄ Ễ ỄN N N ĐÌ ĐÌ ĐÌNH NH NH CHI CHI CHIỂ Ể ỂU U
Lu Luậ ậ ận n n vvvvă ă ăn n n ttttố ố ốtttt nghi nghi nghiệệệệp p p đạ đạ đạiiii h h họ ọ ọcccc
Trang 2ĐỀ ĐỀ C C CƯƠ ƯƠ ƯƠNG NG NG T T TỔ Ổ ỔNG NG NG QU QU QUÁ Á ÁT TPH
1.1 Đôi nét về văn hóa Nam Bộ
1.1.1 Một số yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa Nam Bộ
1.1.1.1 Thổ nhưỡng
1.1.1.2 Con người
1.1.1.3 Lịch sử vùng đất Nam Bộ
1.1.2 Sơ lược về Phong tục tâp quán
1.2 Giới thiệu về tác giả và tác phẩmLục Vân Tiên truyện
1.2.1 Giới thiệu về Nguyễn Đình Chiểu
1.2.2.3 Vai trò của tác phẩm trong nền văn học
1.3 Chữ Nôm và chữ Nôm Nam Bộ
1.3.3 Khái quát truyện thơ Nôm
CH CHƯƠ ƯƠ ƯƠNG NG NG 2: 2: 2: CON CON CON NG NG NGƯỜ ƯỜ ƯỜIIII NAM NAM NAM B B BỘ Ộ Ộ TRONG TRONGL LỤ Ụ ỤC C C V V VÂ Â ÂN N N TI TI TIÊ Ê ÊN N N TRUY TRUY TRUYỆ Ệ ỆN N
2.1 Lập trường tư tưởng của người nông dân Nam Bộ
Trang 32.1.1 Ca ngợi người anh hùng
2.1.2 Ca ngợi phụ nữ trinh liệt
2.1.3 Tin lẽ báo ứng của trời, Phật
2.2 Đặc điểm các nhân vật trongLục Vân Tiên truyện
2.2.1 Có học thức
2.2.2 Mang vẻ đẹp chân chất của con người Nam Bộ
2.3 Những mối quan hệ giữa các nhân vật
2.4.3 Tinh thần yêu nước
2.5 Ý nghĩa của việc tìm hiểu chất Nam Bộ
CH CHƯƠ ƯƠ ƯƠNG NG NG 3: 3: 3: D D DẤ Ấ ẤU U U Ấ Ấ ẤN N N NAM NAM NAM B B BỘ Ộ Ộ TH TH THÔ Ô ÔNG NG NG QUA QUA QUA PH PH PHƯƠ ƯƠ ƯƠNG NG NG DI DI DIỆ Ệ ỆN N N NGH NGH NGHỆ Ệ
THU THUẬ Ậ ẬT T T TRONG TRONG L LỤ Ụ ỤC C C V V VÂ Â ÂN N N TI TI TIÊ Ê ÊN N N TRUY TRUY TRUYỆ Ệ ỆN N
Trang 5A PH PH PHẦ Ầ ẦN N N M M MỞ Ở Ở ĐẦ ĐẦ ĐẦU U 1.
1 L L Líííí do do do ch ch chọ ọ ọn n n đề đề đề ttttà à àiiii
Khi nhắc đến Nguyễn Đình Chiểu nghĩa là đang đề cập tới một trong những nhàthơ lớn của nước ta, những sáng tác của ông đã góp phần tạo cho nền văn học nướcnhà một khối lượng thơ văn vô cùng đồ sộ Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từngnhận định: “Trên trời có những vì sao có ánh sáng khác thường, nhưng con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy, và càng nhìn thì càng sáng Văn thơ của Nguyễn Đình Chiểu cũng vậy.” [5; tr.66] Bất chấp mọi thiếu thốn gian khổ và bệnh tật,
ông đã dồn hết sức lực của mình vào sự nghiệp viết văn và dạy học Nguyễn ĐìnhChiểu là một tấm gương sáng ngời về khí tiết của người anh hùng yêu nước, thươngdân, sống vì nghĩa lớn Theo Hoài Thanh: “Cái nhìn của Nguyễn Đình Chiểu là cái nhìn dứt khoát chính tà, tấm lòng của Nguyễn Đình Chiểu là tấm lòng sôi sục căm thù
và dạt dào tin tưởng” [34; tr.118-119] Còn theo Trần Thanh Mại: “Nguyễn Đình Chiểu là nhà trí thức kiên cường, một chiến sĩ xuất sắc của chủ nghĩa nhân nghĩa, nhà thơ yêu nước lớn” [34; tr.124].
Lục Vân Tiên truyện là tác phẩm đầu tiên của tác giả Nguyễn Đình Chiểu và
phần nào mang tính chất tự truyện của ông, từ khi xuất hiện tác phẩm được nhiềungười đón nhận và yêu thích nhất là nhân dân Nam Bộ Bất kể người già hay trẻ nhỏ ởvùng đất Nam Bộ đều yêuVân Tiên, có thể ngâm nga được vài câu Vân Tiên, có người
còn thuộc cả truyện Dường như từng câu, từng chữ của của thiên truyện đã ăn sâu vàomáu thịt của người dân Nam Bộ.Lục Vân Tiên truyện còn rất gần gũi với đời sống tinh
thần của nhân dân mang triết lý sống sâu sắc, và được xem như một luân lý cốt để dạycon người đạo làm người, dù ở thời đại nào tác phẩm cũng trở nên bất hữu với nhữnggiá trị tinh thần của nó
Ca Văn Thỉnh từng nhận định: “Truyền thống văn học Nam Bộ ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng sáng tạo của Nguyễn Đình Chiểu” [34; Tr.188] Có lẽ vì thế mà
những sáng tác của ông mang đậm chất Nam Bộ mà tiêu biểu đó là Lục Vân Tiên truyện, chất Nam Bộ ấy toát lên từ tính cách, quan niệm, đạo lý,…của con người Nam
Bộ Ngày nay, cùng với sự sáng tạo của độc giả tác phẩm không còn là một truyệnNôm thuần túy mà nó còn có rất nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau, điều này chứng
tỏ rằng Lục Vân Tiên truyện là một tác phẩm có giá trị lâu dài và được nhiều người
quan tâm, yêu thích Có thể xem tác phẩm là một đột biến quan trọng, bởi vì “Cùng
Trang 6với Lục vân Tiên, truyện thơ Nôm chính thức trở thành một thể loại ổn định ở Nam Bộ;
và với Nguyễn Đình Chiểu giai đoạn phát triển rực rỡ nhất ở truyện thơ Việt Nam chấm dứt Những trái chín cuối cùng của vụ mùa truyện thơ Nôm đã được thu hoạch ở Miền Nam” [34; tr.487] Ngoài ra, sự xuất hiện của Lục Vân Tiên truyện đã kéo theo
một vệt các tác phẩm dân gian ở Nam Bộ ra đời
Xuất phát từ tình cảm yêu mến tác giả và yêu thíchLục Vân Tiên truyện, cùng
với những giá trị bất hủ mà tác phẩm để lại cho kho tàng văn học Việt Nam nói chungvăn học Nam Bộ nói riêng, chúng tôi chọn đề tài Chất Nam Bộ trong Lục Vân Tiên truyện của Nguyễn Đình Chiểu nhằm mục đích tìm hiểu kĩ hơn về tác giả, về những
đặc trưng mà vùng đất Nam Bộ đã ảnh hưởng đến sáng tác của ông Xác định Chất Nam Bộ trong tác phẩm cũng đồng nghĩa với việc xác định vai trò của Lục Vân Tiên truyện trong nền văn học Và chính những ảnh hưởng của vùng đất Nam Bộ góp phần
tạo nên sự thành công của tác phẩm Bên cạnh đó, còn giải thích được lý do tại sao tácphẩm trở nên gần gũi với nhân dân Nam Bộ, dần dần trở thành đứa con tinh thầnchung của nhân dân Nam Bộ
2.
2 L L Lịịịịch ch ch ssssử ử ử v v vấ ấ ấn n n đề đề
Lục Vân Tiên truyện là kiệt tác trong nền văn học của dân tộc, truyện được
sáng tác vào khoảng những năm 1850 trở đi khi Nguyễn Đình Chiểu bị mù Do đó, tácgiả không thể tự mình ghi chép và sửa chữa lại được, tập truyện chỉ được hình thànhlại trong trí nhớ của tác giả và tác giả đọc lại cho học trò thân cận hoặc người thân củamình giúp việc ghi chép lại Từ đó,Lục Vân Tiên truyện được truyền tụng và phổ biến
không theo một bản gốc nào do chính tác giả tự chép lại Ngay cả lúc tác giả còn sốngtruyện cũng có nhiều dị bản khác nhau Trong các quyển:Nguyễn Đình Chiểu toàn tập
(tập một), ), ), nhà xuất bản văn học; Truyện Lục Vân Tiên, Hà Huy Giáp giới thiệu
Nguyễn Thạch Giang khảo đính và chú thích, Nhà xuất bản Đại học và trung họcchuyên nghiệp, sau phần giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của NguyễnĐình Chiểu cùng với tác phẩm, các nhà nghiên cứu đã thống kê lại một số bản Vân Tiên có giá trị nhằm giúp người đọc có cái nhìn sâu sắc hơn Đầu tiên, là những bản Vân Tiên quan trọng được xuất bản khi tác giả còn sống gồm có: Bản ôbarê (1864),
bản Duy Minh Thị (1865), bản Jannô (1867), bản Anben đề Misen (1883) Tiếp đó, lànhững bản Vân Tiên quan trọng xuất bản từ sau khi Nguyễn Đình Chiểu mất (1888).
Sau khi ông mất, các bảnVân Tiên chữ Nôm và chữ quốc ngữ lần lượt ra đời, nếu lúc
Trang 7ông còn sống tập truyện chỉ được lưu hành trong“Nam kỳ - lục - tỉnh” thì sau khi ông
mất tập truyện được xuất bản trong cả nước, từ Nam chí Bắc Ở trong Nam, gồm cócác bản của Trương Vĩnh Ký (1889), bản Phạm Văn Thình và một số bản khác, ngoàiBắc thì có bản Nôm Tụ Văn Đường, Liễu Văn Đường và các bản quốc ngữ, nhữngngày khi hòa bình lập lại cũng có một số bản Vân Tiên xuất bản ngoài Bắc Sau phần
giới thiệu những bản Vân Tiên xuất bản, các nhà nghiên cứu đã so sánh dị đồng giữa
các bản tiêu biểu trong Nam bản Trương Vĩnh Ký và bản ngoài Bắc bản Văn Minh
Trong quyển Nguyễn Đình Chiểu - Lục vân Tiên bản Nôm và bản quốc ngữ cổ nhất của Nguyễn Quảng Tuân, Nhà xuất bản văn học năm 2008, tác giả cũng đã giới
thiệu về tác gia Nguyễn Đình Chiểu và khảo sát một số bản Vân Tiên rồi đưa ra so
sánh đối chiếu những điểm tương đồng và dị biệt của các bản với nhau Quả thật, Lục Vân Tiên truyện được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, có rất nhiều bản chữ Nôm
và quốc ngữ được nghiên cứu và xuất bản Giữa các bảnVân Tiên xuất bản ngay từ lúc
sinh thời cho đến lúc Nguyễn Đình Chiểu mất có nhiều điểm dị đồng với nhau có khitrong từng chữ, từng câu, từng đoạn…Tuy nhiên, các văn bản đều giống nhau trên một
bố cục chung Bản của Duy Minh Thị là bản chữ Nôm cổ nhất được tìm thấy ở ngoàiBắc, ở trong Nam có bản Trương Vĩnh Ký là đáng chú ý nhất, bởi đây là bản quốc ngữđầu tiên do người Việt Nam phụ trách việc sưu tầm, chỉnh lý và đã tiếp thu những bản
Vân Tiên lúc tác giả sinh thời.
Khi khảo sát đề tài, các quyển tư liệu về lịch sử văn học Việt Nam và một sốquyển từ điển văn học cũng phần nào giúp chúng tôi hiểu rõ hơn về cuộc đời cùng với
sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu Một số quyển như: Nguyễn Phạm Hùng(2001) -Văn học Việt Nam (từ thế kỷ X đến thế kỷ XX) - Nhà xuất bản Đại học quốc
gia, Hà Nội; Lê Trí Viễn (chủ biên) (1978) -Lịch sử văn học Việt nam tập 4A văn học viết - Nhà xuất bản Giáo dục; Đỗ Đức Hiểu (chủ biên) - Từ điển văn học bộ mới - Nhà
xuất bản thế giới; Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên) (2004) - Từ điển tác giả tác phẩm văn học Việt Nam dùng cho nhà trường - Nhà xuất bản Đại học sư phạm;…Ở những
quyển này sau phần giới thiệu về tác giả Nguyễn Đình Chiểu các nhà nghiên cứu cũngchú trọng đến sự nghiệp sáng tác của ông Đặc biệt, còn có những công trình nghiêncứu dành cả phần, chương nói đến thể loại hoặc nội dung của Lục Vân Tiên truyện.
Hầu hết các công trình nghiên cứu của các tác giả đều rất công phu và nghiêm túc Đếnvới quyểnVăn học Việt Nam (nữa cuối thế kỷ XVIII – hết thế kỷ XIX), phần thứ ba có
Trang 8chương ba viết về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu, NguyễnLộc nhận định: “Nguyễn Đình Chiểu là người mở đầu cho văn học nửa cuối thế kỷ XIX, nhà thơ tiêu biểu nhất cho dòng văn học chống Pháp Tên tuổi của ông tượng trưng cho lòng yêu nước Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX, đặc biệt là tượng trưng cho lòng yêu nước của nhân dân miền Nam” [17; tr.634], ông cho rằng: “Lục Vân Tiên
là tác phẩm tiêu biểu cho giai đoạn sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu trước ngày Pháp đánh vào Nam Bộ” [17; tr.637] Lục Vân Tiên truyện là một tác phẩm nêu lên tấm
gương về luân lý, đạo đức Quan niệm trung, hiếu, tiết, hạnh được Nguyễn Đình Chiểunhắc đến rãi rác trong tác phẩm Trong công trình nghiên cứu của Nguyễn Lộc cũng cónhắc đến tính cách con người Nam Bộ, tuy nhiên vấn đề chưa được tác giả nghiên cứusâu và còn rất mờ nhạt
Năm 2007, Nhà xuất bản Giáo dục cho ra đời quyểnNguyễn Đình Chiểu tác gia
và tác phẩm do Nguyễn Ngọc Thiện tuyển chọn và giới thiệu, và quyển Đến với thơ Nguyễn Đình Chiểu do Ngô Viết Dinh tuyển chọn và biên soạn Hai tập sách gồm một
khối lượng lớn những ý kiến nhận định của nhiều tác giả về cuộc đời, sự nghiệp sángtác và Lục Vân Tiên truyện Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng từng viết những câu văn
bất hữu: “Nguyễn Đình Chiểu là một người chí sĩ yêu nước, một nhà thơ lớn của nước
ta Đời sống và sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gương sáng, nêu cao địa
vị và tác dụng của văn học, nghệ thuật, nêu cao sứ mạng của người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa và tư tưởng” [5; Tr.77], trong bài: Nguyễn Đình Chiểu đạo làm người của
Trần Văn Giàu viết: “Truyện Lục Vân Tiên là bài ca lớn về nghĩa, ca ngợi lòng chung thủy Tất nhiên là trong truyện Lục Vân Tiên không chỉ có bấy nhiêu đó; còn tình bạn, còn vì dân, còn sự thương ghét, khen chê có tiêu chuẩn, còn thái độ xuất xử trong cuộc đời v.v…” [5; tr.143], theo Hà Huy Giáp: “Khó mà nói hết được lòng hâm mộ của bà con miền Nam đối với tác phẩm Lục Vân Tiên Hầu hết bà con đều thuộc và kể Lục Vân Tiên” [34; Tr.155]…Và còn có rất nhiều bài viết về tác giả và tác phẩm này Mỗi
nhà nghiên cứu đều có những nhận định riêng trong bài viết của mình, nhưng mỗi bàiviết đều có một điểm chung đó là xuất phát từ tình cảm yêu mến Nguyễn Đình Chiểu.Các nhà nghiên cứu cũng đánh giá cao tác phẩm,Lục Vân Tiên truyện đã đóng góp rất
lớn cho nền văn học Nam Bộ, có vai trò quan trọng trong tiến trình đưa nền văn họcNam Bộ trở thành một bộ phận của nền văn học nước nhà, vàLục Vân Tiên truyện còn
Trang 9là “Những trái chín cuối cùng của vụ mùa truyện thơ Nôm đã được thu hoạch ở miền Nam” [34; tr.48].
Ngoài những công trình nghiên cứu trên, khi tiến hành nghiên cứu đề tài chúngtôi cũng bắt gặp một số quyển sách bao gồm các lời bình của các nhà nghiên cứu, vìNguyễn Đình Chiểu là một trong những tác giả lớn của nền văn học trung đại và Lục vân Tiên truyện là tác phẩm có giá trị cao, có sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến một giai
đoạn văn học nên các nhận định đều có rãi rác trong một số quyển sách văn học
Bên cạnh một số công trình nghiên cứu về tác giả và tác phẩm nói trên, vì tínhchất của đề tài phần nào cũng gắn liền với văn hóa Nam Bộ nên chúng tôi cũng tiếnhành sưu tầm một số tài liệu có liên quan Đến với công trình nghiên cứu của TSHuỳnh Công Tín: cảm nhận bản sắc Nam Bộ - Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, tác
giả đã chỉ ra tính cách và bản sắc cũng như những đặc trưng của văn hóa Nam Bộ vềngôn ngữ diễn đạt, phương ngữ,…; công trình nghiên cứu của Hồ Bá Thâm -Văn hóa Nam Bộ vấn đề và phát triển - Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, ở phần một Một số vấn đề về văn hóa truyền thống và sự phát triển ở Nam Bộ tác giả đã tập trung khai
thác một số bản sắc văn hóa Nam Bộ, chủ yếu là địa bàn nông thôn Và còn có một sốcông trình nghiên cứu: Giáo sư Trần Quốc Vượng (2009) - Văn hóa cổ truyền Việt Nam - Nhà xuất bản Từ điển bách khoa và viện văn hóa; Toan Ánh (1998) - Con người Việt Nam - Nhà xuất bản TP Hồ Chí Minh; Đặng Đức Siêu (2002) - Hành trình văn hóa Việt Nam - Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội;… Trên đây là một số công trình
nghiên cứu của các tác giả phần nào đã giúp chúng tôi có được nền tảng để xác địnhchất Nam Bộ có trongLục Vân Tiên truyện, từ đó chúng tôi có cái nhìn sâu sắc hơn về
tác phẩm và hoàn thành bài viết của mình
Đi sâu tìm hiểu chất Nam Bộ vấn đề nổi bật đó là tính cách con người Nam Bộ,
vì vậy chúng tôi cũng tiến hành tìm hiểu một số quyển sách liên quan đến vấn đề này.Đến với công trình nghiên cứu của Huỳnh Lứa - quyển Góp phần tìm hiểu vùng đất Nam Bộ các thế kỷ XVII, XVIII, XIX và công trình nghiên cứu của Phan Quang – quyển Đồng bằng sông Cửu Long Với hai công trình này chúng tôi nhận thấy sự tâm quyết
của hai tác giả, để người đọc có cái nhìn sâu sắc hơn về vùng đất Nam Bộ Huỳnh Lứa
đã trình bày quá trình hình thành về mặt đất đai qua các thời kì của vùng đất này Kếthợp với vấn đề trên cả hai tác giả đều khái quát về một số tính cách, quan niệm sốngcủa con người ở vùng đất mới và có một số kiến giải để làm sáng tỏ vấn đề trên Nam
Trang 10Bộ là nơi có bản sắc văn hóa riêng của dân tộc và là nơi có tính ngưỡng về đạo phứctạp nhất Công trình nghiên cứu trên giúp cho chúng tôi có cái nhìn đúng đắn hơn khixác định tính cách của con người Nam Bộ có trongLục Vân Tiên truyện.
Khi tiến hành tìm hiểu về con người Nam Bộ chúng tôi cũng tiến hành tìm hiểu
về mặt chữ viết của vùng đất Nam Bộ, nổi bật lên ở giai đoạn này là chữ Nôm ChữNôm đã ra đời từ rất lâu nhưng vẫn chưa ai lí giải nó xuất hiện từ khi nào Chỉ biết chữNôm xuất hiện tạo nên một dấu ấn về ý thức độc lập của đân tộc ta Mặc dù, chữ Nômđược xác định là thứ chữ riêng của cả dân tộc ta nhưng do nó có sự tự sáng tạo trongcách viết nên đi vào từng vùng miền khác nhau thì nó sẽ có cách viết khác nhau, tuynhiên nó vẫn dựa trên mô thức cấu tạo chung
Quyển Lý thuyết chữ nôm văn Nôm của Nguyễn Ngọc San (nhà xuất bản đại
học Sư phạm) đã trình bày rất chi tiết về cấu tạo chữ Nôm Bên cạnh đó, để làm rõ vềcấu tạo của chữ Nôm ông đã đặc chữ Nôm của dân tộc ta nằm trong khu vực các nướcđồng văn để thấy được “Sự xuất hiện và vận dụng của chữ Nôm là một hiện tượng độc đáo, duy nhất trong tất cả các nước đồng văn” [28; tr.19] Tìm về cọi nguồn của chữ
Nôm, tác giả cũng đã hệ thống lại lịch sử vấn đề nghiên cứu cấu trúc chữ Nôm của cáctác giả và sau đó tác giả tiến hành phân tích các mô thức cấu trúc của chữ Nôm ChữNôm bề ngoài cũng mang hình khối như chữ Hán có thể nói nó giống chữ Hán về mặtloại hình, tuy nhiên giữa chữ Nôm và chữ Hán về mặt cấu tạo thì hoàn toàn khác nhau.Trong công trình nghiên cứu của mình ông cũng khai thác các vấn đề về âm đọc, muốnđọc được chữ Nôm thì người đọc cần dựa vào cách cấu tạo của nó Chữ Nôm qua từngthời kì sẽ có sự biến đổi khác nhau nó chỉ giữ nguyên phần cấu tạo, do đó âm đọc sẽkhác nhau
QuyểnĐại từ điển chữ Nôm của Vũ Văn Kính là một công trình nghiên cứu rất
công phu, với những trang đầu của công trình nghiên cứu này tác giả đã khái quát lạicấu tạo của chữ Nôm Ngoài ra, tác giả cũng đưa ra sự khác nhau giữa cách đọc chữNôm miền Nam so với các cách đọc chữ nôm chung về âm đọc Trong quyển này tácgiả đã thống kê lại một khối lượng lớn chữ Nôm, sau đó phân tích cấu tạo của từngchữ và đưa ra nghĩa cơ bản của những chữ ấy
Điểm qua những thành tựu, những kiến giải của người đi trước mà chúng tôi có
kế thừa trong công trình nghiên cứu của mình, chúng tôi nhận thấy các công trìnhnghiên cứu của các tác giả rất công phu và nghiêm túc, nhưng hầu hết đều tập trung
Trang 11nghiên cứu các vấn đề về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm chứ chưa thật sự khaithác các khía cạnh về chất Nam Bộ có trongLục Vân Tiên truyện Vì thế, khi đi bắt tay
vào nghiên cứu đề tài của mình chúng tôi cũng gặp không ít khó khăn, nhưng chúngtôi sẽ cố gắng nghiên cứu một cách nghiêm túc nhất để bài viết được hoàn thiện tốthơn
Ngoài ra, người nghiên cứu còn phải thấy được Nguyễn Đình Chiểu là một nhàthơ lớn, đầy tài năng, yêu nước, thương dân Những sáng tác của ông đã tạo cho nềnvăn học Nam Bộ thêm giàu có và phong phú, có thể nói ông đã để lại trong kho tàngvăn học Việt Nam một khối lượng thơ văn đồ sộ Qua đó, khẳng định vị trí củaNguyễn Đình Chiểu trong sáng tác văn học Nam Bộ nói riêng và văn học dân tộc nóichung RiêngLục Vân Tiên truyện là một tác phẩm có giá trị lâu dài qua nhiều thời kì,
mang đạo lý làm người, là một tác phẩm bất hữu trong tiềm thức của nhân dân cả nước
Khi chúng tôi xác định được mục đích nghiên cứu của đề tài này, thì đó cũng làlúc chúng tôi cũng triển khai được những vấn đề chính trong bài viết của mình Vì thế,trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sẽ cố gắng giải quyết các vấn đề một cáchnghiêm túc nhất
4.
4 Ph Ph Phạ ạ ạm m m vi vi vi nghi nghi nghiêêêên n n ccccứ ứ ứu u
Đề tài chúng tôi chọn là Chất Nam Bộ trong Lục Vân Tiên truyện của Nguyễn Đình Chiểu Với đề tài này, chúng tôi xác định phạm vi nghiên cứu như sau:
Ngoài việc nêu ra những đặc trưng Nam Bộ có trong tác phẩm, chúng tôi cònkết hợp tìm hiểu cuộc đời, sự nghiệp sáng tác và những đóng góp của tác giả NguyễnĐình Chiểu trong nền văn học Đồng thời, chúng tôi cũng tiến hành tìm hiểu các vấn
đề liên quan đến Lục Vân Tiên truyện như: chữ Nôm, thể loại truyện Nôm, con người
Nam Bộ, một số yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa Nam Bộ, từ đó có cái nhìn sâu sắc hơn
Trang 12về tác phẩm Và khi tiến hành nghiên cứu tác phẩm, chúng tôi chỉ nghiên cứu nhữngvấn đề liên quan đến chất Nam Bộ có trongLục Vân Tiên truyện.
Quyển Lục Vân Tiên truyện - bản Nôm và bản quốc ngữ cổ nhất của Nguyễn
Quảng Tuân (phiên âm - khảo dị - chú thích) là tài liệu chủ yếu mà chúng tôi khảo sát.Bên cạnh đó, chúng tôi còn tham khảo một số quyển khác như: Lịch sử văn học ViệtNam, một số công trình nghiên cứu về sử học, ngôn ngữ học, văn hóa cùng một sốnhận định đánh giá về tác phẩm của các nhà nghiên cứu, và một số quyển tác phẩmkhác của Nguyễn Đình Chiểu cũng như một số quyển tác phẩm cùng thời với ông.Nhìn chung, những công trình nghiên cứu trên sẽ giúp chúng tôi xác định và làm rõchất Nam Bộ có trongLục Vân Tiên truyện Khi xác định được những đặc trưng Nam
Bộ có trong tác phẩm thì chúng tôi tiến hành khảo sát đề tài của mình
5.
5 Ph Ph Phươ ươ ương ng ng ph ph phá á áp p p nghi nghi nghiêêêên n n ccccứ ứ ứu u
Để có thể nghiên cứu một cách hiệu quả nhất, nhằm đáp ứng yêu cầu mà đề tàiđặt ra, chúng tôi đã sử dụng linh hoạt các phương pháp nghiên cứu khác nhau
Phương pháp đầu tiên mà chúng tôi thực hiện đó là sử dụng phương pháp khảosát, tức là chúng tôi tiến hành đọc tác phẩm, sưu tầm những tài liệu có liên quan đếnphạm vi nghiên cứu, để có cái nhìn bao quát hơn về đối tượng nghiên cứu
Phương pháp phân tích, tổng hợp nhằm làm rõ đặc trưng Nam Bộ từ đó đưa racái riêng nhất, Nam Bộ nhất có trongLục Vân Tiên truyện.
Trong quá trình phân tích phương pháp lịch sử cũng được chúng tôi sử dụng.Nghiên cứu đề tài này chúng tôi đặt tác phẩm trong hoàn cảnh lịch xã hội Việt Namkhoảng nửa cuối thế kỷ XIX để có cái nhìn chính xác, khách quan hơn về những vấn
đề liên quan đếnLục Vân Tiên truyện.
Dựa trên những tư liệu tìm được chúng tôi nhận thấy có rất nhiều bản in Vân Tiên Do dó, chúng tôi tiến hành phương pháp so sánh nhằm tìm ra bản in có giá trị
nhất để tìm hiểu và khảo sát trong quá trình viết
Trên đây là một số phương pháp chủ yếu mà chúng tôi sử dụng Tuy nhiên, tùythuộc vào yêu cầu cụ thể của từng tiểu mục chúng tôi sẽ lựa chọ từng phương phápthích hợp, để có thể mang lại kết quả tốt nhất trong suốt quá trình nghiên cứu đề tàicủa mình
Trang 13PH PHẦ Ầ ẦN N N N N NỘ Ộ ỘIIII DUNG DUNG
CH CHƯƠ ƯƠ ƯƠNG NG NG 1: 1: 1: M M MỘ Ộ ỘT T T S S SỐ Ố Ố V V VẤ Ấ ẤN N N ĐỀ ĐỀ ĐỀ CHUNG CHUNG 1.1.
1.1 Đô Đô Đôiiii n n néééétttt v v vềềềề v v vă ă ăn n n h h hó ó óa a a Nam Nam Nam B B Bộ ộ
1.1.1.
1.1.1 M M Mộ ộ ộtttt ssssố ố ố y y yếếếếu u u ttttố ố ố ả ả ảnh nh nh h h hưở ưở ưởng ng ng đế đế đến n n v v vă ă ăn n n h h hó ó óa a a Nam Nam Nam B B Bộ ộ
1.1.1.1.
1.1.1.1 Th Th Thổ ổ ổ nh nh nhưỡ ưỡ ưỡng ng
Ngắm nhìn mảnh đất Nam Bộ thân thương trong các cuộc khai hoang đất đaingày trước của những bật tiền nhân, làm cho người ta cảm thấy đầy tự hào và khuấtphục sự cần cù, chịu khó của họ Nam Bộ một vùng đất hình thành sau cùng của tổquốc, nhưng không vì sự sinh sau đẻ muộn ấy mà Nam Bộ kém phát triển Trải quanhững ngày tháng đầm mình vào vẻ hoang vu và cằn cỗi của mảnh đất này, với bàn taycần mẫn của người xưa, Nam Bộ đã trở mình vươn lên thành một khu vực rất pháttriển, biến thành bộ phận nòng cốt của đất nước và tạo nhiều tiềm năng cho nước tangày một vững mạnh Một trong những yếu tố giúp cho vùng đất Nam Bộ phát triểnnhư ngày nay là nhờ vào đặc trưng thổ nhưỡng
Qua một số tài liệu nghiên cứu về vùng đất Nam Bộ, được biết Nam Bộ ngàytrước là một khu đất hoang vu, cây cối um tùm, có nhiều loài động vật hoang dã sinhsống Từ ranh giới xác định của vùng Nam Bộ là Bình Phước xuôi dòng về đồng bằngsông Cửu Long là hệ sông ngồi kênh rạch chằng chịt “Miền hạ lưu sông Mê Công nay
là vùng đất Nam Bộ, không có mỏ vàng, mỏ bạc, đậu khấu, trầm hương, tơ lụa, hồ tiêu v.v… để hấp dẫn thương khách Lúc bấy giờ có một vùng tương đối sung túc, nhiều lúa gạo là xã Bãi Xàu, gần cửa sông hậu Phần lớn đất đai còn rừng rậm hoang vu, nhiều thú dữ, khí hậu ẩm thấp, còn khó làm ăn.” [24; tr.16] Vào những năm mà công cuộc
khai phá chưa được thịnh, vùng đất Nam Bộ là một khu đất rộng lớn, hoang sơ, đất đaicằn cỗi do chưa có sự canh tác Nhà Nguyễn khi ấy vì muốn mở rộng lãnh thổ đã đặt
ra nhiều chính sách ưu đãi, trong đó có chính sách miễn tô thuế ba năm đầu cho vùngđất khẩn hoang, đều này là bằng chứng ghi lại cho mảnh đất khó khai thác Đó là cáinhìn tổng quát về vùng đất Nam Bộ, trong những giai đoạn chưa đi vào quỹ đạo Tuynhiên, với sự cần mẫn của nhân dân, vùng đất đầy khó khăn này đã nhanh chóng vụtdậy trở thành một vùng đất màu mỡ, phì nhiêu, đất đai tương đối bằng phẳng Đặc biệt,
ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, hằng năm được bồi tụ phù sa thuận lợi trồng lúcnước
Trang 14Đất đai ở Nam Bộ chủ yếu là đồng bằng, không giống các khu vực miền Bắc,miền Trung, đây cũng là đặc điểm nổi bật của vùng đất Nam Bộ Đồng bằng Nam Bộđược chia thành hai phần cao thấp rõ rệt Vùng cao với đất phù sa cổ, thuận lợi cho câytrồng phát triển, đặc biệt là cây công nghiệp Vùng thấp với đất phù sa mới, với quátrình bồi tụ (còn gọi là trầm tích) khá phức tạp, không đồng đều tạo ra những vùng caothấp khác nhau Tuy nhiên, sự phân chia giữa hai vùng cao thấp này không đáng kể,loại đất phù sa mới rất thích hợp trong canh tác lúa nước Cũng giống như những vùngkhác, đất Nam Bộ được chia thành hai loại tốt và xấu Đất tốt là những loại đất màu
mỡ, nếu trồng những loại cây thích hợp thì nhân dân sẽ có một mùa bội thu Đối vớinhững vùng đất có phù sa bồi tụ hằng năm, rất thuận lợi cho nhân dân trồng lúa - mộtloại cây lương thực chính Còn đối với phần đất giồng cao, ít ngập lục thì trồng đượcnhững loại cây ăn trái Phần đất xấu hơn, thường được gọi là đất đồng, nó quá thấp,nếu vào mùa lục bị ủng, cỏ mọc tràn lan, phèn tích tụ nhiều đời Mặc dù, loại đất xấunày không thể trồng nhiều loại cây như ở vùng đất tốt, nhưng có thể thu lợi từ nhữngloại cây lấy gỗ và sử dụng với nhiều mục đích có ích khác như: tràm, đước, bông súng,sen…
Điều kiện tự nhiên phần nào cũng ảnh hưởng đến đất đai ở Nam Bộ Diễn tiếncủa thời tiết khá phức tạp tạo nên những hệ quả không mong muốn, có lúc ngập lục,hạn hán gây trở ngại trong quá trình canh tác Tuy nhiên, sau quá trình ngập lục, vùngđất ấy được bồi tụ phù sa, quá trình hạn hán cũng không kéo dài, do đó ngoài những hệquả không mong muốn thì thời tiết cũng đem lại sự biến đổi cho đất đai, có khi manglại những mặc tích cực cho vùng đất này Bên cạnh đó, Nam Bộ có chiều hướng điềuhòa hơn những vùng khác trong cả nước, thuận lợi cho nhiều loại cây trồng
Thổ nhưỡng Nam Bộ nhìn chung cũng tương đối tốt Do vậy, vùng đất Nam Bộnhanh chóng phát triển chỉ trong thời gian ngắn Con người Nam Bộ cũng vì thế mà cónhững nét riêng, họ trở nên cứng cỏi, bền bỉ, chịu thương, chịu khó và càng quý trọngvùng đất sinh ra mình
1.1.1.2.
1.1.1.2 Con Con Con ng ng ngườ ườ ườiiii
Tìm hiểu về hành trình văn hóa của người Nam Bộ, chúng tôi nhận thấy có rấtnhiều vấn đề ảnh hưởng đến cách nghĩ, cách sống, đối nhân xử thế Các yếu tố nhưnguồn gốc xuất thân, tư tưởng đã ảnh hưởng đến quan niệm sống của con người Nam
Bộ Những yếu tố trên chính là nơi bắt nguồn cho lối sống tình nghĩa, không cam chịu
Trang 15trước số phận, và có những suy nghĩa hoàn toàn khác so với các vùng khác trong cảnước.
Nguồn gốc xuất thân của người Nam Bộ cũng là một yếu tố quan trọng tạo nênnét riêng ở Nam Bộ Đây là một nơi hội tụ nhiều lưu dân nhất, tập trung nhiều người
từ tứ xứ trong và ngoài nước Có cả người Khmer, Chăm, Hoa…các tộc người này đãsinh sống ở nơi đây từ rất lâu, dần dần về sau những người Việt từ miền Bắc, miềnTrung bắt đầu vào Nam khai hoang lập nên những làng, thôn, xóm và định cư lâu dài.Đây là điểm đặc trưng nhất ở vùng Đất Nam Bộ Chính vì có nhiều dân tộc, do đóvùng đất mới này tồn tại nhiều nền văn hóa khác nhau, qua thời gian nó trộn lẫn vàonhau và tạo thành màu sắc rất riêng Trước hết, xin nói về tầng lớp đội ngủ nhân dânvào vùng đất Nam Bộ Dễ thấy rằng họ là những lưu dân Việt vào Nam khai phá, vốn
là những người nông dân, thợ thủ công nghèo khổ, những con em hoặc chính họ lànhững người dân tứ chiến…Vì mới di cư vào nên họ phải tập thích nghi với cuộc sốngmới Làm thế nào để hòa nhập vào môi trường sống mới là một vấn đề khó khăn đặt racho họ Vì thế mà lối sống, cách nghĩ của họ đã có sự thay đổi không còn như ngườimiền Bắc, miền Trung Sự thay đổi này là do ảnh hưởng bởi điều kiện tự nhiên, sinhhoạt, kinh tế…Khi mới vào Nam khai phá, những lưu dân này ít nhiều có đầu óc phiêulưu, mạo hiểm, không sợ khó khăn, bởi vì cuộc sống nên họ phải liều hay buộc phảiliều Cho nên, họ xem nhẹ tính mạng, ưa sống ngang tàng, luôn tỏ ra dũng cảm ít bịthuần phục bởi uy quyền phong kiến, càng ít bị ràng buộc bởi lễ giáo Khổng - Mạnh
Và không bao giờ họ bị thuần phục trước sức mạnh phi nghĩa Họ sống phóng khoáng,siêng năng, rất thẳng thắn, dám nói - dám làm Khi cuộc sống đi vào ổn định thì đây lại
là nơi có điều kiện thuận lợi để sinh sống “Làm ít hưởng nhiều” Do đó, họ cũng rấtthoải mái vì vậy họ trở nên không tính toán, đầy tình tương thân tương ái Hơn nữa,sau bao nhiêu biến động của cuộc sống khốn khó, nơi đây dạy cho họ tinh thần yêuquê hương đất nước, yêu thương con người
Một ảnh hưởng lớn đến quan niệm sống của người Nam Bộ đó là mặt tư tưởng.Nam Bộ là vùng đất có nhiều đạo nhất, mà đặc biệt là tam giáo: Nho, Lão và Phậtnhân dân Nam Bộ tiếp thu cả ba nền tôn giáo ấy Vì vậy, ba nền tư tưởng khác nhaunày hòa quyện vào nhau tạo thành một nét đặc trưng riêng ở nơi đây Theo quan niệmPhật giáo thì tin vào thuyết: khổ ải, trầm luân, nhân quả, nghiệp báo Phàm là conngười sống trên đời điều trải qua sinh, lão, bệnh, tử đó là một quy luật đặt ra cho con
Trang 16người Sự khổ ấy phải chịu từ kiếp này sang kiếp khác tạo thành một vòng luân hồi,những người làm ác thì sẽ gặp quả báo, ở hiền thì gặp lành dù có trải qua tai ương,trướng họa rồi cũng sẽ được hiển vinh sung sướng Đó là thuyết của người sáng lập raPhật giáo – Phật tổ ngày trước ở phía Bắc Ấn Độ, Phật tổ là con của một nhà quý tộccũng cưới vợ sinh con, nhưng sau đó người thấy con người ở đời chịu nhiều khổ sở thìchạnh lòng thương xót Rồi người từ bỏ cuộc sống đời thường, tịnh tâm tu đạo Saunày, khi tỉnh ngộ người tự xưng là Như Lai, rồi đi thuyết pháp khắp nơi để truyền đạogiáo của người Theo các tài liệu cũ còn để lại được biết Phật giáo truyền vào nướctheo hai cách Thứ nhất, do sau khi Hán Linh Đế mất và nước Tàu có nội loạn từ đócác vị sư Tàu sang nước ta tránh nạn ở Bắc Kỳ và thuyết pháp ở đây Thứ hai, do các
vị sư người ở Ấn Độ đi truyền bá đạo hoặc là trực tiếp sang nước ta hoặc là thông quanước ta để đi đến nước Tàu Mặc dù, gián tiếp từ bên Tàu truyền sang nhưng về sauảnh hưởng của Phật giáo Tàu vào nước ta mạnh hơn, nên hiện nay Phật giáo ở nước tatheo phái “Đại thừa” như ở bên Tàu
Theo đạo Lão (hay người ta thường gọi là Đạo giáo) thì có cái tư tưởng phóngkhoáng, nhàn tản, yếm thế Bực thượng lưu có học thức bị nhiễm cái tư tưởng tiêu diêu,phóng khoáng sẽ chán đường công danh phú quý, cầu sự an nhàn tự do Đạo Lão làmột nền triết học cao thâm những người thường thì khó mà hiểu hết được, những aitheo tư tưởng này không chịu ràng buộc bởi lễ giáo phong kiến, thường hay tìm mộtnơi nào yên tĩnh sống ẩn dật Người sáng lập ra đạo Lão chính là Lão Tử người thuộcnước Sở, ông nổi tiếng với cuốn “Đạo đức kinh” cuốn này bày tỏ cái tôn chỉ của ông.Đạo Lão được truyền vào nước ta từ thời Bắc thuộc nhưng nó không có môn phái hay
hệ thống gì cả
Lề lối, quy tắc nhất đó là Nho giáo Nho giáo cho người xưa biết được cươngthường đạo nghĩa, dạy cho người con trai biết làm người quân tử, con gái biết tiết hạnh.Người quân tử phải thông thạo tứ thư, ngũ kinh biết đạo làm người Còn về người phụ
nữ phải tuân thủ theo quy tắc “Tam tòng tứ đức” hội tụ được những điều kiện trên làmột người phụ nữ lí tưởng cho bậc quân tử Với quan niệm trên, đặt người phụ nữ vào
vị trí phụ thuộc trong gia đình Theo xã hội phong kiến “Đạo làm trai theo nho giáo là trung với chúa, hiếu với cha Đạo làm gái theo nho giáo là vẹn gìn tiết nghĩa, trau dồi hạnh kiểm.” [5; tr.266] Người sáng lập ra Nho giáo chính là Khổng Tử, người ở nước
Tàu Nho giáo khi du nhập vào nước ta trước hết nó trải qua một quá trình lịch sử lâu
Trang 17dài ở nước Tàu vì vậy nó “đã vượt qua giai đoạn kinh viện hóa, truyền thống “huấn dỗ, tập chú, và cả giản ước” nữa, đã khiến Nho giáo trở thành “thiên kinh định nghĩa”,
và thành một thứ “chân lý ứng dụng”, được thể chế hóa vào cả “trong triều ngoài nội” thành các cơ chế xã hội, thành tập quán và phong tục” [44; tr.21] Trải qua lịch
sử hơn một ngàn năm đô hộ, tư tưởng Nho giáo du nhập vào nước ta trở nên ổn định,
và có lúc nó trở thành quốc giáo
Các tầng lớp trí thức trong xã hội xưa đa số bị ảnh hưởng bởi tư tưởng Khổng
Tử dường như tư tưởng này chiếm vị trí độc tôn trong quan niệm sống của con người,nhưng kể từ khi nhà Nguyễn lật đổ triều đại Tây Sơn đã bộc lộ nhiều mặt tiêu cực làmcho nhân dân mất lòng tin, thế kỷ XIX là một là một thời đại vô cùng đau thương vàkhổ nhục của con người trong xã hội phong kiến Trước những thay đổi của xã hộicùng với sự bế tắc của chế độ phong kiến thì hầu hết con người nhất là tầng lớp tríthức đứng trước sự khủng hoảng lớn về tư tưởng Lúc này mọi quy tắc tín điều, chuẩnmực của tư tưởng Khổng - Mạnh đều bị vi phạm một cách trắng trợn Đứng giữa sựbất công đó con người tìm về an ủi trong lý thuyết nhà Phật, hoặc ở ẩn theo tư tưởngđạo Lão để giữ cái tâm trong sạch Bắt nguồn từ quan niệm của dân tộc, con người ởvùng đất Nam Bộ cũng bị ảnh hưởng bởi tư tưởng trên nhưng nó mang cái nét riêngcủa vùng đất mới Nam Bộ, là một vùng đất xa xôi mới được hình thành và bị ảnhhưởng từ những nền tư tưởng khác nhau Lại còn cách xa triều đình nên tư tưởngKhổng – Mạnh vẫn chưa có chỗ đứng vững chắc, do đó nhân dân Nam Bộ còn cảmthấy lạ lẫm bởi những quy định gò bó của nó Một phần nữa, vì Nam Bộ là vùng đấtmới được khai phá nên con người ở nơi đây gặp không ít khó khăn, lại cũng vì sự bấpbênh, sự bế tắc trong cuộc sống, bất lực trước sức mạnh của thế gian nên họ tìm đếnđạo Phật để có được niềm tin và sức mạnh vượt qua giai đoạn khó khăn ấy Còn về bậctrí thức khi họ đã thấu hiểu cái xã hội của Nho giáo đâm ra chán nản công danh phúquý, tìm cách ở ẩn để có cuộc sống an nhàn, họ sống phóng khoáng tự do không bịràng buộc bởi lễ giáo phong kiến cứng nhắc Những gì được xem là “khuôn vàngthước ngọc” giờ đây con người ở vùng đất Nam Bộ đã dần lãng quên Tuy nhiên, một
số phẩm chất tốt đẹp của giáo điều, những cái gọi là hợp thời thì họ vẫn còn giữ lại
Từ sự kết hợp về nguồn gốc và tư tưởng dẫn đến con người Nam Bộ rất coitrọng tình nghĩa, bởi vì tiền tài là vật ngoài thân chỉ có tình nghĩa là còn mãi Có lẽ vìđây là một vùng đất mới được nhân dân khai phá, sau đó nhiều người di cư đến chung
Trang 18sống với nhau trong một khu vực Một vùng đất lạ đối với những người mới đến thìcuộc sống của họ sẽ thật sự khó khăn, thấu hiểu những hoàn cảnh ấy những người đếntrước sẵn sàng giúp đỡ, chia sẻ những kinh nghiệm của mình “Bán anh em xa mua láng giềng gần” những tình cảm ấy ngày càng trở nên sâu sắc hơn, mọi người trở nên
thân thiết và yêu thương nhau nhiều hơn Khó mà nói hết được nghĩa tình của nhữngngười thôn xóm với nhau, họ xem nhau như anh em ruột thịt, đôi khi cũng có nhữnghiểu lầm nho nhỏ nhưng họ sẵn sàng bỏ qua Đổi lại cái tình giữa con người và conngười với nhau Bởi những tình cảm cao đẹp ấy, mọi người ở vùng đất Nam Bộ luôn
có tình cảm sâu nặng Không những họ biết quý trọng những tình cảm ấy, mà mỗi khi
họ nhận được ơn thì họ nhất định ghi nhớ trong lòng và nếu có cơ hội thì họ nhất địnhđền đáp ơn đó
Thích nói thẳng, không vòng vo, úp mở là một quan niệm sống của người Nam
Bộ Họ nghĩ sao thì nói vậy, dám nghĩ và dám làm Nhân dân Nam Bộ sống thật thàcởi mở, cuộc sống của họ vốn dĩ bình dị chất phác, không quá cầu kì cho cuộc sống
Họ luôn dũng cảm đối mặt với những khó khăn thử thách sau đó tìm cách vượt quanhững khó khăn ấy Có lẽ họ là những con người nhanh nhẹn và hiếu động cho nên nơisống không phù hợp thì họ sẵn sàng chuyển đến nơi khác sinh sống, còn những suynghĩ không hợp thời thì họ có thể thay đổi ngay Tuy nhiên, họ cũng rất có trách nhiệmtrong cuộc sống, là những người có tính kỉ luật, những gì dám làm thì dám nhận không
đổ lỗi cho ai và rất sợ người khác bị liên lụy Bên cạnh đó, họ cũng sẵn sàng xả thâncứu người thể hiện được tinh thần tương thân tương ái, mà theo Huỳnh Công Tín:
“Nhận ra bản chất đích thực của người dân Nam Bộ là phóng khoáng, bình dị, cả tin, trọng nghĩa và sẵn sàng hi sinh vì nghĩa, luôn gắn bó chặt chẽ với cộng đồng làng quê” [36; Tr.6].
Nguyễn Đình Chiểu truyền bá đạo Nho cho học trò nhưng tư tưởng Nho giáokhông còn chiếm địa vị độc tôn nữa, bên cạnh đạo Khổng – Mạnh ông cũng rất quýPhật và có cuộc sống gần nhân dân nên ông sớm bị ảnh hưởng bởi những tư tưởng đó.Điều này được thể hiện rõ trongLục Vân Tiên truyện Quan niệm về người quân tử của
Nguyễn Đình Chiểu là khát vọng về một đại trượng phu toàn bích có đủ nhân, lễ,nghĩa, trí, tín, dũng, hiệp là một anh hùng dẹp nội loạn trừ ngoại xâm Còn về ngườiphụ nữ thì có đủ trung, hiếu, tiết, hạnh Tuy nhiên, quan niệm đó không còn theo một
Trang 19khuôn phép có sẵn nữa mà nó hình thành nên hình tượng của con người Nam Bộ, có
sự ngang tàng, phóng khoáng, chủ động,…
1.1.1.3.
1.1.1.3 L L Lịịịịch ch ch ssssử ử ử v v vù ù ùng ng ng đấ đấ đấtttt Nam Nam Nam B B Bộ ộ
Truy tìm về lịch sử vùng đất Nam Bộ được biết “khảo cổ học đã chứng minh từ cách đây hàng chục vạn năm, trên vùng đất Nam Bộ đã có người cổ sinh sống” [7;
tr.13] Sau một thời kì phát triển về mọi mặt, nhu cầu về mặt lãnh thổ cũng được xáclập, vì thế mà người ta đặt cho vùng đất này cái tên gọi là phù Nam Phù Nam là mộtkhu vực ven biển mà trung tâm là vùng đông Nam Bộ ngày nay, giai đoạn phát triểnrực rỡ Phù Nam chấm dứt, Phù Nam bắt đầu bị suy yếu và tan rã vào cuối thế kỷ VI,đầu thế kỷ VII Nhân lúc này các thuộc quốc của Phù Nam tách ra thành một vươngquốc độc lập, trong đó có Chân Lạp Chân Lập tuy là một thuộc quốc nhưng cũng rấtphát triển, nên từ rất sớm đã tách khỏi Phù Nam và với sự hỗn loạn của Phù Nam hiệntại thì Chân Lạp nhanh chóng chiếm lấy một phần lãnh thổ của Phù Nam, tương đươngvới vùng Nam Bộ ngày nay Sau khi chiếm vùng đất này thì Chân Lạp đặt cho PhùNam cái tên là “Thủy Chân Lạp” để phân biệt với vùng đất gốc của mình là “Lục ChânLạp” Sang thế kỷ XVI và nhất là vào thế kỷ XVII, Triều đình Chân Lạp bị chia rẽ sâusắc và dần dần bước vào thời kỳ suy vong do sự can thiệp của quân Xiêm Trong bốicảnh như vậy thì Chân Lạp không có khả năng kiểm soát vùng đất Phù Nam nữa
Mốc quan trọng trong lịch sử hình thành vùng đất Nam Bộ phải kể đến là quátrình Nam tiến của những lưu dân người Việt vào Nam khai khẩn đất hoang, thành lậplàng, thôn, xã Và một số người Trung Quốc vào đây khai hoang, sinh sống, làm ănthúc đẩy nhanh quá trình khai phá ở vùng đất Nam Bộ Đầu thế kỷ XVII, lưu dânngười Việt từ vùng đất Thuận - Quảng của chúa Nguyễn vào vùng đất Nam Bộ khaihoang lập ra những làng người Việt đầu tiên trên vùng đất Nam Bộ Tuy nhiên, giaiđoạn này công cuộc khai phá chưa được thịnh, vào khoảng nửa sau thế kỷ XVI đến hếtthế kỷ XVIII công cuộc khai thác được đẩy mạnh Đầu tiên, những lưu dân người Việtđến Mô Xoài (Bà Rịa), Đồng Nai (Biên Hòa) tiến hành quá trình khai phá Năm 1623,chúa Nguyễn cho lập thương điếm ở vị trí tương ứng là Sài Gòn (tức Thành Phố HồChí Minh ngày Nay), và Sài Gòn – Gia Định trở thành một khu vực trung tâm trọngđiểm về hành chính và chính trị của chính quyền chúa Nguyễn Mạc Cửu là người Hoa
vì việc nhà Minh mất mà chạy sang nước Chân Lạp, làm quan và cai trị Vùng đất HàTiên – Long Xuyên – Bạc Liêu – Cà Mau (gọi chung là vùng đất Hà Tiên), nhân lúc
Trang 20Chân Lạp rối ren biến vùng đất này thành khu vực cát cứ của dòng họ mình Trước sựphát triển nhanh chóng của triều đình nhà Nguyễn ở những phần đất mới xác nhập,Mạc Cửu đã đem toàn bộ vùng đất của dòng họ về với chúa Nguyễn để có thể dễ dàngcủng cố và mở rộng thế lực ở vùng đất này “Đến đầu thế kỷ XVIII, chủ quyền Việt Nam đã mở rộng đến tận Hà Tiên và Mũi Cà Mau, bao gồm các hải đảo ngoài Biển Đông và vịnh Thái Lan.” [7; tr.33] Năm 1744, vùng đất Nam Bộ lúc này gồm 3 dinh
là Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ và Trấn Hà Tiên Năm 1756, vua Chân Lạp là NặcNguyên xin hiến hai phủ Tầm Bồn và Lôi Lạp cho chúa Nguyễn.“Như vậy, đến năm
1757, những phần đất còn lại ở miền tây Nam Bộ mà trên thực tế đã thuộc chủ quyền cai quản của chúa Nguyễn từ trước đó, chính thức thuộc chủ quyền của Việt Nam” [7;
tr.37] Từ năm 1802 nhà Nguyễn đã xây dựng một thiết chế thống nhất từ Bắc đếnNam, lúc đầu thì Nam Bộ được chia thành các trấn trực thuộc Gia Định, sau đó dướithời vua Minh Mệnh cai trị vùng này được chia thành 6 tỉnh trực thuộc trung ương(gồm 3 tỉnh miền Đông: Phiên An (sau đổi thành Gia Định), Biên Hòa, Định Tường 3tỉnh miền Tây gồm: Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) “Về mặt ngoại giao, đến hết thế
kỷ XIX chủ quyền Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ đã chính thức được các nước láng giềng, trong đó có cả Cao Miên (Cam-pu-chi-a), thừa nhận trong các văn bản có giá trị pháp lý quốc tế Tháng 12 năm 1845, ba nước An Nam, Xiêm La (Thái Lan) và Cao Miên (Cam-pu-chi-a) ký một Hiệp ước, trong đó thừa nhận 6 tỉnh Nam Kỳ thuộc Việt Nam Năm 1846, một hiệp ước ký giữa An Nam và Xiêm La có nhắc lại những điều khoản trên và Cao Miên sau đó cũng tham gia vào Hiệp ước này” [7; tr.45].
Trải qua nhiều dấu ấn lịch sử của công cuộc khai phá, đấu tranh, giữ gìn bờ cõivùng đất Nam Bộ có nhiều lần thay đổi tên gọi khác nhau Chẳng hạn, khi thống nhấtthành một khu vực thuộc chủ quyền cai trị của nhà Nguyễn thì Nam Bộ có cái tên làNam kỳ Khi thực dân Pháp sang xâm lấn Nam Bộ, vùng đất này bị chia nhỏ ra và cónhững cái tên khác Nhưng kể từ khi đất nước giành được độc lập, thì vùng đất tậncùng này có tên gọi là Nam Bộ cho đến ngày nay Dù gọi với cái tên nào thì chúng tavẫn hiểu đó là một vùng đất được hình thành từ những nổ lực khai hoang của ông cha
ta ngày trước, trong hàng thế kỷ, và vị trí địa lí của nó vẫn không thay đổi Ngày nay,phạm vi của vùng đất này được tính từ Bình Phước, Tây Ninh đến mũi Cà Mau, có thểchia thành hai khu vực bao gồm đông Nam Bộ và tây Nam Bộ Đông Nam Bộ gồm:thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Bình Phước, Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai,
Trang 21Bà Rịa – Vũng Tàu Tây Nam Bộ bao gồm: Long An, Đồng Tháp, An Giang, TiềnGiang, Vĩnh Long, Bến Tre, Kiên Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng,Bạc Liêu và Cà Mau Bên cạnh việc khai hoang Nam Bộ còn nổi bật với cả một quátrình giữ nước, đấu tranh chống giặc ngoại xâm Tuy lịch sử hình thành khá phức tạp,tuy nhiên dựa trên thực tế lịch sử và những văn bản pháp lý mang tính quốc tế thì vùngđất Nam Bộ là một bộ phận quan trọng của lãnh thổ Việt Nam.
Như vậy, mặc dù là vùng đất sinh sau đẻ muộn của tổ quốc nhưng “Nam Bộ là một bộ phận cấu thành quan trọng của nước ta về mặt lãnh thổ” [18; tr.43].
1.1.2.
1.1.2 S S Sơ ơ ơ llllượ ượ ượcccc phong phong phong ttttụ ụ ụcccc ttttậ ậ ập p p qu qu quá á án n n Nam Nam Nam B B Bộ ộ
Phong tục tập quán là một bản sắc văn hóa riêng của Người Việt Nam từ ngànxưa, người Việt Nam luôn kế thừa và phát huy truyền thống đó Mặc dù cùng một đấtnước nhưng ở mỗi vùng miền đều có cách kế thừa và phát huy truyền thống đó khácnhau, có lúc còn cải biến thành phong tục riêng của từng vùng
Với địa hình chằng chịt của vùng đất Nam Bộ, chiếc thuyền luôn là người bạnđồng hành của vùng sông nước, hình ảnh thuyền - ghe không còn lạ lẫm và đã ăn sâuvào tâm trí của con người Nam Bộ Cùng với các lợi ích mà chiếc thuyền mang lại dầndần nó đã trở thành một phương tiện không thể thiếu của con người vùng đất này.Người ta dùng thuyền không chỉ để di chuyển từ nơi này sang nơi khác, mà còn dùng
nó để chuyên chở hàng hóa, và còn phục vụ nhiều nhu cầu khác của người dân Cũngkhông biết từ khi nào hình ảnh của chiếc thuyền - ghe đã trở thành một biểu tượng củangười dân Nam Bộ, và dần trở thành một phong tục của họ
Người dân Nam Bộ luôn tin rằng mặt dù người đã mất nhưng linh hồn vẫn còn,
đó là suy nghĩ xuất phát từ dân tộc “Người dân Việt Nam quan niệm rằng dù người đã khuất bao đời, nhưng hồn người chết vẫn thường về với con cháu trên trần gian” [38;
Tr.45] Cũng giống như tinh thần chung của dân tộc Việt Nam, con người ở vùng đấtNam Bộ cũng trọng chữ hiếu, nhưng cách thể hiện nó thì có nét khác hơn những vùngkhác Nếu hay tin người thân mất thì họ sẽ lập tức quay trở về chịu tang, bở họ lànhững người trọng tình cảm Còn về việc thờ cúng, do cuộc sống bấp bênh, vất vả,cuộc sống của họ phải nay đây mai đó cho nên họ thường mang theo ảnh hoặc lưhương Khi nào có dịp, thì họ mới quay về gọi là phủi mộ, làm cỏ Như vậy, trong tưtưởng của người Nam Bộ, mặc dù họ ở bất cứ nơi đâu thì người khuất ấy vẫn ở gầnbên họ
Trang 22Thầy trò ngoài nét nghĩa của người dạy học và học trò, trong Nam Bộ còn đượcxem là mối quan hệ giữa người chủ và tớ Người chủ có thân phận và địa vị cao hơn tớ,nhưng cũng quan tâm yêu thương tớ Còn về phần người tớ, chịu ơn bảo bọc của chủ
vì thế luôn hết lòng với chủ, gánh vác phần việc nặng nhọc bằng chân tay cho chủ Ởvùng đất Nam Bộ, mọi người điều rất quý trọng tình nghĩa, do vậy mà họ có cách gọinhư thế để có thể rút gần khoảng cách hơn, và dễ thể hiện được tình cảm yêu thươngnhau giữa con người với con người trong cuộc sống đầy sự khó khăn ở vùng đất mới
Thầy là người truyền đạt cho mình luân lí, kiến thức trong cuộc sống, nên “học trò học nghề hay học chữ, ở với người dạy cho mình, điều có nghĩa là trò Học trò phải kính trọng thầy, phải quý mến thầy, mà nhất là thầy dạy học chữ lại phải kính trọng hơn nữa” [3; Tr.246] Người thầy chẳng khác nào cha, mẹ thứ hai sinh ra mình,
bởi không có công sinh thành cũng có công dạy dỗ, dạy cho chúng ta điều hay, điều tốt
để chúng ta đối nhân xử thế Biết thế nào là lễ, nghĩa, biết việc nào nên và không nênlàm Bởi vậy vai trò của người thầy trong xã hội rất quan trọng Đi vào vùng đất Nam
Bộ thì những người học trò càng yêu mến thầy hơn Bởi vì, trong họ luôn thường trựcnhững tình cảm dạt dào của những con người hiếu động, ham học hỏi, thích khám phánhững điều mới lạ trong cuộc sống
Người Nam Bộ trọng tình nghĩa nhất là bạn bè đồng tâm chí cốt với nhau, họ cóthể tâm sự chia sẻ mọi thứ với người bạn thân của mình Nếu gặp khó khăn, họ không
nề gian khó giúp đỡ cho bạn Họ tôn trọng nhau, sống với nhau hết mình không vụ lợi,hay ích kỉ cá nhân và người bạn thân là “người nào là người đồng tâm đồng chí với mình gọi là bạn tri kỷ Bạn tri kỷ là bạn thân thiết chẳng nề giàu nghèo sang hèn, lúc nào cũng yêu mến nhau” [3; Tr.250] Do đa số các người dân ở đây đều là những
người di cư từ vùng khác đến nên họ thường hay giúp đỡ nhau vì vậy họ rất quý trọngtình cảm của nhau
Lễ giáo phong kiến cũng ảnh hưởng đến gia đình người Nam Bộ xưa Ngườichồng là người chủ gia đình, một trụ cột vững chắc của vợ con Quan niệm này đã đẩyngười vợ vào vị trí phụ thuộc, vì thế một người vợ tốt phải là một người vợ hội tụ đủ
tứ đức bao gồm: công, dung, ngôn, hạnh và phải tuân thủ theo nguyên tắc “tam tòng”.Khi con cái đến tuổi “dựng vợ gả chồng” thì cha, mẹ đặt đâu con phải ngồi đó Họquan niệm rằng cha, mẹ là người sinh ra con, yêu thương con, luôn mong muốn conhạnh phúc, vì thế cha mẹ quyết định hạnh phúc cho con chỉ là muốn tốt cho con Tuy
Trang 23nhiên ở vùng đất Nam Bộ lễ giáo phong kiến không quá bó chặt người phụ nữ, họ đãthoáng hơn đối với hình thức hôn nhân Người phụ nữ có thể theo đuổi tình yêu củamình, chờ đợi người mình yêu Còn đối với bậc làm cha mẹ, mặc dù họ có quyềnquyết định hôn nhân cho con, nhưng họ cũng không ép buộc con phải chấp nhận cuộchôn nhân mà con không mong muốn, bởi vì xuất phát ở tấm lòng của họ đó là tình cảmyêu thương con cái hết mực.
Nam Bộ là vùng đất mới khai phá, ngày trước cuộc sống rất bấp bênh vì vậyngười dân ở đây phải lo kiếm cái ăn ít có điều kiện sinh hoạt văn hóa, cho nên họ tìmthú vui trong nhậu nhẹt rượu chè Họ tụm lại ngắm trăng, làm thơ, trò chuyện với nhau,dần dần hình thức này tạo thành tập quán riêng Mỗi khi gặp nhau hay có chuyện gìvui họ xem men rượu là cái tình cái nghĩa với nhau, chính bởi điểm này cũng tạo nênnếp sống không tính toán và sống tình nghĩa của người Nam Bộ Làm thì làm hết mìnhnhưng cũng rất chịu chơi, chơi xả láng hết thì kiếm cái khác Đó là đặc điểm của ngườidân nơi đây ngày trước, còn ngày nay do ý thức cá nhân của một số người đã tạo nên
tệ nạn xã hội Gặp nhau thì rủ nhau nhậu nhẹt, bất kể thời gian và tiền bạc khi “rượuvào lời ra” đâm ra sinh sự cải vả rồi gây chuyện hay không có tiền rượu chè thì sinhtính xấu trộm cấp Chính những điều này đã tạo cho tập quán mến khách này củangười Nam Bộ không còn được như trước
Khi tiếp cậnLục Vân Tiên truyện của Nguyễn Đình Chiểu, chúng ta cũng nhận
ra trong trong tác phẩm cũng có những phong tục tập quán mang đậm chất Nam Bộ.Vân Tiên là một đứa con biết đạo nghĩa, có hiếu với cha mẹ, mặc dù chưa hề biết mặtngười vợ mà cha mẹ hứa hôn, nhưng chàng vẫn xem đó là người vợ của mình Khôngnhững thế khi hay tin mẹ mất chàng rủ bỏ công danh về nhà thọ tang mẹ, trên đường
về nhà vì quá thương nhớ mẹ khóc đến đôi mắt của chàng bị mù Còn về Nguyệt Ngatuy chưa phải là vợ chính thức của Vân Tiên nhưng trong lòng nàng đã xem mình là vợchàng, nàng một dạ thủy chung son sắt, và lúc nào cũng mang theo bức tượng thờphụng Những người bạn như Hớn Minh, Tử Trực là những người bạn tốt thấy VânTiên sa cơ, gặp nạn mà vẫn một lòng cứu giúp
1.2.
1.2 Gi Gi Giớ ớ ớiiii thi thi thiệệệệu u u ttttá á ácccc gi gi giả ả ả v v và à à ttttá á ácccc ph ph phẩ ẩ ẩm m L Lụ ụ ụcccc V V Vâ â ân n n Ti Ti Tiêêêên n n truy truy truyệệệện n
Trang 24ở xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên.
Cha ông là Nguyễn Đình Huy, hiệu Dương – minh phủ Năm 1820, Lê VănDuyệt vào làm Tổng trấn Gia Định, Nguyễn Đình Huy cũng theo vào và làm thư lạiVăn hàn ty ở đó Nguyễn Đình Huy đã có vợ ở quê nhà, nhưng vào đây được ít lâuÔng lại lấy một người vợ nữa là bà Trương Thị Thiệt Bà sinh được bảy người con,Nguyễn Đình Chiểu là con đầu lòng
Nguyễn Đình Chiểu sinh ra trong một gia đình không lấy gì làm cao sang lắm.Nhưng dù sao từ buổi thiếu thời, ông cũng chưa đến nỗi sống một cuộc đời lao đao,vất vả nếu không có chuyện quốc biến dẫn đến những gia biến bất ngờ khiến cho cuộcđời ông phải trải qua nhiều bước thăng trầm, đã phải sống nhiều khổ đau của bản thân
và đất nước Từ thời thơ ấu đến tuổi mười một mười hai, Nguyễn Đình Chiểu đã đượcsống và học tập có nề nếp bên cạnh bà mẹ hiền Nhưng rồi cuộc đời của ông khôngphải thẳng tắp, suôn sẻ Từ năm lên mười một, mười hai tuổi ông đã phải trải quanhững ngày bão táp kinh hoàng và rẽ vào một lối khác gập gềnh, khúc khuỷu Năm
1833, Lê Văn Khôi nổi lên chiếm thành Phan An (Sài Gòn), rồi chiếm luôn cả sáu tỉnhNam kỳ Nguyễn Đình Huy chốn chạy về kinh và bị cách chức Sau đó ông vào Namđưa Nguyễn Đình Chiểu ra Huế gởi ở nhà một người bạn làm thái phó cũng vừa bịgiáng chức, hằng ngày vừa lo việc điếu đãi hầu hạ vừa học tập Ở đây, Nguyễn ĐìnhChiểu được theo học tám năm, đến năm 1840, lại trở về Nam, chăm lo đèn sách để chờthi hương Năm 1843 ông đỗ tú tài ở trường Gia Định
Năm 1846, Nguyễn Đình Chiểu lại ra Huế học chờ thi hương Đầu năm 1849,sắp thi thì được tin mẹ mất từ cuối năm trước (1848) Ông đành phải bỏ thi, vội vàngtrở về Nam chịu tang mẹ Giữa đường ông vì quá thương khóc mẹ, đường sá xa xôi,tiết trời nóng bức, nên ông bị ốm, bệnh ông ngày càng nặng thêm và chẳng may ông bị
mù cả hai mắt Đui mù về chịu tang mẹ, Nguyễn Đình Chiểu lại gặp cảnh éo le, chua
Trang 25chát vị hôn thê bội ước, cảnh gia đình sa sút… Sau khi mãn tang mẹ ông mở trườngdạy học Học trò theo học rất đông, và từ đó người ta gọi ông là Đồ Chiểu Ngoài việcdạy học, ông còn nghiên cứu thêm về y học và bốc thuốc chữa bệnh cho nhân dân.
Trong số học trò của ông có Lê Tăng Quỳnh, cảm thông với nỗi nhà neo đơn vàtình cảnh éo le của thầy, đã xin gia đình gả cô em gái của mình cho thầy Khoảng năm
1854, Nguyễn Đình Chiểu lấy vợ là bà Lê Thị Điền (người làng Thanh Ba, huyệnPhước Lộc, quận Cần Giuộc, tỉnh Gia Định) Từ đấy cuộc sống của ông đã bớt cô đơn.Ông vừa dạy học vừa làm thuốc và cũng vừa sáng tác, sống yên vui bên gia đình ấmcúng và trong tình thương yêu, quý trọng của nhân dân và môn sinh của mình
Năm 1859 thực dân Pháp xâm chiếm Nam kỳ, ông vì mù không trực tiếp thamgia đánh giặc được, đành chạy về quê vợ ở làng Thanh Ba Ở đây ông thường bàn bạcvới Đốc binh Là và trao đổi thư từ với Trương Định là những lãnh tụ nghĩa quânchống Pháp bấy giờ
Sau khi triều đình Huế ký hàng ước 5-6-1862 nhượng ba tỉnh miền Đông Nam
kỳ cho Pháp, Nguyễn Đình Chiểu càng thấy rõ hơn bộ mặt thấp hèn của bọn vua quanbán nước Nhưng ông không có điều kiện để làm được như Trương Định nêu cao cờkhởi nghĩa, mà phải rời quê tản cư sang Ba Tri (Bến Tre) Về đây Nguyễn Đình Chiểuthường giao thiệp với các nhà chí sĩ yêu nước và làm thơ văn phục vụ công cuộckháng chiến của dân tộc Ông chú ý theo dõi các cuộc đấu tranh chống Pháp của sĩ phuyêu nước và nhân dân Nam kỳ lúc bấy giờ Ông đặt hi vọng cứu nước vào bạn bè vàđồng chí của mình, nhưng các cuộc khởi nghĩa của họ dần dần bị thất bại, ông đau xót
vô cùng, ông càng căm thù bọn thực dân cướp nước và bán nước hơn
Năm 1867, thực dân Pháp chiếm nốt ba tỉnh miền Tây Sau đó bảy, tám nămcuộc khởi nghĩa miền Nam bị dập tắt, một số các nhà chí sĩ lại tị địa ra Bình Thuận,Nguyễn Đình Chiểu đành ở lại Ba Tri nhưng nêu cao gương bất hợp tác với địch Thựcdân Pháp thấy ông là một nhà Nho có uy tín, được nhân đân kính mến, tìm mọi cáchmua chuộc, dụ dỗ, nhưng ông vẫn một mực cự tuyệt
Năm 1885, vua Hàm Nghi ban chiếu Cần Vương hô hào văn thân nổi dậy cứunước Cả một phong trào kháng Pháp nổi dậy khắp Trung và Bắc kỳ Nguyễn ĐìnhChiểu lại tin tưởng nước nhà có thể khôi phục được Nhưng rồi Hàm Nghi bị bắt,phong trào Cần Vương thất bại Tia hy vọng cuối cùng của ông cũng tắt
Trang 26Ngày mồng 3 tháng 7 năm 1888, tuổi già sức yếu lại mang chứng đau bụng đãlâu, ông mất, hưởng thọ 66 tuổi.
1.2.1.2.
1.2.1.2 V V Vềềềề ssssự ự ự nghi nghi nghiệệệệp p p ssssá á áng ng ng ttttá á ácccc
“Cuộc đời khí tiết của Nguyễn Đình Chiểu đã làm nên một sự nghiệp vẻ vang –
Sự nghiệp văn chương chiến đấu đánh thẳng vào giặc ngoại xâm và tôi tớ của chúng,
sự nghiệp của một chiến sĩ kiên cường không biết mệt mỏi trên mặt trận văn hóa dân tộc, trọn đời hi sinh phấn đấu vì một nghĩa lớn” [34; tr.50] Nguyễn Đình Chiểu là một
nhà thơ lớn của dân tộc, ông đã để lại một khối lượng thơ văn vô cùng đồ sộ cho khotàng văn học chúng ta Ông còn là một trong những nhà thơ mở đường cho nền vănhọc Nam Bộ phát triển Mặc dù, sống trong hoàn cảnh mù lòa, cuộc sống cũng khôngmấy gì khấm khá nhưng ông vẫn cố gắng cống hiến hết sức lực của mình vào sựnghiệp văn chương, những sáng tác của ông mang giá trị văn học cao Sự nghiệp thơvăn của ông có thể chia thành hai thời kì tương ứng với hai giai đoạn hình thành vàphát triển tư tưởng của ông
Giai đoạn đầu là giai đoạn những năm 50 thế kỷ XIX Sau khi bị mù, ông mởtrường dạy học và làm thuốc, bên cạnh đó ông còn sáng tác hai tập truyện dài là Lục Vân Tiên truyện và Dương Từ - Hà Mậu Đây là thời kỳ tiếp tục hoàn thành và khẳng
định tư tưởng yêu nước, yêu dân, tư tưởng nhân nghĩa coi như một bộ phận triết lýnhân sinh của ông
Lục Vân Tiên truyện là một truyện Nôm đầu tiên của Nguyễn Đình Chiểu, phần
nào mang tính chất tự truyện của ông, đây cũng là một tác phẩm cuối cùng kết thúcmột giai đoạn văn học, kế thừa truyền thống văn học dân gian và truyện Nôm bình dân,thể hiện được tính đạo đức và tinh thần nhân dân sâu sắc Tác phẩm cũng đáp ứngđược tinh thần trọng nghĩa khinh tài, ghét gian ác của nhân dân Nam Bộ và cũng là củangười dân Việt Nam Truyện đề cao đức, hạnh, thủy chung, tiết, nghĩa là một tác phẩm
có giá trị về nhiều mặt Trong Lục Vân Tiên truyện là một nhân vật lý tưởng của nhà
thơ mang đầy đủ phẩm chất tốt đẹp của con người mà nhà thơ mơ ước, là hình tượngtượng về một đại trượng phu toàn bích có đủ nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, dũng, hiệp.Những con người tốt trong Lục Vân Tiên truyện kế tục những truyền thống cao quý
của dân tộc về nhân nghĩa, đó là những con người trong sạch, bình thường, sống tươngthân tương ái, làm việc nghĩa như một nhu cầu mà không hề nghĩ đến danh lợi - ơn huệ.Qua nhân vật ông Quán đã toát lên một chân lý cách mạng sâu sắc, tất cả mối căm ghét
Trang 27của ông đều xuất phát từ lòng yêu thương dân, đứng trên lập trường nhân dân mà lên
án, kết tội bọn vua quan hung bạo
Dương Từ - Hà Mậu, theo kết quả nghiên cứu của nhiều người tác phẩm này có
thể được soạn từ năm 1851 và hoàn chỉnh vào những năm trước khi thành Gia Định rơivào tay thực dân Pháp Sớm nhận ra được âm mưu xâm chiếm nước ta của Pháp, ôngviết Dương Tù – Hà Mậu với một tinh thần chiến đấu, yêu nước thiết tha, sôi nổi, và
kêu gọi đồng bào ta phải sớm nhận ra âm mưu của kẻ thù, ông nói rõ trách nhiệm vàbổn phận của mọi người dân Việt Nam trước họa xâm lăng Dương Từ - Hà mậu là
một tác phẩm lớn toát ra một tinh thần yêu nước và căm thù giặc sâu sắc Trước nguy
cơ đổ vỡ cả nền tảng đạo đức cố hữu do ý đồ của quân xâm lược, tác phẩm là lời kêugọi mọi người trở về với chính đạo, đủ tạo ra sức mạnh chống giặc cứu nguy cho tổquốc
Giai đoạn thứ hai, là giai đoạn phát triển cao và rực rỡ của văn chương NguyễnĐình Chiểu Giai đoạn này mở đầu từ những ngày giặc Pháp mới tràn vào sông BếnNghé cho đến khi toàn cõi Lục tỉnh Nam kỳ bị chiếm đóng, tức là trong những nămsáu mươi bảy mươi của thế kỷ XIX Trong giai đoạn thứ hai này, ông đã sáng tác một
số bài thơ, văn tế như:văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, văn tế Trương Định, văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục Tỉnh, 12 bài thơ điếu Trương Định, 10 bài thơ điếu Phan Tòng,… cùng
một số bài thơ khác ngụ ý yêu nước và căm thù giặc như các bài:Chạy Tây, Ngựa Tiêu
Sương, hịch Đánh Chuột,… và một tập truyện dài là Ngư Tiều vấn đáp nho y diễn ca
Theo Trương Vĩnh Ký thì Nguyễn Đình Chiểu còn soạn bộ Tứ thư ngũ kinh và Gia huấn ca, nhưng chưa biết vào lúc nào.
Thơ, văn tế của ông mang tính chất thời sự, tính chiến đấu sôi nổi Ông vạchtrần tội ác của giặc cùng bọn tay sai, nói lên ước mơ nước nhà được giải phóng củanhân dân ta trước cảnh nước mất nhà tan, lòng căm thù vô hạng của nhân dân ta đốivới bọn thực dân Nó làm sống lại trong tâm trí của chúng ta phong trào kháng Phápoanh liệt của nhân dân Nam Bộ trong suốt hai giai đoạn này Trước thủ đoạn độc áccủa bọn thực dân Pháp nhân dân miền Nam đã vùng lên chống giặc, đó là hình ảnh củanhững người dân lao động nghèo khổ, nhưng tràn đầy lòng yêu nước Họ là nhữngnhân vật chính, là những người anh hùng dũng cảm và giản dị của dân tộc ta Bên cạnhnhững người nông dân còn có những sĩ phu họ sống rất gần gũi với nhân dân, có thểnói là những trí thức nông dân Đối với tầng lớp này Nguyễn Đình Chiểu xác định rõ
Trang 28nhiệm vụ của họ là giúp dân giúp nước, đứng hẳn về phía nhân dân mà chống giặc.Giữa hai tầng lớp này có mối quan hệ mật thiết với nhau, bởi vì những người trí thứcchẳng những trở thành đại biểu cho nhân dân mà còn trở thành lãnh tụ của họ.
Ngư Tiều vấn đáp nho y diễn ca được Nguyễn Đình Chiểu sáng tác từ sau khi
ông về Ba Tri (1862), có lẽ là vào năm 1867, khi cả một miền đất đai rộng lớn rơi vàotay giặc Pháp.Ngư Tiều vấn đáp nho y diễn ca là tên của một tập sách nhưng đó cũng
là một quyển văn vần dạy nghề thuốc chữa bệnh, Nguyễn Đình Chiểu đã mượn lời củanhững nhân vật trong truyện để nói lên lòng yêu nước, căm thù giặc, khinh ghét bọnngười vô sỉ, cam tâm làm tay sai cho quân xâm lược Ông cũng mượn câu chuyện này
để phản ánh những vấn đề thời sự mà ông hằng quan tâm và đau lòng vì nó Nhân vậtNgư và Tiều là hai nhân vật biểu dương đạo đức làm người của ông Với tác phẩm này,ông đã tỏ rõ hết nỗi niềm cay đắng và nêu cao phẩm giá trong sạch của người sĩ phuyêu nước sau những ngày quê hương “Lục tỉnh” đã hoàn toàn rơi vào tay giặc Pháp vàđang bị đè nặng bởi những chính sách thống trị hà khắc của quân cướp nước, bán nước
Sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu đã đưa ông lên địa vị của một người
mở đầu cho dòng văn học yêu nước, một ngôi sao sáng trong nền văn học thời cận đại,những tác phẩm của ông mang giá trị bất hữu góp phần làm giàu đẹp cho nền văn họcdân tộc của chúng ta.Với những tác phẩm ưu tú của ông, tên tuổi của ông không còn
xa lạ đối với độc giả, người ta yêu mến ông bởi tinh thần yêu nước và những phẩmchất đạo đức tốt đẹp được ông gói gọn vào thơ văn
Tác giả được sinh ra vào thời buổi loạn lạc, tình đời đảo điên, nhân một hômxem truyện Tây Minh thấy có nhiều chỗ éo le, nên hòa vào cuộc đời gian truân củamình mà viết thành Lục Vân Tiên truyện để khuyên người đời đừng theo bọn gian ác,
hại kẻ hiền lành mà bị trời trả báo không lâu, hãy lo tu thân, cứu giúp kẻ khốn cùng thìrồi sẽ được sung sướng vẻ vang, danh thơm lưu lại muôn đời
1.2.2.2.
1.2.2.2 T T Tó ó óm m m ttttắ ắ ắtttt ttttá á ácccc ph ph phẩ ẩ ẩm m
Trang 29Dựa vào bản Lục Vân Tiên truyện bằng chữ quốc ngữ do Trương Vĩnh Ký
phiên âm và chú thích có thể chia truyện ra thành ba phần:
Ph
Phầ ầ ần n n 1 1 1: Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga gặp nhau
Lục Vân Tiên quê ở Đông Thành, là một học trò nết hạnh, tài kim văn võ, đãđính ước với Võ Thể Loan con của Võ Công Nhân gặp khoa thi Vân Tiên từ giã thầylên kinh đô ứng thí Trên đường hồi hương về thăm nhà Vân Tiên gặp Kiều NguyệtNga bị bọn cướp bắt Nguyệt Nga được Vân Tiên cứu khỏi tay bọn cướp núi, nguyền
gá nghĩa trăm năm để tạ lòng chàng, cuộc gặp gỡ ấy đã để lại trong lòng Nguyệt Ngamột mối tình thanh nhã, khó phai nhạt
Ph
Phầ ầ ần n n 2 2 2: Những tai nạn xảy đến với Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga
Vừa đến trường thi, Vân Tiên được tin mẹ mất, chàng vội vã quay về chịu tang
mẹ Giữa đường về vì quá thương khóc mẹ thêm bệnh nặng trong người nên bị mù haimắt, lại bị bọn thầy thuốc, thầy Pháp lừa đảo, tiền mất tật còn Những tưởng gặp lạibạn xưa được cứu giúp, nào ngờ Trịnh Hâm lập mưu hãm hại Nhờ giao long và vợchồng ông Tiều cứu sống, Vân Tiên tìm đến nhà nhạc gia, bị cha con Võ Công bội ước,đem bỏ vào hang Thương-tòng Lần này Vân Tiên được du thần và ông Tiều cứu giúp,rồi gặp lại người bạn hiền là Hớn Minh đem về một ngôi chùa chữa bệnh và nươngnáo
Còn về phần Nguyệt Nga nàng cũng gặp không ít kiếp nạn Thái sư một tênnịnh thần luôn giữ mối hận trong lòng vì bị Nguyệt Nga từ chối hôn lễ, nay có giặcxâm chiếm hắn bèn sàm tấu với vua bắt Nguyệt Nga cống Phiên để tránh việc binh đao.Nguyện giữ chọn tiết hạnh với Vân Tiên, trên đường đi nàng nhảy xuống sông tự trầmđược sóng thần đưa đẩy vào bờ sau đó thì được Quan Âm cứu thoát Tiếp theo nàng lại
sa vào tay Bùi Kiệm Một tên có máu dê, Nguyệt Nga giả vờ ưng thuận rồi tìm cáchchốn khỏi và gặp một bà Lão nhận bà làm mẹ nuôi, sau đó sinh sống ở ngôi nhà bàLão
Ph
Phầ ầ ần n n 3 3 3: Vân Tiên, Nguyệt Nga sum họp và hiển vinh.
Vân Tên nhờ thuốc tiên sáng mắt lại trở về nhà thăm cha mình và Kiều Công(cha Nguyệt Nga) Chờ đến khoa thi, chàng đỗ trạng nguyên Giặc Phiên lại một phenquấy nhiễu, chàng vâng lệnh vua đi đánh giặc và thắng trận, trên đường về chàng gặplại Nguyệt Nga Chàng tâu với vua mọi chuyện rồi xin vua tha tội cho nàng, và haingười cuối cùng được kết duyên sum họp Còn về bọn gian ác lần lượt điều bị quả báo
Trang 301.2.2.3 Vai Vai Vai tr tr trò ò ò ccccủ ủ ủa a a ttttá á ácccc ph ph phẩ ẩ ẩm m m trong trong trong n n nềềềền n n v v vă ă ăn n n h h họ ọ ọcccc
Văn học trung đại Việt Nam ngày nay đã trở thành đối tượng nghiên cứu củabạn bè quốc tế, điều đó chứng minh rằng bản lĩnh của con người Việt Nam và bản sắcvăn hóa của ta đã thật sự thu hút sự quan tâm của nhiều người Mỗi khi nhắc đến dòngvăn học chống ngoại xâm và đề cao giá trị nhân bản của dân tộc, chúng ta không thểkhông nhắc đến Nguyễn Đình Chiểu, một trong những gương mặt xuất sắc đã đónggóp rất lớn cho nền văn học nước nhà Và mỗi khi nhắc đến ông chúng ta đều nghĩngay đến Lục Vân Tiên truyện, một tác phẩm được đông đảo nhân dân cả nước biết
đến, đặc biệt là nhân dân Nam Bộ rất yêu thích
Kể từ khi xuất hiện Lục Vân Tiên truyện đã làm chao đảo tâm trí người đọc,
mọi người đều say mê Vân Tiên, xem đó là một tấm gương, một đạo lý sống để noi
theo Truyện đề cao đức, hạnh, thủy chung, tiết, nghĩa là một tác phẩm có giá trị lớn vềnhiều mặt
Truyện Nôm xuất hiện khá sớm trong nền văn học trung đại, nhưng phát triểnrực rỡ và thành công nhất là vào khoảng thế kỷ XVIII, thế kỷ XIX Đến giai đoạn nửacuối thế kỷ XIX do được kế thừa những thành công từ trước, kết hợp với sự sáng tạoNguyễn Đình Chiểu sáng tác ra một tác phẩm tên tuổi làLục Vân Tiên truyện một tác
phẩm mở đầu cho truyện Nôm ở Nam Bộ phát triển Ở giai đoạn cuối cùng của truyệnNôm có rất nhiều tác phẩm được đánh giá cao trong đó có Lục Vân Tiên truyện Tuy
lời thơ không được đặc sắc nhưTruyện Kiều hay Hoa Tiên, nhưng đó cũng là một tác
phẩm có giá trị văn học cao và chính bởi vì lời văn giản dị, bình dân nên tác phẩmđược phổ cập ở mọi tầng lớp
Lục Vân Tiên truyện không những có sức ảnh hưởng ở thời đại của nó, mà nó
còn có sức ảnh hưởng đến thời đại của chúng ta Trải dài theo suốt hành trình lịch sử
đã có rất nhiều các nhà nghiên cứu tìm hiểu và khai thác các giá trị của nó Rất nhiềucông trình nghiên cứu được in thành sách và bán rất chạy, có một số quyển sách chỉtập trung nghiên cứu về tác giả Nguyễn Đình Chiểu hoặc riêng về tác phẩm, có quyểngộp cả hai phần, dành cả chương hay tập hợp các bài nhận định, cảm nhận của nhiềunhà nghiên cứu Có lúc tình cờ đọc một quyển sách nào đấy chúng ta cũng hay bắt gặprãi rác đâu đó trong các công trình nghiên cứu một vài câu, vài đoạn hay vài trang bìnhluận về tác giả vàLục Vân Tiên truyện Ngay từ lúc Nguyễn Đình Chiểu còn sống, Lục Vân Tiên truyện đã được đông đảo công chúng đón nhận, yêu thích Lúc đầu truyện
Trang 31được truyền bá sâu rộng ở vùng đất Nam Bộ, về sau tác phẩm được công chúng miềnBắc đón nhận, kể từ đó các bảnVân Tiên lần lượt ra đời Vì thế tác phẩm có rất nhiều
dị bản Đến khi tác giả qua đời, các bảnVân Tiên lại càng được quan tâm, làm thế nào
để có được bản Vân Tiên gần với nguyên tác của tác giả là vấn đề nan giải đặt ra cho
các nhà nghiên cứu
Lục Vân Tiên truyện có thể xem là tác phẩm đầu tiên của Nguyễn Đình chiểu
khi ông bước chân vào sự nghiệp sáng tác, Chẳng những tác phẩm có giá trị về nộidung và nghệ thuật mà nó còn có sức ảnh hưởng lớn về mặt chữ viết ở Nam Bộ, cácnhà nghiên cứu từng khẳng định “Nguyễn Đình Chiểu là một trong những nhà thơ đầu tiên ở Nam Bộ đã dùng chữ Nôm làm phương tiện sáng tác chủ yếu, để lại một khối lượng thơ văn khá lớn và rất quý báu” [20; Tr.392] Vì thế “Lục Vân Tiên là một đột biến quan trọng Cùng với Lục Vân Tiên, truyện thơ Nôm chính thức trở thành một thể loại ổn định ở Nam Bộ; và với Nguyễn Đình Chiểu giai đoạn phát triển rực rỡ nhất ở truyện thơ Việt Nam chấm dứt Những trái chín của vụ mùa truyện thơ Nôm đã thu hoạch ở miền Nam” [34; tr.487] Một tác phẩm bắt đầu cho truyện Nôm ở Nam Bộ
nhưng lại kết thúc cho một giai đoạn phát triển của truyện Nôm Việt Nam Quả thật,đây là một tác phẩm đóng vai trò quan trọng cho một giai đoạn phát triển của truyệnNôm
Kể từ khi Lục Vân Tiên truyện xuất hiện, các tác phẩm dân gian của Nam Bộ
cũng bắt đầu hình thành Nền văn học Nam Bộ đã có một số loại hình nghệ thuật như:
ca dao, dân ca, hò, chèo, Trong một thời gian khá dài khoảng từ đầu thế kỷ XX đếnnay,Lục Vân Tiên truyện đã trở thành nội dung diễn xướng dân gian với các loại hình
nói thơ, hò vè, “Carabộ” trong sinh hoạt văn hóa dân gian quần chúng và đề tài LụcVân Tiên, Kiều Nguyệt Nga sớm thể hiện trên sân khấu ca kịch cải lương khi bộ mônnày vừa mới xuất hiện trên kịch trường Nam Bộ
VớiLục Vân Tiên truyện Nguyễn Đình Chiểu đã trở thành nhà thơ của vùng đất
Nam Bộ và không còn xa lạ với độc giả cả nước Tác phẩm là một dấu ấn quan trọngtrong nền văn học Nam Bộ, là một trong những viên gạch đầu tiên xây dựng nênTruyện Nôm ở Nam Bộ phát triển Với toàn bộ sáng tác của mình “Nguyễn Đình Chiểu đã góp phần quyết định nâng vùng văn học Nam Bộ lên ngang tầm phát triển chung của văn học dân tộc” [34; Tr.379].
Trang 32Chữ Nôm ra đời là một bước ngoặc phát triển và có ý nghĩa vô cùng to lớn chonền văn hóa của dân tộc ta, có thể xem đây là một thứ chữ riêng được tạo ra từ quátrình tìm tòi, sáng tạo của ông cha ta từ xưa Chữ Nôm được hình thành khi nào? Do aisáng chế ra? Đến nay vẫn chưa có câu trả lời thống nhất cho câu hỏi này, chúng ta chỉbiết chữ Nôm “Thể hiện được ý thức tự lực, tự cường, niềm tự hào của dân tộc trong quá trình sáng tạo, tìm tòi ra một thứ văn tự riêng để lưu giữ, bảo tồn những giá trị truyền thống văn hóa, lịch sử của dân tộc Việt Nam” [21; tr.1] Khi chữ Nôm xuất hiện
đã giải quyết được nhu cầu về chữ viết, lúc đầu người ta dùng chữ Nôm để thay thếcho những chữ Hán không có Chủ yếu là để ghi lại tên người, tên đất, tên động thựcvật vào bia đá…khi mà đời sống xã hội phát triển nhu cầu ngày càng cao hơn, người tađòi hỏi phải có một thứ chữ viết riêng cho dân tộc, thế là chữ Nôm được sử dụng rộngrãi trên nhiều lĩnh vực: sáng tác văn chương, nghiên cứu lịch sử, văn hóa…
Sau đây là một số giả thuyết xuất hiện của chữ Nôm: Theo Phạm Hổ, chữ Nôm
có từ thời Hùng Vương (2879 – 258 TCN); một số các tác giả khác như Pháp Tính,Văn Đa Cư Sĩ (Nguyễn Văn San) cho rằng chữ Nôm có từ thời Sĩ Nhiếp; Lê Giang,Nghiêm Toản cho rằng chữ Nôm có từ thời nước ta bị phong kiến thống trị; Một sốhọc giả khác như Dương Quảng Hàm, Nguyễn Văn Tố cho rằng chữ Nôm xuất hiện từthế kỷ VIII; Một số người đặc biệt là học giả nước ngoài Cadiéu Pelliot, Maspéro chorằng có từ đời Trần (thế kỷ XIII) Vận dụng tất cả các cứ liệu cần thiết để đưa ra giảthuyết Bửu cầm trong bài “Nguồn gốc chữ Nôm” cho rằng chữ Nôm manh nha vàocuối thế kỷ VIII, đầu thế kỷ X rồi hình thành để vào triều đại nhà Lý và thịnh hành vàotriều đại nhà Trần
Theo Nguyễn Ngọc San: “Chữ Nôm hoàn toàn sử dụng các kí tự chữ Hán chứ không dùng một kí tự phi Hán nào, điều ấy làm cho chữ Nôm hoàn toàn giống chữ Hán về mặt loại hình” [28; tr.21] Chữ Nôm có nguồn gốc từ chất liệu chữ Hán, là một
tập hợp các kí hiệu hình để diễn tả cho các từ tiếng Việt, dựa trên khuôn mẫu có sẵncủa chữ Hán, người ta vay mượn hoặc sáng tạo ra thứ chữ riêng Tuy nhiên, chữ Nômvẫn giữ được đặc trưng chữ biểu ý của chữ Hán
Xét về cách đọc chữ Nôm, theo Vũ Văn Kính: “Chữ Nôm được viết theo cách phát âm của ta nên một số những tác phẩm Nôm miền Nam có những chữ cũng viết theo phát âm đó” [16; tr.28] Một số âm phát ra ở Nam Bộ có sự khác hơn so với âm
Trang 33chung, và trong cách viết chữ Nôm cũng thế Sau đây làlược đồ lối đọc chữ Nôm miền Nam khác với chữ Nôm chung của Vũ Văn Kính biên soạn lại:
• Những chữ Nôm mang âm có phụ âm đầu: H→Q; D, Gi→V; V→ D,Gi
• Những chữ Nôm mang âm có phụ âm cuối: c→t; t→c; n + g, h; ng - g,
nh - h
• Những chữ Nôm mang âm có nguyên âm: a→oa; oa→a; o→u; u→o;i→y; y→i; uy→i; i→uy
• Những chữ Nôm mang âm có dấu: [ ˜ ] → [ ]; [ ] →[ ˜ ]
Về cấu tạo, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều ý kiến khác nhau nhưng nhìnchung thì đó chỉ là cách khác biệt về tên gọi, số lượng các tiểu loại và cách gọi tên cáctiểu loại Chúng tôi xin giới thiệu cách phân loại như sau:
* Đầu tiên đó là loại chữ mượn Hán: là những chữ được tạo ra bằng cách mượnnguyên hình chữ Hán có sẵn để ghi âm tiếng Việt Kiểu chữ này có ba loại, một làmượn cả âm lẫn nghĩa, hoặc chỉ mượn âm, hoặc chỉ mượn nghĩa Đối với những chữnày có nhiều cách đọc khác nhau, có thể đọc theo:
- Mượn cả âm lẫn nghĩa: có thể đọc theo âm Hán Việt, đọc âm Hán Việt cổhoặc đọc theo âm Hán Việt Việt hóa
VD: chữ 才 đọc là Tài, chữ 符 đọc là Bùa, chữ 邊 đọc là Bên, ven,…
- Mượn âm: loại này gồm có mượn âm Hán Việt, mượn âm Hán Việt cổ, mượn
âm Hán Việt Việt hóa Có hai cách đọc với loại này là đọc chính xác và đọc chệch âm
VD: chữ 埃 đọc là Biết, chữ 房 đọc là Buồng, chữ 油 đọc là Dầu,…
- Chữ mượn nghĩa: dùng một chữ Hán sẵn có đọc theo một âm thuần Việt biểuthị nghĩa của chữ ấy để thay thế âm vốn có của nó Âm thuần Việt này không có liênquan gì đến âm Hán Việt
VD: chữ 粘 Âm Hán Việt đọc là Niêm, Âm Nôm đọc là Dính
* Loại chữ sáng tạo: loại chữ này do người viết sáng tạo ra dựa trên những quytắc cấu tạo chung, loại này được chia thành hai loại biểu âm và biểu ý
- Biểu âm: kiểu chữ gồm hai thành tố là hai chữ Hán biểu âm, kiểu chữ gồmhai thành tố là một âm Hán và một âm Nôm đều biểu âm, kiểu chữ gồm một thành tốchính là một chữ Hán biểu âm và một thành tố phụ là các kí hiệu phụ để chỉnh âm,kiểu chữ cấu tạo theo lối phiên thiết, kiểu chữ lược nét để chỉnh âm
VD: chữ Long 龍 được lược nét đi thành 竜 nhưng vẫn đọc là Long
Trang 34- Biểu ý: kiểu chữ này gồm hai thành tố đều biểu ý Bao gồm các tiểu loại: kiểuchữ gồm hai thành tố là chữ Hán đều biểu ý, kiểu chữ gồm một bộ thủ biểu ý và mộtchữ Hán biểu ý, kiểu chữ gồm một chữ Hán có thêm nét để biểu ý.
VD: chữ Nho 伩 gồm bộ nhân 亻 biểu ý và chữ Văn 文 biểu ý
- Vừa biểu âm, vừa biểu ý: đây là kiểu chữ gồm hai thành tố, một thành tố biểu
ý và một thành tố biểu âm Loại này bao gồm các tiểu loại sau: kiểu chữ gồm hai thành
tố (một bộ thủ biểu ý và một (1/2) chữ Hán biểu âm), kiểu chữ gồm một chữ Hán biểu
ý và một (hay 1/2) chữ Hán biểu âm, kiểu chữ gồm một bộ thủ biểu ý cộng với mộtchữ Nôm biểu âm
VD: chữ Cười 唭 gồm có bộ khẩu 口 biểu âm và chữ kì 其 biểu ý
Trong văn học, chữ Nôm đóng vai trò rất quan trọng vì chữ Nôm là loại chữ cóthể ghi âm đọc và đối với những chữ không có thì người viết có thể sáng tạo ra chữmới Đây cũng là một đặc điểm nổi bật của chữ Nôm so với chữ Hán, nhưng đôi khiđặc điểm này lại gây trở ngại lớn đến người đọc Do có sự sáng tạo làm người đọc thấymập mờ khi không hiểu hết nghĩa của những chữ ấy Như vậy, nguyên tắc chung trongcách viết chữ Nôm xuất hiện, để khắc phục được nhược điểm này của chữ Nôm Vàngười viết cũng ý thức được phải viết như thế nào cho người đọc dễ hiểu, muốn đạtđược điều đó thì cái ngôn ngữ họ sử dụng phải bắt nguồn từ cái ngôn ngữ toàn dân.Nhưng do thói quen nói năng hằng ngày mà các tác giả vẫn sử dụng cái phương ngữđịa phương vào trong văn chương Tuy nhiên, đến với người đọc thì cái ngôn ngữ ấyvẫn có thể hiểu được, bởi vì đây là sự khác nhau lớn của các vùng miền trên đất nước
Vì vậy, có thể dễ dàng nhận ra Tiêu biểu Lục vân Tiên truyện, mặc dù là một tác giả
lớn nhưng trong tác phẩm của mình Nguyễn Đình Chiểu vẫn sử dụng vốn từ ngữ địaphương, nhưng không vì vậy tác phẩm mất đi giá trị của nó mà nó còn tạo được nétđộc đáo và gần gũi với nhân dân Nam Bộ
1.3.2.
1.3.2 Đặ Đặ Đặcccc đ đ điiiiểểểểm m m ch ch chữ ữ ữ N N Nô ô ôm m m Nam Nam Nam B B Bộ ộ ộ trong trong L Lụ ụ ụcccc V V Vâ â ân n n Ti Ti Tiêêêên n n truy truy truyệệệện n
Chữ Nôm là một sáng tạo độc đáo của nước ta, nó dựa trên chất liệu chữ Hán đểghi âm tiếng nói của người Việt nhưng khác với chữ Hán, chữ Nôm chú trọng cáchđọc hơn là chú trọng phần nghĩa “Ngay từ bước xuất hiện đầu tiên nó đã chú ý ngay đến phần âm mà chỉ sử dụng các phần khác phục vụ cho cách đọc âm được chính xác hơn” [28; tr.25] Lãnh thổ nước ta từ xưa đã chia thành các miền rõ rệt, do sự khác biệt
Trang 35về địa lí, xã hội, lịch sử…cũng ảnh hưởng đến âm đọc của từng vùng nên có thể cũng
là một âm có cùng nghĩa nhưng mỗi miền sẽ có cách phát âm khác nhau và đó chính làngữ âm địa phương Khi xem xét về chữ viết thì đều này thể hiện rất rõ, đặc biệt là cấutạo của chữ Nôm bởi vì chữ Nôm luôn ghi lại chính xác âm phát ra của từng địaphương, vì vậy rất dễ dàng nhận ra cách phát âm của Nam Bộ so với các vùng khác.Nguyễn Đình Chiểu là một nhà thơ của vùng đất Nam Bộ, và Lục Vân Tiên truyện là
một tác phẩm mang nhiều đặc trưng của Nam Bộ trong đó có chữ viết Để hiểu đượctác phẩm một cách gần nghĩa của nó nhất thì không thể bỏ qua sự khác biệt này nhất là
về âm đầu, âm cuối và thanh điệu Tuy nhiên, khi chứng minh cho sự khác nhau nàychúng tôi chỉ xét một vài trường hợp để chứng minh, chứ không khảo sát toàn bộ tácphẩm
1.3.2.1.
1.3.2.1 V V Vềềềề â â âm m m đầ đầ đầu u
Âm đầu là một thành tố khi kết hợp với âm đệm, vần, thanh điệu thì sẽ tạothành từ, một đơn vị cơ bản của ngôn ngữ Nguyễn Đình Chiểu là một trong nhữngnhà thơ lớn, với kiến thức uyên bác của mình thì cái ngôn ngữ hằng ngày của ngườiNam Bộ ông rất am tường, có lẽ đó mà trongLục Vân Tiên truyện vẫn còn lưu lại cách
phát âm ấy Hiện tượng không phân biệt giữa ba phụ âm v, gi, d chính là điểm đầu tiênkhi nói đến sự khác biệt giữa cách phát âm theo ngôn ngữ địa phương trong tác phẩm
so với cái ngôn ngữ chung của toàn dân Tuy nhiên, trường hợp này không nhiều trongvăn bản NômLục Vân Tiên truyện:
- “Bốn người ngồi lại một vvvvò ò òng ng ng làm thơ.” (Câu 476)
Chữ vòng 妄 đã bị viết thành chữ dòng
Chữ “dòng” (sử dụng bộ thủy và yếu tố Hán Việt biểu âm là dụng) để ghi âm
“vòng” Trong hai câu thơ này có thể hiểu với nghĩa là bốn sĩ tử gồm: Tiên, Trực, Hâm,Kiệm ngồi lại thành một vòng tròn để cùng nhau thi tài làm thơ Còn với chữ “Dòng”thì câu thơ không còn ý nghĩa như vậy nữa mà nó còn trở nên vô nghĩa, rõ ràng vớicách viết như vậy thì tác giả đã ghi lại đúng cái âm đọc của người Nam Bộ Giữa “d”
và “v” không có sự phân biệt Tương tự như vậy, lối phát âm của người địa phươngnơi đây cũng không phân biệt giữa “gi” và chữ “d”:
- “Cùng nhau đều chẳng d d dá á ám m m hô” (Câu 1481)
- “Tôi đâu d d dá á ám m m cãi lời này” (Câu 1607)
Chữ dám 敢 viết thành giám 监
Trang 36Chữ “dám” ở hai câu này có nghĩa là không dám làm, không dám cải lại Khichữ này viết thành chữ “giám” thì câu sẽ trở nên vô nghĩa
“Trực lòng nghĩ lượng một hồi gi gi giâ â âyyyy lâu” (Câu 1690)
Chữ giây 之 viết thành dây 絏
Chữ “giây” ở câu này có nghĩa là thời gian, còn khi bị viết thành “dây” thì cónghĩa là sợi dây Đối với câu này khi bị viết như thế thì câu thơ trở nên mập mờ nétnghĩa, có lúc lại trở nên vô nghĩa
Lối nói này chỉ có ở Nam Bộ, do âm /v/ được thay thế bằng âm /z/ (chính tả ghicác phụ âm này là d, gi) đều này được thể hiện rất rõ trong Lục Vân Tiên truyện.
Những ví dụ ở trên đã chững minh rằng, mặc dù là một trong những tác giả lớn có tầmhiểu biết rộng nhưng Nguyễn Đình Chiểu vẫn bị ảnh hưởng cách đọc của địa phương,cho nên ông bị nhằm lẫn giữa các phụ âm đầu này Và cũng vì thế mà Lục Vân Tiên truyện trở nên đặc sắc và gần gũi với nhân dân.
Bên cạnh những biến thể về âm đầu, chúng ta còn thấy một hiện tượng khá phổbiến trong cách dùng từ ở Nam Bộ Đó là lớp từ ngữ địa phương “Trong kho từ vựng tiếng Việt vốn có một lớp từ gọi là từ địa phương (thuật ngữ ngôn ngữ học còn gọi là phương ngôn, phương ngữ) Đây là những cách nói riêng tồn tại và được sử dụng hạn chế trong một vùng, một giới hạn không gian nhất định, nó mang những nét khác biệt
so với ngôn ngữ toàn dân hoặc với địa phương khác” [46] Nhiều khi do thói quen
trong cách nói năng hằng ngày, mà khi đi vào trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu vẫn
sử dụng cái lớp từ này Sau đây là ví dụ về lớp từ địa phương biến thể từ các âm đầutrong văn bản Nôm Lục Vân Tiên truyện tạo thành những từ mang tính chất đặc thù
của địa phương:
Phụ âm đầu cũng nằm trong các yếu tố tạo nên sự khác biệt trong cách đọc chữNôm ở Nam Bộ Sự lẫn lộn các phụ âm đầu là một trong những hiện tượng phổ biến ở
Trang 37vùng đất Nam Bộ, nhưng cũng chính sự lẫn lộn này tạo ra nét đặc trưng riêng trong
Lục Vân Tiên truyện Do vậy, tác phẩm trở nên độc đáo và gần gũi với nhân dân Nam
Bộ hơn
1.3.2.2.
1.3.2.2 V V Vềềềề â â âm m m cu cu cuố ố ốiiii
Âm cuối có đặc điểm là nó kết hợp với nguyên âm chính (yếu tố đứng trước nó)
để tạo thành vần Sẽ dễ dàng nhận ra được sự khác biệt này giữa cách phát âm củangười Nam Bộ và cách phát âm của người Bắc Bộ, Trung Bộ Đối với các phụ âm cuối-c thành -t, -t thành -c, hay -n thành -ng và -ng thành -n hiện tượng này thường phổbiến nhất trongLục Vân Tiên truyện.
● Trước nhất, nói đến hiện tượng -t thành -c, hiện tượng này tương đối nhiềunhưng chúng tôi chỉ xét một vài trường hợp để chứng minh:
- “Ai từng bán đắ đắ đắtttt mà ngồi chợ trưa” (Câu 1550)
Chữ đắt 坦 đã bị viết thành chữ đắc 得
Chữ “đắc” có nghĩa là đắc chí hay đắc đạo, khi viết chữ này trong văn bản thìnghĩa của câu thơ trở nên hỗn độn khó hiểu Nếu viết đúng phải là chữ “đắt”, có nghĩa
là bán hết số hàng hóa trong thời gian ngắn
- “Áp vào b b bắ ắ ắtttt mẹ con nàng” (Câu 2079)
- “Đừng đừng b b bắ ắ ắtttt chước Quỳnh Trang” (Câu 2087)
Chữ bắt 扒 đã bị viết thành chữ bắc 北
Chữ “bắt” mới có nghĩa là bắt lấy mẹ con của Quỳnh Trang và đừng làm theohai mẹ con này, giống như một lời khuyên răn Còn đối với từ “bắc” có nghĩa làphương Bắc, ở miền Bắc
● Hiện tượng -c thành -t, phần này chúng tôi xét trường hợp sau để chứng minhcho cách đọc theo kiểu phát âm trong Nam Bộ:
- “Trải qua mấy dặm bi bi biếếếếcccc ngàn” (Câu 2003)
Chữ biếc 硷 đã bị viết thành chữ biết 別
Chữ “biếc” được viết ở câu trên mang nét nghĩa là xanh biếc hay nước biếc.Nghĩa là Nguyệt Nga vượt qua một quảng đường rất xa, qua núi, qua đèo để về viếngcha Còn chữ “biết” mang nét nghĩa về sự hiểu biết Đối với câu này thì chúng takhông thể hiểu theo nghĩa là Nguyệt Nga có sự hiểu biết về đường sá xa xôi mà phảihiểu theo “biếc” nghĩa là nàng đã trải qua khoảng cách về địa lí để về nhà
Trang 38● Một hiện tượng cũng khá phổ biến đó là -n thành -ng, đối với phần này chúngtôi sẽ xét các trường hợp sau:
- “Ban Ban Ban mai ngàn dặm đăng trình mới an” (Câu 48)
Chữ ban 半 viết thành bang 邦
Chữ “ban” chỉ khoảng thời gian đêm hay ngày, còn chữ “bang” là một đơn vịhành chính của đất nước Câu trên có nghĩa là rạng sáng vân Tiên sẽ hỏi lại những việc
mà thầy nói, rồi lên đường mới an dạ
- “Vân Tiên còn hãy giấc nòng mê man man man” (Câu 1094)
Chữ man 漫 đã bị viết thành chữ mang 忙
Chữ “man” có nghĩa là lan man, tức là lúc này Vân Tiên vẫn còn trong sự mêman, chẳng biết gì Còn chữ “mang” được hiểu với nghĩa hoang man Nếu xét theonghĩa của câu trên thì từ “mang” là không đúng, bởi trong giấc ngủ thì làm sao có sựhoang man được
● Hiện tượng -ng bị viết thành –n:
- “Hâm rằng: Lão quán nói nh nh nhă ă ăng ng ng” (Câu 539)
Chữ nhăng 仍 đã bị viết thành chữ nhăn 絪
Chữ “nhăn” trong câu này có thể hiểu là lão Quán đang nói lăng nhăng, nghĩa lànói nhiều chuyện không hiểu gì hoặc là không đúng sự thật Còn chữ “nhăn” trongcách phát âm của người Nam Bộ có thể hiểu là nhăn mặt, nghĩa là vừa nói vừa nhănmặt
- “Vì chưng ma quỉ lộ trình rất thi thi thiêêêêng ng ng” (Câu 762)
Chữ thiêng 聲 đã bị viết thành chữ thiên 千
Chữ “thiêng” này được hiểu với nét nghĩa là linh thiêng, còn từ “thiên” trongcách phát âm của người Nam Bộ được hiểu với nghĩa là trời
- “Ân tình ccccà à àng ng ng kể ccccà à àng ng ng ưa” (Câu1853)
Chữ càng 強 đã bị viết thành chữ càn 乾
Ở hiện tượng âm cuối này các âm cuối -n, -ng hay -t, -k (chính tả ghi chữ này là-c) rất dễ bị lẫn lộn với nhau Hiện tượng này này xảy ra ở Nam Bộ bởi vì nơi đây có
sự hòa hợp của các dân tộc khác nhau cùng sinh sống nên những phụ âm này khi viết
có thể bị ảnh hưởng bởi âm đọc, và cũng rất có thể do ảnh hưởng bởi tiếng Hán củangười Hoa khi di cư sang
Trang 39Ở mỗi vùng đều có những từ riêng mang đặc trưng của vùng đó, những từ ngữnày có nét riêng biệt bị ảnh hưởng từ trong cách sinh hoạt văn hóa của mỗi vùng Nam
Bộ là vùng đất nằm trên luồng giao lưu của nhiều nền văn hóa khác nhau: Hoa, Chăm,Khmer…do đó người ở vùng đất này có điều kiện tiếp thu nhiều lớp từ ngữ phong phú,kết hợp với sự sáng tạo tạo thành lớp từ ngữ riêng của họ Như đã nói ở phần âm đầu,những từ ngữ đặc thù được biểu hiện qua lời ăn tiếng nói, sử dụng thông dụng hằngngày từ những người Nam Bộ chính là lớp từ địa phương Đó là những từ ngữ chỉ có ởvùng đất Nam Bộ mà ở những vùng khác không có Lớp từ này rất đa dạng và phongphú, không chỉ được biểu hiện ở âm đầu mà trong văn bản Nôm Lục Vân Tiên truyện
còn được thể hiện ở âm cuối Chúng tôi xin nêu ra một vài trường hợp để chứng minhcho lớp từ này:
- Bỉ bàng : 彼 盘
“B B Bỉỉỉỉ b b bà à àng ng ng trà rựu vừa xong,
Bốn người ngồi lại một vòng làm thơ.”
(Câu 475 – 476)
Bỉ bàng: có nghĩa là như sẵn sàng Bốn chàng thư sinh sau khi đã mệt nhòa vìhành trình vất vả, họ cùng nhau tìm một quán bên đường ăn uống xong ngồi lại mộtvòng cùng nhau thi tài thi văn
- Nhộn nhàng: 閏閑
“Mặt trời vừa khỏi mái hiên,
Kẻ buôn người bán chợ phiên nh nh nhộ ộ ộn n n nh nh nhà à àng ng ng”
(Câu 115 – 116)Nhộn nhàng: có nghĩa như nhộn nhịp Sau khi thoát nạn Tiểu Đồng liền chạy đitìm chủ Lúc này, trời đã trưa đến chỗ cũ nhưng chẳng thấy thầy đâu chỉ thấy cảnhnhộn nhịp của chợ phiên
Đây là những từ lái với tính chất là động từ, tính từ, trạng từ, phó từ được tácgiả dùng trong Lục vân Tiên truyện để diễn tả lại một hành động, cử chỉ hay tính chất
nào đó bắt nguồn từ những lời nói hằng ngày
Do thói quen sử dụng những từ ngữ của địa phương mà đi vào thơ văn củaNguyễn Đình Chiểu cũng có lớp từ ngữ này, nó được biểu hiện qua những âm cuối khitrong cách phát âm Lớp từ địa phương trên góp phần làm giàu cho kho tàng ngôn ngữdân tộc thêm phong phú Bên cạnh đó, những chữ Nôm mang tính chất đặc thù địa
Trang 40phương này đã khẳng định được tác phẩm Lục Vân Tiên truyện mang đậm chất Nam
Bộ
1.3.2.3.
1.3.2.3 V V Vềềềề thanh thanh thanh đ đ điiiiệệệệu u
Trong việc phân định tiếng nói của các vùng thanh điệu cũng đóng vai trò rất quantrọng, nhờ vào cách phát âm này mà người ta có thể dễ dàng nhận ra người đó đến từđâu trong ba miền của đất nước Mỗi vùng sẽ có hệ thống thanh điệu riêng, ở Bắc Bộ
hệ thống thanh điệu bao gồm sáu thanh (không, huyền, hỏi, ngã, sắc, nặng) MiềnTrung Bộ thì không phân biệt giữa thanh ngã với thanh nặng, đặc biệt ở Nam Bộ thìkhông phân biệt giữa thanh hỏi và thanh ngã Tuy nói thanh điệu là một trong nhữngphần cấu tạo nên đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, nhưng thật chất khi đi vào trong văn bảnthì thanh điệu là phần ít phức tạp nhất Mặc dù, ít phức tạp nhưng vẫn bị nhằm lẫn, đặcbiệt là trong chữ Nôm Nam Bộ, khi ghi lại cách phát âm của địa phương thì phầnthanh điệu này hầu như bị nhằm lẫn giữa dấu hỏi và dấu ngã Có lẽ người viết chữNôm cũng rất dễ chăm chước phần thanh điệu này Để chứng minh điều này thì chúng
ta có thể xét trong phần văn Bản chữ NômLục Vân Tiên truyện.
● Trước nhất xét trường hợp dấu [ ] thành dấu ngã [ ˜ ]
- “Dắt vào hang tối b b bỏ ỏ ỏ đành Vân Tiên” (Câu 1060)
- “Đem vào lại b b bỏ ỏ ỏ trong hang Thương Tòng” (Câu 2080)
Chữ bỏ 補 bị viết thành chữ bõ 捕
Chữ “bỏ” được hiểu là bỏ mặc, không quan tâm mặc kệ sự sống chết, còn từ “bõ”khi bị viết thành như vậy mất đi nghĩa gốc của nó
- “Xin dừng gót bước ng ng ngỏ ỏ ỏ trao một lời” (Câu 100)
- “Kêu nhau đứng lại ng ng ngỏ ỏ ỏ qua một lời” (Câu 102)
Chữ ngỏ 吘 viết thành ngõ 午
Chữ “ngỏ” bao gồm bộ khẩu 口 biểu ý và chữ ngọ 午 biểu âm, tức là thuộc vềlời nói Còn “ngõ” khi đặt vào trong câu văn thì nó mang nét nghĩa là đường đi
● Trường hợp dấu [ ˜ ] thành dấu [ ]
- “Đồng rằng: chút n n nữ ữ ữa a a khỏi rừng” (Câu 855)
Chữ nữa 女 viết thành chữ Nửa 姅
Chữ “nữa” ở đây là đi thêm một chút sẽ rời khỏ rừng, chứ không phải chữ
“nửa” một nữa Chữ nữ 女 biểu âm và chữa bán 半 biểu ý đã được ghi âm lại theocách đọc của người Nam Bộ “nữa”