TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ VIỆN NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ SINH HỌC LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH VI SINH VẬT HỌC ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẤT HỮU CƠ LÊN SỰ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ VIỆN NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ SINH HỌC
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH VI SINH VẬT HỌC
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẤT HỮU CƠ LÊN
SỰ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG
CÂY ĐẬU BẮP (ABELMOSCHUS ESCULENTUS L.)
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN:
NGUYỄN HỮU HIỆP
SINH VIÊN THỰC HIỆN:
THẠCH THỊ HỒNG LINH MSSV: 3103961
LỚP: VI SINH VẬT HỌC K36
Cần Thơ, Tháng 11/2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ VIỆN NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ SINH HỌC
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH VI SINH VẬT HỌC
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẤT HỮU CƠ LÊN
SỰ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG
CÂY ĐẬU BẮP (ABELMOSCHUS ESCULENTUS L.)
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN:
PGs Ts NGUYỄN HỮU HIỆP
SINH VIÊN THỰC HIỆN:
THẠCH THỊ HỒNG LINH MSSV: 3103961
LỚP: VI SINH VẬT HỌC K36
Cần Thơ, Tháng 11/2013
Trang 3CÁN BỘ HƯỚNG DẪN SINH VIÊN THỰC HIỆN
(ký tên) (ký tên)
DUYỆT CỦA HỘI ĐỒNG BẢO VỆ LUẬN VĂN
………
………
………
………
………
Cần Thơ, ngày tháng năm 2013
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
(ký tên)
Trang 4- -
Đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn cha mẹ và gia đình, những người đã sinh thành, nuôi dưỡng, động viên và hỗ trợ tôi về mọi mặt trong suốt quá trình học tập, thực hiện và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
PGs.Ts Nguyễn Hữu Hiệp đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kinh nghiệm và đóng góp ý kiến quý báu trong suốt quá trình tôi thực hiện và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Anh Huỳnh Xuân Phong, Nguyễn Ngọc Thạnh - Cán bộ phòng thí nghiệm Vi sinh thực phẩm; chị Nguyễn Thị Thúy Duy và chị Trần Trà My – Cán bộ phòng thí nghiệm Vi sinh vật đất, Viện Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Sinh học, trường Đại học Cần Thơ đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài
Tất cả quý thầy cô đã tận tình dạy dỗ tôi trong suốt thời gian học tập tại trường Đại học Cần Thơ, cám ơn các thầy cô của Viện Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Sinh học đã truyền đạt cho tôi nhiều kiến thức bổ ích trong quá trình theo học tại trường
Chân thành cảm ơn cô Nguyễn Thị Pha - Cố vấn học tập lớp Vi Sinh Vật Học, khóa 36 - Trường Đại học Cần Thơ và cùng tất cả các bạn đã quan tâm, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, thực hiện và hoàn thành luận văn này
Kính chúc cha mẹ, quý thầy cô, các anh chị và bạn bè luôn dồi dào sức khỏe Chúc thầy cô, các anh chị thành đạt trên nhiều lĩnh vực, luôn có cống hiến quý báu trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo
Xin chân thành cảm ơn với tất cả lòng trân trọng!
Cần Thơ, ngày 18 tháng 11 năm 2013
Thạch Thị Hồng Linh
Trang 5TÓM LƢỢC
Đậu bắp là loại rau phổ biến trong các bữa ăn hàng ngày của gia đình người Việt Đậu bắp thích hợp phát triển trên nền đất giàu hữu cơ nhưng nông dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long lại có thói quen sử dụng quá nhiều phân khoáng trong quá trình canh tác thay vì sử dụng phân hữu cơ Do đó, đề tài “Ảnh hưởng của đất hữu cơ lên sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng của cây đậu bắp (Abelmoschus esculentus L.)” đã được thực hiện nhằm xác định ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh kết hợp phân khoáng và cơ chất hữu cơ lên sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng của cây đậu bắp Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 8 nghiệm thức với 4 lần lặp lại Kết quả thí nghiệm cho thấy nghiệm thức có sử dụng phân hữu cơ vi sinh kết hợp với phân khoáng và bùn ao cá tra cho năng suất và năng suất thương phẩm cao nhất và cao gấp 27,45 lần (năng suất), 9 lần (năng suất thương phẩm) so với nghiệm thức chỉ sử dụng cơ chất hữu cơ; cao gấp 1,79 lần (năng suất), 1,41 lần (năng suất thương phẩm) so với nghiệm thức chỉ sử dụng phân khoáng; cao gấp 12,51 lần (năng suất), 5,17 lần (năng suất thương phẩm) so với nghiệm thức chỉ
sử dụng phân hữu cơ vi sinh Sử dụng phân hữu cơ vi sinh kết hợp với phân khoáng và
cơ chất hữu cơ đã tiết kiệm được 33,33% lượng phân khoáng so với nghiệm thức bón thuần phân khoáng và làm tăng năng suất, đặc biệt là năng suất thương phẩm của cây đậu bắp Đồng thời việc sử dụng cơ chất hữu cơ (bùn ao cá tra) góp phần tiết kiệm được 33,33% phân hữu cơ vi sinh và làm tăng độ Brix của trái đậu bắp
Từ khóa: bùn ao cá tra, đất hữu cơ, đậu bắp, năng suất, năng suất thương phẩm, phân
khoáng.
Trang 6MỤC LỤC
Trang PHẦN KÝ DUYỆT
LỜI CẢM TẠ
TÓM LƯỢC
MỤC LỤC i
DANH SÁCH BẢNG vi
DANH SÁCH HÌNH vii
CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu đề tài 2
CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
2.1 Tình hình sản xuất rau ở Việt Nam 3
2.2 Hiện trạng canh tác cây đậu bắp 3
2.2.1 Hiện trạng canh tác cây đậu bắp trên thế giới 4
2.2.2 Hiện trạng canh tác cây đậu bắp ở Việt Nam 4
2.3 Nguồn gốc, đặc tính thực vật của cây đậu bắp 5
2.3.1 Nguồn gốc 5
2.3.2 Đặc tính thực vật 6
2.4 Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh 10
2.4.1 Ánh sáng 10
2.4.2 Ẩm độ và nước 10
2.4.3 Nhiệt độ 11
2.4.4 Đất trồng và dinh dưỡng 12
2.5 Kỹ thuật canh tác cây đậu bắp 12
Trang 72.5.1 Chuẩn bị đất 12
2.5.2 Thời vụ 12
2.5.3 Gieo trồng 13
2.5.4 Bón phân chăm sóc 14
2.5.5 Tưới nước 16
2.5.6 Thu hoạch 16
2.5.7 Tình hình sâu bệnh hại 17
2.6 Tổng quan về phân hữu cơ 20
2.6.1 Khái niệm phân hữu cơ 20
2.6.2 Các loại phân hữu cơ 21
2.7 Vai trò của phân hữu cơ trong sản xuất nông nghiệp 25
2.7.1 Vai trò của phân hữu cơ đối với đất 25
2.7.2 Vai trò của phân hữu cơ đối với cây trồng 27
2.7.3 Vai trò của phân hữu cơ trong sản xuất rau an toàn 27
2.8 Một số vấn đề gặp phải khi sử dụng phân hữu cơ 29
2.8.1 Khó khăn trong việc thương mại hóa vì chuyên chở khối lượng lớn dẫn đến giá thành cao 29
2.8.2 Cung cấp chất dinh dưỡng cho cây chậm 30
2.8.3 Chứa độc tố gây hại cây trồng 30
2.9 Vai trò của phân khoáng đối với cây rau 30
2.9.1 Vai trò của phân đạm 30
2.9.2 Vai trò của phân lân 30
2.9.3 Vai trò của phân kali 31
2.10 Bùn ao cá tra 31
2.10.1 Thành phần của bùn đáy ao nuôi cá tra 31
2.10.2 Vai trò của bùn ao cá tra trong sản xuất nông nghiệp 36
2.10.3 Khó khăn trong sử dụng bùn ao cá tra 37
Trang 82.10.4 Các biện pháp xử lý bùn ao cá tra 37
2.11 Than bùn 38
2.11.1 Khái niệm than bùn 38
2.11.2 Thành phần hóa học của than bùn 38
2.11.3 Vai trò của than bùn trong nông nghiệp 41
2.12 Đất hữu cơ 41
2.12.1 Khái niệm 41
2.12.2 Nguồn gốc chất hữu cơ 42
2.12.3 Vai trò của chất hữu cơ 42
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 44
3.1 Phương tiện 44
3.1.1 Thời gian và địa điểm 44
3.1.2 Nguyên vật liệu 44
3.2 Phương pháp 44
3.2.1 Bố trí thí nghiệm 44
3.2.2 Kỹ thuật canh tác 46
3.2.3 Chỉ tiêu theo dõi 48
3.3 Phân tích số liệu 49
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 50
4.1 Đặc tính đất, bùn ao cá tra và phân hữu cơ vi sinh trước thí nghiệm 50
4.1.1 Đất trước thí nghiệm 50
4.1.2 Bùn ao cá tra trước thí nghiệm 50
4.1.3 Phân hữu cơ vi sinh trước thí nghiệm 51
4.2 Chỉ tiêu sinh trưởng 51
4.2.1 Chiều cao cây 51
4.2.2 Số lá trên cây 53
Trang 94.2.3 Chiều dài trái 55
4.3 Chỉ tiêu về thành phần năng suất và năng suất 56
4.3.1 Trọng lượng trung bình trái 56
4.3.2 Năng suất tổng và năng suất thương phẩm 57
4.4 Một số chỉ tiêu về phẩm chất 59
4.4.1 Hàm lượng chất khô 59
4.4.2 Độ Brix của trái đậu bắp 60
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 61
5.1 Kết luận 61
5.2 Đề nghị 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
PHỤ LỤC……… Phụ lục 1: Các hình ảnh
1 Hình ảnh về chiều cao cây đậu bắp 16 ngày tuổi
2 Hình ảnh về cây và trái đậu bắp khi thu hoạch
Phụ lục 2: Bảng chỉ tiêu đánh giá
1 Thang đánh giá pH
2 Thang đánh giá hàm lượng chất hữu cơ trong đất
3 Thang đánh giá hàm lượng lân dễ tiêu trong đất
4 Thang đánh giá hàm lượng đạm tổng số trong đất
5 Thang đánh giá hàm lượng lân tổng số trong đất
6 Thang đánh giá EC
7 Thang phân chia theo cấp độ chua
8 Thang đánh giá hàm lượng đạm hữu dụng trong đất
9 Thang đánh giá K trao đổi
10 Thang đánh giá Ca trao đổi
11 Thang đánh giá Na trong đất
Phụ lục 3: Bảng số liệu thô
1 Bảng 21: Tăng trưởng của cây đậu bắp qua các giai đoạn khảo sát
2 Bảng 22: Chiều dài trái của cây đậu bắp khi thu hoạch
Trang 103 Bảng 23: Trọng lượng trái và trọng lượng trái thương phẩm ở mỗi
nghiệm thức
4 Bảng 24: Năng suất tổng và năng suất thương phẩm của trái đậu
bắp khi thu hoạch
5 Bảng 25: Hàm lượng chất khô và độ Brix của trái đậu bắp
Phụ lục 4: Kết quả thống kê
1 Kết quả thống kê về chiều cao của cây đậu bắp qua các giai đoạn khảo sát
2 Kết quả thống kê về số lá trên cây đậu bắp
3 Kết quả thống kê về số lá trên cây đậu bắp
4 Kết quả thống kê chỉ tiêu chiều dài trung bình của trái đậu bắp
5 Kết quả thống kê chỉ tiêu trọng lượng trung bình của trái đậu bắp
6 Kết quả thống kê chỉ tiêu trọng lượng trung bình của trái đậu bắp thương phẩm
7 Kết quả thống kê năng suất của trái đậu bắp
8 Kết quả thống kê năng suất thương phẩm của trái đậu bắp
9 Kết quả thống kê về hàm lượng chất khô của trái đậu bắp
10 Kết quả thống kê về độ Brix của trái đậu bắp
Trang 11DANH SÁCH BẢNG Trang
Bảng 1: Bảng dinh dưỡng của trái đậu bắp trong 100g phần ăn được 8
Bảng 2: Lượng phân nguyên chất cần cung cấp cho cây đậu bắp 15
Bảng 3: Một số loại sâu, bệnh hại trên cây đậu bắp và biện pháp phòng trừ 17
Bảng 4: Thành phần dinh dưỡng của phân chuồng 21
Bảng 5: Hàm lượng các nguyên tố vi lượng trong 10 tấn phân chuồng 21
Bảng 6: Hàm lượng đạm và lân trong một số cây phân xanh 22
Bảng 7: Thành phần hóa học của chất mùn trong than bùn 40
Bảng 8: Thành phần các vi sinh vật hiện diện trong phân hữu cơ vi sinh 44
Bảng 9: Công thức phân bón được quy đổi ở mỗi nghiệm thức 46
Bảng 10: Lượng phân bón sử dụng trong quá trình tiến hành thí nghiệm 47
Bảng 11: Lịch bón phân trong giai đoạn bón thúc 48
Bảng 12: Các chỉ tiêu về hóa tính của đất trước thí nghiệm 50
Bảng 13: Các chỉ tiêu về hóa tính của bùn ao cá tra trước thí nghiệm 50
Bảng 14: Hàm lượng dinh dưỡng của một số vi sinh vật khi phân ủ được chủng vi khuẩn cố định đạm và hòa tan lân 51
Bảng 15: Chiều cao cây đậu bắp trong thí nghiệm 53
Bảng 16: Số lá trên cây đậu bắp trong thí nghiệm 54
Bảng 17: Chiều dài trái đậu bắp trong thí nghiệm 56
Bảng 18: Trọng lượng trung bình trái đậu bắp và trọng lượng trung bình trái đậu bắp thương phẩm khi thu hoạch 57
Bảng 19: Năng suất tổng và năng suất thương phẩm của trái đậu bắp trong thí nghiệm 58
Bảng 20: Hàm lượng chất khô và độ Brix trái đậu bắp trong thí nghiệm 59
Trang 12DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 45 Hình 2: Mẫu than bùn đã qua xử lý được sử dụng để phối trộn với chủng vi khuẩn
cố định đạm và vi khuẩn hòa tan lân 46 Hình 3: Tiến hành phối trộn và mẫu phân hữu cơ vi sinh đã trộn đều với chủng vi khuẩn cố định đạm và vi khuẩn hòa tan lân 46 Hình 4: Hình thái của hạt đậu bắp nảy mầm sau khi ủ 48 giờ 47 Hình 5.Chiều dài trái đậu bắp trong thí nghiệm 55
Trang 13PHCVS: phân hữu cơ vi sinh
HCVS: hữu cơ vi sinh
TN: đạm tổng số
TP: lân tổng số
VCHC: vật chất hữu cơ
Trang 14CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề
Đậu bắp là loại rau dễ trồng, có thể trồng quanh năm và đâu đâu cũng trồng được Đậu bắp không những làm cho các món ăn hàng ngày thêm phong phú, đa dạng
và hấp dẫn hơn mà nó còn cung cấp cho chúng ta một lượng dinh dưỡng khá cao trong chế độ ăn uống của các nước đang phát triển Dễ chế biến và rất dễ ăn, ai ăn cũng tốt, nông dân coi đó là “thực phẩm cực nhanh”, “thức ăn đa năng” và rất thông dụng trong các món nướng, canh chua, món lẩu,… Đặc biệt trong các món ăn của người nghèo, người ăn chay, người già,… nhưng ít ai hiểu nhiều về giá trị của loại rau này mà chỉ biết đây là một món ăn vừa ngon lại vừa rẻ Theo Hải Ân (2010), đậu bắp chứa rất nhiều vitamin A, vitamin nhóm B (B1, B2, B6), vitamin C, các nguyên tố khoáng vi lượng như kẽm và canxi Đậu bắp cũng là nguồn thực phẩm cung cấp chất xơ rất tốt và
là “bạn của người bầu” bởi rất giàu acid folic – một loại vitamin rất cần cho việc hình thành ống thần kinh ở thai nhi Chất nhầy và chất xơ trong đậu bắp giúp điều chỉnh lượng đường huyết Đậu bắp giúp cơ thể tái hấp thu nước, là thức ăn lý tưởng cho những người muốn giảm cân; đậu bắp có tác dụng ngang bằng với sữa chua, có tính nhuận trường, có nhiều amino acid thiết yếu cho cơ thể như chất tryptophan tạo sự thoải mái tinh thần giúp ngủ ngon
Hiện nay có một số vùng trồng đậu bắp như: Vĩnh Long, Sóc Trăng, Trà Vinh,… diện tích trồng đậu bắp đang được mở rộng với các giống mới như: VN1, D9B1, TN75,… và các giống nhập từ nước ngoài: Jubilee 047, Lionseed của Ấn Độ,… Đặc biệt là các giống đậu bắp xanh Nhật (Okara F1 dòng TS1-7106) do Công ty phát triển kinh tế Duyên Hải thành phố Hồ Chí Minh độc quyền cung cấp hạt giống cũng như thu mua sản phẩm để xuất khẩu sang Nhật Thời gian sinh trưởng của cây đậu bắp Nhật là 90 ngày, trong đó thời gian thu hoạch là 45 ngày Đặc trưng của giống đậu bắp Nhật là thấp cây, cho trái nhiều, mau lớn, trái ăn rất giòn và ngon
Trước đây do đặc tính dễ trồng, dễ chế biến cũng như rất dễ ăn cho nên cây đậu bắp được trồng khá phổ biến Tuy nhiên, diện tích trồng đậu bắp còn nhỏ, lẻ chủ yếu tiêu thụ ở địa phương chưa mang lại lợi ích về kinh tế Gần đây, cây đậu bắp được xem như là vấn đề “thời sự” khi đây là loại thực phẩm rất tốt cho sức khỏe, có tiềm năng xuất khẩu rất lớn và mang lại giá trị kinh tế cao cho người nông dân Mặc dù vậy,
Trang 15do thói quen sản xuất của người nông dân còn tự phát và thiếu kỹ thuật dẫn đến sản phẩm chưa đáp ứng yêu cầu xuất khẩu Trong tình hình sản xuất như vậy đã ảnh hưởng rất lớn đến giá cả thị trường và gặp trở ngại lớn trong quá trình tiêu thụ sản phẩm Ngoài ra, do người nông dân trồng nhiều loại rau mà không có một vùng nào chuyên canh để phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu Hiện nay, trong xu thế của một nền nông nghiệp sản xuất thâm canh, bên cạnh gia tăng về năng suất, sản lượng và chủng loại, ngành trồng rau đang xuất hiện những mặt trái do người sản xuất đã áp dụng các biện pháp hóa học để phòng trừ sâu bệnh không đúng quy định, dùng phân hóa học quá liều lượng, sử dụng phân tươi,… đã làm cho đất ngày càng bị ô nhiễm, rau giảm giá trị dinh dưỡng và ảnh hưởng lớn đến sức khỏe con người cũng như môi trường sinh thái, Đồng thời, quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ làm cho diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp dần trong đó có cả diện tích đất trồng rau; mặt khác, chất thải công nghiệp và chất thải sinh hoạt đô thị, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), các độc
tố đặc biệt như dư lượng thuốc BVTV và đạm dư thừa ở sản phẩm rau rất cao ảnh hưởng mạnh tới nền nông nghiệp bền vững nói chung và an toàn thực phẩm nói riêng trong đó có ngành sản xuất rau
Vì vậy, nền “nông nghiệp chất lượng cao” hay “nền nông nghiệp hữu cơ” là con đường bền vững nhất để nông nghiệp, nông thôn và nông dân Việt Nam đứng vững và phát triển trong kỷ nguyên hội nhập
Từ những ưu thế về giá trị mà cây đậu bắp mang lại, cùng với mục đích nhằm
giải quyết những vấn đề nêu trên, đề tài “Ảnh hưởng của đất hữu cơ lên sự sinh
trưởng, năng suất và chất lượng cây đậu bắp (Abelmoschus esculentus L.)” được
thực hiện nhằm xác định loại và liều lượng phân bón thích hợp cho sự sinh trưởng của cây đậu bắp đạt năng suất và chất lượng cao
1.2 Mục tiêu đề tài
Xác định ảnh hưởng của đất hữu cơ lên sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng
của cây đậu bắp (Abelmoschus esculentus L.)
Trang 16CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Tình hình sản xuất rau ở Việt Nam
Theo Trần Khắc Thi và Trần Ngọc Hùng (2005), nghề trồng rau ở nước ta ra đời rất sớm, trước cả nghề trồng lúa nước Nhưng nước ta chịu ảnh hưởng của một nền Nông nghiệp tự túc trong nhiều thế kỷ nên sự phát triển của ngành trồng rau chưa tương xứng với tiềm năng tự nhiên và trình độ canh tác hiện có
Theo Trần Khắc Thi và Nguyễn Công Hoan (2005), nước ta có lịch sử trồng rau rất lâu đời Từ đời vua Hùng người ta đã phát hiện bầu, bí trong vườn rau của gia đình Theo sổ sách ghi chép cho thấy, rau được nhập vào nước ta từ thời nhà Lý (khoảng thế
kỷ thứ X) Năm 1721-1783, Lê Quý Đôn đã tiến hành tổng kết các vùng phân bố rau Năm 1829, nước ta bắt đầu trồng cải trắng, khoai tây Từ thế kỷ thứ XX, các đô thị được mở mang, cùng với đó là sự phát triển của nghề trồng rau nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân ngày một tốt hơn, đồng thời tạo được nguồn thu nhập đáng kể cho người nông dân Trước đây các giống rau có ít và gặp nhiều khó khăn nên người nông dân phải tự sản xuất hạt giống Sau đó nhiều loại hạt giống được sản xuất và người nông dân đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm khá phong phú trong lĩnh vực chọn giống và sản xuất các loại hạt giống rau (Tạ Thị Cúc et al., 1979)
Theo Nguyễn Mạnh Chinh (2007), quan hệ của nước ta với nhiều nước khác trên thế giới ngày càng được mở rộng Từ những điều kiện thuận lợi đó nước ta đã nhập rất nhiều giống rau của nhiều nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Thái Lan, Đức, Nga,… cũng như đưa cây rau Việt Nam vươn xa ra thị trường thế giới, góp phần làm phong phú và đa dạng các loại giống rau ở nước ta Bên cạnh đó công tác nhập nội giống, công tác kiểm dịch cần làm tốt để mang lại nhiều kết quả và giá trị kinh tế hơn
2.2 Hiện trạng canh tác cây đậu bắp
Đậu bắp là cây trồng hằng niên Nó là một trong những loại rau dễ trồng và được trồng nhiều ở vùng nông thôn
Trang 172.2.1 Hiện trạng canh tác cây đậu bắp trên thế giới
Đậu bắp là loài cây chịu nóng bức và khô hạn tốt thích hợp trồng ở vùng nhiệt đới nóng ẩm Nó cũng được trồng trên các loại đất nghèo dinh dưỡng với lớp sét dày
có sự ẩm ướt không liện tục và được trồng quanh năm Hiện nay cây đậu bắp được trồng trên 100 quốc gia thuộc cả 6 châu lục Bắt đầu từ cao nguyên Ethiopia của Châu Phi đến nhiều nơi như: Iran, Ai Cập, Ấn Độ, Châu Mỹ, Lebanon, Israel, Jordan, Irap,
Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, các khu vực khác ở miền Đông Địa Trung Hải và nhiều nước ở Châu Á,… Đậu bắp được canh tác khá sớm vào năm 1873 nhưng hầu như không phát triển cho đến gần đây Đậu bắp trồng tại Nhật Bản đã phổ biến sau khi chiến tranh thế giới thứ II kết thúc từ năm 1960 (Shinohara, 1989) Tuy nhiên vì năng suất không cao nên hiện nay diện tích vẫn chưa đáng kể Đậu bắp có năng suất trung bình 5,1 tấn/ha trên toàn thế giới năm 1991, năng suất bình quân ở Kuwait đã được báo cáo là 68,8 tấn/ha Năng suất khoảng 7-12 tấn/ha được xem là tốt (Đỗ Huy Bích et al., 2003)
2.2.2 Hiện trạng canh tác cây đậu bắp ở Việt Nam
Ở Việt Nam hiện nay, đậu bắp là một trong những cây rau màu quan trọng, được trồng phổ biến hầu hết các tỉnh trên cả nước, đậu bắp có thể đạt 600-100 triệu đồng/ha/vụ và năng suất bình quân từ 20-25 tấn/ha/vụ,… Nhiều tỉnh đã trồng xen, luân canh cây đậu bắp với một số cây trồng khác để tăng thêm thu nhập Trong thời gian gần đây đậu bắp được trồng nhiều ở một số tỉnh như: Vĩnh Long, Sóc Trăng, Trà Vinh,… Ở miền Bắc, đậu bắp được trồng từ những năm 70 của thế kỷ 21 (Đỗ Huy Bích et al., 2003)
Một bữa ăn thiếu rau xanh còn làm giảm khả năng hấp thu các chất dinh dưỡng khác Nhiều nghiên cứu cho thấy, nếu chỉ ăn thịt, cá mà không ăn rau xanh thì khả năng hấp thu chất đạm giảm đi từ 15-20% Trong điều tra mức sống ở Việt Nam năm
1998 cho biết tất cả các hộ đều tiêu thụ rau với mức trung bình hằng năm là 53,25 kg rau đối với một người Nhu cầu rau trong ngày của một người trung bình là 250-350 g (khoảng 7,5-10 kg/tháng) Ở nước ta hiện nay, sản lượng rau chỉ mới cung cấp được khoảng 180-200 g/người/ngày (UNESCO, 2005) Chất lượng cuộc sống ngày càng cao thì yêu cầu về số lượng và chất lượng rau lại càng gia tăng Rau xanh có ý nghĩa như một nhân tố tích cực trong cân bằng dinh dưỡng và kéo dài tuổi thọ của con người
Trang 18Theo thống kê 2003, diện tích trồng rau của nước ta chiếm khoảng 615 nghìn
ha, chiếm gần 7% đất nông nghiệp và 10% đất cây hằng năm Năng suất trung bình đạt 14,5 tấn/ha tương đương với sản lượng khoảng 8,8 triệu tấn (Trần Khắc Thi và Nguyễn Công Hoan, 2005) Theo Phạm Hồng Cúc et al (2001), sản xuất rau thường tập trung vào vụ Đông Xuân vì điều kiện thời tiết thuận lợi nên rau trồng vụ này thường có sản lượng cao hơn các vụ khác trong năm
2.3 Nguồn gốc, đặc tính thực vật của cây đậu bắp
2.3.1 Nguồn gốc
Theo De Lannoy (2001), tên gọi của đậu bắp trong một số ngôn ngữ phương Tây như tiếng Anh là “okra” có nguồn gốc Tây Phi, cùng nguồn gốc với “o’ku’ru’” trong tiếng Igbo; một ngôn ngữ được sử dụng trong khu vực ngày nay là Nigeria Trong ngôn ngữ Bantu, đậu bắp được gọi là “kingombo” và đó cũng là nguồn gốc của tên gọi cho đậu bắp trong tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Pháp Tên gọi đậu bắp trong tiếng Ả Rập là “bămyah” và cũng là cơ sở của các tên gọi dành cho đậu bắp tại Trung Đông, Thổ Nhĩ Kỳ, Bắc Phi và Nga Tại Nam Á, tên gọi của nó là các dạng biến thế của từ “bhindi” Đậu bắp đôi khi được gọi theo tên khoa học cũ là
Bibiscus esculentus L Loài này dường như có nguồn gốc từ vùng cao nguyên
Ethiopia (Đặng Nông Dân, 2010) Người Ai Cập và người Moor trong thế kỷ 12 và 13
sử dụng tên gọi trong tiếng Ả Rập, loài cây này đã được phổ biến tới các vùng ven Địa Trung Hải và về phía Đông Việc thiếu từ để chỉ đậu bắp trong các ngôn ngữ cổ ở Ấn
Độ cho thấy cây đậu bắp chỉ xuất hiện ở đây kể từ đầu Công nguyên Đậu bắp được đưa tới châu Mỹ bằng các tàu chuyên chở trong buôn bán nô lệ xuyên Đại Tây Dương vào khoảng những năm thập niên 1650, vào năm 1658 sự hiện diện của đậu bắp tại Braxin đã được ghi nhận Đậu bắp có lẽ được đưa vào Đông nam Bắc Mỹ đầu thế kỷ XVIII và dần dần được phổ biến tại đây Đậu bắp được trồng ở phía Bắc Philadephia vào năm 1748, trong khi Thomas Jefferson ghi chép rằng loài này đã có mặt tại Virginia vào năm 1781 Đậu bắp được trồng phổ biến tại miền nam Hoa Kỳ vào khoảng năm 1800 và lần đầu tiên được nhắc tới với các giống cây trồng khác nhau vào năm 1806 (Felter Harvey Wickes and Lloyd John Uri, 1898)
Theo Vavilov (1926), đậu bắp có nguồn gốc Bắc Phi nhưng nguồn gốc phụ của
nó là ở phía đông khu vực Địa Trung Hải của Ai Cập rồi đến Châu Á Theo Chauhan
Trang 19(1972), đậu bắp có nguồn gốc từ Ấn Độ và được biết đến từ rất nhiều cái tên địa phương ở các nước khác nhau trên thế giới Nó được gọi là guibeiro gumbo tại Hoa
Kỳ, guino gombo bằng tiếng Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha Hiện nay đậu bắp được trồng
ở nhiều nước nhiệt đới và cận nhiệt
Theo Omotoso và Shittu (2008), cây đậu bắp có phân loại khoa học như sau:
+ Giới (regnum): Dlleniidae
+ Bộ (order): Malvales
+ Họ (Familia): Malvaceae
+ Chi (genus): Abelmoschus
+ Tên khoa học: Abelmoschus esculentus L
Theo Đặng Minh Quân (2008), đậu bắp hay mướp tây là một loại cây hằng niên với bộ nhiễm sắc thể 2n = 72 Cây đậu bắp thuộc họ Bông (Malvaceae), không thuộc
họ Đậu như các cây đậu cove, đậu đũa,… Theo Võ Văn Chi (2005), đậu bắp còn có một số tên gọi khác như bắp chà, bụp bắp
2.3.2 Đặc tính thực vật
Theo Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường (2007), cây đậu bắp có các đặc tính thực vật sau:
Rễ: đậu bắp có một rễ chính và nhiều rễ phụ, ăn sâu từ 40-50 cm
Thân: thân thảo mọc thẳng đứng, nhiều lông, rỗng, cao từ 1-2 m, phân thành
nhiều nhánh, thân màu xanh đôi khi có vệt đỏ Theo Đỗ Huy Bích et al (2003) thì đậu bắp có thân hình trụ, có lông dài và nhám
Lá: màu xanh, hình tim hoặc xẻ chân vịt, mép có răng cưa lớn, có lông nhám
Theo Đỗ Huy Bích et al (2003), mô tả lá đậu bắp mọc so le, hình tim, hai mặt có lông dài áp sát và nhám Mép lá có gân to, lá có 5 gân chính nổi rõ ở mặt dưới Lá kèm hình chỉ có lông
Hoa: hoa mọc ở nách lá, đường kính 4-8 cm, với 5 cánh hoa màu trắng hay
vàng trông giống hoa cây bông vải, thường có các đốm đỏ hay tía tại phần gốc mỗi cánh hoa Hoa lưỡng tính, gồm một nhụy cái ở giữa và nhiều nhị đực bao quanh, tự thụ phấn là chính Một nụ hoa xuất hiện ở nách lá thứ 6 hoặc thứ 8 (phụ thuộc vào giống) Theo Đỗ Huy Bích et al (2003), hoa đậu bắp mọc ở kẽ lá Tiểu dài có 8-10 phiến
Trang 20mảnh, đầu nhọn,lá kém dài, hình mo có răng Tràng hoa có cánh, nhị nhiều dính với nhau thành cột bầu có lông
Đặc tính nở hoa và thụ phấn: qua nghiên cứu các giống đậu bắp, Sulikeri và
Swamy Rao (1972), kết luận rằng nụ hoa kéo dài 22-26 ngày từ khi xuất hiện đến khi
nở và hoa đầu tiên nở từ 41-48 ngày sau khi gieo, thời gian thụ phấn thường từ 6-10 giờ sáng Hoa chỉ nở một thời gian ngắn và khép lại vào buổi chiều, sự thụ phấn không thành công ở giai đoạn nụ Hạt phấn có khả năng duy trì tính hữu thụ trong 55 ngày Đậu bắp tự thụ phấn là chính, thụ phấn chéo tối đa 4-19% phụ thuộc cây trồng và mật
số côn trùng (PureWal and Ranhdawa, 1947) Theo Phạm Hoàng Hộ et al (2003) thì cây trồng 6-7 tuần sau khi gieo sẽ bắt đầu có hoa Hoa tự thụ phấn hoặc nhờ côn trùng
Từ khi hoa nở đến khi thu hoạch trái non làm rau vào khoảng 6-8 ngày Để lấy trái làm giống thì cần tới 20-25 ngày
Trái và hạt: trái có màu xanh sáng, đôi khi có màu đỏ Trái nang, dài 20-25
cm, mọc dựng đứng gồm 3-5 vách ngăn kết với nhau tạo thành các đường gờ dọc Trong trái có 10-20 hạt, đường kính 2-3 mm Theo Phạm Hoàng Hộ et al (2003), lúc non trái đậu bắp có màu xanh nhạt, quả bì dày, hột nhiều, gần như tròn, to 5mm, màu xám nhạt
Sinh trưởng và phát triển: đậu bắp chủ yếu nhân giống bằng hạt; là cây hằng
niên Sự tăng trưởng của cây đậu bắp đặc trưng bởi sự tăng trưởng không liên tục Sự
nở hoa liên tục nhưng phụ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh và giống Sau khi gieo 2-3 tháng, cây bắt đầu nở hoa, trái phát triển nhanh sau khi hoa được thụ phấn và đạt kích thước tối đa trong khoảng từ 4-6 ngày sau khi thụ phấn Giai đoạn này có thể thu hoạch được vì sau đó trái sẽ già đi (nhiều xơ) Đậu bắp cho trái một thời gian ngắn nhưng phụ thuộc vào mùa, độ ẩm của đất và điều kiện chăm sóc Thường đậu bắp có thời gian sinh trưởng 90-100 ngày sau khi gieo (PureWal and Ranhdawa, 1947) Lê Quang Long (2005), cho rằng thời gian trổ hoa thích hợp của cây đậu bắp là từ tháng 5 đến tháng 8
Giống: Theo Nguyễn Mạnh Chinh (2007), muốn có rau tốt trước hết cần phải
có các loại giống tốt với các giống mới như: VN1, D9B1, TN75,… và các giống nhập
từ nước ngoài: Jubilee 047, Lionseed của Ấn Độ,… Đặc biệt là các giống đậu bắp xanh Nhật (Okara F1 dòng TS1-7106) do Công ty phát triển kinh tế Duyên Hải thành phố Hồ Chí Minh độc quyền cung cấp hạt giống
Trang 21Về mặt giá trị dinh dƣỡng: theo Tindall (1983), trái đậu bắp có chứa 88% nước,
2,1% protein, 0,2% chất béo, 8,0% carbohydrate, 1,7% chất xơ
Các thành phần dinh dưỡng có trong trái đậu bắp theo Gopalan et al (2007)
được trình bày trong Bảng 1
Bảng 1 Bảng giá trị dinh dƣỡng của đậu bắp trong 100g phần quả ăn đƣợc Thành phần Hàm lƣợng Thành phần Hàm lƣợng
ít calories (khoảng 25 Kcal với ½ chén đậu bắp nấu chín và 33 kcal cho mỗi chén đậu bắp sống) Ngoài ra, đậu bắp còn chứa nhiều vitamin A, vitamin C, calci, kali, magie giúp duy trì sự khoẻ mạnh cho da, tóc, và tăng cường hệ thống miễn dịch cho cơ thể Chất nhầy và chất xơ có trong đậu bắp giúp điều chỉnh lượng đường huyết bằng cách điều hoà sự hấp thu của chúng từ ruột non Chất xơ của đậu bắp cũng là một “vệ sĩ” của hệ tiêu hoá Đậu bắp giúp cơ thể tái hấp thu nước Chất nhầy trong đậu bắp “bắt giữ” những phân tử cholesterol vượt chỉ tiêu cùng những chất độc phát sinh trong quá trình chuyển hoá rồi “áp giải” chúng đến phân thải ra ngoài Hàm lượng nước trong đậu bắp cao giúp cơ thể tránh khỏi tình trạng táo bón, đầy hơi,… Đậu bắp nên luộc
Trang 22hay nướng ở ngọn lửa nhỏ để chất nhầy ít bị thất thoát cho cơ thể hấp thụ tối đa Khi vào hệ tiêu hoá đậu bắp sẽ là mảnh đất màu mỡ cho những vi khuẩn có lợi, có thể sánh ngang tầm với sữa chua, giúp tổng hợp các vitamin nhóm B Để làm đẹp tóc, cắt khúc đậu bắp và nấu đến khi nước nhầy ra tối đa, sau đó để nguội rồi nhỏ vài giọt chanh vào
sử dụng làm dung dịch gội đầu Đậu bắp có tính nhuận trường, dùng trị hội chứng kích ứng ruột, làm lành các vết loét trong đường tiêu hoá, đồng thời xoa dịu các cơn đau trong ruột Protein và dầu có trong hạt đậu bắp được xem là protein hạng nhất trong rau cải, chứa rất nhiều amino acid thiết yếu cho cơ thể như tryptophan (giúp tinh thần thoải mái, ngủ ngon ), cystein,
Theo Võ Văn Chi (2005), đậu bắp không chỉ là loại thực phẩm giàu protein nhiều dinh dưỡng, không có cholesterol mà các bộ phận của cây điều có thể dùng làm thuốc Các thành phần dinh dưỡng trong đậu bắp đều cao hơn các loại rau củ nói chung, đặc biệt là các vi chất như calci, kali, vitamin B6, magie, folate và acid alpha-linolenic Ăn đậu bắp thường xuyên sẽ giúp cơ thể giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, tiểu đường, béo phì và cả ung thư Đậu bắp rất dễ ăn có thể luộc, xào, nướng, sấy khô nhưng ngon
và ưa chuộng nhất là nấu canh chua
Về mặt y học: chất xơ mang đến nhiều lợi ích cho sức khoẻ, bao gồm cả việc
thúc đẩy giảm cân, kiểm soát lượng đường trong máu; ngăn ngừa táo bón và bệnh trĩ, cải thiện tiêu hoá; giảm mức cholesterol nên giúp phòng bệnh cao huyết áp, nhồi máu
cơ tim; giảm nguy cơ ung thư ruột kết Chất nhầy chứa trong đậu bắp còn có tác dụng nhuận tràng, giảm đau, giảm vết loét trong chứng viêm sưng và còn được xem là loại thực phẩm “lý tưởng” nhất cho những người có dạ dày nhạy cảm Đặc biệt là chữa hạ đường huyết và trị bệnh tiểu đường Theo Phạm Xuân (2009) thì đậu bắp có tác dụng
ổn định đường huyết Thường xuyên ăn đậu bắp sẽ giúp cơ thể giảm nguy cơ bị béo phì và cả ung thư Uống nước đậu bắp luộc hằng ngày, trong nhiều tháng còn giúp ngăn ngừa bệnh tiểu đường, có làn da đẹp, đặc biệt là rất tốt cho phụ nữ sau khi sinh Trị ho, viêm họng: rễ và lá thái mỏng phơi khô, ngày uống 10-16 g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc pha Cũng có thể dùng cây, lá phơi khô mỗi ngày 50-100 g nấu lấy nước uống Hạt già rang giòn pha nước sôi uống làm ra mồ hôi Đặc biệt, chất nhầy trong đậu bắp chống bệnh viêm dạ dày, nhuận tràng, giảm đau (Lengsfelf et al., 2004) Theo Phạm Anh Cường và Nguyễn Mạnh Chinh (2007), tất cả các bộ phận của cây đậu bắp đều dùng làm thuốc giảm đau trong các trường hợp bị bệnh lậu, bí tiểu tiện, dùng làm
Trang 23thuốc nhuận tràng Ở Nepal rễ đậu bắp được nghiền nhuyễn với một loại thuốc khác và đắp quanh chân của gia súc bị gãy, bên ngoài bọc một mảnh vải, sau 3-4 tuần dùng nước ấm rửa bỏ thuốc đắp (Đỗ Huy Bích et al., 2003)
Về mặt giá trị kinh tế: đậu bắp có thể đạt 600-100 triệu đồng/ha/vụ và năng
suất bình quân từ 10-15 tấn/ha/vụ,… Trong công nghiệp chế biến, đậu bắp là nguồn nguyên liệu quan trọng để chế biến ra các sản phẩm có giá trị như dầu đậu bắp, một loại dầu ăn chứa nhiều chất béo chưa no như acid oleic và acid linoleic Hàm lượng dầu trong hạt đậu bắp cao (khoảng 40%) Sản lượng dầu thu hoạch từ đậu bắp cũng khá cao, với năng suất 794 kg/ha thì chỉ có hướng dương là vượt qua nó Ngoài ra, hạt khô rang chín, nghiền nhỏ dùng uống thay cà phê hay nấu lên làm hồ giấy hoặc làm chất dính trong công nghiệp giấy Do ý nghĩa nhiều mặt của cây đậu bắp như vậy nên cây đậu bắp ngày càng được chú ý hơn (Đỗ Huy Bích et al., 2003)
2.4 Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh
2.4.1 Ánh sáng
Theo Tạ Thu Cúc (2005), năng suất cây trồng được tạo ra 90-95% là nhờ quang hợp Ánh sáng là yếu tố đóng vai trò hết sức quan trọng và cần thiết cho quá trình quang hợp tạo chất hữu cơ cho cây Theo Mai Thị Phương Anh (1996), thời gian chiếu sáng dài, lượng carbohydrate tạo ra trong quang hợp lớn hơn khi chiếu sáng ngắn Ánh sáng có tác động lâu dài tới cây trồng, trong khoảng thời gian ngắn không thể thấy rõ được cây rau có thiếu ánh sáng hay không Rau là loại cây rất nhạy cảm với sự thay đổi thành phần, cường độ và thời gian chiếu sáng Rau ưa ánh sáng khuếch tán hơn ánh sáng trực tiếp chiếu lên cây Vì vậy rau ưa ánh sáng buổi sáng hơn buổi trưa Cây đậu bắp cần nhiều ánh sáng (Phạm Hồng Cúc et al., 2001)
2.4.2 Ẩm độ và nước
Nước và ẩm độ rất quan trọng đối với rau vì chúng tác động đến cây rau từ giai đoạn nảy mầm, sinh trưởng, sự ra hoa kết hạt, chất lượng sản phẩm, sâu bệnh và khả năng bảo quản Trong đó, năng suất cây rau phụ thuộc nhiều vào hàm lượng nước trong chúng, ẩm độ không khí khô hay ẩm độ đất thấp sẽ thích hợp cho quá trình thu hoạch và bảo quản
Trang 24Ẩm độ: ẩm độ có vai trò trong phân chia, duy trì và phát triển tế bào Theo Tạ
Thu Cúc (2010), hầu hết cây rau đều sinh trưởng và phát triển cho năng suất cao ở ẩm
độ không khí là 45-95% Theo Trần Khắc Thi và Trần Ngọc Hùng (2004), đối với cây đậu bắp, đất cần được giữ độ ẩm thường xuyên 80-85% trong suốt quá trình thu hái trái
Nước: Theo Tạ Thị Cúc (2010), nước có ý nghĩa rất lớn trong đời sống cây rau,
lượng nước trong cây rau chiếm từ 75-95% và chúng phải tạo ra 5-25% trọng lượng nước còn lại thông qua quang hợp Khi đủ nước tế bào phát triển tốt do cây sinh trưởng nhanh Khi lượng nước hạn chế, các quá trình sinh lý, sinh hóa giảm, sự tích lũy carbonhydrat bị hạn chế, kết quả là năng suất giảm (Phạm Hồng Cúc et al., 2001) Nước là yếu tố cơ bản để quang hợp, ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất trong cây, đến trạng thái chất nguyên sinh Nước còn có tác dụng trong quá trình vận chuyển điều chế sự đóng mở khí khổng, sự giãn nở và lớn lên của lá Nước là dung môi hòa tan các chất, duy trì độ cân bằng tế bào,… Do đó, nước ảnh hưởng trực tiếp đến phẩm chất và năng suất rau (Trần Văn Lài và Lê Thị Hà, 2002)
Theo Hoàng Văn Ký (2007), khả năng chịu hạn của cây đậu bắp tương đối khá Tuy vậy, mùa khô cần tưới nước và sử dụng nguồn nước tưới sạch (nước sông, nước giếng khoan) Tuyệt đối không sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm như nước thải từ bệnh viện,…
2.4.3 Nhiệt độ
Yếu tố nhiệt độ ảnh hưởng trực tiếp đến nhiệt độ không khí và đất nên việc điều chỉnh nhiệt độ trong vườn rau là yếu tố quan trọng để cho cây rau sinh trưởng và phát triển tốt Nhiệt độ đất quyết định sự hấp thu nước và dinh dưỡng của rễ (Tạ Thu Cúc, 2005) Nhiệt độ nước tăng thúc đẩy bốc thoát hơi nước, tạo áp lực vận chuyển nước, dinh dưỡng và tăng cường trao đổi chất trong cây (Đoàn Văn Điếm et al., 2005) Nhiệt
độ đất thấp ảnh hưởng đến mức độ ăn sâu của rễ, nhiệt độ đất cao rễ dễ bị lão hóa, làm giảm bề mặt và tốc độ hút nước Nhiều loại rau hút nước thuận lợi khi nhiệt độ đất khoảng 20oC (Tạ Thu Cúc, 2005)
Theo Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường (2007), cây đậu bắp ưa nhiệt
độ cao, thích hợp từ 25-30oC, trong khoảng nhiệt độ này cây sinh trưởng và phát triển bình thường Nếu nhiệt độ càng cao thì cây sinh trưởng, phát triển càng nhanh và sự
Trang 25nảy mầm nhanh nhất là 35o
C Vượt qua ngoài phạm vi này, sự nảy mầm sẽ chậm trễ
và hạt giống yếu có thể không nảy mầm Nhiệt độ cao sẽ kéo dài thời gian ra hoa và tăng số đốt cây Đậu bắp là cây phản ứng với độ dài ngày, mức độ mẫn cảm tùy thuộc vào giống Tuy nhiên trong điều kiện nước ta, mặc dù là cây ngắn ngày nhưng đậu bắp vẫn ra hoa trong cả mùa hè
2.4.4 Đất trồng và dinh dưỡng
Cũng như các loại cây trồng khác, rau đòi hỏi phải có đầy đủ các chất dinh dưỡng, trong đó chủ yếu là N, P, K nhưng tùy loại rau mà yêu cầu cụ thể khác nhau, rau ăn lá cần nhiều N hơn các loại rau ăn củ và rau ăn quả (Đào Duy Cầu, 2004) Nhu cầu dinh dưỡng của cây đậu bắp bao gồm các nguyên tố đa lượng: N, P, K, Ca, Mg, S,
C, H, O và các nguyên tố vi lượng: Fe, Cu, Zn, Mn, Mo, Cl Tuỳ theo từng thời kỳ sinh trưởng khác nhau mà nhu cầu dinh dưỡng cũng khác nhau Thời kỳ ra hoa và kết trái cần nhiều dinh dưỡng hơn (Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường, 2007)
2.5 Kỹ thuật canh tác cây đậu bắp
2.5.1 Chuẩn bị đất
Theo Minh Quân (2004), đậu bắp thích hợp với đất cát pha, đất thịt nhẹ hoặc đất thịt trung bình, pH từ 5,5-6,8 Đất phải bằng phẳng, dễ tưới và dễ tiêu nước Đất được cày bừa kỹ, làm cỏ trước khi gieo Lên liếp 1,4-1,5 m, mặt liếp rộng 1,1-1,2 m, chiều cao liếp 25-30 cm Rãi vôi lên mặt liếp với liều lượng 250-500 kg/ha và trộn đều trước khi bón lót khoảng 10 ngày
2.5.2 Thời vụ
Theo Trần Khắc Thi và Trần Ngọc Hùng (2005), thời vụ gieo trồng là yếu tố có ảnh hưởng lớn đến năng suất và chất lượng rau Theo Hoàng Văn Ký (2007), đậu bắp
có thể xuống giống vào vụ Xuân và vụ Thu Đông
Vụ Xuân: gieo từ cuối tháng 2 đến tháng 3, thu hoạch từ tháng 5 đến tháng 9 Nếu gieo muộn, cây sớm ra hoa nhưng năng suất giảm dần
Vụ Thu Đông: gieo từ cuối tháng 7 đến tháng 8, thu hoạch trái từ tháng 9 đến tháng 1, đầu tháng 2
Trang 26+ Giống nhập nội từ Thái Lan và Đài Loan
+ Giống đậu bắp xanh của Nhật có tên gọi là Okara F1 dòng TS1 – 7106 do Công
ty phát triển kinh tế Duyên Hải thành phố Hồ Chí Minh độc quyền cung cấp hạt giống cũng như thu mua sản phẩm để xuất khẩu sang Nhật
Theo Nguyệt Hằng (2006), lượng hạt giống cần từ 18-22 kg/ha Phơi hạt giống dưới điều kiện ánh nắng nhẹ 1-2 giờ, ngâm hạt trong nước sạch từ 4-6 giờ hoặc nước
ấm 52-54oC, để ráo nước, ủ ở nhiệt độ 20-30oC, khoảng 48 giờ hạt bắt đầu nảy mầm, chọn hạt nảy mầm đem gieo vô bầu nylon hoặc bầu bằng lá chuối Hiện nay, trên thị trường có môt dạng khay bằng mốt dùng để gieo hạt trong bầu rất tốt và giảm được công lao động chuẩn bị lâu Đất vô bầu được thực hiện theo tỷ lệ như sau: một phần phân chuồng trộn với năm phần tro trấu Khi cây có 1-2 lá mầm thì đem trồng (khoảng
5 ngày sau khi gieo) Đậu bắp là loại cây khó nảy mầm do hạt có một lớp vỏ dày và cứng nên cần xử lý hạt bằng acid sulfuric đậm đặc từ 2-3 giờ để cải thiện sự nảy mầm của hạt giống hoặc có thể ngâm hạt giống trong một cốc nước ở 45oC trong 1,5 giờ Theo Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường (2007), sau khi chuẩn bị luống, trên luống đào 2 hàng dọc cách nhau 60-70 cm Mỗi hốc gieo 2-3 hạt, khi cây được 2-
3 lá thật thì tỉa để lại một cây (mật độ 35.000-40.000 cây/ha)
Bón phân lót vào hốc, phủ lớp đất mỏng lên rồi gieo hạt, không để hạt tiếp xúc trực tiếp với phân Hạt gieo sâu 1-2 cm, lấp bằng đất bột hoặc tro trấu Lượng hạt giống cần khoảng 4-5 kg/ha Gieo xong, tưới nước thường xuyên tạo điều kiện cho hạt mọc dễ dàng
Mật độ và khoảng cách trồng: Theo Tạ Thu Cúc (2010), xác định mật độ thích
hợp cho mỗi loại rau trên diện tích gieo trồng là biện pháp kỹ thuật quan trọng nhằm tăng năng suất và đạt hiệu quả kinh tế cao Khoảng cách, mật độ của mỗi loại rau phụ thuộc vào nhiều yếu tố như đặc tính của giống, đặc trưng hình thái, điều kiện ngoại cảnh và kỹ thuật trồng trọt Mỗi cây trồng chiếm một khối lượng đất và khoảng không gian nhất định, nhờ đó rễ và lá hút thu các chất dinh dưỡng cần thiết tạo ra năng suất
Trang 27cây (Phạm Hồng Cúc et al., 2001) Theo Hoàng Văn Ký (2007), có hai cách trồng phổ
biến là trồng hàng đơn và trồng hàng đôi
Hàng đơn: Hàng cách hàng 70-80 cm, chiều rộng của mỗi hàng 40-50 cm, cây cách cây 40-50 cm, một hốc trồng hai cây, chiều cao của liếp 25-30 cm Mật độ trồng
từ 50.000-70.000 cây/ha Trung bình số lượng hạt giống cần cho 1 ha đất sản xuất khoảng 18-22 kg
Hàng đôi: Hàng cách hàng 50-60 cm, cây cách cây 40-50 cm, một hốc trồng 2 cây, chiều rộng của liếp 100 cm, liếp cách liếp 100 cm, chiều cao của liếp 25-30 cm Mật độ trồng 60.000-100.000 cây/ha Lượng giống cần cho 1 ha đất sản xuất khoảng 20-25 kg
2.5.4 Bón phân chăm sóc
Theo Tạ Thu Cúc (2010), rau là loại cây trồng có thời gian sinh trưởng ngắn, tốc
độ tăng trưởng nhanh, năng suất trên đơn vị diện tích cao, vì vậy cây cần chất dinh dưỡng suốt thời kì sinh trưởng
Phân bón: Theo Nguyệt Hằng (2006), tuyệt đối không được dùng phân chuồng
tươi hoặc nước phân tươi để tưới trực tiếp cho cây đậu bắp Rãi đều thuốc trừ sâu Basudin hạt lên mặt liếp với liều lượng 30 kg/ha trước khi bón lót Cây đậu bắp có khối lượng thân lá lớn, năng suất quả cao trong một thời gian ngắn nên cần đủ phân lót ngay từ đầu để cây sinh trưởng tốt Bón lót phân chuồng là 15-20 tấn/ha; có thể dùng phân hữu cơ sinh học hoặc phân rác chế biến thay thế cho phân chuồng
Theo Trần Khắc Thi và Nguyễn Công Hoan (2006), cây đậu bắp trong thời gian sinh trưởng cần lượng dinh dưỡng được trình bày qua Bảng 2
Trang 28Bảng 2 Lƣợng phân nguyên chất cần cung cấp cho cây đậu bắp
Loại phân
Tổng lƣợng phân bón nguyên chất (kg/ha)
Bón lót (%)
Bón thúc (%) Lần 1 Lần 2 Lần 3 Lần 4 Lần 5 Phân đạm 100 – 120 0 20 20 20 20 20
Phân kali 100 30 30 30 10 0 0
Có thể dùng các dạng nitrat amôn hoặc sunfat amôn thay cho urê, cloruakali thay cho kali sunfat hoặc dùng các dạng phân hỗn hợp, phức hợp NPK để bón với lượng nguyên chất tương ứng Ngoài biện pháp bón vào đất có thể phun qua lá các dung dịch dinh dưỡng đa lượng, trung lượng, vi lượng,… có thể phun các loại phân như Multi-K (dùng loại này thì giảm 30-50% lượng phân kali bón thúc) khoảng 5-7 ngày/lần sẽ kích thích cây sai trái, năng suất tăng Tiến hành thu hoạch trái sau khi bón phân ít nhất 7-
10 ngày Tuyệt đối không được dùng phân chuồng tươi, phân bắc tươi và nước phân tươi để bón hoặc tưới (Trần Khắc Thi và Trần Ngọc Hùng, 2005)
Chăm sóc: Khi cây có 2-3 lá thật tiến hành làm cỏ, xới nông vun nhẹ vào gốc kết
hợp các lần bón phân thúc và mỗi lần bón phân đều phải xới, vun gốc và làm sạch cỏ dại Khi cây đậu bắp cao 20 cm thì xới sâu trên mặt luống, làm sạch cỏ dại và vun gốc cho cây đứng thẳng tránh bị đổ ngã Thường xuyên tỉa bỏ các lá già úa phía gốc và lá
bị sâu bệnh nặng Tưới nước vào rãnh, tỉa bỏ các chồi nhánh từ lá thứ 6 trở xuống Đậu bắp thì rất cần nước nhưng đất phải không bị ngập úng, vào mùa khô mỗi ngày tưới từ 1-2 lần tuỳ thuộc vào độ giữ ẩm của đất và thời tiết lúc trồng Trong kỹ thuật hiện nay chúng ta sử dụng màng phủ Nông nghiệp để giảm sự mất nước và tưới bằng phương pháp thấm nhằm giảm chi phí tưới tiêu Khi cây bắt đầu ra hoa nên tiến hành loại bỏ 2
lá đầu tiên/cây nhằm giúp cho cây tiếp tục sinh trưởng và tạo điều kiện thuận lợi trong khâu thu hoạch vì lúc này cây cho trái tương đối đồng đều Khi cây bắt đầu giảm khả năng cho trái, ta tiến hành trẻ hoá cây đậu bắp bằng cách cắt gốc cây ngang mặt đất Trước khi trẻ hoá 5-7 ngày phải bón phân với liều lượng 10-15 kg urê và 5-10 kg DAP/ha nhằm giúp cho cây có khả năng phục hồi tốt Sau khi trẻ hoá từ 15-30 ngày thì
có thể thu hoạch đợt 2 Tuỳ thuộc vào điều kiện chăm sóc, thời gian thu hoạch khoảng 20-40 ngày, năng suất chỉ bằng 50-85% năng suất đợt 1 (Quốc Việt, 2010) Sau mỗi
Trang 29trận mưa, mặt luống bị đóng váng phải xới lại nhưng phải đợi khô đất mới làm Nếu
xới khi còn ướt, cây dễ bị bệnh nghẹt rễ và sinh trưởng kém
2.5.5 Tưới nước
Theo Tạ Thu Cúc (2007), nhu cầu nước của từng loại rau được quyết định bởi khả năng hút nước của rễ và sự tiêu hao của phần thân, lá Lượng nước phù hợp cho rau ăn lá từ 250-500 ml Tưới nước hằng ngày sẽ rửa sạch bụi bẩn và côn trùng, tạo ẩm
độ không khí thuận lợi cho cây và hoạt động của vi sinh vật có lợi phát triển Nước tưới phải được cung cấp đồng đều trên luống, độ ẩm đất từ 70-80% là thích hợp (Đường Hồng Dật, 2003) Theo Tạ Thu Cúc (2005), biện pháp quan trọng để giảm nhiệt độ cho cây là tưới nhiều lần trong ngày Đặc biệt tưới phun mưa là biện pháp hữu hiệu làm giảm nhiệt độ ở mặt lá từ 5-6o
C
Khả năng chịu hạn của cây đậu bắp tương đối khá, tuy vậy trồng trong vụ Đông Xuân là mùa khô nên cần tưới nước nhiều Thời gian đầu khi gieo hạt và cây còn nhỏ đất cần đủ ẩm Khi cây lớn ra hoa có quả lượng nước cần tưới nhiều, nếu để khô hạn quả sẽ nhỏ và cứng Cách tưới nước có thể dùng bình ô doa, vòi phun mưa hoặc bơm nước vào rạch đủ ẩm rồi cho thoát ngay Mùa mưa không để ruộng bị ngập Vào mùa khô cần tưới nhiều nước Theo Shinohara (1989), nếu đất có ẩm độ cao và giữ nước lâu, cây dễ bị rụng lá
2.5.6 Thu hoạch
Theo báo Nông nghiệp 2009, thu hoạch là một trong những khâu quan trọng ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm vì nó phải đạt tiêu chuẩn về kích thước và chất lượng mà phía công ty đưa ra Để đạt tiêu chuẩn sản phẩm loại 1 nhiều thì khâu thu hoạch là khâu quan trọng vì thế người sản xuất phải thăm đồng thường xuyên Khi trái
đã đạt độ lớn về đường kính và chiều dài thì bắt đầu thu hoạch (tùy thuộc vào giống), thường thu hoạch từ 4-6 ngày sau khi nở hoa Theo Chu Thị Thơm et al (2005), trái đậu bắp được thu hoạch đúng tiêu chuẩn thương phẩm là dài 7-10cm (sau nở hoa 7-8 ngày) (tùy thuộc vào giống) Trong thu hoạch, loại bỏ trái nhỏ, trái sâu, không đạt chất lượng thương phẩm Dùng dao nhỏ cắt cuống trái (tránh cắt chạm vào thân cây) Sau khi thu hoạch trái khoảng 5-7 ngày thì tiến hành tỉa lá gốc với mục đích tạo sự thông thoáng cho cây nhằm tránh sâu bệnh phát triển Sản lượng cao nhất có thể đạt được của đậu bắp là 200-250 kg/ha/ngày Năng suất trung bình 12-15 tấn/ha Sau khi thu
Trang 30hoạch nên xếp nhẹ nhàng các trái đậu bắp vào giỏ tránh sây sát, để nơi thoáng mát, dùng lá cây hoặc giấy báo che trên bề mặt giỏ, không để ở những nơi nhiều nắng, gió nhằm hạn chế sự mất nước của trái Sau cùng vận chuyển đến nơi tiêu thụ
2.5.7 Tình hình sâu bệnh hại
Tình hình sâu bệnh hại được thể hiện qua Bảng 3
Bảng 3: Một số loại sâu bệnh hại trên cây đậu bắp và biệp pháp phòng trừ Sâu, bệnh hại Đặc điểm nhận dạng Hình thức gây hại Biện pháp phòng trừ
Sâu đo (Anomic
flava)
Sâu non màu xanh lục,
có những vệt dọc trên lưng, dài 25-30 mm, chiều ngang hẹp, có hai đôi chân bụng phát triển, khi bò thân uốn cong lên
Sâu non mới nở gậm lấm tấm chất xanh của lá, từ tuổi 3 ăn khuyết lá từng mảng,
có thể ăn cả nụ và hoa
Dùng tay bắt giết sâu non Phun các loại thuốc gốc vi khuẩn Bt
như Bacillus, biocin,
NPV hoặc các thuốc Success, Mimic,…
Sâu nhả tơ cuộn tròn
lá thành tổ nằm trong
đó ăn phiến lá để lại lớp biểu bì trắng Một đời sâu non có thể di chuyển ăn hại 2-3 lá,
ăn cả nụ và hoa
Dùng tay bắt giết sâu non Phun các loại thuốc gốc vi khuẩn Bt
như Bacillus, biocin,
NPV hoặc các thuốc Success, Mimic,…
Sâu loang
(Earias fabia)
Sâu non mập và ngắn, dài 12-14 mm, trên thân có nhiều gai ngắn,
có các vệt màu nâu, đen và vàng loang lỗ xen nhau
Sâu non mới nở đục vào ngọn hoặc nụ hoa, sâu tuổi 3 trở lên đục vào trái đậu bắp
ăn hạt và thịt làm hư
cả trái
Dùng tay bắt giết sâu non Phun các loại thuốc gốc vi khuẩn Bt
như Bacillus, biocin,…
kết hợp luân canh, xen canh với các cây khác như lúa, bắp, đậu,… Câu cấu xanh
(Hypomeces
squamosus)
Sâu trưởng thành là loại bọ cánh cứng, hình bầu dục, đầu kéo dài như một cái vòi Màu xanh vàng có ánh kim
Bọ trưởng thành cắn phá mầm non và lá cây
Dùng tay hoặc vợt bắt giết bọ trưởng thành, phun thuốc lên cây ít hiệu quả
Trang 31nhũ Sâu non màu trắng sữa, sống trong đất
Bọ xít xanh
(Nezara viridula)
Bọ xít màu xanh nhạt, hình lục giác, 15x18
mm, bọ non màu xanh trên lưng có nhiều đốm đen và trắng
Bọ non và bọ trưởng thành chích hút nhựa
lá và trái non, làm trái
và lá vàng héo, trái non sần sùi và rụng
Phòng trừ chủ yếu là bắt giết bằng tay, nếu mật độ cao thì phun trừ bằng thuốc Đầu trâu Bihopper, Bascide,
lá mạ, rầy non hình thoi, màu xanh vàng
Vòng đời 15-20 ngày
Rầy trưởng thành và rầy non sống mặt dưới lá hút nhựa tạo thành các đốm biến màu, lá nhỏ, vàng khô, hoa rụng, trái ít
và nhỏ
Phun trừ bằng thuốc Đầu trâu Bihopper hoặc các thuốc Basa,
có cánh hoặc không, đẻ trứng hoặc đẻ con
Cả rệp trưởng thành
và rệp non bám ở ngọn, hoa, trái non và mặt dưới lá Rệp chích hút nhựa làm lá xoăn và biến màu, ngọn cây chùn lại, cây còn non thì kém phát triển, nụ hoa bị rụng
Phun trừ bằng thuốc Đầu trâu Bihopper hoặc các thuốc Basa,
Bọ trưởng thành và
bọ non sống dưới mặt
lá xung quanh gân chính để chích hút nhựa làm cho lá có những đốm biến màu hoặc vàng khô, bọ trĩ cũng làm hoa bị khô
và rụng, trái nhỏ, biến
Phòng trừ bằng cách tưới nước đều đặn, không để ruộng bị khô hạn Khi bọ phát triển
Polytrin, Sherzol,…
Trang 32từ 20-25 ngày
Nhện sống tập trung hai bên gân lá, chích hút nhựa tạo thành các vết vàng nhạt, lá vàng khô, cây sinh trưởng kém, hoa rụng Nhện còn chích hút vỏ trái non làm trái nhỏ, sần sùi
Khi nhện phát sinh không để ruộng bị khô hạn, tưới phun mưa có thể hạn chế nhện Khi nhện phát sinh thì phun dầu khoáng Sk hoặc các thuốc Vertimec, Bihopper, Nissorun, Saromite,…
Bệnh đốm nâu
(Do nấm
Macrosporium)
Bệnh hại trên lá, lúc đầu là những đốm hơi tròn, màu xám tro hoặc nâu nhạt, trên đó có những đường tròn đồng tâm màu nâu thẫm
Làm cháy khô cả lá,
lá vàng và héo
Ngắt bỏ lá bệnh, phun các thuốc gốc đồng, viben-C, Saizole, Rovral, Zineb,…
có vết bệnh màu đen hình tròn hơi lõm vào trong có lớp bột màu xanh xám
Trái bị bệnh nhỏ, có thể bị thối
Ngắt bỏ lá và trái bệnh, phun các thuốc gốc
Saizole, Rovral, Zineb,…
Cây sinh trưởng kém,
lá vàng, cây chết khô
Biện pháp phòng trừ chủ yếu là làm đất kỹ, phơi ải, bón vôi,… không để nước động ở gốc cây Nhổ bỏ cây bị bệnh đem tiêu hủy Dùng thuốc ít có hiệu quả
Bệnh thối rễ (Do
tuyến trùng
Tuyến trùng là loài giun nhỏ dưới 1 mm,
Cây bị thối rễ, sinh trưởng kém, nếu nặng
Biện pháp phòng trừ chủ yếu là làm đất kỹ,
Trang 33Pratylenchus) sống trong đất cây có thể bị chết phơi ải, bón vôi,…
phun các loại thuốc Vimoca, Furadan, Oncol,…
Cây có thể bị chết do
vi khuẩn phá hủy mạch dẫn
Biện pháp phòng trừ chủ yếu là làm đất kỹ, bón vôi,… không để nước động ở gốc cây Nhổ bỏ cây bị bệnh đem tiêu hủy Dùng thuốc ít có hiệu quả
(Nguồn Trần Khắc Thi và Trần Ngọc Hùng (2005))
2.6 Tổng quan về phân hữu cơ
2.6.1 Khái niệm phân hữu cơ
Phân hữu cơ là tên gọi chung cho tất cả các loại phân được sản xuất từ các vật liệu hữu cơ như dư thừa thực vật, rơm rạ, phân súc vật, phân chuồng, phân rác và phân xanh hoặc các phế phẩm nông nghiệp và công nghiệp vùi trực tiếp trong đất hay ủ thành phân Sau khi hòa tan có khả năng cung cấp dưỡng chất cho cây trồng Quan trọng hơn nó có khả năng tái tạo lớn và được đánh giá chủ yếu dựa vào hàm lượng chất hữu cơ (%) hoặc chất mùn có trong phân, đây là nguồn phân quý không những tăng năng suất cây trồng mà còn làm tăng hiệu lực của phân hóa học, cải tạo và năng cao độ phì nhiêu của đất (Đỗ Thị Thanh Ren, 1999)
2.6.2 Các loại phân hữu cơ
2.6.2.1 Phân chuồng
Phân chuồng là loại phân do gia súc, gia cầm thải ra Phân chứa đủ 3 chất dinh dưỡng cơ bản là đạm, lân, kali cần thiết cho các loại cây trồng Ngoài ra, phân còn chứa nhiều nguyên tố vi lượng như Bo, Cu, Mo, Mn, và các chất kích thích sinh trưởng như auxin, heteroauxin, các loại vitamin (A, B và C,…) Hằng năm, cả thế giới sản xuất khoảng 14 tỷ tấn phân chuồng, tương đương với 7-8 triệu tấn đạm, 3-4 triệu tấn P2O5, 8-9 triệu tấn K2O Ở nước ta, hằng năm nông dân sản xuất và sử dụng
Trang 34khoảng 50 triệu tấn, chủ yếu là phân heo và phân trâu, bò tương đương với 270.000 tấn urê
Theo Ngô Ngọc Hưng et al (2004), chất dinh dưỡng có trong phân chuồng là chất tương đối dễ tiêu, có được từ sự khoáng hóa chất hữu cơ Do đó phân chuồng với liều lượng thích hợp, sẽ cung cấp thức ăn từ từ cho cây, không gây hiện tượng héo lá hoặc lớp đỏ như trường hợp bón nhiều phân đạm hóa học dễ hòa tan (Bảng 4, Bảng 5)
Bảng 4: Thành phần dinh dƣỡng của phân chuồng (Đơn vị: %)
Loại phân H 2 O N P 2 O 5 K 2 O CaO MgO
0,80 0,29 0,44 1,63 1,00
0,41 0,17 0,35 1,54 1,40
0,26 1,00 0,35 0,85 0,62
0,09 0,35 0,15 2,40 1,70
0,10 0,13 0,12 0,74 0,35
(*Nguồn: http:// www.khuyennongvn.gov.vn, ngày 20/7/2013)
Bảng 5: Hàm lƣợng các nguyên tố vi lƣợng trong 10 tấn phân chuồng Các nguyên tố vi lƣợng Hàm lƣợng (gram)/10 tấn phân chuồng
(*Nguồn: http:// www.khuyennongvn.gov.vn, ngày 20/07/2013)
Để phân chuồng có hiệu quả cao cần phải bảo quản tốt Phân chuồng dùng để bón lót, liều lượng bón tùy theo loại cây và loại đất Phân chuồng có thể bón rãi, sau
đó vùi lấp đất ngay để tránh mất đạm Đối với phân chuồng chưa hoai mục nên bón sớm từ 5-7 ngày trước khi gieo trồng Ngoài ra phân chuồng còn trộn lẫn với đất trước khi gieo hạt trồng cây con
2.6.2.2 Phân xanh
Phân xanh là loại phân hữu cơ, sử dụng các loại bộ phận trên mặt đất của cây Phân xanh thường được sử dụng tươi, không qua quá trình ủ Vì vậy, phân xanh chỉ phát huy hiệu quả sau khi được phân hủy Do đó người ta thường dùng phân xanh để
Trang 35bón lót cho cây hằng năm hoặc dùng để phủ gốc cho cây lâu năm Tuy vậy, ở một số địa phương vùng Trung Bộ, phân xanh được chặt nhỏ và bón cho ruộng lúa
Cây phân xanh thường là cây họ đậu nhưng cũng có một số cây thuộc các họ khác như cỏ lào, cây quỳ dại,… cũng được nhiều nơi làm phân xanh Phân xanh có nhiều loại được nông dân gieo trồng với mục đích làm phân bón nhưng cũng có một số loại cây mọc hoang dại được sử dụng làm phân xanh Các loại cây họ đậu thường có những vi sinh vật cộng sinh sống trên rễ và giúp cây cố định đạm từ không khí Lượng đạm này về sau có thể cung cấp một phần cho cây trồng Cây họ đậu còn có khả năng
sử dụng lân khó tiêu và kali từ những lớp đất sâu mạnh hơn nhiều loài cây khác
Cây phân xanh dễ trồng, phát triển nhanh và mạnh Ngoài việc được sử dụng để làm phân bón cho cây trồng, các loài cây phân xanh còn được dùng để làm cây phủ đất, cây che bóng, cây giữ đất chống xói mòn, cây cải tạo đất, nâng cao độ phì của đất
Cây phân xanh có nhiều loài và phần lớn có khả năng thích nghi rộng cho nên cây phân xanh có thể trồng ở nhiều nơi và có thể nói nơi nào cũng có thể trồng được cây phân xanh Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ở nước ta, chúng ta có tập đoàn cây phân xanh phong phú Với điều kiện khí hậu ẩm, nhiệt độ cao, mưa nhiều, quá trình rửa trôi, xói mòn đất luôn diễn ra với cường độ lớn thì các loại cây phân xanh có vai trò rất to lớn trong việc giữ gìn bảo vệ đất và góp phần rất đắc lực làm tăng năng suất các loại cây trồng
Thành phần dinh dưỡng trong một số loại cây họ đậu được dùng làm phân xanh thu được trình bày trong Bảng 6
Bảng 6: Hàm lƣợng đạm và lân trong một số cây phân xanh (% chất khô)
0,39 0,28 0,62 0,17 0,32 0,64 0,39
(*Nguồn: http:// www.khuyennongvn.gov.vn, ngày 20/07/2013)
Trang 36Cây phân xanh có khả năng thích nghi lớn nhưng không phải loài cây nào ở đâu trồng cũng được Năng suất chất xanh và khả năng phát triển các loài cây có thể thay đổi tùy theo chân đất và điều kiện cụ thể ở từng nơi Có loài thích hợp ở ruộng lúa, có các loài thích hợp ở chân đất đồi, có loài thích hợp ở chân đất cát, loài thích hợp ở các tỉnh Nam Bộ hay các tỉnh miền núi phía Bắc,… Vì vậy, cần phải lựa chọn những loài thích hợp với điều kiện của địa phương để trồng mới thu được kết quả tốt Cây phân xanh cũng thường chỉ phát huy tác dụng trong những cơ cấu loại cây trồng nhất định,
vì vậy cần lựa chọn những cơ cấu cây trồng hợp lý với thành phần cây phân xanh phù hợp để trồng xen, trồng gối hoặc luân canh
Để sử dụng cây phân xanh thì chủ yếu là các cách sau đây:
Khi cây phân xanh ra hoa, người ta cài vùi chúng vào đất Vì vào thời điểm này cây phân xanh có năng suất sinh khối cao, cây chưa có hạt nên hạt chưa rụng xuống đất mọc thành cây con gây trở ngại cho việc trồng cây chính vụ sau
Dùng cây phân xanh bón lót cho cây trồng lúc làm đất
Đưa vào hệ thống luân canh, sau một số vụ cây trồng chính, người ta trồng một vụ cây phân xanh để làm tốt đất và loại trừ một số loài sâu bệnh của cây trồng chính
Tủ gốc, phủ luống cho cây lâu năm
2.6.2.3 Phân rác
Theo Đường Hồng Dật (2002) thì phân rác là loại phân hữu cơ được chế biến từ rác, cỏ dại, thân lá cây xanh, bèo tây, rơm rạ, chất thải rắn,… được ủ với một số phân men như phân chuồng, nước giải, lân, vôi,… cho đến khi hoai mục
Phân rác có thành phần dinh dưỡng thấp hơn phân chuồng và thay đổi trong những giới hạn rất lớn tùy thuộc vào bản chất và thành phần của rác Nguyên liệu để làm phân rác có các loại sau đây:
Rác các loại (các chất phế thải đã loại bỏ những tạp chất không phải là hữu
cơ, các chất không hoai mục được)
Xác bã thực vật sau khi thu hoạch như rơm rạ, thân lá cây
Các chất gây men và phụ trợ (phân chuồng hoai mục, vôi, nước tiểu, bùn, phân lân, tro bếp)
Trang 372.6.2.4 Phân hữu cơ vi sinh
Theo Lê Văn Tri (2001), phân hữu cơ vi sinh là phân trộn cơ học giữa phân vi sinh với phân hữu cơ và là sản phẩm cao cấp hơn so với phân hữu cơ do được bổ sung thêm một số loại vi sinh vật hữu ích như vi sinh vật cố định đạm, vi sinh vật hòa tan lân khó tan, vi sinh vật đối kháng,… (Phạm Thanh Hà et al., 2003) Phân hữu cơ vi sinh chủ yếu được dùng để bón lót hoặc dùng làm nguyên liệu để sản xuất phân phức hợp hữu cơ vi sinh (Lê Văn Tri, 2001)
Một số vi sinh vật được bổ sung vào quá trình ủ phân hữu cơ vi sinh (Vũ Hữu Yêm, 1995):
a Vi sinh vật cố định đạm: có nhiều loài vi sinh vật có khả năng cố định Nitơ
từ không khí Đáng chú ý có các loài: vi khuẩn Azotobacter, Azospirillum, Bradryhizobium, Klebsiella pneumonia và xạ khuẩn Actinomyces
Phần lớn các loài vi khuẩn cố định đạm thường sống cộng sinh với các cây họ đậu Chúng xâm nhập vào rễ cây và sống cộng sinh trong đó, tạo thành các nốt sần ở
rễ cây Chúng sử dụng chất hữu cơ của cây để sinh trưởng đồng thời cố định đạm từ không khí để cung cấp cho cây, một phần tích lũy lại trong cơ thể chúng
Thời gian gần đây, cùng với những tiến bộ của khoa học và công nghệ, các nhà khoa học đã sử dụng công nghệ gen để tạo ra các chủng vi sinh vật cố định đạm có khả năng cố định đạm cao và khả năng cộng sinh tốt Công nghệ sinh học cũng giúp tạo ra những chủng vi sinh vật có đặc tính cạnh tranh cao với các loài vi sinh vật trong đất Mặt khác, công nghệ sinh học đã cho phép các nhà khoa học tách được gen quy định đặc tính cố định đạm từ vi khuẩn và đem cấy vào nhân tế bào cây trồng, làm cho một
số loài cây trồng cũng tạo được khả năng cố định đạm như vi khuẩn
Hiện nay trên thị trường phân bón nước ta, phân vi sinh vật cố định đạm đã có các tên thương phẩm sau đây:
Phân nitragin chứa vi khuẩn nốt rễ cây đậu nành
Phân rhidafo chứa vi khuẩn nốt rễ cây đậu phộng
Azotobacterin chứa vi khuẩn cố định đạm tự do
Azozin chứa vi khuẩn cố định đạm từ không khí sống trong ruộng lúa Loại phân này có thể trộn với hạt giống lúa
Trang 38b Vi sinh vật hòa tan lân khó tan: Cây chỉ có thể hút được lân ở dạng dễ hòa tan trong Lân ở dạng khó tan trong đất cây không hút được Vì vậy, có nhiều loại đất như đất đỏ bazan, đất đen,… hàm lượng lân trong đất khá cao nhưng cây không hút được vì lân ở dạng khó hòa tan
Trong đất thường tồn tại một nhóm vi sinh vật có khả năng hòa tan lân Nhóm
vi sinh vật này được các nhà khoa học đặt tên cho là nhóm hòa tan lân (PSM – phosphate solubilizing microorganisms)
Nhóm hòa tan lân bao gồm: Aspergillus niger, một số loài vi khuẩn Pseudomonas, Bacillus, Micrococcus Nhóm vi sinh vật này dễ dàng nuôi cấy trên môi
trường nhân tạo Nhiều nơi người ta đã trộn sinh khối hoặc bào tử các loại vi sinh vật hòa tan lân sau khi nuôi cấy và nhân lên trong phòng thí nghiệm, với bột phosphoric hoặc apatit rồi bón cho cây Sử dụng các chế phẩm vi sinh vật đem lại hiệu quả cao ở những vùng đất cây bị thiếu lân
Theo Lê Văn Tri (2001) do phân hữu cơ vi sinh là sự phối hợp giữa phân hữu
cơ và phân vi sinh nên bên cạnh những tác động đến tính chất hóa lý, sinh học đất, cây trồng thì phân hữu cơ vi sinh còn góp phần làm giàu nguồn vi sinh vật trong đất và làm giảm mầm móng sâu bệnh trong đất, cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, sự gia tăng có hiệu quả của năng suất và chất lượng nông sản, hạn chế sâu bệnh cây trồng, giảm sử dụng thuốc hóa học và góp phần làm sạch môi trường
2.7 Vai trò của phân hữu cơ trong sản xuất nông nghiệp
2.7.1 Vai trò của phân hữu cơ đối với đất
2.7.1.1 Cải tạo tính chất hóa học của đất
Phân hữu cơ có tác dụng cải tạo đất toàn diện, đặc biệt có khả năng cải tạo nhiều đặc tính xấu của đất, ngoài việc cải tạo đất nghèo dinh dưỡng, phân hữu cơ còn tăng lượng chất hữu cơ và mùn trong đất mà phân hóa học không có được
Theo Vũ Hữu Yêm (1995), phân hữu cơ khi bón vào đất sau khi hòa tan sẽ cung cấp thêm cho đất chất khoáng làm phong phú thêm thành phần thức ăn cho cây
và sau khi mùn hóa làm tăng khả năng trao đổi của đất Đặc biệt là các acid humic trong phân có tác dụng khoáng hóa đạm rất tốt Trong quá trình phân hủy chất hữu cơ tạo ra nhiều dinh dưỡng cung cấp cho cây trồng, làm giảm sự cố định K, P trong đất và
Trang 39có khả năng tạo phức với kim loại Chất mùn có khả năng tạo phức với Al làm giảm
Al trao đổi và Al hòa tan trong dung dịch đất, do đó hạn chế khả năng gây độc của Al đối với cây Ảnh hưởng gián tiếp trong việc cung cấp dinh dưỡng từ bón phân hữu cơ
là nâng cao khả năng trao đổi cation lớn hơn từ 2 đến 3 lần so với khoáng sét cùng khối lượng và chứa nhiều các nguyên tố đa lượng nên dễ dàng phóng thích dinh dưỡng cho cây trồng khi xảy ra quá trình khoáng hóa (Bell and Edwards, 1987)
Bón phân hữu cơ giúp đất ít bị rửa trôi thành đất bạc màu hoặc trơ cát sỏi Chất hữu cơ có tác dụng như keo giữ lại các hạt đất rất nhỏ Đồng thời, nếu chất mùn trong đất tăng lên thì các chất dinh dưỡng do ta bón cho cây như: N, P, K,… cũng ít bị rửa trôi hay bay hơi đi mất Ngoài ra, đất có tính đệm nghĩa là khi bón các loại phân hóa học hoặc vôi vào đất thì tính chất hóa học của đất như: chua, kiềm, mặn,… ít tăng đột ngột nên cây trồng ít bị thiệt hại Bón phân hữu cơ vào đất thịt nhẹ, đất xám, làm cho đất không có cấu trúc rời rạc, nhờ đó hạn chế sự bốc hơi nước, hạn chế sự rửa trôi phân khi ta bón cho cây Ngược lại, đất thịt nặng hoặc đất sét nếu được bón nhiều phân hữu cơ thì đất trở nên tơi xốp (Nguyễn Thanh Hùng, 1984)
2.7.1.2 Cải tạo lý tính của đất
Việc trộn chất hữu cơ vào đất làm tăng kết cấu đất Tác dụng ổn định cấu trúc đất phụ thuộc vào bản chất của chất hữu cơ và mức độ mùn hóa Mùn tăng khả năng kết dính của các hạt đất và làm giảm khả năng thấm ướt giúp cho kết cấu đất được bền trong nước (Đỗ Thị Thanh Ren, 1998) Khi bón phân có hệ thống sẽ cải thiện tính chất vật lý của đất như chế độ nước, chế độ nhiệt của đất (Lê Văn Khoa, 1996) Đất có cấu trúc làm cho đất thoáng khí, nhiệt độ điều hòa giúp rễ cây trồng phát triển, trao đổi khí được tốt hơn, đồng thời làm giảm trọng lực và lực cản của đất Ngược lại, sự suy giảm chất hữu cơ trong đất đưa đến giảm độ xốp của đất (Tisdall and Oades, 1982)
Phân hữu cơ có tác dụng làm cho đất thông thoáng tránh tạo ván và xói mòn Cải thiện tính chất vật lý của đất, làm cho đất thoáng khí, ổn định pH, đất được giữ
ẩm, tăng khả năng chống hạn cho cây trồng Tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của vi sinh vật đất, giúp bộ rễ phát triển (Vũ Hữu Yêm, 1995) Góp phần đẩy mạnh quá trình hòa tan các hợp chất khoáng, hữu cơ thành nguồn dinh dưỡng dễ tiêu như N,
P, K cho cây hấp thụ Qua đó làm giảm tổn thất do bay hơi, rửa trôi gây ra
Trang 40Ngoài tác dụng cải tạo lý, hóa, phân hữu cơ còn có tác dụng hòa tan các độc chất trong đất tạo môi trường đất thuận lợi thúc đẩy vi sinh vật đất phát triển mạnh, qua đó hạn chế các vi sinh vật có hại cho cây trồng (Nguyễn Như Hà, 2006)
2.7.2 Vai trò của phân hữu cơ đối với cây trồng
Chất hữu cơ là nguồn dự trữ và cung cấp dưỡng chất cho cây trồng Thành phần của chất hữu cơ nói chung bao gồm C, O, H Ngoài ra chúng chứa một lượng đáng kể các chất khoáng như N, P, K và nhiều chất khoáng khác cần thiết cho cây trồng Cây
có thể hút trực tiếp một lượng chất đạm hữu cơ dưới dạng amino acid như: Alanine, Glycine, còn thông thường cây hút các chất dinh dưỡng dưới dạng muối khoáng có được từ sự khoáng hóa chất hữu cơ Ví dụ như cây lúa hút 80% chất đạm từ sự khoáng hóa chất hữu cơ trong đất, ngay khi đất được bón phân (Đỗ Thị Thanh Ren, 1999) Nhiều chất hữu cơ có hoạt tính sinh học cao, đặc biệt là các acid mùn có tác dụng kích thích sinh trưởng và phát triển rễ cây trồng, làm tăng tính thẩm thấu của màng tế bào
Có khả năng làm tăng hoạt tính của enzyme oxy hóa khử, làm tăng khả năng sử dụng dưỡng chất của cây trồng Bón kết hợp thích đáng giữa phân hóa học và phân hữu cơ
sẽ có tác dụng tăng năng suất cây trồng
Phân hữu cơ có chứa đầy đủ các loại chất khoáng cần thiết cho cây trồng nhưng hàm lượng không nhiều Mặc dù phân hữu cơ có tác dụng tức thời như phân hóa học, nhưng bón số lượng lớn thì tác dụng của nó không thua kém phân hóa học (Nguyễn Thanh Hùng, 1984)
2.7.3 Vai trò của phân hữu cơ trong sản xuất rau an toàn
2.7.3.1 Một số khái niệm
Rau hữu cơ
Rau hữu cơ là loại rau được sản xuất theo phương thức dùng phân hữu cơ, nước sạch để tưới, trên đất không bị ô nhiễm, không sử dụng phân khoáng và thuốc bảo vệ thực vật, hay nói cách khác là rau sản xuất hoàn toàn không sử dụng hóa chất nông nghiệp (AVRDC, 2003)
Rau an toàn
Là loại rau khi đến tay người tiêu dùng thì các chỉ tiêu về thuốc hóa học, nitrate, kim loại nặng và vi sinh vật gây bệnh phải ở dưới mức cho phép (Trần Thị Ba, 2006)