Những số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận “ Thực trạng giáo dục kĩ năng giao tiếpcho trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề tại một số trườngmầm non khu vực t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC su' PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DUC TIỂU
HOCÀNG THỊ HIỆU
THỤ C TRẠNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG
GIAO TIÉP CHO TRẺ MẪU GIÁO NHỠ THÔNG QUA
TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐÊ TẠI MỘT SỐ
YÊN - VĨNH PHÚC KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập tại trường ĐHSP Hà Nội 2, được sự dạy dỗ, chỉ bảotận tình của các thầy cô giáo em đã tiếp nhận được nhiều tri thức khoa học, kinhnghiệm và phương pháp học tập mới
Qua đây em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo trong tổ bộ mônTâm Lý Giáo Dục đã tạo mọi điều kiện cho em hoàn thành khóa luận tốt nghiệpcủa mình
Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Trần Thanh Tùng, người đã trụctiếp hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ em tận tình trong suốt thời gian em thực hiệnkhóa luận này
Em cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Ban Giám Hiệu, các thầy côgiáo cùng các cháu nhỏ tại trường mầm non Hoa Sen, trường mầm non NgôQuyền và trường mầm non Đồng Tâm đã tạo điều kiện cho em điều tra, khảo sátthực trạng và thực nghiệm khoa học
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Hoàng Thị Hiệu LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cún của riêng em Những số liệu
và kết quả nghiên cứu trong khóa luận “ Thực trạng giáo dục kĩ năng giao tiếpcho trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề tại một số trườngmầm non khu vực thành phố Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc” là hoàn toàn trung thực,không có sự trùng lặp với bất kì một đề tài nào khác Neu sai, em xin hoàn toànchịu trách nhiệm
Trang 3Hà Nội, tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Hoàng Thị Hiệu
MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2
4 Mức độ và phạm vi nghiên cứu 2 5 Giả thuyết khoa học 3
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cún 3
8 Nội dung chính của đề tài 4
9 Ke hoạch nghiên cứu 5
PHẦN 2: NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1: Cơ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC KĨ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ MẢƯ GIÁO NHỠ THÔNG QUA TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ 6
1.1 Lịch sử nghiên cứu của đề tài 6 1.1.1 Ngoài nước 6
1.1.2 Trong nước 6
1.2 Kĩ năng và kĩ năng giao tiếp của trẻ mẫu giáo nhỡ 7
1.2.1 Khái niệm kĩ năng 7
1.2.2 Khái niệm kĩ năng giao tiếp 9
1.2.3 Đặc điểm của kĩ năng giao tiếp của trẻ mẫu giáo nhỡ 10
Trang 41.3 Giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻmẫu giáo nhỡ 12
1.3.1 Khái niệm giáo dục kĩ năng giao tiếp 12
1.3.2 Phương pháp giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo nhỡ 12
1.4 Trò chơi đóng vai theo chủ đề và vấn đề giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo nhỡ 14
1.4.1 Khái niệm trò chơi 14
1.4.2 Khái niệm trò chơi đóng vai theo chủđề 15
1.4.3 Vai trò của trò chơi đóng vai theo chủ đề trong việc giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo nhỡ 16
1.5 Đặc điểm của trẻ mẫu giáo nhỡ 17
1.5.1 Đặc điểm tâm lí của trẻ mẫu giáo nhỡ 17
1.5.2 Đặc điểm sinh lí của trẻ mẫu giáo nhỡ 20
1.5.3 Đặc điểm ngôn ngữ và giao tiếp của trẻ mẫu giáo nhỡ 22
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KĨ NẢNG GIAO TIẾP CHO TRẺ MÃU GIÁO NHỠ THÔNG QUA TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON KHƯ vực THÀNH PHỐ VĨNH YÊN -VĨNH PHÚC 24
2.1 Vài nét về phạm vi nghiên cứu 24
2.2 Thực trạng giáo dục kĩ năng giao tiếp của trẻ mẫu giáo nhỡ 24
2.2.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên về kĩ năng diễn đạt của trẻ mẫu giáo nhỡ 24
2.2.2 Thực trạng nhận thức của giáo viên về kĩ năng diễn đạt của trẻ mẫu giáo nhỡ 26
2.2.3 Thực trạng về kĩ năng hợp tác với người khác của trẻ mẫu giáo nhỡ 27 2.3 Thực trạng biểu hiện kĩ năng giao tiếp của trẻ mẫu giáo nhỡ tại một số
Trang 5trường mầm non khu vực thành phố Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc 28
2.3.1 Kĩ năng giao tiếp của trẻ biểu hiện qua việc sử dụng các phương tiện giao tiếp
28 2.3.2 Kĩ năng giao tiếp của trẻ biểu hiện qua khả năng thiết lập các mối quan hệ khi giao tiếp 29
2.3.3 Kĩ năng giao tiếp của trẻ biểu hiện qua việc làm chủ xúc cảm và hành vi giao tiếp 31
2.4 Thực trạng việc sử dụng trò chơi đóng vai theo chủ đề trong giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ 32
2.4.1 Nhận thức của giáo viên về giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề 32
2.4.2 Mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ 33 2.4.3 Thực trạng kĩ năng giao tiếp của trẻ mẫu giáo nhỡ tại một số trường mầm non khu vực thành phố Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc 39
2.5 Nguyên nhân dẫn đến thực trạng 40
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KĨ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ MẢU GIÁO NHỠ THÔNG QUA TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ 42
3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 42
3.2 Một số biện pháp 44
PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48 PHỤ LỤC
Trang 6sẻ hiểu biết và bộc lộ thái độ của bản thân Qua đó giao tiếp giúp con người hòa nhậpvào các quan hệ xã hội và hình thành nhân cách của bản thân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tùng nói: “ Trẻ em như búp trên cành, biết ăn biết ngủbiết học hành là ngoan” Lứa tuổi mẫu giáo là một quãng đời có tầm quan trọng đặcbiệt trong quá trình phát triển chung của trẻ em Đe đảm bảo cho sự phát triển toàndiện của trẻ sau này cần trang bị đầy đủ cho trẻ các kĩ năng cần thiết, trong đó sựchuẩn bị về những kĩ năng giao tiếp có ý nghĩa vô cùng quan trọng đế giúp trẻ hòanhập vào các mối quan hệ mới Những trẻ được chuẩn bị chu đáo về kĩ năng giao tiếpthường có tâm lí tự tin, mạnh dạn, táo bạo, giao tiếp với cô giáo, các bạn và nhữngngười xung quanh một cách tự nhiên, thoải mái tạo điều kiện cho sự phát triển toàndiện của trẻ
Như vậy việc giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo sẽ giúp trẻ thích ứngđược các mối quan hệ giữa con người với con người trong môi trường sống đồng thờitạo điều kiện cho việc giáo dục các kĩ năng khác cho trẻ như trí tuệ, ngôn ngữ giúp trẻhọc tập tốt hơn
Đối với trẻ mẫu giáo nói chung và trẻ mẫu giáo nhỡ nói riêng khi các dạng hoạtđộng của trẻ còn hạn chế về số lượng thì kĩ năng giao tiếp được xem là năng lực cầnthiết giúp trẻ trải nghiệm các dạng hoạt động khác của xã hội qua hoạt động vui chơi,trong đó trò chơi đóng vai theo chủ đề là trung tâm
Trò chơi đóng vai theo chủ đề có thể phản ánh cuộc sống xung quanh khá đadạng với các mảng hiện thực khá phong phú và có rất nhiều iru thế trong việc giáo
Trang 7dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo nhỡ, các chủ đề chơi thường rất gần gũi và phùhợp với đặc điểm tâm, sinh lí của trẻ Thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề cácquan hệ xã hội được bộc lộ rõ rệt đòi hỏi trẻ phải học cách giao tiếp, ứng xử cho phùhợp với vai mình đóng do đó kĩ năng giao tiếp của trẻ ngày càng được hoàn thiện.Tuy nhiên việc giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ thông qua trò chơi đóng vaitheo chủ đề ở nhiều cơ sở giáo dục mầm non chưa thực sự được chú ý và chưa nhậnthức được ưu thế của trò chơi đóng vai theo chủ đề đối việc giáo dục kĩ năng giao tiếpcho trẻ mẫu giáo nhỡ.
Từ nhũng lí do trên tôi đã chọn đề tài 44 Thực trạng giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề tại một số trường mầm non khu yực thành phố Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc” để nghiên cún.
2 Mục đích nghiên cún
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng, chúng tôi đề xuất một sốbiện pháp nhằm nâng cao kết quả giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo nhỡthông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề tại một số trường mầm non khu vực thànhphố Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua trò chơiđóng vai theo chủ đề
Trang 8Đe tài được nghiên cún tại các lớp mẫu giáo nhỡ trường mầm non Hoa Sen,trường mầm non Ngô Quyền và trường mầm non Đồng Tâm thành phố Vĩnh Yên -Vĩnh Phúc
5 Giả thuyết khoa học
Kĩ năng giao tiếp của trẻ mẫu giáo nhỡ ở một số trường mầm non khu vực thànhphố Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc còn chưa tốt do giáo viên chưa nắm hết được vai trò củaviệc sử dụng trò chơi đóng vai theo chủ đề để giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ Neu
có những biện pháp tác động phù hợp và phương pháp giảng dạy hiệu quả thì thôngqua trò chơi đóng vai theo chủ đề, kĩ năng giao tiếp của trẻ mẫu giáo nhỡ sẽ hìnhthành và phát triển tốt hơn
6 Nhiệm yụ nghiên cứu
- Nghiên cún cơ sở lí luận của đề tài
- Nghiên cứu thực trạng giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo nhỡ thôngqua trò chơi đóng vai theo chủ đề
- Đe xuất các biện pháp nhằm nâng cao kết quả giáo dục kỹ năng giao tiếp chotrẻ mẫu giáo nhỡ thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề
7 Phưcmg pháp nghiên cứu
7.1.Phưoiig pháp nghiên cứu lí luận
Tìm kiếm, đọc, thu thập, phân tích và xử lí thông tin phục vụ cho đề tài nghiêncún
7.2.Phương pháp quan sát
Quan sát tiết giáo viên tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề cho trẻ để theo dõicác cuộc giao tiếp của trẻ với cô và các trẻ với nhau Từ đó có thể nắm được vốn từngữ, khả năng diễn đạt trong giao tiếp của trẻ
Trang 97.3 Phưong pháp trò chuyện
Trao đổi với giáo viên về vấn đề nghiên cứu, tham gia trò chuyện với trẻ đặt racho trẻ một số câu hỏi đơn giản đế nắm rõ khả năng giao tiếp của trẻ
7.4 Phưong pháp điều tra
Chúng tôi đã sử dụng phương pháp điều tra để tìm hiểu khả năng tổ chức cáchoạt động của giáo viên để phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ tại 3 trường mầm non:trường mầm non Hoa Sen, trường mầm non Ngô Quyền và trường mầm non ĐồngTâm thành phố Vĩnh Yên- Vĩnh Phúc
7.5 Phương pháp xử ỉí số liệu
Tổng họp số liệu thành bảng trên số trẻ quan sát
8 Nội dung chính của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, nội dung chính của đề tài gồm 3chưong:
Chương 1: Cơ sở lí luận của việc giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo nhỡthông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề
Chương 2: Thực trạng giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua tròchơi đóng vai theo chủ đề tại một số trường mầm non khu vực thành phố Vĩnh Yên -Vĩnh Phúc
Chương 3: Đe xuất biện pháp giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo nhỡ thôngqua trò chơi đóng vai theo chủ đề
9 Kế hoạch nghiên cứu
- Tháng 11/ 2014- 12/2015: nhận đề tài và hoàn thành đề cương.
- 12/2014- 2/2015: tìm hiểu cơ sở lí luận của đề tài
- 2/2015- 4/2015: tìm hiểu thực trạng của đề tài nghiên cứu
- 4/2015- 5/2015: hoàn thành đề tài nghiên cún.
PHÀN 2: NỘI DUNG
•
Trang 10CHƯƠNG 1: Cơ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC KĨ NĂNG GIAO TIÉP CHO TRẺ MẪU GIÁO NHỠ THÔNG QUA TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI THEO
CHỦ ĐÊ 1.1 Lịch sử nghiên cứu của đề tài
1.1.1 Ngoài nước
Ngay từ thời cổ đại Arixtôt (384 - 322 TCN ) trong cuốn “ Bàn về tâm hồn” cuốnsách đầu tiên của loài người bàn về tâm lí học đã quan tâm đến kĩ năng nói chung.Theo ông, nội dung của phẩm hạnh là “ biết định hướng, biết làm việc, biết tìm tòi”,điều đó có nghĩa là: Con người có phẩm hạnh là con người có kĩ năng làm việc”.Đen những năm đầu thế kỉ XX, tâm lí học hành vi ra đời với đại diện là J.Watson, B.F Skinner, E.L Thordai cũng đã bàn tới vấn đề rèn luyện kĩ năng trongviệc hình thành hành vi
T.StecSen (Pháp) đặc biệt chú ý đến sự thay đổi ý nghĩa, tình cảm và xúc cảmgiữa con người với con người và khi đó ông coi sự trao đổi này là quá trình hai mặtcủa sự thông báo thiết lập, sự tiếp xúc và trao đổi thông tin
L.x Vưgôtxki ( nhà tâm lí học Liên Xô) cho 1'ằng: Giao tiếp xem như là sựthông báo hoặc quan hệ qua lại thuần túy giữa con người, như là sự trao đổi quanđiểm và xúc cảm ( L.x Vưgôtxki)
1.1.2 Trong nước
Các công trình nghiên cún của các tác giả Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Thạc,Nguyễn Công Hoan, Lê Xuân Hồng, Nguyễn Xuân Thức đã chỉ ra những đặc điếmgiao tiếp của trẻ và đưa ra những phương hướng hình thành tính tích cực giao tiếpcủa trẻ 4- 5 tuổi
PGS TS Nguyễn Ánh Tuyết với cuốn sách “ Giáo dục mầm non những vấn đề líluận và thực tiễn” hay “ Tâm lí học trẻ em lứa tuổi mầm non”.Trong những cuốnsách này tác giả đã đề cập đến vai trò của trò chơi đóng vai theo chủ đề với sự phát
Trang 11triển khả năng giao tiếp của trẻ một cách khái quát chứ chưa đi sâu nghiên cứu kĩnăng giao tiếp của trẻ mẫu giáo một cách cụ thể.
Tác giả Nguyễn Minh Anh [8, Tr 20] đã có bài viết nói “ vấn đề trau dồi kĩ nănggiao tiếp cho trẻ quan trọng hon cả Trẻ cần được trợ giúp để phát hiện và phát triển
kĩ năng giao tiếp này bởi chúng còn đang ở trong giai đoạn hình thành, phát triểnnhân cách và trí tuệ
Các tác giả Nguyễn Văn Lê, Trần Trọng Thủy, Trần Ngọc Thêm, Bằng Giang lạinghiên cún sâu hơn về những đặc trung văn hóa giao tiếp của con người Việt Nam
và những vấn đề phương tiện giao tiếp Trong các công trình nghiên cứu của nhữngtác giả này còn đề cập đến những kĩ năng giao tiếp đặc trưng, các nét tính cách biểu
lộ qua giao tiếp, v.v
Tác giả Nguyễn Quang uẩn trong “ Tâm lí học đại cương” 1995, đã quan niệmTri thức- Kĩ năng- Kĩ xảo là điều kiện cần thiết để hình thành năng lực trong mộtlĩnh vực nào đó
Tác giả Trần Trọng Thủy trong giáo trình “ Tâm lí học lao động” đã làm rõ kháiniệm kĩ năng và điều kiện để hình thành kĩ năng hoạt động lao động
1.2 Kĩ năng và kĩ năng giao tiếp của trẻ mẫu giáo nhõ’
1.2.1 Khái niệm kĩ năng
Theo từ điển tâm lí học, kĩ năng là năng lực vận dụng có kết quả những tri thức
về phương thức hành động đã được chủ thế lĩnh hội đế thực hiện nhiệm vụ tươngứng [12, Tr 131]
Khái niệm này cho thấy
Kĩ năng là năng lực vận dụng những tri thức về phương thức hành động, tức kĩnăng luôn gắn liền với hành động và hoạt động cụ thể Qua việc cá nhân thựchiện các hành động khi làm một công việc, ta có thể đánh giá được mức độ thônghiểu công việc cũng như khả năng vận dụng tri thức của chủ thể
Trang 12Ớ mức độ kĩ năng, thao tác chưa thuần thục và còn phải tập trung chú
ý-Kĩ năng được hình thành qua luyện tập
Theo từ điển Tiếng Việt [1] : Kĩ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thuđược vào thực tế Trong tâm lí học : kĩ năng là phạm trù cơ bản, hiện nay các nhànghiên cún thống nhất có hai quan niệm khác nhau về kĩ năng:
Quan niệm thứ nhất: Coi kĩ năng là mặt kĩ thuật của thao tác, hành động hay hoạtđộng Đại diện cho quan điểm này là Ph.N.Gônôbôlin; V.A.Krutretxki TheoV.A.Krutretxki thì: “ kĩ năng là phương thức thực hiện hoạt động cái mà con ngườilĩnh hội được”
Quan niệm thứ hai: Coi kĩ năng không đơn thuần là mặt kĩ thuật của hành động
mà nó còn là một biểu hiện về năng lực của con người Đại diện cho quan điểm này làN.Đ.Lêvitov, K.K.Platonow N.Đ.Lêvitov cho rằng: “ kĩ năng là sự thể hiện có kếtquả của một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và
áp dụng những cách thức đúng đắn Người có kĩ năng hoạt động trước hết phải có trithức hoạt động Sau đó vận dụng đúng đắn và có kết quả trong thực tiễn Sau đó, kĩnăng phải
tính đến sự ổn định, bền vững, linh hoạt, sáng tạo trong bất kì điều kiện và hoàncảnh nào
Như vậy, khi xem kĩ năng với tư cách là năng lực hành động của cá nhân chúng
ta không chỉ phân tích ở mặt kĩ thuật của hành động mà còn phải nghiên cứu nhân tốquan trọng khác là kết quả của hành động trong những điều kiện khác nhau, về thực
chất hai quan niệm trên không phủ định lẫn nhau Tuy nhiên quan niệm thứ haiđược các nhà nghiên cứu sử dụng nhiều hơn cả
1.2.2 Khái niệm kĩ năng giao tiếp
Trong khoa học, thường có nhiều quan điểm khác nhau về một thuật ngữ Thuậtngữ “ kĩ năng” cũng được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau, có tác giả tiếp cận
Trang 13những thuật ngữ này thuần túy từ góc độ kĩ thuật - nhìn nhận kĩ năng là sự “thànhthạo các khuôn mẫu hành vi nhất định”; có tác giả thì nhìn nhận kĩ năng như là “phương thức hoạt động những gì con người đã nắm vững”, một số tác giả khác lạichú ý nhiều hơn tới hiệu quả của hoạt động Mỗi góc nhìn đều có những giá trị vànhũng hạn chế nhất định Ke thừa và tiếp cận phức họp nhiều góc độ có thể địnhnghĩa kĩ năng giao tiếp như sau: “ Kĩ năng giao tiếp là sự nhận biết mau lẹ nhữngdấu hiệu bên ngoài và đoán biết những diễn biến tâm lí bên trong của đối tượng giaotiếp đồng thời biết sử dụng có hiệu quả các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữnhằm đạt được mục đích giao tiếp” Thuật ngữ “kĩ năng giao tiếp” còn được hiểunhư là khả năng (năng lực) thực hiện có hiệu quả một lĩnh vực hoạt động - hoạtđộng giao tiếp Do đó, kĩ năng giao tiếp còn được nhìn nhận như là một nhóm kĩnăng trong giao tiếp bao gồm:
+ Kĩ năng nhận thức và phán đoán về đối tượng giao tiếp Chủ thế giao tiếp nhanh
chóng phán đoán được đặc điểm tâm lí của đối thượng giao tiếp dựatrên vốn hiểu biết về tâm lí con người và những biểu hiện hành vi của nó như thôngqua lời nói, qua hành vi, cử chỉ, diện mạo ( ăn mặc, đầu tóc ) của đối tượng giaotiếp Ớ mức độ cao hơn chủ thể giao tiếp còn có thể phán đoán được những hành vihoặc diễn biến tâm lí tiếp theo của đối tượng giao tiếp sau một tác động nào đó.+ Kĩ năng thu nhận, khai thác thông tin từ đối tượng giao tiếp Nhóm kĩ năng nàybao gồm: kĩ năng lắng nghe, kĩ năng đặt câu hỏi,
+ Kĩ năng sử dụng ngôn từ Nhóm kĩ năng này bao gồm: kĩ năng chọn lựa và sửdụng từ ( dùng từ có nghĩa, đúng nội dung giao tiếp, phù họp với đối tượng và hoàncảnh giao tiếp); Kĩ năng nói- diễn đạt
+ Kĩ năng sử dụng phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ Nhóm kĩ năng này bao gồm:
kĩ năng sử dụng đúng giọng điệu, ngữ điệu, cường độ, trường độ phù hợp với đốitượng, hoàn cảnh giao tiếp và đặc biệt là để diễn đạt đúng suy nghĩ, cảm xúc, thái độ
Trang 141.2.3 Đặc điếm của kĩ năng giao tiếp của trẻ mẫu giáo nhỡ
Phương tiện giao tiếp ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp đặc trưng cho conngười Nội dung của lời nói tác động mạnh vào ý thức của con người, ngữ điệu củalời nói tác động mạnh đến tình cảm của con người Nhờ có ngôn ngữ mà con ngườithiết lập được sự giao tiếp với nhau Trong giao tiếp, con người sử dụng các phươngtiện ngôn ngữ và phương tiện phi ngôn ngữ, trong đó phương tiện ngôn ngữ là chủyếu Giao tiếp phi ngôn ngữ là
giao tiếp không dùng ngôn ngữ, loại giao tiếp này còn được gọi là giao tiếp bằngngôn ngữ cơ thể, hoặc ngôn ngữ tứ chi như: cử chỉ, điệu bộ, hành vi, ánh mắt, nụcười Các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ luôn được sử dụng thường xuyên tronggiao tiếp hàng ngày Các phương tiện giao tiếp bằng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ đượctrẻ mẫu giáo nhỡ phối hợp khéo léo trong quá trình giao tiếp tạo nên kĩ năng giao tiếpcủa trẻ
Đặc điểm kĩ năng giao tiếp của trẻ mẫu giáo nhỡ chính là chức năng nội dung vàchức năng hình thức của quá trình giao tiếp Sự phối họp giữa phương tiện giao tiếpngôn ngữ và phi ngôn ngữ của trẻ phải đảm bảo các chức năng của giao tiếp Giaotiếp của trẻ mẫu giáo nhỡ thực hiện các chức năng sau:
- Chức năng thông tin: Qua giao tiếp trẻ trao đổi, truyền đạt cho nhau những tri thức
và kinh nghiệm
- Chức năng cảm xúc: Giao tiếp không chỉ bộc lộ cảm xúc mà còn tạo ra những ấntượng, những cảm xúc mới giữa chủ thể này với chủ thể khác
Trang 15- Chức năng nhận thức và đánh giá lẫn nhau: Trong giao tiếp mỗi trẻ lại tự bộc lộ ýnghĩ, thái độ, thói quen của mình; do đó các chủ thể có thể nhận thề nhận thức được
về nhau và làm cơ sở để đánh giá lẫn nhau Điều quan trọng hơn là trẻ mẫu giáo nhỡ
đã có thể đánh giá được mình
-Chức năng điểu chỉnh hành vi: Trẻ mẫu giáo nói chung và trẻ mẫu giáo nhỡ nói riêngbước đầu đã có thể điều chỉnh được hành vi của mình thông qua lời nhận xét củangười lớn và bạn bè xung quanh
- Chức năng phối hợp hoạt động: Nhờ có quá trình giao tiếp mà trẻ mẫu giáo nhỡ cóthể phối họp hoạt động để cùng nhau giải quyết được nhiệm vụ chung Điều này làmxuất hiện loại giao tiếp mới ở trẻ đó là giao tiếp “ công việc tình huống” vói bạn bècùng trang lứa
Trang 161.3 Giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo nhỡ
1.3.1 Khái niệm giáo dục kĩ năng giao tiếp
Giáo dục được hiểu là quá trình hình thành và phát triển nhân cách dưới ảnh hưởng củatất cả các hoạt động từ bên ngoài, được thực hiện một cách có ý thức của con người trongnhà trường, gia đình và ngoài xã hội
Như vậy giáo dục kĩ năng giao tiếp là quá trình hình thành, phát triển những kĩ nănggiao tiếp
1.3.2 Phưong pháp giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo nhỡ
* Phương pháp giáo dục bằng trò chơi
Một phần quan trọng trong qua trình học kĩ năng giao tiếp là sự tương tác giữa kiếnthức mới hay kinh nghiệm mới với thông tin hay kinh nghiệm đã có sẵn Vận dụng các quátrình suy nghĩ và thực hành là trung tâm của các hoạt động kĩ năng giao tiếp Các kĩ nănggiao tiếp được học tốt nhất thông qua các hoạt động tích cực của trẻ Việc hình thành kĩnăng giao tiếp phụ thuộc vào quá trình học tập, tương tác với người khác thông qua cáchoạt động nhóm như đóng vai theo chủ đề, luyện tập hoạt động cặp, quan sát
Đối với trẻ mầm non, trẻ học các hành vi, các kĩ năng giao tiếp thông qua việc bắtchước, qua luyện tập hàng ngày và lâu dần sẽ trở thành kĩ năng của trẻ
Để giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ một cách có hiệu quả giáo viên có thể sử dụng cácbiện pháp sau đây:
- Làm gương, làm mẫu cho trẻ
- Trải nghiệm: Tạo cơ hội để trẻ được trải nghiệm, được cuốn hút vào các hoạt động đadạng khác nhau cùng với các bạn trong lóp như ( chơi đóng vai, chơi ngoài trời, cùng vẽ,cùng nhảy múa ) Tạo điều kiện để trẻ tương
12tác, giao tiếp với nhau trong lóp như thảo luận, trao đổi ý tưởng, giải quyết xung đột, chia sẻkinh nghiệm, cùng nhau trải nghiệm những vai trò khác nhau
Trang 17- Trò chơi: Đóng vai, xây dựng, đóng kịch Trong khi chơi xã hội trẻ em được hình thànhmột cách thú vị: có thủ lĩnh, có nhóm, có sự họp tác giúp đỡ nhau, giải quyết xung đột Đối vói trẻ mầm non trò chơi là hoạt động chủ đạo Trẻ chơi mà học và học mà chơi.Phương pháp trò chơi là tổ chức cho trẻ chơi trò chơi để qua đó tìm hiểu một vấn đề, biểuhiện thái độ hay hành động việc làm Qua trò chơi, trẻ có cơ hội trải nghiệm những thái độ,hành vi Nhò' sự trải nghiệm này, sẽ hình thành ở trẻ niềm tin vào những thái độ, hành vi,ứng xử tích cực tạo ra động cơ bên trong cho những hành vi ứng xử giao tiếp trong cuộcsống Ọua trò chơi, trẻ sẽ được rèn luyện cách ứng xử đúng đắn, phù họp với tình huốngchơi Qua trò chơi trẻ được lôi cuốn vào những tình huống trong qua trình học tập một cách
tự nhiên, hứng thú Và đặc biệt trò chơi giúp làm tăng khả năng giao tiếp giữa trẻ với trẻ,giữa trẻ với giáo viên
- Tập luyện thường xuyên: để hình thành và có được các kĩ năng giao tiếp một cách bềnvững trẻ cần được tập luyện thường xuyên trong cuộc sống hàng ngày
- Giải quyết tình huống: Dựa vào các tình huống thực xảy ra đế dạy trẻ biết giải quyết tìnhhuống
Có thể tận dụng các tình huống thực trong cuộc sống hàng ngày để dạy trẻ Ví dụ: Haitrẻ nói chuyện với nhau: tớ không thích chơi với bạn, tớ “ ê xì “ bạn Cô có thể nói với trẻ “con không được ê xì bạn như vậy là không tốt, chúng mình phải chơi đoàn kết với nhau”.Dần dần tạo cho trẻ biết hòa đồng và chơi đoàn kết với nhau
- Thông qua các hoạt động nghệ thuật như vẽ, nặn, xé dán, ca hát, nhảy múa trẻ sẽ đượctrao đổi ý kiến, nói lên suy nghĩ, ý tưởng của mình với các bạn
- Khen ngợi động viên trẻ: Đây là hình thức giáo dục hiện đại và hiệu quả giúp trẻ tự tin,mạnh dạn hơn trong giao tiếp
Giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ được tiến hành trong tất cả các hoạt động giáo dụchàng ngày như: vui chơi, học tập, chăm sóc dinh dưỡng Mỗi hoạt động lại có ưu thếriêng trong việc giáo dục cho trẻ những kĩ năng giao tiếp Đe đứa trẻ có được kĩ năng giao
Trang 18tiếp tốt cần phải có thời gian, luyện tập thường xuyên, đặc biệt phải có sự hỗ trợ của ngườilớn và bạn bè
1.4 Trò choi đóng vai theo chủ đề và vấn đề giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo nhỡ
1.4.1 Kháỉ niệm trò choi
Không loại trù' hoàn toàn một số yếu tố sinh học của trò chơi, trong nhiều công trìnhnghiên cún của đông đảo các nhà tâm lí học ở nhiều nước trên thế giới đặc biệt là các nhàtâm lí học Mác xít đã khẳng định bản chất xã hội của trò chơi là: Trò chơi được xem làmột hoạt động xã hội Nó mang tính xã hội cả về nguồn gốc ra đời, về khuynh hướng, vềnội dung và hình thức biểu hiện
Năm 1925 trong khi tìm hiếu nguồn gốc nghệ thuật, Plêkhanôp đã chú ý đến trò chơitrẻ em, phân tích trò chơi ở nhiều dân tộc khác nhau ( chủ yếu của thời đại nguyên thủy)
đã cho nhận xét rằng, trong lịch sử loài người, trò chơi là một nghệ thuật xuất hiện sau laođộng và trên cơ sở của lao động Trò chơi phản ánh hoạt động lao động của người lớn Cáccháu trai thì bắt chước người cha còn các cháu gái thì bắt chước người mẹ Các cháu lĩnhhội một cách thực tế những kĩ năng lao động đơn giản của cha mẹ và lĩnh hội cả nhữngthói quen của người lớn trong xã hội Từ nhận xét đó G.v Plêkhanôp đã xem trò chơi là
sợi dây nối liền các thế hệ với nhau và truyền đạt những kinh nghiệm, những thành quảvăn hóa từ thế hệ này đến thế hệ khác Như vậy trò chơi là một hiện tượng mang tính chất
xã hội theo giáo trình
Chơi là một hoạt động chủ đạo của trẻ trong suốt tuổi mẫu giáo, một hoạt động đặc biệtphản ánh toàn bộ cuộc sống tâm lí của trẻ, phản ánh hiện thực xung quanh trẻ, phản ánhnhững hiểu biết của mình và đặt mối quan hệ với các bạn
Ngay từ lứa tuổi mẫu giáo bé, trong hoạt động phối hợp với người lớn, trẻ đã lĩnh hội đươcmột số hành động với các đồ chơi rồi về sau tự trẻ tái tạo lại những hành động đó Người
ta thường gọi những hành động đó là trò chơi Trò chơi của trẻ là một hoạt động phản ánhsáng tạo độc đáo thực hiện tác động qua lại giữa trẻ với môi trường xung quanh Qua đó
Trang 19làm thỏa mãn nhu cầu vui chơi của trẻ Trò chơi với tư cách là một hình thức hoạt độngđặc biệt của trẻ em, có lịch sử phát triển riêng gắn liền với sự biến đổi địa vị của đứa trẻtrong xã hội Không thể gắn liền trò chơi của đứa trẻ với cái gọi là trò chơi của các “độngvật non” Cái gọi là trò chơi của các “động vật non” là sự luyện tập các hình thức hành vibản năng được truyền lại bằng con đường di truyền Hành vi của con người không có bảnchất bản năng, trẻ em lấy nội dung của các trò chơi của mình từ cuộc sống xung quanhngười lớn.
1.4.2 Khái niệm trò choi đóng vai theo chú đề
Trò chơi đóng vai theo chủ đề hay còn gọi là trò chơi giả bộ, có tính tượng trưng độcđáo, 111Ô tả lại những sự việc diễn ra trong cuộc sống sinh hoạt của trẻ Đây là một hoạtđộng chủ đạo vui chơi của trẻ em lứa tuổi mẫu giáo,
Trang 20giúp trẻ hình thành kĩ năng và phát triên nhân cách Khi trẻ lên ba tuôi trẻ bắt đầu có ýthức về bản thân mình, biết phân biệt mình với người khác trong cộng đồng nhỏ.Mối quan
hệ giữa trẻ em với người lớn mang tính chất mới( hoạt động cùng nhau được thay thế bằngviệc thực hiện những nhiệm vụ độc lập theo lời chỉ dẫn của người lớn) Quan hệ giữa trẻ
và bạn bè cùng tuổi được hình thành Trẻ bắt đầu để ý và bắt chước người lớn về mọi mặt.Trẻ muốn tự khẳng định mình bằng cách tập làm người lớn Nhưng trên thực tế, trẻ chưa
có đủ năng lực, kĩ năng kĩ xảo cần thiết với những công việc của người lớn Trò chơi đóngvai theo chủ đề ra đời thay thế cho hoạt động với đồ vật ở lứa tuổi nhà trẻ Trò chơi giúptrẻ tái tạo lại đời sống lao động của người lớn cùng với những mối quan hệ xã hội, làm trẻthỏa mãn khát vọng được sống như người lớn Trong trò chơi trẻ được phân nhũng vaikhác nhau như vai bác sĩ- bệnh nhân, vai cô giáo- học sinh, vai mẹ con, vai người bánhàng- người mua hàng
1.4.3 Vai trò của trò choi đóng vai theo chủ đề trong việc giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẽ mẫu giáo nhỡ
Đối với trẻ mẫu giáo nói chung và trẻ mẫu giáo nhỡ nói riêng, trẻ tiếp thu kiến thức vàphát triển trí tuệ thông qua trò chơi Qua việc chơi các trò chơi đặc biệt là trò chơi đóngvai theo chủ đề dạy cho bé nhận biết, cung cấp từ, tập phát âm, tập nói Ọua chơi giúp tăngkhả năng quan sát, giúp bé tư duy và liên kết sự phát triển vận động tinh và vận động thô,tăng khả năng tương tác đặc biệt thông qua chơi trẻ sẽ thiết lập được mối quan hệ vớingười xung quanh, giúp bé phát triển được kĩ năng giao tiếp
Khi tham gia chơi tình huống trò chơi đòi hỏi mỗi đứa trẻ tham gia vào trò
chơi phải có một trình độ giao tiếp bằng ngôn ngữ nhất định Neu đứa trẻ
không diễn đạt được mạch lạc nguyện vọng và ý kiến của mình đối với trò
chơi, nếu nó không hiểu được những lời chỉ dẫn hay bàn bạc của các bạn
16
cùng chơi thì nó không thể nào tham gia trò chơi được Đe đáp ứng được những yêu cầucủa việc cùng chơi, trẻ phải phát triển ngôn ngữ, lời nói một cách rõ ràng mạch lạc
Trang 21Trẻ chơi cùng các bạn trong nhóm, để đảm nhận tốt vai chơi và để các bạn hiểu đượcmục đích vai chơi, trẻ phải nắm vững ý nghĩa của từ vựng thông dụng, phát âm gần đúngcách phát âm của người lớn Đặc biệt trẻ phải biết cách dùng ngữ điệu phù họp với hoàncảnh giao tiếp và nắm được hệ thống ngữ pháp phức tạp Như vậy chơi chính là điều kiệnkích thích trẻ phát triển ngôn ngữ một cách nhanh chóng là tiền đề quan trọng giúp trẻ pháttriển các kĩ năng giao tiếp.
Hoạt động vui chơi, mà trung tâm là trò chơi đóng vai theo chủ đề ở trẻ mẫu giáo nóichung và trẻ mẫu giáo nhỡ nói riêng thực sự đóng vai trò chủ đạo Ý nghĩa chủ đạo thểhiện trước hết là ở chỗ nó giúp trẻ giải quyết mâu thuẫn trong bước phát triển từ tuổi ấunhi lên tuổi mẫu giáo Trò chơi là phương tiện góp phần phát triển toàn diện nhân cách trẻ
Do đó tổ chức trò chơi chính là tổ chức cuộc sống của trẻ Trò chơi là phương tiện để trẻhọc làm người
1.5 Đặc điểm của trẻ mẫu giáo nhỡ
1.5.1 Đặc điếm tâm lí của trẻ mẫu giáo nhỡ
Đối với các bậc phụ huynh nói chung và các cô giáo mầm non nói riêng để xử lí cáctình huống xảy ra trong quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ là cả một nghệ thuật nhất là khitrẻ ở độ tuổi còn thơ dại Chính vì vậy để vận dụng khả năng sư phạm của mình trong việcgiải quyết tốt các tình huống xảy ra giáo viên ở các trường mầm non ngoài tình yêu nghề,yêu trẻ, tinh thần trách nhiệm, kiên trì còn cần phải có sự hiểu biết nhất định về đặc điểmtâm lí của trẻ
- Sự phát triển tư duy của trẻ: Trẻ mẫu giáo nhỡ tư duy chủ yếu là tư duy trục quan hànhđộng, tuy nhiên ở lứa tuổi này tư duy trực quan hình tượng đã có sự phát triển mạnh và trẻ
đã có khả năng suy luận Cùng với sự hoàn thiện hoạt động vui chơi và sự phát triển cáchoạt động khác ( vẽ, nặn, kể chuyện ) vốn biểu tượng của trẻ mẫu giáo nhỡ được giàu lênthêm nhiều, chức năng kí hiệu phát triến mạnh, lòng ham hiếu biết và hứng thú nhận thứctăng lên rõ rệt Đó là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển tư duy trực quan hình tượng Trẻ
Trang 22mẫu giáo nhỡ tư duy trực quan sơ đồ phát triển mạnh đã giúp trẻ giải quyết được một số bàitoán thực tiễn
- Sự phát triển đời sống tình cảm:
Trong lứa tuổi mẫu giáo thì tình cảm thống trị tất cả các mặt trong hoạt động tâm lí củatrẻ, nhưng đặc biệt ở độ tuổi mẫu giáo nhỡ thì đời sống tình cảm của trẻ có một bướcchuyển biến mạnh mẽ , vừa phong phú, vừa sâu sắc hơn so với lứa tuổi trước đó
Ớ lứa tuổi mẫu giáo, nhất là mẫu giáo nhỡ, tình cảm của trẻ phát triển mãnh liệt, đặc biệt
là tính đồng cảm và tính dễ xúc cảm đối với con người và cảnh vật xung quanh Đây cũng làthời điểm rất thuận lợi để giáo dục lòng nhân ái cho trẻ: Khi được mọi người yêu thương trẻrất phấn khởi và ngược lại trẻ 1'ất buồn khi người khác thờ ơ, lạnh nhạt Trẻ biết đồng cảm,
dễ xúc cảm với bạn bè xung quanh và những người thân trong gia đình thể hiện bằng sựquan tâm thông cảm với họ
Ví dụ: Khi người thân đau ốm, trẻ không chỉ buồn mà mong muốn làm công việc gì đó đểgiúp đỡ người thâm trong gia đình như lấy nước, lấy khăn mặt
Ớ trẻ mẫu giáo nhỡ các loại tình cảm cấp cao được hình thành, tình cảm đạo đức, tìnhcảm trí tuệ, tình cảm thẩm mĩ và bắt đầu phát triển mạnh
*Hoạt động vui chơi và sự hình thành xã hội trẻ em
Ở lứa tuổi mẫu giáo bé, hoạt động vui chơi của trẻ đã phát triển mạnh Nhưng chỉ ở độtuổi mẫu giáo nhỡ, hoạt động vui chơi mới mang đầy đủ ý nghĩa của nó nhất Có thế nóirằng hoạt động vui chơi ở lứa tuổi mẫu giáo nhỡ và mẫu giáo lớn phát triển tớ mức hoànthiện, được thể hiện ở những đặc điểm sau:
Trong hoạt động vui chơi trẻ thế hiện rõ rệt tính tự lực, tự do và chủ động Tính tự lực, tự
do của trẻ biểu hiện ở các đặc điểm sau:
+ Trong việc lựa chọn chủ đề và nội dung chơi: Do có ít nhiều vốn sống nhờ tiếp xúc hàngngày với thế giới đồ vật, giao tiếp rộng rãi với những người xung quanh tạo điều kiện chotrẻ tự do lựa chọn chủ đề chơi và phản ánh vào vai chơi những mảng hiện thực mà mìnhquan tâm
Trang 23+ Trong việc lựa chọn ban cùng chơi: Vào cuối tuổi mẫu giáo nhỡ cá tính của trẻ đã bắt đầubộc lộ rõ rệt, mỗi em có mỗi tính, mỗi nết Do đó trẻ cần phải lựa chọn bạn “tâm đầu ý họp”với mình.
+ Trong việc tự do tham gia vào trò chơi nào mà mình thích và tự do rút ra khỏi nhũng tròchơi mà mình đã chán: Khi tự nguyện tham gia vào các cuộc chơi thì trẻ chơi một cách saysưa, chơi hết mình, nhưng khi đã chán thì cũng sẽ bỏ cuộc một cách nhẹ nhàng
Trong hoạt động vui chơi, trẻ đã biết thiết lập những quan hệ rộng 1'ãi và phong phũ vớicác bạn cùng chơi: Một xã hột trẻ em được hình thành
Hoạt động vui chơi, mà đặc biệt là trò chơi đóng vai theo chủ đề là loại hoạt động cùngnhau đầu tiên của trẻ Không có sự phối họp với nhau giữa các thành viên thì không thànhtrò chơi Ớ lứa tuổi mẫu giáo nhỡ, việc chơi của các em tương đối thành thạo và chơi vóinhau trong nhóm bạn đã trở thành một nhu cầu cấp bách Đã chơi thì phải có vai nọ vai kiamới thú vị Một trò chơi của trẻ mẫu giáo nhỡ thường có nhiều vai hơn trẻ mẫu giáo bémặc dù cùng một chủ đề Như vậy các quan hệ trong trò chơi của trẻ đã được mở rộng hơnnhiều so với trẻ mẫu giáo bé
Ở tuổi mẫu giáo nhỡ việc chơi trong nhóm bạn bè là một nhu cầu bức bách Đặc biệt lànhu cầu giao tiếp với bạn bè đang phát triển rất mạnh Từ đó những “xã hội trẻ em” thực
sự được hình thành “Xã hội trẻ em” này còn khác xa so với xã hội người lớn Hợp rồi tan,tan rồi hợp, thực và chơi, chơi và thực đó chính là nét độc đáo của cái xã hội ấy Nhưngchính những mối quan hệ xã hội đầu tiên trong nhóm bạn bè này lại có một ý ngĩa lớn laocho sự phát triển sau này của trẻ cấu trúc của cái “ xã hội trẻ em” cũng rất phức tạp Trongcái xã hội ấy mỗi đứa trẻ có một vị trí nhất định VỊ trí đó thê hiện ở chỗ bạn bè trongnhóm đối xử với các em như thế nào Vị trí trong nhóm bạn cùng tuổi ảnh hưởng một cáchsâu sắc đến sự phát triển nhân cách của trẻ Nhóm trẻ cùng chơi là một trong nhũng cơ sở
xã hội đầu tiên của trẻ, do đó người lớn cần tổ chức tốt hoạt động của nhóm trẻ ở lớp mẫugiáo cũng như ở gia đình để tạo môi trường lành mạnh có tác dụng giáo dục tích cực đốivới trẻ
Trang 24Đặc điểm tâm lí của trẻ mẫu giáo nhỡ đang ở giai đoạn phát triển mạnh mẽ cả về tư duylẫn tình cảm Chính vì vậy, giáo viên cần cung cấp kiến thức, mở rộng những hiểu biết vềthế giới xung quanh để trẻ khắc sâu những biểu tượng, phát huy những động cơ tích cực vàkhơi dậy tình cảm mạnh mẽ của trẻ làm trẻ thêm yêu cuộc sống
1.5.2 Đặc điếm sình lí của trẻ mẫu giáo nhõ
Hệ thần kinh: Từ lúc trẻ mới sinh ra hệ thần kinh của trẻ chưa chuẩn bị đầy đủ để thựchiện một chức năng của mình Trẻ mẫu giáo nhỡ quá trình ức
chế dần phát triển, trẻ có khả năng phân tích, đánhgiá, hình thành kĩnăng,
kĩ xảo vận động và phân biệt được các hiện tượng xung quanh
Hệ vận động: Bao gồm hệ xương, hệ cơ và khóp
- Hệ xương: Trẻ chưa hình thành cốt hóa, thành phần hóa học xương của trẻ có chứa nhiềunước và chất hũu cơ hơn chất vô cơ so với người lớn, nên có nhiều sụn xương, xươngmềm, dễ cong gãy
- Hệ cơ: Cơ của trẻ phát triển yếu, tổ chức cơ bắp còn ít, các sợi cơ nhỏ mảnh, thành phầnnước tương đối nhiều nên sức mạnh của cơ bắp còn yếu, cơ nhanh mệt mỏi Do vậy lứatuối này trẻ không thích nghi với sự căng thắng lâu của cơ bắp, cần xen kẽ giữa vận động
và nghỉ ngơi thích họp trong thời gian luyện tập
- Khớp của trẻ có đặc điểm là ở khớp còn nông, cơ bắp xung quanh khớp còn mềm yếu,dây chằng còn lỏng lẻo, tính vững chắc của khóp tương đối yếu Hoạt động vận động phùhợp với lứa tuổi của trẻ sẽ giúp khớp được 1'èn luyện, từ đó phát triển dần tính vững chắccủa khớp
Hệ tuần hoàn: Là một hệ thống đường ống khép kín do tim và mạch cấu tạo thành Trẻmẫu giáo nhỡ do phát triển lồng ngực, tim ở tư thế thẳng giống như người lớn Các mạchmáu của trẻ rộng hơn với người lớn Đe tăng cường công năng của tim, khi cho trẻ luyệntập nên đa dạng hóa các loại bài tập, nâng dần vận động cũng như cường độ vận động phốihọp động và tĩnh một cách nhịp nhàng
Trang 25Hệ hô hấp: Phổi của trẻ em lớn dần theo tuổi, nhịp thở của trẻ 4 tuổi là 25-30 lần/ phút.
Số nhịp thở của trẻ giảm dần theo lứa tuổi
Bộ máy hô hấp của trẻ còn nhỏ không chịu đựng được những vận động quá sức kéo dàiliên tục Những vận động đó làm cho các cơ đang vận động bị thiếu ôxi Việc tăng dần vậnđộng trong quá trình luyện tập sẽ tạo điều kiện cho cơ thể trẻ thích ứng với tăng lượng ôxicần thiết và ngăn ngừa được lượng ôxi quá lớn trong cơ thể
Hệ trao đổ chất: Cơ thể trẻ đang phát triển đòi hỏi phải bổ sung liên tục năng lượng tiêuhao và cung cấp các chất tạo hình để kiến tạo các cơ quan và mô Quá trình hấp thu cácchất ở trẻ vượt cao hơn quá trình phân hủy và đốt cháy Tuổi càng nhỏ quá trình lớn lên và
sự hình thành các tế bào và mô của trẻ diễn ra càng mạnh
Dựa vào đặc điểm sinh lí của trẻ mẫu giáo nhỡ mà người lớn cần có nội dung vàphương pháp chăm sóc cho trẻ ăn, học và vui chơi hợp lí, khoa học giúp cho cơ thể trẻđược phát triển khỏe mạnh Đây chính là điều kiện tốt nhất để giúp trẻ có năng lực thamgia vào quá trình học tập, khám phá môi trường xung quanh
1.5.3 Đặc điếm ngôn ngữ và giao tiếp của trẻ mẫu giáo nhỡ
Ngôn ngữ của trẻ mang tính chất hoàn cảnh, tình huống nghĩa là ngôn ngữ của trẻ gắnliền với sự vật, hoàn cảnh, con người, hiện tượng đang xảy ra trước mắt trẻ
Cuối 4 tuổi, ngôn ngữ của trẻ đã bắt đầu biết nối kết giữa tình huống hiện tại với quákhứ thành một văn cảnh, vốn từ của trẻ tăng lên không chỉ số lượng từ mà điều quan trọng
là lĩnh hội được các cấu trúc ngữ pháp đơn giản Đã hình thành những cảm xúc ngôn ngữqua giọng nói, ngữ điệu âm tiết Tuy nhiên dưới tác động cuả cảm xúc trẻ có thể nghenhầm, phát âm nhầm
Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ: Từ 4- 5 tuổi là thời điểm quan trọng để dạy trẻ nói, vìvậy ở trường mầm non các cô giáo cần tranh thủ lúc này đế dạy trẻ nói Không chỉ dạy trẻnói rõ ràng, nói đúng câu mà các cô cần dạy
cho trẻ cả những lời nói đẹp, những cách ứng xử đẹp với mọi người xung quanh
Trang 26Trong khi tổ chức cho trẻ chơi các trò chơi cũng như trong giao tiếp hàng ngày cô nênthường xuyên nói chuyện với trẻ, đặt câu hỏi để gợi ý trẻ kể về các sự kiện diễn ra trongngày, hay tổ chức các trò chơi đóng vai theo chủ đề mà trẻ đang được học
Vốn từ của trẻ mẫu giáo nhỡ tăng nhanh, trẻ hiểu được nghĩa và dùng từ đã chính sáchơn so với độ toi mẫu giáo bé, trẻ đã sử dụng được nhiều mẫu câu đơn giản, đúng ngữ pháp;
có thể kể một số truyện ngắn một cách tuần tự, kể chuyện theo tranh và đặc biệt trẻ có thểđóng vai mô phỏng các công việc của người lớn như: bán hàng, nấu ăn, bác sĩ
Mặt âm thanh của lời nói cũng phát triển nhanh chóng Trẻ lĩnh hội được và phát âmđúng được nhiều âm vị, phát âm từ, câu rõ nét hơn, trẻ mẫu giáo nhỡ đã bắt đầu biết điềuchỉnh tốc độ, cường độ giọng nói
Ở lứa tuổi trước, sử dụng rộng rãi biện pháp bắt chước thì ở lứa tuổi này giáo viên sửdụng các biện pháp để tạo điều kiện cho trẻ tập phát âm như thông qua các trò chơi đặc biệt
là trò chơi đóng vai theo chủ đề Tuần tự cho trẻ tập phát âm tất cả các âm vị trong TiếngViệt Các âm vị khó như: s, tr, r, X, ch, 1,. .nên chú ý cho trẻ nhiều hơn
Ở lứa tuổi mẫu giáo nói chung và trẻ mẫu giáo nhỡ nói riêng trẻ phải nắm được các vốn
từ cần thiết đủ để trẻ có thể giao tiếp với bạn bè và nhũng người lớn xung quanh Từ đó giúptrẻ tiếp thu được các tri thức trong trường mầm non , khi xem các chương trình truyền hình
CHƯƠNG 2: THựC TRẠNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG GIAO
TIẾP CHO TRẺ MẪU GIÁO NHỞ THÔNG QUA TRÒ CHƠI
2.1 Vài nét về phạm vi nghiên cứu
Đe tìm hiểu thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mầm non tại một số trường mầmnon khu vực thành phố Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc, tôi đã sử dụng phương pháp điều tra bằngphiếu hỏi, có kết hợp phương pháp trò chuyện, phương pháp quan sát về việc tổ chức giáodục kĩ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề của