LỜI CAM ĐOAN Đề tài khóa luận: “Phát triển kĩ năng giải toán cho học sinh Tiểu học qua việc giải các bài tập Phân số ” được tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của thầy giáo Nguyễn Văn Đệ.
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Toán ở Tiều học
HÀ NỘI – 2015
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Toán ở Tiều học
Người hướng dẫn khoa học: ThS Nguyễn Văn Đệ
HÀ NỘI – 2
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ của các thầy, cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình làm khóa luận này Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến thầy
Nguyễn Văn Đệ - người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình để tôi có thể
hoàn thành khóa luận
Trong quá trình thực hiện đề tài khóa luận, dù đã cố gắng nhưng do thời gian và năng lực có hạn nên tôi vẫn chưa đi sâu khai thác hết được, vẫn còn nhiều thiếu xót và hạn chế Vì vậy, tôi mong nhận được sự tham gia đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo và các bạn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Kha
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Đề tài khóa luận: “Phát triển kĩ năng giải toán cho học sinh Tiểu học
qua việc giải các bài tập Phân số ” được tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của
thầy giáo Nguyễn Văn Đệ Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu
của riêng cá nhân tôi Kết quả thu được trong đề tài là hoàn toàn trung thực và không trùng với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm!
Hà Nội, tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Kha
Trang 5DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Đối tượng nghiên cứu 2
5 Phạm vi nghiên cứu 2
6 Phương pháp nghiên cứu 2
7 Cấu trúc khóa luận 3
Phần 2: NỘI DUNG 4
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
1.1 Tầm quan trọng và vai trò của bài tập toán 4
1.2 Một số vấn đề về kĩ năng giải toán cho HSTH 6
1.2.1 Kĩ năng 6
1.2.2 Kỹ năng giải toán 7
1.3 Nội dung triển khai dạy học phân số ở Tiểu học 8
1.4 Khảo sát thực trạng của việc dạy học phân số ở Tiểu học 9
1.4.1 Thực trạng chung 9
Chương 2 PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG GIẢI TOÁN CHO HỌC SINH TIỂU HỌC THÔNG QUA VIỆC GIẢI CÁC BÀI TẬP PHÂN SỐ 12
2.1 Đề xuất một số biện pháp phát triển kĩ năng giải toán cho học sinh tiểu học thông qua việc giải các bài tập phân số 12
2.1.1 Biện pháp 1: Bồi dưỡng động cơ tự học Toán cho học sinh tiểu học 12
2.1.2 Biện pháp 2: Tổ chức các hoạt động cho học sinh thực hành trải nghiệm thông qua hoạt động giải toán phân số 15
Trang 72.1.3 Biện pháp 3: Xây dựng các chuyên đề hướng dẫn học sinh tự học mô –
đun “Phân số” 20
2.2 Xây dựng hệ thống bài tập phát triển kĩ năng giải toán cho học sinh tiểu học thông qua việc giải các bài tập phân số 23
2.2.1 Bài tập rút gọn phân số 23
2.2.2 Bài tập quy đồng phân số 27
2.2.3 Bài tập so sánh phân số 32
2.2.4 Bài tập thực hiện các phép tính trên phân số 35
KẾT LUẬN 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục là chìa khóa vàng cho mọi quốc gia, mọi dân tộc tiến tới tương lai Chính vì vậy Đảng và nhà nước ta rất quan tâm đến sự nghiệp giáo dục của nước nhà Coi giáo dục là quốc sách hàng đầu Ngày nay, tất cả các Quốc gia trên thế giới đều quan tâm tới giáo dục, trong đó có giáo dục Tiểu học
Tiểu học được xem là cấp học nền tảng, đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành, phát triển toàn diện nhân cách con người, đặt nền tảng vững chắc cho giáo dục phổ thông và cho toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân
Trong chương trình ở Tiểu học môn Toán có vị trí và ý nghĩa quan trọng Nhiệm vụ cơ bản của môn Toán là giúp học sinh nắm được hệ thống kiến thức toán học ở phổ thông và những kĩ năng cơ bản về toán học Trên cơ
sở đó phát triển năng lực trí tuệ cho học sinh
Các kiến thức toán học được đưa vào chương trình Tiểu học, gồm 5 tuyến kiến thức cơ bản sau:
1 Số học
2 Đại lượng và đo đại lượng
3 Các yếu tố đại số
4 Hình học
5 Giải bài toán có lời văn
Các tuyến kiến thức này có mối quan hệ mật thiết với nhau Trong đó, trọng tâm và đồng thời cũng là hạt nhân của nội dung môn Toán bậc Tiểu học
là các kiến thức, kĩ năng số học Trong nội dung dạy học số học thì phân số là một chủ đề quan trọng góp phần không nhỏ vào việc hình thành, củng cố kiến thức cho học sinh, rèn luyện cho các em kĩ năng giải toán, kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tế, bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, những phẩm chất người lao động
Trang 9Chính vì những lí do trên mà tôi chọn đề tài “Phát triển kĩ năng giải
toán cho học sinh tiểu học thông qua việc giải các bài tập phân số”
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất biện pháp phát triển kĩ năng giải toán cho HSTH thông qua việc giải các bài tập phân số
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lí luận của việc phát triển kĩ năng giải toán cho HSTH
- Nghiên cứu nội dung, chương trình dạy học phân số ở Tiểu học
- Xây dựng quy trình, hệ thống bài tập để phát triển kỹ năng giải toán cho HSTH thông qua nội dung phân số
4 Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp phát triển kỹ năng giải toán cho HSTH thông qua việc giải các bài tập phân số
5 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu một số biện pháp phát triển kỹ năng giải toán cho HSTH thông qua việc giải các bài tập phân số
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu cơ sở lí luận
+ Nghiên cứu các tài liệu về giáo dục học môn Toán, tâm lí học, lí luận
dạy học môn Toán
+ Các sách báo, các bài viết về khoa học toán phục vụ cho đề tài
+ Các sách tham khảo, Toán tuổi thơ, Giúp em vui học Toán,…
6.2.Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành thực nghiệm sư phạm với lớp học thực nghiệm và lớp học đối chứng trên cùng một lớp đối tượng
6.3.Phương pháp điều tra – Quan sát
+ Trao đổi và thảo luận về những thuận lợi, khó khăn khi tổ chức hoạt
Trang 10động học tập giúp phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh trong việc học tập môn Toán ở Tiểu học
+ Dự giờ, quan sát việc dạy học của giáo viên và việc học của học sinh trong quá trình khai thác các bài tập trong sách giáo khoa
7 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 2 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2 Phát triển kĩ năng giải toán cho học sinh tiểu học thông qua
việc giải các bài tập phân số
Trang 11NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Tầm quan trọng và vai trò của bài tập toán
Bài toán là một tình huống kích thích đòi hỏi một lời giải đáp không có sẵn ở người giải tại thời điểm bài toán được đưa ra
Môn Toán có vai trò hết sức quan trọng với sự phát triển tư duy, hình thành kiến thức cho học sinh Tiểu học Với HS có thể xem giải toán là hình thức chủ yếu của hoạt động toán học Các bài tập toán ở trường Tiểu học là một phương tiện rất hiệu quả và không thể thay thế được trong việc giúp học sinh nắm vững tri thức, phát triển tư duy, hình thành kĩ năng kĩ xảo, ứng dụng toán học vào thực tiễn
Ta đã biết bài toán là một dạng của bài tập toán học cho nên để hiểu được vai trò của việc giải bài toán về phân số ta sẽ đi tìm hiểu về vị trí cũng như vai trò, chức năng của bài tập toán học ở trường Tiểu học Bài tập có vai trò quan trọng trong môn Toán, dạy toán là dạy hoạt động toán học Điều căn bản là bài tập có vai trò là giá mang hoạt động của học sinh, các bài tập toán ở trường tiểu học là một phương tiện rất có hiệu quả và không thể thay thế được trong việc giúp học sinh nắm vững tri thức, phát triển tư duy và hình thành kỹ năng, kỹ xảo, ứng dụng toán học vào thực tiễn Thông qua việc giải quyết bài tập, học sinh phải thực hiện những hoạt động nhất định, bao gồm cả nhận dạng và thể hiện định nghĩa, quy tắc hay phương pháp những hoạt động toán học phức tạp, những hoạt động trí tuệ phổ biến trong toán học, những hoạt động trí tuệ chung và những hoạt động ngôn ngữ Hoạt động của học sinh liên
hệ mật thiết với mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học, chính vì vậy mà vai trò của bài tập toán học được thể hiện trên cả ba bình diện
Trang 12Thứ nhất: Trên bình diện mục tiêu dạy học, bài tập toán học ở trường Tiểu học là giá mang những hoạt động mà việc thực hiện các hoạt động đó thể hiện mức độ đạt mục tiêu
Mặt khác, những bài tập cũng thể hiện những chức năng khác nhau hướng đến việc thực hiện các mục tiêu dạy học môn toán cụ thể là: Hình thành củng cố tri thức, kỹ năng, kỹ xảo ở những khâu khác nhau của quá trình dạy học, kể cả kỹ năng ứng dụng toán học vào thực tiễn Phát triển năng lực trí tuệ: rèn luyện những hoạt động tư duy hình thành những phẩm chất trí tuệ, trí tưởng tượng không gian
Thứ hai: Trên bình diện nội dung dạy học, những bài tập toán học là giá mang hoạt động liên hệ với những nội dung nhất định để người học kiến tạo những tri thức nhất định trên cơ sở đó thực hiện những mục tiêu dạy học khác Những bài tập toán còn là một phương tiện cài đặt nội dung
để hoàn chỉnh hay bổ sung cho những tri thức nào đó đã được trình bày trong phần lí thuyết
Thứ ba: Trên bình diện phương pháp dạy học, bài tập toán học là giá mang hoạt động để người học kiến tạo những tri thức nhất định và trên cơ sở
đó thực hiện các mục tiêu dạy học khác Khai thác tốt những bài tập như vậy
sẽ góp phần tổ chức cho học sinh học tập trong hoạt động và bằng hoạt động
tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo được thực hiện độc lập, linh hoạt trong giao lưu Trong thực tiễn dạy học, bài tập được sử dụng với những dụng ý khác nhau về phương pháp dạy học Đảm bảo trình độ xuất phát, gợi động cơ, làm việc với nội dung mới, củng cố hoặc kiểm tra Đặc biệt là về mặt kiểm tra, bài tập là phương tiện đánh giá mức độ, kết quả dạy và học, khả năng làm việc độc lập và trình độ phát triển của HS Một bài tập cũng có thể nhằm vào một hay nhiều dụng ý trên, nhưng cũng có thể bao hàm những ý đồ nhiều mặt
Trang 131.2 Một số vấn đề về kĩ năng giải toán cho HSTH
1.2.1 Kĩ năng
1.2.1.1 Khái niệm
Kỹ năng là năng lực sử dụng các dữ kiện, các tri thức hay khái niệm đã
có, năng lực vận dụng chúng để phát hiện những thuộc tính bản chất của các
sự vật và giải quyết thành công nhiệm vụ lý luận hay thực hành xác định
Kỹ năng là một nghệ thuật, là khả năng vận dụng hiểu biết có được ở bạn
để đạt được mục đích của mình, kỹ năng còn có thể đặc trưng như toàn bộ thói quen nhất định, kỹ năng là khả năng làm việc có phương pháp
Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế
Trong toán học kỹ năng là khả năng giải các bài toán, thực hiện các chứng minh cũng như phân tích có phê phán các lời giải và chứng minh nhận được
Như vậy dù phát biểu dưới góc độ nào, kỹ năng là khả năng vận dụng kiến thức (khái niệm, cách thức, phương pháp ) để giải quyết nhiệm vụ đặt
ra Nói đến kỹ năng là nói đến cách thức thủ thuật và trình tự thực hiện các thao tác hành động để đạt được mục đích đã định Kỹ năng chính là kiến thức trong hành động
1.2.1.2 Đặc điểm của kỹ năng
Trong vận dụng, ta thường chú ý đến những đặc điểm của kỹ năng: Bất kỳ kỹ năng nào cũng phải dựa trên cơ sở lý thuyết, đó là kiến thức, bởi vì cấu trúc của kỹ năng bao gồm: hiểu mục đích - biết cách thức đi đến kết quả - hiểu những điều kiện để triển khai các cách thức đó
Kiến thức là cơ sở của các kỹ năng khi các kiến thức đó phản ánh đầy
đủ các thuộc tính bản chất của đối tượng, được thử nghiệm trong thực tiễn và tồn tại trong ý thức với tư cách của hành động
1.2.1.3 Sự hình thành kỹ năng
Trang 14Để hình thành được kỹ năng trước hết cần có kiến thức làm cơ sở cho việc hiểu biết, luyện tập từng thao tác riêng rẽ cho đến khi thực hiện được hành động theo đúng mục đích yêu cầu Kỹ năng chỉ được hình thành thông qua quá trình tư duy để giải quyết những nhiệm vụ đặt ra
1.1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kỹ năng
Nội dung bài toán: Nhiệm vụ đặt ra được trừu tượng hoá hay bị che phủ bởi những yếu tố phụ làm lệch hướng tư duy có ảnh hưởng đến sự hình thành
kỹ năng
Tâm thế và thói quen cũng ảnh hưởng đến sự hình thành kỹ năng Việc tạo ra tâm thế thuận lợi trong học tập sẽ giúp học sinh dễ dàng trong việc hình thành kỹ năng
Kỹ năng khái quát nhìn đối tượng một cách toàn thể ở mức cao hay thấp
1.2.2 Kỹ năng giải toán
1.2.2.1 Khái niệm
Giải một bài toán là tiến hành một hệ thống hành động có mục đích, do
đó chủ thể giải toán còn phải nắm vững tri thức về hành động, thực hiện hành động theo các yêu cầu cụ thể của tri thức đó, biết hành động có kết quả trong những điều kiện khác nhau Trong giải toán, theo tôi quan niệm về kỹ năng giải toán của học sinh như sau: “Đó là khả năng vận dụng có mục đích những tri thức và kinh nghiệm đã có vào giải những bài toán cụ thể, thực hiện có kết quả một hệ thống hành động giải toán để đi đến lời giải bài toán một cách khoa học”
1.1.2.2 Các yêu cầu rèn luyện kỹ năng giải toán cho HS
Truyền thụ tri thức, rèn luyện kỹ năng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của môn Toán Rèn luyện kỹ năng toán học và kỹ năng vận dụng toán học vào thực tiễn mà trước tiên là kỹ năng giải toán nhằm đạt được những yêu cầu cần thiết sau:
- Giúp học sinh hình thành và nắm vững những mạch kiến thức cơ bản
Trang 15xuyên suốt chương trình
- Giúp học sinh phát triển năng lực trí tuệ
- Coi trọng việc rèn luyện khả năng tính toán trong giờ học, đó là sự phát triển trí tuệ cho học sinh qua môn Toán gắn bó với việc rèn luyện các kỹ năng thực hành
- Giúp học sinh rèn luyện các phẩm chất đạo đức và thẩm mỹ: tính kiên trì, cẩn thận, chính xác, các thói quen tự kiểm tra, đánh giá để tránh sai lầm có thể gặp
1.3 Nội dung triển khai dạy học phân số ở Tiểu học
Nội dung dạy học phân số chính thức dạy ở lớp 4, nhưng ngay ở lớp 2,
3 phân số được giới thiệu một cách ẩn tàng
Sau mỗi lần dạy học bảng chia 2; 3; 4; 5; 6; 7; 8; 9 học sinh được làm
quen chủ yếu dựa trên hình ảnh trực quan với 1 1 1 1 1 1 1 1; ; ; ; ; ; ;
2 3 4 5 6 7 8 9 Với cách
viết như vậy đọc là “một phần hai”, “một phần ba”,… chưa giới thiệu tên gọi
chung là phân số, chưa giới thiệu tử số, mẫu số
Sau khi dạy học bài “Tìm một trong các phần bằng nhau của một số” (xem [3], tr 28) HS được sử dụng kiến thức này trong thực hành tính, giải toán có lời văn Đến lớp 4, nội dung phân số mới được chính thức dạy Kiến thức chủ yếu của học kì II lớp 4 là phân số và các phép tính phân số Đầu học
kì I của lớp 5 có bổ sung thêm về phân số thập phân, hỗn số để chuẩn bị cho dạy học số thập phân
Nội dung dạy học phân số trong toán 4 sắp xếp thành hai nhóm bài: + Nhóm bài thứ nhất gồm các bài học về:
- Giới thiệu khái niệm ban đầu về phân số Phân số và phép chia số
tự nhiên
- Phân số bằng nhau, tính chất cơ bản về phân số
Trang 16- Phép nhân và phép chia phân số
Trong sách giáo khoa Tiểu học, các tính chất của phân số được đưa vào phần luyện tập thực hành:
- Tính chất giao hoán của phép cộng, phép nhân
- Tính chất kết hợp của phép cộng, phép nhân
- Một tổng nhân với một số, một số nhân với một tổng
1.4 Khảo sát thực trạng của việc dạy học phân số ở Tiểu học
1.4.1 Thực trạng chung
Bắt đầu từ năm học 2005 - 2006 chương phân số và các phép tính về phân số được đưa xuống dạy ở lớp 4 Đây là một nội dung tương đối khó đối với học sinh lớp 4 các em mới bắt đầu học khái niệm và phải thực hành luôn Theo chương trình cũ thì các em học các phép tính ở lớp 5, khi các em đã học
ôn lại những kiến thức về số tự nhiên rất kĩ Chương “Phân số - Các phép tính
về phân số” gồm các nội dung sau:
+ Hình thành khái niệm về phân số: HS cần nắm được mỗi số tự nhiên đều có thể viết dưới dạng phân số có mẫu số là 1 Số 1 có thể viết dưới dạng phân số có tử số và mẫu số bằng nhau và khác 0
+ Hình thành khái niệm và các tính chất, tác dụng cơ bản về phân số bằng nhau, rút gọn phân số, quy đồng mẫu số các phân số
+ Hình thành quy tắc so sánh hai phân số cùng mẫu số, khác mẫu số, so
Trang 17sánh phân số với 1,… Vận dụng để sắp xếp các phân số theo thứ tự từ bé đến lớn (hoặc từ lớn xuống bé)
+ Hình thành quy tắc phép cộng, phép trừ, phép nhân, phép chia hai phân số, kết hợp giải các bài toán bốn phép tính về phân số và các dạng toán
có liên quan đến nội dung đại lượng, đo đại lượng, các yếu tố đại số, hình học,… Đây là nội dung mà HS thường mắc sai lầm trong khi thực hành luyện tập nhưng cũng là những dạng toán giúp học sinh rèn luyện tư duy, bộc lộ về năng khiếu toán của mình
Như vậy để học sinh có được những kiến thức, kỹ năng về phân số và vận dụng vào giải các bài toán bốn phép tính về phân số là rất quan trọng Vị trí của việc dạy học giải toán lại càng quan trọng hơn
1.4.1.2 Những hạn chế, khó khăn gặp phải khi dạy phần phân số
- Cấu trúc nội dung, chương trình sách giáo khoa mới của Tiểu học nói chung, của lớp 4 nói riêng có những thay đổi so với nội dung, chương trình
cũ Đối với môn toán lớp 4 hiện nay thì chương “Phân số - Các phép tính về phân số” đã được đưa vào dạy một cách đầy đủ Đây là một nội dung khó đối với GV và HS Trước khi học phần này các em đã được học về dấu hiệu chia hết cho 2;3;5 và 9 Nhưng đến chương “Phân số” với các tính chất và các phép toán của “Phân số” Đặc biệt là vận dụng các phép toán để giải các bài toán bốn phép tính về phân số, các bài toán có lời văn liên quan đến phân số, học sinh còn gặp nhiều khó khăn Sau khi hình thành quy tắc đối với mỗi phép tính (ở phần lý thuyết) các em đều vận dụng tốt Nhưng khi học đến các phép tính về sau các em rất dễ nhầm lẫn sang phép tính trước mới học và những sai lầm này trở nên phổ biến ở nhiều học sinh
* Khó khăn: Môn Toán lớp 4 là một bước chuyển từ tư duy cụ thể của
lớp 1,2,3 sang tư duy tổng quát trừu tượng ở lớp 4 Đối với chương trình toán
ở Tiểu học từ khối 1 đến khối 3 HS được học những kiến thức sơ giản ban
Trang 18đầu về toán học nên HS dễ nắm bắt kiến thức, vận dụng kiến thức vào để rèn
kỹ năng tính toán Bắt đầu từ lớp 4, kiến thức toán học được nâng cao lên rõ rệt ở tất cả các mạch kiến thức như đại lượng, yếu tố hình học, số học,… Nhưng mới nhất đối với học sinh khối lớp 4 đó là mạch kiến thức về phân số
- Học sinh còn chịu nhiều “sức ép” , học quá tải mà chưa phát huy được trí lực của mình
- Quá nhiều các loại sách tham khảo trên thị trường sách, điều này đã khiến cho học sinh và phụ huynh gặp khó khăn trong việc lựa chọn cho mình những cuốn sách phù hợp
Trang 19Chương 2 PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG GIẢI TOÁN CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
THÔNG QUA VIỆC GIẢI CÁC BÀI TẬP PHÂN SỐ
2.1 Một số biện pháp phát triển kĩ năng giải toán cho học sinh tiểu học thông qua việc giải các bài tập phân số
Sau khi nghiên cứu và hiểu được đặc điểm của học sinh Tiểu học, đặc biệt là về kĩ năng giải toán của học sinh Tiểu học chúng tôi đề xuất những biện pháp sau để phát triển kĩ năng giải toán cho học sinh tiểu học qua việc giải các bài tập phân số
2.1.1 Biện pháp 1: Bồi dưỡng động cơ tự học Toán cho học sinh tiểu học
Để HS có một kĩ năng giải toán tốt trong tất cả các bài tập thì cần phải
có nhiều yếu tố, một yếu tố quan trọng và không thể thiếu đó chính là khả năng tự học của HS Nhưng không phải HS nào cũng có khả năng và ý thức tự
học tốt Chính vì vậy mà tôi đưa ra biện pháp: “Bồi dưỡng động cơ tự học
Toán cho học sinh Tiểu học”
2.1.1.1 Nội dung và tổ chức thực hiện biện pháp
a, Phát triển kỹ năng xác định mục đích
Để đạt được hiệu quả trong quá trình THT, điều kiện tiên quyết là người học cần có kỹ năng xác định mục đích THT Mục đích được hiểu là cái đích cần phải đạt được trong quá trình THT Trong quá trình THT, việc đầu tiên người học cần xác định được mình cần đạt được mục đích gì khi học về phần nội dung cụ thể Để xác định mục đích một cách hiệu quả người học cần xác định mục đích THT theo các nguyên tắc sau:
Nguyên tắc 1: Mục đích phải cụ thể, rõ ràng, càng chi tiết càng tốt Nguyên tắc 2: Mục đích có thể đo lường và đánh giá một cách rõ ràng
Ví dụ, khi tự học về nội dung môn Toán học nào đó, mục đích đạt được là
Trang 20phải nắm vững kiến thức và vận dụng trong các bài tập để đạt được mức độ khá trở lên
Nguyên tắc 3: Mục đích đề ra phải có thách thức phù hợp Tức là mục đích đề ra phải cho thấy người học cần phải nỗ lực và cần phải có kỉ luật mới
có thể đạt được Ví dụ, khi người học đã hiểu sâu sắc về nội dung bài học thì mục đích đề ra không phải là để giải quyết những bài toán vận dụng đơn giản
mà phải đặt ra những mục đích cao hơn như vận dụng những bài toán phức tạp hơn Tuy nhiên những mục đích đề ra phải phù hợp với khả năng của bản thân, nếu mục đích quá khó và vượt ngoài khả năng thì tính thách thức ở đây cũng trở nên vô nghĩa
Nguyên tắc 4: Mục đích đề ra phải đảm bảo thời gian để hoàn thành Cần xác định thời hạn hoàn thành đối với từng mục đích Ví dụ, xác định thời gian đạt được mục đích trong quá trình THT cả học phần và mục đích đạt được khi THT một nội dung cụ thể
Vì vậy GV cần giúp HS hiểu rõ:
- Khái niệm tự học, các hình thức tự học, các cấp độ tự học, những tiêu chí xác định cấp độ tự học của bản thân, cách tiến hành các giai đoạn tự học
- Ý nghĩa của việc tự học cá nhân cũng như đối với xã hội trong thời đại hiện nay
- Những nhân tố tác động không tốt đến tự học và những nhân tố thúc đẩy việc tự học
- Một số tấm gương và kết quả tự học tiêu biểu (thế giới, trong nước, trong trường, trong lớp,…)
b, Phát triển kĩ năng tạo động cơ tự học Toán
Một trong những kỹ năng quan trọng quyết định hiệu quả của việc THT
là kỹ năng tạo động cơ THT Để có kĩ năng tạo động cơ trong quá trình THT, người học cần thực hiện nhiệm vụ THT theo các nguyên tắc sau:
Trang 21Nguyên tắc 1: Lạc quan nhìn thấy sự thành công: thể hiện ở sự thỏa mãn của bản thân khi hoàn thành một nhiệm vụ THT và nhìn thấy những thành quả từ nỗ lực của mình
Nguyên tắc 2: Sự công nhận: ghi nhận kết quả đã đạt được trong quá trình THT kể cả những kết quả nhỏ nhất
Nguyên tắc 3: Tìm thấy hứng thú trong nhiệm vụ, thực hiện công việc một cách vui vẻ, yêu thích thấy được sự thú vị, sáng tạo và thách thức trong đó
Nguyên tắc 4: Tính trách nhiệm: khi thực hiện công việc với một tinh thần trách nhiệm cao
Nguyên tắc 5: Tìm thấy tính phát triển của công việc Khi thực hiện công việc thấy được ý nghĩa và lợi ích của việc hoàn thành công việc đó
Nguyên tắc 6: Tìm kiếm sự hợp tác: khi thực hiện công việc cần có sự giao lưu trao đổi cùng bạn bè, thầy cô,…
Nguyên tắc 7: Thể hiện mình: khi thực hiện công việc nên có những hoạt động thể hiện kết quả mình đã làm được như giảng bài cho bạn hay hướng dẫn lại nội dung đã học
Nguyên tắc 8: Tạo phần thưởng cho bản thân: khi thực hiện công việc đạt kết quả, nên có những phần thưởng nho nhỏ cho bản thân để thư giãn như: nghe một bản nhạc, đọc một câu chuyện vui, tự cho mình nghỉ ngơi một chút,…
Để giúp người học tạo động cơ THT, trong quá trình giảng dạy, GV cần có các hình thức:
+ Làm cho HS thấy được những mâu thuẫn nội tại trong bài học, ý thức được là chúng cần phải học, HS cần phải thấy rằng chúng đang thiếu tri thức mới GV phải là người tạo ra và thực hiện hóa nhu cầu này Cảm nhận thiếu hụt sẽ là một yếu tố kích thích HS tìm một sự cân đối mới Mặt khác, xuất hiện mâu thuẫn trong nội tại vấn đề là một động lực kích thích HS đi tìm hiểu tri thức để giải quyết mâu thuẫn đó Do đó, HS trở thành người chủ động, mong muốn thỏa mãn nhu cầu tri thức của mình
Trang 22+ Phương pháp dạy học của thầy phải làm cho quan hệ giữa HS và đối tượng phù hợp đến mức nó khơi dậy ở HS một hứng thú thực thụ Sự hứng thú đó sẽ chuyển thành động cơ cho HS
+ GV có thể đưa ra các giải pháp tình huống chứa đựng mâu thuẫn để kích thích sự bác bỏ của HS Lúc đó HS sẽ nỗ lực huy động vốn tri thức, hiểu biết của mình để giải quyết mâu thuẫn đó
+ GV chỉ ra sự tiến bộ của HS, giúp HS điều chỉnh nếu chưa đi đúng hướng
+ Nhận xét kịp thời, cụ thể rõ ưu nhược điểm một cách tế nhị và khéo léo GV kịp thời khuyến khích HS bằng cách đánh giá, cho điểm
+ Trong lớp học thường phân làm ba nhóm đối tượng HS: Nhóm HS giỏi, xuất sắc; nhóm HS trung bình khá; nhóm HS yếu kém Cần quan tâm đặc biệt đến nhóm thứ ba bằng cách tạo cơ hội để các em giải quyết thành công những nhiệm vụ cụ thể Sau đó khen ngợi, động viên các em tạo động cơ
để các em tích cực tham gia các nhiệm vụ tiếp theo
+ Trong quá trình GV dạy nên tập trung vào những sai lầm các em hay mắc phải và những dạng bài tập các em hay gặp trong các kì thi
- GV cần tìm hiểu, đánh giá đúng khả năng HS và tạo cho HS cơ hội
tự học, tự nghiên cứu bằng cách tổ chức cho HS tham gia những buổi seminar, báo cáo chuyên đề tự học về nội dung học phần
- GV cần kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp dạy của thầy và phương pháp tự học của HS
- Trong quá trình tự học, GV cần đánh giá kết quả HS tự học
2.1.2 Biện pháp 2: Tổ chức các hoạt động cho học sinh thực hành trải nghiệm thông qua hoạt động giải toán phân số
Thông qua hoạt động giải toán Phân số, GV cần giúp HS trang bị một
số kỹ năng cần thiết trong quá trình học tập đồng thời xây dựng quy trình giúp
Trang 23HS phát triển kĩ năng trong quá trình học ở nhà cũng như trên lớp Qua đó HS được thực hành và trải nghiệm qua các hoạt động học để tích lũy cho mình những kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng bổ ích
Dưới đây là một số quy trình dạy học phát triển nhóm kỹ năng hoạt động cho học sinh Tiểu học Chúng tôi tập trung vào hai hình thức tự học có hướng dẫn trực tiếp và tự học có hướng dẫn gián tiếp của HS để đề xuất một
số quy trình như sau:
a) Tự học có hướng dẫn của giáo viên
Trên lớp, có sự hướng dẫn trực tiếp, tùy theo mức độ đơn giản hay phức tạp của nội dung bài học, GV có thể lựa chọn tổ chức dạy học theo hai hình thức: hình thức dạy – tự học, tự hình thành kiến thức mới của HS và tự học – dạy – hình thành kiến thức mới của HS
*) Quy trình dạy – tự học, tự hình thành kiến thức mới của HS
HS đặt mình vào tình huống người nghiên cứu, tự tiến hành khám phá tìm ra những tri thức mới, hiểu biết cá nhân bằng hành động của chính mình,
HS đã tạo ra sản phẩm nhận thức ban đầu
Trang 24Sau khi làm việc cá nhân, HS được thực hiện hoàn thiện các tình huống thông qua việc trao đổi nhóm tương tác để đi đến thống nhất chung Sau đó thực hiện hợp tác để đi đến nội dung chính của bài học
Củng cố kiến thức và vận dụng những kiến thức đã lĩnh hội vào những tình huống cụ thể Sau đó đưa ra những vấn đề mới cho HS về nhà chuẩn bị
Bước 3: Tổng kết, rút kinh nghiệm
GV cho HS nhận xét, đánh giá kết quả thu được và những hạn chế trong quá trình thực hiện, tìm hiểu những nguyên nhân, cùng rút kinh nghiệm
Từ những nguyên nhân đó, GV chỉnh dần những tình huống và cách thức tổ chức cho đạt hiệu quả cao hơn trong những bài học sau
*) Quy trình tự học – dạy – hình thành kiến thức mới của HS
Bước 1: Chuẩn bị
GV giới thiệu vai trò, ý nghĩa, mục tiêu cấu trúc của phần kiến thức
GV giới thiệu kế hoạch của phần kiến thức đó, phân bố nội dung và thời gian cụ thể
GV tổ chức lớp tự chia nhóm, giới thiệu nhiệm vụ, quyền hạn và vai trò các thành viên trong nhóm và đề nghị nhóm tự giới thiệu nhóm trưởng, thư kí
GV phân các chuyên đề và nhiệm vụ của từng nhóm chuẩn bị (tự chọn hoặc bắt thăm)
GV hướng dẫn tài liệu, các bước và cách thức làm việc của các thành viên trong nhóm để hoàn thành nhiệm vụ
GV đưa những tiêu chí đánh giá trong suốt phần kiến thức
Bước 2: Thực hiện công việc chuẩn bị
Các nhóm trên lớp tự nghiên cứu và phân công nhiệm vụ cho từng thành viên (nhóm trưởng thảo luận cả nhóm và phân công)
Sau đó các thành viên trong nhóm tự hoàn thành nhiệm vụ cá nhân rồi cùng nhau hợp tác nhóm để hoàn thành nhiệm vụ của nhóm mình