Bài nghiên cứu khoa học : Đo lường khoảng cách kỳ vọng giữa nhà đầu tư và chất lượng công ty kiểm toán.được hoàn thành vào tháng 5 năm 2015 tại trường Đại học Kinh tế luật, ĐHQG.HCM. Có được bài báo cáo tổng kết này, thay mặt nhóm nghiên cứu em xin chân thành cảm ơn trường Đại học Kinh tế luật, khoa Kế toán – kiểm toán đã tạo điều kiện thuận lợi nhất để nhóm hoàn thành bài nghiên cứu này. Em xin đặc biệt gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến Ths Hồng Dương Sơn và Ths Đào Vũ Hoài Giang đã cùng đồng hành với nhóm trong thời gian qua, cho chúng em những hiểu biết hữu ích phục vụ cho việc nghiên cứu đạt được kết quả.
Trang 1Đề tài nghiên cứu khoa học “Đo lường khoảng cách kỳ vọng giữa nhà đầu tư
và chất lượng công ty kiểm toán” được hoàn thành vào tháng 5 năm 2015 tại trườngĐại học Kinh tế - luật, ĐHQG.HCM Có được bài báo cáo tổng kết này, thay mặt nhómnghiên cứu em xin chân thành cảm ơn trường Đại học Kinh tế - luật, khoa Kế toán –kiểm toán đã tạo điều kiện thuận lợi nhất để nhóm hoàn thành bài nghiên cứu này Emxin đặc biệt gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến Ths Hồng Dương Sơn và Ths Đào Vũ HoàiGiang đã cùng đồng hành với nhóm trong thời gian qua, cho chúng em những hiểu biếthữu ích phục vụ cho việc nghiên cứu đạt được kết quả
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa đã truyền đạt cho chúng emnhững kiến thức chuyên ngành đã hỗ trợ đắc lực cho nhóm trong quá trình nghiên cứu
Xin gửi tới các cơ quan, công ty chứng khoán, các kiểm toán viên, kế toántrưởng và nhà đầu tư lời cảm tạ sâu sắc vì đã hợp tác với nhóm thu thập số liệu trongquá trình khảo sát phục vụ cho đề tài
Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn các đơn vị và cá nhân đã hết lòng hỗtrợ nhóm hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này Nhóm rất mong nhận được những
ý kiến đóng góp, phê bình từ phía thầy, cô trong hội đồng đánh giá
Trân trọng
TP.HCM, ngày 18 tháng 5 năm 2015
Nhóm trưởng
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1 Thông tin chung:
- Tên đề tài: Đo lường khoảng cách kỳ vọng giữa nhà đầu tư và chất lượng công tykiểm toán Việt Nam
- Nhóm trưởng : Nguyễn Lê Như Ngọc
- Lớp: Kiểm toán khóa 12 Khoa: Kế toán – kiểm toán
- Người hướng dẫn: Ths Hồng Dương Sơn
2 Mục tiêu đề tài:
− Cung cấp cho người đọc những thông tin về Khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán
− Chỉ ra thực trạng khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán ở Việt Nam hiện nay
− So sánh khoảng cách kỳ vọng ở Việt Nam với một số quốc gia lân cận để nhìn nhận vềchất lượng của kiểm toán nước ta và việc đáp ứng được yêu cầu của khách hàng cũngnhư người sử dụng báo cáo kiểm toán
− So sánh với các nghiên cứu đã có ở Việt Nam để đưa ra nhận xét về xu hướng củakhoảng cách kì vọng
− Đề ra một số biện pháp rút ngắn khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán thông qua việcnâng cao trách nhiệm và thực hành kiểm toán từ các kiểm toán viên và công ty kiểmtoán; nâng cao nhận thức của người sử dụng báo cáo tài chính
3 Tính mới và sáng tạo:
− Đề tài lấy số liệu khảo sát trong thời gian từ tháng 2 đến tháng 3 năm 2015
− Các bảng hỏi dùng cho việc khảo sát được lập dựa trên những hiểu biết của nhóm vềchuẩn mực kiểm toán Việt Nam, nhằm phục vụ cho mục tiêu thông tin của từng đốitượng cụ thế
− Sử dụng thang đo với 3 mốc tương ứng với khoảng cách kỳ vọng được thiết kế phù hợpvới bảng hỏi
Trang 3Trên thế giới, nghề kiểm toán nói chung và khái niệm về khoảng cách kì vọng đãđược hình thành và nghiên cứu từ sớm Nghề kiểm toán đã xuất hiện từ thế kỉ thứ 3trước công nguyên tại Ai Cập và La Mã cổ đại, và phát triển qua từng bước chuyểnmình của kinh tế thế giới Đến nay, kiểm toán đã ngày càng phát triển mạnh mẽ, hìnhthành nên những công ty kiểm toán xuyên quốc gia, với khả năng làm việc chuyênnghiệp đáp ứng được nhu cầu kiểm tra quản lý của nhà đầu tư Khái niệm về “khoảngcách kì vọng” đã được nghiên cứu trên thế giới từ thập niên 70 của thế kỉ 20, với nhữngcái tên như Liggio, ủy ban Cohen, Guy, Sullivan, Các nghiên cứu này đề cập về bảnchất của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán ở các nước khác nhau trên thế giới Cácnghiên cứu này chỉ ra sự khác biệt trong nhận thức về khoảng cách kỳ vọng trong kiểmtoán
Tại Việt Nam, nghề kiểm toán xuất hiện khá muộn.Từ sau thời kì mở cửa (1989),nghề kiểm toán mới thực sự trở thành một bộ phận không thể thiếu của đời sống kinh tế
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến khoảng cách kỳ vọng.Xuất phát từ phía kiểmtoán viên và công ty kiểm toán là chất lượng dịch vụ chưa đáp ứng được nhu cầu người
sử dụng báo cáo tài chính mà nguyên nhân sâu xa từ phía năng lực chuyên môn củakiểm toán viên, việc tuân thủ đạo đức nghề nghiệp cũng như đặc thù của công việc.Từphía người sử dụng báo cáo tài chính, những quan điểm chưa đúng đắn về công việc củakiểm toán viên cũng như những hiểu biết chưa đầy đủ về báo cáo tài chính cũng lànguyên nhân dẫn đến khoảng cách kì vọng
Việc gửi bảng hỏi khảo sát dành cho các đối tượng: kiểm toán viên, kế toántrưởng, nhà đầu tư, giúp nhóm có những cái nhìn cụ thể về quan điểm của kiểm toánviên đối với trách nhiệm của mình, đánh giá của kế toán trưởng về công việc của kiểmtoán viên, cũng như hiểu biết của nhà đầu tư về báo cáo tài chính và công việc kiểmtoán Thông qua kết quả khảo sát cùng với việc tham chiếu trên thang đo tương ứng,nhóm đã đưa ra kết luận khoảng cách kì vọng đang nằm ở mức trung bình, và có một sốkiến nghị nhằm giảm thiểu khoảng cách này Kiểm toán viên cần tuân chủ chuẩn mựcchuyên môn và đạo đức trong hành nghề, thông báo đầy đủ và chi tiết về bản chất cuộckiểm toán báo cáo tài chính.Về phía nhà đầu tư, các lớp tập huấn những hiểu biết về
Trang 4cần được mở thường xuyên để trang bị những kiến thức đầu tư đầy đủ hơn.
5 Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng và khả năng áp dụng của đề tài:
Đề tài giúp cung cấp những thông tin cơ bản về đề tài khoảng cách kì vọng trong kiểmtoán cho sinh viên chuyên ngành hoặc có những quan tâm về vấn đề này Đề tài giúpcho nhà đầu tư nói riêng và xã hội nói chung hiểu rõ công việc kiểm toán, cũng nhưgiúp những cá nhân, tập thể hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán nhận thức rõ hơn vềtrách nhiệm của mình trong cuộc kiểm toán báo cáo tài chính
6 Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài (ghi rõ tên tạp chí nếu có) hoặc nhận xét, đánh giá của cơ sở đã áp dụng các kết quả nghiên cứu (nếu có):
Ngày 18 tháng 5 năm 2015
Sinh viên chịu trách nhiệm chínhthực hiện đề tài
Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh viên
thực hiện đề tài (phần này do người hướng dẫn ghi):
Ngày tháng năm
Trang 6Chủ đề nghiên cứu: Đo lường khoảng cách kỳ vọng giữa nhà đầu tư và chất lượngcông ty kiểm toán Việt Nam
Mục tiêu nghiên cứu: đề tài nhằm cung cấp cho người đọc những thông tin vềKhoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán, nêu lên thực trạng khoảng cách kỳ vọng trongkiểm toán ở Việt Nam, so sánh với một số nghiên cứu ở Việt Nam cũng như trên thếgiới và đề ra những biện pháp nhằm rút ngắn khoảng cách này
Phương pháp nghiên cứu chính là tổng hợp và phân tích số liệu Thu thập số liệu
sơ cấp và thứ cấp thông qua khảo sát, nghiên cứu đã có và nguồn khác Phân tích số liệuthông qua so sánh, mô hình hồi quy tuyến tính và phần mềm Excel 2010
Tóm lược kết quả nghiên cứu và nhận định: qua việc tham khảo các nghiên cứu
ở Việt Nam và trên thế giới, nhóm đã có những cái nhìn cơ bản về quá trình hình thành
và phát triển nghề kiểm toán nói chung, cũng như khái niệm về khoảng cách kỳ vọng.Nhóm tiến hành khảo sát về khoảng cách hợp lý và khoảng cách hoạt động theo cơ sởnghiên cứu của Porter (1993) trên các đối tượng: kiểm toán viên, kế toán trưởng và nhàđầu tư, từ đó đưa ra kiến nghị về việc giảm thiểu khoảng cách kỳ vọng này
Từ kết quả khảo sát, nhóm đưa ra kết luận chủ quan về khoảng cách kỳ vọngkiểm toán đang ở mức trung bình Nhóm cũng đưa ra các đề xuất nhằm nâng cao hiểubiết của nhà đầu tư về công việc kiểm toán và báo cáo tài chính, cũng như làm rõ tráchnhiệm, nâng cao trình độ kiểm toán viên, chất lượng công ty kiểm toán
Trang 7Mục lục
Trang 8Danh sách bảng
Hình 1.1 Mô tả khoảng cách kì vọng 11Hình 1.2 Mô hình khoảng cách kì vọng của Porter (1993) 18Hình 1.3 Thang đo khoảng cách kỳ vọng 21Hình 1.4 Biểu đồ thể hiện kết quả soát xét chất lượng kiểm toán
qua các năm 26
Danh sách hình
Bảng 1.1 Kết quả khảo sát chung 20Bảng 1.2 Kết quả khảo sát NĐT 22Bảng 1.3 Kết quả khảo sát KTV và KTT
(câu hỏi thông tin) 24Bảng 1.4 Kết quả khảo sát KTV và KTT 24Bảng 1.5 Thống kê kết quả soát xét chất lượng năm 2012 và 2013 26
Danh mục từ viết tắt
BCTC- Báo cáo tài chính
KTV – kiểm toán viên
KSCL – Kiểm soát chất lượng
VSA – Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam
BTC – Bộ tài chính
Trang 9Chương 1 Phần mở đầu
1. Tính thời sự của đề tài
Trước sự phát triển không ngừng của nền kinh tế thị trường cũng như sự hộinhập với nền kinh tế thế giới, mỗi công ty đều luôn mong muốn thu hút được nhiềuvốn từ các nhà đầu tư và nhà đầu tư ngày càng có nhiều sự lựa chọn cho quyết định củamình Tuy nhiên, họ cần phải biết được chích xác đáp án cho câu hỏi : “ Liệu đưa vốnvào công ty đó có đạt được lợi nhuận hay không?” Do đó, sự quan trọng của việc xácminh thông tin mà các công ty đưa ra để thu hút nhà đầu tư cần phải được xác thực vàđảm bảo từ một bên thứ ba độc lập Vì vậy , Kiểm toán độc lập ra đời với nhiệm vụ cao
cả là xác định tính trung thực, hợp lí của báo cáo tài chính - nguồn tài liệu thiết yếu chonhà đầu tư đưa ra quyết định của mình Kiểm toán dần trở thành hoạt động quan trọng,
nó vừa là cầu nối cho nhà đầu tư và doanh nghiệp vừa giúp cho các hoạt động kinh tếtrở nên minh bạch hơn
Trong cuộc kiểm toán, bản thân kiểm toán viên luôn mong muốn rủi ro kiểmtoán là thấp nhất để đạt được chất lượng cao nhất nhằm nâng cao niềm tin của côngchúng đối với kiểm toán viên và công ty kiểm toán, những người sử dụng báo cáo tàichính đòi hỏi kiểm toán viên đưa ra báo cáo kiểm toán ít sai sót nhất, phản ánh trungthực về hoạt động kinh doanh của công ty được kiểm toán Cùng có một đích đến là cóđược một báo cáo tài chính sau khi kiểm toán hạn chế được tối thiểu những sai sót vàmang lại lợi ích cho nhà đầu tư Tuy nhiên, những mong đợi của nhà đầu tư và kếtquả thực tế của cuộc kiểm toán đạt được không như mong đợi, điều này đã tạo nênkhoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán
Sự xuất hiện của khoảng cách này có ảnh hưởng nghiêm trọng đối với nghềnghiệp kiểm toán, khoảng cách kỳ vọng quá lớn sẽ làm giảm độ tin cậy của nhà đầu tưdẫn đến hình ảnh của kiểm toán viên trong mắt công chúng trở nên xấu hơn Khoảngcách kỳ vọng trong kiểm toán có quan hệ tỉ lệ thuận với sự phát triển của nghề kiểmtoán Nghiên cứu lí thuyết này có giá trị rất lớn trong việc cải thiện hình ảnh của kiểmtoán viên nhờ việc chỉ ra những yêu cầu thực tế mà xã hội đòi hỏi đối với ngành kiểm
Trang 10toán, đòi hỏi kiểm toán viên phải nhận thức được nghĩa vụ và trách nhiệm bản thântrong cuộc kiểm toán Mặt khác, cũng chỉ ra các nhà đầu tư cần phải có những nhậnthức thực tế hơn về trách nhiệm và nghĩa vụ của kiểm toán viên, hoạt động kiểm toánviên.
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán giúp sinhviên có cái nhìn thực tế hơn về vai trò và trách nhiệm của bản thân Từ đó, sinh viên sẽtrang bị đầy đủ kiến thức, kỹ năng chuyên môn trước khi ra trường.Đặc biệt là trongthời gian này, khi mà Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) sẽ được thành lập vào cuốinăm 2015 cho phép 8 ngành nghề lao động trong các nước ASEAN được tự do dichuyển thông qua các thỏa thuận công nhận tay nghề tương đương, trong đó có nghềnghiệp kế toán, kiểm toán Đây là cơ hội cho những người có chứng chỉ hành nghề kếtoán, kiểm toán tiêu chuẩn ASEAN và tiêu chuẩn quốc tế có thể dễ dàng làm việc tạicác nước trong khu vực Đồng thời, thị trường dịch vụ kế toán, kiểm toán trong nước sẽcạnh tranh gay gắt, đòi hỏi các kiểm toán viên phải nâng cao hơn nữa tính chuyênnghiệp cũng như đạo đức nghề nghiệp để tạo cho ngành kế toán – kiểm toán của nước
ta có được niềm tin của khách hàng nếu không sẽ bị các kế toán viên, kiểm toán viêncủa khu vực và quốc tế thay thế
Vấn đề “khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán” đã có quá trình nghiên cứu vàphát triển lâu dài tuy nhiên vẫn còn khá mới mẻ ở Việt Nam Vì vậy, nhóm quyết địnhnghiên cứu đề tài: “Đo lường Khoảng cách kì vọng giữa nhà đầu tư với chất lượng công
ty kiểm toán ở Việt Nam ” nhằm chỉ ra thực trạng khoảng cách kỳ vọng và tìm ra một
số biện pháp thiết thực để giảm thiểu khoảng cách kỳ vọng này
2. Mục tiêu nghiên cứu
− Cung cấp cho người đọc những thông tin về Khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán
− Chỉ ra thực trạng khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán ở Việt Nam hiện nay
− So sánh khoảng cách kỳ vọng ở Việt Nam với một số quốc gia lân cận để nhìn nhận
về chất lượng của kiểm toán nước ta và việc đáp ứng được yêu cầu của khách hàngcũng như người sử dụng báo cáo kiểm toán
− So sánh với các nghiên cứu đã có ở Việt Nam để đưa ra nhận xét về xu hướng củakhoảng cách kì vọng
Trang 11− Đề ra một số biện pháp rút ngắn khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán thông quaviệc nâng cao trách nhiệm và thực hành kiểm toán từ các kiểm toán viên và công tykiểm toán; nâng cao nhận thức của người sử dụng báo cáo tài chính.
3. Phương pháp nghiên cứu
− Sử dụng phương pháp tổng hợp và phân tích thông tin
− Thu thập số liệu
o Số liệu sơ cấp: thu thập ý kiến từ sinh viên chyên ngành kế toán – kiểm toán từcác trường đại học, từ kiểm toán viên ở các công ty kiểm toán , từ công ty cóthực hiện kiểm toán báo cáo tài chính, từ nhà đầu tư thông qua bảng hỏi
o Số liệu thứ cấp: từ các nguồn như báo, tạp chí, thông tin từ internet; Các côngtrình nghiên cứu số liệu thống kê từ Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam
− Phân tích số liệu
o Sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, mô hình hồi quy tuyến tính đểtiếnhành nghiên cứu, phân tích
o Các số liệu được xử lí bằng phần mềm Excel 2010
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
− Đối tượng nghiên cứu: Kiểm toán viên, nhà đầu tư, doanh nghiệp được kiểm toán
− Phạm vi nghiên cứu
o Địa điểm nghiên cứu: Những vấn đề liên quan đến việc khảo sát thực tế đượcthực hiện tại TP Hồ Chí Minh, các Sàn Giao dịch Chứng khoán, ngân hàng vàmột số doanh nghiệp
o Thời gian nghiên cứu: Nhóm thực hiện đề tài trong vòng 5 tháng, từ tháng12/2014 đến tháng 4/2015
5. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán đã được nghiên cứu và chứng minh ở nhiều nướctrên thế giới Tiêu biểu như:
Khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán: Những bằng chứng quốc tế (Audit
expectation gap: international evidences) M.Salehi, V.Rostami với nội dung chủ yếunhư: trình bày quá trình hình thành và phát triển của lí thuyết khoảng cách kỳ vọngtrong kiểm toán Tổng hợp các nghiên cứu chứng minh sự tồn tại của khoảng cách kỳvọng trong kiểm toán tại các quốc gia khác nhau
Gian lận trong doanh nghiệp và khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán
(corporate fraud and the audit expectation gap: a study among business managers)Harold F.D Hassink, Laury H.Bollen, Roger H.G Meuwissen, Meinderd J de Vries,
Trang 12Tạp chí Kế toán – Kiểm toán và Thuế quốc tế (Journal of International Accouting,Auditing and Taxation) với nội dung chủ yếu như: trình bày và giải thích lí thuyếtkhoảng cách kỳ vọng, xây dựng phương pháp đo lường và tiến hành đo lường khoảngcách kỳ vọng tại Hà Lan.
Khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán: Sự tồn tại khách quan? (Tạp chí
nghiên cứu khoa học kiểm toán số 70) với nội dung chủ yếu: Bàn chất khoảng cách kỳvọng trong kiểm toán và tập trung tổng hợp các công trình nghiên cứu về khoảng cách
kỳ vọng trên toàn thế giới
Khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán của Tiến sĩ Trần Mạnh Dũng, Đại học
KTQD, thạc sĩ Lại Thị Thu Thủy, Đại học Thương Mại trên tạp chí Kế toán- Kiểm toán
số 5/2013 Với nội dung chủ yếu là: bản chất và nguyên nhân hình thành khoảng cách
kỳ vọng trên thế giới và Việt Nam, giảm bớt khoảng cách kỳ vọng và hoàn thiện hệthống pháp luật
6. Tóm tắt nội dung nghiên cứu
− Khái niệm và một số vấn đề về Khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán
− Khảo sát và đưa ra tình hình thực tế về nhận thức và trách nhiệm kiểm toán viênđồng thời tìm hiểu về những kỳ vọng nhà đầu tư từ đó đưa ra nhận xét về thực trạngKhoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán tại Việt Nam
− Tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến Khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán hiệnnay: ở kiểm toán viên, người sử dụng báo cáo tài chính
− Đưa ra biện pháp từ thực tế nghiên cứu nhằm rút ngắn khoảng cách kỳ vọng trongkiểm toán ở Việt Nam
Chương 2 Nội dung chính của đề tài
1. Giải quyết vấn đề
1.1 Giới thiệu chung về khoảng cách kì vọng
1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển trên thế giới
Nghề kiểm toán
Từ thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, công việc kiểm toán lần đầu xuất hiện ở nềnvăn minh Ai Cập và La Mã cổ đại theo hình thức đọc lại những số liệu cho bên thứ 3nghe và sau đó chứng thực Cùng với sự phát triển về Kinh tế - xã hội, của cải dư thừa,
Trang 13việc quản lý kế toán ngày càng phức tạp, các hình thức kinh doanh ngày một đa dạngphong phú Đi kèm với đó là nhu cầu quản lý ngày càng tăng nên việc kiểm tra, kiểmsoát về kế toán và tài chính càng được quan tâm hơn.
Cách mạng công nghiệp bùng nổ ở Châu Âu vào cuối thế kỷ 18 làm xuất hiệncác loại hình doanh nghiệp mới, đòi hỏi những người chủ phải có sự kiểm soát, kiểm trachuyên nghiệp hơn Từ đây, công việc kiểm toán đòi hỏi sự chuyên nghiệp bởi nhữngkiểm toán viên bên ngoài Việc kiểm tra đi dần từ việc kiểm tra ghi chép kế toán đếntuân thủ quy định của pháp luật và mãi đến những thập niên 80, kiểm toán hoạt độngbắt đầu được hình thành và phát triển, nhưng hiện nay đã trở thành lĩnh vực trung tâmcủa kiểm toán nói chung, đặc biệt là kiểm toán Nhà nước và kiểm toán nội bộ
Vào những năm 30 của thế kỷ XX, từ việc phá sản của hàng loạt tổ chức tàichính và sự khủng hoảng kinh tế trên thế giới đã bộc lộ rõ những hạn chế của kiểm tra
kế toán, sự kiểm tra trên cùng một hệ thống Chính từ đây, việc kiểm tra kế toán buộcphải được chuyển sang một giai đoạn mới, yêu cầu kiểm tra kế toán một cách độc lập đãđược đặt ra Năm 1934, sau cuộc khủng hoảng kinh tế ở Mỹ, SEC (Ủy ban chứng khoánMỹ) đã xây dựng và ban hành quy chế về kiểm toán viên độc lập Đồng thời, trường đàotạo kế toán viên công chứng của Hoa Kỳ (AICPA) đã in ra mẫu chuẩn đầu tiên về báocáo kiểm toán tài khoản của các công ty Cũng trong giai đoạn này, ở các tổ chức kinhdoanh, các doanh nghiệp đã bắt đầu xuất hiện và phát triển chức năng kiểm tra một cáchđộc lập trong nội bộ với tên gọi kiểm toán nội bộ Năm 1942 Viện kiểm toán nội bộHoa Kỳ (IIA) được thành lập và đã đi vào hoạt động đào tạo các kiểm toán viên nội bộ.Đồng thời, Viện đã xây dựng và ban hành Hệ thống chuẩn mực kiểm toán nội bộ Hoa
Trang 14gia Khả năng làm việc chuyên nghiệp đáp ứng được nhu cầu kiểm tra quản lý của nhàđầu tư.
Khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toánTrong thời gian gần đây, thuật ngữ “khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán” đangđược nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, bởi lẽ lý thuyết này giúp xác định trách nhiệmcủa kiểm toán nói chung và kiểm toán độc lập nói riêng, cũng như những quan niệmđang tồn tại của người sử dụng báo cáo tài chính về nhiệm vụ của kiểm toán trong một
xã hội cụ thể
Theo Liggio (1974), khoảng cách kỳ vọng kiểm toán là sự khác biệt giữa mức độ
dự định thực hiện theo nhận thức của KTV và của những người sử dụng BCTC Ủy banCohen (1978) về trách nhiệm của KTV mở rộng khái niệm này bằng việc xem xét xem
có khoảng cách nào tồn tại giữa những gì mà công chúng kỳ vọng và những gì mà KTV
có thể và nên dự định thực hiện
Theo Guy và Sullivan (1988), có sự khác biệt giữa những gì mà công chúng vànhững người sử dụng BCTC tin tưởng KTV chịu trách nhiệm và những gì mà KTV tintưởng họ chịu trách nhiệm Godsel (1992) mô tả khoảng cách kỳ vọng là khoảng cách
mà công chúng tin tưởng về nhiệm vụ và trách nhiệm của KTV và thông điệp thể hiệntrong Báo cáo kiểm toán
Monroe và Woodliff (1003) cho rằng khoảng cách kỳ vọng kiểm toán là sự khácbiệt về niềm tin giữa KTV và công chúng về nhiệm vụ và trách nhiệm mà KTV đảmnhận và thông điệp trình bày trong báo cáo kiểm toán Theo Viện Kế toán viên Côngchứng Hoa Kỳ (1993), khoảng cách kỳ vọng đề cập đến sự khác biệt giữa những gì màcông chúng và người sử dụng BCTC tin rằng trách nhiệm của KTV phải làm và những
gì mà KTV tin rằng trách nhiệm họ phải làm Viện Kế toán viên Công chúng Úc (1994)cho rằng khoảng cách kỳ vọng là sự khác biệt về kỳ vọng của người sử dụng BCTC vàchất lượng lập BCTC & chất lượng dịch vụ kiểm toán
Như vậy, có thể nhận thấy rằng mặc dù các khái niệm với các từ ngữ khác nhau
nhưng các khái niệm trên đều đề cập đến khoảng cách về sự nhận thức hoạt động thực
tế của KTV và kỳ vọng mà KTV phải thực hiện; và tồn tại sự khác biệt về nhận thức giữa KTV, người sử dụng BCTC và xã hội.
Trang 15Trên thực tế, lúc nào cũng có sự khác biệt về nhận thức giữa KTV và công tykiểm toán thực hiện hoạt động kiểm toán, với sự nhận thức của những người sử dụngBCTC và xã hội đối với hoạt động kiểm toán Tuy nhiên, khi hoạt động kiểm toán ngàycàng trở nên phổ biến thì khoảng cách này lại có xu hướng thu hẹp qua thời gian Chính
do xuất hiện khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán mà sự mâu thuẫn và hiểu lầm giữaKTV và Công ty kiểm toán, với những người sử dụng BCTC thường xuyên xảy ra Sựxuất hiện khoảng cách kỳ vọng kiểm toán này, xét một cách khách quan, được hìnhthành từ cả phía KTV và Công ty kiểm toán; và chính từ phía những người sử dụngBCTC
Hình 1.1: Mô tả khoảng cách kì vọng
Các công trình nghiên cứu trên thế giớiCác nghiên cứu về khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán đề cập về bản chất củakhoảng cách kỳ vọng kiểm toán ở các nước khác nhau trên thế giới.Các nghiên cứu nàychỉ ra sự khác biệt trong nhận thức về khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán Cơ sở chocác nghiên cứu về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán nằm trong các công trình chuyên đềcủa Lee (1970) và Beck (1974), những người đã nghiên cứu các công việc mà kiểmtoán viên dự kiến sẽ thực hiện Hầu hết các nghiên cứu khẳng định rằng kiểm toán viên
và quan điểm của công chúng về vai trò và trách nhiệm của kiểm toán viên có thể thuđược thông qua bảng câu hỏi Liggio (1974a) đã hình dung được sự thay đổi trong vai
Trang 16trò của kiểm toán viên ở giai đoạn đầu Sau đó, ông là người đầu tiên đưa ra khái niệm
về khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán (Liggio, 1974 b)
Ở Mỹ, Baron và các cộng sự (1977) đã kiểm tra mức độ trách nhiệm phát hiệncủa kiểm toán viên đối với các sai sót trọng yếu, gian lận và các hành vi bất hợp pháp
Họ cố gắng xác định xem liệu có bất kỳ sự khác biệt nào trong nhận thức liên quan đếnviệc phát hiện và trách nhiệm công bố giữa kiểm toán viên và những người sử dụngBCTC Họ phát hiện ra rằng kiểm toán viên và những người sử dụng BCTC có niềm tinkhác nhau về việc phát hiện và trình bày các sai phạm và các hành vi bất hợp pháp Đặcbiệt, những người sử dụng BCTC yêu cầu kiểm toán viên có trách nhiệm nhiều hơntrong việc phát hiện, báo cáo gian lận và các hành vi không tuân thủ pháp luật hơn lànhững gì mà kiểm toán viên cho rằng mình phải làm
Low (1980) đã kiểm tra khoảng cách kỳ vọng trên tại Úc Mức độ phát hiện vàtrách nhiệm công bố sai sót, gian lận và các hành vi bất hợp pháp theo nhận thức củakiểm toán viên và những người sử dụng BCTC được nghiên cứu Kết quả là cả hainhóm có nhận thức hoàn toàn khác nhau.Nghiên cứu này cũng nhất quán với nghiêncứu của Beck (1974) và Beck cho rằng những bên liên quan có kỳ vọng cao hơn về hoạtđộng kiểm toán hơn là những gì mà kiểm toán viên đang thực hiện
Low và các cộng sự (1988) đã kiểm tra mức độ của khoảng cách kỳ vọng giữakiểm toán viên và các nhà phân tích tài chính về mục tiêu kiểm toán trong môi trườngCông ty khách hàng tại Singapore Kết quả chỉ ra rằng mục tiêu cơ bản của cuộc kiểmtoán là đưa ra ý kiến về BCTC.Tuy nhiên, các nhà phân tích cho rằng cuộc kiểm toánnhư là sự bảo đảm về tính chính xác về BCTC của một đơn vị.Hơn nữa, nhận thức củacác nhà phân tích trong việc ngăn chặn và phát hiện sai phạm trọng yếu từ phía kiểmtoán viên khắt khe hơn là những gì mà kiểm toán viên phải thực hiện
Humphrey và các cộng sự (1992) thực hiện cuộc điều tra để thu thập bằng chứng
về ý kiến và nhận thức về kiểm toán từ nhiều nhóm người khác nhau Kết quả chỉ rakhông có sự khác biệt đáng kể về nhận thức rằng BCTC phải tuân thủ theo luật định và
Trang 17chuẩn mực, nhưng có sự khác biệt đáng kể về vai trò của kiểm toán viên Nói chung,kiểm toán viên cho rằng họ có trách nhiệm và vai trò ít hơn so với những người sử dụngBCTC kỳ vọng về công việc của họ Một điều thú vị là 71% kiểm toán viên không chorằng Bảng cân đối kế toán trình bày trung thực về tình hình tài chính, trong khi đó 51%Giám đốc tài chính và 81% những người sử dụng kết quả kiểm toán lại có ý kiến ngượclại.
Gloeck và De Jager (1993) đo lường khoảng cách kỳ vọng kiểm toán tại Cộnghòa Nam Phi Kết quả chỉ ra rằng có khoảng cách kỳ vọng kiểm toán và có 3 vấn đềchính cần quan tâm (i) thiếu tính độc lập của kiểm toán viên; (ii) vai trò không rõ ràngcủa kiểm toán viên, đặc biệt liên quan đến gian lận và tính liên tục hoạt động; (iii) sựkhông thỏa mãn về kiểm toán bắt buộc đối với các công ty có quy mô nhỏ Hơn 60%người trả lời cho rằng kiểm toán viên bị ảnh hưởng đáng kể từ phía các nhà quản lý củacông ty khách hàng
Epstein và Geiger (1995) nghiên cứu về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán giữa cácnhà đầu tư và kiểm toán viên, và kết luận rằng (i) các nhà đầu tư kỳ vọng nhiều hơn vềmức độ bảo đảm liên quan đến gian lận và sai sót; (ii) thiếu sự hiểu biết liên quan đến
sự khác biệt về khả năng của kiểm toán viên phát hiện sai phạm do gian lận và sai sótgây ra; (iii) các nhà đầu tư không hiểu được sự khó khăn trong việc phát hiện các saiphạm trọng yếu do gian lận và sai sót như kiểm toán báo cáo tài chính
Dựa trên các phát hiện này, Epstein và Geiger cho rằng kiểm toán viên cần thôngbáo cho công chúng về những khó khăn trong việc phát hiện gian lận và kiểm toán viêncần tăng cả về chất lượng và số lượng các dịch vụ kiểm toán để cung cấp cho các nhàđầu tư mức độ bảo đảm cao hơn
Best và các cộng sự (2001) thu thập bằng chứng về khoảng cách kỳ vọng kiểmtoán tại Singapore Nghiên cứu này cung cấp chi tiết hơn về bản chất và phạm vi củakhoảng cách kỳ vọng kiểm toán Có sự khác biệt đáng kể về trách nhiệm của kiểm toánviên trong việc phát hiện tất cả các gian lận và sai sót; trong khi đó kiểm toán viên lại
Trang 18cho rằng không có trách nhiệm trong việc phát hiện và ngăn chặn gian lận và saisót.Ngoài ra, các nhà đầu tư còn cho rằng kiểm toán viên có trách nhiệm về hoạt độnghữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ tại công ty khách hàng.
Còn rất nhiều các nghiên cứu khác về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán tại cácnước khác nhau như nghiên cứu của Vinten (2005) tại Anh và New Zealand; nghiêncứu của Swamy (2007) tại Ấn Độ … Các nghiên cứu này cũng chỉ ra có sự khác biệttrong cách nhìn nhận và hiểu biết giữa những người sử dụng kết quả kiểm toán và kiểmtoán viên thực hiện cuộc kiểm toán về các khía cạnh khác nhau như mục tiêu kiểm toán,vai trò của kiểm toán viên, ý kiến kiểm toán, trách nhiệm phát hiện và báo cáo gian lận
và sai sót, công bố và trình bày thông tin …
1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển ở Việt Nam
Nghề kiểm toán độc lập Năm 1957, Nhà nước lần đầu tiên ban hành chế độ sổ sách kế toán dành cho cácđơn vị kinh tế và sở hữu nhà nước: yêu cầu cung cấp thông tin cho quản lý và kiểm trahoạt động tài chính
Tuy nhiên, sau thời kì thống nhất đất nước, Việt Nam thực hiện chế độ kế hoạchhóa tập trung: nhà nước là chủ sở hữu nắm trong tay toàn bộ công tác kế toán và kiểmtra kế toán Do đó, KTVchưa có vai trò quan trọng trong thời kì này
Năm 1989, bước vào thời kì mở cửa, Việt Nam đã chuyển qua cơ chế thị trườngtheo định hướng xã hội chủ nghĩa, chế độ kế toán mới được ban hành thay cho chế độ
kế toán hiện hành Tuy nhiên, chế độ mới vẫn có những điểm chưa bắt kịp với cơ chếthị trường Với việc thực hiện chủ trương đa dạng hóa các hình thức sở hữu, các thànhphần kinh tế được mở rộng và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quá trình pháttriển kinh tế của đất nước Trong điều kiện nền kinh tế như vậy, thông tin tài chính củadoanh nghiệp (DN) không chỉ để báo cáo cho cơ quan quản lý nhà nước, để kiểm tra vàxét duyệt, mà còn cần cho nhiều người, được nhiều đối tượng quan tâm, sử dụng nhằmđưa ra các quyết định kinh tế Các thông tin này được yêu cầu có độ chính xác cao,đáng tin cậy và trung thực Nhờ đó, hoạt động kiểm toán độc lập ra đời và trở thành bộphận không thể thiếu trong đời sống hoạt động kinh tế
Trang 19Năm 1991, BTC thành lập 2 doanh nghiệp kiểm toán nhà nước là Công ty Kiểmtoán Việt Nam (VACO) và Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán(AASC)
Tháng 10/1994, lần đầu tiên BCT tổ chức thi tuyển và cấp chứng chỉ đặc cáchcho 49 người đạt đủ điều kiện, tiêu chuẩn KTV chuyên nghiệp
Năm 2011, Quốc hội công bố Luật kiểm toán độc lập có hiệu lực từ ngày01/01/2012 gồm 2 nghị định và 7 thông tư
Theo số liệu gần nhất, năm 2012 Việt Nam có 155 công ty kiểm toán với sốlượng nhân viên bình quân là 65 người/công ty Năm 2013, số lượng này giảm mạnhchỉ còn 143 công ty (giảm 14%) nhưng số lượng nhân viên bình quân 78 người/công ty(tăng 20%)
Những khái niệm chung được sử dụngTheo Nghị định 105/2004/NĐ-CP, “Kiểm toán độc lập là việc kiểm tra và xácnhận của KTV và doanh nghiệp kiểm toán về tính trung thực và hợp lý của các tài liệu,
số liệu kế toán và BCTC của doanh nghiệp, tổ chức (gọi chung là đơn vị được kiểmtoán) khi có yêu cầu của các đơn vị này”
Báo cáo tài chính: là báo cáo phản ảnh tình hình tài chính của doanh nghiệp bằngcách tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế, tài chính có cùng tính chất kinh tế thành các yếu tốcủa báo cáo tài chính
Báo cáo kiểm toán là văn bản do kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểmtoán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam lập sau khi kết thúcviệc kiểm toán, đưa ra ý kiến về báo cáo tài chính và những nội dung khác đã đượckiểm toán theo hợp đồng kiểm toán
Kiểm toán báo cáo tài chính là việc kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệpkiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra
ý kiến về tính trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu của báo cáo tài chínhcủa đơn vị được kiểm toán theo quy định của chuẩn mực kiểm toán
Theo TS Phan Thanh Hải, “Sự khác biệt về kỳ vọng chỉ ra một giới hạn, một
khoảng cách giữa kỳ vọng và trông đợi của công chúng về trách nhiệm phát hiện gianlận, sai sót của kiểm toán viên và những gì được coi là trách nhiệm của kiểm toán viêntrong quá trình thực hiện công việc kiểm toán”
Trang 20Gian lận: Là hành vi cố ý do một hay nhiều người trong Ban quản trị, Ban Giámđốc, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện bằng các hành vi gian dối để thu lợi bấtchính hoặc bất hợp pháp.
1.2. Nguyên nhân hình thành khoảng cách kỳ vọng
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự hình thành khoảng cách kỳ vọng kiểm toán.Trong các nghiên cứu của Guy và Sullivan (1988), Godsel (1992), Monroe và Woodliff(1993) và các nghiên cứu khác khẳng định rằng sự hình thành khoảng cách kỳ vọngkiểm toán xuất phát phổ biến từ phía KTV và công ty kiểm toán và từ phía những người
sử dụng BCTC
Thứ nhất, từ phía KTV và công ty kiểm toán Cụ thể, các dịch vụ kiểm toán
do KTV và công ty kiểm toán cung cấp chưa thực sự hoàn hảo và chưa thỏa mãn nhucầu và kỳ vọng của những người sử dụng BCTC Dịch vụ kiểm toán chưa hoàn hảo cóthể do:
− Năng lực nghề nghiệp của KTV thực hiện cuộc kiểm toán chưa cao, do vậy chưa pháthiện được các sai phạm trọng yếu vẫn còn tồn tại trong BCTC đã được kiểm toán;
− Tính độc lập của KTV bị vi phạm như KTV chưa độc lập đầy đủ về quan hệ xã hội vàquan hệ kinh tế với đơn vị được kiểm toán và chưa độc lập trong việc thu thập và đánhgiá các bằng chứng kiểm toán;
− Không phải lúc nào KTV cũng kiểm tra 100% các nghiệp vụ kinh tế phát sinh cho nênhoạt động kiểm toán lúc nào cũng tồn tại rủi ro;
− Môi trường luật pháp về kiểm toán chưa thực sự đồng bộ và đầy đủ
− Việc cung cấp dịch vụ kiểm toán còn chịu tác động của quy luật cung – cầu, cạnh tranh
Do vậy, giá phí kiểm toán thấp, đặc biệt là những công ty kiểm toán nhỏ, đã ảnh hưởngrất lớn đến việc thực hiện đúng đắn, đầy đủ các công việc kiểm toán theo chuẩn mực
Ngoài ra, trong quá trình thực hiện các cuộc kiểm toán bao gồm cả cuộc kiểmtoán BCTC, các KTV và Công ty kiểm toán chưa thông báo và giải thích hoặc có thôngbáo và giải thích không đầy đủ cho những người sử dụng BCTC như Ban Giám đốccông ty khách hàng và các bộ phận có liên quan trong đơn vị được kiểm toán như phòng
Kế toán … về bản chất của cuộc kiểm toán Cụ thể, người sử dụng BCTC vẫn chưa hiểuthấu đáo cơ sở tiến hành kiểm toán; đối tượng kiểm toán; phạm vi kiểm toán; ý kiếnkiểm toán, mức trọng yếu, các loại rủi ro có liên quan …
Trang 21Thứ hai, từ phía chính những người sử dụng BCTC Vẫn còn nhiều quan
về thuế phải nộp, chi phí hợp lý hợp lệ … Cũng còn nhiều người sử dụng BCTC chưaphân biệt được sự khác biệt giữa loại ý kiến chấp nhận toàn phần và ý kiến không chấpnhận toàn phần (ý kiến ngoại trừ, ý kiến từ chối và ý kiến trái ngược) Do vậy, họ khôngquan tâm nhiều đến ý kiến KTV và khi quyết định kinh tế của họ có sai lầm thì dẫn đếnmâu thuẫn và tranh chấp kiện tụng với KTV và công ty kiểm toán
1.3. Vấn đề cần quan tâmCông việc kiểm toán đã và đang có vị trí vô cùng quan trọng trong nền kinh tế.Những người sử dụng BCTC ngày càng quan tâm và có nhiều hiểu biết hơn Họ hyvọng KTV bảo vệ lợi ích cho họ và họ kỳ vọng BCTC được kiểm toán có chất lượngbởi lẽ KTV sẽ giúp họ đưa ra các quyết định kinh tế đúng đắn Bên cạnh đó, khoảngcách kì vọng giữa NĐT và chất lượng dịch vụ kiểm toán được xem là một vấn đề đã tồntại từ lâu Điều này đòi hỏi phải có một cái nhìn cụ thể hơn về khoảng cách giữa kì vọngcủa nhà đầu tư với chất lượng công ty kiểm toán, từ đó có những giải pháp đồng bộ vàlâu dài nhằm đưa khoảng cách này về mức hợp lý hơn
1.4. Khảo sát và kết quả khảo sát1.4.1 Kế hoạch khảo sát
Theo nghiên cứu của Porter (1993), khoảng cách kì vọng trong kiểm toán gồm 2yếu tố là khoảng cách hợp lý và khoảng cách hoạt động
Hình 1.2 Mô hình khoảng cách kì vọng của Porter (1993)
Trang 22Khoảng cách hợp lý: là khoảng cách giữa sự kì vọng mang tính chủ quan củangười sử dụng BCTC với kiểm toán viên được công nhận có đầy đủ phẩm chất, nănglực.
Khoảng cách hoạt động:là khoảng cách giữa sự kì vọng mang tính khách quancủa người sử dụng BCTC về việc KTV hoàn thành trách nhiệm và nghĩa vụ của mình ởmức độ có thể chấp nhận được, với những gì mà KTV nhận thức được về trách nhiệm
và nghĩa vụ của mình.Dựa vào cơ sở lý luận của Porter, nhóm đưa ra bảng hỏi cho cácđối tượng là NĐT, kiểm toán viên và kế toán trưởng nhằm làm rõ khoảng cách hoạtđộng và khoảng cách hợp lý
Bảng hỏi NĐT
Nội dung
Cơsởlíluận
Trang 23Báo cáo tài chính có những khoản mục được tính dựa
trên ước tính kế toán
VSA540và240đoạn32
Báo cáo kiểm toán được lập dành cho một nhóm đối
tượng sử dụng nhất định
VSA320và800
Tình hình tài chính của khách hàng kiểm toán có thể
được xem là tốt khi ý kiến trên báo cáo kiểm toán là
chấp nhận toàn phần
VSA200và700
Trang 24Kiểm toán viên làm công việc kiểm tra tất cả các nghiệp
vụ phát sinh trong kỳ kế toán của khách hàng
VSA320và530
Kiểm toán viên công khai hết tất cả những sai sót phát
hiện được trong quá trình kiểm toán
ChuẩnmựcđạođứcnghềnghiệpKiểm toán viên luôn có một mức rủi ro được chấp nhận
khi họ đưa ra ý kiến kiểm toán không phù hợp về báo
cáo tài chính
VSA320và