Trong một thời gian ngắn, virus có độc lực cao đ1 gây ra bệnh không chỉ ở Anh, Indonesia, Hàn Quốc mà còn ở một số nước khác như Philippin, Năm 1964, dạng bệnh lý nhẹ đ1 được Shope đưa r
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp I
Người hướng dẫn khoa học: Nguyễn hữu nam
Hà Nội - 2007
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đ1 được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, tháng 10 năm 2007 Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hương Sen
Trang 3Lời cảm ơn
Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài tốt nghiệp, ngoài sự
nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các tập thể và cá nhân trong và ngoài trường
Nhân dịp hoàn thành luận văn này, Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với TS Nguyễn Hữu Nam, Thầy giáo đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo tôi hết sức tận tình trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô giáo trong Bộ môn Vi sinh vật - Truyền nhiễm - Bệnh lý, Khoa Thú y và Khoa Sau đại học Trường Đại học Nông nghiệp I đã góp ý, chỉ bảo để luận văn của tôi
được hoàn thành
Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới cán bộ và nhân dân huyện Chương Mỹ, Thanh Oai, Ba Vì, Hoài Đức, Quốc Oai, tỉnh Hà Tây đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện đề tài của mình
Để hoàn thành luận văn này tôi còn nhận được sự động viên khích lệ của người thân, bạn bè, đồng nghiệp Tôi xin chân thành cảm
ơn những tình cảm cao quý đó!nnnnnnnnnnnnn
Hà Nội, tháng 10 năm 2007 Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hương Sen
Trang 4Môc lôc
Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t v
Danh môc c¸c b¶ng vi
Trang 53.4.3 Phương pháp làm tiêu bản vi thể theo quy trình tẩm đúc bằng Parafin,
3.4.4 Phương pháp đếm hồng cầu, bạch cầu bằng buồng đếm Newbauer: 49
3.4.7 Phương pháp điện di trên phiến Axetat cellulose để xác định các tiểu
4.1 Kết quả khảo sát tỷ lệ mắc bệnh Newcastle của gà nuôi trong các trang
Trang 6Danh mục các chữ viết tắt CPE: (Cytopathic effect): Phá huỷ tế bào
EID50: (Egg infective dose): Liều gây nhiễm 50% phôi gà
ELD50: (Egg lethal dose): Liều gây chết 50% phôi gà
F : Fusion protein
FAO: (Food and Agriculture Organization): Tổ chức lương thực và Nông nghiệp của Liên hiệp quốc
GMT: Geometic Mean Titer: Hiệu giá kháng thể trung bình
HA : (Hemagglutination test): Phản ứng ngưng kết hồng cầu
Hb: Hemoglobin
HE: (Haematoxylin – Eosin):
HI: (Hemagglutination Inhibition test): Phản ứng ngăn trở ngưng kết hồng cầu HN: (Haemagglutinin – Neuraminidase): Cấu trúc kháng nguyên của virus Newcastle
IBD: (Infectious bursa disease): Bệnh Gumboro
ICPI: Intracerebral pathogennicity Index: Chỉ số gây bệnh trên n1o gà 1 ngày tuổi ILT: (Infectious laryngotrachetis): Bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm IVPI: (Intravenous Venous Pathogennicity Index in 6 – wk – old chickens): Chỉ số gây bệnh khi tiêm vào tĩnh mạch gà 6 tuần tuổi
L: Large polymerazase protein
LD50: (50 Percent Lethal Dose) : Liều gây chết 50% động vật thí nghiệm LHbBQ: Lượng huyết sắc tố (Hemoglobin) bình quân hồng cầu
M: Matric protein
MAB: (Monoclonal antibody): Kháng thể đơn dòng
MDT: (Mean death time): Thời gian trung bình gây chết phôi
NĐHbBQ: Nồng độ huyết sắc tố bình quân hồng cầu
N: Nucleo protein
NP: Nucleo protein phospho
OIE : (Office International des Epizooties): Tổ chức dịch tễ thế giới
V : Thể tích bình quân của hồng cầu
Trang 7Danh mục các bảng
Bảng 4.1a Kết quả khảo sát tỷ lệ mắc bệnh Newcastle của gà hướng thịt 54
ở một số huyện thuộc tỉnh Hà Tây từ T11/2006 đến T4/2007 54Bảng 4.1b Kết quả khảo sát tỷ lệ mắc bệnh Newcastle của gà đẻ 55
ở một số huyện thuộc tỉnh Hà Tây từ T11/2006 đến T4/2007 55Bảng 4.1c Bảng tổng hợp kết quả khảo sát tỷ lệ mắc bệnh Newcastle của gà 56
ở một số huyện thuộc tỉnh Hà Tây từ T11/2006 đến T4/2007 (%) 56Bảng 4.2 Kết quả khảo sát tỷ lệ mắc bệnh Newcastle ở gà siêu thịt tại Hà Tây 58Bảng 4.4 Kết quả khảo sát tỷ lệ mắc bệnh Newcastle ở gà đẻ 64Bảng 4.5 Kết quả khảo sát tỷ lệ chết và loại thải ở gà đẻ mắc bệnh Newcastle 66Bảng 4.6 Kết quả nghiên cứu triệu chứng lâm sàng của gà mắc bệnh Newcasstle 70Bảng 4.7 Kết quả nghiên cứu bệnh tích đại thể của gà mái đẻ mắc bệnh Newcastle 72Bảng 4.8 Bảng bệnh tích vi thể ở một số cơ quan của gà ISA Brown mắc bệnh
Bảng 4.9 Kết quả nghiên cứu một số chỉ tiêu hệ hồng cầu của gà ISA Brown mắc
Bảng 4.10 Kết quả nghiên cứu một số chỉ tiêu bạch cầu của gà ISA Brown mắc
Bảng 4.11 Kết quả nghiên cứu hàm lượng protein của gà ISA Brown mắc bệnh
Trang 8Danh mục các hình
Biểu đồ 4.1a Biểu diễn tỷ lệ gà mắc bệnh Newcastle theo huyện 57Biểu đồ 4.1b Biểu diễn tỷ lệ gà mắc bệnh Newcastle theo giống gà 57Biểu đồ 4.2a Biểu diễn tỷ lệ mắc bệnh Newcastle ở gà siêu thịt theo lứa tuổi 59Bảng 4.3 Kết quả khảo sát tỷ lệ chết và loại thải ở gà siêu thịt mắc bệnh Newcastle 61Biểu đồ 4.3a Biểu diễn tỷ lệ chết ở gà mắc bệnh Newcastle theo giống gà 62Biểu đồ 4.3b Biểu diễn tỷ lệ chết và loại thải ở gà mắc bệnh Newcastle theo địa d− 62Biểu đồ 4.4a Biểu diễn tỷ lệ mắc bệnh Newcastle ở gà đẻ theo lứa tuổi 64Biểu đồ 4.5a Biểu diễn tỷ lệ chết của gà đẻ mắc bệnh Newcastle theo giống gà 67Biểu đồ 4.5b Biểu diễn tỷ lệ chết của gà đẻ mắc bệnh Newcastle theo địa d− 67Biểu đồ 4.10a Công thức bạch cầu của gà ISA Brown mắc bệnh Newcastle 82Biểu đồ 4.10b Công thức bạch cầu của gà ISA Brown (20 tuần tuổi) 83Biểu đồ 4.11a Các tiểu phần Protein của gà ISA Brown mắc bệnh Newcastle (20
Biểu đồ 4.11b Các tiểu phần Protein của gà ISA Brown (20 tuần tuổi) 85
ảnh 1: Gà ISA Brown 22 tuần bị bệnh Newcastle; ủ rũ, kém ăn 87
ảnh 2: Gà ISA Brown 22 tuần ủ rũ, đuôi cụp Bệnh Newcastle 87
ảnh 9: Khí quản có dịch nhầy, xuất huyết Bệnh Newcastle 88
ảnh 12: Xuất huyết dạ dầy tuyến
Trang 9ảnh 13: Xuất huyết dạ dầy tuyến 89
ảnh 19: Phổi bình thường (HE x 150) Lòng phế nang trong sáng, vách phế nang mỏng
90
ảnh 20: Huyết khối trong lòng mạch quản phổi: (HE x 150) 90
ảnh 22: Xuất huyết phổi hồng cầu tròn, ngập trong lòng các phế nang (HE x 600) 90
ảnh 31: Tăng sinh tế bào hình thành hạt thần kinh đệm ở n1o gà (HE x 150) 91
Trang 101 Mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi gia cầm chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế của nước ta Trong những năm gần đây chăn nuôi gia cầm có nhiều thay đổi đáng
kể và góp phần không nhỏ trong quá trình phát triển ngành Nông nghiệp của nước nhà, đồng thời chúng góp phần nâng cao mức sống cho người dân Sản phẩm của ngành chăn nuôi gia cầm cung cấp nguồn protein quý hiếm cho nhân loại Với vai trò không nhỏ đó Đảng và Nhà nước ta đ1 và đang quy hoạch vùng chăn nuôi, đầu tư cho ngành chăn nuôi, nhất là chăn nuôi gia cầm với quy mô đàn lớn chăn nuôi theo phương thức công nghiệp
Cùng với sự đi lên của ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng, sự phát triển của các phương thức chăn nuôi công nghiệp hiện đại cũng không tránh khỏi tình trạng dịch bệnh xảy ra Đặc biệt với điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm và các phương thức chăn nuôi ở nước ta càng thuận lợi cho những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như bệnh Newcastle, Gumboro, Marek, Đậu gà phát triển và gây nhiều thiệt hại
Trong đó bệnh Newcastle là một bệnh thường xuyên xảy ra, bệnh lây lan nhanh, làm chết hàng loạt gà ở mọi lứa tuổi Bệnh Newcastle được phát hiện vào những năm 20 của thế kỷ 20 nhưng cho đến nay bệnh vẫn còn là mối đe doạ nguy hiểm cho ngành chăn nuôi gia cầm trên Thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Những ổ dịch ở địa phương thường xuyên xảy ra, gây tác hại
và tổn thất nghiêm trọng cho nền kinh tế quốc dân, có thể tính đến nhiều triệu
đô la
ở Băngladet, bệnh Newcastle hàng năm gây chết khoảng 15% tổng số
đàn gà trong nước, gây thiệt hại kinh tế ước chừng 3.800.000 đô la ở Nepan,
Trang 11bệnh Newcastle gây chết khoảng 5% tổng số gà con Gà thương phẩm khoảng 5% tổng đàn được bảo hộ nhờ vaccin, số đàn gà còn lại gần như bị diệt trong suốt năm do bệnh này (China mani Lami Chlane,1986)
ở nước ta, trong những năm từ 1970 đến 1974 bệnh Newcastle đ1 xảy ra tại các nông trường và xí nghiệp gà và đ1 có một số lượng gà chết rất lớn lên tới vài chục vạn gà gây thiệt hại rất nặng nề
ở khu vực gia đình chăn nuôi gà riêng lẻ, bệnh Newcastle cũng luôn xảy
ra và gây tác hại nghiêm trọng Có nhiều địa phương do sự huỷ diệt của bệnh
mà trong toàn thôn đàn gà hầu như bị tiêu diệt
Có thể nói không một vùng nào, một cơ sở chăn nuôi gà nào lại không gặp các trường hợp gà bị Newcastle
Nguyên nhân gây bệnh là do một loài virus được Doyle phân lập trong ổ dịch của gà tại Newcasle (Anh) (Doyle, 1927)
Vấn đề ngăn chặn, khống chế đi đến thanh toán bệnh đ1 có nhiều biện pháp đề ra, trong đó con đường duy nhất để ngăn ngừa là dùng vaccin, tạo miễn dịch chủ động cho đàn gà Trong quá trình dùng vaccin không phải lúc nào cũng đạt được kết quả phòng bệnh tốt Có cơ sở chăn nuôi đ1 dùng vaccin cho gà nhưng bệnh vẫn xảy ra (Vũ Đạt, 1999)
Để làm rõ thêm vấn đề này chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý chủ yếu của bệnh Newcastle ở gà.” 1.2 Mục tiêu của đề tài
- Xác định các đặc điểm bệnh lý chủ yếu của gà bị Newcastle làm cơ sở cho việc chẩn đoán phân biệt với các bệnh khác của gà, đặc biệt là bệnh cúm
Trang 122 Tổng quan tài liệu 2.1 lịch sử nghiên cứu bệnh Newcastle
Thực ra trong thời gian này, bệnh đ1 xuất hiện ở ba nước cách xa nhau hàng nghìn kilômét: ở Anh (Doyle, 1926); ở Java, Indonesia (Kraneveld, 1926) và ở Korea (Kono, 1929)
Trong một thời gian ngắn, virus có độc lực cao đ1 gây ra bệnh không chỉ ở Anh, Indonesia, Hàn Quốc mà còn ở một số nước khác như Philippin,
Năm 1964, dạng bệnh lý nhẹ đ1 được Shope đưa ra một học thuyết giải thích những dấu hiệu hoàn toàn khác nhau của bệnh Newcastle
Một số chủng virus có độc lực thấp được phân lập ở một số nước như:
Mỹ (Hitchner, 1982), Anh (Asplin, 1986)[36], Ireland (Me Ferran, 1968)[71],
Trang 13Australia (Alexander, 1988)[32], những chủng này được dùng chế vacxin sống
Năm 1951, bệnh lan tới Hawaii, Canada và tiếp tục lan rộng ở khắp châu Âu và nhiều vùng khác nhau ở Châu Phi
Tại Venezuela, Mexico tỷ lệ chết của gà trưởng thành tới 100% (Brandly, 1965)[45]
ở các nước nhịêt đới và cận nhiệt đới, bệnh cũng gây ra tỉ lệ chết cao, diễn biến cấp tính với dạng cổ điển của bệnh Newcastle giống như ở Đông Nam á năm 1962, ở Singapore và Colombia năm 1964 Theo Bankowski (1964)[38], trong cùng thời gian đó, các thể bệnh không điển hình cũng được phát hiện ở nhiều nơi trên thế giới
Năm 1966, bệnh xảy ra ở Iran với thể cấp tính Bệnh lan vào Châu á rồi
từ Tây Âu qua Trung Đông (Lancaster và Alexander, 1975)[64]
Bệnh Newcastle xuất hiện ở nhiều nơi trên thế giới nhưng biểu hiện lâm sàng không giống nhau đ1 dẫn đến sự nhầm lẫn trong việc phát hiện bệnh
Năm 1980, tại cuộc hội thảo về bệnh có sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu, theo Hanson (1980)[56] virus Newcastle vẫn tồn tại với bản chất của nó nhưng dưới dạng một số chủng khác nhau, vì vậy đ1 gây ra những biểu hiện lâm sàng khác nhau
2.1.2 Tình hình nghiên cứu bệnh Newcastle trên thế giới
Bệnh Newcastle là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nhất của gia cầm Để hạn chế thiệt hại của bệnh, với trình độ khoa học kỹ thuật ngày càng tiên tiến,
đ1 có nhiều công trình nghiên cứu bệnh một cách đầy đủ và toàn diện
* Bệnh Newcastle ở chim hoang d:
Chim hoang d1 là loài gia cầm có khả năng mẫn cảm với bệnh Newcastle và là một trong những nguồn lây lan dịch bệnh Chính vì vậy trong
Trang 14thời gian dài chim hoang d1 là đối tượng được nghiên cứu rộng r1i ở khắp các nước trên thế giới nhằm ngăn chặn nguồn bệnh này
Qua nhiều năm nghiên cứu, Luthgen (1981)[69], đ1 lập một danh sách gồm 117 loài chim, trong đó có 17 loài bị nhiễm virus Newcastle và thấy phần lớn do chim tiếp xúc với gia cầm đ1 nhiễm bệnh
ở Baghda, Jumaily (1989)[61], dùng phản ứng HI kiểm tra 341 mẫu huyết thanh của 5 loài chim hoang d1, ông phát hiện có kháng thể kháng virus Newcastle ở một số mẫu với hiệu giá từ 1/2 - 1/128, trong đó nhóm chim Columbalivia chiếm 8,0%, nhóm Strepiopelia Decasoto chiếm 2,5%
Để khảo sát vai trò truyền bệnh Newcastle của chim hoang d1 đ1 cho gia cầm, Mousa S và cộng sự (1988)[73], đ1 kiểm tra kháng thể của 2 loài chim bồ câu gồm 180 con và 6 chim đầu rìu, 5 cú, 12 chìa vôi bẫy được ở vùng Assiut thấy 46 con có kháng thể và phân lập được 6 chủng virus Newcastle, trong đó có 4 chủng gây bệnh lý nhẹ ở gà, 1 chủng gây bệnh trung bình và 1 chủng gây chết
Vindevolgel (1997)[83], nghiên cứu bệnh Newcastle ở chim hoang d1 thấy virus nhiễm ở chim hầu hết có tính hướng hệ hô hấp, chim có thể biểu hiện bệnh hoặc không Qua 236 loài chim nhiễm tự nhiên hoặc thí nghiệm thấy bệnh nghiêm trọng đều ở đường tiêu hoá hoặc có triệu chứng thần kinh Tác giả cho rằng những chim di cư bị nhiễm tự nhiên trong quá trình sinh sản cũng truyền kháng để cho đời sau qua lòng đỏ
Estudillo (1972)[49], đ1 mô tả ổ dịch ở Mêhicô cho thấy gà lôi, nhật, công, vẹt, chim yến có khả năng mẫn cảm với bệnh và có triệu chứng thần kinh do lây nhiễm virus Newcastle
Qua nghiên cứu bệnh Newcastle ở chim hoang d1, các tác giả cho thấy những dấu hiệu của bệnh rất khác nhau, bất kỳ thể bệnh nào ở gà cũng có thể thấy ở các loài chim
Trang 15* Bệnh Newcastle ở chim bồ câu (Pigeon)
Năm 1985, ở Canada (Ide P.R, 1987)[59], lần đầu tiên phân lập virus Newcastle trong 6 đàn bồ câu vùng Ontario, Alberta Colombia Chủng này không biểu hiện triệu chứng khi cấy chuyển 4 lần ở gà 4 - 6 tuổi và được đánh giá là chủng Lentogen
Năm 1987, Pearson J.E và cộng sự [75], báo cáo kết quả nghiên cứu chủng vi rút PMV - 1 phân lập từ chim bồ câu có triệu chứng liệt, vẹo cổ, run rẩy, mất thăng bằng và chết Tác giả đ1 dùng kháng thể đơn dòng để xác định virus gây bệnh Chủng phân lập được dùng gây bệnh cho bồ câu bằng đường tiêm tĩnh mạch, thấy chim có biểu hiện bệnh như ngoài tự nhiên Nhưng gây bệnh bằng đường mũi chỉ có 1 bồ câu có biểu hiện bệnh; thời gian chết khoảng từ 4 - 25 ngày, virus bài xuất đến 20 ngày, có bệnh tích viêm ruột dạ dày và hoại tử tuyến tuỵ Nếu gây bệnh cho gà qua lỗ huyệt, mũi hoặc tiêm vào túi khí ở đốt ngực thì gà vẫn khoẻ mạnh; tiêm vào n1o gà con chúng có chỉ số ICPI giống nhóm Velogen và 4 trong 6 chủng virus phân lập có khả năng gây bệnh theo hướng tác động thần kinh cho gà 6 tuần tuổi
Gelb J (1987)[53], đ1 khảo sát gây bệnh và bảo hộ chéo của virus Newcastle chủng bồ câu (PMV-1) với chủng virus Newcastle ở gà, thấy virus Newcastle chủng bồ câu có quan hệ gần với nhóm Mesogen (Roakin) hơn Lentogen (Lasota) hoặc Velogen (Texas GB) Chủng PMV-1 bồ câu gây chết 100% gà 1 ngày tuổi khi tiêm n1o hoặc tiêm nội khí quản; thời gian gây chết phôi gà chậm hơn (88 - 109 giờ) so với Roakin (66 giờ) và Texas GB (48 giờ) Chủng B1 và chủng bồ câu sản sinh bảo hộ chéo hoàn toàn khi công cường
độc trên gà Chủng PMV-1 bồ câu và virus Newcastle được phân biệt rõ khi dùng kháng thể đơn dòng 2F12
Nghiên cứu bệnh Newcastle ở chim bồ câu thấy tỷ lệ mắc chiếm từ 30 70%, tỷ lệ chết có thể thấp, hiếm khi vượt quá 100% nhưng cũng có trường
Trang 16-hợp tới 40% Thời gian ủ bệnh từ vài ngày đến vài tuần Triệu chứng chủ yếu
là thần kinh và ỉa chảy, ngoài ra còn thấy triệu chứng ở đường hô hấp, viêm mũi, viêm màng kết mạc mắt, run rảy, ngoẹo cổ và thiếu sự kết hợp (Alaxander, 1986; Estudillo, 1972)[30; 49]
Gà đẻ bị nhiễm virus chủng bồ câu sẽ làm giảm sản lượng trứng, vỏ mềm, trắng, sau đó ngừng đẻ Gà giò có triệu chứng thần kinh
Alaxander D J và cộng sự (1986)[30] đ1 phân lập 51 chủng PMV-1 bồ câu từ 15 nước thấy chỉ số ICPI = 1,44 và IVPI từ 0,00 - 2,44
ở Nhật Bản, Maeda M và cộng sự (1987)[70], đ1 nghiên cứu biến đổi
về tổ chức bổ câu bị mắc bệnh Newcastle Các tác giả thấy có hoại tử hoặc thoái hoá tổ chức lympho ở lách cũng như ở túi fabricicus, tuyến ức, ruột, thận Ngoài ra còn thấy tăng sinh tế bào lympho ở lách, hình thành những đám
tế bào lympho ở thận và viêm n1o không chứa mủ Dựa vào các thay đổi về tổ chức có thể thấy được chủng virus có hướng thần kinh hay nội tạng
* Bệnh Newcastle ở gà tây (Turkey)
Biểu hiện bệnh bình thường, ít nghiêm trọng, với triệu chứng chủ yếu là hô hấp và thần kinh Bệnh có thể ảnh hưởng đến sản xuất trứng, trứng có vỏ mềm, mất hình dáng và chất lượng trứng giảm Gà có thể liệt 1-2 chân, trong ổ dịch quá cấp có tỷ lệ chết cao
* Bệnh Newcastle ở chim cút (Quail)
Theo Sharaway (1994)[79], chim cút ít mẫn cảm với virus Newcastle hơn gà, thời gian ủ bệnh từ 2 - 15 ngày, trung bình 5 - 6 ngày Triệu chứng bệnh thay đổi tuỳ theo độc lực của chủng gây bệnh Nếu nhiễm virus có độc lực cao, chim cút có biểu hiện ủ rũ, khó thở, bệnh kéo dài vài ngày rồi chết Quan sát thấy chim cút có thể bị sưng mắt và cổ, ỉa phân xanh đôi khi có máu,
Trang 17chim cút run rẩy, liệt chân, đôi khi liệt cánh Tỷ lệ chết có thể tới 90% ở chim cút hậu bị và 50% ở chim cút trưởng thành
* Bệnh Newcastle ở loài thuỷ cầm:
Vịt, ngan, ngỗng đều có khả năng nhiễm bệnh Newcastle (Asplin, 1947; Higgins, 1971: Estudillo, 1972)[35; 57; 49] ở ngỗng và vịt mắc bệnh
có biểu hiện liệt chân, cánh và không có triệu chứng hô hấp Tỷ lệ nhiễm của ngỗng ngan và vịt khoảng 10% hoặc ít hơn Tỷ lệ chết chỉ có ở vịt và ngỗng khoảng 10%
* Bệnh Newcastle ở gà:
Bệnh Newcastle đối với chăn nuôi gia cầm đ1 được nhiều tác giả trên thế giới quan tâm đến, không chỉ ở số các ổ dịch mà còn ở nhiều lĩnh vực khác như loài mắc bệnh, khả năng miễn dịch, sử dụng vacxin,
Tại Newzealand, Tisdall D J (1988)[81] phát hiện được kháng thể ngăn cản sự ngưng kết đối với virus Newcastle ở gà, gà lôi và công Các loài này không có biểu hiện triệu chứng lâm sàng nhưng phân lập được virus Newcastle thuộc nhóm Lentogen
ở Đài Loan trong 16 năm (từ năm 1970 - 1985) có 396 ổ dịch Newcastle trong đó 93% là ở gà, còn lại là ở gà lôi, bồ câu, gà tây, ngỗng và chim cút 82% gà mắc bệnh dưới 2 tháng tuổi, virus gây bệnh thuộc chủng Velogen hướng nội tạng và thần kinh (Lu Y S 1986)[66]
Lu Y.S (1986)[77] đ1 nhận định tình hình dịch tễ bệnh Newcastle xảy
ra ở Đài Loan từ tháng 2 - tháng 5/1984 như sau: Bệnh đ1 xảy ra ở 245 trại gà trong 11 vùng với 2,76 triệu gà mắc bệnh (60%) và 0,57 triệu con chết Gà ở các trại đ1 được tiêm phòng 3 lần vào ngày tuổi 4, 14 và 24, nhưng hầu hết gà mắc bệnh trước lần tiêm phòng thứ 3 Các yếu tố nghi ngờ gây ra ổ dịch là sự
Trang 18ức chế miễn dịch do lây nhiễm virus IBD, dùng vacxin không thích hợp đ1 làm tăng tính gây bệnh của chúng
Theo báo cáo của Lukarev T (1987)[68] năm 1985 - 1986 tại Macedonia, bệnh Newcastle xảy ra ở một trại gà 7 tuần tuổi, gà đ1 được miễn dịch bằng phương pháp khí dung lúc 17 ngày tuổi Bệnh ở 8 gian chuồng, mỗi gian chứa khoảng 9000 gà với tỷ lệ chết từ 75- 96%
Năm 1989, ở Nigeria (Okoye, JOA, 1989)[74] xảy ra ở ổ dịch Newcastle không điển hình, gà không có triệu chứng thần kinh, không xuất huyết dạ dày tuyến, chỉ có các dấu hiệu ủ rũ, ỉa phân xanh, tỷ lệ chết từ 50 - 83,6%; mổ khám thấy dịch thẩm xuất ở ống khí quản, lách teo, manh tràng xuất huyết có dấu hiệu hoại tử, các tế bào lympho giảm; đ1 phân lập được virus Newcastle từ bệnh phẩm
Biswal G, và Morrill C.C (1954)[43], nghiên cứu ảnh hưởng bệnh Newcastle đến khả năng sinh sản của gà bằng chủng 11914 Califonia gây nhiễm vào xoang mũi gà mái tơ, thấy sản lượng trứng bị giảm từ 2 - 3 tuần, thời gian ảnh hưởng kéo dài đến 56 ngày, 27% gà bị nhiễm có thoái hoá những nang trứng, biểu hiện bề ngoài nang gồ ghề, nang trứng bị xung huyết, xuất huyết, trứng không bọc vỏ hoặc vỏ mềm, đôi khi xuất hiện nòng đỏ trong xoang bụng, ống dẫn trứng bị co lại, đôi khi bị phù nề ở ngày thứ 5 - 7 kể từ sau khi nhiễm, thiếu dịch nhày và độ bóng sáng Biswal và Morril còn thấy có biến đổi vi thể ở buồng trứng của gà bị nhiễm virus biểu hiện thoái hoá hoại tử
tế bào trứng, có nhiều tế bào viêm tụ tập đám và có nhiều hồng cầu ở ngoài mạch quản
Qua khảo sát bệnh lý của gà, Flanagan M (1990)[51] thấy khi gây nhiễm virus Newcastle chủng Velogen thể nội tạng cho gà không có miễn dịch, có thể phân lập được virus từ các tổ chức ở những gà có kháng thể, virus thường được phân lập từ dạ dày tuyến, hạch manh tràng, túi fabricicus
Trang 19và n1o, gà có biểu hiện lâm sàng nhẹ hoặc không và virus vẫn được nhân lên
đến ngày thứ 19 sau khi công cường độc
Arzey G.(1990), đ1 nghiên cứu cơ chế lây truyền của bệnh Newcastle thấy có vai trò của chim hoang d1, bồ câu, thịt gà, qua gió, con người, vai trò tiểm ẩn của chim cảnh, sự di chuyển của gà, trứng, gà 1 ngày tuổi, vai trò của ruồi, ngoại ký sinh, nội ký sinh, loại gậm nhấm, thịt gà đông lạnh và thức ăn thừa
Bell J G (1988), đ1 nghiên cứu sự lưu hành virus Newcastle ở 3 vùng
có trại gà chăn nuôi theo kiểu công nghiệp và 3 vùng không có trại gà công nghiệp của Moroco vào mùa đông năm 1986 - 1987, bằng cách thu thập mẫu huyết thanh và dịch khí quản từ 100 gà ở mỗi vùng để kiểm tra Thấy lưu hành virus ở các vùng phụ thuộc vào phương thức chăn nuôi tập trung hoặc chăn thả, kết quả: Onjda 5%; Rabat 10%; Đông Bắc Atlas 28%, Nam Atlas 42%; Trung Atlas 80% và Larach 43%
Nghiên cứu khả năng gây bệnh của các chủng PMV-1 khác nhau: Những chủng không độc (Ulster) thường nhân lên ở đường tiêu hoá nhưng không gây bệnh tích, những chủng độc có độc lực cao, đặc biệt là Viscerotropic gây xuất huyết hoại tử ở thành ruột, nhất là ở dạ dày tuyến, tá tràng, manh tràng (Breard, Hanson, 1984)[35], ruột xung huyết, không có chất chứa (Alexander 1997)[33]
* Bệnh Newcastle ở người:
Suarez – Hernander M (1987) khảo sát huyết thanh học của virus Newcastle ở những công nhân chăn nuôi gà Kháng thể HI với virus bệnh Newcastle đ1 được tìm ra ở 73/277 (26,3%) người làm việc trực tiếp ở trại gà
và ở 110/230 (47,8%) người gián tiếp Sự khác nhau về số mẫu dương ở 2 nhóm người là không có ý nghĩa, vì bệnh ít khi xảy ra ở người, nhưng bệnh có
Trang 20thể gây viêm kết mạc mắt, các hạch lâm ba ngoại biên, trong trường hợp bệnh nặng có thể gây khó thở, viêm phổi Trẻ em có thể bị viêm n1o màng n1o
Papacella V và cộng sự (1987), theo dõi ảnh hưởng của bệnh đường hô hấp gia cầm đối với sức khoẻ của con người, thấy rằng, không chỉ bệnh cúm
gà ảnh hưởng đến người mà bệnh Newcastle cũng có thể gây bệnh cho người,
đầu tiên ở mắt, sau có thể lan sang các tổ chức khác
* Nghiên cứu sử dụng vacxin phòng bệnh Newcastle:
Hiện nay trên thế giới có nhiều loại vacxin Newcastle, để phòng bệnh tìm hiểu khả năng đáp ứng miễn dịch của gia cầm với các loại vacxin đó, Bastami M.A và cộng sự (1986)[39] đ1 thí nghiệm so sánh đáp ứng miễn dịch của gà được tiêm các loại vacxin khác nhau: 180 gà nhỏ mắt vacxin lúc 7 ngày tuổi và 21 ngày tuổi tiêm vacxin B1, Lasota, B1 hấp thụ alluminium hydroxyde (AH), Komarov và vacxin vô hạt có bổ trợ dầu Gà được công cường độc lúc 7 tuần tuổi Kết quả khả năng bảo hộ của vacxin B1 là 87%, vacxin vô hoạt bổ trợ dầu 83%, B1 hấp thụ AH 73%, Lasota 63% và Komarrov 60%
Saifuddin M.D và cộng sự (1990)[78], đ1 tìm hiểu khả năng bảo hộ của vacxin chủng B1 và chủng Komarov chống lại bệnh Newcastle ở Bangladesh
Gà con 1 ngày tuổi dùng vacxin B1 đ1 phát hiện kháng thể bằng phản ứng HI sau 1 tuần, kháng thể HI tăng dần đến 3 tuần tuổi, sau đó giảm dần và không còn ở 9 tuần tuổi Dùng vacxin lần 2, chủng Komarov cho gà vào tuần thứ 5,
7 hoặc 8 tuần tuổi, sau 3 tuần phát hiển được kháng thể HI ở mức 80 - 640 có khả năng chống được virus cường độc khi được công thư thách Kháng thể duy trì từ 10 - 640 ở 32 tuần tuổi, kháng thể HI chỉ còn 10, 20 ở 44 tuần tuổi Tác giả thấy, khi công cường độc gà có hiệu giá kháng thể > 80 mới có sức đề kháng với bệnh Từ đó ông đề xuất thời gian sử dụng vacxin: 1 ngày tuổi dùng
Trang 21vacxin B1, 7 tuần tuổi dùng vacxin Komarov và miễn dịch nhắc lại không quá
7 tháng tuổi
Bassionuni A.A và cộng sự (1987), nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng
đến đáp ứng miễn dịch ở gà đối với virus Newcastle: gà 1ngày tuổi được dùng vacxin Herpes (vacxin Marek) chủng gà tây, 7 ngày sau dùng vacxin B1 hoặc Lasota Sau 21 ngày chuẩn độ hiệu giá kháng thể thấy thấp hơn gà không chủng Heropes virus gà tây
Kim J.H (1988), phát hiện sự cạnh tranh miễn dịch nếu dùng vacxin sống Lasota và ILT bằng đường nhỏ mắt Miễn dịch chống lại ILT bị ngăn cản nghiêm trọng, chỉ bảo vệ được 30%, trong khi đó miễn dịch chống lại bệnh Newcastle không bị ảnh hưởng Nếu dùng Lasota uống, ILT nhỏ mắt thì Newcastle không bị ảnh hưởng, sự ngăn cản của virus Newcastle đối với ILT
có thể tránh được Vì vậy, nên dùng ILT muộn hơn, ít nhất 7 ngày sau
ở Trung Quốc, Zheng H.J và cộng sự (1987), dùng vacxin Mukteswai nhỏ mắt hoặc cho gà uống lúc 16 ngày tuổi Vacxin lần 2 sau 1 tháng và công cường độc lúc 75 ngày, kết quả gà có miễn dịch chắc chắn
Box P.G (1988)[44] đ1 kiểm tra huyết thanh của 6 đàn gà, thấy kháng thể ức chế ngưng kết Hồng cầu cần liên quan ở mức cao giữa vùng Newcastle PMV-1 và PMV-3 của gà tây Nhưng, PMV-3 chỉ cho HI 3 - 4log2 hoặc thấp hơn, không mẫu nào vượt quá mức cản của gà được tiên vacxin Newcastle và không có mẫu nào được phát hiện ở gà không tiêm phòng vacxin Như vậy, PMV-3 có phản ứng chéo với kháng thể của virus vacxin Newcastle Điều này
có ý nghĩa khi kiểm tra kháng thể PMV-1 trong huyết thanh gà đ1 dùng vacxin Newcastle
Blazin V (1988), chuẩn độ kháng thể HI ở 8 đàn gà trước và sau khi miễn dịch bằng khí dung với vacxin B1 và Lasota ở 4 ngày tuổi và nhắc lại 10
Trang 22hoặc 21 ngày tuổi thì thấy, ở gà 10 - 21 ngày tuổi, kháng thể HI không bảo hộ chống lại chủng Velogen
Guler E (1989), kiểm tra kháng thể trong lòng đỏ trứng và huyết thanh của 20 gà 5 tháng tuổi đ1 được 4 - 5 lần chủng vacxin B1 và Lasota phòng bệnh Newcastle, thấy kháng thể HI ở lòng đỏ trứng của chúng đẻ ra có dao
động lên xuống, trong khi đó chuẩn độ huyết thanh vẫn ổn định và nói chung
HI của lòng đỏ trứng thấp hơn HI của huyết thanh
Trong những năm gần đây, vacxin phòng bệnh cho gà được quan tâm nhiều là vacxin cho ăn V4 Vacxin được chế thành viên thức ăn tiện lợi cho sử dụng và bảo quản, thường dùng cho gà nuôi chăn thả ở đồng quê
Ibrahim A.L (1987), thử nghiệm dùng vacxin V4 Newcastle cho 15 làng Malaysia, với 2 liều vacxin trong 3 tuần, 60% gà vacxin được bảo hộ khi công thử thách với virus cường độc Không có trường hợp mắc bệnh Newcastle ở đàn đ1 được vacxin trong 1 năm sau
Ideric A (1987)[58], đ1 thử nghiệm dùng thức ăn có chứa vacxin V4 dùng 2 lần trong 3 tuần cho khoảng 3500 gà làng quê (từ 10-100 con/đàn)
Tỉ lệ bảo hộ đạt 55 - 56% và trong 1 năm không có bệnh xảy ra ở đàn gà
đ1 được vacxin
Spradbrow P.B (1987)[80], dùng vacxin cho ăn ở gà thí nghiệm Australia cho thấy, gà được ăn viên thức ăn vacxin cho nồng độ kháng thể cao Trong 2 tuần những gà tiếp xúc với con được vacxin cũng tăng nồng độ kháng thể Liều lượng vacxin khác nhau giữ 10.5.2 - 10.8.2 EID50 ít ảnh hưởng đến kết quả chuẩn độ kháng thể
2.1.3 Tình hình nghiên cứu bệnh Newcastle trong nước:
Bệnh Newcastle được Phạm Văn Huyến đề cập lần đầu tiên ở Việt Nam vào năm 1933 và gọi là bệnh dịch tả gà Đông Dương
Trang 23Năm 1938, một dịch vụ gà ở Nam Bộ được Vitor mô tả có triệu chứng giống bệnh Newcastle
Tại Nha Trang năm 1949, Jacottot và Lelouet đ1 phân nhập được virus Newcastle, sau dùng chủng này để gây bệnh cho gà và tiêm truyền trên phôi trứng, bằng phản ứng ngưng kết Hồng cầu và ức chế ngưng kết hồng cầu tác giả đ1 xác định sự có mặt của virus Newcastle tại ổ dịch
Năm 1956, ở Sài Gòn, Notter và N.B Lương đ1 phân lập được chủng virus Newcastle Từ năm 1955 - 1957 qua điều tra tình hình dịch bệnh ở 20 tỉnh thành, kiểm tra 189 bệnh phẩm các tác giả thấy có 58 mẫu có virus Newcastle
Trong đầu thập niên 70, chăn nuôi gà công nghiệp bắt đầu phát triển, một số cơ sở chăn nuôi gà đ1 xảy ra những dịch vụ lớn về Newcastle Nguyễn Bá Huệ và cộng sự (1980)[16], phân lập được 4 chủng virus Newcastle cường
độc từ gà của các xí nghiệp Cầu Diễn, Thành Tô, An Khánh, Đông Anh, là các chủng CD, HP, AK và ĐA Qua khảo sát trên gà và trên phôi trứng, tác giả nhận xét cả 4 chủng virus đều có độc cực mạnh, với giá trị ELD50 = 8; 8,2;
LD50 = 7,2 - 7,6
Nguyễn Thu Hồng (1993)[15] dùng vacxin Lasota và Hệ 1 cho gà thấy
có thể chống được các chủng virut nói trên Nếu uống vacxin Lasota để phòng bệnh Newcastle với liều 103 Từ 3 - 4 ml/con lúc gà 1 tuần tuổi thì đến 2 tháng rưỡi còn khả năng bảo hộ là 63%, nếu cho uống lúc 2 tuần rưỡi tuổi thì đến 2 tháng rưỡi vẫn còn bảo hộ được 100%
Nguyễn Thu Hồng (1985 - 1989)[14], đ1 đưa ra kết quả nghiên cứu lịch
sử dụng vacxin tuỳ theo tình hình dịch của từng cơ sở Cơ sở thường xuyên có dịch 3 ngày tuổi nhỏ Lasota, 18 ngày tuổi uống Lasota và 35 ngày tuổi tiêm vacxin Hệ 1 Cơ sở bị dịch đe doạ: gà 7 ngày tuổi nhỏ Lasota, 20 - 30 ngày
Trang 24uống Lasota và 45 ngày tiêm vacxin Hệ I Cơ sở an toàn dịch: Uống lúc 10 -
15 ngày tuổi, uống nhắc lại lúc 30 ngày tuổi và tiêm hệ Hệ 1 lúc 45 - 50 ngày tuổi
Trần Đình Từ và cộng sự (1979 - 1984)[25], đ1 xác định động lực của các chủng virus vacxin Newcastle dang sử dụng ở Việt Nam bằng phương pháp đ1 chuẩn đoán hoá của FAO Độc lực được xác định dựa trên 3 chỉ số MDT, ICPI và IVPI, kết quả thấy 3 chủng virus Newcastle đang sử dụng hiện nay có lực ổn định Chủng Hệ I thuộc nhóm Mesogen, cùng loại với chủng II nhưng có độc lực cao hơn và đặc tính gây bệnh khác với chủng II, do đó Hệ I
có thể có nguồn gốc từ chủng Mukteswar
Nguyễn Tiến Dũng (1991)[4], nghiên cứu cấu trúc kháng nguyên
HN của virus Newcastle và ảnh hưởng của virút trong phản ứng HA và HI Ngoài ra, còn dùng kháng thể đơn dòng 4D6, 5A1, 8C11 và 7D4 để nghiên cứu một số chủng virus Newcastle Tác giả thấy chủng Lasota, F,
M đều có phản ứng HI với 4 loại kháng thể đơn dòng; Hệ 1 và VN91 không có phản ứng với 5A1 và 7D4; VL88 (chủng cường độc của Lào) chỉ phản ứng với kháng thể 4D6 Tác giả phát hiện sự khác nhau về tính kháng nguyên giữa chủng Mukteswar và Hệ 1
Tác giả thấy, trước khi làm phản ứng HI nên chuẩn hoá kháng nguyên
và thành phần tham gia phản ứng Tác giả dùng phản ứng chế ngưng kết hồng cầu để đánh giá mức độ miễn dịch và sự lưu hành virus Newcastle cường độc Kết quả cho thấy hiệu giá kháng HI cao trên 6log2 với số mẫu > 10% thì có thể khẳng định trại gà đ1 bị nhiễm virus cường độc
Vũ Đạt và cộng sự (1989)[13] nghiên cứu những tác nhân gây ảnh hưởng đến quá trình đáp ứng miễn dịch chống bệnh Newcastle Tác giả thấy kháng thể thụ động và kháng sinh dùng trước hoặc sau vacxin đều ảnh hưởng
đến quá trình hình thành kháng thể
Trang 25Năm 1995, trong hội nghị về virus ở khu vực Châu á Thái Bình Dương tại Australia, Đào Trọng Đạt và Phạm Văn Chức đ1 thông báo bệnh Newcastle
ở Việt Nam thường xảy ra từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau
Nguyễn Tiến Trung và Lê Thành Nguyên (1987)[12], đ1 nghiên cứu về thời gian bảo quản độ dài miễn dịch của vacxin Newcastle do Phân viện thú y Nam Bộ sản xuất
Vài năm gần đây, nhiều công trình nghiên cứu và thử nghiệm vacxin Newcastle có khả năng chịu nhiệt như: Nguyễn Thu Hồng và cộng sự (1993)[15], thử nghiệm vacxin chịu nhiệt V4 phòng bệnh cho gà ở Việt Nam Kết quả cho thấy vacxin V4 có ưu điểm hơn Lasota về tính chịu nhiệt và thời gian bảo quản, ở nhiệt độ thường bảo quản được 1 tháng Mặt khác, vacxin có
đặc tính gây miễn dịch qua tiếp xúc
Cùng thời gian đó Nguyễn Tiến Dũng và cộng sự (1993)[5], đ1 nghiên cứu biến chủng của Lasota có tính chịu nhiệt cao, gây miễn dịch tốt, bảo quản
được ở nhịêt độ bình thường 370C
Trần Đình Từ và cộng sự (1994 - 1995)[26], đ1 công bố kết quả nghiên cứu vacxin chịu nhiệt chủng V4 có tên HR - NDV là chủng virus vacxin có sức đề kháng cao với nhịêt độ đ1 được Australia chọn lọc và thử nghiệm ở nhiều nước thuộc khu vực Đông Nam á như Malaysia, Indonesia, Srilanca (Spradbrow P.B, 1987), vacxin thích hợp ở khu vực nuôi gà chăn thả Bằng các thí nghiệm cho ăn, nhỏ mắt và uống thuốc, tác giả thấy phương pháp cho ăn thu được đáp ứng miễn dịch chậm và yếu, nhưng vẫn bảo hộ tương đương với phương pháp nhỏ và uống Vacxin có hiệu lực miễn dịch ít nhất là ngang vơí vacxin Lasota
Năm 1991, Bunpon Sirivong[1] tiến hành nghiên cứu tại Việt Nam đặc tính sinh học của một số chủng virus Newcastle, trong đó chủng VL88 phân lập từ ổ dịch của Lào có MDT = 72,8giờ, ICPI = 1,94; IVPI = 2,6; Tác giả xác
Trang 26định đó là chủng có độc lực mạnh, thuộc nhóm Velogen là nguyên nhân gây
ra dịch bệnh ở cơ sở chăn nuôi của Lào
Năm 1995, Nguyễn Tiến Dũng và cộng sự[6], nghiên cứu chủng virus cường độc Newcastle VN91, chủng có các chỉ số sinh học như sau:
MDT = 57 giờ, ICPI = 1,77, IVPI = 2,67
ELD50 = 9,4 1g/Malaysia Và LD50 = 7,91 g/ml
Chủng VN91 được dùng làm chủng cường độc để công thử thách trong kiểm nghiệm vacxin
Năm 1994, Phan Lục[19], nghiên cứu sự biến động hàm lượng kháng thể Newcastle ở gà nuôi tập trung và đưa ra lịch sử dụng vacxin phòng bệnh phù hợp với đặc điểm riêng của mỗi cơ sở Tác giả nhận thấy, hàm lượng kháng thể của gà ở vụ hè thu cao hơn vụ đông xuân
Phan Lục và cộng sự (1996)[22], đ1 theo dõi 6 cơ sở nuôi gà ở các tỉnh phía Bắc, từ năm 1980 - 1991 Các cơ sở đều đạt tiêu chuẩn vệ sinh thú y, quy cách chăn nuôi, nhưng đ1 xảy ra 5 vụ dịch Newcastle Trong số các vụ dịch này, có 4 vụ ở gà nhỏ, 1 vụ ở gà trưởng thành, dịch xảy ra vào các vụ đông xuân (từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau) Do đó, tác giả đ1 đề xuất lịch sử dụng vacxin thích hợp là: 7 ngày, 21 - 28 ngày, 50 - 58 ngày và 133 - 140 ngày; Vacxin sử dụng là Lasota và Hệ 1, bằng phương pháp nhỏ mũi và tiêm dưới da tuỳ từng loại vacxin
Đồng thời tác giả cùng cộng sự [20], đ1 nghiên cứu mối tương quan giữ hàng lượng kháng thể lưu hành và khả năng bảo hộ chống lại virus cường độc Newcastle Kết quả thấy: Hàm lượng kháng thể lưu hành nhỏ hơn 2log2 thì gà không có khả năng bảo hộ, do đó cần tiêm chủng lại Hàm lượng kháng thể lớn hơn 2log2 thì 1 tháng sau kiểm tra lại kháng thể và dùng lại vacxin Hàm
Trang 27lượng kháng thể lớn hơn 3log2, tỷ lệ chuyển dương 90% thì gà có khả năng chống vi rút cường độc
Trong thí nghiệm so sánh hiệu quả dùng vacxin Lasota bằng phun sương, cho uống và nhỏ mũi; tác giả nhận thấy, phương pháp phung sương có hiệu quả hơn nhỏ và uống, sức miễn dịch chống virus cường độc Newcastle thu được do phương pháp phun sương và nhỏ mũi cao hơn phương pháp uống (Phan Lục, 1996)[21]
Kết quả nghiên cứu bệnh Newcastle, vacxin và sử dụng vacxin của các tác giả trong nước và trên thế giới đ1 góp phần to lớn để ngăn chặn và hạn chế thiệt hại về kinh tế của bệnh Newcastle
2.2 Một số đặc điểm của virus Newcastle và bệnh
Newcastle
2.2.1 Một số đặc điểm của virus Newcastle:
2.2.1.1 Hình thái và cấu trúc của virus Newcastle.:
Virus Newcastle thuộc họ Paramyxoviridae, phân nhóm PMV-1 (Tumova, 1979), là vi rút ARN đa hình thái: hình tròn, hình trụ, hình sợi Virus có vỏ bọc lipit, kích thước virion từ 150 - 400nm Virus có cấu trúc nucleo capsit dạng xoắn ốc dài 1000mm, đường kính 17 - 18nm Vỏ bọc được phủ các gai glycoprotein (HN - F) dài 8 -12nm
Hệ gen của virus Newcastle là chuỗi đơn ARN để truyền thông tin ARN và mật m1 di truyền các protein của virus Virus có trọng lượng phân tử ARN nặng 5,2 - 5,7 x 106 dalton xấp xỉ 15 kilobases (Kb) (Kolakofsky, 1974) Mật m1 di truyền của ARN virus chứa 6 gen m1 hoá các thông tin di truyền tổng hợp các protein cấu trúc sau:
- Haemagglutinin - Neuraminidase (HN),
- Fusion protein (F)
Trang 28- Nucleo protein (N) giống nh− Histin là một protein bảo vệ ARN
- Nucleo protein phospho (NP) ch−a rõ chức năng
- Matric protein (M): Có tác dụng gắn ARN virus với vỏ bọc
- Large polymerazase protein (L) ch−a rõ chức năng
Trong số những protein này, có 2 protein tham gia vào hoạt động của virus, liên quan đến vỏ bọc lipit đó là: Haemagglutinin protein gây ng−ng kết hồng cầu, men Neuramidaza cắt đứt thụ thể hồng cầu và Fusion protein gây liên kết các tế bào bị nhiễm virus thành tế bào đa nhân khổng lồ Những protein này liên quan đến hoạt động của virus đối với tế bào và trung hoà kháng thể
Kháng nguyên bề mặt của virus Newcastle không thay đổi theo thời gian khi có virus trong phản ứng miễn dịch Trong phản ứng huyết thanh học kháng thể đ−ợc dùng là polyconal, do đó khó nhận biết các chủng virus gây bệnh Nh−ng với kháng thể Monoclonal cho phép phân biệt các chủng virus Newcastle với nhau (Spradbrow, 1987)[80]
- Chỉ một vài chủng virus làm ng−ng kết hồng cầu bò, dê, cừu, lợn và ngựa
- Hồng cầu loài l−ỡng thê, bò sát và loài chim bị ng−ng kết với virus Newcastle ở các mức độ khác nhau
Trang 29Hiện tượng ngưng kết Hồng cầu là do hồng cầu liên kết với điểm quyết
định kháng nguyên trên bề mặt của virus (Rott, 1064)[76] Quá trình ngưng kết xảy ra qua 2 giai đoạn (Trần Minh Châu, 1988; Ackermann, 1964)[2; 28]
- Virus tìm điểm thụ cảm trên bề mặt của hồng cầu Haemagglutinin làm ngưng kết hồng cầu
- Virus tách khỏi bề mặt tế bào do men Neuramidaza phá huỷ thể thụ cảm trên bề mặt hồng cầu
Theo Tolba và Eskarous (1962)[82], hoạt tính ngưng kết hồng cầu tuỳ theo từng chủng virus, không nhất thiết bị vô hoạt cùng thời gian với hoạt tính gây nhiễm Một vài chủng virus khi xử lý ở nhiệt độ 560C trong 5 phút, hoạt tính ngưng kết hồng cầu bị phá huỷ nhưng vẫn còn khả năng gây nhiễm phôi hoặc vật chủ khác Ngược lại có một số chủng được xử lý 560C với thời gian
25 phút vẫn còn khả năng gây nhiễm và gây ngưng kết hồng cầu (Hanson, 1978)[55]
Đặc tính này dùng để phân biệt giữa các chủng virus Newcastle với nhau và cũng là điểm khác nhau giữa virus Newcastle với virus cúm
* Dung giải hồng cầu:
Virus Newcastle có khả năng dung giải hồng cầu ngưng kết với dung huyết tố Đặc tính này bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ, nồng độ muối của dung dịch hoặc khi làm đông tan, siêu âm, chiết rút sẽ làm hoạt tính dung huyết tăng lên (Brandly C.A, 1965)[45]
* ức chế ngưng kết hồng cầu: (Haemagglutination Inhibition - HI): Virus Newcastle bị trung hoà bởi huyết thanh dương tính Newcastle, khi bị trung hoà virus không còn khả năng gây ngưng kết hồng cầu; bằng phản ứng HI sẽ phát hiện kháng thể làm ngăn trở ngưng kết hồng cầu gà Dựa vào
đặc tính này để phát hiện gián tiếp sự nhiễm virus Newcastle của đàn gà, xác
Trang 30định hiệu giá đáp ứng miễn dịch Newcastle với vacxin và để phân biệt các chủng virus Newcastle Sự khác nhau giữa các chủng virus thuộc vào nguồn gốc phát sinh bệnh
Phản ứng ngưng kết hồng cầu gà (HA) và phản ứng ức chế ngưng kết hồng cầu gà (HI) được sử dụng để phát hiện kháng nguyên và kháng thể Newcastle, phản ứng có thể được thực hiện trong ống nghiệm hoặc đĩa ngưng kết 96 lỗ có đáy chữ U
* Nuôi cấy virus Newcastle:
- Trên phôi gà:
Virus có thể nhân lên trong xoang allantonic (xoang niệu mô) của trứng
gà có phôi 9 -11 ngày tuổi, đặc tính này được ứng dụng để nuôi cấy và phân lập virus từ bệnh phẩm Khi nuôi cấy trên phôi gà, những chủng virus Newcastle độc lực mạnh gây chết phôi từ 20 - 48 giờ kể từ khi gây nhiễm, những chủng độc lực trung bình và yếu thời gian gây chế phôi trên 60 giờ Mổ khám những phôi chết thấy bệnh tích xuất huyết dưới da, nhất là đầu, ngực, bụng và chân
Trang 31Sự hình thành đầu tiên là kháng nguyên NP (Phospho Nueleocprotein) ở trong tế bào chất gần nhân tế bào (Rott, 1964)[76], sau đến kháng nguyên ng−ng kết hồng cầu và Neuramidaza ở khắp tế bào chất, 4 giờ sau ở bên trong màng tế bào xuất hiện những cấu trúc giống nh− virion thành thục
Đôi khi các hạt virion còn ôm lấy các nucrovichi tróc ra khỏi màng tế bào, giải phóng virion (Bang, 1964), virion còn tiếp tục nhân lên và giải phóng trong 4 giờ nữa mà không làm cho quá trình sống của tế bào bị phá huỷ
* Hấp phụ hồng cầu lên tế bào (Haemadsorption):
Hiện t−ợng những tế bào bị nhiễm virus Newcastle có thể hấp thụ hồng cầu gà trên bề mặt tế bào gọi là Haemadsorption
Khả năng hấp phụ hồng cầu đ−ợc đánh giá bằng số l−ợng hồng cầu hấp thụ trên tế bào, thời gian xuất hiện khoảng 4 giờ sau khi virus nhiễm vào tế bào Bankowsko (1964)[38], đ1 chứng minh ở những chủng virus động lực cao, việc hấp phụ hồng cầu sẽ xuất hiện sớm hơn tế bào
* Hiện t−ợng cản nhiễm (Intecference):
Virus Newcastle có khả năng cản trở sự nhân lên của virus khác hoặc ng−ợc lại bị một số virus khác cản trở sự nhân lên của chúng trong cơ thể vật chủ, nh− virus viêm phế quản truyền nhiễm (Infectious Bronchitis Virus) Cho nên, khi gà bị nhiễm virus Newcastle kế hợp với các loại virus khác, bệnh không biểu hiện rõ rệt, đồng thời làm giảm phản ứng miễn dịch (Hanson, 1972)[54]
2.2.1.3 Sức đề kháng của virus Newcastle:s
Sức đề kháng của virus đ−ợc xác địnhbằng khả năng gây nhiễm của virus, tính ng−ng kết hồng cầu, tính gây miễn dịch Các khả năng này bị phá
Trang 32huỷ khi tiếp xúc trực tiếp với các yếu tố như nhiệt độ, ánh sáng, tia tử ngoại, quá trình oxy hoá, độ pH của môi trường
ở nhiệt độ 1000C virus bị diệt trong 1 phút
Virus Newcastle có thể tồn tại trong phân, vỏ trứng, lông, tường chuồng, một số dụng cụ chăn nuôi, nước Virus được bao bọc bởi protein nên
có sức đề kháng cao với các chất vô hoạt như Formalin,
Virus không hoạt động được ở nước sạch trong vòng 1 - 2 ngày, nhưng
có thể sống sót trong nhiều ngày ở ao hồ có nhiều chất hữu cơ
2.2.1.4 Đường truyền lây:
Trang 33Theo Alexander (1988)[31], virus có trong thức ăn, nước uống, phân theo đường tiêu hoá (miệng, hầu, thực quản) hoặc qua không khí theo đường hô hấo khi gia cầm hít thở sẽ xâm nhập vào cơ thể gây bệnh
Mức độ truyền lây phụ thuộc vào độc lực của virus đường xâm nhập, liều lượng lây nhiễm và sức đề kháng của gia cầm
Việc truyền lây còn qua đường vận chuyển các sản phẩm của gia cầm như thịt, xác chết, phân thải, thức ăn thừa hoặc qua tiếp xúc giữa các gia cầm nuôi với chim hoang d1
ở gà công nghiệp, đường truyền lây chủ yếu là đường hô hấp (mũi, miệng) và niêm mạc mắt (Beard và Hanson, 1984)[41] Virus Newcastle cư trú tại đường hô hấp của gà cảm nhiễm, khi phát bệnh, virus được thải ra ngoài qua hơi thở của gà vào không khí, vì vậy gà thường mắc thể hô hấp (Beard và Easterday, 1967)[40], khi gà có triệu chứng ho và hắt hơi bệnh lây lan càng nhanh
Thời gian lây qua đường tiêu hoá chậm hơn đường hô hấp Gà nhiễm bệnh sẽ thải virus qua phân và bệnh xuất hiện khi gà ăn phải mầm bệnh
Đường truyền lây này thường xảy ra đối với những chủng có độc lực thấp hướng nội tạng (Alexander, 1988)[31]
Gà có thể nhiễm bệnh khi uống nước có mầm bệnh Những nơi có nguồn nước công cộng là nơi dễ tiềm tàng mầm bệnh
Khả năng truyền dọc từ trứng nhiễm bệnh ở đường sinh dục mẹ chưa rõ ràng (Beard và Hanson, 1984)[41] Gà mái nhiễm virus Newcastle chủng Velogen có thể ngừng đẻ nhưng gà mái nhiễm chủng Lentogen và có miễn dịch vẫn tiếp tục đẻ Phôi nhiễm bệnh trước khi nở thường bị chết, nhưng vẫn
có thể nở khi virus không có độc lực (French và cộng sự, 1967)[52]
Trên bề mặt trứng nhiễm virus Newcastle từ phân thì sau khi nở, gà có thể mắc bệnh do virus phân bám vào vỏ trứng và sống trong thời gian ấp trứng
Trang 34Phôi trứng chết do nhiễm bệnh là môi trường tốt cho virus tồn tại Virus Newcastle có thể tồn tại trong nước trứng ở nhiệt độ 370C trên 3 tháng (Lancaster, 1966)[63]
Ngoại ký sinh trùng có thể làm lây lan virus Newcastle nhưng không quan trọng (Lancaster, 1966)[63] Muỗi cũng có thể truyền virus Newcastle (Beard và Hanson, 1984)[41]
2.2.1.5 Bài xuất virus:
Trong cơ thể gà bệnh, hầu hết các cơ quan phủ tạng đều chứa virus Thường 44 giờ sau khi nhiễm có thể tìm thấy virus ở thận, lách, túi Fabricicus
đường hô hấp, tuy và n1o Máu chứa virus nhưng không thường xuyên
Virus được bài xuất qua phân, nước mắt, nước mũi Cơ thể bài xuất virus bắt đầu từ 20 - 24 giờ trước khi xuất hiện triệu chứng lâm sàng và kéo dài suốt thời kỳ bệnh cho đến khi khỏi hoặc chết Gà lành bệnh trở thành vật mang trùng và bài xuất virus ra môi trường xung quanh trong khoảng 2 tuần,
có khi kéo dài đến 5 tuần (Lancaster, 1966)[63]
2.2.1.6 Độc lực của virus:
Virus Newcastle được phân lập ở nhiều nước trên thế giới, chúng có mức độ độc lực và tính gây bệnh khác nhau Để thống nhất cách đánh giá các chủng virus phân lập, tổ chức FAO (Allan H Lancaster JE và Toth B, 1978)[34], đ1 chuẩn hoá cách đánh giá theo mức độ độc lực và phân virus thành 3 nhóm:
- Nhóm Velogen: Độc lực mạnh
- Nhóm Mesogen: Độc lực trung bình
- Nhóm Lentogen: Độc lực yếu Mức độ độc lực và khả năng gây bệnh của mỗi nhóm được đánh giá
Trang 35Bảng phân nhóm độc lực của virus Newcastle
ICPI (Intracerebral Pathogencity Index): Chỉ số gây bệnh khi tiêm n1o
gà con 1 ngày tuổi
IVPI (Intravenous Pathogenicity Index): Chỉ số gây bệnh khi tiêm tĩnh mạch gà 6 tuần tuổi
2.2.1.7 Cơ chế gây bệnh:
Virus có thể xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hoá, qua niêm mạc hầu, họng vào máu, gây nhiễm trùng huyết và gây viêm hoại tử nội mô ở các cơ quan, gây xuất huyết do thành huyết quản bị phá huỷ và xuất dịch vào các xoang trong cơ thể
Virus không tác động trực tiếp gây viêm phổi, nhưng thường gây khó thở do tác động của virus làm rối loạn hệ thống tuần hoàn và trung khu hô hấp của hệ thần kinh trung ương
Tuỳ thuộc vào độc lực của chủng virus gây bệnh và sức đề kháng của vật chủ mà vật chủ đó có thể sống hoặc chết hoặc có miễn dịch với bệnh
Virus vào cơ thể sau khi được nhân lên, gây tổn thương thực thể tế bào rồi bị thải qua ngoài và được phát hiện trong phân vào ngày thứ 3 - 5 sau khi nhiễm bệnh (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978; Nguyễn Thái, 1976)[23;24]
Trang 362.2.2 Một số đặc điểm bệnh Newcastle:
2.2.2.1 Các thể bệnh Newcastle:
Dựa vào đặc tính sinh học và đặc điểm gây bệnh của mỗi chủng, bệnh
được chia thành 5 thể khác nhau (Beard and Hanson, 1984)[41]
* Thể Doyle: (Viscerotropic Velogenic): là thể được Doyle nhận ra đầu tiên vào năm 1927, gây ra bởi chủng Velogen Bệnh ở thể cấp tính, có tỉ lệ chết cao từ 90 - 100%, xảy ra ở mọi lứa tuổi, bệnh tính đặc trưng là xuất huyết
đường tiêu hoá
* Thể Beach (Neurotropic Velogenic): là thể bệnh được Beach diễn tả vào năm 1942, gây ra bởi chủng Velogen Bệnh ở thể cấp tính, gây chết nhanh
ở gà mọi lứa tuổi, gây bệnh tích ở hệ hô hấp và thần kinh mà không gây bệnh tích ở hệ tiêu hoá Thể bệnh này được gọi là bệnh hô hấp thần kinh hoặc Pneumoencephatitis
* Thể Beaudette (Mesogenic): Là thể bệnh được Beau dette mô tả vào năm 1948, bệnh biểu hiện hô hấp cấp tính, gây triệu chứng thầnkinh đối vớu gai cầm non và gây chết, nhưng ít gây chết đối với gia cầm trưởng thành Virus gây ra thể bệnh này thuộc chủng Mesogen, do đó có thể dùng chế vacxin
* Thể Hitchner: (Respiratory): Bệnh gây ra bởi virus nhóm Lentogen như chủng B1, F, Lasota Thể bệnh được Hitchner diễn tả năm 1948 Bệnh nhẹ không biểu hiện rõ triệu chứng hô hấp
* Thể nội tạng: (Asymptomatic enteric): Thể nhiễm đường tiêu hoá không có triệu chứng lâm sàng Vi rus có thể phân lập từ phân, dạ dày gà bệnh (French và cộng sự, 1967)[52] Đây là chủng cố độc lực thấp như Lister - 2C, V4, nên có thể dùng chế vacxin
2.2.2.2 Đường gây nhiễm:
Trang 37Tiễm n1o, tĩnh mạch, xoang bụng, dưới da, bắp đùi Các chủng virus khác nhau gây ra các phản ứng khác nhau
Virus nhóm Velogen: các đường gây nhiễm đều có thể gây bệnh và chết Virus nhóm Mesogen: Tiêm vào xoang bụng gà con gây bệnh nhẹ, tiêm vào n1o gây bệnh nặng và chết
Virus nhóm Lentogen: Không gây bệnh hoặc gây bệnh nhẹ ở gà con, thậm chí tiêm vào n1o cũng không gây bệnh
2.2.2.3 Chẩn đoán bệnh Newcastle:
* Triệu chứng lâm sàng:
Biểu hiện của bệnh liên quan đến chủng virus nhiễm, loài gia cầm cảm thụ, tình trạng miễn dịch, tuổi và sự có mặt của một số nhân tố khác (Mc Ferran J.B, 1988)
Thời gian ủ bệnh ở gà từ 2 - 5 ngày (Beard, Hanson, 1984)[41] (Lancaster, 1966)[63], bồ câu từ 4 - 18 ngày, chim cút từ 2 - 15 ngày trung bình từ 5 - 6 ngày (Sharaway, 1994)[29]
Bệnh gây ra bởi chủng Velogen là vi rút có độc lực cao, thường ở thể quá cấp tính Bệnh xảy ra nhanh chóng, gia cầm chết bất thình lình, không biểu hiện triệu chứng lâm sàng Điển hình của bệnh là bỏ ăn, ủ rũ, ỉa chảy, phù đầu, thần kinh co thắt, cơ liệt run rảy và có hội chứng hô hấp Đẻ trứng không vỏ hoặc vỏ mềm, sau ngừng đẻ hoàn toàn Tỷ lệ chết cao, có thể tới 100% ở gà, 30 - 70% ở bồ câu, 90% ở cút hậu bị và 50% ở cút trưởng thành
Bệnh gây ra bởi chủng Mesogen là chủng có độc lực vừa thì bệnh biểu hiện hô hấp nghiêm trọng, sau có triệu chứng thần kinh Gà đẻ sản lượng trứng giảm đột ngột Tỷ lệ chết ở gà có thể tới 50% hoặc hơn
Bệnh gây ra bởi chủng Lentogen là chủng virus có độc lực thấp thường
Trang 38ở đường hô hấp và chỉ bị chết khi bị nhiễm vi trùng kế phát như: Mycoplasma, E.coli, Pasteurella, virus (IB, ILT)
Một số yếu tố ảnh hưởng đến mức độ của bệnh:
- Gia cầm miễn dịch mắc bệnh có biểu hiện lâm sàng nhẹ
- Con có kháng thể từ mẹ truyền qua túi lòng đỏ có khả năng đề kháng bệnh trong thời gian đầu
- Gia cầm không có miễn dịch có khả năng mẫn cảm với virus độc lực
- Gia cầm khỏi bệnh có khả năng bài thải một lượng lớn virus và khả năng đáp ứng miễn dịch với vacxin kém
- Gà nhiễm bệnh Gumboro có ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng miễn dịch cũng như làm tăng mức độ trầm trọng của bệnh
- Sự nhiễm aflatoxin làm miễn dịch kém
- Thiếu vitamin A làm tăng nhạy cảm của gà đối với đường hô hấp (Spradbrow, 1987)[80]
* Bệnh tích:
Thể quá cấp tính: Thường bệnh tích không rõ
Thể cấp tính: Xoang mũi, miệng chứa nhiều dịch nhớt màu đục, niêm mạc miệng, hầu, họng xuất huyết, viêm và phủ màng giả fibrin Một số trường hợp đầu, cổ, hầu bị phù thũng, dịch thẩm xuất có màu vàng dễ đông đặc như gelatin
Bệnh tích điển hình tập trung ở đường tiêu hoá, niêm mạc dạ dày tuyến xuất huyết lấm tấm màu đỏ, tròn nhơ ở đầu đinh ghim, có khi thành vệt Dạ dày cơ xuất huyết, niêm mạc ruột non xuất huyết, viêm cata trong thời gian
đầu, gian đoạn sau có vết loét, có thể nhìn rõ từ phía ngoài Một số trường hợp hình thành nốt loét hình cúc áo bên cạnh có những đám xuất huyết (Alexander
Trang 39D.J 1984) [29] Bệnh nặng thì trực tràng xuất huyết, lách không sưng, gan có một số đám thoái hoá mỡ nhẹ màu vàng, thận phù nhẹ, dịch hoàn buồng trứng xuất huyết thành vệt, trứng non bị vỡ trong xoang bụng (Biswal và Morril, 1954)[43]
Nếu gia cầm bị mắc ở thể khác thì đường hô hấp có dịch nhày, xuất huyết khí quản phổi, nhiều khi màng túi khí viêm dày lên (Alexander, 1984)[29] Tuỳ thuộc vào chủng virus gây nhiễm mà phôi gà có thể có xuất huyết hoặc không
* Bệnh lý tổ chức:
Bệnh lý tổ chức thường biểu hiện tăng sinh, phù thũng, xuất huyết, hoại
tử làm thay đổi hệ thống mạch máu và một số tổ chức khác như ở hệ thống tiêu hoá, hô hấp cũng như hệ thống thần kinh và hệ thống sinh sản
* Phân lập virus:
Trang 40Bậnh phẩm để phân lập virus là phân, các chất chứa trong ống tiêu hoá, hô hấp, ổ nhớp, các cơ quan phủ tạng và n1o của gia cầm sống hoặc chết Xử
lý bệnh phẩm, huyễn dịch thu được tiêm cho phôi trứng từ 9 - 11 ngày tuổi Trứng được ấp tiếp ở nhịêt độ 370C, theo dõi chứng từ 5 - 7 ngày, thu hoạch nước trứng và kiểm tra bằng phản ứng HA, HI để xác định virus phân lập là virus Newcastle hoặc không
* Xác định độc lực của virus Newcastle:
Virus Newcastle có thể được phân lập từ những gia cầm có hoặc không
có dấu hiệu lâm sàng Theo OIE (1996), FAO (1978)[34], Alexander (1997)[33], để đánh giá tính độc lực của chủng virus phân lập, phải xác định các chỉ số sinh học MDT, ICPI, IVPI như sau:
- Xác định thời gian trung bình gây chết phôi MDT (Mean death time): Virus phân lập, tiêm cho trứng gà có phôi từ 9 - 10 ngày tuổi Thời gian trung bình gây chết phôi được tính ở độ pha lo1ng cao nhất làm chết 100% phôi
Thời gian trung bình gây chết phôi của các chủng virus Newcastle được phân vào 3 nhóm:
Virus phân lập từ nước trứng được tiêm vào n1o gà con 1 ngày tuổi Chỉ
số được tính theo điểm quy định cho biểu hiện bệnh Chủng có độc lực cao như Velogen IVPI tiến gần đến 2.0, chủng có độc lực thấp như Lentogen tiến dần tới 0.0