Trong những năm qua, được sự quan tâm của giúp đỡ của các cấp, cácngành và sự phấn đấu đi lên từ nội lực của mình, Trường đã từng bước đầu tư,nâng cấp về cơ sở vật chất, trang thiết bị d
Trang 1HOÀNG NGỌC MINH HẢI
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM CHO GIÁO VIÊN THỰC HÀNH TRƯỜNG TRUNG CẤP KỸ THUẬT CÔNG - NÔNG NGHIỆP
QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Nghệ An – 2013
Trang 2HOÀNG NGỌC MINH HẢI
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM CHO GIÁO VIÊN THỰC HÀNH TRƯỜNG TRUNG CẤP KỸ THUẬT CÔNG - NÔNG NGHIỆP
QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
CHUYÊN NGHÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60.14.05 Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Ngọc Hợi
Nghệ An – 2013
Trang 3Với lòng kính trọng sâu sắc và tình cảm chân thành, tác giả xin trân trọngcảm ơn: Ban Giám hiệu trường Đại học Vinh; Phòng Sau Đại Học; Khoa Giáodục; cùng các Giáo sư, phó Giáo sư, Tiến sĩ và quý thầy, cô là giảng viên củatrường Đại học Vinh đã nhiệt tình giảng dạy, quan tâm và tạo điều kiện giúp đỡtác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa học; nghiên cứu và hoànthành đề tài luận văn.
Tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến thầy hướng dẫnkhoa học: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hợi, người đã tận tình, trực tiếp hướng dẫn,giúp đỡ tác giả nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn này
Tác giả xin chân thành cảm ơn, Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo, phòng Tồchức hành chính, phòng Tài chính Kế toán, cùng toàn thể cán bộ công nhân viên
và học sinh trường Trung cấp Kỹ thuật Công - Nông Nghiệp Quảng Bình đã tạođiều kiện giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Mặc dù, đã hết sức cố gắng, nhưng chắc chắn luận văn không thể tránhkhỏi sai sót Tác giả rất mong sự góp ý, chỉ dẫn của quý thầy cô và bạn bè đồngnghiệp quan tâm đến đề tài này để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Nghệ An, tháng 8 năm 2013
Tác giả luận văn
Hoàng Ngọc Minh Hải
M C L CỤC LỤC ỤC LỤC
Trang 52 Mục đích nghiên cứu 2
1.2 Một số khái niệm cơ bản có liên quan đến vấn đề nghiên cứu 8
1.3 Đặc trưng cho hoạt động đào tạo và đặc trưng nghiệp vụ sư phạm
1.4 Quản lý công tác bồi dưỡng NVSP cho GVTH trường TCCN 22
2.2 Thực trạng NVSP của GVTH trường Trung cấp Kỹ thuật Công
2.3 Thực trạng NVSP của đội ngũ GVTH trường Trung cấp Kỹ thuật
Chương 3 Một số giải pháp quản lý công tác bồi dưỡng NVSP
cho GVTH trường Trung cấp Kỹ thuật Công - Nông nghiệp
Trang 6viên thực hành trường Trung cấp Kỹ thuật Công - Nông nghiệp
3.2.1 Nâng cao nhận thức của các lực lượng tham gia công tác bồi
dưỡng NVSP cho ĐNGV thực hành Trường Trung cấp Kỹ thuật
Công - Nông nghiệp Quảng Bình về sự cần thiết của công tác bồi
3.2.2 Cải tiến nội dung chương trình và tài liệu học tập cho công tác
bồi dưỡng NVSP cho đội ngũ giáo viên thực hành trường Trung cấp
3.2.3 Nâng cao năng lực và đổi mới phương pháp dạy học cho giáo
viên giảng dạy tại các lớp bồi dưỡng NVSP cho GVTH trường Trung
3.2.4 Đẩy mạnh hoạt động tự bồi dưỡng NVSP cho GV thực hành
của trường Trung cấp Kỹ thuật Công - Nông nghiệp Quảng Bình 873.2.5 Giải pháp tổ chức các điều kiện hỗ trợ trong công tác bồi
3.2.6 Thực hiện đa dạng hóa các hình thức tổ chức bồi dưỡng NVSP
cho GV thực hành trường Trung cấp Kỹ thuật Công - Nông nghiệp
3.3 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp đề
3.3.3 Mối quan hệ giữa tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp 99
Trang 7CBQL : Cán bộ quản lý
CNH-HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóaCSVC : Cơ sở vật chất
ĐNGV : Đội ngũ giáo viên
ĐT-BD : Đào tạo - bồi dưỡng
GD-ĐT : Giáo dục - đào tạo
Trang 8BẢNG BIỂU NỘI DUNG TRANG
Bảng 2.1
Cơ cấu tổ chức và trỡnh độ được đào tạo của cỏc nhõn
sự Phũng, Ban, Khoa, Xưởng trường Trung cấp Kỹ thuật Cụng - Nụng nghiệp Quảng Bỡnh hiện nay
41
Bảng 2.2 Cơ cấu % độ tuổi GV, giảng dạy trường Trung cấp
Kỹ thuật Cụng - Nụng nghiệp Quảng Bỡnh 42Bảng 2.3 Kết quả đào tạo của nhà trường trong 6 năm gần đõy 45Bảng 2.4 Thống kờ khả năng giảng dạy lý thuyết, thực hành
Bảng 2.13 Kết quả đỏnh giỏ của CBQL và giỏo viờn về sử dụng,
Bảng 2.14 Kết quả đỏnh giỏ của CBQL và giỏo viờn về cụng tỏc
Bảng 2.15 Thực trạng cụng tỏc kiểm tra, đỏnh giỏ đội ngũ giỏo
Bảng 3.1 Kết quả đỏnh giỏ về tớnh cần thiết của cỏc giải phỏp 96
Bảng 3.3 Mối quan hệ giữa tớnh cần thiết và tớnh khả thi của 99
Trang 92.1 sự trong các Phòng, Ban, Khoa trường Trung cấp Kỹ
thuật Công - Nông nghiệp Quảng Bình
41
Biểu đồ
3.1
Tương quan mức độ cần thiết và mức độ khả thi của
các giải pháp quản lý công tác bồi dưỡng nghiệp vụ
sư phạm cho GVTH trường Trung cấp Kỹ thuật Công
- Nông nghiệp Quảng Bình được đề xuất
101
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đất nước ta đang đẩy mạnh cụng nghiệp húa - hiện đại húa (CNH - HĐH)nhằm mục tiờu dõn giàu nước mạnh, xó hội cụng bằng, dõn chủ văn minh, vữngbước đi lờn chủ nghĩa xó hội Yếu tố cơ bản đảm bảo cho sự phỏt triển nhanh vàbền vững sự nghiệp CNH - HĐH là phỏt triển sự nghiệp giỏo dục và đào tạo,phỏt triển nguồn nhõn lực Giỏo dục và Đào tạo (GD - ĐT) là một bộ phận quantrọng trong sự nghiệp cỏch mạng của Đảng, của dõn tộc, là động lực phỏt triểnkinh tế - xó hội Đảng và nhà nước ta hết sức coi trọng vai trũ của GD - ĐT Đại
hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI tiếp tục khẳng định "Giỏo dục - Đào tạo
là quốc sỏch hàng đầu" trong đú đào tạo nguồn nhõn lực lao động cú một vị trớ
hết sức quan trọng trong sự nghiệp CNH - HĐH đất nước.[11]
Trong quỏ trỡnh phỏt triển sự nghiệp GD - ĐT, đội ngũ giỏo viờn cú vai
trũ quyết định đến chất lượng GD - ĐT Bỏc Hồ núi: “Khụng cú thầy giỏo thỡ khụng cú giỏo dục” Vai trũ của giỏo viờn trong sự nghiệp giỏo dục được khẳng
định trong Nghị quyết hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành TW Đảng khúa VIII:
“Giỏo viờn là nhõn tố quyết định chất lượng giỏo dục và được xó hội tụn vinh”, đưa ra giải phỏp: “thực hiện chương trỡnh bồi dưỡng thường xuyờn, bồi dưỡng chuẩn húa nõng cao phẩm chất năng lực cho đội ngũ giỏo viờn” [9].
Đối với GD - ĐT, đội ngũ giỏo viờn vừa là nguồn lực, vừa đúng vai trũđặc biệt quan trọng trong việc “đào tạo nguồn lực con người” cho đất nước.Trong xu thế đổi mới giỏo dục hiện nay, yờu cầu đối với người giỏo viờn ngàycàng cao hơn việc đào tạo, bồi dưỡng giỏo viờn càng trở nờn hết sức quan trọngtrong quỏ trỡnh quản lý nguồn nhõn lực Cú nhiều nội dung bồi dưỡng giỏo viờntrong đú bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm (NVSP) là nội dung cú ý nghĩa quantrọng nhất bởi vỡ nú quyết định phẩm chất nghề nghiệp, quyết định chất lượngdạy học, giỏo dục và là nhõn tố quyết định hiệu quả cụng tỏc trong hoạt độngnghề nghiệp của người thầy giỏo
Trường Trung cấp Kỹ thuật Cụng - Nụng nghiệp Quảng Bỡnh thuộc Sở GD
và ĐT Quảng Bỡnh quản lý, là một bộ phận trong hệ thống giỏo dục chuyờnnghiệp cú nhiệm vụ đào tạo đội ngũ cỏn bộ kỹ thuật, cụng nghõn kỹ thuật, bồidưỡng nhõn viờn kỹ thuật cho Tỉnh nhà và cho đất nước Chương trỡnh hành động
Trang 11thực hiện Nghị quyết TW2 khóa VIII và Nghị quyết 11 Tỉnh ủy Quảng Bình vềviệc phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH - HĐH tỉnh nhà đã đề racác chỉ tiêu cụ thể về đào tạo nguồn nhân lực: Nâng tỉ lệ người lao động qua đàotạo lên 22% năm 2005; 40 - 50% năm 2010 và trên 50% vào năm 2020; lao độngqua đào tạo nghề năm 2005 đạt 11 - 12%, năm 2010 đạt 21 - 22% và năm 2020đạt trên 40 %, trọng trách đặt ra cho nhà trường lại càng trở nên nặng nề hơn.
Trong những năm qua, được sự quan tâm của giúp đỡ của các cấp, cácngành và sự phấn đấu đi lên từ nội lực của mình, Trường đã từng bước đầu tư,nâng cấp về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học và phát triển đội ngũ giáo viên.Tuy nhiên, do được nâng cấp từ một trường công nhân, đào tạo đa ngành nghề
đa bậc học, nguồn tuyển giáo viên rất đa dạng, bên cạnh một số giáo viên cótrình độ chuyên môn vững vàng, năng lực giảng dạy tốt vẫn còn không ít giáoviên tuổi đời còn rất trẻ nhiệt tình nhưng về năng lực và kinh nghiệm - nhất lànăng lực về nghiệp vụ sư phạm (NVSP) còn nhiều hạn chế
Ngoài việc đầu tư phát triển cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tácgiảng dạy thì vấn đề phát triển chất lượng đội ngũ, đặc biệt là công tác bồidưỡng NVSP là một yêu cầu hết sức cấp thiết của nhà trường hiện nay
Với mong muốn xây dựng Nhà trường chính quy hiện đại, nâng cao chấtlượng đội ngũ giáo viên, đặc biệt là đội ngũ giáo viên thực hành (GVTH) Từng
bước hoàn thành tốt nhiệm vụ đào tạo, tôi chọn nghiên cứu vấn đề: “Một số giải
pháp quản lý công tác bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên thực hành trường Trung cấp Kỹ thuật Công - Nông nghiệp Quảng Bình” làm đề tài luận
văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý giáo dục
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm đổi mới quản lý công tác bồidưỡng nghiệp vụ sư phạm nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên dạy thựchành trường Trung cấp Kỹ thuật Công - Nông nghiệp Quảng Bình, góp phầnnâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Vấn đề quản lý công tác bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên thựchành trường Trung cấp chuyên nghiệp (TCCN)
Trang 123.2 Đối tượng nghiên cứu
- Một số giải pháp quản lý công tác bồi dưỡng NVSP cho giáo viên thựchành trường Trung cấp Kỹ thuật Công - Nông nghiệp Quảng Bình
4 Giả thuyết khoa học
Nếu thực hiện đồng bộ các giải pháp mang tính hệ thống, hợp lý và khảthi thì có thể nâng cao được hiệu quả quản lý công tác bồi dưỡng NVSP chogiáo viên tham gia giảng dạy thực hành, góp phần xây dựng được đội ngũ giáoviên có năng lực sư phạm tốt, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng và hiệu quảđào tạo ở trường Trung cấp Kỹ thuật Công - Nông nghiệp Quảng Bình
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu và hệ thống hóa cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu.5.2 Phân tích và đánh giá thực trạng NVSP và việc quản lý công tác bồidưỡng NVSP cho giáo viên thực hành trường Trung cấp Kỹ thuật Công - Nôngnghiệp Quảng Bình
5.3 Đề xuất các giải pháp về quản lý công tác bồi dưỡng NVSP cho giáoviên thực hành trường Trung cấp Kỹ thuật Công - Nông nghiệp Quảng Bình
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóacác tài liệu có liên quan nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu
6.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra, phỏng vấn, thu thập thông tin, đánh giá thực trạngnhằm xây dựng cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất các giải pháp
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm, phương pháp lấy ý kiến chuyên gianhằm thăm dò tính cần thiết và khả thi của các giải pháp
6.3 Phương pháp thống kê toán học:
Để xử lý số liệu đã thu thập được trong quá trình nghiên cứu
7 Những đóng góp cơ bản của luận văn
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý công tác bồi dưỡng nghiệp vụ sưphạm cho giáo viên thực hành trường trung cấp chuyên nghiệp
Trang 13- Nêu lên thực trạng quản lý công tác bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm chogiáo viên thực hành trường Trung cấp Kỹ thuật Công - Nông nghiệp QuảngBình.
- Đề xuất các giải pháp quản lý công tác bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạmcho giáo viên thực hành trường Trung cấp Kỹ thuật Công - Nông nghiệp QuảngBình
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và tài liệu tham khảo, luận văngồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên thực hành trường Trung cấp Kỹ thuật Công - Nông nghiệp Quảng Bình
Chương 3: Một số giải pháp quản lý công tác bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên thực hành trường Trung cấp Kỹ thuật Công - Nông nghiệp Quảng Bình
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Chỉ thị 40-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng đã nêu: “Những nămqua chúng ta đã xây dựng được đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dụcngày càng đông đảo, phần lớn có phẩm chất đạo đức và ý thức chính trị tốt, trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ ngày càng được nâng cao Đội ngũ này đã đáp ứngquan trọng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, gópphần vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng đất nước Tuy nhiên trước nhữngyêu cầu mới của sự phát triển giáo dục trong thời kỳ CNH-HĐH, đội ngũ giáoviên và cán bộ quản lý giáo dục có những mặt hạn chế, bất cập Số lượng GVcòn thiếu, chất lượng chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ nhà giáo có mặt chưađáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và phát triển kinh tế - xã hội” [2]
Để nâng cao chất lượng Giáo dục và Đào tạo chúng ta cần phải nâng cao
chất lượng đội ngũ GV Bởi vậy đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu như: Mô hình xây dựng đội ngũ giáo viên do Bộ giáo dục và đào tạo tổ chức (1987), Mô hình đào tạo và bồi dưỡng giáo viên dạy nghề do Tổng cục dạy nghề tố chức (1999), Mô hình đào tạo giáo viên kỹ thuật có trình độ đại học, cao đẳng và giáo viên dạy nghề của Nguyễn Đức Trí Mô hình giáo viên dạy thực hành của Nguyễn Hùng Sinh, Trần Ngọc Chuyên (1980); Mô hình giáo viên dạy nghề của
PGS.TS Trần Khánh Đức, và một số công trình nghiên cứu, bài viết về côngtác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên trung cấp chuyênnghiệp và dạy nghề của TS Nguyễn Xuân Mai; TS Phan Chính Thức; TS.Hoàng Ngọc Trí, vào những năm 2003 - 2005, công trình nghiên cứu của tácgiả Nguyễn Thị Mỹ Lộc; Đặng Quốc Bảo; đây là những công trình khoa họcnghiên cứu hết sức công phu, có tính lý luận và thực tiễn cao, đã góp phần vàoviệc nâng cao chất lượng đội ngũ GV Tuy nhiên đáng tiếc là chưa có tác phẩmnào có chủ đề (hay tên gọi) nghiên cứu sâu về vấn đề NVSP và quản lý công tácbồi dưỡng NVSP cho giáo viên thực hành
Trang 151.1.1 Khái quát về nghiên cứu vấn đề NVSP và bồi dưỡng NVSP cho giáo viên thực hành ở nước ngoài
- Từ cuối thế kỷ XIV, J.A.Komenxky (1592-1670) đã đưa ra các nguyêntắc dạy học trực quan, nhất quán, đảm bảo tính khoa học và tính hệ thống, [13].Những nguyên tắc đó yêu cầu đối với giáo viên thực hành phải có nghiệp vụ vềphương pháp dạy học đảm bảo các nguyên tắc đã nêu
- Từ khoảng nửa thế kỷ XIX đến nửa cuối thế kỷ XX, nhờ những định
hướng của Chủ nghĩa Mác - Lê nin về các quy luật “sự hình thành cá nhân con người, về tính quy định về kinh tế - xã hội đối với giáo dục,…” [13,tr112]; nhiều nhà khoa học Xô Viết cũ đã gián tiếp thể hiện NVSP của GVTH thông qua
hướng dẫn thực hiện các nhiệm vụ về dạy học - giáo dục Một số tác phẩm tiêubiểu như Giáo dục học của Ilina T.A.[29]; Giáo dục học của Savin N.V [18];
- Vào những năm của cuối thế kỷ XX đến nay, khi thế giới quan tâmnhiều đến vấn đề toàn cầu hoá và sự hình thành phát triển của nền kinh tế trithức thì nhiều lĩnh vực của kinh tế - xã hội, trong đó có lĩnh vực GD - ĐT khôngcòn chỉ là mối quan tâm riêng của mỗi quốc gia mà đã được các nhà khoa họctrong các khu vực và trên thế giới tập trung giải quyết hoặc tổ chức cùng nhaubàn luận và nghiên cứu Vấn đề NVSP và bồi dưỡng NVSP cho người GVTHcũng được các quốc gia và các tổ chức của các nhà khoa học đưa ra bàn luận vàxem nó như là một vấn đề mấu chốt cho việc phát triển GD - ĐT
+ Ở Thái Lan, từ năm 1998 việc bồi dưỡng giáo viên thực hành được tiếnhành ở các cộng đồng nhằm huấn luyện kỹ năng nghề nghiệp và việc truyềnthông tư vấn giáo dục cho mọi công dân trong cộng đồng, xã hội
+ Ở Pakistan, có hẳn một chương trình bồi dưỡng về NVSP do nhà nướcquy định trong thời gian 3 tháng, gồm các nội dung về nghiệp vụ dạy học, cơ sởtâm lý giáo dục, phương pháp đánh giá và nhận xét học sinh,… đối với đội ngũgiáo viên mới vào nghề chưa quá 3 năm
+ Ở Nhật bản việc bồi dưỡng và đào tạo lại cho giáo viên và cán bộ quản
lý giáo dục là nhiệm vụ bắt buộc đối với người lao động sư phạm Tuỳ theo điềukiện thực tế của mỗi đơn vị, cơ sở giáo dục và của từng cá nhân để có kế hoạch,phương pháp và nội dung bồi dưỡng khác nhau cho đội ngũ giáo viên của từngcấp quản lý
Trang 16+ Ở Cộng hoà Dân chủ nhân dân Triều Tiên đặt ra một yêu cầu bắt buộcđối với tất cả các GV phải tham gia học tập đầy đủ các chương trình bồi dưỡng
về nâng cao trình độ và nghiệp vụ chuyên môn theo quy định
+ Các trường sư phạm ở Úc, New Zealand, Canada,…thành lập trung tâmbồi dưỡng sư phạm để tạo điều kiện cho các GV tham gia học tập
1.1.2 Khái quát về nghiên cứu và quản lý hoạt động bồi dưỡng NVSP cho GVTH ở Việt Nam
Trước hết phải nói đến các tư tưởng có giá trị cao làm tiền đề nghiên cứu
lý luận dạy học của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 - 1969) Lý luận của Người đãchỉ rõ các thành tố cơ bản trong cấu trúc của quá trình huấn luyện bồi dưỡng:
huấn luyện ai (đối tượng), ai huấn luyện (lực lượng), huấn luyện cái gì (mục đích, nội dung, chương trình), huấn luyện thế nào (phương pháp và hình thức tổ chức) và tài liệu huấn luyện (học liệu) [15] Đối với giáo viên, Người yêu cầu
rất cụ thể về học tập rèn luyện để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ:
“Những cán bộ giáo dục phải luôn luôn cố gắng học tập thêm, học chính trị, họcchuyên môn” [16]
- Dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ ChíMinh, các nhà khoa học Việt Nam đã gián tiếp thể hiện về NVSP khi bàn vềphương pháp dạy học Người đọc thấy được các yêu cầu NVSP của GVTH vàsuy nghĩ làm thế nào để mọi giáo viên thông thạo về nghiệp vụ soạn bài, giảngbài và đánh giá kết quả dạy học Các tác phẩm tiêu biểu đã gián tiếp bàn luận vềNVSP như:
Quá trình sư phạm - Bản chất, cấu trúc và tính quy luật của Hà Thế Ngữ,Giáo dục học của Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt, 1987[18]; Những khái niệm cơbản về lý luận quản lý giáo dục của Nguyễn Ngọc Quang, 1989[19]; Những vấn
đề cơ bản của giáo dục học hiện đại của Thái Duy Tuyên, 1999[27],…
Để đảm bảo yêu cầu phát triển và chuẩn hoá ĐNGV ở các cấp học, ngànhnghề đào tạo, Luật Giáo dục Việt Nam 2009 (sửa đổi) quy định cụ thể trongĐiều 77 về trình độ chuẩn được đào tạo của nhà giáo, về nghiệp vụ yêu cầu củatất cả các GV tối thiểu phải có chứng chỉ bồi dưỡng NVSP[23]
Trong thời gian qua, một số luận văn thạc sỹ chuyên ngành Quản lý giáodục (QLGD) cũng nghiên cứu về vấn đề này với những cách tiếp cận khác nhau
Trang 17như: Luận văn thạc sỹ của Phạm Hưng Phúc (2008) về “Biện pháp quản lý hoạtđộng bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ giáo viên trường Trung họcGiao thông vận tải Huế; Luận văn thạc sỹ của Hoàng Thị Lệ Khanh (2000) về
“Thực trạng và các biện pháp tổ chức hoạt động rèn luyện NVSP cho sinh viêntrường CĐSP Hải Phòng” Tuy nhiên, ở các trường nghề, đặc biệt là ở cáctrường TCCN của tỉnh Quảng Bình chưa có tác giả nào nghiên cứu về vấn đềnày
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.2.1 Giải pháp:
Theo từ điển tiếng Việt giải pháp là: “Phương pháp giải quyết một vấn đề
cụ thể nào đó”[28] Như vậy nói đến giải pháp là nói đến những cách thức tácđộng nhằm thay đổi chuyển biến một hệ thống, một quá trình, một trạng tháinhất định, tựu trưng lại, nhằm đạt được mục đích hoạt động Giải pháp càngthích hợp, càng tối ưu, càng giúp con người nhanh chóng giải quyết những vấn
đề đặt ra Tuy nhiên để có những giải pháp như vậy, cần phải dựa trên những cơ
sở lý luận và thực tiễn đáng tin cậy
1.2.2 Quản lý:
1.2.2.1 Khái niệm về quản lý:
Quản lý là sự tổ chức, điều hành kết hợp vận dụng tri thức với lao động đểphát triển xã hội Việc kết hợp đó tốt thì xã hội phát triển, ngược lại nếu kết hợpkhông tốt xã hội sẽ chậm phát triển hoặc trở nên rối ren Sự kết hợp đó được thểhiện ở cơ chế, chính sách, biện pháp quản lý và ở nhiều khía cạnh tâm lý xã hộikhác Quản lý là hoạt động thiết yếu nảy sinh khi con người lao động và sinhhoạt tập thể nhằm thực hiện các mục tiêu chung của tập thể, tổ chức Nó giúpduy trì sự tồn tại và phát triển của mọi quy mô và loại hình tổ chức người; từmột gia đình đến cấp quốc gia, quốc tế, từ các tổ chức văn hóa, giáo dục, khoahọc đến bất kỳ lĩnh vực hoạt động nào của con người Trong nhiều trường hợp,quản lý được đồng nhất với hoạt động tổ chức, tuy rằng khái niện quản lý cóngoại diên rộng hơn khái niệm tổ chức Ngay từ thời của Khổng Tử, ông đã đềcao và xác định rõ vai trò cá nhân của người quản lý, ông quan niệm rằng:Người quản lý mà chính trực thì không tốn nhiều công sức mà vẫn khiến được
Trang 18người ta làm theo Các Mác cũng đã nêu lên ý tưởng của ông: “Một nghệ sỹ vỹcầm thì tự điều khiển mình còn dàn nhạc thì cần nhạc trưởng” Trong từ điểnTiếng Việt thì quản lý là: “Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêucầu nhất định”.[28].
Một số tác giả Việt Nam quan niệm rằng:
- “Quản lý là hoạt động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đếntập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiệnđược những mục tiêu dự kiến”
- “Hoạt động quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủthể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một
tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức [6]
Hoạt động quản lý bao gồm hai quá trình luôn đan xen và hoà quyệnnhau:
+ “Quản” là quá trình bao hàm sự coi sóc, giữ gìn nhằm duy trì hệ thống ởtrạng thái “ổn định”
+ “Lý” là quá trình bao hàm sự sửa sang, sắp xếp đổi mới nhằm đưa hệthống vào sự “phát triển”
Nếu trong hoạt động quản lý, nhà quản lý chỉ chú trọng đến “Quản” thì tổchức đó dễ dẫn đến trì trệ, bảo thủ Ngược lại chỉ chú trọng đến “Lý” thì tổ chức
dễ rơi vào thế mất cân bằng, bất ổn định Chính vì thế, người quản lý phải luônxác định và biết điều phối tốt để sao cho trong “Quản” phải có “Lý” và trong
“Lý” phải có “Quản”, làm cho trạng thái của hệ thống luôn ở vị trí cân bằngđộng
Như vậy: Quản lý chính là quá trình giữ gìn sự ổn định để phát triển và sựphát triển phải luôn tạo được thế ổn định của hệ
Những quan niệm trên về quản lý có phần không giống nhau nhưng đều
có điểm thống nhất về bản chất của hành động quản lý, đó là: Cách tổ chức quản lý của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm thực hiện một cách có hiệu quả mục tiêu đã định [26]
1.2.2.2 Chức năng quản lý:
Hoạt động quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cáchvận dụng các chức năng quản lý “Chức năng quản lý là hình thái biểu hiện sự
Trang 19tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý”[28] Hiện naynhiều quan điểm khác nhau về số lượng các chức năng quản lý, nhưng hầu hếtđều đề cập đến bốn chức năng cơ bản sau:
- Chức năng kế hoạch hoá: Kế hoạch hoá là quá trình vạch ra các mục tiêu
và quy định phương thức để đạt được các mục tiêu đó
- Chức năng tổ chức: Tổ chức là một quá trình phân công và phối hợp cácnhiệm vụ, sắp xếp các nguồn lực theo những cách thức nhất định để đảm bảothực hiện tốt các mục tiêu đề ra
- Chức năng chỉ đạo: Chỉ đạo là phương thức tác động của chủ thể quản lýtới từng đối tượng quản lý nhằm điều khiển tổ chức vận hành theo đúng kếhoạch để đạt được mục đích, mục tiêu đề ra
- Chức năng kiểm tra đánh giá: Chức năng này bao gồm các hoạt độngkiểm tra, giám sát theo dõi và phát hiện những sai sót trong quá trình thực hiện
kế hoạch
Các chức năng trên có mối quan hệ mật thiết với nhau, tạo thành một chutrình quản lý Để thực hiện tốt các chức năng quản lý, cần có một yếu tố rất quantrọng đó là thông tin trong hoạt động quản lý
1.2.3 Quản lý giáo dục:
“Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyềnđạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người, nhờ cógiáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hoá dân tộc và nhânloại được kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó mà xã hội loài người không ngừngtiến lên”[1]
Như vậy, giáo dục xuất hiện nhằm thực hiện cơ chế truyền đạt kinhnghiệm lịch sử - xã hội của thế hệ trước cho thế hệ sau Để đạt được mục đích
đó, đòi hỏi phải có sự tổ chức và chỉ đạo việc thực hiện cơ chế trên, hay nói cáchkhác phải có sự quản lý giáo dục
Hiện nay các nhà nghiên cứu về giáo dục đã đưa ra nhiều định nghĩa vềquản lý gíáo dục Một số định nghĩa điển hình như:
- “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợpcác lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xãhội hiện nay”[16]
Trang 20- “Quản lý giáo dục, quản lý trường học, thực hiện đường lối giáo dục củaĐảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theonguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối vớingành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh”.[17].
Như vậy có thể hiểu: “Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủthể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thốnggiáo dục tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất”.[15]
Nói cách khác, bản chất của quản lý giáo dục là hệ thống những tác động
có tính định hướng của chủ thể quản lý lên các thành tố tham gia vào quá trìnhhoạt động giáo dục như: Mục tiêu giáo dục; Nội dung giáo dục; Phương phápgiáo dục; Lực lượng giáo dục (Người dạy); Đối tượng giáo dục (Người học);Phương tiện giáo dục (CSVC)
Từ nội hàm của các định nghĩa trên chúng tôi thấy khái niệm quản lý giáodục được hiểu theo các cấp độ vi mô và vĩ mô:
- Đối với cấp độ vi mô:
Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mụcđích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật,…) của chủ thể quản lý giáo dục ởmột cơ sở giáo dục (nhà trường) đến tập thể giáo viên, nhân viên, tập thể họcsinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội tham gia giáo dục (trong và ngoài
cơ sở giáo dục) nhằm làm cho cơ sở giáo dục đạt mục tiêu giáo dục của cơ sở
- Đối với cấp độ vĩ mô:
Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức,mục đích, kế hoạch, hệ thống, hợp quy luật,…) của chủ thể quản lý giáo dục đếntất cả các phân hệ của hệ thống giáo dục, bằng cách huy động, tổ chức, điềuphối, điều chỉnh, giám sát một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục nhằmđưa hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu giáo dục
1.2.4 Quản lý nhà trường:
Nhà trường là một cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục, như vậy quản
lý nhà trường được tiếp cận theo quan điểm quản lý giáo dục cấp vi mô
Tác giả Phạm Minh Hạc đã có quan điểm về quản lý trường học và đượcnhiều nhà khoa học chấp nhận theo quan điểm đó, theo ông “Quản lý nhà trường
là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình,
Trang 21tức là đưa trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáodục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng họcsinh”[13].
Từ quan điểm trên chúng tôi thấy bản chất của quản lý trường học là hoạtđộng của những tổ chức cá nhân có chức năng quản lý các hoạt động giáo dụccủa trường học nhằm đạt được mục đích giáo dục Các hoạt động đó được hiểutrên hai phương diện:
- Quản lý của các cơ quan chính quyền và cơ quan quản lý giáo dục đốivới trường học với ý nghĩa quản lý cấp vĩ mô nhằm tác động vào các nhà trườngtrong hệ thống giáo dục quốc dân để thực hiện mục đích giáo dục
- Quản lý của chủ thể quản lý của mỗi cơ sở giáo dục (hiệu trưởng, giámđốc các trung tâm giáo dục,…) đối với hoạt động giáo dục nói chung và dạy họcnói riêng trong mỗi trường học với ý nghĩa quản lý giáo dục ở cấp vi mô
Như vậy có thể quản lý nhà trường là những tác động có chủ đích và hợp quy luật của chủ thể quản lý nhà trường (Hiệu trưởng) đến đội ngũ giáo viên, nhân viên và học sinh cùng các đối tượng quản lý khác nhằm đưa các hoạt động giáo dục và dạy học của nhà trường đạt tới mục tiêu mong muốn.
Từ định nghĩa trên, chúng tôi thấy bản chất mang tính tổng quát của hoạt động quản lý nhà trường đối với các trường TCCN là quản lý quá trình dạy học
- giáo dục trong các trường TCCN.
Quá trình nêu trên có cấu trúc bởi các thành tố cơ bản được kết hợp chặtchẽ với nhau như: mục tiêu, nội dung của chương trình, phương pháp và hìnhthức tổ chức, lực lượng (chủ yếu là cán bộ quản lý, giáo viên và người học),phương tiện, môi trường và kết quả dạy học - giáo dục
Trong các thành tố nói trên thì thành tố lực lượng dạy học - giáo dục (chủyếu là người dạy và người học) có vai trò quyết định, vì chính họ là các chủ thể
sử dụng các phương tiện và tận dụng các điều kiện giáo dục để thực hiện cácphương pháp và hình thức tổ chức với nội dung chương trình đã có nhằm đemlại kết quả dạy học - giáo dục đúng như mục tiêu mong muốn
Trong quản lý quá trình dạy học - giáo dục tại mỗi nhà trường thì việcquản lý lực lượng dạy học - giáo dục (trong đó chủ yếu là đội ngũ người dạy) có
ý nghĩa hơn cả Quản lý đội ngũ này bao gồm nhiều hoạt động như xây dựng
Trang 22quy hoạch phát triển đội ngũ, tuyển chọn và sắp xếp, đề bạt, thuyên chuyển,
thực hiện các chính sách cán bộ và đặc biệt là công tác bồi dưỡng để nâng cao phẩm chất, năng lực NVSP cho đội ngũ.
1.2.5 Bồi dưỡng:
Theo từ điển Tiếng Việt của Viện khoa học và xã hội Việt Nam thì bồi dưỡng là làm tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất.[28].
Theo UNESCO thì bồi dưỡng với ý nghĩa nâng cao nghề nghiệp Quá
trình bồi dưỡng chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức
và kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng yêu cầu của nghềnghiệp
Có nhiều ý kiến bàn luận của các nhà khoa học về thuật ngữ bồi dưỡng.Tuy nhiên ở đây tác giả chỉ xin nêu ra một số ý kiến bàn về hoạt động bồi dưỡngtrong lĩnh vực nghề nghiệp:
- Bồi dưỡng thực chất là quá trình dạy học nhằm làm giàu vốn kiến thức,
từ việc bồi đắp những thiếu hụt về tri thức, cập nhật cái mới trên cơ sở nuôidưỡng, giữ gìn những cái cũ còn phù hợp để mở mang một cách có hệ thốngnhững tri thức, kỹ năng, nghiệp vụ cho người lao động
- Bồi dưỡng là quá trình tiếp nối đào tạo nhằm nâng cao năng lực và phẩmchất chuyên môn cho người lao động, là quá trình cập nhật hoá kiến thức cònthiếu hoặc lạc hậu, bổ túc nghề nghiệp, đào tạo thêm hoặc cũng cố các kỹ năngnghề nghiệp theo các chuyên đề
Giống như quá trình đào tạo, bồi dưỡng cũng được quy định về mục tiêu,nội dung chương trình, phương pháp, hình thức tổ chức, phạm vi thời gian vàđánh giá để chứng nhận kết quả
Tuy nhiên khác với đào tạo về đối tượng (chỉ bồi dưỡng những người đãqua đào tạo, đã có quá trình hành nghề), và về mục đích, quy mô tổ chức, cấp độhình thức tổ chức và về chứng nhận kết quả (cấp chứng chỉ)
Như vậy, bồi dưỡng là hoạt động mang sắc thái của quá trình dạy học giáo dục nhằm cập nhật hoặc bổ sung kiến thức và kỹ năng còn thiếu hoặc đã lạc hậu cho những người lao động đã qua đào tạo để họ nâng cao được chất lượng và hiệu quả hoạt động nghề nghiệp.
Trang 23-1.2.6 Nghiệp vụ sư phạm:
“Trình độ nghiệp vụ của người GV chính là sự hiểu biết về nghiệp vụ sưphạm bao gồm những hiểu biết về bậc học, đối tượng mình giảng dạy, phươngpháp giảng dạy, cách kiểm tra đánh giá, sử dụng các phương tiện dạy học…” [14]
Có thể phân tích thuật ngữ “nghiệp vụ sư phạm” thành 2 thành tố riêngbiệt để làm rõ khái niệm nghiệp vụ sư phạm như sau:
- Nghiệp vụ: Theo từ điển tiếng Việt, nghiệp vụ được hiểu là nghề chuyênmôn, công việc chuyên môn Khi thực thi một nhiệm vụ, một hoạt động nào đóluôn yêu cầu con người thực hiện nó phải có một trình độ chuyên môn nhấtđịnh Trình độ chuyên môn là khả năng hiểu biết, những kỹ năng, kỹ xảo đối vớicông việc đang làm Hay nói cách khác đó là khả năng thực hiện công việc đểđạt được hiệu quả trong một nghề nào đó
- Sư phạm: Theo từ điển tiếng Việt là khuôn phép của người dạy học.Khuôn phép này được áp dụng cho GV, HS và nhà trường bao gồm những quyđịnh, quy tắc, chuẩn mực về công việc giảng dạy, giáo dục và học tập trong nhàtrường Sư phạm được xem là một hoạt động đặc thù của nghề đào tạo và giáodục con người
Từ hai định nghĩa về “nghiệp vụ” và “sư phạm” nói trên, chúng ta có thểhiểu: NVSP là công việc chuyên môn, là trình độ thực hiện công việc của ngườithầy giáo trong nghề dạy học Nếu ở góc độ đánh giá về năng lực GV thì NVSPcũng có thể được xem là trình độ sư phạm hay tay nghề của người thầy giáo
Có một số quan niệm cho rằng nghề dạy học chỉ bao gồm công việc dạyvăn hoá và truyền đạt kiến thức chuyên môn cho HS Nếu theo quan điểm nàythì sau khi học xong, người học chỉ được trang bị cho mình kiến thức về nghề,còn sử dụng nghề ấy như thế nào? Phục vụ cho ai? Cho cái gì? Thì người học sẽgặp phải những trở ngại nhất định Đồng thời quan niệm trên cũng còn nhiềuhạn chế so với mục tiêu giáo dục là nhằm hình thành và phát triển nhân cáchtoàn diện cho người học Để thực hiện được mục tiêu đó ngành GD và ĐT phảitrang bị cho người học đồng đều trên ba phương diện, đó là trí lực - tâm lực vàthể lực Vì vậy nghề dạy học theo nghĩa rộng bao gồm cả công việc dạy văn hoá
và giáo dục cho học sinh Trình độ sư phạm là tổng hợp của nhiều yếu tố thuộc
về trình độ giảng dạy và giáo dục của người GV Muốn thể hiện tốt trình độ sư
Trang 24phạm, người GV phải có đầy đủ những yếu tố cơ bản như: năng lực, hiểu biết và
kỹ năng, kỹ xảo về ngành chuyên môn giáo dục Đó là năng lực sư phạm và trithức, kỹ năng thể hiện năng lực sư phạm của người GV Như vậy nói đến NVSP
là nói đến lao động sư phạm của người thầy giáo Nó bao gồm những kiến thức,
kỹ năng và thái độ, tình cảm đối với nghề dạy học Nó đảm bảo cho người GVbiết cách tổ chức thực hiện các quá trình giảng dạy và giáo dục theo đúng yêucầu, chức năng nhiệm vụ của mình [15] [28]
Như vậy ta có thể nói rằng: NVSP được hình thành từ hệ thống nhữngnăng lực của người GV (tri thức và kỹ năng nghề nghiệp) Theo Phạm Viết
Vượng thì năng lực sư phạm của người GV là tổ hợp của hệ thống kiến thức và
hệ thống kỹ năng khá đa dạng và phức tạp, bao gồm các nội dung cơ bản sau:
- Phân tích chương trình dạy học và giáo dục;
- Thiết kế kế hoạch giảng dạy và giáo dục;
- Triển khai thực hiện kế hoạch giảng dạy và giáo dục;
- Giải quyết các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn dạy học và giáo dục (xử
lý tình huống sư phạm);
- Giám sát đánh giá kết quả học tập và rèn luyện của HS;
- Kết hợp các lực lượng xã hội vào việc giáo dục HS;
- Tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực sư phạm [29].
Người GV muốn thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục của mình việc học tập
để nâng cao trình độ NVSP là một việc hết sức cần thiết Vì chính NVSP là mộtcông cụ không thể thiếu của một người GV để người GV thực hiện nhiệm vụtruyền đạt kiến thức môn học và kiến thức xã hội đến cho HS một cách đầy đủnhất, hấp dẫn nhất, lôi cuốn nhất, tạo điều kiện tốt nhất cho HS trong quá trìnhtiếp thu kiến thức để hình thành và phát triển nhân cách một cách toàn diện nhất
1.2.7 Bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm:
Để giải quyết những nhu cầu tất yếu trong cuộc sống của con người theo
xu hướng ngày càng cao, đòi hỏi con người phải luôn vận động để phát triển Sựvận động phát triển của xã hội chính là hoạt động phát hiện và giải quyết đượccác mâu thuẫn đang tồn tại trong quá trình hoạt động của nó, điều chỉnh cơ chếvận hành nhằm đưa hoạt động của xã hội đi theo đúng quy luật, phù hợp với các
Trang 25đặc điểm của xã hội đó để phát triển Hay nói cách khác giải quyết mâu thuẫnchính là động lực của phát triển.
Ngược lại, chính sự vận động của xã hội với mục đích phát triển bắt buộccon người sống trong xã hội đó cũng phải vận động, điều chỉnh mình để bắt nhịpđược với những biến động, thay đổi của xã hội Điều này chính là thách thức lớnđối với ngành GD và ĐT, buộc ngành GD và ĐT phải là thành phần tích cựcnhất để thực hiện quan điểm giáo dục nhân cách toàn diện cho người học -nguồn lực chính trong quá trình phát triển xã hội Để làm được điều đó người
GV phải là một trong những nhân tố đi đầu trong việc vận động để phát triển
Một GV giảng dạy lâu năm chưa chắc đã là GV dạy giỏi nếu không có sựvận động cập nhật, bổ sung những kiến thức khoa học mới; điều chỉnh những kiếnthức khoa học đã lạc hậu; vận dụng một cách sáng tạo các kỹ năng sư phạm vàogiảng dạy một cách phù hợp với từng đối tượng người học và từng điều kiện xã hội
cụ thể cho mỗi giai đoạn phát triển Như vậy để thực hiện được nhiệm vụ giảng dạymột cách tốt nhất, người GV phải thường xuyên rèn luyện NVSP thông qua quátrình tự rèn luyện NVSP và tổ chức bồi dưỡng NVSP của đơn vị giáo dục
Từ phân tích trên, kết hợp với nội dung của hai khái niệm “Bồi dưỡng”,
“Nghiệp vụ sư phạm” có thể nếu lên khái quát vấn đề bồi dưỡng NVSP như sau:
Bồi dưỡng NVSP là một hoạt động đặc thù của nghề dạy học, mang sắc thái của quá trình dạy học - giáo dục nhằm cập nhật hoặc bổ sung kiến thức và
kỹ năng còn thiếu hoặc đã lạc hậu về NVSP cho người GV để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động GD và ĐT.
1.2.8 Giáo viên:
Ở nước ta cũng như các nước trên thế giới, khái niệm “giáo viên” đượcdùng rất phổ biến trong đời sống xã hội và trong các văn bản pháp quy của Nhànước Có nhiều thuật ngữ và danh hiệu được dùng để chỉ người làm công tácgiảng dạy ở các cấp bậc học khác nhau: giáo viên, giáo viên mầm non, cán bộgiảng dạy, nhà giáo, giảng viên,
Khái niệm GV được thể hiện ở khoản 1, điều 70, Luật Giáo dục 2005:Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường hoặc các
cơ sở giáo dục khác Nhà giáo phải có các tiêu chuẩn sau [23]:
a Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt;
Trang 26b Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ;
c Đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp;
d Lý lịch bản thân rõ ràng
1.2.9 Giáo viên thực hành:
Giáo viên thực hành là người làm công tác dạy học và giáo dục trong các
cơ sở đào tạo Giáo viên thực hành phải có phẩm chất, đạo đức tư tưởng tốt, đạttrình độ chuẩn về chuyên môn kỹ thuật và nghiệp vụ sư phạm
Ở GVTH có những nét khác biệt so với giáo viên của các bộ phận kháctrong hệ thống giáo dục quốc dân
GVTH không chỉ có thiên chức dạy chữ, dạy người mà còn dạy nghề Đặcđiểm trên đòi hỏi GVTH không chỉ có kiến thức vững về chuyên môn, kỹ năng
sư phạm, kỹ năng giao tiếp sư phạm mà còn phải có kỹ năng thực hành nghềthành thạo Giáo viên thực hành đảm đương nhiệm vụ dạy lý thuyết và thựchành, dạy học ở nhiều môi trường khác nhau như ở trong lớp, xưởng thực hành,phòng thí nghiệm, cơ sở sản xuất… Chúng được bao gồm hàng loạt các côngviệc có liên quan chặt chẽ với nhau
Việc đào tạo thực hành có nhiều cấp độ khác nhau, nhiều môn học khácnhau, các môn học luôn biến động theo sự thay đổi của khoa học, kỹ thuật côngnghệ trong sản xuất và yêu cầu thị trường lao động Vì vậy, GVTH cần có sựthích ứng nhanh với sự phát triển của khoa học và công nghệ
Đội ngũ GVTH được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, nhiều trình
độ khác nhau Có 50% GVTH là người tốt nghiệp các trường ĐH, CĐ, THCN;30% tốt nghiệp các trường SPKT; số còn lại là thợ bậc cao và kỹ thuật viêntrung học đã qua sản xuất
Năng lực nghề nghiệp của GVTH là điều kiện cần thiết để hoạt độngchuyên môn có hiệu quả Trong cấu trúc năng lực nghề nghiệp của giáo viênthực hành có các thành tố như tri thức và kỹ năng chuyên môn khoa học - côngnghệ, năng lực sư phạm kỹ thuật Năng lực nghề nghiệp được hình thành thôngqua đào tạo, bồi dưỡng và hoạt động thực tiễn nghề nghiệp, trong đó, thông quađào tạo là quan trọng
Trang 271.3 ĐẶC TRƯNG HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO VÀ ĐẶC TRƯNG NGHIỆP
VỤ SƯ PHẠM CỦA GIÁO VIÊN THỰC HÀNH TRƯỜNG TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP
1.3.1 Đặc trưng về hoạt động đào tạo của trường TCCN
1.3.1.1 Đặc trưng về mục tiêu giáo dục của trường TCCN
Giáo dục TCCN nằm trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp Vì vậy mụctiêu của của giáo dục trong trường TCCN mang đặc trưng của mục tiêu giáo dụcnghề nghiệp Điều 33 của Luật giáo dục [20] có quy định cụ thể về mục tiêu củagiáo dục nghề nghiệp như sau:
- Đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp ở các trình
độ khác nhau
- Có đạo đức lương tâm nghề nghiệp, có ý thức kỷ luật, có tác phong côngnghiệp, có sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tìmviệc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học tập nâng cao trình độ chuyên môn,nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, cũng cố quốc phòng, anninh
- Giáo dục TCCN nhằm đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năngthực hành cơ bản của một nghề, có khả năng làm việc độc lập và có tính sángtạo ứng dụng công nghệ vào công việc
1.3.1.2 Đặc trưng về chương trình và giáo trình giáo dục nghề nghiệp
Điều 35 của Luật Giáo dục (2005) đã quy định về chương trình, giáo trìnhgiáo dục nghề nghiệp, trong đó có một số đặc trưng chủ yếu như:
- Thể hiện được mục tiêu, chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi, cấu trúc,nội dung, phương pháp và hình thức đánh giá kết quả đào tạo theo ngành, nghề,trình độ đào tạo
- Chương trình và giáo dục đào tạo nghề nghiệp phải đảm bảo yêu cầuliên thông với các chương trình giáo dục khác
- Bộ trưởng Bộ GD và ĐT phối hợp với Bộ trưởng, thủ trưởng các cơquan ngang Bộ có liên quan, trên cơ sở thẩm định của hội đồng thẩm định ngành
về chương trình khung TCCN, quy định chương trình chung về đào tạo TCCNbao gồm cơ cấu nội dung, số môn học, thời lượng môn học, tỷ lệ giữa lý thuyết
Trang 28và thực hành thực tập đối với ngành nghề đào tạo Căn cứ chương trình khung,trường TCCN xác định chương trình đào tạo của trường mình.[20].
- Giáo trình giáo dục nghề nghiệp cụ thể hóa các yêu cầu về nội dung,kiến thức, kỹ năng quy định trong các chương trình giáo dục đối với môn học,ngành nghề, trình độ đào tạo của giáo dục nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu vềphương pháp giáo dục nghề nghiệp
- Giáo trình giáo dục nghề nghiệp do Hiệu trưởng nhà trường tổ chức biênsoạn và duyệt để sử dụng làm tài liệu giảng dạy, học tập chính thức trong cơ sởgiáo dục nghề nghiệp trên cơ sở thẩm định của Hội đồng thẩm định giáo trình doHiệu trưởng thành lập
1.3.1.3 Đặc trưng về GV thực hành trong trường TCCN
Ngoài quy định chung về phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên ngành đàotạo, giáo viên giảng dạy thực hành còn có những đặc trưng cơ bản:
- Có kỹ năng thực hành (tay nghề) cao hơn so với yêu cầu tay nghề thựchành của đối tượng người học theo mục tiêu đào tạo
- Có khả năng làm mẫu tốt
- Hiểu biết sâu về thực tiễn sản xuất xã hội
- Làm chủ tốt các trang thiết bị, công cụ ở phòng thực hành, xưởng trường
- Khả năng tổ chức hoạt động giảng dạy theo nhóm và hướng dẫn thườngxuyên
- Khả năng khắc phục những sự cố, sai hỏng của thiết bị, công cụ tronggiảng dạy
- Ngoài trình độ chuyên sâu mang tính học thuật đối với các môn học vàchuyên đề được phân công giảng dạy thì GV thực hành trường TCCN cần phải
có sự am hiểu sâu về thực tiễn lao động xã hội và có kỹ năng hướng dẫn thựchành cao
1.3.2 Đặc trưng về một số yếu tố NVSP cơ bản của GVTH của trường TCCN
Ngoài những tiêu chuẩn quy định của nhà giáo, người GVTH còn phảiđảm bảo sức khỏe, bản lĩnh chính trị, đạo đức và lương tâm nghề nghiệp, để làmviệc trong một số lĩnh vực nặng nhọc, độc hại: Như tiếng ồn, khói, nhiệt, điện,vật liệu, khí, xăng, dầu,…
Trang 29Người GVTH trong trường TCCN phải thực hiện đầy đủ tất cả các yêucầu cần thiết về NVSP của một người GV nói chung khi tham gia vào quá trìnhgiảng dạy Tuy nhiên, do có đặc thù về mục tiêu đào tạo mang nặng tính giáodục nghề nghiệp, cho nên ngoài các yếu tố chung về NVSP, người GVTHTCCN phải thực hiện thêm một số các yếu tố mang tính đặc trưng riêng sau đây:
1.3.2.1 Nghiệp vụ tham gia xây dựng chương trình chi tiết môn học và quy trình bài học thực hành
Dựa theo chương trình khung cho từng trình độ nghề nghiệp được Bộ GD
và ĐT ban hành, Hiệu trưởng các trường TCCN tổ chức cho các GVTH xâydựng chương trình chi tiết các môn học phù hợp với điều kiện giảng dạy của cơ
sở mình, sau đó thành lập Hội đồng thẩm định chương trình đã xây dựng và raquyết định giảng dạy theo chương trình đã thống nhất Quá trình thiết lập mộtchương trình chi tiết bao gồm các khâu và được thực hiện theo quy trình Điều
đó đòi hỏi người GVTH TCCN phải có nghiệp vụ cơ bản để thực hiện thànhthạo quy trình đó là các nghiệp vụ:
- Phân tích nhu cầu đào tạo: dự báo nhu cầu và yêu cầu của cộng đồng và
xã hội về số lượng, trình độ nghề phù hợp với chức năng đào tạo của nhà trường
- Xây dựng mục tiêu đào tạo cho môn học: chỉ ra được mức độ các kiếnthức, kỹ năng và thái độ cần có của người học sau khi họ được đào tạo theochương trình
- Xác định được đối tượng đào tạo: trình độ đầu vào của học sinh theo yêucầu đào tạo các nghề có trong chương trình khung và nguồn tuyển sinh
- Chỉ ra được nội dung môn học theo chương trình khung phù hợp cơ cấunội dung, số lượng, năng lực và kỹ năng nghề, thời lượng lý thuyết và thựchành
- Chỉ ra được các yêu cầu để thực hiện chương trình như phương pháp,hình thức tổ chức, cơ sở vật chất và thiết bị dạy học phục vụ đào tạo và phươngthức đánh giá kết quả
1.3.2.2 Nghiệp vụ tham gia viết giáo trình thực hành môn học
Dựa theo yêu cầu về giáo trình giáo dục TCCN mà Luật giáo dục đã quyđịnh, dựa theo nội dung, chương trình chi tiết môn học đã được thẩm định, kếthợp với việc tham khảo các tài liệu chính thống liên quan đến môn học, người
Trang 30GVTH được Hiệu trưởng lựa chọn sử dụng năng lực nghiệp vụ của mình để viếtgiáo trình môn học Giáo trình được công nhận và áp dụng giảng dạy cũng phảiđược thông qua Hội đồng thẩm định do Hiệu trưởng thành lập.
Viết giáo trình là một hoạt động với nhiều yêu cầu khắt khe, nó đòi hỏingười GVTH viết giáo trình phải có trình độ chuyên môn nhất định về kiến thứcmôn học Bên cạnh đó, người GVTH cũng cần phải có một năng lực sư phạmvững vàng đúc rút từ kinh nghiệm giảng dạy và phải thực sự tiếp cận được cácyêu cầu của việc viết giáo trình Các yêu cầu cơ bản đó là:
- Biết cụ thể hóa được các yêu cầu về nội dung kiến thức, các kỹ năng vàthái độ đã có trong chương trình chi tiết để trình bày thành một giáo trình mônhọc
- Biết lồng ghép các yêu cầu và phương pháp giáo dục nghề nghiệp theocác trình độ cần được đào tạo vào việc trình bày các nội dung của giáo trình đàotạo
- Biết lựa chọn để trình bày các nội dung của giáo trình có tính khoa học,tính thực tiễn và tính cập nhật tri thức về nghề nghiệp sẽ được đào tạo cho ngườihọc
- Biết trình bày mạch lạc về nguồn gốc của kiến thức theo trình tự và logic
về số lượng kiến thức, mức độ cần lĩnh hội với các kỹ năng cần thiết
- Chỉ dẫn được cho người học về phương pháp luận và rèn luyện các kỹnăng nghề nghiệp trong giáo trình
1.3.2.3 Nghiệp vụ giảng dạy tại xưởng, phòng thực hành và nơi thực tập
Đây là một đặc trưng rất đặc thù của người GVTH trong hệ thống giáodục nghề nghiệp Do yêu cầu của mục tiêu giáo dục nghề nghiệp, GVTH củatrường TCCN ngoài những kiến thức lý thuyết mang tính hàn lâm được trìnhbày trên lớp, đòi hỏi phải có một trình độ tay nghề khá vững vàng khi tham giahướng dẫn HS thực hành, thực tập tại xưởng trường và tại các cơ sở sản xuất,kinh doanh, dịch vụ Như vậy, người GVTH TCCN khi tham gia giảng dạy đòihỏi phải có sự kết hợp thật nhuần nhuyễn giữa sử dụng ngôn ngữ với các hànhđộng để thể hiện kỹ năng nghề nghiệp sự kết hợp chuẩn xác giữa kiến thức lýthuyết và tính năng kỹ thuật của phương tiện giảng dạy thực hành Điều đó sẽgiúp cho HS nhanh chóng tiếp nhận được kiến thức và rèn luyện tốt kỹ năng
Trang 31nghề nghiệp, đồng thời cũng làm cơ sở cho HS trong việc hình thành thái độ họctập và thái độ đúng đắn với nghề nghiệp đang học, phục vụ tốt cho công việctrong tương lai.
1.3.2.4 Nghiệp vụ kiểm tra, đánh giá học sinh
Xuất phát từ mục tiêu mang nặng tính giáo dục nghề nghiệp, NVSP đốivới người GVTH TCCN phải có một đặc trưng tương đối riêng biệt trong giảngdạy như đã nói trên Cũng xuất phát từ đặc trưng đó mà vấn đề nghiệp vụ kiểmtra, đánh giá kết quả học tập cho HS của người GVTH TCCN cũng có nhữngđặc trưng riêng Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS TCCN thường được
tổ chức dưới hình thức là một bài thực hành kết hợp với kiến thức lý thuyết Nhưvậy, với hình thức kiểm tra đánh giá đó thì kết quả thu được phải là một sảnphẩm của chính HS làm ra Sản phẩm đó thể hiện rất rõ kỹ năng nghề nghiệp mà
HS thu nhận được trong quá trình học tập Điều này đòi hỏi ở người GVTHTCCN phải có khả năng nắm bắt hết sức chuẩn xác về trình độ tay nghề đang cótrình độ chuyên môn nghề nghiệp vững vàng để đánh giá chính xác, khách quankết quả học tập (sản phẩm) của HS
1.4 QUẢN LÝ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG NVSP CHO GVTH TRƯỜNG TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP
1.4.1 Nội dung bồi dưỡng NVSP cho GVTH trường TCCN
1.4.1.1 Tri thức chuyên ngành và tri thức nghiệp vụ
Trong tất cả các chức năng của giáo dục thì chức năng cơ bản nhất và ảnhhưởng trực tiếp đến chất lượng kỹ năng nghề nghiệp của HS sau khi tốt nghiệp,
đó là chức năng truyền thụ tri thức Để thực hiện có hiệu quả chức năng này,trước tiên người GVTH phải là người am hiểu và có kiến thức sâu sắc về lý luậncủa chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là quan điểm đườnglối, chính sách của Đảng và Nhà nước về hoạt động giáo dục Điều này có tầmảnh hưởng rất quan trọng đối với vấn đề giáo dục thế hệ trẻ cho đất nước Ngườithầy muốn truyền thụ được kiến thức cho HS một cách có hiệu quả nhất, trướctiên người thầy đó phải nắm vững lý luận và phương pháp truyền thụ dựa trên cơ
sở nghiên cứu khoa học giáo dục của quá trình học tập và rèn luyện Từ đó,người thầy giáo phải xây dựng được cho mình niềm tin trên cơ sở kiến thức đã
Trang 32có Tri thức của người thầy giáo phải là những tri thức mang tính khoa học, hiệnđại, sâu rộng và toàn diện, có như vậy người thầy giáo mới có khả năng thôngqua quá trình giáo dục để tạo ra được những sản phẩm (HS) có chất lượng đápứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội Tri thức của người thầy giáo trong tươnglai phải bao gồm những kiến thức như: kiến thức đại cương, kiến thức chuyênngành và kiến thức cốt lõi chuyên nghiệp (khoa học giáo dục).
1.4.1.2 Kỹ năng sư phạm
Để tổ chức và thực hiện tốt việc truyền thụ kiến thức cho học sinh, đảmbảo cho quá trình hình thành và phát triển nhân cách ở HS có hệ thống và mangtính bền vững, đòi hỏi người GVTH phải có kỹ năng sư phạm tốt Trong hoạtđộng của mỗi GV, tất nhiên mỗi người phải thể hiện tính chuyên môn riêng biệt.Nhưng nói chung về công tác giáo dục thì có nhiều cái chung hơn là cái riêng.Cái chung nhìn ở góc độ tổng quát đó là các kỹ năng, kỹ xảo và nghệ thuật sưphạm Theo cách đánh giá đó, ta thấy kỹ năng sư phạm chính là sự vận dụng cáctri thức (hiểu biết) và các kỹ xảo đã có vào việc giải quyết một số thao tác haymột loạt các thao tác phức tạp của hành động sư phạm như giáo dục, dạy học,lên kế hoạch giảng dạy, bài giảng, kiểm tra, đánh giá, tổ chức các hoạt động sưphạm ; là cách lựa chọn, vận dụng tri thức vào thực tiễn được tiến hành theoquy trình hợp lí với cách thức đúng đắn: là những kỹ năng trong quá trình vậndụng và phát triển đạt đến trình độ thành thục để trở thành kỹ xảo Nói một cáchkhái quát: “Kỹ năng sư phạm là khả năng thực hiện có hiệu quả một số thao tácphức tạp của một hành động sư phạm bằng cách chọn lọc và vận dụng những trithức, những quy định đúng đắn”[14] Theo các nhà nghiên cứu về khoa học giáodục gần đây đã đưa ra nhận định các kỹ năng sư phạm được chia thành nămnhóm cơ bản như sau:[29]
- Nhóm kỹ năng thiết kế bao gồm: hoạch định, xây dựng kế hoạch dạyhọc và giáo dục, xây dựng chương trình chi tiết và viết giáo trình môn học, soạngiáo án, tóm tắt tài liệu, xây dựng đề cương, lựa chọn các phương pháp, phươngtiện kỹ thuật dạy học và giáo dục
- Nhóm kỹ năng triển khai hoạt động dạy học và giáo dục bao gồm: viết,
vẽ, trình bày bảng, biểu đồ, sơ đồ, tranh ảnh, diễn đạt, thể hiện giáo án, sử dụngcác phương pháp, phương tiện kỹ thuật dạy học và giáo dục, kiểm tra, tổng kết,
Trang 33đánh giá, sử dụng các dụng cụ, học cụ và triển khai các hướng dẫn thí nghiệm,thực hành
- Nhóm kỹ năng giao tiếp bao gồm: định hướng giao tiếp, làm chủ trạngthái tình cảm, sử dụng có nghệ thuật ngôn ngữ nói và viết, kỹ năng giao tiếp phingôn ngữ
- Nhóm năng lực tự học và nghiên cứu khoa học giáo dục bao gồm: xácđịnh vấn đề, mục tiêu, lựa chọn tài liệu, lập đề cương, xây dựng kế hoạch, tổchức, vận dụng các phương pháp, phương tiện, so sánh, bổ sung, nhận xét, đánhgiá, tóm tắt, trình diễn
- Nhóm kỹ năng hoạt động xã hội bao gồm: Kỹ năng tổ chức và kỹ năng
sử dụng hệ thống phương pháp tuyên truyền, vận động HS và nhân dân
Tuy nhiên, nếu đánh giá một cách tổng quát thì kỹ năng sư phạm củangười GVTH tập trung chủ yếu ở kỹ năng thực hiện công việc giảng dạy và kỹnăng chủ nhiệm lớp (giáo dục) Nói cách khác, để tổ chức và tiến hành công tácgiáo dục được hiệu quả tốt đòi hỏi người giáo viên phải có kiến thức chuyênmôn vững vàng, tầm hiểu biết rộng và cách ứng xử sư phạm khéo léo Theođánh giá đó thì ta dễ dàng nhận thấy rằng: đối với vấn đề nâng cao trình độchuyên môn, mở rộng tầm hiểu biết các GVTH có thể thực hiện tương đốithuận lợi trong thời đại thông tin kinh tế như hiện nay Nhưng vấn đề nghệ thuậttruyền đạt thông tin và ứng xử sư phạm thì không phải dễ dàng gì để có thể thunhận được nếu không có sự học hỏi, phấn đấu, rèn luyện một cách thường xuyên
và bền bỉ của người GVTH trong suốt quá trình tham gia giảng dạy của mình.Kinh nghiệm thực tiễn cho chúng ta thấy rằng: trong lĩnh vực giáo dục do tínhphức tạp và phong phú của nó nên các kỹ năng, kỹ xảo được hình thành và pháttriển chậm hơn trong lĩnh vực dạy học
Trang 34Đã có nhiều tác phẩm của nhiều nhà khoa học về giáo dục đã phát biểu vềnăng lực sư phạm như của Nguyễn Hữu Dũng trong “Nhà trường trung học vàngười GV trung học”; Phạm Minh Hạc trong “Tâm lý học”; Từ các nghiêncứu trên, có thể nhận thấy năng lực sư phạm trong nhân cách của người GVTHthể hiện ở 3 nhóm như sau[13] [29]:
- Nhóm các năng lực dạy học, gồm:
+ Nắm vững, lựa chọn và sắp xếp các tri thức;
+ Lựa chọn, phân loại, phối hợp các phương pháp dạy học;
+ Nắm vững đối tượng giảng dạy;
+ Khả năng sử dụng ngôn ngữ và khả năng diễn đạt ý tưởng;
+ Linh hoạt sử dụng các phương tiện dạy học;
+ Tổ chức quản lý điều khiển học sinh trong giờ học;
+ Lôi cuốn, thuyết phục HS trong các hoạt động học tập;
+ Biết ứng xử nhanh các tình huống có vấn đề trong lớp học, trong giờhọc;
+ Biết cách hướng dẫn có hiệu quả việc dạy các đối tượng cá biệt
- Nhóm năng lực giáo dục gồm:
+ Xây dựng kế hoạch cho hoạt động giáo dục;
+ Tổ chức chỉ đạo các hoạt động giáo dục;
+ Nắm vững đối tượng giáo dục;
+ Khả năng giáo dục đối tượng cá biệt;
+ Biết đánh giá các hoạt động giáo dục và điều chỉnh kịp thời để đạt hiệuquả cao hơn, biết thuyết phục, cảm hóa HS để HS tự giác, tích cự tham gia vàocác hoạt động giáo dục Người GVTH phải biết bồi dưỡng đội ngũ tự quản để
HS tự điều hành các hoạt động giáo dục, ngoài ra người thầy còn phải biết vậnđộng, lôi cuốn quần chúng tham gia vào hoạt động giáo dục
- Nhóm năng lực tự hoàn thiện:
Được thể hiện qua việc tự kiểm tra, đánh giá bản thân để bồi dưỡng tưtưởng, tình cảm nghề nghiệp Ngoài ra còn phải biết tự học, tự bồi dưỡng để bổsung, hoàn thiện về tay nghề, nâng cao kiến thức, rèn luyện kỹ năng và phươngpháp Một biểu hiện nữa của năng lực tự hoàn thiện là công tác nghiên cứu khoahọc và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn
Trang 35Để hoàn thiện được năng lực sư phạm, người GVTH không thể tách rờihoặc thiên vị một yếu tố nào của cấu trúc năng lực để rèn luyện mình và phảithống nhất các yếu tố thành một chỉnh thể nhất định Phải xem hệ thống cácnhóm năng lực trên có mối quan hệ biện chứng với nhau, luôn hỗ trợ nhau, bổsung cho nhau để tạo nên năng lực sư phạm.
Qua đánh giá trên, chúng tôi nhận thấy năng lực sư phạm của người GVmang tính khái quát, tổng hợp, tổng hòa các tri thức, kỹ năng và những phẩmchất tương ứng về giáo dục Năng lực sư phạm cho phép người GVTH phảihướng tới việc tiếp tục hình thành và nâng cao năng lực sư phạm cho họ
1.4.2 Quy trình quản lý hoạt động bồi dưỡng NVSP cho GVTH TCCN
Quy trình quản lý công tác bồi dưỡng NVSP cho GVTH TCCN thực chất
là việc thực hiện lần lượt các chức năng cơ bản của quản lý dưới đây
1.4.2.1 Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng:
Việc xây dựng kế hoạch cho mỗi một hoạt động là yếu tố đầu tiên vàquyết định sự thành bại của hoạt động đó Xây dựng kế hoạch không phù hợp sẽlàm cho việc thực hiện kế hoạch gặp nhiều khó khăn, thậm chí không thể thựchiện được và nếu thực hiện được thì kết quả đạt được sẽ không như mong muốncủa chủ thể xây dựng Chính vì vậy, việc xây dựng kế hoạch phải đảm bảo theomột quy trình nhất định Đối với việc xây dựng kế hoạch của công tác bồi dưỡngNVSP cho GVTH bao gồm các bước sau đây:
+ Khảo sát và điều tra đúng thực trạng về trình độ NVSP của GVTH đang
có So sánh các yêu cầu của trình độ NVSP với các yêu cầu cần đáp ứng vềnguồn nhân lực của xã hội Tìm hiểu nguyên nhân chủ quan, khách quan ảnhhưởng đến sự mất cân đối từ việc so sánh nói trên Từ đó đưa ra mục tiêu bồidưỡng cụ thể cho từng khóa, từng đợt hoặc từng hoạt động (kiến thức, kỹ năng,thái độ) cho các nhóm đối tượng bồi dưỡng (GVTH)
+ Từ việc xác định được mục tiêu bồi dưỡng và đối tượng bồi dưỡng tiếnđến việc xây dựng dự kiến chương trình, nội dung cần bồi dưỡng, phương pháp,hình thức tổ chức bồi dưỡng, phương thức kiểm tra đánh giá kết quả
+ Dự kiến về nhân lực để phục vụ cho khâu tổ chức bồi dưỡng (ngườiquản lý, bộ phận quản lý, giảng viên, nhân viên phục vụ và tổ chức đơn vị phốihợp, )
Trang 36+ Xác định nguồn lực vật chất (cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật vànguồn tài chính ) dự kiến thời gian và dự kiến các biện pháp thực hiện Đây làmột khâu rất quan trọng, đòi hỏi người xây dựng kế hoạch phải thực sự là ngườinắm rõ về khả năng, năng lực hiện có của đơn vị mình Mặc dù đây là khâu cuốicùng của việc xây dựng kế hoạch nhưng trên thực tế, ngay từ đầu người quản lýxây dựng kế hoạch đã phải tính toán trước được khả năng, năng lực này để dựkiến được nội dung, chương trình và hình thức tổ chức thực sự phù hợp và đảmbảo tính khả thi của kế hoạch.
1.4.2.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch bồi dưỡng
- Tổ chức các hoạt động xây dựng chương trình, giáo trình và sưu tầm tàiliệu bồi dưỡng NVSP cho GVTH phù hợp với nội dung, chương trình, thời gian,hình thức đã dự kiến
- Dự kiến đội ngũ giảng viên tham gia giảng dạy
- Bố trí nhiệm vụ cho từng bộ phận, cá nhân có liên quan đến việc tổ chứcbồi dưỡng
- Xác định chức năng nhiệm vụ và cơ chế phối hợp trong các hoạt độngcủa quá trình bồi dưỡng đối với từng bộ phận, cá nhân
- Huy động và phân bổ nguồn lực vật chất cho các bộ phận và cá nhânthực hiện kế hoạch bồi dưỡng
1.4.2.3 Chỉ đạo thực hiện kế hoạch bồi dưỡng
Trong quá trình thực hiện kế hoạch đã được xây dựng, vấn đề chỉ đạothực hiện là vấn đề xuyên suốt quá trình, bắt đầu từ việc triển khai kế hoạch, xácđịnh chức năng, phân công nhiệm vụ, phân bố nguồn lực, vật lực và tiến hànhkiểm tra đánh giá kết quả hoạt động bồi dưỡng Chỉ đạo thực hiện kế hoạch baogồm các vấn đề sau:
- Hướng dẫn các công việc cho từng bộ phận và thông qua các bộ phậnđến với các cá nhân tham gia quản lý, giảng dạy và phục vụ
- Thực hiện phối hợp, liên kết giữa các hoạt động của từng bộ phận và củamỗi cá nhân trong việc thực hiện quá trình bồi dưỡng
- Đôn đốc, giám sát các hoạt động của từng bộ phận và cá nhân, đặc biệt
là việc thực hiện đúng tiến độ, nội dung và chương trình bồi dưỡng
Trang 37- Nắm bắt thường xuyên thông tin hai chiều để có những điều chỉnh kịpthời khi phát hiện ra những mâu thuẫn, bất cập trong việc thực hiện kế hoạch.
- Kịp thời uốn nắn những sai sót; động viên khuyến khích những gươngtiêu biểu, tích cực nhằm nhân rộng điển hình đảm bảo thực hiện có hiệu quả chấtlượng kế hoạch bồi dưỡng đã đề ra
1.4.2.4 Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch bồi dưỡng
Thực chất đây là một hoạt động trong lĩnh vực chỉ đạo thực hiện, xảy rathường xuyên và xuyên suốt quá trình chỉ đạo thực hiện kế hoạch bồi dưỡng Vìnếu chỉ đạo mà không có kiểm tra, đánh giá đúng thực chất có hiệu quả haykhông hoặc hiệu quả đến mức độ nào Muốn kiểm tra, đánh giá đúng thực chấtcủa các hoạt động bồi dưỡng phải tiến hành được các khâu sau đây:
- Tổ chức việc xây dựng chuẩn đánh giá cho từng hoạt động của các bộphận và cá nhân theo chức năng, nhiệm vụ cụ thể
- Tổ chức việc lựa chọn các phương thức đánh giá, tức là phương pháp vàcách thức đo đạc thành tích và so sánh với các mục tiêu quản lý
- Tiến hành các hoạt động đo đạc và đánh giá để nhận biết được hoạt độngtốt (đúng theo kế hoạch), hoạt động còn lệch lạc và những sai phạm lớn
- Đưa ra các quyết định để phát huy các hoạt động tốt, điều chỉnh các hoạtđộng chưa tốt và xữ lý các sai phạm
1.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công tác bồi dưỡng NVSP cho GVTH trường TCCN
1.4.3.1 Yếu tố khách quan
Các yếu tố khách quan tác động đến chất lượng công tác bồi dưỡng NVSPcho GVTH tập trung chủ yếu vào yếu tố nhu cầu xã hội về nguồn nhân lực vàyếu tố môi trường giáo dục ở trong nhà trường Hai yếu tố này sẽ là nguồn độnglực giúp cho các cấp lãnh đạo nhà trường và GVTH thúc đẩy việc tổ chức thamgia công tác bồi dưỡng NVSP Cụ thể:
- Khi nhu cầu xã hội và nhu cầu người học đòi hỏi ở GD - ĐT những sảnphẩm (HS) có đầy đủ phẩm chất, đạo đức người lao động và chất lượng tay nghềđáp ứng yêu cầu phát triển ngày càng cao của nền kinh tế - xã hội thì vấn đềcạnh tranh lành mạnh cũng xuất hiện ngay trong các tổ chức giáo dục Bên cạnh
đó, chủ trương xã hội hóa giáo dục sẽ làm cơ sở cho việc mở rộng hệ thống GD
Trang 38- ĐT trong cả nước, hệ thống giáo dục công lập cũng phải dần dần đi theo xuhướng tự chủ về mọi mặt, trong đó có tự chủ về kinh tế.
- Môi trường cạnh tranh lành mạnh trong hệ thống GD - ĐT cũng sẽ làm
cơ sở để tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh ngay trong chính GVTH của nhàtrường Người GVTH phải cố gắng để thể hiện vị trí vai trò và uy tín của mìnhtrong đội ngũ cán bộ, GV và ngay cả trước đối tượng giáo dục (HS) Môi trườnggiáo dục trong nhà trường càng tốt thì nhu cầu nâng cao trình độ giảng dạy vàgiáo dục của GVTH ngày càng cao
- Nâng cao chất lượng GVTH, trước tiên phải nâng cao được trình độNVSP Như vậy các yếu tố khách quan nói trên sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việcthúc đẩy các nhà trường tổ chức bồi dưỡng NVSP cho GVTH, đồng thời cũngtạo điều kiện thuận lợi về mặt động cơ cho GVTH tích cực và chủ động thamgia quá trình bồi dưỡng
1.4.3.2 Các yếu tố chủ quan
a Mục tiêu bồi dưỡng
Xác định được mục tiêu bồi dưỡng là yếu tố đầu tiên có tác dụng địnhhướng cho việc lựa chọn nội dung, phương pháp và hình thức phù hợp với việctiếp tục hình thành và phát triển trình độ NVSP của người GVTH và có thể điềukhiển, điều chỉnh quá trình dạy học và giáo dục đúng với yêu cầu đã đề ra Việcxác định đúng mục tiêu bồi dưỡng cũng làm cho GVTH ý thức được đầy đủ,chính xác nhiệm vụ, kích thích tính tích cực, tự giác tham gia hoạt động bồidưỡng, đồng thời cũng làm cơ sở cho việc định ra chuẩn đánh giá chất lượng củahoạt động bồi dưỡng Mục tiêu bồi dưỡng được cụ thể hóa vào mục tiêu ngành,nghề, môn học và các hoạt động giáo dục, dạy học Nó được thể hiện ở 3 mặt:
- Kiến thức sư phạm (nhớ, khả năng tái hiện, hiểu và vận dụng )
- Kỷ năng, kỷ xảo sư phạm (chung cho lao động trí óc, lao động chân tay
và tương ứng với kiến thức đã nêu trên )
- Thái độ sư phạm (tăng cường nhận thức giá trị nghề dạy học và địnhhướng giá trị trong công tác bồi dưỡng NVSP, phát huy tính năng động, tíchcực )
Trong điều kiện hội nhập và phát triển kinh tế - xã hội hiện nay mục tiêubồi dưỡng nên tập trung nhiều về mặt thái độ sư phạm Đây là lĩnh vực quan
Trang 39trọng để người GVTH tác động vào quá trình hình thành và phát triển yếu tố
“tâm lực” trong nhân cách HS, một yếu tố đang còn hạn chế trong nhân cánh ởmột số thanh niên trẻ hiện nay
b Đối tượng bồi dưỡng
Đối tượng bồi dưỡng (GVTH) là nhân tố quan trọng của quá trình bồidưỡng Ý thức của người GVTH khi tham gia hoạt động bồi dưỡng sẽ có ảnhhưởng lớn đến chất lượng của hoạt động Người quản lý nhà trường phải làmsao để người GVTH khi tham gia hoạt động bồi dưỡng thấy được sự cần thiếtphải nâng cao trình độ NVSP trước những thách thức của nhu cầu phát triển xãhội (đặc biệt là đối với lớp GV đã lớn tuổi, giảng dạy lâu năm thường có sức ỳlớn)
c Nội dung, chương trình bồi dưỡng
Nội dung, chương trình phản ánh mục tiêu bồi dưỡng Nội dung bồi
dưỡng phải được lựa chọn với thời lượng phù hợp với từng nhóm đối tượng vàtừng hoạt động cụ thể Khối lượng kiến thức của nội dung, chương trình bồidưỡng phải thực sự phản ánh được cái mới, cái hiện đại về cả lý luận và thựctiễn GD - ĐT hiện nay Ngoài các khóa bồi dưỡng được tổ chức chính quy, cóchương trình, nội dung cụ thể thì hoạt động bồi dưỡng mang tính ngoại khóaphải được thực hiện thường xuyên, lồng ghép vào các hoạt động dạy học và giáodục của nhà trường Hiện nay, xu thế đổi mới giáo dục trong đó có việc đổi mớichương trình, nội dung dạy học và giáo dục, điều này rất cần được quan tâmtrong nội dung, chương trình và hình thức bồi dưỡng NVSP
d Giáo trình và tài liệu bồi dưỡng
Để thực hiện tốt, có hiệu quả nội dung, chương trình bồi dưỡng thì côngtác chuẩn bị giáo trình và tài liệu học tập là khâu không thể thiếu được Giáotrình và tài liệu bồi dưỡng là yếu tố cụ thể hóa nội dung, chương trình Giáotrình và tài liệu bồi dưỡng giúp cho giảng viên thực hiện theo đúng kế hoạch vàgiúp cho người học (GVTH) có cơ sở để tự nghiên cứu, tự học và coi đó làchuẩn mực về kiến thức cần phải chiếm lĩnh Yêu cầu về giáo trình và tài liệubồi dưỡng như sau:
- Cụ thể hóa được các nội dung, chương trình chứa đựng được nội dungđào tạo
Trang 40- Đảm bảo tính đầy đủ các nội dung, kiến thức, kỹ năng và thái độ theoyêu cầu của xã hội đối với người học, đảm bảo tính logic của kiến thức, phát huyđược tư duy sáng tạo của người học.
- Đảm bảo tính kịp thời về giáo trình và tài liệu theo nhu cầu người học vàtheo yêu cầu tiến độ thực hiện chương trình đào tạo
- Các giáo trình, tài liệu bồi dưỡng đảm bảo các yêu cầu sạch đẹp, sángsủa, để tạo điều kiện thuận lợi trong việc nghiên cứu và lôi cuốn người học
e Giảng viên và phương pháp giảng dạy
Giảng viên tham gia giảng dạy ở các khoá bồi dưỡng NVSP là nhữngngười phối hợp với người học trong việc thực hiện đổi mới các phương pháp vàhình thức tổ chức thực hiện truyền đạt những kiến thức, hướng dẫn cho ngườihọc rèn luyện kỹ năng để thực hiện mục tiêu bồi dưỡng Mặt khác, cùng với nộidung chương trình, giáo trình và tài liệu bồi dưỡng thì phương pháp bồi dưỡngcũng là phương tiện để thực hiện mục tiêu bồi dưỡng Nếu trình độ tri thứcgiảng viên cao, kết hợp với các phương pháp bồi dưỡng phù hợp thì chất lượng
và hiệu quả bồi dưỡng được nâng cao
Giảng viên ở các khóa bồi dưỡng NVSP phải thực sự là những người cóđầy đủ năng lực thực hiện được cái mới về phương pháp ngay trong quá trìnhgiảng dạy của khoá bồi dưỡng Đội ngũ này phải biết cách phối hợp với ngườihọc trong việc đổi mới phương pháp Cùng với người học tổ chức các hình thứcgiao lưu, trao đổi thực tập, thực hành các phương pháp mới Tập trung phát huytính sáng tạo của học viên, gợi mở để học viên độc lập tư duy, chủ động nghiêncứu để tìm ra phương pháp tối ưu theo đặc điểm cụ thể của trường mình và thựchiện được mục tiêu bồi dưỡng đã đề ra
Yêu cầu đối với giảng viên và phương pháp giảng dạy trong các khoá bồidưỡng như sau:
- Giảng viên phải là người có trình độ chuyên ngành về các nghề màtrường đang đào tạo, có thâm niên và kinh nghiệm về giảng dạy lý thuyết vàhướng dẫn thực hành
- Giảng viên phải có trình độ ngoại ngữ, tin học để cập nhật kiến thức mới
và ứng dụng công nghệ thông tin trong đổi mới phương pháp giảng dạy