Ngoài những thành tựu về các phương diện đã đạt được, trong những năm qua, những bất cập về công tác GDĐĐ cho HS, chất lượng đạo đức của HS, trong đó có HS THPT, đang đặt ra cho các cấp
Trang 11 Lý do chọn đề tài
GD-ĐT được xem là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Để GD-ĐT phát triển thì một trong những nhân tố quan trọng nhất là con người GD-ĐT không những cung cấp tri thức, rèn luyện kỹ năng mà GD HS trở thành những con người có nhân cách, có đầy đủ các phẩm chất của một công dân Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu hoá Trong thời gian qua GD-ĐT đã có nhiều thành tựu nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, trong đó có vấn đề chất lượng GDĐĐ cho HS Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI cũng đã khẳng định điều đó “Tập trung nâng cao chất lượng GD-ĐT, coi trọng GDĐĐ, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp”
Có thể nói rằng HS là lớp người chịu nhiều ảnh hưởng tích cực cũng như tiêu cực của đời sống xã hội, của cơ chế thị trường và việc mở rộng hợp tác quốc tế Điều đó đặt ra vấn đề làm thế nào để những người “Chủ tương lai của đất nước” định hướng đúng đắn những giá trị đạo đức để họ hoàn thành được vai trò, nhiệm vụ của mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Để làm được điều đó, ngoài việc nâng cao năng lực chuyên môn (cái tài) còn cần phải chú trọng đến việc trau dồi phẩm chất đạo đức lối sống (cái đức) Điều đó chỉ có được khi gia đình, nhà trường và xã hội đặc biệt quan tâm chú trọng đến việc GD cách mạng cho thế hệ tương lai
Từ đó đã cho ta thấy đạo đức của một con người vô cùng quan trọng
như Bác Hồ đã nói “Có tài không có đức thì vô dụng, có đức mà không có tài
thì làm việc gì cũng khó” Hai mặt tài và đức thì Bác rất chú trọng đến đức
Nếu người tài giỏi đến đâu mà không có đức, không đưa cái tài giỏi phục vụ
Trang 2lợi ích chính đáng cho nhân dân thì người đó trở thành vô dụng Cho nên Bác
đã dạy: “Dạy cũng như học, phải chú ý đến cả tài lẫn đức Đức là đạo đức
cách mạng, đó là cái gốc quan trọng, nếu không có đạo đức cách mạng thì có tài cũng vô dụng” Từ xưa, ông bà ta cũng có câu tục ngữ răn dạy cách làm
người “Tiên học lễ, hậu học văn” Muốn làm người thì trước hết phải học lễ
nghĩa, phép tắc, sau đó mới học văn hóa, vì thế việc dạy đạo đức là công việc cho lên hàng đầu
Nghị quyết hội nghị trung ương 2 về GD khẳng định: “Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của GD là nhằm xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ tổ quốc, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức kỷ luật, có sức khỏe…”
Ở Việt Nam, khẩu hiệu của giáo dục, đào tạo là: Đào tạo ra những con
người vừa hồng vừa chuyên, hoặc: Đào tạo ra những con người có đủ tài đức,
hoặc: Mục tiêu giáo dục bao gồm các mặt đức, trí, thể, mỹ, lao động trong
đó, mục tiêu của Giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản
Xác định rõ mục tiêu giáo dục là một điều rất quan trọng và cần thiết
vì nó định hướng chiến lược đầu tư giáo dục, xây dựng nội dung chương trình, chọn lọc nội dung, xác định và chi phối toàn bộ công tác quản lý, điều hành các bậc học và toàn bộ phương pháp dạy và học
Trang 3
Tất nhiên, để thế hệ trẻ có được các kỹ năng và đạt được các mục tiêu giáo dục còn tùy thuộc nhiều vào các thành tố khác như: Sự đầu tư thực sự cho giáo dục, xác định đúng nội dung chương trình, đào tạo đội ngũ giáo viên, vận dụng các phương pháp giảng dạy tiên tiến, các quan điểm về đánh giá thi
cử, cơ sở hạ tầng của ngành giáo dục, trình độ và năng lực quản lý giáo dục Tất cả các thành tố đó đều cần được quan tâm giải quyết thỏa đáng
Đối với GD-ĐT huyện Châu Thành, tỉnh An Giang cũng tương tự Ngoài những thành tựu về các phương diện đã đạt được, trong những năm qua, những bất cập về công tác GDĐĐ cho HS, chất lượng đạo đức của HS, trong đó có HS THPT, đang đặt ra cho các cấp chính quyền, các nhà quản lý
GD, cho xã hội, những vấn đề cần phải giải quyết Từ thực tiễn trên, việc tìm kiếm các giải pháp quản lý để nâng cao chất lượng GDĐĐ ở trường THPT trên địa bàn huyện Châu Thành có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao
chất lượng GD toàn diện hiện nay Vì vậy chúng tôi chọn đề tài “Một số giải
pháp quản lý công tác GDĐĐ cho HS THPT huyện Châu Thành, tỉnh An Giang”.
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý GDĐĐ HS các trường THPT huyện Châu Thành, từ đó đề xuất một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng công tác GDĐĐ cho HS THPT huyện Châu Thành, tỉnh An Giang
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Quản lý GDĐĐ cho HS ở các trường
THPT
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Một số giải pháp quản lý công tác GDĐĐ
cho HS THPT huyện Châu Thành, tỉnh An Giang
4 Giả thuyết khoa học
Trang 4Công tác GDĐĐ cho HS THPT có vai trò hết sức quan trọng trong việc hình thành nhân cách HS Nếu tổ chức thực hiện tốt các giải pháp quản lý công tác GDĐĐ cho HS ở các trường THPT huyện Châu Thành theo như đề tài nghiên cứu thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng GD trên đia bàn huyện.
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Tìm hiểu cơ sở lý luận các vấn đề quản lý hoạt động GDĐĐ cho
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận: Đọc tài liệu, tổng hợp, phân loại tài liệu, nghiên cứu tài liệu đề cập đến vấn đề GDĐĐ, hoạt động GDĐĐ cho
HS trong trường THPT Nghiên cứu các tri thức khoa học, các Văn kiện Đại hội Đảng, các tài liệu về GD, quản lý GD, tham khảo ý kiến chuyên gia nhằm xác đinh cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, điều tra, khảo sát thực tiễn, tổng kết kinh nghiệm, xử lý số liệu thu thập lấy ý kiến của chuyên gia để xây dựng cơ sở thực tiễn của đề tài
7 Đóng góp của luận văn
7.1 Luận văn góp phần làm sáng tỏ về mặt lý luận về quản lý GDĐĐ cho HS THPT
7.2 Chỉ ra được thực trạng chất lượng GDĐĐ cho HS trường THPT huyện Châu Thành, tỉnh An Giang
7.3 Đề xuất được một số giải pháp cụ thể trong quản lý, nhằm nâng cao chất lượng GDĐĐ cho HS THPT huyện Châu Thành, tỉnh An Giang
Trang 58 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và kiến nghị, phần nội dung của đề tài gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý công tác GDĐĐ cho HS THPT
huyện Châu Thành, tỉnh An Giang
Chương 2 Thực trạng quản lý công tác GDĐĐ cho HS THPT huyện
Châu Thành, tỉnh An Giang
Chương 3 Một số giải pháp quản lý công tác GDĐĐ cho HS THPT
huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
Trang 6CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Đạo đức là sản phẩm tổng hợp của các yếu tố khách quan và chủ quan
là sản phẩm của hoạt động thực tiễn và nhận thức của con người Những quan
hệ giữa người - người, giữa cá nhân - xã hội càng có ý thức, tự giác, ý nghĩa
và hiệu quả của chúng càng có tính chất xã hội rộng lớn thì hoạt động của con người càng có đạo đức Đạo đức “Là một sản phẩm xã hội và vẫn là như vậy chừng nào con người còn tồn tại”
Vấn đề đạo đức và GDĐĐ từ lâu đã được nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu
Arixtốt - nhà Triết học Hy Lạp cổ đại đã để lại cho chúng ta nhiều quyển sách, trong đó chứa đựng nhiều vấn đề về đạo đức Rồi Epiquya, Xôcrát đã có những đóng góp to lớn trong lĩnh vực này
Trước đây ở Liên Xô, vấn đề đạo đức, nhân cách đã được các nhà nghiên cứu Xô Viết hết sức quan tâm A.F.Shishkin đã viết; "Nguyên lý đạo đức học mác xít" Chúng ta có thể coi đây là cuốn "giáo khoa" về đạo đức học Ở đó, ông đặc biệt nhấn mạnh vai trò của đạo đức, coi "những phẩm chất đạo đức chính là điều cốt yếu nhất ở con người, ở tính cách của nó" Kế tục và phát triển những quan điểm của A.F.Shishikin, G.Bandzeladze đã có công trình "Đạo đức học" (2 tập) Trong bộ sách này, G.Bandzeladze đã nghiên cứu
và làm rõ những vấn đề của khoa học đạo đức, như: Đạo đức là gì; đạo đức phát sinh, phát triển ra sao, nội dung những phạm trù đạo đức học là gì v.v
Trang 7Ở Phương Đông, từ thời cổ đại, Khổng Tử (551- 479 – TCN) trong bộ ngũ kinh có “Thư, thi, lễ, dịch, xuân thu” rất xem trọng đạo đức
Ở Phương Tây, nhà triết học Socrát (470-399-TCN) cho rằng đạo đức
và sự hiểu biết quy định lẫn nhau, con người có được đạo đức là nhờ sự hiểu biết và chỉ sau khi có sự hiểu biết mới trở thành đạo đức
Aristoste (384-322-TCN) cho rằng không phải hy vọng vào Thượng đế
để áp đặt con người hoàn thiện về đạo đức mà việc phát hiện nhu cầu trên trái đất mới tạo nên được con người hoàn thiện trong quan hệ đạo đức
Các nhà triết học – thần học coi con người và xã hội chẳng qua chỉ là những hình thái biểu hiện cụ thể khác nhau của một đấng siêu nhiên nào đó Những chuẩn mực đạo đức, do vậy là những chuẩn mực do thần thánh tạo ra
để răn dạy con người Mọi biểu hiện đạo đức của con người do vậy đều là sự thể hiện cái thiện tối cao từ đấng siêu nhiên; và tiêu chuẩn tối cao để thẩm định thiện – ác chính là sự phán xét của đấng siêu nhiên đó
Những nhà duy tâm khách quan tiêu biểu như Platon, sau là Hêghen tuy không mượn tới thần linh, nhưng lại nhờ tới “ý niệm” hoặc “ý niệm tuyệt đối”
về các lý giải nguồn gốc và bản chất của đạo đức
Những nhà duy tâm chủ quan nhìn nhận đạo đức như những năng lực
“tiên thiên” của lý trí con người Ý chí đạo đức hay là “thiện ý” theo cách gọi của Cantơ là một năng lực có tính chất nhất thành bất biến, có trước kinh nghiệm, nghĩa là có trước và độc lập với những hoạt động mang tính xã hội của con người
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước
Ở nước ta, Bác Hồ là người quan tâm nhiều nhất đến công tác GDĐĐ cho mọi người Hồ Chí Minh xem đạo đức là cái gốc của nhân cách, Bác viết:
“Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây
phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người Cách mạng phải có đạo đức,
Trang 8không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân.
….” Hay trong tác phẩm “Cần, kiệm, liêm, chính” của Bác vào tháng 6 năm
1949 đã viết:
Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông
Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc
Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính
Thiếu một mùa, thì không thành trời
Thiếu một phương, thì không thành đất
Thiếu một đức, thì không thành người
Còn đối với thế hệ trẻ, phải đào tạo thế hệ trẻ thành những người thừa
kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên” Điều đó cho thấy, đạo đức và tài năng là hai nội dung không thể thiếu được trong bồi dưỡng
GD, trong đó đạo đức là yếu tố gốc
Và gần đây Bộ GD-ĐT đã đưa ra Chỉ thị số 2516/BGD&ĐT ngày 18/05/2007 về việc thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong ngành GD
Có thể nói, vấn đề đạo đức và GDĐĐ cho HS từ lâu đã được quan tâm
và trong giai đoạn hiện nay, vấn đề lại càng phải được quan tâm nhiều hơn nữa Để quản lý GDĐĐ cho HS THPT trong thời kỳ đổi mới đã có một số nhà khoa học nghiên cứu về quản lý công tác GDĐĐ
Trong những năm qua nhiều giáo trình đạo đức được biên soạn khá công phu như giáo trình của Trần Hậu Khiêm (NXB Chính trị quốc gia, 1997); Phạm Khắc Chương – Hà Nhật Thăng (NXB GD, 2001); Giáo trình đạo đức học (GS.TS Nguyễn Ngọc Long chủ biên, NXB Chính trị quốc gia, 2000)…
Trang 9Vấn đề GDĐĐ cũng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu: Hoạt động ngoài giờ lên lớp của các khối 10, 11, 12 của nhiều tác giả, NXB GD; GD giá trị truyền thống cho HS, sinh viên.
- Nguyễn Văn Trung với đề tài luận văn thạc sỹ khoa học GD: “Công tác quản lý của HT trong việc tổ chức GDĐĐ cho HS ở các trường THPT huyện Châu Thành, Đồng Tháp ”, năm 2006
- Lê Quang Tuấn với đề tài luận văn thạc sỹ khoa học GD: “Một số giải pháp công tác quản lý GDĐĐ cho HS ở các trường THPT huyện Cẩm Xuyên – Hà Tĩnh ” năm 2008
- Một vài quan điểm đổi mới hoạt động GDĐĐ của người GVCN bậc THCS (Lê Trung Tấn- Nguyễn Dục Quang, 1994)
- Một số biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS ở trường THPT An Lão – Hải Phòng – 2003
- Một số biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS ở trường THPT Thái phiên – Thành Phố Hải Phòng – 2001
- Một số biện pháp quản lý của HT nhằm nâng cao chất lượng GDĐĐ cho
GD toàn diện cho địa phương, cho quê hương Châu Thành
Trang 101.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Đạo đức
Có nhiều quan điểm khác nhau về đạo đức
Theo Từ điển Triết học, đạo đức là “Một trong những hình thái ý thức
xã hội, phản ánh sự tồn tại về mặt tinh thần của cá nhân, một trong những đòn bẩy tinh thần cho quá trình phát triển xã hội” Về nghĩa hẹp, đạo đức là sản phẩm của quá trình lịch sử, xã hội thể hiện qua sự nhận thức và quyền tự do của con người” [32, tr 290,291]
Theo Từ điển chính tả Tiếng Việt, đạo đức có hai nghĩa, đạo đức là những tiêu chuẩn, những nguyên tắc được xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội (nghĩa tổng quát) Đạo đức là phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng theo những tiêu chuẩn đạo đức mà có (nghĩa hẹp) [26, tr 290]
PGS.TS Trần Hậu Kiêm quan niệm: “Đạo đức là tổng hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình vì lợi ích xã hội, hạnh phúc của con người trong mối quan hệ giữa con người và con người, giữa cá nhân và tập thể hay toàn xã hội” [19, tr 3]
PGS.TS Phạm Khắc Chương cho rằng: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và tiến bộ xã hội trong quan hệ xã hội giữa con người với con người, giữa cá nhân và xã hội”
- Tác giả Nguyễn Ngọc Long cho rằng: “Đạo đức là một trong những hình thái ý thức xã hội, là hệ thống các quan niệm về cái thiện, cái ác trong các mối quan hệ của con người, thực hiện chức năng điều chỉnh hành vi của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội” [22, tr 8] Thật vậy:
Trang 11- Đạo đức nảy sinh từ nhu cầu của xã hội điều hòa và thống nhất các mâu thuẫn giữa lợi ích chung và lợi ích riêng nhằm đảm bảo trật tự xã hội và khả năng phát triển của xã hội và cá nhân.
- Với tư cách là một lĩnh vực ý thức xã hội, đạo đức bao gồm tri thức
về các khái niệm, chuẩn mực và phẩm chất đạo đức, nguyên tắc đạo đức, các xúc cảm và tình cảm đạo đức, đánh giá đạo đức Với tư cách là một mặt của hoạt động xã hội, đạo đức bao gồm các hành vi, thói quen đạo đức Với tư cách là một hình thái quan hệ xã hội, đạo đức bao gồm các quan hệ đạo đức, biểu hiện trong hiện thực giao lưu giữa cá nhân-cá nhân, cá nhân-tập thể
- Đạo đức tồn tại xen kẻ trong mọi lĩnh vực ý thức xã hội, trong mọi hoạt động xã hội, mọi loại quan hệ xã hội, nó luôn tồn tại và phát triển cùng với đời sống xã hội Đạo đức mang tính lịch sử, tính giai cấp
Như vậy, đạo đức là một phạm trù phản ánh hiện thực khách quan bằng
hệ thống các chuẩn mực xã hội, các qui tắc điều chỉnh sự ứng xử của con người trong tất cả các mối quan hệ xã hội, trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội
Cũng có thể nói: Đạo đức hiểu theo nghĩa chung nhất, là một hình thái
ý thức xã hội, bao gồm những nguyên tắc, chuẩn mực, định hướng giá trị được xã hội thừa nhận, có tác dụng chi phối, điều chỉnh hành vi của con người trong quan hệ với người khác và toàn xã hội [2, tr 9]
Các tác giả trên tuy có cách lý luận khác nhau về khái niệm đạo đức, tuy nhiên về mặt tổng quát, các ý kiến trên đều có những điểm cơ bản thống nhất nhau về các vấn đề sau: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội, phản ánh hiện thực đời sống đạo đức xã hội Đạo đức là một phương thức điều chỉnh hành vi của con người, giúp con người ngày càng hoàn thiện hơn, thúc đẩy xã hội ngày càng phát triển
Trang 12- Đạo đức là một hệ thống các giá trị, các quy tắc, chuẩn mực mà mọi người phải tuân theo trong quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân và
xã hội Đạo đức là một hiện tượng xã hội, mang tính chuẩn mực: mệnh lệnh, đánh giá rõ rệt Sự hình thành phát triển và hoàn thiện hệ thống giá trị đạo đức không tách rời sự phát triển và hoàn thiện của ư thức đạo đức và sự điều chỉnh đạo đức Nếu hệ thống giá trị đạo đức phù hợp với sự phát triển, tiến bộ, thì
hệ thống ấy có tính tích cực, mang tính nhân đạo Ngược lại, nếu hệ thống ấy mang tính tiêu cực, phản động, phản nhân đạo
Qua đây cho thấy, với các lý luận trên chúng ta có thể hiểu một cách tổng quát, đạo đức là một hình thức ý thức xã hội Nó là một hệ thống các quy tắc, chuẩn mực, nguyên tắc xã hội về cái chân - thiện - mỹ và cái ác nhằm điều chỉnh mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với xã hội
1.2.2 Giáo dục đạo đức
GDĐĐ cho HS là một quá trình lâu dài, liên tục về thời gian, rộng khắp
về không gian, từ mọi lực lượng xã hội Trong đó, nhà trường giữ vai trò rất quan trọng GDĐĐ trong nhà trường THPT là một quá trình GD bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể Nó có quan hệ biện chứng với các quá trình GD
bộ phận khác như: GD trí tuệ, GD thẩm mỹ, GD thể chất, GD lao động, GD hướng nghiệp
GDĐĐ cho HS là quá trình hình thành và phát triển các phẩm chất đạo đức của nhân cách HS dưới những tác động và ảnh hưởng có mục đích được
tổ chức có kế hoạch, có sự lựa chọn về nội dung, Phương pháp và hình thức
GD phù hợp với lứa tuổi và với vai trò chủ đạo của nhà GD Từ đó, giúp HS
có những hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ giữa cá nhân với
cá nhân, với cộng đồng - xã hội, với lao động, với tự nhiên Bản chất của GDĐĐ là chuỗi tác động có định hướng của chủ thể GD và yếu tố tự GD của
HS, giúp HS chuyển những chuẩn mực, quy tắc, nguyên tắc đạo đức từ bên
Trang 13ngoài xã hội vào bên trong thành cái của riêng mình mà mục tiêu cuối cùng là hành vi đạo đức phù hợp với những yêu cầu của các chuẩn mực xã hội GDĐĐ không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ những khái niệm, những tri thức đạo đức, mà quan trọng hơn hết là kết quả GD phải được thể hiện qua tình cảm, niềm tin, hành động thực tế của HS.
Như vậy, GDĐĐ là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, có tổ
chức của nhà GD và yếu tố tự GD của người học để trang bị cho HS tri thức,
ý thức đạo đức, niềm tin, tình cảm đạo đức và quan trọng nhất là hình thành
ở các em hành vi, thói quen đạo đức phù hợp với các chuẩn mực xã hội Hay nói một cách khác, GDĐĐ là một quá trình sư phạm được tổ chức một cách
có mục đích, có kế hoạch nhằm hình thành và phát triển ở HS ý thức, tình cảm, hành vi và thói quen đạo đức.
1.2.3 Quản lý GD và quản lý nhà trường
1.2.3.1 Quản lý
Quản lý đã xuất hiện và được áp dụng rất sớm của cuộc sống cộng đồng, khi con người làm việc theo nhóm để thực hiện những mục tiêu nhất định Cho đến nay, có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm quản lý
Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng từ quản lý có gốc Hán, lột tả được bản chất của vấn đề chính, đó là hoạt động chăm sóc, giữ gìn và sửa sang, sắp xếp để cho cộng đồng theo sự phân cong hợp tác lao động được ổn định và phát triển
Tác giả Trần Kiểm định nghĩa: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức với hiệu quả cao nhất
Tác giả Nguyễn Minh Đạo cho rằng: “Quản lý là sự tác động liên tục,
có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, người tổ chức quản lý)
Trang 14lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, xã hội, văn hóa, kinh tế… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp, các biện pháp cụ thể, nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho
sự phát triển của đối tượng”
Tác giả Thái Văn Thành cho rằng: “Quản lý một hệ thống xã hội là sự tác động có mục đích đến tập thể người-thành viên của hệ, nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt tới mục đích dự kiến Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó”
Tuy các cách định nghĩa trên có khác nhau, nhưng tựu trung các tác giả đều xoay quanh các yếu tố của nội hàm quản lý: Ai quản lý (chủ thể quản lý); quản lý ai hoặc quản lý cái gì (khách thể); quản lý bằng cách nào (phương thức, công cụ); nhằm để làm cái gì (mục tiêu)
Như vậy, chúng ta có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có mục đích, có
kế hoạch của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu
đề ra
1.2.3.2 Quản lý GD
Từ khi hoạt động GD ra đời, tất yếu kéo theo sự xuất hiện của QLGD Theo lý luận của PGS.TS Đặng Quốc Bảo: QLGD theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội Ngày nay, với sứ mệnh phát triển GD thường xuyên, công tác GD không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà còn cho mọi người Tuy nhiên, trọng tâm vẫn là GD thế hệ trẻ cho nên QLGD được hiểu là sự điều hành của hệ thống GD quốc dân, các trường trong hệ thống GD quốc dân” [3, tr 124]
Trang 15PGS.TS Trần Kiểm chia QLGD thành hai cấp độ: Quản lý vĩ mô và quản lý vi mô QLGD cấp vĩ mô là quản lý nền GD hoặc hệ thống GD; quản
lý GD cấp vi mô là quản lý nhà trường [20, tr 36]
- Đối với cấp vĩ mô:
Quản lý GD được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức,
có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắc xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở GD là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển GD-đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành GD
- Đối với cấp vi mô:
Quản lý GD được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức,
có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống , hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể GV, công NV, tập thể HS, CMHS và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu GD của nhà trường
Quản lý GD nằm trong quản lý văn hóa - tinh thần
Quản lý hệ thống GD có thể xác định là tác động của hệ thống có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp độ khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ Bộ đến trường) nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của quá trình GD, của
sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em [11, tr 3]
Từ các định nghĩa trên, dù ở cấp vĩ mô hay vi mô ta thấy, quản lý có các yếu tố: chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, khách thể quản lý, mục tiêu quản lý Vì vậy, chúng ta có thể hiểu một cách tổng quát, QLGD là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống GD đạt được mục tiêu quản lý đã đề ra
Trang 16ra [15, tr 3].
Như vậy, quản lý nhà trường bao gồm quản lý nhiều hoạt động:
- Quản lý đội ngũ CB-GV-NV và HS; Quản lý nội dung, chương trình, phương pháp dạy học; Quản lý hoạt động GDĐĐ; Quản lý hoạt động xã hội, đoàn thể; Quản lý cơ sở vật chất-thiết bị GD của nhà trường; Quản lý tài chính, hành chính trường học, quản lý mối quan hệ giữa nhà trường và xã hội
Mục tiêu cao nhất của quản lý nhà trường là từng bước nâng cao chất lượng GD toàn diện cho HS, đáp ứng yêu cầu đổi mới quản lý GD và sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa của đất nước
1.2.4 Nội dung quản lý công tác GDĐĐ
Quản lý GDĐĐ là một quá trình chỉ đạo, điều hành công tác GDĐĐ của chủ thể GD tác động đến đối tượng GD để hình thành những phẩm chất đạo đức
Trang 17của HS, đảm bảo quá trình GDĐĐ đúng hướng, phù hợp với chuẩn mực, quy tắc đạo đức được xã hội thừa nhận.
Quản lý GDĐĐ cho HS còn là quá trình huy động các lực lượng GD, các điều kiện, các phương tiện GD; phối hợp với các môi trường GD, giúp HS
có tri thức đạo đức, tình cảm đạo đức và hình thành hành vi đạo đức phù hợp với yêu cầu của xã hội
Nói một cách tổng quát, quản lý GDĐĐ là quản lý mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức, phương tiện GDĐĐ, đảm bảo quá trình GDĐĐ được tiến hành một cách khoa học, đồng bộ, phù hợp với những quy tắc, chuẩn mực xã hội, góp phần hình thành nhân cách toàn diện cho HS
Quản lý GDĐĐ trong nhà trường phổ thông, đó là quá trình tác động của HT lên tất cả các thành tố tham gia vào quá trình GDĐĐ cho HS Mục đích của quá trình này là hình thành ở các em những tri thức, tình cảm, niềm tin đạo đức, hình thành thiện chí, nghị lực và thói quen đạo đức Đó chính là
hệ thống phẩm chất và năng lực, là toàn bộ nhân cách của HS Để đạt được mục đích đó công tác GDĐĐ phải hướng tới mọi lực lượng tham gia vào quá trình GD có nhận thức đúng đắn vế tầm quan trọng đặc biệt của công tác này
1.2.5 Giải pháp quản lý GD
Giải pháp quản lý GD là loại giải pháp hành chính nhằm giải quyết một vấn đề nào đó trong công tác quản lý GD, để chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý theo mục tiêu đào tạo của nhà trường
Như vậy, giải pháp quản lý GDĐĐ cũng là giải pháp quản lý GD nhưng nó hướng vào một đối tượng, hoạt động cụ thể chính là công tác GDĐĐ cho HS trong nhà trường Hoạt động này cần phải thực hiện nghiêm túc từ khâu lập kế hoạch, triển khai thực hiện, giám sát thực hiện cho đến công đoạn kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện như thế nào
Trang 181.3 Một số vấn đề về GDĐĐ cho HS
1.3.1 Một số đặc điểm tâm lý của HS
Tuổi của HS THPT có độ tuổi từ 15, 16 đến 18 tuổi Đây là thời kỳ chuyển từ tuổi thơ ấu sang tuổi trưởng thành Trong thời kỳ này, các em có sự phát triển mạnh mẽ, thiếu cân đối về cơ thể, sự phát dục và sự hình thành những phẩm chất mới về các mặt trí tuệ, đạo đức Do đó, trong mỗi hoạt động các em có những đặc điểm nhân cách chủ yếu của lứa tuổi HS THPT là:
- Sự phát triển của ý thức: Đây là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách của thanh niên mới lớn nó có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của tâm lý của tuổi thanh niên Sự hình thành tự ý thức là một quá trình lâu dài, trải qua nhiều mức độ khác nhau Ở tuổi thanh niên quá trình phát triển tự ý thức diễn ra mạnh mẽ sôi nổi, và tính cách đặc thù riêng: Thanh niên có nhu cầu tìm hiểu và đánh giá những đặc điểm tâm lý của mình theo quan điểm về mục đích cuộc sống và hoài bão của mình Đặc điểm quan trọng trong sự tự ý thức của thanh niên là, sự tự ý thức của họ xuất phát từ yêu cầu của cuộc sống và hoạt động Nội dung của tự ý thức cũng khá phức tạp Các
em không chỉ nhận thức về cái tôi của mình trong hiện tại như thiếu niên mà còn nhận thức về vị trí của mình trong xã hội, trong tương lai Thanh niên không chỉ đánh giá những cử chỉ hành vi riêng lẻ, từng thuộc tính riêng biệt
mà còn biết đánh giá nhân cách của mình nói chung trong toàn bộ thuộc tính nhân cách Thanh niên không chỉ có nhu cầu đánh giá, mà còn có khả năng đánh giá sâu sắc và tốt hơn thiếu niên về những phẩm chất, mặt mạnh, mặt yếu của những người cùng sống và của chính mình Chúng ta phải thừa nhận
là thanh niên mới lớn có thể sai lầm khi tự đánh giá Do vậy, khi sự tự đánh giá đã được suy nghĩ thận trọng thì dù có sai lầm thì chúng ta cũng phải có thái độ nghiêm túc khi nghe các em phát biểu, không được chế giễu ý kiến tự
Trang 19đánh giá của họ Cần phải giúp đỡ thanh niên một cách khóe léo để họ hình thành một biểu tượng khách quan về nhân cách của mình.
- Sự hình thành thế giới quan: Tuổi thanh niên mới lớn là lứa tuổi quyết định của sự hình thành thế giới quan, hệ thống quan điểm về xã hội, về tự nhiên, về nguyên tắc và về quy tắc cư xử Sự hình thành thế giới quan là nét chủ yếu trong sự phát triển tâm lý của tuổi thanh niên HS Chỉ số đầu tiên của
sự hình thành thế giới quan là sự phát triển của hứng thú nhận thức đối với những vấn đề thuộc nguyên tắc chung nhất của vũ trụ Những quy luật phổ biến của tự nhiên xã hội và của sự tồn tại xã hội loài người Việc hình thành thế giới quan không chỉ giới hạn ở tính tích cực nhận thức, mà còn thể hiện ở phạm vi nội dung nữa Các em quan tâm nhiều nhất đến các vấn đề liên quan đến con người, vai trò của con người trong lịch sử, quan hệ giữa con người và
xã hội, quyền lợi và nghĩa vụ, nghĩa vụ và tình cảm
Tuy vậy, một bộ phận thanh niên chưa được GD đầy đủ về thế giới quan Thế giới quan của họ còn chịu nhiều ảnh hưởng của tàn dư tiêu cực của quá khứ (Say mê những sản phẩm nghệ thuật “Không lành mạnh”, đánh giá quá cao cuộc sống hưởng thụ ) hoặc một bộ phận khác chưa chú ý đến vấn
đề xây dựng thế giới quan sống thụ động
- Hoạt động giao tiếp: Tuổi thanh niên mới lớn là lứa tuổi mang tính tập thể nhiều nhất Điều quan trọng đối với các em là được sinh hoạt với các bạn
bè cùng lứa tuổi, là cảm thấy mình cần cho nhóm, có uy tín và có vị trí nhất định trong nhóm Ở tuổi này, quan hệ với bạn bè chiếm vị trí lớn hơn hẳn so với quan hệ với người lớn tuổi hoặc ít tuổi hơn Điều này do lòng khát khao muốn có vị trí bình đẳng trong cuộc sống chi phối Cùng với sự trưởng thành nhiều mặt quan hệ dựa dẫm phụ thuộc vào cha mẹ dần dần cũng thay thế bằng quan hệ bình đẳng tự lập Sự mở rộng phạm vi giao tiếp và sự phức tạp hóa hoạt động riêng của thanh niên HS khiến cho số lượng nhóm quy chiếu của
Trang 20các em tăng lên rõ rệt Việc các em tham gia vào nhóm sẽ dẫn đến sự khác nhau nhất định và có thể có xung đột về vai trò nếu cá nhân phải lựa chọn giữa các vai trò khác nhau giữa các nhóm.
Trong công tác GD cần chú ý đến ảnh hưởng của nhóm, hội tự phát ngoài nhà trường Nhà trường không thể tự quán xuyến toàn bộ cuộc sống của thế hệ đang trưởng thành Ta cũng không thể loại trừ được các nhóm tự phát
và các đặc tính của chúng Nhưng có thể tránh được hậu quả xấu của nhóm tự phát bằng cách tổ chức hoạt động của các tập thể (Nhóm chính thức) thật phong phú sinh động khiến cho các hoạt động đó phát huy được tính tích cực của thanh niên mới lớn Vì vậy tổ chức ĐTN có vai trò đặc biệt quan trọng
- Đời sống tình cảm: Đời sống tình cảm của lứa tuổi HS THPT rất phong phú và nhiều vẻ Đặc điểm đó được thể hiện rõ nhất trong tình bạn của các em, vì đây là lứa tuổi mà những hình thức đối xử có lựa chọn đối với mọi người trở nên sâu sắc và mặn nồng Trong quan hệ với các bạn các em rất nhạy cảm, không chỉ có khả năng xúc cảm thân tình, mà còn có khả năng đáp ứng lại xúc cảm của người khác (Đồng cảm) Tình bạn của thanh niên mới lớn rất bền vững Tình bạn ở tuổi này có thể vượt được mọi thử thách và có thể kéo dài suốt cuộc đời Ở thanh niên mới lớn, sự khác biệt giữa các cá nhân trong tình bạn rất rõ Quan niệm của thanh niên về tình bạn và mức độ thân tình trong tình bạn có sự khác nhau
1.3.2 Ý nghĩa và nhiệm vụ của GDĐĐ cho HS
1.3.2.1 Ý nghĩa của GDĐĐ cho HS
GDĐĐ cho HS THPT là nhằm củng cố và tiếp nối GDĐĐ của cấp THCS Công tác này, được thực hiện thường xuyên và lâu dài trong mọi tình huống chứ không phải chỉ thực hiện khi có tình hình phức tạp hoặc có những
Trang 21đòi hỏi cấp bách, nhằm để hình thành nhân cách của các em theo lý tưởng xã hội chủ nghĩa phù hợp với tiến trình lịch sử cách mạng của dân tộc.
1.3.2.2 Nhiệm vụ của GDĐĐ cho HS
Với tầm quan trọng và ý nghĩa như trên nên việc GDĐĐ có những nhiệm vụ như sau:
- GD ý thức đạo đức: Nhằm hình thành ở HS một hệ thống các tri thức
đạo đức mà các em cần phải có Cụ thể:
+ Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, phẩm chất và tấm gương đạo đức của Người Từ đó giúp HS học tập và làm theo tấm gương của Người, niềm tin và lý tưởng sống của thanh niên, giúp HS xác định đúng đắn động cơ học tập và rèn luyện đạo đức, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, qui chế Ngành, nội qui nhà trường
+ Hệ thống các khái niệm cơ bản của phạm trù đạo đức XHCN: cái tốt, cái xấu, cái thiện, cái ác
+ Hệ thống các chuẩn mực đạo đức được quy định cho HS
+ Cách ứng xử trong các tình huống khác nhau phù hợp với các chuẩn mực đạo đức đã quy định
- GD thái độ và tình cảm đạo đức: GD tình cảm đạo đức cho HS là
thức tỉnh ở họ những rung động trái tim với hiện thực xung quanh, làm cho họ biết yêu, biết ghét rõ ràng, không vô cảm, có thái độ đúng đắn với các hiện tượng trong đời sống xã hội và tập thể
- GD hành vi và thói quen đạo đức: Mục đích cuối cùng của GDĐĐ là
hình thành hành vi đạo đức trong cuộc sống hằng ngày của trẻ Hành vi đạo đức được thực hiện bởi sự chỉ đạo của ý thức và sự thôi thúc của tình cảm mới là hành vi đích thực, mới trở thành thói quen thành thuộc tính của con người Hành vi, đặc biệt là thói quen hành vi chỉ có thể hình thành thông qua
Trang 22tập luyện Trong cuộc sống sinh hoạt, cần GD cho các em hành vi có văn hóa, tức là hành vi đó chẳng những đúng về mặt đạo đức mà còn đẹp về thẫm mỹ.
1.3.3 Nội dung GDĐĐ cho HS
Ngoài việc GD thế giới quan khoa học, tư tưởng chính trị, pháp luật cho HS, GDĐĐ trong nhà trường còn phải hướng đến GD cho HS cách ứng
xử có văn hóa trong các mối quan hệ, cụ thể:
- GD quan hệ cá nhân của HS đối với xã hội như: GD lòng yêu hương đất nước, yêu Chủ nghĩa xã hội, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ Tổ quốc GD niềm tự hào về truyền thống anh hùng của dân tộc, GD lòng tôn trọng, giữ gìn các di sản văn hóa của dân tộc, có thái độ tiến bộ đối với các giá trị truyền thống và tinh thần quốc tế vô sản Biết ơn các vị tiền liệt có công dựng nước
và giữ nước, GD lòng tin yêu Đảng Cộng sản Việt Nam và kính yêu Bác Hồ
- GD quan hệ cá nhân của HS đối với lao động: GD HS có thái độ đúng đắn đối với lao động, biết yêu thích lao động, chăm chỉ học tập, say mê khoa học, biết quý trọng người lao động dù lao động chân tay hay lao động trí óc
- GD quan hệ cá nhân HS đối với tài sản xã hội, di sản văn hóa và thiên nhiên: GD yêu cầu bản thân các em phải có ý thức giữ gìn, tiết kiệm, bảo vệ của công, không xâm phạm tài sản chung và của cải riêng của người khác Biết bảo vệ môi trường tự nhiên nơi cư trú, học tập và nơi công cộng
- GD quan hệ cá nhân của HS đối với mọi người xung quanh: GD các em biết kính trọng ông bà, cha mẹ, anh chị và những người lớn tuổi; Biết kính trọng,
lễ phép, lòng biết ơn đối với Thầy Cô giáo và những người dạy dỗ mình Đối với
em nhỏ phải có sự cảm thông, nhường nhịn, giúp đỡ, vị tha GD tình bạn chân thành, tình yêu chân chính, dựa trên sự cảm thông, hết sức tôn trọng và có cùng mục đích lý tưởng chung Có tinh thần khiêm tốn, luôn lắng nghe và biết học hỏi
GD tính thông cảm, đoàn kết tương trợ, tôn trọng lợi ích và ý chí tập thể
Trang 23- GD quan hệ cá nhân đối với bản thân: Phải luôn tự nghiêm khắc đối với bản thân mình khi có sự sai phạm; bản thân có đức tính khiêm tốn, thật thà, có tính kỷ luật, có ý chí, có nghị lực, có tinh thần dũng cảm, lạc quan yêu đời…
- GD cho HS có tính nhân văn, biết cảm thụ với cái đẹp, biết bảo vệ hòa bình, sống thân thiện với môi trường,…
1.3.4 Phương pháp GDĐĐ cho HS
Phương pháp GDĐĐ trong nhà trường là cách thức hoạt động gắn bó với nhau của người GD và người được GD, nhằm hình thành và phát triển nhân cách, phẩm chất theo mục tiêu GD
Phương pháp GDĐĐ là một thành tố quan trọng và tác động trực tiếp đến kết quả của quá trình GDĐĐ cho HS Có các nhóm phương pháp cơ bản sau đây:
- Nhóm phương pháp tác động đến ý thức, tình cảm, ý chí: Nhóm
phương pháp này nhằm hình thành ý thức cá nhân cho HS, nhằm cung cấp cho HS những tri thức về đạo đức Đó là những chuẩn mực, những quy tắc, cách ứng xử giao tiếp, thái độ hành vi đối với con người, tự nhiên, xã hội về cái đúng-cái sai; Cái tốt-cái xấu trong cuộc sống Nhóm phương pháp này gồm có các phương pháp sau:
+ Phương pháp đàm thoại: Trao đổi ý kiến với nhau về một đề tài nào
đó thuộc lĩnh vực đạo đức nhằm GDĐĐ cho HS Phương pháp này nhằm lôi cuốn HS vào việc phân tích, đánh giá sự kiện, hành vi, các hiện tượng trong đời sống xã hội Trên cơ sở đó, HS ý thức một cách sâu sắc thái độ đúng đắn của mình với hiện thực xung quanh và trách nhiệm về các hành vi, thói quen, lối sống của chính bản thân HS
Trang 24+ Phương pháp nêu gương: Nêu gương cụ thể những điển hình mẫu mực về người tốt việc tốt, những lý tưởng sống đẹp Đây là phương pháp quan trọng GDĐĐ cho HS có hiệu quả nhất.
+ Phương pháp tổ chức hoạt động xã hội: Tham gia các buổi lao động công ích, tham gia thể dục thể thao chung cho toàn trường hoặc ở địa phương, tham gia giao lưu học tập, giao lưu văn hóa, tham gia tặng quà cho các bà mẹ Việt Nam Anh hùng,…Qua đó, hình thành và phát triển những hành vi, thói quen, phù hợp với chuẩn mực đạo đức
- Nhóm phương pháp kích thích hoạt động và điều chỉnh hành vi ứng
xử Nhóm này gồm có các phương pháp sau:
+ Phương pháp thi đua: Phương pháp không thể thiếu ở trường THPT,
là phương pháp kích thích HS thi đua để tự khẳng định mình Trong thi đua, mỗi tập thể lớp và cá nhân phải cố gắng vươn lên, có ý thức trách nhiệm, thực hiện đầy đủ nội dung thi đua, phấn đấu lập thành tích cao nhất
+ Phương pháp khen thưởng - phê bình - động viên: Khen thưởng cá nhân
và tập thể có quá trình phấn đấu, đạt thành tích cao, có những hành động và việc làm tốt Qua đây có tác dụng kích thích, tác động quá trình tu dưỡng đạo đức của mỗi cá nhân Còn phê bình và động viên, vừa biểu hiện sự nghiêm khắc, vừa uốn nắn điều chỉnh những hành vi đạo đức chưa chuẩn mực của HS
1.3.5 Hình thức tổ chức GDĐĐ cho HS
GDĐĐ cho HS trường THPT được tiến hành dưới nhiều hình thức như:
- Thông qua các môn học, đặc biệt là môn khoa học xã hội và nhân văn (GDCD, Lịch sử, Ngữ văn )
- Thông qua việc học tập nội qui nhà trường, sinh hoạt dưới cờ, sinh hoạt tập thể, sinh hoạt ngoài giờ lên lớp, giờ chủ nhiệm, thông qua các cuộc hội thảo
Trang 25- Thông qua các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, hoạt động xã hội, từ thiện, du khảo về nguồn, tham quan, dã ngoại.
- Thông qua con đường tự tu dưỡng bản thân ở mỗi HS, làm cho HS từ chỗ là đối tượng GD dần trở thành chủ thể GD, tự tu dưỡng, rèn luyện, hoàn thiện đạo đức, nhân cách của mình
1.4 Quản lý công tác GDĐĐ cho HS
1.4.1 Mục tiêu quản lý công tác GDĐĐ cho HS
Mục tiêu quản lý GDĐĐ cho HS thể hiện trên ba phương diện sau:
- Về nhận thức: HT phải tuyên truyền, GD để mọi người, mọi ngành,
mọi cấp,… nhận thức đúng đắn về vai trò và tầm quan trọng của đạo đức và GDĐĐ cho thế hệ trẻ nói chung, cho HS THPT nói riêng
- Về thái độ: Bằng nhiều biện pháp tác động, giúp cho mọi lực lượng
trong và ngoài nhà trường đồng tình và ủng hộ những việc làm đúng cho công tác GDĐĐ cho HS THPT Lên án, phê phán, điều chỉnh những hành vi trái đạo đức, vi phạm pháp luật của HS
- Về hành vi: Từ nhận thức và thái độ đồng thuận, thu hút mọi lực
lượng cùng tham gia công tác GDĐĐ cho HS cũng như hổ trợ công tác quản
lý GDĐĐ HS đạt kết quả cao nhất
Tóm lại: Mục tiêu quản lý công tác GDĐĐ cho HS là làm cho quá trình GDĐĐ tác động đến người học một cách đúng hướng, phù hợp với các chuẩn mực xã hội; Thu hút được các lực lượng trong và ngoài nhà trường cùng tham gia GDĐĐ cho HS.Trên cơ sở đó, trang bị cho HS những tri thức về đạo đức, xây dựng cho các em niềm tin, tình cảm đạo đức để có được những hành vi đạo đức đúng đắn
1.4.2 Nội dung quản lý công tác GDĐĐ cho HS
1.4.2.1 Quản lý việc xây dựng nội dung, chương trình, hình thức, biện pháp GDĐĐ HS
Trang 26Cơ sở để xác định nội dung GDĐĐ cho HS THPT là: Nội dung chương trình môn GDCD, các nội dung phổ biến GD pháp luật, các chủ điểm hoạt động GDNGLL, nội dung GDĐĐ cho HS thông qua các môn học văn hóa đặc biệt là các môn khoa học xã hội, những kiến thức rèn luyện kỹ năng sống, những truyền thống văn hóa của dân tộc, những truyền thống văn hóa của địa phương…
Quản lý việc xây dựng nội dung, chương trình, hình thức, biện pháp GDĐĐ cho HS là vấn đề hết sức quan trọng, thông qua nhiều hoạt động trong nhà trường như: Hoạt động giảng dạy của các môn học văn hóa, hoạt động GDNGLL, hoạt động của GVCN, hoạt động của Đội TNTP Hồ Chí Minh, hoạt động tổ chức Kỷ niệm các ngày lễ lớn trong năm…
Do đó, HT cần có kế hoạch xây dựng nội dung, chương trình, hình thức GDĐĐ cho HS một cách đa dạng, sinh động và hấp dẫn Cụ thể, kế hoạch cần
có mục đích yêu cầu, hình thức thực hiện, biện pháp thực hiện, phân công cụ thể đối tượng thực hiện theo từng nội dung đã định sẵn Để thực hiện được kế hoạch này, HT cần thành lập ban GDĐĐ cho HS, thành phần gồm: Trưởng ban (HT hoặc P HT), Bí thư Đoàn trường, Chủ tịch Hội LHTN VN trường, GVCN, Đại diện CMHS; một số GVBM
1.4.2.2 Quản lý công tác GDĐĐ cho HS của đội ngũ CB-GV-NV
Việc quản lý đội ngũ CB-GV-NV trong hoạt động GDĐĐ cho HS được thể hiện thông qua các chức năng quản lý của HT HT lập kế hoạch chung của toàn trường, tổ chức chỉ đạo thực hiện, ra quyết định phân công, kiểm tra việc thực hiện những quyết định đã đưa ra Các bộ phận được phân công có nhiệm vụ
đề ra kế hoạch thực hiện dựa trên kế hoạch chung của HT nhưng tùy theo tình hình thực tế mà có kế hoạch thực hiện cho phù hợp, đặc biệt chú ý GDĐĐ cho HS chưa ngoan, cá biệt Muốn vậy, HT cũng cần có kế hoạch kiểm tra-đánh giá, khen
Trang 27thưởng - phê bình, động viên kịp thời nhằm động viên các lực lượng tham gia quản lý và tổ chức GDĐĐ cho HS.
1.4.2.3 Quản lý sự phối hợp với các lực lượng GD ngoài nhà trường
để GDĐĐ cho HS
Các lực lượng GD ngoài nhà trường gồm: Chính quyền địa phương; các đoàn thể; hội Cha mẹ HS; hội khuyến học, khuyến tài…Để cho sự phối hợp tốt với các lực lượng GD ngoài nhà trường đạt kết quả tốt, HT cần có kế hoạch chặt chẽ, có sự phân công cụ thể và biện pháp thực hiện của từng bộ phận Các bộ phận cũng cần lập kế hoạch riêng một cách cụ thể hơn về biện pháp phối hợp, đây cũng là một trong những biểu hiện của công tác xã hội hóa về GD
1.4.2.4 Quản lý về các hoạt động tự quản của các tập thể HS
Trong công tác này, vai trò của GVCN, GVBM, Đoàn - Hội rất quan trọng Do đó, HT phải chỉ đạo và quản lý các lực lượng này trong việc tổ chức, GD hình thành tính tự quản của các em thông qua các nội dung cơ bản sau: Xác định tầm quan trọng trong công tác tự quản của HS, hướng dẫn HS xây dựng nội quy học tập, rèn luyện đạo đức; Bồi dưỡng năng lực tự tổ chức, điều hành hoạt động của lớp,…
1.4.2.5 Quản lý về các điều kiện hỗ trợ công tác GDĐĐ cho HS
Để công tác GDĐĐ cho HS đạt hiệu quả cao, một yếu tố không thể xem nhẹ đó là các điều kiện hỗ trợ cho công tác Các điều kiện hổ trợ công tác GDĐĐ cho HS bao gồm: Việc bồi dưỡng đội ngũ CB-GV-NV; công tác thi đua khen thưởng; cơ sở vật chất, kinh phí, xây dựng môi trường sư phạm trong nhà trường…
Nội dung quản lý công tác bồi dưỡng đội ngũ CB-GV-NV trong việc GDĐĐ cho HS: HT cần xây dựng kế hoạch bồi dưỡng theo từng chuyên đề hoặc theo từng chủ điểm; phát động phong trào tự học, tự bồi dưỡng của CB-
Trang 28GV-NV; thực hiện nghiêm túc các đợt bồi dưỡng do cấp trên tổ chức; phân công GV có kinh nghiệm trong công tác GDĐĐ cho HS, báo cáo điển hình về cách làm hay đã mang lại hiệu quả trong nhà trường Định kỳ, HT cũng có kế hoạch kiểm tra, đánh giá công tác này để rút kinh nghiệm làm tốt hơn công tác này.
Thi đua khen thưởng là biện pháp tác động tích cực nhất đến đội ngũ CB-GV-NV trong công tác GDĐĐ: HT nên có kế hoạch phát động phong trào thi đua và khen thưởng cho những cán bộ, GV, NV có nhiều
nổ lực trong công tác điều hành và chỉ đạo sát sao trong tác này Nhưng, cũng cần có hình thức xử lý đối với những việc làm sai đi ngược lại với chủ trương của nhà trường, phản tác dụng GDĐĐ cho HS
Quản lý về cơ sở vật chất, nguồn kinh phí cho công tác GDĐĐ cho HS bao gồm các nội dung sau: Dự trù nguồn kinh phí của nhà trường, huy động các nguồn lực kinh phí ngoài nhà trường để xây dựng và hoàn thiện từng bước về cơ sở vật chất (phòng truyền thống, trang bị hệ thống âm thanh-ánh sáng, tài liệu,…); xây dựng quy chế bảo quản, sử dụng nguồn kinh phí và CSVC một cách hợp lý, đúng mục đích và tiết kiệm
Xây dựng môi trường sư phạm là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến công tác GDĐĐ cho HS
Đối với tập thể CB-GV-NV: HT cần xây dựng tập thể sư phạm đoàn kết, thân ái, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, thực hiện tốt cuộc vận động như:
“Dân chủ-Kỷ cương-tình thương và trách nhiệm”, “Mỗi thầy cô giáo là tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”; thực hiện dân chủ hóa trường học; phối hợp tốt với các lực lượng trong và ngoài nhà trường; thực hiện tốt cuộc vận động “xây dựng trường học thân thiện-HS tích cực” Bên cạnh đó tạo cảnh quan sư phạm trong nhà trường thật sự hấp dẫn làm cho HS yêu mến và gắn
bó trường học và tạo cho HS luôn có một nhận thức ngôi trường mà các em
Trang 29học như ngôi nhà thứ hai của mình và luôn cảm nhận được “Mỗi ngày đến trường là một niềm vui”
Đối với HS: HT quản lý, chỉ đạo việc xây dựng nề nếp, kỷ cương cho
HS trong học tập, lao động, sinh hoạt tập thể; xây dựng mối quan hệ với bạn
bè thân ái, đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ GD HS phải biết lễ phép khi gặp và nói chuyện với người lớn Tuân theo quy định của nhà trường về việc mặc đồng phục,…
1.4.3 Phương pháp quản lý công tác GDĐĐ cho HS
Các phương pháp quản lý là tổng thể các cách thức tác động có thể có
và có chủ đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý
để đạt được mục tiêu quản lý đề ra Do đó, trong công tác quản lý GDĐĐ người ta thường sử dụng những phương pháp sau đây:
1.4.3.1 Phương pháp tổ chức - hành chính
Là phương pháp tác động trực tiếp của chủ thể quản lư lên đối tượng quản lý bằng mệnh lệnh, chỉ thị, quyết định quản lý Phương pháp này, là phương pháp tối cần thiết trong công tác quản lý, nó được xem như những giải pháp cơ bản nhất để xây dựng nề nếp duy trì kỷ luật trong nhà trường, buộc cán bộ GV và HS làm tốt nhiệm vụ của mình đưa phong trào của nhà trường đi lên
1.4.3.2.Phương pháp kinh tế
Là phương pháp tác động gián tiếp đến đối tượng quản lý trên cơ sở những cơ chế kích thích tạo ra sự quan tâm nhất định về lợi ích vật chất để đối tượng quản lý điều chỉnh hành động và tích cực tham gia hoạt động một cách
có hiệu quả Tuy nhiên cũng cần chú ý:
- Việc thiết lập các chế độ, chính sách khuyến khích, khích thích vật chất cần kết hợp với phương pháp hành chánh tổ chức trong việc xác định các định mức, tiêu chuẩn, chỉ tiêu
Trang 30- Việc vận dụng phương pháp kinh tế cần thận trọng, một mặt để khuyến khích lao động của GV nhưng mặt khác cũng phải đảm bảo uy tín sư phạm của GV và nhà trường.
1.4.3.3.Phương pháp tâm lý - xã hội
Là phương pháp mà chủ thể quản lý tác động về mặt tâm lý, tinh thần vào đối tượng quản lý nhằm động viên họ tinh thần chủ động, tích cực, tự giác của mọi người đảm bảo mối quan hệ thân ái hợp tác cùng giúp đỡ lẫn nhau hoàn thành nhiệm vụ Tạo ra sự thỏa mãn tinh thần trong từng người và trong từng tập thể sư phạm Muốn như vậy, người HT phải đi sâu nghiên cứu đặc điểm tâm lý, nhân cách của GV và HS, những yêu cầu về đạo đức, nghề nghiệp, hứng thú, những phẩm chất ý chí thuộc các lứa tuổi khác nhau,…để có những biện pháp tác động thích hợp đối với GV HT cần chú ý các mối quan hệ trong nhà trường, xây dựng bầu không khí đoàn kết, thân ái và cùng nhau thực hiện nhiệm vụ
Trong các phương pháp trên, không có phương pháp nào có tính vạn năng, mỗi phương pháp đều có những ưu và khuyết điểm của nó Cho nên,
HT không nên tuyệt đối hóa một phương pháp nào, người quản lý cần tùy theo tình huống cụ thể cần nắm vững và vận dụng ưu thế cũng như hạn chế tối đa nhược điểm của từng phương pháp, kết hợp vận dụng một cách khéo léo, linh hoạt nhằm đạt kết quả cao nhất trong công tác GDĐĐ cho HS
1.4.4 Các yếu tố chi phối đến quản lý GDĐĐ cho HS
1.4.4.1 Pháp luật nhà nước
Xã hội hiện đại, văn minh là xã hội mà mọi hành vi của cá nhân phải được điều chỉnh bằng pháp luật Đạo đức và pháp luật có thống nhất với nhau ở mục tiêu của nó là điều chỉnh hành vi của con người để đảm bảo hoạt động bình thường của xã hội nói chung và của HS nói riêng Một
HS vi phạm đạo đức thường là vi phạm pháp luật và ngược lại vi phạm
Trang 31pháp luật cũng là vi phạm đạo đức GD pháp luật cho HS cũng là để bảo
vệ giá trị đạo đức và nâng cao đạo đức con người Vì vậy, GD pháp luật trong nhà trường là việc hết sức quan trọng trong việc GDĐĐ cho HS đạt được được kết quả cao
1.4.4.2 Yếu tố nhà trường
Hoạt động dạy học và các hoạt động khác trong nhà trường điều hướng tới mục tiêu cao nhất là hình thành nhân cách cho HS Với bộ máy tổ chức cùng với chức năng nhiệm vụ và quyền hạn, nhà trường là yếu tố quan trọng nhất trong việc GDĐĐ cho HS theo hình mẫu về chuẩn giá trị đạo đức
Nhà trường với cả một hệ thống GD được tổ chức quản lý bài bản và chặt chẽ là yếu tố quan trọng trong công tác GDĐĐ theo những chuẩn giá trị đạo đức tiến bộ, đúng đắn, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, với hệ thống chương trình GD, các tài liệu, sách tham khảo, các phương tiện hổ trợ GD ngày càng hiện đại và đặc biệt với đội ngũ cán bộ, GV bộ môn, GVCN được đào tạo cơ bản có đủ phẩm chất và năng lực tổ chức lớp sẽ là yếu tố quyết định hoạt động GDĐĐ cho HS
em hình thành nhân cách cơ bản đầu đời, góp phần cho GD trong nhà trường
Trang 32sẽ tốt hơn Do đó, gia đình giữ một vai trò rất to lớn, góp phần quyết định
trong việc GDĐĐ cho HS Nghị quyết TW VIII đã xác định: “Xây dựng gia
đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc làm cho gia đình thực sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là tổ ấm của mỗi người” Hồ Chí Minh đã khẳng
định: “GD trong nhà trường chỉ là một phần, còn cần có sự GD ngoài xã hội,
trong gia đình để giúp cho việc GD trong nhà trường được tốt hơn”
1.4.4.4 Yếu tố xã hội
GD của xã hội là sự tiếp tục phát triển những giá trị đạo đức được hình thành trong nhà trường và gia đình GD xã hội phải được bắt đầu từ việc xây dựng ý thức và các mối quan hệ trong làng xã, trong khu phố, hàng xóm láng giềng Đây là nơi thường để lại một dấu ấn của mỗi cá nhân HS Ngoài ra, GD của cộng đồng, của xã hội cũng góp phần hình thành nhân cách của con người, trong đó có HS Một xã hội có kỷ cương, văn minh, lành mạnh, các quan hệ xã hội tốt đẹp là điều kiện tốt nhất cho công tác GDĐĐ cho HS trong nhà trường và gia đình Bởi, GD không phải là bất biến, GD luôn chịu sự tác động của xã hội
1.4.4.5 Hoạt động của ĐTN
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là tổ chức của Thanh thiếu niên mà chức năng quan trọng nhất là GD lý tưởng Cách Mạng cho thế hệ trẻ, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu GD của nhà trường Vì vậy, ĐTN có vai trò quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ năm học, đặc biệt là công tác GDĐĐ cho
HS Muốn vậy, HT cần có kế hoạch và tham mưu với cấp ủy Đảng - ĐTNCS
Hồ Chí Minh ở địa phương bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ Cán bộ Đoàn có
đủ phẩm chất đạo đức, năng lực làm việc đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của tổ chức và của nhà trường
Trang 33KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Tóm lại, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội bao gồm những nguyên tắc và chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của mình và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa người với người và con người với tự nhiên
Do đó, công tác GDĐĐ cho HS mang ý nghĩa và nhiệm vụ hết sức quan trọng trong hoạt động của nhà trường, góp phần GD toàn diện cho HS
Để công tác GDĐĐ cho HS đạt hiệu quả, HT trước hết phải nhận thức sâu sắc rằng trong các mặt GD, GDĐĐ cho HS giữ vị trí hết sức quan trọng Vì vậy, trong quá trình GD yêu cầu đối với nhà quản lý phải nắm được đặc điểm tâm
lý của lứa tuổi HS THPT và vận dụng một cách linh hoạt để có cách quản lý
GD về mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện GDĐĐ… Ngoài ra, còn cần phải nắm vững các yếu tố chi phối đến công tác quản lý GDĐĐ cho HS
Đề đáp ứng được yêu cầu này, muốn có giải pháp hữu hiệu quản lý công tác GDĐĐ cho HS, HT ngoài việc dựa vào cơ sở lý luận, còn phải dựa vào cơ
sở thực tiễn Do đó, HT cần điều tra, khảo sát, trao đổi các lực lượng trong và ngoài nhà trường nhằm nắm được thực trạng GDĐĐ và quản lý công tác GDĐĐ cho HS trên địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh An Giang một cách hiệu quả nhất
CHƯƠNG 2
Trang 34THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC GDĐĐ CHO HS THPT HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
2.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội và GD của huyện Châu Thành, tỉnh An Giang
2.1.1 Đặc điểm tình hình huyện Châu Thành
Huyện Châu Thành là một huyện nông nghiệp nằm ở phía tây sông Hậu, thuộc vùng tứ giác Long Xuyên, tiếp giáp Thành phố Long Xuyên
- Phía Bắc giáp với huyện Châu Phú
- Phía Đông Đông Bắc giáp với huyện Chợ Mới
- Phía Đông Đông Nam giáp Tp Long xuyên
- Phía Nam giáp với huyện Thoại Sơn
+ Phía Tây giáp với huyện Tri Tôn
- Phía Tây Bắc giáp với huyện Tịnh Biên
Huyện châu thành gồm có 12 xã và một thị trấn với 64 ấp: Thị trấn An Châu (8 ấp), xã An Hòa (4 ấp), xã Cần Đăng (5 ấp), xã Vĩnh Hanh (6 ấp), xã Bình Thạnh (4 ấp), xã Vĩnh Bình (4 ấp), xã Bình Hòa (6 ấp), xã Vĩnh An (3 ấp), xã Hòa Bình Thạnh (6 ấp), xã Vĩnh Lợi (4 ấp), xã Vĩnh Nhuận (6 ấp), xã Tân Phú (3 ấp), xã Vĩnh Thành (5 ấp)
- Tổng diện tích tự nhiên: 35.506,21 ha; trong đó
- Đất nông nghiệp: 30.739,10 ha;
- Đất chuyên dùng: 2.932,29 ha;
- Đất ở: 1.241,34 ha;
- Đất sông ngòi tự nhiên: 593,48 ha;
Trang 35- Dân số: trên 170.588 người
- Thu nhập bình quân đầu người 15.388.000đ/người/năm
Châu Thành là huyện vùng ven thành phố Long Xuyên gồm 13 xã, TT Trong đó có 8 xã là vùng sâu, vùng xa, nằm trong vùng tứ giác Long Xuyên, đời sống nhân dân chủ yếu là sản xuất nông nghiệp Trong những năm qua Đảng bộ, chính quyền, đoàn thể huyện Châu Thành có nhiều nỗ lực phấn đấu thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, thực hiện nghị quyết xóa đói giảm nghèo của Đảng, nâng cao đời sống nhân dân giảm dần hộ nghèo vươn lên ổn định cuộc sống, để các em HS có điều kiện đến trường thường xuyên và đầy đủ
2.1.2 Tình hình GD huyện Châu Thành
Trong những năm qua, tình hình GD có nhiều chuyển biến tốt, mạng lưới trường lớp thuận lợi và phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội của địa phương Tính đến năm học: 2012-2013, toàn huyện có : 13 trường mẫu giáo công lập với 4.165 cháu, 01 Nhà trẻ với 135 cháu, 06 trường Mẫu giáo tư thục với 172 cháu Trong đó, có 03 trường đạt chuẩn quốc gia; 34 trường tiểu học với 14.959 HS Trong đó, có 03 trường đạt chuẩn quốc gia; 13 trường THCS với 7.784 HS Trong đó, có 01 trường đạt chuẩn quốc gia, 01 trung tâm GDTX, 01 trường trung cấp nghề, 13 trung tâm học tập cộng động
Về cơ sở vật chất của các trường, từng bước được trang bị khá khang trang Trường lớp được kiên cố hóa, thiết bị dạy học được trang bị cơ bản đầy
đủ, xây dựng được 6 thư viện đạt chuẩn, các phòng thí nghiệm-thực hành, trang bị cho các trường có phòng máy vi tính, cung cấp thiết bị nghe-nhìn khác cho các trường và các trung tâm học tập cộng đồng
Về đội ngũ CB-GV-NV của ngành trong huyện có 1.868 đồng chí Trong đó, số GV đạt chuẩn và trên chuẩn sư phạm: 1.284, đạt TL: 80,4%; số
Trang 36GV chưa đạt chuẩn sư phạm: 314, đạt TL: 19,6% Ngoài ra, nhiều GV còn đang theo học chương trình đào tạo đại học, sau đại học và các lớp bồi dưỡng CBQL Về công tác xây dựng Đảng, toàn huyện có 60/61 cơ sở chi bộ GD có
915 đảng viên Về công tác thanh tra, kiểm tra, đánh giá, giải quyết khiếu nạy
tố cáo cũng được Sở và Phòng GD-ĐT quan tâm chỉ đạo thực hiện thường xuyên, điều này góp phần làm cho chất lượng GD-ĐT của huyện ngày càng được nâng lên
Công tác phổ cập GD tiểu học, THCS được thực hiện khá tốt Tại thời điểm tháng 8/2011 huyện Châu Thành đã được Bộ GD-ĐT công nhận đạt chuẩn phổ cập GD Tiểu học, THCS và GD đúng độ tuổi
Công tác XHHGD, xây dựng xã hội học tập, huy động mọi nguồn lực phát triển, đã giải quyết một phần kinh phí để hỗ trợ cho công tác xây dựng,
hỗ trợ học bỗng cho HS nghèo, giúp phương tiện cho HS đến trường và nhiều hiện vật khác với tổng kinh phí vận động được trung bình hàng năm trên 3,5
tỷ đồng
Với những gì mà Ngành GD-ĐT huyện Châu Thành đã đạt được là do
sự nỗ lực không ngừng của lãnh đạo Phòng GD-ĐT cùng với đội ngũ cán bộ quản lý GD và tập thể GV dưới sự chỉ đạo của Sở GD-ĐT An Giang và UBND huyện Châu Thành Tuy nhiên, cũng còn nhiều khó khăn và yếu kém cần phải khắc phục: Chất lượng GD còn thấp, TL HS bỏ học ở một số trường còn cao, cơ sở vật chất và việc xây dựng các phòng máy vi tính vì thế, so với yêu cầu hiện nay ngành GD huyện Châu Thành cần phải phấn đấu nhiều hơn nữa, mới đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao cho mọi tầng lớp nhân dân
về học tập và tiếp thu những kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, năng lực cần thiết để đáp ứng môi trường sống hiện nay
2.1.3 Đặc điểm tình hình của các trường THPT trên địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh An Giang
Trang 37- Huyện Châu Thành có 3 trường THPT
+ Trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm+ Trường THPT Cần Đăng
+ Trường THPT Vĩnh Bình
- Tổng số CBQL: 10 trong đó có
+ HT: 3 người + Phó HT: 7
- Tổng số GV năm học 2012 – 2013 của cả 3 trường: 301 GV
- Tổng số lớp học của 3 trường là: 89 lớp
- Tổng số HS năm học 2012 – 2013 của cả 3 trường: 3.356 HS
- Về công tác xây dựng Đảng ở trường THPT trong huyện có 01 Đảng
ủy với 39 đảng viên và 02 chi bộ với 33 đảng viên
2.2 Giới thiệu quá trình nghiên cứu thực trạng
Để có cơ sở đề xuất các giải pháp quản lý công tác GDĐĐ cho HS, chúng tôi tiến hành khảo sát để đáng giá thực trạng quản lý công tác GDĐĐ cho HS THPT huyện Châu Thành, tỉnh An Giang
b.2) Đối tượng khảo sát:
- 30 cán bộ quản lý, 150 giáo viên, 200 học sinh, 120 cha mẹ học sinh
Trang 38c) Phương pháp khảo sát
- Xây dựng phiếu điều tra: Chúng tôi thiết kế 4 mẫu phiếu trưng cầu ý kiến, mẫu 1 dành cho CBQL, mẫn 2 dành cho GV, Mẫu 3 dành cho HS, mẫu
4 dành cho CMHS
- Tiến hành nghiên cứu: Phát phiếu cho CBQL, GV, HS, CMHS, sau
đó đọc từng câu hỏi và giải thích, khi trả lời xong, thu phiếu
- Xử lý số liệu thu được: Các số liệu thu được, được nghiên cứu và tính
tỷ lệ không nhỏ
Với thực tế này, nhà trường - gia đình - xã hội phải quan tâm nhiều hơn đến vấn đề GDĐĐ cho thế hệ trẻ, toàn xã hội phải đồng tâm hiệp lực xây dựng một môi trường giáo dục trong sáng, lành mạnh Tạo điều kiện cho HS
tu dưỡng, rèn luyện, phát triển nhân cách toàn diện để trở thành người công dân có ích cho xã hội
2.3.1.1 Kết quả rèn luyện đạo đức của HS
Trang 39Qua 3 năm học từ năm học 2010 - 2011 đến 2012 – 2013, kết quả rèn luyện đạo đức HS được thống kê và thể hiện ở bảng 2.1.
Bảng 2.1 Thống kê xếp loại hạnh kiểm của HS các trường THPT
Qua bảng xếp loại hạnh kiểm cho ta thấy:
Phần lớn HS có ý thức rèn luyện đạo đức tốt, HS xếp loại đạo đức loại tốt, khá chiếm TL khá cao và được duy trì qua các năm nhất là HS có hạnh kiểm tốt Xếp loại hạnh kiểm của HS loại trung bình và yếu chiếm một TL thấp nhưng TL tăng hàng năm, TL trung bình là 1,72% TL HS yếu hằng năm cũng tăng, TL HS yếu trung bình là 2,27 Qua khảo sát cho thấy, nếu các trường học chủ quan không có những biện pháp quản lý GDĐĐ cho HS một cách phù hợp thì TL HS vi phạm đạo đức có thể tăng lên
Trong ba năm qua sau khi khảo sát những vi phạm của HS ở các trường THPT trong huyện (số lượt vi phạm của HS thống kê là 528 lỗi vi phạm) đượcthể hiện ở bảng 2.2
Trang 40Bảng 2.2 Các biểu hiện vi phạm đạo đức của HS THPT
Qua kết quả, cho thấy những biểu hiện vi phạm của HS thường là nói chuyện riêng, đùa giỡn, gây mất trật tự trong lớp học, nghỉ học không xin