1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp quản lý hoạt động đào tạo nghề trình độ trung cấp trên địa bàn tỉnh Nghệ An

91 253 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 707 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những lý do đã nêu trên, tác giả chọn đề tài: "Một số giải phápquản lý hoạt động đào tạo nghề trình độ trung cấp trên địa bàn tỉnh Nghệ An" làm Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ chuyên ngà

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, đã và đang đặt ranhững yêu cầu mới về nguồn nhân lực từ quy mô, cơ cấu ngành nghề, đếntrình độ đào tạo Vì vậy, đòi hỏi phải có những nhận thức, giải pháp mới vềđào tạo và sử dụng nhân lực trong điều kiện phát triển nhanh chóng của khoahọc - công nghệ

Đối với các nước đang phát triển phải chuẩn bị nguồn nhân lực chất

lượng cao để chủ động tiếp cận tri thức, tiếp nhận chuyển giao công nghệ,nắm bắt và làm chủ công nghệ Với tốc độ phát triển nhanh của khoa học vàcông nghệ, thúc đẩy hình thành nền kinh tế tri thức trên phạm vi toàn cầu Cácngành nghề cũng biến đổi liên tục, nhiều ngành nghề cũ mất đi, nhiều ngànhnghề mới nhanh chóng xuất hiện, yêu cầu kỹ năng tổng hợp thay cho kỹ nănghẹp… Tất cả những điều đó đòi hỏi trình độ và kỹ năng của đội ngũ nhân lựckhông ngừng nâng lên và thường xuyên cập nhật để phù hợp và kịp bắt nhịpvới những cái mới do tiến bộ khoa học - công nghệ đem lại Muốn có thànhtựu phát triển lớn, vượt bậc và được xếp vào loại các quốc gia tương đối pháttriển đòi hỏi phải có đội ngũ nhân lực chất lượng cao Vì vậy, các quốc giakhông có đủ nhân lực trình độ cao sẽ tụt hậu và không thể tham gia vào chuỗigiá trị gia tăng toàn cầu

Việt Nam giai đoạn 2012 - 2020, sẽ xây dựng và phát triển nhanh cáckhu công nghệ cao, các khu kinh tế và nhiều khu công nghiệp, cùng với đẩymạnh tốc độ phát triển các ngành công nghiệp cơ bản, các ngành dịch vụ cơbản với chất lượng cao để cạnh tranh với các công ty nước ngoài, đồng thời sẽtiếp thu và ứng dụng những qui trình công nghệ, máy móc thiết bị hiện đại vớihàm lượng khoa học, công nghệ cao, nhiều lĩnh vực ở mức tiên tiến và hiện

Trang 2

đại của thế giới đòi hỏi nhanh chóng xây dựng đội ngũ nhân lực có tri thức và

Nghệ An là tỉnh có quy mô dân số và nguồn lao động lớn, ước tính đếncuối năm 2012 là 2.953.104 người Trong đó, khu vực thành thị có 404.575người chiếm khoảng 13.7%, khu vực nông thôn có 2.548.529 người, chiếmkhoảng 86.3%, số người trong độ tuổi lao động chiếm 68.4% với 2.022.876người Đến cuối năm 2012 tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 40% Trong

đó, số lao động có trình độ (Trung cấp nghề và Cao đẳng nghề) mới đạt6.98% chưa đáp ứng được yêu cầu của quá trình phát triển công nghệ và nhucầu sử dụng sau đào tạo

Bước vào thời kỳ hội nhập toàn diện với nền kinh tế toàn cầu, cơ hội vàthách thức ngày càng lớn Để đưa Nghệ An cơ bản trở thành tỉnh công nghiệpvào năm 2020, thì phát triển đào tạo lao động có trình độ trung cấp nghề lànhiệm vụ hết sức quan trọng Do đó, vấn đề xây dựng các giải pháp quản lýhoạt động đào tạo nghề tỉnh Nghệ An trong giai đoạn này là hết sức quantrọng và cấp thiết

Trang 3

Với những lý do đã nêu trên, tác giả chọn đề tài: "Một số giải pháp

quản lý hoạt động đào tạo nghề trình độ trung cấp trên địa bàn tỉnh Nghệ An" làm Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục.

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Dựa trên cơ sở nghiên cứu các lý luận về quản lý giáo dục, chiến lượcphát triển đào tạo nghề, kế hoạch giải quyết việc làm và thực trạng, yêu cầuphát triển đào tạo nghề của tỉnh Nghệ An, tác giả xây dựng một số giải phápquản lý hoạt động đào tạo nghề trình độ trung cấp tỉnh Nghệ An đến năm

2020 nhằm đáp ứng nguồn nhân lực của Tỉnh trong thời kì CNH -HĐH

3 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

3.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động quản lý đào tạo nghề trình độ Trung cấp

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Các giải pháp quản lý hoạt động đào tạo nghề trình độ Trung cấp trênđịa bàn tỉnh Nghệ An đến năm 2020

4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Công tác đào tạo nghề trình độ trung cấp nghề trên địa bàn tỉnh Nghệ

An sẽ phát triển và đáp ứng yêu cầu nguồn lao động kỹ thuật phục vụ chocông cuộc CNH - HĐH nếu các giải pháp quản lý hoạt động đào tạo nghềtrình độ trung cấp trên địa bàn tỉnh Nghệ An đến năm 2020 có cơ sở lý luậnkhoa học và khả thi trong thực tiễn

5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về đào tạo nghề và quản lý đào tạo nghề

- Đánh giá thực trạng và nhu cầu phát triển đào tạo nghề tỉnh Nghệ Angiai đoạn 2006 - 2011

- Xác định mục tiêu và các giải pháp quản lý hoạt động đào tạo nghềtrình độ trung cấp trên địa bàn tỉnh Nghệ An đến năm 2020

Trang 4

- Thăm dò tính cần thiết, khả thi một số giải pháp quản lý hoạt độngđào tạo nghề tỉnh Nghệ An được đề xuất trong khuôn khổ luận văn.

6 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Phạm vi thời gian: Thực trạng đào tạo nghề tỉnh Nghệ An giai đoạn

2006 - 2011 và đề xuất giải pháp quản lý hoạt động đào tạo nghề trình độtrung cấp trên địa bàn tỉnh Nghệ An đến năm 2020

- Phạm vi nội dung: Xây dựng mục tiêu, các giải pháp cơ bản quản lýhoạt động đào tạo nghề trình độ trung cấp trên địa bàn tỉnh Nghệ An đến năm

2020 làm cơ sở để cho các cơ quan quản lý có thẩm quyền xây dựng kế hoạchđào tạo nghề hàng năm cho Tỉnh

- Phạm vi không gian: Khảo sát thực tiễn các trường Cao đẳng, trungcấp nghề (trung ương, địa phương) trên địa bàn tỉnh Nghệ An

7 CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

7.1 Các cách tiếp cận cơ bản trong nghiên cứu

7.1.1 Tiếp cận hệ thống

Xem xét hệ thống dạy nghề là một phân hệ của hệ thống giáo dục quốcdân đồng thời là một thành phần của hệ thống kinh tế - xã hội của địa phươngnói riêng và của cả nước nói chung

7.1.2 Tiếp cận phát triển

Hệ thống dạy nghề của địa phương luôn vận động và phát triển trongquá trình phát triển KT-XH theo định hướng CNH-HĐH

7.2 Các phương pháp nghiên cứu

7.2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

- Nghiên cứu các tài liệu, văn kiện của Đảng và Nhà nước về các chủtrương, chính sách quản lý giáo dục - đào tạo và đào tạo nghề ở nước ta trongquá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 5

- Phân tích tổng hợp các tài liệu, văn bản của Tỉnh về quản lý giáo dục

và đào tạo, quản lý dạy nghề trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong thời kỳ HĐH

CNH Phân tích, tổng hợp một số tài liệu, công trình nghiên cứu trong lĩnhvực quản lý giáo dục và quản lý đào tạo nghề

7.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Thống kê, tổng hợp, so sánh để đánh giá về thực trạng hoạt động đàotạo nghề trình độ trung cấp và giải quyết việc làm ở tỉnh Nghệ An thời gianqua

- Thăm dò tính cấp thiết và khả thi của các giải pháp đề xuất với cán bộquản lý các trường Cao đẳng, trung cấp nghề trên địa bàn tỉnh Nghệ An vàcông chức phòng quản lý đào tạo nghề Sở Lao động – TB&XH

7.2.3 Nhóm phương pháp nghiên cứu bổ trợ khác: thống kê và phântích xửlý số liệu

8 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN.

8.1 Về lý luận

- Góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận những vấn đề cơbản về công tác đào tạo nghề và khả năng vận dụng để xây dựng một số giảipháp quản lý đào tạo nghề tỉnh Nghệ An trong quá trình CNH - HĐH

- Làm rõ sự cần thiết và mối quan hệ biện chứng giữa phát triển đào tạonghề với phát triển kinh tế - xã hội, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhân lựcđịa phương trong quá trình CNH - HĐH

8.2 Về thực tiễn

- Luận văn đánh giá thực trạng đào tạo nghề ở tỉnh Nghệ An; đề xuấtmột số giải pháp quản lý hoạt động đào tạo nghề trình độ trung cấp trên địabàn tỉnh Nghệ An đến năm 2020 góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quảđào tạo nghề, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực trong giai đoạn CNH - HĐH

Trang 6

- Kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể vận dụng vào việc xây dựng

Kế hoạch quản lý đào tạo nghề hàng năm cho tỉnh Nghệ An đến năm2020

9 CẤU TRÚC LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu và kết luận kiến nghị, phụ lục Luận văn gồm 3chương chính:

Chương 1: Lý luận chung về đào tạo nghề.

Chương 2: Thực trạng đào tạo nghề tỉnh Nghệ An giai đoạn 2006

-2011

Chương 3: Giải pháp quản lý hoạt động đào tạo nghề trình độ Trung

cấp trên địa bàn tỉnh Nghệ An đến năm 2020

Trang 7

sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển và nâng cao chất lượng ĐTN.

1.1.1 Ở nước ngoài

Để có một đội ngũ lao động kỹ thuật đáp ứng được yêu cầu của sảnxuất, ngay từ những năm 20, 30 của thế kỷ XX đã có những công trình đề cập

đến vấn đề này ở các khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, chỉ đến những năm 60,

70 khi cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật hiện đại bùng nổ với sự chuyến tiếp từ nền văn minh công nghiệp sang nền văn minh tin học, thì trên thế giới các nhà khoa học sư phạm và sư phạm kỹ thuật mới đầu tư nghiên cứu sâu về vấn đề này [8]

Trang 8

Theo tác giả Xiao Mingzheng (2008) Trường Đại học Bắc Kinh [31].

Chiến lược của Chính phủ Trung Quốc trong phát triển nguồn nhân lực nóichung và ĐTN nói riêng tập trung vào các điểm sau:

- Thay đổi quan niệm và hiện thực hoá khái niệm nguồn nhân lực lànguồn lực hàng đầu

- Tiếp tục chiến lược “Khoa học và Giáo dục tiếp sức cho Trung Quốc”,

“Giáo dục kiến lập Trung Quốc” và xây dựng một xã hội học tập

- Mở rộng đầu tư và làm nhiều biện pháp để phát triển nguồn nhân lực

- Cải thiện cơ cấu thông qua phát triển nguồn nhân lực

- Cải tiến những hệ thống bất hợp lý, hoàn thiện hệ thống thị trường laođộng, tạo ra một môi trường phát triển và sử dụng nguồn nhân lực tốt hơn

- Thành lập tổ chức phát triển nguồn nhân lực, tăng cường sự ủng hộ vàbảo đảm của Chính phủ trong phát triển nguồn nhân lực

Tổ chức lao động thế giới (ILO) cũng đã biên soạn và phát hành nhiềutài liệu về đào tạo và quản lý ĐTN để hỗ trợ cho các nước đang phát triển.Trong đó có đưa ra hệ thống các quan điểm tổ chức và quản lý ĐTN, quản lýchiến lược và xây dựng kế hoạch chiến lược phát triển hệ thống dạy nghềcùng kinh nghiệm quốc tế trong lĩnh vực quản lý và phát triển giáo dục nghềnghiệp

Ngoài những công trình đã nêu trên, còn rất nhiều các công trình kháctrên thế giới đề cập đến các nội dung khác nhau về mặt lý luận cũng như thựctiễn phát triển hệ thống giáo dục nghề nghiệp, nâng cao chất lượng ĐTN, đápứng nhu cầu phát triển KT-XH của các quốc gia

1.1.2 Ở trong nước

Việc nghiên cứu khoa học có hệ thống về dạy nghề ở Việt Nam đượcbắt đầu khi Viện khoa học dạy nghề thuộc TCDN được thành lập năm 1977.Trong giai đoạn 10 năm từ 1977-1987, Viện đã nghiên cứu các vấn đề thuộc

Trang 9

lĩnh vực khoa học dạy nghề, có một số đề tài liên quan đến luận văn như:

"Nghiên cứu chiến lược về dạy nghề đến năm 2000"[10] “Trong những năm gần đây, ngành dạy nghề cũng đã phát triển một số nghiên cứu về đổi mới và phát triển công tác dạy nghề ở nước ta trong giai đoạn 2008 - 2015 trong đó cũng nêu ra các mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp cơ bản để phát triển công tác dạy nghề ở nước ta trong những năm sắp tới”[4]

Những năm qua cũng đã có nhiều công trình khoa học, luận văn, luận

án của nhiều tác giả đã nghiên cứu về quản lý giáo dục nói chung và quản lýdạy nghề nói riêng …Song việc nghiên cứu sâu về cơ sở lý luận và phươngpháp xây dựng giải pháp quản lý hoạt động ĐTN cụ thể một trình độ đào tạonhư trung cấp nghề ở cấp tỉnh đang đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu

1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN

H.Koontz thì lại khẳng định: "Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nóđảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mụcđích của nhóm (tổ chức) Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường

mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian,tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất." [15] v.v…

Các nghiên cứu về quản lý có thể được khái quát theo những khuynh

hướng như sau: Thứ nhất, nghiên cứu theo quan điểm của điều khiển học và lý

Trang 10

thuyết hệ thống Theo đó, quản lý là một quá trình điều khiển, là chức năng củanhững hệ có tổ chức với bản chất khác nhau (sinh học, xã hội, kỹ thuật…) nóbảo toàn cấu trúc, duy trì chế độ hoạt động của các hệ đó Quản lý là tác động

hợp quy luật khách quan, làm cho hệ vận động, vận hành và phát triển Thứ hai, nghiên cứu với tư cách là một hoạt động, một lao động tất yếu trong các tổ chức của con người Thứ ba, nghiên cứu với tư cách là một quá trình trong đó

các chức năng được thực hiện trong sự tương tác lẫn nhau Theo hướng này,quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các công việccủa các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lựcphù hợp để đạt được các mục đích xác định

Theo trên, quá trình quản lý diễn ra các hoạt động cụ thể của chủ thểquản lý với sự tham gia tích cực của các thành viên trong tổ chức như dự báo,lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo lãnh đạo, giám sát, kiểm tra đánh giá,trong đó các hoạt động trên đan xen nhau, tác động, bổ sung lẫn nhau để hoànthiện cả quá trình quản lý

Từ quan niệm của các học giả đã nêu, chúng ta có thể khái quát: Quản lý

là hoạt động có ý thức của con người nhằm phối hợp hành động của mộtnhóm người hay một cộng đông người để đạt được các mục tiêu đề ra mộtcách hiệu quả nhất

Các chức năng cơ bản của quản lý

- Dự báo và lập kế hoạch:

Dự báo và lập kế hoạch nói chung và kế hoạch chiến lược nói riêng làmột chức năng cơ bản của quản lý, trong đó phải xác định những vấn đề nhưnhận dạng và phân tính tình hình, bối cảnh; dự báo các khả năng; lựa chọn vàxác định các mục tiêu, mục đích và hoạch định con đường, cách thức, biệnpháp để đạt được mục tiêu, mục đích của quá trình Trong mỗi kế hoạchthường bao gồm các nội dung như xác định hình thành mục tiêu, xác định và

Trang 11

đảm bảo về các điều kiện, nguồn lực của tổ chức để đạt được mục tiêu và cuốicùng là quyết định xem hoạt động nào là cần thiết để đạt được mục tiêu đặt ra.

Sơ đồ 1 Các chức năng cơ bản của quản lý [9]

- Tổ chức

Là quá trình tạo lập các thành phần, cấu trúc, các quan hệ giữa các thànhviên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thànhcông các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Thành công củamột tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người quản lý và sử dụng cácnguồn lực của tổ chức Quá trình tổ chức sẽ lôi cuốn việc hình thành, xây dựngcác bộ phận, các phòng ban cùng các công việc của chúng để thực hiện

- Lãnh đạo - Chỉ đạo

Bao hàm việc định hướng và lôi cuốn mọi thành viên của tổ chứcthông qua việc liên kết, liên hệ với người khác và khuyến khích, động viên họhoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức Tuynhiên, hiểu lãnh đạo không chỉ sau khi lập kế hoạch có tổ chức thì mới có

NHÀ QUẢN LÝ CÔNG VIỆC – NHÂN SỰ CÁC NGUỒN LỰC

DỰ BÁO LẬP

KẾ HOẠCH

MỤC TIÊU CỦA TỔ CHỨC MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI

TỔ CHỨC

KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ

CHỈ ĐẠO LÃNH ĐẠO

Trang 12

lãnh đạo, mà là quá trình đan xen Thấm vào và ảnh hưởng quyết định đến cácchức năng kia, điều hòa, điều chỉ các hoạt động của tổ chức trong quá trìnhquản lý

- Kiểm tra, đánh giá

Là chức năng cơ bản của quản lý Thông qua đó, một cá nhân, mộtnhóm hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động và tiếnhành những hoạt động sửa chữa uốn nắn cần thiết Đó là quá trình tự điềuchỉnh, diễn ra có tính chu kỳ từ người quản lý đặt ra những chuẩn mực thànhđạt của hoạt động, đối chiếu đo lường kết quả, sự thành đạt so với mục tiêuchuẩn mực đã đặt ra, điều chỉnh những vấn đề cần thiết và thậm chí phảihiệu chỉnh, sửa lại những chuẩn mực cần thiết

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về phân loại chức năng, nhưng theoquan điểm của Tổ chức UNESCO[13], hệ thống chức năng quản lý bao gồm 8vấn đề sau trong đó có chức năng kế hoạch hóa nói chung và kế hoạch chiếnlược nói riêng :

Trang 13

hiện mục tiêu cuối cùng của một quá trình quản lý Tùy thuộc vào cấp độquản lý (vĩ mô-vi mô) và tính chất của tổ chức (nhà nước- doanh nghiệp) màcác chức năng quản lý có tầm quan trọng và ví trí khác nhau

1.2.2 Quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục là một bộ phận của quản lý xã hội Khái niệm quản lýgiáo dục được hiểu khá rộng trong nhiều phạm vi, từ vĩ mô đến vi mô và cũng

có những định nghĩa khác nhau như sau:

“Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tớikhách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tớikết quả mong muốn một cách hiệu quả nhất”[13]

“Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kếhoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm tổ chức điều khiển và quản lýhoạt động giáo dục của những người làm công tác giáo dục nhằm thực hiệnmục tiêu kế hoạch giáo dục đặt ra”.[19]

Trong quản lý giáo dục, mục tiêu quản lý giáo dục là trạng thái đượcxác định trong tương lai của đối tượng quản lý hoặc của một số yếu tố cấuthành nó

Khi nghiên cứu về mục tiêu quản lý giáo dục cũng cần phải hiểu rõ vềđối tượng quản lý giáo dục hoặc các yếu tố cấu thành nó Lý luận và thực tếquản lý cho thấy có thể xác định đối tượng ở hai cấp: ở cấp quản lý cơ sở và ởcấp quản lý vĩ mô (quản lý hệ thống giáo dục) Trong giáo dục, trường học làcấp cơ sở, mỗi trường học là một tế bào của hệ thống giáo dục, nên trườnghọc là đối tượng quản lý ở cấp cơ sở Tập hợp các trường học ở các cấp học,ngành học khác nhau tạo thành hệ thống các trường học, hệ thống các trườnghọc lại được quản lý về mặt hành chính, do đó sự nghiệp giáo dục trên mỗiđịa bàn là đối tượng quản lý đối với các cơ quan quản lý giáo dục các cấp.Một trong những nội dung cơ bản về quản lý nhà nước trong giáo dục nói

Trang 14

chung và dạy nghề nói riêng là xây dựng chính sách, quy hoạch, chiến lượcphát triển dạy nghề trong phạm vi cả nước và từng ngành, địa phương trongcác giai đoạn nhất định.

Các nguyên tắc quản lý giáo dục:

Các nguyên tắc quản lý giáo dục là những tiêu chuẩn, quy tắc cơ bản,nền tảng, những yêu cầu, những luận điểm cơ bản cần phải tuân theo trong

tổ chức và hoạt động của chủ thể quản lý giáo dục nhằm đạt được mục tiêu

đề ra

Những nguyên tắc cơ bản của quản lý giáo dục ở nước ta là:

- Nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam trongquản lý giáo dục

Đây là nguyên tắc cơ bản hàng đầu của quản lý giáo dục Nguyên tắcnày xuất phát từ chỗ nền giáo dục XHCN Việt Nam là một bộ phận của sựnghiệp cách mạng XHCN Việt Nam Đảng CSVN là lực lượng duy nhất lãnhđạo nhà nước, lãnh đạo xã hội [17]

Nguyên tắc này đòi hỏi:

Mọi chủ trương, chính sách giáo dục đề ra phải phục vụ đường lối vànhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn, đồng thời khi xem xét, đánh giá kếtquả, ảnh hưởng của một chủ trương chính sách giáo dục phải đứng vững trênlập trường và quan điểm của Đảng, căn cứ vào lợi ích của toàn thể nhân dânlao động

Mọi chủ thể quản lý giáo dục phải nắm vững, quán triệt các quan điểmcủa Đảng về giáo dục, nghiêm túc, kiên trì tổ chức thực hiện đường lối giáodục của Đảng, biến đường lối đó thành hiện thực Nội dung, phương pháp và

tổ chức giáo dục phải đảm bảo nguyên lý giáo dục của chủ nghĩa Mác-Lênin

và đường lối chính sách giáo dục của Đảng

Trang 15

Trong các nhà trường phải tổ chức và lãnh đạo tốt việc giáo dục đườnglối, chính sách của Đảng và đạo đức cách mạng cho học sinh, nâng cao trình

độ giác ngộ XHCN cho giáo viên và nhân viên trong trường, tổ chức cho họcsinh và giáo viên tham gia các hoạt động xã hội ở địa phương

Người đứng đầu cơ quan quản lý giáo dục các cấp tôn trọng sự lãnhđạo của tổ chức cơ sở Đảng theo những qui định của Điều lệ Đảng, mặt khác,người quản lý phải quan tâm xây dựng chi bộ Đảng và các đoàn thể quầnchúng trong đơn vị công tác, phát huy ảnh hưởng chính trị của các tổ chức đótrong toàn đơn vị

Giáo dục, nhà trường không đứng ngoài chính trị, mà phục vụ chính trị,nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng CSVN đã và đang là nguyên tắc cơbản để giải quyết vấn đề lý luận và thực tiễn trong công cuộc đổi mới quản lýgiáo dục nước ta hiện nay

Để thực hiện nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng trong quản lýgiáo dục đòi hỏi mọi chủ thể quản lý phải nghiên cứu nắm vững các chỉ thị,nghị quyết của Đảng về giáo dục và có trách nhiệm tổ chức thực hiện nghiêmtúc trong phạm vi từng đơn vị Phải làm cho đường lối, chính sách giáo dụccủa Đảng trở thành hệ tư tưởng chỉ đạo duy nhất toàn công tác giáo dục

- Nguyên tắc tập trung dân chủ:

Tập trung dân chủ nguyên tắc bắt nguồn từ bản chất của chế độ XHCNdưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản, là nguyên tắc chỉ đạo toàn bộ hoạt độngquản lý ở nước ta Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và các cơ quan kháccủa nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc phải thường xuyênkết hợp sự lãnh đạo tập trung với sự tham gia của quảng đại quần chúng laođộng vào công việc tổ chức quản lý giáo dục

Nguyên tắc này đòi hỏi thống nhất hai mặt quản lý theo ngành và quản

lý theo lãnh thổ: Một mặt phải tăng cường quản lý tập trung (quyết định các

Trang 16

vấn đề trọng yếu) thống nhất (phục tùng lý trí) của nhà nước trung ương (Bộ)trên qui mô toàn quốc về những vấn đề cơ bản Mặt khác, phải phát huy mởrộng tối đa quyền chủ động của các địa phương, các cơ sở giáo dục, của quầnchúng lao động trong việc giải quyết các vấn đề trọng yếu, bằng các phươngpháp, phương tiện đa dạng sáng tạo.

Nguyên tắc tập trung dân chủ với vấn đề phân cấp quản lý trong giáodục là: một đặc trưng quan trọng của nguyên tắc này là sự phân cấp quản lýthích hợp, vấn đề phân cấp quản lý còn liên quan tới nguyên tắc kết hợp giữaquản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ Bản chất của việc phân cấp quản

lý là sự ủy quyền từ cấp quản lý cao hơn cho cấp quản lý thấp hơn Sự ủyquyền này kèm theo những vấn đề tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn,thẩm quyền của mỗi cấp

- Tăng cường pháp chế XHCN là một nguyên tắc quan trọng tổ chức vàhoạt động của các cơ quan Nhà nước Điều 12 Hiến pháp 1992 khẳng định:Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chếXHCN

Các cơ quan quản lý giáo dục phải tuân thủ qui chế quản lý hành chínhcủa bộ máy nhà nước Điều đó có nghĩa là: Cơ quan quản lý nhà nước về giáodục phải là một cơ quan có tư cách pháp nhân công quyền trong lĩnh vực giáodục và đào tạo, có đủ thẩm quyền thực thi quyền quyền hành pháp để thựchiện quản lý với tư cách là bộ máy nhà nước

Nguyên tắc pháp chế đòi hỏi công tác tổ chức và hoạt động của các cơquan quản lý giáo dục, của mọi chủ thể quản lý giáo dục phải tiến hành theođúng quy định của pháp luật, chống sự lạm quyền, lẩn tránh nghĩa vụ

- Nguyên tắc kết hợp nhà nước và xã hội: Xuất phát từ luận điểm: giáodục là sự nghiệp của toàn dân, nguyên tắc này giữ vai trò quan trọng trongquản lý giáo dục Đặc điểm quan trọng của hệ thống quản lý giáo dục là sự

Trang 17

tham gia ngày càng tăng của quần chúng lao động, của các tổ chức xã hội vàoxây dựng và quản lý nhà trường, vào xây dựng và quản lý giáo dục với nhữnghình thức và phương pháp hoạt động khác nhau

Nguyên tắc này đòi hỏi phải kết hợp quản lý giáo dục mang tính chấtnhà nước với quản lý giáo dục mang tính chất xã hội

Quản lý có tính chất nhà nước là hoạt động có tính chỉ huy - chấp hành,căn cứ vào việc thực hiện luật pháp và các chuẩn mực nhà nước pháp quyềntrong quá trình giải quyết các nhiệm vụ giáo dục và chủ thể quản lý là cơ quanquản lý nhà nước về giáo dục các cấp

Quản lý có tính chất xã hội là hoạt động của các đoàn thể quần chúngnhân dân, các tổ chức xã hội thực hiện các chức năng xã hội nhất định, độclập hoặc cộng tác với các cơ quan nhà nước, dựa vào các chuẩn mực, điều lệcủa các tổ chức xã hội và sức mạnh tác động về sự đồng thuận trong xã hộicông dân

Quản lý giáo dục có chức năng dự báo, luôn có sự thích ứng với nềnkinh tế - xã hội, thực hiện xã hội hóa giáo dục, đa dạng hóa nền giáo dục quốcdân là đòi hỏi của nguyên tắc này trong giai đoạn hiện nay

- Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo địa phương,vùng, lãnh thổ

Thực tiễn hoạt động của hệ thống giáo dục quốc dân đòi hỏi sự quản lýnhà nước trong lĩnh vực giáo dục phải tuân theo nguyên tắc kết hợp quản lýtheo địa phương, vùng, lãnh thổ

Đặc trưng quản lý theo ngành là dựa trên cơ sở quá trình tích tụ và tậptrung các nguồn lực, đặc biệt là vốn tài chính và trí tuệ Nhờ điều kiện này,các đơn vị cơ sở của ngành có điều kiện tích tụ, tập trung chuyên môn hóa,nâng cao trình độ công nghệ, tài năng nghề nghiệp của cán bộ giáo viên cóđiều kiện và khả năng quản lý tốt nhất đảm bảo không ngừng nâng cao chất

Trang 18

lượng giáo dục, tay nghề, quản lý vươn lên đạt trình độ cao Quản lý theongành có điều kiện tuyển chọn, đào tạo và sử dụng hợp lý, hiệu quả đội ngũcán bộ giáo viên và các nhà quản lý có trình độ cao Đồng thời nhờ vào quátrình tích tụ và tập trung theo ngành mà mỗi đơn vị của ngành có thể tận dụngkhai thác tốt nhất mọi tiềm năng của ngành để phát triển, nâng cao trình độ,sớm hội nhập với khu vực và quốc tế Mặt khác, chính nhờ quản lý theongành mới tạo điều kiện phân bố hợp lý để khai thác và phát huy thế mạnhcủa ngành ở từng địa bàn đạt đến trình độ hiệu quả chung toàn ngành ngàycàng cao hơn Nhờ quản lý theo ngành mà có điều kiện khai thác tốt nhất tàinăng trí tuệ của các nguồn nhân lực ở phạm vi rộng hơn.

- Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học:

Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học là một nguyên tắc cơ bản của quản

lý giáo dục Nguyên tắc này không chỉ đòi hỏi quản lý giáo dục phải xây dựngtrên hệ thống tri thức sâu rộng, trên sự tổng kết quá trình phát triển của lý luậnquản lý, mà phải nhận thức được những qui luật khách quan của giáo dục,nghiên cứu những qui luật để đó sử dụng trong hoạt động thực tiễn quản lýgiáo dục

Hoạt động quản lý giáo dục nói chung và quản lý nhà trường nói riêng

là hoạt động mang tính chất tổng hợp cao Nó không chỉ dựa vào kinh nghiệm

mà phải am hiểu tri thức của nhiều ngành khoa học và sự hiểu biết sâu sắc vềlĩnh vực lý luận quản lý

- Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả, thiết thực và cụ thể:

Chất lượng giáo dục phụ thuộc rất nhiều vào hiệu quả quản lý Hiệuquả quản lý giáo dục được tính trên cơ sở thực hiện các mục tiêu với nhữngchi phí nhất định về các nguồn lực cho phép sao cho đạt kết quả cao nhất vớimức chi phí thấp nhất

Trang 19

Để thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi người cán bộ quản lý giáo dục khiđưa ra các quyết định quản lý cần tính đến hiệu quả của chúng và đáp ứngđược yêu cầu thực tiễn Mọi hoạt động giáo dục trong nhà trường và mọiquyết định đưa ra thực hiện đều phải được kiểm tra một cách chu đáo làm cơ

sở cho việc đề ra các quyết định quản lý đúng đắn

Việc nắm sâu sát tình hình giáo dục, phát hiện, phân tích tổng kết vàphổ biến những kinh nghiệm giáo dục tiên tiến là những nhu cầu chủ yếu củatính cụ thể và thiết thực trong công tác quản lý

- Nguyên tắc tính kế hoạch:

Hoạt động quản lý nói chung luôn đòi hỏi phải đảm bảo tính kế hoạch,

kế hoạch là chức năng đầu tiên của quản lý, trong mọi hoạt động quản lý đềuvạch ra kế hoạch

Kế hoạch cụ thể hoá chiến lược, sách lược phát triển giáo dục, biếnchúng bằng hành động Nó định rõ, các hoạt động thời gian đạt được các mụctiêu cần đạt, và cả các biện pháp thực hiện

Nguyên tắc này đòi hỏi quản lý giáo dục phải có một hệ thống kế hoạchchính xác, phù hợp với trình độ, yêu cầu quản lý hiện đại

Nguyên tắc kế hoạch trong tổ chức và hoạt động của quản lý giáo dục

có ý nghĩa rất lớn, vì nó đảm bảo phát triển nền giáo dục theo những mục tiêu

mà Đảng và nhà nước đã vạch ra, cho phép sử dụng các nguồn lực của đấtnước một cách có hiệu quả nhất vào quá trình phát triển giáo dục Quản lý màkhông đảm bảo tính kế hoạch là quản lý không khoa học, quản lý thiếu địnhhướng rõ ràng, cụ thể và như vậy hiệu quả quản lý sẽ rất hạn chế

1.2.3 Quản lý đào tạo nghề

Quản lý đào tạo nghề là hệ thống những tác động có mục đích, có kếhoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý trong hệ thốngđào tạo nghề nhằm đạt được mục tiêu đề ra

Trang 20

Dựa vào phạm vi quản lý có thể chia ra hai loại hình quản lý:

- Quản lý hệ thống dạy nghề: quản lý diễn ra ở tầm vĩ mô, trong phạm

vi toàn quốc, trên địa bàn lãnh thổ địa phương và các ngành( còn hiểu là quản

lý Nhà nước)

- Quản lý cơ sở dạy nghề: quản lý ở tầm vi mô, trong phạm vi mộtCSDN

Những đặc điểm của quản lý đào tạo nghề:

- Quản lý con người: đào tạo nghề là quá trình giáo dục chuyênnghiệp, vì vậy đây cũng là loại hình quản lý con người

- Quản lý cơ sở vật chất: đào tạo nghề dựa trên hạ tầng vật chất-kĩthuật chuyên biệt, thậm chí rất chuyên biệt ở từng ngành, nghề hay chuyênmôn Vì vậy quản lý yếu tố này trong đào tạo nghề có đặc điểm rất khác vớiquản lý cơ sở vật chất - kỹ thuật ở trường phổ thông

- Đa dạng loại hình nghề: đào tạo nghề thường bao quát nhiều loạihình nghề và chuyên môn chứ không đơn giản là các môn học, đặc biệt lànhững hình thức đào tạo thực hành thì rất phong phú

- Đa dạng kiến thức và kỹ năng: nội dung đào tạo nghề rất phong phú

về kiến thức và kỹ năng, không chỉ trong một trường, một ngành, mộtnghề, mà ngay trong cả một chuyên môn

Nội dung quản lý đào tạo nghề:

- Quản lý chương trình đào tạo nghề

- Quản lý cơ sở vật chất phục vụ đào tạo nghề

- Quản lý nhân sự và tổ chức, sử dụng, bồi dưỡng, phát triển độingũ cán bộ, giáo viên dạy nghề

- Quản lý hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinhtrong trường nghề, bao gồm cả những hoạt động học ngoại khóa

- Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá chất lượng đào tạo nghề, cấp

Trang 21

Trong quá trình quản lý, các yếu tố trên luôn luôn vận động và tác độngqua lại lẫn nhau làm nảy sinh những tình huống quản lý Nhà quản lý phảithường xuyên theo dõi, đánh giá, xử lý các sai lệch để kịp thời điều chỉnhnhằm làm cho công tác giáo dục - đào tạo phát triển liên tục.

Nhiệm vụ của quản lý ĐTN chính là ổn định, duy trì công tác đào tạođáp ứng nhu cầu của nền KT-XH trong từng giai đoạn phát triển của đất nước

và đổi mới phát triển quá trình đào tạo đón đầu những tiến bộ khoa học kỹthuật đem lại hiệu quả kinh tế - chính trị - xã hội

1.2.4 Đào tạo nghề

Đào tạo nghề: Là quá trình phát triển có hệ thống kiến thức, kỹ năng,

kỹ xảo và thái độ nghề nghiệp cho người học ĐTN nhằm hướng vào hoạtđộng nghề nghiệp và hoạt động xã hội Mục tiêu ĐTN là động thái phát triểnnhân cách được dự kiến trên cơ sở yêu cầu phát triển kinh - tế xã hội và đượchiểu là chất lượng cần đạt tới đối với người học sau quá trình đào tạo[19]

Đào tạo nghề bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau, đó là:

Dạy nghề: Là quá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lý

thuyết và thực hành để các học viên có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sựkhéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp[19]

Học nghề: Là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực

hành của người lao động để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định[19]

Trang 22

ĐTN cho người lao động là giáo dục kỹ thuật sản xuất cho người laođộng để họ nắm vững nghề nghiệp, chuyên môn Đào tạo nghề bao gồm: Đàotạo công nhân kỹ thuật (công nhân cơ khí, điện tử, xây dựng, sửa chữa ) vàphổ cập nghề cho người lao động (chủ yếu là lao động nông thôn).

Cơ sở đào tạo nghề: Là cơ sở hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến

thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thểtìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học.Cơ sởdạy nghề theo Luật Dạy nghề qui định bao gồm các trường cao đẳng nghề ,trường trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề, các lớp dạy nghề

Với sự phát triển phong phú và đa dạng của ĐTN cũng như nhu cầu rất

đa dạng của người học và của thị trường lao động, ngày nay đang tồn tại 3loại hình đào tạo nghề là đào tạo chính quy, đào tạo không chính quy và đàotạo phi chính quy Các loại hình đào tạo này được nhìn nhận như sau:

Đào tạo chính quy là loại hình đào tạo được thực hiện với chương trình

đào tạo được quy định, khi người học tốt nghiệp một khoá đào tạo theo mộtchương trình nào đó có thể tiếp tục theo học chương trình đào tạo có trình độcao hơn của hệ thống giáo dục quốc dân

Đào tạo không chính quy là loại hình đào tạo được thực hiện với các

chương trình đào tạo thiết kế theo nhu cầu của người học hoặc người sử dụnglao động mà khi học xong chương trình này người học có thể không đượcthừa nhận để tiếp tục học trình độ cao hơn của hệ thống giáo dục quốc dân

Đào tạo phi chính quy là hình thức đào tạo nhằm hình thành một số

năng lực cho người lao động, không theo một chương trình được quy địnhnào

Với đặc điểm của đào tạo nghề, thực hành là chủ yếu, quá trình đào tạo

có thể được thực hiện tại trường, tại cơ sở sản xuất hoặc liên kết giữa trường

Trang 23

và cơ sở sản xuất Tùy thuộc vào trình độ cần đào tạo, trình độ tuyển sinhcũng như thời gian đào tạo có khác nhau

Đào tạo nghề có các hình thức sau:

Đào tạo ngắn hạn là loại hình ĐTN có thời gian đào tạo dưới một năm

chủ yếu áp dụng đối với phổ cập nghề

Đào tạo dài hạn là loại hình ĐTN có thời gian đào tạo từ một năm trở

lên, áp dụng đào tạo đối với cao đẳng và trung cấp nghề

Đào tạo mới là loại hình ĐTN áp dụng cho những người chưa có nghề,

để đáp ứng yêu cầu tăng thêm lao động có nghề

Đào tạo lại là quá trình ĐTN áp dụng với những người đã có nghề

song nghề hoặc chuyên môn của họ không còn phù hợp nữa

Đào tạo nâng cao Là quá trình bồi dưỡng nâng cao kiến thức và kinh

nghiệm làm việc để người lao động có thể đảm nhận được những công việcphức tạp hơn

1.2.5 Trình độ đào tạo nghề

Theo UNESCO, nghề là những công việc trí óc hoặc tay chân màngười lao động có thể thực hiện để kiếm sống Người lao động có thể tự

sử dụng mình hoặc được người khác sử dụng trong khi hành nghề

Quan niệm về ĐTN ngày nay phải được hiểu rộng hơn do những biến

động của khoa học và công nghệ “Cách mạng khoa học kỹ thuật đã tạo ra bước ngoặt cơ bản biến đổi toàn bộ những yếu tố của lực lượng sản xuất, đề

ra những yêu cầu ngày càng cao đối với thành phần và phẩm chất lực lượng lao động, quy định tính tất yếu phải đào tạo những công nhân phát triển toàn diện, có tay nghề cao” [14]

Người công nhân, nhân viên nghiệp vụ không chỉ biết thực hiện nhiệm

vụ, công việc đơn thuần mà còn phải có khả năng thực hiện chúng một cáchsáng tạo, chỉ như vậy mới có nhiều cơ hội tìm được việc làm Vì vậy, người

Trang 24

học phải có năng lực thích ứng với những thay đổi, sáng tạo và có khả năngnắm bắt thông tin, năng lực sáng tạo thể hiện ở tính thích ứng với thay đổi,khả năng nắm bắt và xử lý thông tin Lĩnh vực sáng tạo luôn là sự kết hợpnhuần nhuyễn giữa bàn tay và khối óc, đặc biệt trong một số ngành nghề mới,

kỹ thuật cao, người thợ phải được đào tạo ở trình độ cao hơn Rất rõ ràng việcthiếu lao động kỹ thuật có trình độ cao là khoảng trống trong cơ cấu nhân lựchiện nay bắt nguồn từ quan điểm không đúng, không đầy đủ về ĐTN

ĐTN phải xác định rõ khả năng thích ứng linh hoạt với công nghệ trongsản xuất Việc áp dựng công nghệ tiên tiến đã làm thay đổi yêu cầu về kỹnăng nghề cũng như yêu cầu đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao cho người laođộng trong quá trình làm việc Thực tế đòi hỏi phải áp dụng kỹ thuật và côngnghệ trong sản xuất ngày càng cao, tất yếu dẫn đế những yêu cầu khắt khe,nghiêm ngặt về chất lượng

Nếu ĐTN chỉ chủ yếu tập trung vào nội dung kỹ thuật thì sẽ là sai lầmnghiêm trọng, ĐTN còn phải chú trọng đến những khía cạnh năng lực phântích và năng lực xã hội, như làm thế nào để giải quyết một vấn đề (về mặtphương pháp) và làm thế nào để lao động có hiệu quả trong một nhóm (khíacạnh xã hội) Hiện nay các nhà cung cấp và sử dụng công nghệ tiến tiến nhậnthức được rằng, việc thu hút công nhân, nhân viên lành nghề kỹ thuật caongày càng trở nên khó khăn hơn Để giải quyết vấn đề này các cơ sở đào tạocần phối hợp với doanh nghiệp cùng tham gia quá trình thiết kế nội dung và

tổ chức thực hiện chương trình đào tạo, cùng sử dụng cơ sở vật chất và cùngchia sẻ kết quả đào tạo

Có nhiều cách hiểu khác nhau về chất lượng, song qua nghiên cứunhững quan niệm khác nhau đi đến kết luận: Trình độ đào tạo được xác địnhbởi mức độ phức tạp của lao động chân tay và lao động trí óc Phạm vi các

Trang 25

kiến thức, các khả năng và kỹ năng cần có để thực hiện các công việc với cácmức độ phức tạp khác nhau.

- Đối với các nước Đông Âu:

Phân loại trình độ chuyên môn trên cơ sở mức độ phức tạp của laođộng chân tay và trí óc Phạm vi các kiến thức, các khả năng và kỹ năng cóthể thực hiện các loại lao động và các mức độ phức tạp khác nhau được phânloại thành 4 trình độ chuyên môn như sau:

+ Trình độ I: Công nhân tiếp thu hiểu biết qua người trực tiếp chỉ đạomình Công nhân này gọi là công nhân qua kèm cặp hoặc công nhân không quađào tạo

+ Trình độ II: Công nhân đã tốt nghiệp một khoá đào tạo của trườngdạy nghề, đã qua một kỳ kiểm tra chuyên môn được gọi là công nhân đượcđào tạo ít

+ Trình độ III: Công nhân đã đỗ kỳ thi tốt nghiệp khoá đào tạo côngnhân (kỳ thi để trở thành công nhân chuyên nghiệp) là công nhân đã được đàotạo hoặc công nhân có trình độ chuyên môn

+ Trình độ IV: Công nhân đã có chuyên môn, đã qua một khoá đào tạo,nâng cao trình độ được gọi là công nhân có trình độ chuyên môn cao

- Đối với các nước phát triển: phân loại cấp độ đào tạo như sau:

+ Công nhân bán lành nghề: Công nhân tại cấp độ này có một số kỹnăng cơ bản nhất định Nhiệm vụ của họ là thực hiện hoạt động có tính lặp lại

và thực hiện công việc được phân công khi có người giám sát

+ Công nhân lành nghề: Công nhân tại cấp độ này có thể làm việc trongnhững điều kiện phù hợp với tiêu chuẩn nhất quán Nhiệm vụ của họ là biết

sử dụng các dụng cụ cầm tay và các thiết bị khác, hướng dẫn di chuyển hoặcxếp đặt máy móc thiết bị hoặc nguyên vật liệu, quyết định quy trình làm việctuân theo các tiêu chuẩn hiện hành

Trang 26

+ Công nhân lành nghề trình độ cao: Công nhân có thể thực hiện mộtphạm vi kỹ năng rộng với năng lực ở cấp độ cao Họ có kỹ năng và trí tuệ giảiquyết các vấn đề, ra quyết định, giúp đỡ các công nhân ở bậc thấp hơn Trongmột số ngành nghề người công nhân phải có trình độ kỹ thuật viên (kiến thứctương đương bậc cao đẳng hoặc kỹ sư thực hành).

Kỹ thuật viên hay trình độ lành nghề, trình độ cao là yêu cầu kháchquan nhằm thích ứng với những biến động nhanh chóng của khoa học kỹthuật, công nghệ sản xuất trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá

Việt nam phát triển hệ thống đào tạo nghề với 3 cấp trình độ đào tạo

nghề (sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề) nhằm đảm bảo tỷ lệ đàotạo giữa các cấp trình độ phù hợp với nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơcấu lao động và sự thay đổi của kỹ thuật, công nghệ mới trong sản xuất, nângcao sức cạnh tranh của nền kinh tế và đẩy nhanh quá trình hội nhập trong lĩnhvực phát triển nguồn nhân lực với các nước trong khu vực và thế giới

1.2.6 Đào tạo nghề trình độ trung cấp

Hệ Trung cấp nghề được tổ chức đào tạo tương ứng với trình độ nhấtđịnh trong khung chuẩn nghề nghiệp của chuyên môn hay nghề nào đó, caohơn Sơ cấp nghề và thấp hơn Cao đẳng nghề, với yêu cầu học vấn và nănglực chủ yếu là thực hành nghề

Mục tiêu dạy nghề trình độ trung cấp: Dạy nghề trình độ trung cấp

nhằm trang bị cho người học nghề kiến thức chuyên môn và năng lực thựchành các công việc của một nghề; có khả năng làm việc độc lập và ứng dụng

kỹ thuật, công nghệ vào công việc; có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức

kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ, tạo điều kiện cho người họcnghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếptục học lên trình độ cao hơn.[19]

Trang 27

Thời gian học nghề trình độ trung cấp: Dạy nghề trình độ trung cấp

được thực hiện từ một đến hai năm học tuỳ theo nghề đào tạo đối với người

có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông; từ ba đến bốn năm học tuỳ theo nghềđào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở [19]

Cơ sở dạy nghề trình độ trung cấp: Trường trung cấp nghề; Trường

cao đẳng nghề có đăng ký dạy nghề trình độ trung cấp; Trường trung cấpchuyên nghiệp, trường cao đẳng, trường đại học có đăng ký dạy nghề trình độtrung cấp.[ 19]

1.3 CÁC NHÂN TỐ CƠ BẢN ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐÀO TẠO NGHỀ VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐÀO TẠO NGHỀ TRÌNH ĐỘ TRUNG CẤP VỚI THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG

1.3.1 Các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến đào tạo nghề

Các nhân tố tác động đến chất lượng ĐTN thuộc nhiều lĩnh vực khácnhau như: Thể chế chính trị, KT-XH, KH- CN, địa lý, truyền thống văn hóa Tuy nhiên cần quan tâm đến một số nhân tố như: Hội nhập kinh tế và xuhướng toàn cầu hóa; sự phát triển của khoa học kỹ thuật; thể chế chính trị; sựphát triển KT-XH; cơ chế , chính sách; quy mô - cơ cấu lao động; nhận thức

xã hội về ĐTN

1.3.1.1 Cơ chế - chính sách và môi trường pháp lý

Cơ chế, chính sách và môi trường pháp lý nói chung có ảnh hưởng

lớn đến quản lý đào tạo nghề Nếu cơ chế chính sách không phù hợp, thiếu

chính xác, lạc hậu với tình hình phát triển kinh tế - xã hội thì tiến trình đổimới quản lý đào tạo nghề sẽ bị cản trở hoặc mắc sai lầm, dẫn đến nhữnghậu quả không tốt

Trong những năm trở lại đây, với sự gia tăng nhanh chóng các cơ sởdạy nghề trên cả nước, điều đó khẳng định sự quan tâm của Nhà nước đốivới công tác đào tạo nghề và đã thu hút đông đảo số lượng người tham

Trang 28

gia học nghề, nhưng số lượng đó vẫn không thể đáp ứng kịp nhu cầuphát triển của xã hội.

Trong thời đại mới đòi hỏi nguồn nhân lực phải có trình độ tay nghềcao Điều đó y ê u cầ u cơ sở dạy nghề phải nâng cao chất lượng đào tạo,đáp ứng nhu cầu thực tế của thị trường lao động Thời gian qua, cùng với sựtrẻ hóa các cơ sở đào tạo nghề, nên một số trường nghề dạy nghề gì, theochương trình, giáo trình nào, chất lượng đến đâu chưa có sự kiểm soátđúng mức của nhà nước

Đến nay Tổng cục dạy nghề đã ban hành Hệ thống các tiêu chí, tiêuchuẩn kiểm định chất lượng đối với các cơ sở dạy nghề nhằm xem xét,đánh giá và công nhận mức độ hoàn thành và chất lượng đào tạo của các

cơ sở dạy nghề có đáp ứng được yêu cầu đề ra hay không, đây được xem là

cơ sở pháp lý quan trọng để kiểm soát chất lượng dạy nghề trong thời giantới

1.3.1.2 Nhu cầu xã hội về đào tạo nghề và phát triển nhân lực

Nhu cầu xã hội có ảnh hưởng quyết định đến quy mô, hiệu quả và chấtlượng đào tạo nghề, vì nó chính là động lực phát triển trong mọi khâu củaquá trình đào tạo, từ người học, người dạy cho đến những nguồn lực đầu

tư, chương trình, phương pháp và hình thức đào tạo Và mức độ đáp ứngnhu cầu xã hội cũng là tiêu chí để đánh giá hiệu quả, chất lượng đào tạonghề

Theo định h ư ớ n g phát triển, đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trởthành nước có nền Công nghiệp phát triển Để phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất nước và nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực trong và ngoài nước,đòi hỏi Việt Nam phải có những chính sách phát triển mạng lưới cơ sở dạynghề đáp ứng các yêu cầu đó Việt Nam từ một nước nông nghiệp đangdần chuyển sang một đất nước có nền công nghiệp hiện đại, điều đó đã xuất

Trang 29

hiện một sự chuyển dịch về cơ cấu và đòi hỏi chất lượng nguồn nhân lựcnhư một tất yếu Xuất phát từ những quan điểm trên, nhu cầu đào tạo trênphạm vi cả nước trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết Vì vậy, các cơ sở dạynghề trở thành áp lực về quy mô ngành nghề cũng như nhu cầu đào tạo của

xã hội

Tuy nhiên, trong những năm qua với sự suy giảm kinh tế nghiêm trọngdiễn ra trong phạm vi toàn cầu, dẫn đến tình trạng thất nghiệp ở hầu hết cácquốc gia Việt Nam cũng không tránh khỏi tình trạng trên Điều đó làm chocác cơ sở dạy nghề lúng túng trong việc xác định ngành nghề đào tạo cũngnhư nhu cầu đào tạo để vừa phù hợp với phát triển kinh tế xã hội ở địaphương lại vừa đáp ứng nhu cầu đào tạo trong thời gian tới

1.3.1.3 Cơ sở vật chất và nguồn lực tài chính

- Cơ sở vật chất

Cơ sở vật chất là yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo chất lượngđào tạo và hiệu quả quản lý đào tạo Nó được xem là điều kiện đảm bảo chocác hoạt động quản lý dạy học, nghiên cứu khoa học, các dịch vụ chongười học và các hoạt động thể thao giải trí cho cán bộ, giáo viên, học sinhtrong nhà trường

Cơ sở vật chất bao gồm: phòng học, xưởng thực hành cơ bản và thựctập sản xuất, thư viện – học liệu, trang thiết bị phục vụ cho giảng dạy và họctập… Đây là yếu tố hết sức quan trọng, nó tác động trực tiếp đến chất lượngĐTN Máy móc, trang thiết bị là những thứ không thể thiếu trong quá trìnhĐTN, nó giúp cho học viên có điều kiện thực hành để hoàn thiện kỹ năng.Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề càng tốt, càng hiện đại, theosát với công nghệ sản xuất thực tế bao nhiêu thì người học viên càng có thểthích ứng, vận dụng nhanh chóng trong công việc bấy nhiêu Do vậy, cơ sởvật chất trang thiết bị cho ĐTN đòi hỏi phải theo kịp với tốc độ đổi mới của

Trang 30

máy móc, công nghệ sản xuất

Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước vềcông tác dạy nghề nên cơ sở vật chất - kỹ thuật của các cơ sở dạy nghềđược tăng cường, đổi mới một phần Tuy nhiên, do lĩnh vực dạy nghề cóđặc thù luôn đổi mới về thiết bị, công nghệ, ngành nghề đào tạo… Vì vậy,

cơ sở vật chất kỹ thuật trong các cơ sở dạy nghề luôn là sự đòi hỏi cần thiếtcho công tác đào tạo ở những giai đoạn khác nhau để phù hợp với yêu cầuphát triển kinh tế xã hội và sự phát triển nhanh chóng của khoa học côngnghệ

- Nguồn lực tài chính

Tài chính là nguồn lực đầu tiên tác động đến qui mô, hiệu quả quản lýđào tạo Nó lớn hay nhỏ đều ảnh hưởng đến tổ chức đào tạo nhiều hay ít, đếntrình độ chuyên môn của nhân sự quản lý, đến chế độ thù lao cho lao động

quản lý, đến các phương tiện và công nghệ quản lý đào tạo Nhưng quan

trọng hơn nữa là sử dụng nguồn đầu tư tài chính như thế nào, hiệu quả haylãng phí và lựa chọn ưu tiên để đầu tư có đúng hay không

Bất cứ một tổ chức nào muốn hoạt động một cách hiệu quả thì nguồnlực tài chính luôn là yếu tố đóng vai trò quan trọng Nguồn kinh phí hàngnăm từ ngân sách và các nguồn thu khác là điều kiện đảm bảo các hoạt độngcủa Nhà trường Đối với các cơ sở đào tạo nghề thì nguồn lực tài chính trởnên hết sức cần thiết Nguồn lực tài chính mạnh hay yếu là thể hiện tiềm lựccủa nhà trường Tỷ lệ thực chi tính theo đầu học sinh hàng năm phản ánh sựphân bố tài chính cho các hoạt động đào tạo là tiêu chí để đảm bảo chất lượngđào tạo

1.3.1.4 Trình độ đội ngũ nhân sự giảng dạy và nhân sự quản lý

- Trình độ đội ngũ giáo viên

Đội ngũ giáo viên là nguồn nhân lực s ư phạm đóng vai trò quyết

Trang 31

định đến chất lượng đào tạo của nhà trường Nhưng không chỉ như vậy, họlại là nhân tố hoặc tạo thuận lợi hoặc gây khó khăn rất lớn cho quản lý đàotạo Đội ngũ giáo viên nhiệt tình, nghiệp vụ, chuyên môn tốt là nền tảngthuận lợi để đổi mới quản lý đào tạo, chẳng hạn đổi mới chương trình, họcliệu, đặc biệt là phương pháp dạy học, giúp nhà trường chỉ đạo, giám sát,

đánh giá trong đào tạo diễn ra đúng đắn hơn và hiệu quả hơn Họ còn có ảnh

hưởng đến quản lý hoạt động đào tạo thông qua đóng góp ý tưởng và thamgia công tác quản lý N gượ c lại, đội ngũ giáo viên yếu sẽ làm cho quản lýhoạt động đào tạo trì trệ, gặp rất nhiều khó khăn khi triển khai những biệnpháp đổi mới trong đào tạo

Các cơ sở dạy nghề hiện nay, đội ngũ giáo viên chủ yếu mới tốtnghiệp các trường kỹ thuật nên có những ưu điểm nổi bật như trình độchuyên môn, tính nhiệt tình, có tư duy sáng tạo Tuy nhiên, năng lực sưphạm còn thiếu, kỹ năng nghề yếu nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến chấtlượng của quá trình đào tạo

Số lượng giáo viên có trình độ cao, tỷ lệ giáo viên có đầy đủ nănglực, phẩm chất, các loại văn bằng, chứng chỉ theo tiêu chuẩn của giáo viêndạy nghề ở các cấp trình độ khác nhau trên tổng số cán bộ giáo viêntham gia giảng dạy và số giáo viên được phân công giảng dạy đúng chuyênmôn sẽ phản ánh quy mô và chất lượng đào tạo của nhà trường

Để đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao, đáp ứng các yêu cầucủa thị trường lao động, đòi hỏi người giáo viên phải tự đào tạo, bồi

d ư ỡ n g , nghiên cứu khoa học, không ngừng nâng cao trình độ chuyênmôn, kỹ năng nghề, tiếp thu công nghệ mới, thiết bị mới nhằm thực hiện tốtnhất quá trình truyền thụ tri thức, kỹ năng cho người học Vì vậy, Nhà nướccần có những chính sách đặc biệt về nguồn thu nhập cho người làm công tácgiáo dục

Trang 32

- Đội ngũ nhân sự quản lý

Đương nhiên đây là nhân tố tác động trực tiếp đến phong cách, hiệulực, hiệu quả quản lý đào tạo ở trường học Cơ cấu đủ, hợp lý, chất lượng tốtthì nhân sự quản lý mới có thể thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý đào tạo được

giao Nhìn chung, đội ngũ quản lý đào tạo ngày nay cần phải có phong cách

chuyên nghiệp hơn nữa, thí dụ chuyên lập kế hoạch, chuyên điều tra và phântích thị trường, chuyên nghiên cứu đối tác và tiếp thị, chuyên quản lýchương trình, chuyên tổ chức và chỉ đạo kiểm định, đánh giá chất lượng,thậm chí chuyên về các thủ tục hành chính v.v Tính chuyên nghiệp thểhiện vừa ở tác phong lẫn năng lực, đặc biệt những kĩ năng quản lý và kĩnăng công nghệ Ngược lại nếu đội ngũ này yếu kém và thiếu chuyênnghiệp thì gây ra tình trạng chồng chéo, lãng phí, trì trệ, sai lệch, thiếu tráchnhiệm trong quản lý

1.3.2 Mối quan hệ giữa đào tạo nghề trình độ trung cấp với thị trường lao động

1.3.2.1 Mối quan hệ giữa đào tạo nghề trình độ trung cấp với chuyển đổi nền kinh tế

Nguồn lao động kỹ thuật trình độ trung cấp nghề chiếm phần lớn lựclượng lao động Vì vậy, trong cơ chế thị trường ĐTN trình độ trung cấp cónhiệm vụ cung cấp nhân lực cho tất cả các thành phần kinh tế Nếu ĐTN trình

độ trung cấp theo hướng cầu của thị trường lao động thì không lạc phí nguồnkinh phí đào tạo và nâng cao được chất lượng đào tạo

Một câu hỏi được đặt ra là các quy luật của cơ chế thị trường tác độngđến ĐTN như thế nào ?

- Quy luật giá trị: Trong thị trường sức lao động thì lao động càng lànhnghề càng có giá trị, do vậy đối với các CSDN phải lấy chất lượng đào tạo là

sự sống còn “Trong thị trường, lợi thế cạnh tranh ngày nay không còn nằm

Trang 33

chủ yếu ở tài nguyên thiên nhiên hoặc lao động rẻ mà nghiêng về tiềm lực tri thức, công nghệ và nguồn nhân lực trình độ cao[6]

- Quy luật cung, cầu: ĐTN có nhiệm vụ cung cấp đội ngũ công nhân kỹthuật, nhân viên nghiệp vụ cho các ngành kinh tế quốc dân (sản xuất, kinhdoanh, dịch vụ) về loại hình, ngành nghề, số lượng, chất lượng và hiệu quảtheo yêu cầu của thị trường sức lao động

- Quy luật cạnh tranh: Theo quy luật này những cơ sở ĐTN gắn liền vớichữ tín sẽ tồn tại Nhân lực được đào tạo có chất lượng sẽ dễ dàng hơn khithâm nhập vào thị trường việc làm, với các cơ sở ĐTN đây là thử thách khắcnghiệt Trong những năm qua nhiều cơ sở ĐTN đã không cạnh tranh được,phải giải thể hoặc sát nhập với cơ sở khác do đào tạo không có chất lượng, domục tiêu đào tạo không rõ và đào tạo không có địa chỉ Tuy nhiên, cơ chế thịtrường chưa phải là một cơ chế hoàn hảo, do vậy vai trò can thiệp, điều chỉnh

là không thể thiếu được

Qua nghiên cứu tác giả thấy rằng trong số các thiết chế xã hội tạo nênmôi trường cho hoạt động của cá nhân, cơ chế thị trường giữ một vai trò quantrọng, bởi vì cơ chế thị trưòng dự trên sự tự do lựa chọn các cơ hội giúp cánhân tối ưu hóa lợi ích của mình Trong nền kinh tế thị trường, con ngườikhông chỉ tác động tích cực mà còn tác động tiêu cực đến đời sống xã hội.Con người không chỉ đứng trước cơ hội, triển vọng tốt đẹp mà còn phải đốimặt với nguy cơ, thách thức không nhỏ như nguy cơ thất nghiệp, tình trạng ônhiễm môi trường, các tệ nạn xã hội v.v trong nền kinh tế thị trường luôntồn tại mâu thuẫn, đấu tranh giữa giàu - nghèo, thiện - ác, quan hệ chủ - thợ,bình đẳng v.v vì vậy, không thể xem nhẹ khía cạnh con người - chủ thể, conngười – cá nhân trong những hoạt động giáo dục nghề nghiệp

1.3.2.2 Mối quan hệ giữa thị trường lao động và thị trường đào tạo nghề

Trang 34

Giữa thị trường lao động và thị trường đào tạo có mối quan hệ hữu cơ,mật thiết với nhau, trong đó thị trường lao động sẽ quyết định việc hình thành

và phát triển thị trường ĐTN Timbergan - Giải thưởng Noben về kinh tế đãkhẳng định thị trường tiêu dùng quyết định cơ cấu sản xuất và cơ cấu nhânlực, cơ cấu nhân lực quyết định thị trường sức lao động, nhu cầu thị trườngsức lao động sẽ tạo nên thị trường ĐTN

1.3.3.3 Những thách thức đối với đào tạo nghề trình độ trung cấp đáp ứng nhu cầu của thị trường

Khi ĐTN trình độ trung cấp hướng ra thị trường, đáp ứng nhu cầu thịtrường và chịu sự điều tiết của thị trường cũng bộc lộ một số vấn đề mới, mâuthuẫn mới cần phải giải quyết đó là:

- Mâu thuẫn giữa tính hệ thống, lâu dài, toàn diện và hiệu quả chậm củaĐTN với yêu cầu hiệu quả nhanh, tính ngắn hạn, cục bộ dưới ảnh hưởng vàđiều tiết của cơ chế thị trưòng

- Mâu thuẫn giữa tính ổn định tương đối của nội dung chương trình đàotạo với biến động nhanh chóng của thị trường

- Mâu thuẫn giữa chủ trương người học đóng các khoản chi phí với tínhcông bằng được hưởng cơ hội học tập nghề nghiệp và tính dân chủ trong GD-ĐT

- Tham gia cạnh tranh trong thị trường đào tạo, các cơ sở ĐTN trình độtrung cấp phải chấp nhận và quen với sự rủi ro, đồng thời cũng luôn xuất hiệnnguy cơ phải giải thể nhà trường hoặc chuyển đổi mục tiêu Điều đó cũngmâu thuẫn với tính ổn định tương đối của kế hoạch phát triển đào tạo dài hạn

và quy hoạch tổng thể mạng lưới các cơ sở ĐTN

Tuy nhiên, việc cạnh tranh trong ĐTN không đơn giản vì có trợ giúp,can thiệp, điều chỉnh của Nhà nước Vấn đề đặt ra là phân tích ảnh hưởng của

Trang 35

những quy luật trên, tìm ra nguyên nhân và đề ra các giải pháp để hạn chế dầncác mặt tiêu cực do cơ chế thị trường tác động đến ĐTN

ĐTN trình độ trung cấp cần nhanh chóng hướng ra thị trường, nắm bắtthông tin của thị trường sức lao động, đáp ứng nhu cầu thị trường, coi đó làtiêu chí đảm bảo cho sự phát triển và thích ứng Kinh nghiệm của một số

nước phát triển cho thấy: “Bất kể quốc gia nào, nếu tiếp thu được những bài học của thị trường, tạo được những phẩm chất cho phép cạnh tranh trong một thế giới kinh tế không biên giới thì mới có cơ hội thành công Những phẩm chất đó bao gồm: Một dân cư được giáo dục tốt, một nguồn nhân lực dựa trên trí tuệ và một qũy tri thức dồi dào”[5]

Trang 36

Tiểu kết chương 1

Tác giả đã phân tích cơ sở lý luận, mối quan hệ giữa đào tạo nghề trình

độ trung cấp với thị trường lao động và rút ra kết luận:

Trước hết phải khẳng định vai trò rất quan trọng của đào tạo nghề trongviệc phát triển KT-XH, đồng thời phải thay đổi cách nhìn và quan niệm vềĐTN Trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực phải đặt ĐTN vào vị trí ưutiên hàng đầu, đặc biệt trong bối cảnh đất nước ta bước vào giai đoạn đẩymạnh CNH-HĐH và hội nhập khu vực, quốc tế

Đào tạo nghề có mối liên hệ chặt chẽ với việc làm, với thị trường sứclao động và chịu tác động của các quy luật trong cơ chế thị trường theo địnhhướng XHCN Vì vậy, mặc dù đang có sự hỗ trợ rất lớn của Nhà nước, songcác cơ sở ĐTN phải biết chấp nhận cạnh tranh, chất lượng đào tạo được coinhân tố quyết định đến sự tồn tại của các cơ sở đào tạo Chất lượng đào tạođược đảm bảo thông qua các điều kiện đảm bảo chất lượng chủ yếu như pháttriển đội ngũ giáo viên, phát triển các chương trình đào tạo, xây dựng cơ sởvật chất và nâng cao năng lực quản lý

Trang 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN 2.1 SƠ LƯỢC TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN ĐÀO TẠO NGHỀ Ở VIỆT NAM 2.1.1 Những kết quả đạt được

Kể từ khi tái thành lập Tổng cục Dạy nghề từ năm 1998 đến nay, hệthống dạy nghề mới đã được hình thành và phát triển cả về cơ cấu hệ thống vàquy mô đào tạo Công tác đào tạo nghề trong cả nước được phục hồi sau mộtthời gian dài bị suy giảm, từng bước được đổi mới và phát triển đáp ứng ngàycàng tốt hơn nhu cầu nhân lực kỹ thuật trực tiếp phục vụ phát triển kinh tế -

xã hội, cụ thể là:

Luật giáo dục 2005 và Luật Dạy nghề 2006 đã tạo cơ sơ pháp lý hìnhthành hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành với 3 cấp trình độ là sơ cấp nghề,trung cấp nghề và cao đẳng nghề thay thế cho dạy nghề ngắn hạn và dài hạntrước đây

Mạng lưới cơ sở dạy nghề được phát triển rộng khắp trên toàn quốc: sốtrường dạy nghề tăng từ 129 trường dạy nghề (năm 1998) lên 306 trườngCĐN, TCN (2008), trong đó có 92 trường CĐN, 214 TCN.[24]

Qui mô tuyển sinh học nghề tăng từ 525.600 người năm 1998 lên1.538.000 người năm 2008, trong đó: dạy nghề trình độ trung cấp nghề vàcao đẳng nghề (dạy nghề dài hạn) tăng từ 75.600 người lên 258.000 người.Dạy nghề trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng (dạy nghề ngắn hạn)

tăng từ 450.000 người lên 1.280.000 người [24]

Cơ cấu ngành nghề đào tạo đã từng bước được điều chỉnh theo cơ cấungành nghề trong sản xuất, kinh doanh dịch vụ, đã mở thêm nhiều nghề đàotạo mới mà thị trường lao động có nhu cầu và các nghề phục vụ cho việcchuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn và giải quyết việc làm cho

Trang 38

người lao động Hiện nay có 301 nghề đào tạo ở trình độ cao đẳng, 385 nghềđào tạo ở trình độ trung cấp.

Các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo nghề đã được cải thiện; Độingũ giáo viên dạy nghề tăng về số lượng, nâng cao về chất lượng, trong đó sốlượng giáo viên tại các trường nghề, trung tâm dạy nghề đầu năm 2008 là20.195 người; nhiều chương trình dạy nghề đã được đổi mới về nội dung chophù hợp với kỹ thuật, công nghệ sản xuất và đặc biệt chú trọng tới rèn luyện

kỹ năng nghề cho người học Đến hết năm 2008 đã xây dựng được 108 bộchương trình khung TCN, CĐN theo phương pháp tiên tiến của thế giới Hầuhết các DN đã được đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy nghề,chất lượng và hiệu quả dạy nghề có bước chuyển biến tích cực.[24]

Đã triển khai hoạt động kiểm định chất lượng đào tạo nghề và đánh giá

kỹ năng nghề: Năm 2008 đã thí điểm kiểm định chất lượng đào tạo nghề cho

15 trường trung cấp nghề, cao đẳng nghề; xây dựng được 10 bộ tiêu chuẩn kỹnăng nghề quốc gia

Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về dạy nghề từ trung ương đến địaphương đã được tăng cường, hầu hết các Sở Lao động Thương binh và Xã hội

đã có phòng dạy nghề

Đa dạng hoá hình thức, phương thức đào tạo nghề: Dạy nghề chínhquy, dạy nghề thường xuyên; dạy nghề tập trung, dạy nghề lưu động, dạynghề tại doanh nghiệp, làng nghề Đã thí điểm triển khai đặt hàng đào tạonghề cho đối tượng chính sách, đối tượng bị thu hồi đất canh tác, người dântộc thiểu số, bộ đội xuất ngũ, người nghèo, người khuyết tật, lao động nôngthôn

Đầu tư cho dạy nghề ngày càng tăng, trong đó ngân sách nhà nước vẫngiữ vai trò chủ đạo Năm 2008, đầu tư cho dạy nghề chiếm khoảng 7,5%trong tổng chi ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo Dự án nâng cao

Trang 39

năng lực dạy nghề thuộc chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đàotạo đến năm 2010 và các dự án ODA về dạy nghề đã tạo điều kiện tiền đề chophát triển dạy nghề.[24]

Xã hội hoá dạy nghề đã đem lại kết quả bước đầu, nhiều tổ chức, doanhnghiệp, cá nhân đã đầu tư thành lập các CSDN Năm 2008, số CSDN ngoàicông lập chiếm 32,4 %, trong đó số trường trung tâm ngoài công lập chiếm23,5%.[24]

Các tổ chức chính trị - xã hội, các hội nghề nghiệp đã tích cực tham giadạy nghề và tuyên truyền, vận động các đoàn viên, hội viên tham gia họcnghề

2.1.2 Những yếu kém

Dạy nghề chủ yếu vẫn theo hướng cung mà chưa nắm được nhu cầu thịtrường sức lao động Chất lượng đào tạo nghề còn thấp chưa đáp ứng đượcyêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động

Quy mô đào tạo nghề còn nhỏ, nhất là đào tạo nghề trình độ cao; chưađáp ứng được nhu cầu lao động qua đào tạo nghề cho các ngành kinh tế mũinhọn, ngành kinh tế trọng điểm và xuất khẩu lao động

Cơ cấu ngành, nghề đào tạo chưa phù hợp với cơ cấu ngành nghề củathị trường lao động

2.1.3 Nguyên nhân

Một số Bộ, ngành, địa phương chưa nhận thức đúng mức về vai trò củadạy nghề trong việc đào tạo nhân lực kỷ thuật là một trong những nguyênnhân của những yếu kém trên

Cơ chế chính sách về dạy nghề chưa thay đổi kịp với nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội xã hội chủ nghĩa; chính sách tiền lương đối với giáoviên dạy nghề chưa thoả đáng; chưa có chính sách tiền lương cho người tốt

Trang 40

nghiệp theo 3 cấp trình độ đào tạo nghề; một số chính sách còn thiếu và chưađồng bộ, đặc biệt là cơ chế, chính sách dạy nghề tại doanh nghiệp.

Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về dạy nghề ở cấp tỉnh và cấp huyệnchưa tương xứng với chức năng, nhiệm vụ được giao Hoạt động thanh tra,kiểm tra chưa được chú trọng

Hệ thống đảm bảo chất lượng (kiểm định chất lượng và đánh giá kỹnăng nghề quốc gia) chưa cao

Số lượng CSDN qui mô nhỏ, phân bổ chưa hợp lý, đặc biệt là ở khuvực nông thôn; mạng lưới mới chỉ được quy hoạch phân bổ cơ sở dạy nghềtheo ngành, vùng, miền, chưa quy hoạch theo nghề, cấp trình độ đào tạo; còn

ít các trường đào tạo nghề chất lượng cao tiếp cận trình độ các nước phát triểntrên thế giới

Các điều kiện đảm bảo chất lượng còn hạn chế: đội ngũ giáo viên cònthiếu về số lượng, chưa hợp lý về ngành nghề đào tạo và hạn chế về chấtlượng, nhất là kỹ năng thực hành nghề, ngoại ngữ, tin học ứng dụng, phươngpháp giảng dạy; chương trình, giáo trình dạy nghề chậm được cập nhật, sửađổi, bổ sung để phù hợp với kỹ thuật, công nghệ trong sản xuất, kinh doanh,dịch vụ; cơ sở vật chất, thiết bị còn hạn chế

Đầu tư ngân sách nhà nước cho dạy nghề, chưa tương xứng với tốc độtăng quy mô và yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo

Quan hệ giữa các CSDN với các doanh nghiệp còn thiếu chặt chẽ.Nhiều doanh nghiệp và người sử dụng lao động chưa thấy được trách nhiệm

và lợi ích của mình trong công tác dạy nghề

Công tác thông tin, tuyên truyền, tư vấn và hướng nghiệp về dạy nghềcòn yếu, chưa làm cho xã hội, nhất là học sinh tốt nghiệp THCS, THPT, thanhniên hiểu đúng và lựa chọn học nghề là một trong những con đường lập thân,lập nghiệp phù hợp với khả năng và điều kiện của mình

Ngày đăng: 03/11/2015, 19:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Lao động TBXH (Tổng cục dạy nghề), Đào tạo nghề, Hà Nội 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo nghề
3. Bộ Lao động - TBXH, Hệ thống các quy định mới về công tác dạy nghề và tiêu chuẩn chất lượng trường dạy nghề, NXB Lao động xã hội năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống các quy định mới về công tác dạy nghề vàtiêu chuẩn chất lượng trường dạy nghề
Nhà XB: NXB Lao động xã hội năm 2009
15. H. Koontz (1992), “những vấn đề cốt yếu của quản lý” NXB khoa học kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: những vấn đề cốt yếu của quản lý
Tác giả: H. Koontz
Nhà XB: NXB khoa học kỹthuật
Năm: 1992
23. PGS.TS Thái Văn Thành, Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, NXB Đại học Huế, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
Nhà XB: NXBĐại học Huế
1. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh khoá XVII Khác
4. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2002), Một số luận cứ khoa học để xây dựng chiến lược đào tạo nghề giai đoạn 2001 - 2010, Đề tài cấp Bộ mã CB-19-2000, Hà Nội Khác
5. Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường (1995), Việt Nam con đường phát triển đến năm 2020, Hà Nội Khác
6. Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 (2002), NXB Giáo dục, Hà Nội Khác
7. Cục thống kê Nghệ An, Niên giám thống kê tỉnh Nghệ An năm 2009, 2010, 2011 Khác
8. Trần Khánh Đức (2002), Giáo dục kỹ thuật - nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực. NXB Giáo dục, Hà Nội Khác
9. Nguyễn Minh Đường (1996), Bồi dưỡng và Đạo tạo lại đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới, nhà in Bưu điện, Hà Nội Khác
12. Đặng Bá Lãm - Phạm Thành Nghị (1999), Chính sách và kế hoạch trong quản lý giáo dục, NXB Giáo dục, Hà Nội Khác
13. Đặng Bá Lãm (2003), Giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế kỉ XXI- Chiến lược phát triển-NXB Giáo dục Khác
14. Ngân hàng thế giới (1996), Nghiên cứu tài chính cho giáo dục Việt Nam, Hà Nội Khác
16. Nguyễn Cảnh Hồ(1984),Công tác quản lý trường dạy nghề, NXB Công nhân kĩ thuật, Hà Nội Khác
17. Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992 Khác
18. Phan Văn Kha (1998), Xây dựng chiến lược phát triển giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp ở Việt Nam, một số quan điểm tiếp cận, NXB Giáo dục, Hà Nội Khác
19. Quốc hội Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật Dạy nghề ban hành kèm theo quyết định số 76/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 Khác
20. Sở Lao động TBXH Nghệ An, Báo cáo tổng kết 5 năm về triển khai thực hiện Nghị quyết 07/NQ-TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An về phát triển dạy nghề giai đoạn 2006 - 2010 Khác
21. Sở Lao động - TBXH, Báo cáo kết quả thực hiện Chương trình giải quyết việc làm giai đoạn 2006 - 2008, năm 2001 và 2012 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1. Các chức năng cơ bản của  quản lý [9] - Một số giải pháp quản lý hoạt động đào tạo nghề trình độ trung cấp trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Sơ đồ 1. Các chức năng cơ bản của quản lý [9] (Trang 11)
Bảng 1. Cơ cấu theo nhóm tuổi của lực lượng lao động năm 2010                                                                                       Đơn vị: người, % - Một số giải pháp quản lý hoạt động đào tạo nghề trình độ trung cấp trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Bảng 1. Cơ cấu theo nhóm tuổi của lực lượng lao động năm 2010 Đơn vị: người, % (Trang 45)
Bảng 2. Bảng phân bố lao động và cơ cấu lao động theo ngành trong  nội bộ nền kinh tế giai đoạn (2006 – 2010)                            Đơn vị: người, % - Một số giải pháp quản lý hoạt động đào tạo nghề trình độ trung cấp trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Bảng 2. Bảng phân bố lao động và cơ cấu lao động theo ngành trong nội bộ nền kinh tế giai đoạn (2006 – 2010) Đơn vị: người, % (Trang 46)
Bảng 4. Kết quả giải quyết việc làm giai đoạn (2006 - 2010)                                                                                                         Đơn vị: Người, % - Một số giải pháp quản lý hoạt động đào tạo nghề trình độ trung cấp trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Bảng 4. Kết quả giải quyết việc làm giai đoạn (2006 - 2010) Đơn vị: Người, % (Trang 49)
Bảng 5.  Mạng lưới trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề trong tỉnh - Một số giải pháp quản lý hoạt động đào tạo nghề trình độ trung cấp trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Bảng 5. Mạng lưới trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề trong tỉnh (Trang 51)
Bảng 6. Danh mục các nghề trọng điểm tỉnh Nghệ An giai đoạn 2011 - 2015 - Một số giải pháp quản lý hoạt động đào tạo nghề trình độ trung cấp trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Bảng 6. Danh mục các nghề trọng điểm tỉnh Nghệ An giai đoạn 2011 - 2015 (Trang 52)
Bảng 8.  Kết quả thăm dò tính cấp thiết  các giải  pháp được đề xuất                                                                                                     (Tính theo tỷ lệ - Một số giải pháp quản lý hoạt động đào tạo nghề trình độ trung cấp trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Bảng 8. Kết quả thăm dò tính cấp thiết các giải pháp được đề xuất (Tính theo tỷ lệ (Trang 79)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w