1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên hệ vừa làm vừa học tại trường Đại học Sài Gòn

95 853 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 150,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH ĐẶNG NGỌC THÔNG MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

ĐẶNG NGỌC THÔNG

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG

TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC

TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGHỆ AN - 2013

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

ĐẶNG NGỌC THÔNG

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG

TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC

TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 60.14.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS NGUYỄN VIẾT NGOẠN

NGHỆ AN - 2013

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được luận văn, tác giả đã nhận được rất nhiều sự giúp

đỡ, đóng góp những ý kiến quý báu của quý thầy cô là giảng viên trường Đại học Vinh, Đại học Sài Gòn và sự động viên cán bộ lãnh đạo Phòng đào tạo tại chức và Tu nghiệp giáo viên trường Đại học Sài Gòn… Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:

- PGS TS Nguyễn Viết Ngoạn, Hiệu trưởng trường Đại học Sài Gòn

đã tận tâm hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

- Khoa Quản lý giáo dục, Quý thầy cô là giảng Đại học Vinh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, giúp đỡ và đóng góp ý kiến quý báu cho tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn

- Quý thầy cô là giảng viên cơ hữu, thỉnh giảng và Cán bộ các Phòng ban, các Khoa của trường Đại học Sài Gòn đã tận tình góp ý và giúp tôi về số liệu để tôi hoàn thành luận văn này

Mặc dù đã có nhiều cố gắng song do khả năng nghiên cứu của tôi còn hạn chế, kinh nghiệm trong công tác nghiên cứu khoa học còn ít do đó luận văn không tránh khỏi thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến tận tình của Quý thầy cô, các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn nữa và mang tính khả thi cao

Xin chân thành cảm ơn!

Nghệ An, tháng 9 năm 2013

Tác giả

Đặng Ngọc Thông

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục - Đào tạo giữ một vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồn tại

và phát triển kinh tế - xã hội bền vững của đất nước và là sự quan tâm hàng đầu của mỗi quốc gia Đào tạo đại học theo hình thức vừa làm vừa học là chủ trương của Đảng và Nhà nước nhằm nhanh chóng đào tạo, nâng cao đội ngũ cán bộ đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong những năm qua Nếu

hệ VLVH nhằm tạo điều kiện thật sự cho người vừa đi làm vừa có cơ hội đi học đáp ứng nhu cầu nâng cao kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn, thích nghi với nhiều môi trường làm việc thì chất lượng đào tạo phải là mục tiêu.Trong bối cảnh mới đầy biến động trong Giáo dục đại học thì hệ đào tạo VLVH được đánh giá chất lượng chưa được tin cậy (Ví dụ: Thông báo số 88/TB-UBND ngày 29/5/2013 về việc tuyển dụng công chức của tỉnh Nam Định …) Một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo phần lớn là tính tự học của người học không có

Chính vì thế, chúng tôi chọn đề tài: Một số giải pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên hệ vừa làm vừa học tại Trường Đại học Sài Gòn

để nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Xuất phát từ việc nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề chất lượng đào tạo, vấn đề tự học, tự nghiên cứu của sinh viên Đại học hệ VLVH, luận văn đi sâu nghiên cứu thực trạng quá trình tự học, tự nghiên cứu của sinh viên hệ VLVH và công tác quản lý hệ VLVH tại trường Đại học Sài Gòn, nhằm góp phần phục vụ cho nghiên cứu, quản lý và giảng dạy ở các trường Đại học đang đào tạo SV hệ VLVH nói chung và Đại học Sài Gòn nói riêng

Thông qua cơ sở lý luận, luận văn sẽ đưa ra kết quả: Chứng minh rằng việc quản lý tự học, tự nghiên cứu của sinh viên là hoạt động vô cùng cần

Trang 9

thiết, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo hệ VLVH, góp phần rút ngắn khoản cách nhìn nhận và phân biệt giữa các hệ đào tạo trong Giáo dục - Đào tạo (GD-ĐT) Từ đó đưa ra những kiến nghị, những giải pháp quản lý tự học của SV hệ VLVH tại trường Đại học Sài Gòn trong những năm tới.

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Công tác quản lý hoạt động tự học của SV hệ VLVH ở các trường đại học

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Giải pháp quản lý hoạt động tự học của SV hệ VLVH tại Trường Đại học Sài Gòn

4 Giả thuyết khoa học

Nếu tìm được giải pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên hệ VLVH tại trường Đại học Sài Gòn phù hợp thì chất lượng học tập của sinh viên sẽ được nâng cao, đáp ứng mục tiêu đào tạo của nhà trường trong giai đoạn hiện nay

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề quản lý hoạt động tự học của sinh viên hệ VLVH.

5.2 Nghiên cứu cơ sở thực tiễn vấn đề quản lý hoạt động tự học của sinh viên hệ VLVH tại Trường Đại học Sài Gòn.

5.3 Đề xuất các giải pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên hệ VLVH tại Trường Đại học Sài Gòn.

5.4 Khảo sát sự cần thiết, tính khả thi và thử nghiệm một số giải pháp,

đề xuất.

6 Giới hạn nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động tự học của sinh viên hệ VLVH các ngành ngoài sư phạm từ năm học 2008 - 2009 đến năm học 2012 -

2013 tại Trường Đại học Sài Gòn do Phòng đào tạo tại chức & TNGV trực tiếp quản lý

Trang 10

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

- Phương pháp phân tích - tổng hợp tài liệu;

- Phương pháp khái quát hóa các nhận định độc lập;

- Phương pháp mô hình hóa

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra;

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục;

- Phương pháp chuyên gia;

- Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động;

- Phương pháp khảo nghiệm, thử nghiệm

9 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục nghiên cứu Luận văn có ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề quản lý hoạt động tự học.

Chương 2: Cơ sở thực tiễn của vấn đề quản lý hoạt động tự học của

sinh viên hệ vừa làm vừa học tại Trường Đại học Sài Gòn.

Chương 3: Một số giải pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên hệ

vừa làm vừa học tại Trường Đại học Sài Gòn.

Trang 11

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC

1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài

Trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về tự học và các tổ chức hoạt động tự học.Tự họclà một vấn đề đã được nhiều nhà giáo dục học trên thế giới quan tâm dưới các góc độ khác nhau: phát huy tính tích cực, tính độc lập, tính tự giác, tính sáng tạo của người học như các nhà khoa học giáo dục Xôcơrat, Khổng Tử, Cômenxki, Đixtecvec, Usinxki Ngay từ những năm trước công nguyên, XôCơRát (469 - 339 TCN) đã đưa ra quan niệm rất nổi tiếng: Giáo dục nhằm giúp con người tự khẳng định chính mình Vận dụng quan điểm đó vào dạy học, ông cho rằng cần phải để cho người học tự suy nghĩ, tự tìm tòi, cần giúp người học tự phát hiện thấy sai lầm của mình và tự khắc phục những sai lầm đó Đến thế kỷ 17, J.A.Cômenxki (1592-1670) đã tìm ra phương pháp cho phép giáo viên, giảng viên giảng dạy ít hơn, học sinh học nhiều hơn Ông đề ra một số nguyên tắc dạy học mà cho đến nay vẫn có tác dụng nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh là: Nguyên tắc đảm bảo tính trực quan trong dạy học, nguyên tắc đi từ cái chung đến cái riêng, nguyên tắc tôn trọng đặc điểm đối tượng

Đến thế kỷ thứ XIX Conxtantin Đmitrêvic Usinxki (1824-1870) đã nghiên cứu về tính tích cực, tính độc lập của học sinh Theo ông tính tích cực, tính độc lập là cơ sở duy nhất để cho sự học có hiệu quả Ông cho rằng cần giáo dục cho học sinh biết định hướng trong môi trường xung quanh, biết hành động một cách sáng tạo, biết tự mình nâng cao vốn học vấn và tự phát triển bản thân Trong dạy học không nên dồn tất cả tính tích cực vào công tác

Trang 12

dạy của người giáo viên, còn học sinh thì lại thụ động mà cần phải làm sao cho học sinh tích cực ở mức độ cao nhất

Đầu thế kỉ XX, những thành tựu về lý luận dạy học của nhà nước Xô Viết ra đời gắn liền với tên tuổi của một số nhà giáo dục học nổi tiếng như: V.V Đavưdov, L.V.Zankov, I.Ia.lecne, Iu.K.Babanski, R.A.Nhizamov Khi nghiên cứu về lý luận dạy học ở đại học, các tác giả đã vạch rõ sự khác biệt giữa dạy học ở đại học với dạy học ở phổ thông: Các tác giả cho rằng dạy học

ở đại học không phải chỉ trả lời câu hỏi dạy như thế nào? Mà còn phải trả lời câu hỏi: SV độc lập học tập như thế nào? Độc lập nghiên cứu khoa học ra sao? Tìm tòi sáng tạo như thế nào? Có thể nói ngay từ đầu thế kỉ XX, vấn

đề tự học ở đại học đã được rất nhiều các tác giả quan tâm dưới góc độ phương pháp dạy và phương pháp học Vấn đề này cho đến nay vẫn tiếp tục được nghiên cứu

Còn I.F Kharlamop (năm 1986) đã nghiên cứu tự học dưới góc độ tìm

ra những biện pháp để phát huy tính tích cực học tập của học sinh bằng cách: Tăng cường việc nghiên cứu làm việc với sách giáo khoa, với tài liệu học tập, dạy học nêu vấn đề, cải tiến công tác tự lực học tập, đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá…

Với xu thế phát triển của thời đại I.U.K.Babanxki (năm1987) nghiên cứu tự học gắn liền với việc tìm ra các biện pháp tối ưu hoá việc học theo hai hướng: Phát huy tính tích cực, tính tự giác của học sinh trong học tập dưới sự hướng dẫn, điều khiển trực tiếp của thầy, kết hợp với quản lý và tự quản lý hoạt động học tập của học sinh

Đáp ứng với xu thế phát triển của thời đại, đáp ứng những yêu cầu đổi mới của các quốc gia trên thế giới, các nhà giáo dục học ở các nước phát triển

đã đi sâu nghiên cứu để tối ưu hóa việc học, hình thành, phát triển năng lực tự học để người học có thể học thường xuyên, học suốt đời Makiguchi,

Trang 13

B.P.Exipov, khi nghiên cứu bản chất tự học của SV, các tác giả đã chỉ ra rằng: bản chất tự học của SV là hoạt động nhận thức bằng hành động tìm tòi, nghiên cứu, khám phá Đây chính là cơ sở lý luận của vấn đề tổ chức hoạt động tự học cho SV.

Cuối thế kỉ XX ảnh hưởng của sự phát triển khoa học kỹ thuật, đặc biệt

là ảnh hưởng của cuộc cách mạng công nghệ, phần lớn các nhà giáo dục học

đã nghiên cứu tự học theo hai hướng chính: Hướng thứ nhất là nghiên cứu áp dụng công nghệ dạy học, nhằm thay đổi vị trí của thầy và trò trong quá trình dạy học, từ chuyên gia về việc dạy, giáo viên phải chuyển sang chuyên gia về việc học của người học; Hướng thứ hai là dạy học phân hoá, dạy học tiến hành theo nhịp độ cá nhân người học để đạt tới năng suất và hiệu quả cao nhất trong việc học, dạy học cần phải được tổ chức hướng vào người học Tiêu biểu cho các hướng nghiên cứu trên là Raja Roy Singh Ông đã nghiên cứu vai trò của năng lực tự học trong việc học tập thường xuyên và học tập suốt đời, đề cao vai trò chuyên gia cố vấn của người thầy trong việc học tập thường xuyên, học tập suốt đời, trong việc hình thành phát triển năng lực tự học của người học

Năm 1986, Sharma và R Ahmed đã nghiên cứu hoạt động tự học như

là một hình thức tổ chức dạy học bằng cách dạy phương pháp cho người học Theo tác giả Sharma và R Ahmed, người ta có thể dạy phương pháp tự học cho SV bằng nhiều hình thức khác nhau tùy theo điều kiện, hoàn cảnh, tùy theo tính chất đặc thù môn học và nội dung yêu cầu của bài học Nhưng theo ông dù tuân theo hình thức nào thì cũng phải thực hiện theo các giai đoạn sau:

- Giai đoạn 1: Giáo viên thiết kế bài tập và cung cấp nguồn tài liệu cần thiết cho bài tập và chỉ dẫn cụ thể những gì SV phải làm để hoàn thành bài tập

- Giai đoạn 2: Giáo viên tổ chức cho SV tự nghiên cứu, tự làm bài tập với sự hỗ trợ của những thông tin có sẵn

Trang 14

- Giai đoạn 3: Giáo viên làm việc với SV trên lớp theo hình thức cá nhân hay tập thể thông qua những hình thức khác nhau: Thảo luận, xêmina, củng cố

ôn tập, xây dựng bài giảng, kiểm tra đánh giá, tự kiểm tra, tự đánh giá

Nghiên cứu về vấn đề tự học của SV là một lý thuyết mới về tổ chức tự học dưới góc độ nhìn nhận tự học như là một phương pháp dạy học

Tóm lại, qua nghiên cứu các tư tưởng, quan điểm, bàn về dạy học và tự học, tổ chức hoạt động tự học của các tác giả trên thế giới, chúng tôi có một

số nhận xét sau:

Tự học là cần thiết đối với tất cả mọi người, vấn đề tự học của SV nói chung và của SV đại học VLVH nói riêng được các tác giả trên thế giới quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau như: phát huy tính tích cực học tập của người học, tối ưu hoá thời gian học, phương pháp học của người học để đạt được hiệu quả cao nhất ở người học

1.1.2 Những nghiên cứu ở trong nước

Theo tác giả Đặng Hữu Hoạt, Hà Thị Đức (năm 1994): “Tự học là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở đại học Đó là một hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính bản thân người học tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã quy định”

- Theo GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn (năm 1997): “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và có khi cả cơ bắp (khi phải

sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm các lĩnh vực thành sở hữu của mình”

- Theo GS Vũ Văn Tảo (Tạp chí Tháng 4/2001) “Học, cốt lõi là tự học,

là quá trình phát triển nội tại, trong đó chủ thể tự thể hiện và biến đổi mình…”

- Theo TS Võ Quang Phúc (Tạp chí Tháng 4/2001): “Học, một khi được hiểu như là sự chiếm lĩnh kinh nghiệm của nhân loại, thì tự nó bao gồm

Trang 15

cả HĐTH Nói khác đi, tự học là bộ phận của học, nó cũng được tạo thành bởi những thao tác, cử chỉ, ngôn ngữ, hành động của người học trong hệ thống tương tác của hoạt động dạy học Tự học phản ánh rõ nhất nhu cầu bức xúc về học tập của người học, phản ánh năng lực tổ chức và tự điều khiển của người học nhằm đạt kết quả nhất định trong hoàn cảnh nhất định với một nội dung học tập nhất định”

Trong một số công trình nghiên cứu về tự học và tổ chức hoạt động tự học thì tính tích cực, tính độc lập, động cơ học tập của người học giữ một vai trò rất quan trọng đối với chất lượng và hiệu quả của hoạt động tự học (Nguyễn Ngọc Bảo, Đặng Vũ Hoạt, Hà Thị Đức) Kiểm tra đánh giá là khâu then chốt nhằm giúp người thầy điều chỉnh, điều khiển hoạt động dạy của mình, điều khiển, điều chỉnh hoạt động học của trò, đồng thời giúp người học

tự điều khiển, tự điều chỉnh hoạt động học tập nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động dạy học Bên cạnh đó, kiểm tra đánh giá còn là một nhân tố phát huy tính tích cực của người học trong quá trình tự học và hình thành kỹ năng tự đánh giá ở SV

Qua các quan điểm về tự học nêu trên, chúng tôi hiểu rằng, tự học là hoạt động tổ chức nhận thức độc lập của từng người học, tự phát huy năng lực cá nhân để thực hiện các nhiệm vụ tự học xác định Tự học là “tự động học tập”, thể hiện tính tự lực, tự giác, tích cực cao trong quá trình lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kỹ năng Vì vậy, tự học mang đậm sắc thái cá nhân, biểu hiện ở: tự xác định mục tiêu chiếm lĩnh kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hoàn thành các nhiệm vụ tự học cụ thể đặt ra trong từng giờ học, buổi học; tự lập

kế hoạch, tiến độ, thời gian tự học phù hợp với mục tiêu tự học đã xác định;

tự xác định nội dung, nhiệm vụ, lựa chọn phương pháp tự học, sử dụng phương tiện tự học phù hợp; tự kiểm tra - đánh giá, tự điều chỉnh việc học của bản thân

Trang 16

1.2 Các khái niệm cơ bản của luận văn

1.2.1 Hoạt động tự học

1.2.1.1 Tự học là gì?

Trong tập bài giảng chuyên đề dạy tự học cho SV trong các nhà trường trung học chuyên nghiệp và Cao đẳng, Đại học GS.TSKH Thái Duy Tuyên (năm 2003) viết: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng,

kỹ xảo, tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học”

Tác giả Nguyễn Kỳ (tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 7/1998) cũng bàn

về khái niệm tự học: “Tự học là người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lý các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp…Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học”

Trong bài phát biểu tại hội thảo “Nâng cao chất lượng dạy học” tổ chức vào tháng 11 năm 2005 tại Đại học Huế, GS.Trần Phương cho rằng: “Học bao giờ và lúc nào cũng chủ yếu là tự học, tức là biến kiến thức khoa học tích lũy

từ nhiều thế hệ của nhân loại thành kiến thức của mình, tự cải tạo tư duy của mình và rèn luyện cho mình kỹ năng thực hành những tri thức ấy”

Từ những quan niệm trên đây có thể nhận thấy rằng, khái niệm tự học luôn đi cùng, gắn bó chặt chẽ với khái niệm tự thân.Tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng của mỗi cá nhân chỉ được hình thành bền vững và phát huy hiệu quả thông qua các hoạt động tự thân ấy Để có được kết quả và đạt tới sự hoàn thiện thì mỗi SV phải tự thân tiếp nhận tri thức từ nhiều nguồn; Tự thân rèn luyện các kỹ năng; Tự thân bồi dưỡng tâm hồn của mình ở mọi nơi mọi lúc

Trang 17

Như vậy, hoạt động học là hoạt động của người học nhằm tổ chức các điều kiện bên trong và bên ngoài đảm bảo cho việc lĩnh hội tri thức, kỹ năng,

kỹ xảo có hiệu quả

1.2.1.2 Khái niệm hoạt động

“Hoạt động là sự tương tác tích cực của chủ thể và đối tượng nhằm biến đổi đối tượng theo mục đích mà chủ thể tự giác đặt ra để thỏa mãn nhu cầu của bản thân” Hoạt động nảy sinh từ nhu cầu nhưng lại được điều chỉnh bởi mục tiêu mà chủ thể nhận thức được, nghĩa là nhu cầu, là cơ sở xuất phát, là động cơ của hoạt động, nhưng nội dung, hình thái của hoạt động lại chịu sự chi phối bởi mô hình lý tưởng của kết quả mong muốn, của sự biến đổi đối tượng Cấu trúc hoạt động gồm ba cấp độ từ thấp đến cao: cấp bậc thao tác,

cử động; cấp bậc hành động và cấp bậc hoạt động Hoạt động gồm hai thành

tố cơ bản là chủ thể và đối tượng, đồng thời có hai đặc trưng đó là:

- Tính đối tượng: là đối tượng khách quan có khả năng thỏa mãn nhu cầu và được chủ thể chọn

- Tính chủ thể: là khi cá nhân trở thành chủ thể của hoạt động, là những tác động tích cực để biến đổi chiếm lĩnh đối tượng và qua đó, chủ thể và đối tượng được cải tạo

1.2.1.3 Hoạt động tự học

HĐTH là quá trình tổ chức nhận thức độc lập, tự phát huy năng lực cá nhân một cách tích cực, tự giác, tự lực chiếm lĩnh tri thức khoa học HĐTH về bản chất là sự tiếp thu, tự xử lý thông tin, chủ yếu bằng các thao tác trí tuệ

- Cấu trúc hệ thống của HĐTH

+ Động cơ: là lực đẩy trực tiếp, là nhu cầu hứng thú tạo ra sự chú ý liên tục, thu hút người học vào quá trình học tập một cách tích cực trong mọi giai đoạn học tập

Trang 18

+ Định hướng: là mục đích của người học để xác định và ý thức được hoạt động nhận thức của mình

+ Nội dung: là hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo cần chiếm lĩnh

+ Kế hoạch tự học: là bảng phân chia nội dung tự học dựa trên yêu cầu nhiệm vụ tự học, khả năng bản thân và các điều kiện bảo đảm để đạt được mục tiêu đề ra

+ Phương pháp tự học: là cách thức chiếm lĩnh nội dung tự học

+ Hình thức tự học: là các cách hay phương pháp diễn ra HĐTH (tự học một mình, theo nhóm, theo lớp…)

+ Năng lực tự học: là những phẩm chất trí tuệ mà hiệu quả học tập phụ thuộc vào đó (tính định hướng, bề rộng, độ sâu…)

+ Tự kiểm tra - đánh giá: là hoạt động kiểm tra của cá nhân đối với kết quả tự học, phát hiện sai lệch, giúp người học điều chỉnh, làm cơ sở cho HĐTH tiếp theo

- Nội dung của HĐTH

Nội dung tự học bao gồm toàn bộ những vấn đề học tập do cá nhân người học độc lập tiến hành, biểu hiện cụ thể qua việc thực hiện các nhiệm vụ

tự học hàng ngày Trên cơ sở mục tiêu, yêu cầu đào tạo, nội dung của HĐTH được xem xét ở ba khía cạnh sau:

+ Về nội dung tự học cơ bản: quán triệt phương châm, biến quá trình đào tạo của Nhà trường thành quá trình tự đào tạo của mỗi người học Do đó, nội dung tự học của người học phải toàn diện, đầy đủ theo yêu cầu và chương trình học quy định Xét về cơ bản, nội dung của HĐTH gồm: kiến thức, kỹ năng về nghề nghiệp đang được đào tạo; tri thức, phương pháp

+ Về nội dung tự học thường xuyên: là những nội dung tự học diễn ra hàng ngày, thể hiện ở việc giải quyết các nhiệm vụ tự học cụ thể, nội dung HĐTH rất phong phú, có thể kể đến: nghiên cứu bút ký, đọc và nghiên cứu

Trang 19

giáo trình, tài liệu, ghi chép tài liệu học tập, ghi nhớ tài liệu học tập, chuẩn bị cho các buổi học sau, bài học sau, trao đổi, tranh luận học hỏi; ôn luyện…

+ Về nội dung tự học mở rộng: ngoài những nội dung tự học bắt buộc theo mục tiêu, yêu cầu, chương trình đào tạo của Nhà trường, người học có thể tự học, tự nghiên cứu những lĩnh vực tri thức theo sở thích, sở trường cá nhân Nội dung tự học thường xuyên có ý nghĩa là phương tiện từng bước thực hiện và hướng tới nội dung tự học cơ bản Nội dung tự học cơ bản biểu hiện cụ thể và được thực hiện thông qua nội dung tự học thường xuyên Nội dung tự học mở rộng có tác động tích cực, bổ sung, làm phong phú hơn cho nội dung tự học cơ bản và nội dung tự học thường xuyên

1.2.2 Sinh viên hệ vừa làm vừa học

Phần lớn SV hệ Đại học VLVH là những người vừa đi làm, vừa đi học, nên họ chịu áp lực công việc, áp lực gia đình Bên cạnh đó, tuổi tác cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng học tập Việc đến lớp đầy đủ đã là một

cố gắng lớn, việc làm bài tập và tự nghiên cứu thêm ở nhà chắc chắn là phải cần có một lòng quyết tâm cao độ Việc tự học, tự nghiên cứu chỉ phát huy tốt khi mà việc học tập thực sự cần thiết cho công việc của người học Tuy nhiên, cónhiều SV hệ Đại học VLVH là những người trẻ tuổi, những người chưa có việc làm, nên học đầu tư và chăm chỉ học và nghiên cứu mang lại chất lượng học tập cao

1.2.3 Giải pháp quản lý hoạt động tự học

Muốn nâng cao hiệu quả của hoạt động tự học của SV đòi hỏi người thầy giáo ngoài chức năng tổ chức, hướng dẫn, truyền đạt cần phải dạy cách thao tác với đối tượng, cách chiếm lĩnh đối tượng cho SV, hay nói cách khác

là hướng dẫn phương pháp học, cách học cho SV

Tự học có hiệu quả cao khi tạo được môi trường học tập cho người học, khi người học không ngừng rèn luyện cho mình một hệ thống kỹ năng tự học

Trang 20

Muốn tự học có kết quả cao đòi hỏi chủ thể tự học phải có động cơ và thái độ học tập đúng đắn, phải có nhu cầu và hứng thú học tập, phải có sự say

mê khoa học, phải nhận thức rõ được mục đích của hoạt động học tập và ý thức một cách đầy đủ về việc học của mình Để hoàn thành nội dung học tập đòi hỏi chủ thể tự học phải có ý chí vượt khó để vượt qua vật cản hay chướng ngại vật trong quá trình tự học nhằm đạt được các mục tiêu học tập đã đề ra

Bên cạnh đó, hoạt động tự học của SV được thực hiện bởi hệ thống kỹ năng, kỹ xảo nhất định vì vậy muốn hoạt động tự học đạt hiệu quả cao đòi hỏi người học phải có hệ thống kỹ năng tự học, cụ thể: Kỹ năng sắp xếp thời gian

tự học, kỹ năng đọc sách, kỹ năng nghe và ghi chép bài trên lớp, kỹ năng nghiên cứu khoa học và kỹ năng tự đánh giá kết quả học tập

Tự học chỉ thực sự có hiệu quả khi người học có đầy đủ các phương tiện hỗ trợ cho hoạt động tự học, phương tiện đầu tiên phải kể đến là tài liệu giáo trình, các tài liệu hướng dẫn tự học và các tài liệu tham khảo khác Ngoài

ra c̣n các phương tiện hỗ trợ như đèn chiếu, băng hình, máy vi tính, các phýõng tiện nghe nhìn khác phục vụ cho hoạt động học tập của SV

1.3 Hoạt động tự học của sinh viên hệ vừa làm vừa học

1.3.1 Ý nghĩa của hoạt động tự học của sinh viên hệ vừa làm vừa học

Tự học giúp người học chiếm lĩnh và nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo trong nghề nghiệp tương lai một cách nhanh chóng và bền vững Trong dạy học người học đóng vai trò là chủ thể nhận thức và mối quan hệ giữa việc dạy và tự học là quan hệ ngoại lực - nội lực Chính vì vậy, cho dù người dạy

có giỏi đến đâu cũng chỉ là người hướng dẫn, là chất xúc tác để người học tự nhận thức, tự chiếm lĩnh tri thức, tự học mới là yếu tố nội lực quyết định đến tính chất và tốc độ của quá trình chiếm lĩnh tri thức của người học Ở đây, SV

đã thể hiện ở mức độ cao vai trò của chủ thể nhận thức và kết hợp thống nhất, hài hòa giữa vai trò là chủ thể nhận thức với vai trò là đối tượng điều khiển

Trang 21

trong dạy học Hoạt động học gắn chặt với HĐTH, tự học là cốt lõi của việc học Qua tự học sẽ giúp người học tự kiểm tra mức độ kết quả lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo để người học tự điều chỉnh hoạt động học tập của mình.

Tự học còn giúp SV hình thành niềm tin khoa học và rèn luyện ý chí phấn đấu, đức tính kiên trì, phê phán, bồi dưỡng hứng thú học tập, lòng say

mê nghiên cứu khoa học Qua HĐTH SV mới tìm ra những vấn đề cần nghiên cứu sâu, có những chính kiến của bản thân và tìm những luận cứ để chứng minh hay phản biện các vấn đề khoa học, từ đó hình thành những đức tính tốt đối với một nhà khoa học thực thụ Những đức tính đó không thể được truyền

từ người dạy qua người học mà chính người học phải tích cực lao động bằng trí óc mới có thể hình thành

Tự học không những giúp SV không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà còn có thể hình thành phương pháp, niềm tin, thái độ tự học, tự nghiên cứu suốt đời để thích ứng với

sự biến đổi nhanh chóng, toàn diện, tốc độ cao của xã hội

Tự học giúp nâng cao chất lượng GD - ĐT của nhà trường Mục tiêu của giáo dục đào tạo là biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo Quá trình đào tạo phải tạo ra những người biết tự học, có phương pháp tự học và

tự học một cách có hiệu quả chứ không phải dạy học một cách nhồi nhét, thụ động, áp đặt Nhất là trong dạy học ở bậc đại học thì mục tiêu đó càng trở nên quan trọng và có ý nghĩa, vì thực chất học ở bậc đại học là học phương pháp

và chỉ học những kiến thức cơ bản mang tính chất nền tảng Tự học một cách sáng tạo sẽ giúp nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập của người học, từ đó

sẽ nâng cao chất lượng của quá trình GD - ĐT

Như vậy, tự học đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình nhận thức của cá nhân, góp phần nâng cao chất lượng GD - ĐT Vấn đề là HĐTH có cần được quản lý hay không? Nếu có thì phải quản lý như thế nào

Trang 22

cho phù hợp? Những vấn đề này sẽ làm sáng tỏ trong phần tiếp theo: phần Quản lý hoạt động tự học.

1.3.2 Động cơ hoạt động tự học của sinh viên hệ vừa làm vừa học

Động cơ tự học của SV có thể xuất phát từ bên ngoài hoặc chính bên trong nhu cầu nhận thức… của SV Nó được hình thành trước hết phải xuất phát từ việc người học mong muốn được thỏa mãn một nhu cầu trong học tập

là hoàn thành các nhiệm vụ học tập mà giảng viên giao cho một cách bắt buộc trong một thời gian nhất định Từ việc thực hiện nhiệm vụ bắt buộc của giảng viên giao người học sẽ nảy sinh nhu cầu, tạo ra những hứng thú, lòng say mê nghiên cứu trong học tập Chính việc giải quyết những mâu thuẫn trong quá trình tự học sẽ là yếu tố cơ bản để hình thành động cơ tự học cho người học Chỉ khi nào động cơ tự học hình thành bằng con đường này mới duy trì được

sự hứng thú, tạo sự cố gắng liên tục của người học để vượt qua mọi khó khăn

và tạo ra kết quả học tập cao nhất, để khẳng định mình trong nghề nghiệp và tìm tòi, nghiên cứu nhằm thỏa mãn những nhu cầu hiểu biết của bản thân

Vì vậy, muốn quản lý tốt HĐTH, nhà quản lý giáo dục cần phải biết hình thành động cơ tự học cho SV bằng nhiều con đường, nhiều biện pháp và hình thức khác nhau nhằm tận dụng tối đa những ưu điểm của mỗi phương pháp và hạn chế tới mức thấp nhất những tồn tại của chúng, vì các giải pháp hình thành động cơ tự học có mối quan hệ chặt chẽ với nhau

1.3.3 Kỹ năng tự học

Tự học là quá trình nỗ lực chiếm lĩnh tri thức của bản thân người học

bằng hành động của chính mình, hướng tới những mục đích nhất định.

Theo GS TS Nguyễn Cảnh Toàn (năm 1997), tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và có cả cơ bắp cùng các phẩm chất của mình, cả động cơ tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu

Trang 23

của mình Việc tự học được tiến hành khi người học có nhu cầu muốn hiểu biết một kiến thức nào đó và bằng nỗ lực của bản thân cố gắng chiếm lĩnh được kiến thức đó.

Ở các trường đại học, tự học là cần thiết và là cách học ở đại học Đó là một hình thức tổ chức hoạt động nhận thức của cá nhân nhằm chiếm lĩnh hệ thống tri thức và kỹ năng do chính bản thân người học tiến hành Khi SV tự mình huy động mọi phẩm chất, năng lực của bản thân để tiến hành các hoạt động tìm tòi, khám phá độc lập nhằm mục đích chiếm lĩnh tri thức là họ tiến hành hoạt động tự học

1.3.4 Điều kiện để thực hiện hoạt động tự học

Tự học là yếu tố quyết định chất lượng học tập, chất lượng đào tạo, là con đường nhanh chóng đưa sự nghiệp giáo dục nước ta tiến kịp các nước

trong khu vực và trên thế giới.

Tự học được xuất phát từ chính nhu cầu muốn học hỏi, muốn gia tăng

sự hiểu biết để làm việc và sống tốt hơn của mỗi người, là hình thức học tập không thể thiếu được của SV đang học tập tại các trường đại học Thực tế giảng dạy tại các trường đại học cho thấy, nếu SV không chịu khó học tập, đào sâu nghiên cứu, mở rộng thêm kiến thức bằng cách học tập độc lập thì các thầy giáo, cô giáo có dạy giỏi, có kiến thức sâu rộng và trình độ nghiệp vụ vững vàng đến mấy chất lượng học tập cũng không thể cao

Hiện nay, xã hội đặt ra cho giáo dục và đào tạo ngày càng khắt khe, đòi hỏi các trường đại học không chỉ đào tạo ra nguồn nhân lực thông thạo về lý thuyết mà còn phải biết vận dụng, ứng dụng những kiến thức đó vào thực tiễn đời sống Để đáp ứng yêu cầu đó, các trường đại học đã phát động đổi mới phương pháp học tập Tuy các đội ngũ giảng viên đã tiến hành ứng dụng nhưng chuyển biến về chất lượng trong giờ dạy chưa thật sự có kết quả cao Bởi SV quen với việc thụ động trong việc tiếp nhận, áp đặt Trong bài giảng

Trang 24

của thầy giáo, cô giáo đều có phần định hướng, tổ chức tự học cho SV nhưng nhiều khi SV chỉ thực hiện một cách sơ sài Như vậy, việc tự học của SV được đặt ra như một nhu cầu bức thiết.

1.3.5 Hình thành hoạt động tự học cho sinh viên hệ vừa làm vừa học

- Quan trọng là SV phải xác định đúng đắn động cơ mục đích học tập của mình Phải xác định học cho chính mình, học để kiếm sống và làm việc, học để phát huy năng lực bản chất của mình và sau đó mới có điều kiện để phục vụ nhân dân và xã hội SV cần chủ động trong quá trình học tập, không nên thụ động, phải tự giác học tập, phải nắm kiến thức vững chắc SV phải có

kế hoạch sao cho phù hợp, sẽ giúp cho chính mình tránh được sự chồng chéo

và tùy tiện trong học tập Có kế hoạch học tập và kiên trì thực hiện theo lịch trình đã định và phải tập trung cao độ trong học tập, nghiêm khắc với chính mình mặt dù công việc hàng ngày đang bị chi phối sự học đối với SV vừa đi làm vừa đi học

Bản thân SV phải tìm ra phương pháp học tập phù hợp với sở trường của chính bản thân mình,tìm tòi suy nghĩ trước một vấn đề, phải đưa ra giả định và tự tìm cách trả lời Ngoài ra, SV còn phải mạnh dạn trao đổi với thầy

cô với bạn bè bất cứ lúc nào để trao đổi học tập

Bản thân SV tìm cách ghi nhớ để tri thức được cô đọng lại trong đầu góp phần cho tư duy sáng tạo Bởi lẽ, nếu không nhớ tri thức, không thuộc tri thức thì không thể có điều kiện nghiền ngẫm, điều kiện so sánh, phân tích, liên tưởng, suy đoán, biến tri thức tiếp thu từ sách vở, từ thầy cô và nhiều nguồn khác nữa thành tri thức của mình Bao giờ cũng thế, từ những tri thức

đã tiếp thu được nếu chịu khó nghiền ngẫm suy nghĩ thấu đáo thì sẽ nảy sinh tri thức mới cho mình

Trang 25

- Phải biết chịu khó lắng nghe, biết cách tự ghi chép Nghe để nắm bắt thông tin, nghe để học cách diễn đạt và sử dụng ngôn từ Chịu nghe vẫn hơn

là chịu nói, có ý nghĩa sâu sắc trong quá trình tự học, tự bồi bổ tri thức cho mình Chú ý tìm ra những ý quan trọng mà thầy cô nhấn mạnh trong bài giảng, lúc mà thầy cô láy đi láy lại nhiều lần Và khi đã nắm được cái “thần” bài giảng của thầy cô thì chính là lúc đã lớn lên trong ta niềm tin khoa học và

mở rộng và đào sâu Với các ngành khoa học xã hội và nhân văn nên chú ý việc đưa ra các hình ảnh minh họa, phân tích hình ảnh minh họa của thầy cô Ghi chép ngắn gọn là kết quả của sự lắng đọng của bản thân khi tiếp cận tri thức Phải biết cách ghi chép cho riêng mình

- Tự đọc, tự nghiên cứu làm căn bản Xem, nhìn, nghe, đọc là các khâu quan trọng mở đầu, sau đó là nghiên cứu, là trao đổi Nói cách khác là các hoạt động này phải có hướng đích Đọc sách ngày nay dường như được xếp dưới nghe, nhìn, nhưng nếu không đọc thì sẽ là một hẫng hụt lớn và là sai lầm nghiêm trọng Khâu đọc lả rất cần thiết, cách đọc là quan trọng Đọc bao giờ cũng mang lại cảm giác khác với nghe, nhìn Đó là quá trình thẩm thấu các con chữ với sức nặng của tầng sâu tri thức Ta suy nghĩ đằng sau chữ ấy, cách lập luận ấy, các tác giả muốn nói gì, toát ra nội dung gì, truyền báo thông điệp gì

Trang 26

Có rất nhiều cách đọc, đọc chi tiết, tỉ mỉ hoặc đọc lướt, lướt nhanh

để hiểu cốt sách hay chỉ tìm những nhận định, những đánh giá mà tác giả trình bày Điều này, tùy thuộc vào mục đích đọc của từng người Kinh nghiệm đọc cho thấy rằng, rất cần tư duy phản biện, tư duy phán đoán thường trực trong người đọc, dài lâu sẽ hình thành tư duy phê phán, khả năng sáng tạo của người đọc được phát huy Trong quá trình đọc phải biết dùng bút đánh dấu những chỗ quan trọng, vấn đề nào đọc lướt qua, nội dung nào cần được đào sâu, nhớ kỹ Trong quá trình đọc phải biết thâu tóm vấn đề một cách lô gích chặt chẽ Động thái dừng đọc nêu những câu hỏi

và tự trả lời cũng lại là một cách kiếm tìm tri thức Tốt nhất là vừa đọc vừa ghi chép, lưu lại tri thức, những ý tưởng hay và khi sử dụng giúp ta khái quát vấn đề nhanh và nhớ lâu

- SV phải xây dựng cho mình một hệ kỹ năng Muốn đi tới tri thức phải

có một quá trình tổng hợp các kỹ năng, phải có phương pháp cụ thể và học khôn những ở trường, ở lớp mà phải biết học ở mọi nơi, mọi lúc, mọi điều kiện với những ưu thế nhất định

- SV phải không ngừng tự tìm tài liệu thông qua nhiều kênh tư liệu Kinh nghiệm của SV khóa trước là rất quan trọng so với khóa sau trong việc tiếp cận những nguồn tài liệu quý Muốn vậy, SV phải tự nghiên cứu cho mình một kỹ năng đọc sách Trên lớp, SV phải lắng nghe nắm được những vấn đề cốt lõi những nội dung cơ bản mà thầy cô truyền thụ Phải tích cực độc lập tiếp thu tri thức, ghi bài phải có chọn lọc, ghi những ý chính, nội dung cơ bản, sử dụng ký hiệu riêng để nhanh chóng và đầy đủ ngay cả khi trí óc ghi nhớ tốt và phải ghi những vấn đề thắc mắc, còn nghi nghi hoặc hay băn khoăn, vấn đề nào cần mở rộng, vấn đề nào còn đào sâu…

Học tại nhà cũng là củng cố kiến thức đã học trên lớp, xem lại bài ghi tìm ra mối quan hệ giữa các nội dung Quá trình này thực chất là từng bước

Trang 27

hình thành kỹ năng tương ứng với tri thức đã học Hình dung lại bài giảng của thầy cô bằng ngôn ngữ của chính mình, ở đây thể hiện có cả tri thức mới và tri thức cũ

1.4 Quản lý hoạt động tự học của sinh viên hệ vừa làm vừa học

1.4.1 Mục đích quản lý hoạt động tự học

Trong quá trình học tập, ngoài những hoạt động được tiến hành dưới sự

tổ chức, điều khiển của giảng viên theo chương trình của nhà trường, người học còn tiến hành HĐTH nhằm đáp ứng nhu cầu nâng cao, mở rộng kiến thức hiểu biết riêng Như vậy, HĐTH của SV có phạm vi rất rộng: từ tự học trên lớp dưới sự điều khiển trực tiếp của giảng viên, tự học ngoài giờ lên lớp dưới

sự điều khiển gián tiếp của giảng viên và tự học hoàn toàn độc lập không có giảng viên Ngoài chương trình qui định như trong phần khái niệm tự học đã nêu và phân tích, HĐTH được đề cập dưới góc độ là quá trình độc lập nổ lực của người học nhằm củng cố, đào sâu, mở rộng và vận dụng kiến thức đã được lĩnh hội qua các hình thức học tập trên lớp, là quá trình người học tự tổ chức hoạt động nhận thức của mình một cách tự giác, độc lập và sáng tạo Trong quá trình tự học, người học tự xác định mục tiêu, nội dung tự học theo một trình tự hợp lý, phân phối thời gian cho từng nội dung, lựa chọn phương tiện, vật chất, tự huy động năng lực cá nhân để hoàn thành công việc, tự kiểm tra và tự điều chỉnh HĐTH của mình để hoàn thành tốt nhiệm vụ tự học đề ra

Do vậy, đề tài nghiên cứu quản lý HĐTH dưới góc độ quản lý các hoạt động của người học trong quá trình tự học ngoài giờ lên lớp và quản lý các điều kiện đảm bảo cho HĐTH là cần thiết nhằm làm cho HĐTH của người học đạt hiệu quả cao, hoàn thành mục đích, nhiệm vụ dạy - học Trong quá trình dạy học của các trường đại học, SV có thể tiến hành hoạt động học tập dưới nhiều hình thức khác nhau trong những điều kiện khác nhau Khi người học tự mình huy động những phẩm chất, năng lực để tiến hành các hành động

Trang 28

tìm tòi, khám phá độc lập nhằm mục đích chiếm lĩnh tri thức - khi đó họ đã tiến hành HĐTH Hoạt động tự học của SV có thể diễn ra dưới sự chỉ đạo của giảng viên.

Khi không có giảng viên điều khiển, hướng dẫn trực tiếp, người học tự mình sắp xếp kế hoạch, huy động các điều kiện vật chất và năng lực của bản thân để củng cố, đào sâu mở rộng và hoàn chỉnh kiến thức, hoàn thành nhiệm

vụ học tập mà giảng viên giao, lĩnh hội một phần kiến thức mới Đó là SV tự học dưới sự điều khiển gián tiếp của giảng viên nhằm hoàn thành tốt kiến thức môn học

1.4.2 Nội dung quản lý hoạt động tự học

Xét dưới góc độ cấu trúc hệ thống của HĐTH, thì quản lý HĐTH gồm các nội dung sau:

- Giáo dục động cơ tự học cho SV:

Mọi hoạt động của con người đều là hoạt động có mục đích, được thúc đẩy bởi động cơ nhất định Động cơ hoạt động là lực đẩy trực tiếp, là nguyên nhân trực tiếp của hành động, duy trì hứng thú, tạo ra sự chú ý liên tục giúp chủ thể vượt mọi khó khăn, đạt mục đích đã định Vì vậy, động cơ là một yếu

tố quan trọng quyết định kết quả của hoạt động đó

HĐTH của SV bình đẳng như các hoạt động khác, song nó có tính độc lập cao và mang đậm sắc thái cá nhân, điều này càng khẳng định nó được thúc đẩy bởi hệ thống động cơ học tập nói chung, động cơ tự học nói riêng Giống như động cơ hoạt động nói chung, động cơ tự học cũng có nhiều cấp độ khác nhau, bắt đầu tự sự thỏa mãn nhu cầu phải hoàn thành nhiệm vụ tự học bắt buộc, tự khẳng định mình trong xã hội, trong học tập và công tác cho tới cấp

độ cao là thảo mãn nhu cầu hiểu biết, nhu cầu khám phá tri thức nhân loại

- Quản lý nội dung tự học:

Trang 29

Để quản lý được nội dung tự học, hướng cho SV xác định nội dung tự học phù hợp mục tiêu, yêu cầu đào tạo và môn học, giảng viên phải hướng dẫn nội dung tự học cho SV Nội dung tự học cơ bản có hai phần:

+ Hệ thống các nhiệm vụ tự học có tính chất bắt buộc (SV bắt buộc phải hoàn thành)

+ Định hướng nghiên cứu, đào sâu, mở rộng trí thức từ các vấn đề trong nội dung học tập

- Quản lý kế hoạch tự học:

Xây dựng kế hoạch tự học là việc làm quan trọng góp phần nâng cao chất lượng tự học Kế hoạch tự học là bảng phân chia nội dung tự học theo thời gian một cách hợp lý dựa trên yêu cầu nhiệm vụ tự học, khả năng của bản thân và các điều kiện được đảm bảo, nhằm hướng tới mục tiêu đào tạo, mục tiêu môn học, bài học Kế hoạch tự học giúp cho người học thực hiện các nhiệm vụ tự học một cách khoa học, hiệu quả Quản lý việc xây dựng kế hoạch và quản lýthực hiện kế hoạch tự học sẽ góp phần nâng cao chất lượng

tự học của SV

- Quản lý phương pháp tự học:

Phương pháp tự học là những cách thức mà cá nhân người học sử dụng

để tiếp thu, xử lý nội dung học tập trong quá trình nhận thức của mình Phương pháp tự học có mối quan hệ chặt chẽ với các yếu tố của quá tŕnh dạy học, bị chi phối bởi các yếu tố đó, đặc biệt là phương pháp dạy Với chức năng tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức cho người học, phương pháp dạy có tác dụng định hướng phương pháp tự học cho người học

Nội dung quản lý phương pháp tự học, gồm:

+ Quản lý tri thức phương pháp tự học: Người học nắm mô hình, chức năng của từng phương pháp cụ thể và sự sáng tạo phương pháp trong tự học

Trang 30

+ Quản lý kỹ năng tự học: Nghe (giảng trên lớp, băng đĩa) đọc (giáo trình, tài liệu tham khảo khác ) ghi chép, trao đổi, xử lý số liệu, phân tích, tổng hợp, so sánh của SV.

- Quản lý các điều kiện đảm bảo cho HĐTH của SV gồm các mặt sau:+ Quản lý CSVC phục vụ học tập trên lớp và tự học

+ Quản lý tài liệu, phương tiện kỹ thuật phục vụ tự học

+ Quản lý các hoạt động đảm bảo thời gian cho HĐTH của SV

- Quản lý việc kiểm tra - đánh giá kết quả HĐTH của SV

+ Kiểm tra, đánh giá tinh thần, thái độ tự học trong tổng thể đánh giá kết quả học tập

+ Chọn hình thức kiểm tra phù hợp, có hình thức kiểm tra những nội dung tự học đã giao cho SV

+ Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch tự học theo các mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ tự học Phát hiện sai lệch, giúp người học điều chỉnh HĐTH

Tóm lại, HĐTH là hoạt động của SV, do chính SV “tự động học tập, tự động tiến hành”, nhưng khi được quản lý tác động thì chắc chắn hoạt động này sẽ có hiệu quả hơn

1.4.3 Phương pháp, hình thức quản lý hoạt động tự học

1.3.2.1 Vai trò của cán bộ quản lý trong việc quản lý hoạt động tự học

Ngày nay, trong bối cảnh thời đại công nghệ thông tin, nền kinh tế thị trường, quá trình học tập của SV ở trường cao đẳng, đại học có những đặc điểm sau:

- Sự phát triển của khoa học - công nghệ và sự bùng nổ công nghệ thông tin nên nội dung dạy học ở các trường có xu hướng mở rộng các môn học mang tính liên ngành, đòi hỏi phải tăng cường các hoạt động học tập để đáp yêu cầu về tri thức

Trang 31

- Trong thời đại công nghệ thông tin ngày càng phát triển, do khối lượng thông tin tăng nhanh và vô cùng phong phú, đòi hỏi nhà trường phải thay đổi cách đào tạo nặng về trang bị kiến thức trước đây sang đào tạo giúp người học theo sát được những thay đổi, phát hiện và giải quyết được những vấn đề đặt ra, thì phải hết sức chú trọng dạy cách học Phương pháp dạy học lấy người học làm trung tâm - xu hướng đổi mới phương pháp dạy học đang được các trường thực hiện nhằm phát huy cao độ tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học Tự học đã trở thành một bộ phận cơ bản, không thể thiếu trong hoạt động học tập của SV

- Tính hai mặt của nền kinh tế thị trường đã làm thay đổi thang giá trị, xáo trộn thứ bậc động cơ, làm thay đổi bản chất động cơ học tập của SV Động cơ nghề nghiệp được đặt lên trên, hướng việc học tập vào việc tìm kiếm việc làm

- Xu thế GD - ĐT đại học có sự đa dạng hóa về cấu trúc, thể chế, chương trình và hình thức học tập, điều này giúp SV phát huy tính năng động, sáng tạo khả năng tự học

Với những đặc điểm trên, đòi hỏi người CBQL phải quán triệt sâu sắc công tác quản lý hoạt động học tập của SV, không chỉ là quản lý quá trình tiếp thu tri thức, kỷ năng, động cơ, thái độ học tập trên lớp mà còn phải quản lý tốt HĐTH để nâng cao chất lượng đào tạo Mặt khác, kiến thức mà Nhà trường trang bị cho người học chỉ là những kiến thức cơ bản, nền tảng, tối thiểu và cũng nhanh chóng lạc hậu với sự phát triển của xã hội Chỉ có tự học mới giúp cho họ củng cố, hoàn thiện tri thức mới để thích ứng với công việc và với yêu cầu cuộc sống Do đó, quản lý HĐTH rất cần được thực hiện duy trì một cách chặt chẽ, khoa học, hiệu quả ở trong nhà trường Những yêu cầu bức thiết ấy đòi hỏi người CBQL phải có những biện pháp quản lý HĐTH đối với SV trong giai đoạn mới để nâng cao chất lượng đào tạo theo mục tiêu đã đề ra

Trang 32

1.3.2.2 Đặc điểm quản lý hoạt động tự học

Trong quá trình dạy học, SV các trường đại học có thể tiến hành hoạt động học tập dưới nhiều hình thức khác nhau trong những điều kiện khác nhau Khi người học tự mình huy động những phẩm chất, năng lực để tiến hành các hành động tìm tòi, khám phá độc lập nhằm mục đích chiếm lĩnh tri thức - tức là họ tiến hành HĐTH HĐTH của SV có thể diễn ra dưới sự chỉ đạo của giảng viên Khi đó, người học là chủ thể nhận thức tích cực, họ phải huy động mọi phẩm chất tâm lý cá nhân, tiến hành những hành động học tập

để lĩnh hội kiến thức theo sự dẫn dắt trực tiếp của giảng viên Khi không có giảng viên điều khiển trực tiếp, người học tự mình sắp xếp kế hoạch, huy động các điều kiện vật chất và năng lực bản thân để củng cố, đào sâu, mở rộng và hoàn chỉnh kiến thức, hoàn thành nhiệm vụ học tập mà giảng viên giao, lĩnh hội một phần kiến thức mới Đó là SV tự học dưới sự điều khiển gián tiếp của giảng viên nhằm hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ dạy - học

Trong quá trình học tập, ngoài những hoạt động được tiến hành dưới sự

tổ chức, điều khiển của giảng viên, người học còn tiến hành HĐTH nhằm đáp ứng nhu cầu nâng cao hiểu biết riêng, bổ sung và mở rộng tri thức ngoài chương trình đào tạo đã quy định.Như vậy, HĐTH của SV có phạm vi rất rộng: tự học trên lớp dưới sự điều khiển trực tiếp của giảng viên, tự học ngoài giờ lên lớp dưới sự điều khiển gián tiếp của giảng viên và tự học hoàn toàn độc lập không có sự tổ chức, điều khiển của giảng viên

Do mục đích và phạm vi nghiên cứu củađề tài, chúng tôi chỉ xem xét việc quản lý HĐTH của SV hệ VLVH của trường Đại học Sài Gòn ngoài thời gian lên lớp trong quá trình dạy - học và luôn đặt dưới sự điều khiển gián tiếp của giảng viên, đặt dưới sự tổ chức, quản lý của cán bộquản lý lớp (Giáo viên chủ nhiệm) nhằm hoàn thành mục đích, nhiệm vụ dạy học của nhà trường HĐTH của SV được đề cập ở đây là quá trình độc lập, nổ lực của người học

Trang 33

nhằm củng cố, đào sâu, mở rộng và vận dụng kiến thức đã được lĩnh hội qua các hình thức lên lớp Tự học là quá trình người học tự tổ chức hoạt động lĩnh hội của mình một cách tự giác, độc lập, sáng tạo Trong quá trình tự học, người học tự xác định mục tiêu, sắp xếp bố trí nội dung tự học theo một trình

tự hợp lý, phân phối thời gian cho từng nội dung, lựa chọn phương tiện, vất chất, tự huy động năng lực cá nhân để hoàn thành công việc, tự kiểm tra và tự điều chỉnh HĐTH của mình để hoàn thành tốt nhiệm vụ tự học đề ra

Với ý nghĩa đó, đề tài quan tâm đến quản lý HĐTH như là quản lý các hoạt động của người học trong quá trình tự học ngoài giờ lên lớp và quản lý các điều kiện đảm bảo cho HĐTH nhằm làm cho HĐTH của người học đạt hiệu quả cao, hoàn thành mục đích, nhiệm vụ dạy - học

1.4.4 Nâng cao chất lượng hoạt động tự học của sinh viên hệ vừa làm vừa học

Giáo dục đại học hiện nay hướng đến đạt mục tiêu “Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học, tạo chuyển biến cơ bản về chất lượng, hiệu quả và qui mô, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế và nhu cầu học tập của nhân dân Đến năm 2020, giáo dục đại học Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và tiếp cận trình độ tiên tiến trên thế giới, có năng lực cạnh tranh cao, thích ứng với cơ chế thị trường định

hướng XHCN” (Trích Nghị quyết 14 của Chính phủ) Trong số nhiều nhiệm

vụ và giải pháp dành cho giáo dục đại học, có giải pháp đổi mới nội dung, phương pháp và qui trình đào tạo Triển khai đổi mới phương pháp đào tạo đại học theo 3 tiêu chí: “Trang bị cách học, phát huy tính chủ động của người học; sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong hoạt động dạy và học; khai thác các nguồn tư liệu giáo dục mở và nguồn tư liệu trên internet; lựa chọn, sử dụng các chương trình, giáo trình tiên tiến của các nước ” Tất cả những điều trên đều là thách thức không nhỏ đối với đào tạo đại học, trong đó

Trang 34

có đào tạo hệ VLVH (lâu nay vẫn gọi là đào tạo tại chức) Không chỉ thế, việc Việt Nam gia nhập WTO vừa qua cũng tạo cho giáo dục đại học Việt Nam những cơ hội và thách thức mới Cơ hội của giáo dục đại học có thể là:

- Được tiếp cận với các nền giáo dục đại học tiên tiến, có khả năng học hỏi, tiếp thu những yếu tố tiên tiến phù hợp với truyền thống của giáo dục đại học Việt Nam, làm cơ sở cho sự nghiệp đổi mới giáo dục đại học Việt Nam, hội nhập với giáo dục đại học thế giới

-Việt Nam gia nhập WTO cũng thúc đẩy tiến trình đổi mới giáo dục đại học nhanh hơn, đồng bộ hơn và hiệu quả hơn.Những thách thức của giáo dục đại học dườngnhư cũng lớn hơn:

- Cạnh tranh trong lĩnh vực giáo dục đại học sẽgay gắt hơn, với nhiều đối thủ hơn ngay trên đất nước Việt Nam

-Trong bối cảnh mới đầy biến động, giáo dục đại học Việt Nam vẫn phải gìn giữ bản sắc dân tộc, định hướng xã hội chủ nghĩa trong đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp đất nước Hệ đào tạo VLVH hiện tại cũng đang nỗ lực phấn đấu hướng tới mục tiêu chung của ngành giáo dục đào tạo Hệ đào tạoVLVH tại trường Đại học Sài Gòn đang gánh một trách nhiệm khá lớn lao, vẻ vang và cũng không kém phần nặng nề: đào tạo đội ngũ cán

bộ có trình độ cử nhân cho ngành tại TP Hồ Chí Minh và các địa phương gần

TP Hồ Chí Minh Đối tượng đào tạo của hệ VLVH phong phú, đa dạng về ngành nghề, trình độ, độ tuổi… Phần lớn đối tượng này có ưu thế vượt trội đó

là vốn sống, vốn kinh nghiệm trong công tác chuyên môn của ngành song bên cạnh đó họ thực sự hụt hẫng cơ bản về tri thức lý thuyết nền, lý thuyết đại cương Mặc dù vậy, thành tựu đạt được trong công tác đào tạo hệ VLVH của trường Đại học Sài Gòn là số lượng SV ngày càng tăng Chất lượng đào tạo là kết quả của quá trình đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt

Trang 35

nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình đào tạo theo các ngành nghề cụ thể Để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo hệ VLVH của Trường Đại học Sài Gòn trong thời gian tới, chúng tôi nghĩ rất cần có sự thay đổi bởi những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng đào tạo

+ Chương trình dạy học hệ VLVH: Ngày nay, quan niệm về chương trình giáo dục đã rộng hơn, đó không chỉ là việc trình bày mục tiêu cuối cùng

và bảng danh mục các nội dung giảng dạy Chương trình vừa cần cụ thể, bao quát hơn, vừa là một phức hợp bao gồm 4 bộ phận cấu thành: Mục tiêu học tập; Phạm vi, mức độ và cấu trúc nội dung học tập; Các phương pháp, hình thức tổ chức học tập; Đánh giá kết quả học tập Như vậy, cấu trúc của chương trình sẽ gồm hai phần chính: Phần 1 là hình dung trước những thành tích mà người học sẽ đạt được sau một thời gian học tập Phần 2 là cách thức, phương tiện, con đường, điều kiện để mong muốn đó trở thành hiện thực

Theo tác giả Nguyễn Hữu Chí (năm 1997): “Chương trình đào tạo là sự trình bày có hệ thống một kế hoạch tổng thể các hoạt động giáo dục trong một thời gian xác định, trong đó nêu lên các mục tiêu học tập mà người học cần đạt được, đồng thời xác định rõ phạm vi, mức độ nội dung học tập, các phương tiện, phương pháp, cách thức tổ chức học tập, cách đánh giá kết quả học tập, nhằm đạt được các mục tiêu học tập đề ra” Hiểu như vậy, chúng ta

có thể hình dung những thành phần cơ bản của một chương trình giáo dục sẽ là: Nhu cầu đào tạo; Mục đích, mục tiêu đào tạo; Nội dung đào tạo; Phương thức đào tạo; Các hình thức tổ chức hoạt động đào tạo; Các hình thức kiểm tra đánh giá kết quả đào tạo Chương trình đào tạo của một khoá học là yếu tố then chốt không thể không quan tâm hàng đầu ở bất kỳ một trường học nào Chương trình sẽ quyết định nội dung dạy và học; phương pháp dạy học Trong thời đại giao lưu, hội nhập, mở cửa hiện nay, mỗi hệ đào tạo ở từng trường cần tạo dựng được cho mình một khung chương trình đào tạo phù hợp,

Trang 36

trong đó lượng kiến thức dạy học phải là những tri thức khoa học mới mẻ, tích hợp, đa ngành, đáp ứng được nhu cầu người học và quan trọng hơn là phải đáp ứng được nhu cầu sử dụng sản phẩm đào tạo của thực tế xã hội.

+ Người học: Hệ VLVH cần tuyển đúng, chặt, sát hơn các đối tượng vào học Trong bối cảnh mới, SV không còn là người thụ động tiếp nhận kiến thức từ giảng viên, mà trở thành một chủ thể tự giác, tự tổ chức và tự chịu trách nhiệm về quá trình nhận thức của bản thân dưới sự hướng dẫn và

tổ chức của giảng viên Chất lượng của quá trình dạy - học phụ thuộc không nhỏ vào việc cá nhân người học có tích cực trong việc học hay không Do đó, để đạt được hiệu quả của việc dạy học, phát huy tính chủ động của người học, người thầy phải đặt người học vào trung tâm việc học của họ, giúp họ chủ động tiếp nhận kiến thức, biến những kiến thức đó thành kiến thức của mình

+ Giáo trình học tập Cần có đủ giáo trình học tập các môn học trong chương trình để người học có nguồn học liệu tối thiểu Nguồn tài liệu, giáo trình học tiến tới phải phong phú, đa dạng, có khả năng để người học đọc, so sánh, đối chiếu khi họ có nguyện vọng, có yêu cầu…Tránh tình trạng hiện nay còn có những môn học trong chương trình người học phải học chay, không có giáo trình, tài liệu tham khảo

+ Sự quan tâm của xã hội, của ngành: Chúng ta đều biết quá trình học tập, đặc biệt khi tham gia học hệ VLVH xuất phát từ nhu cầu tự thân của người học song nếu SV đang làm việc trong một tổ chức nào đó chưa có trình độ đại học có nguyện vọng đi học đại học và nhận được sự quan tâm của cơ quan, của các cấp có thẩm quyền tạo điều kiện hỗ trợ về thời gian, kinh phí trong quá trình học tập thì sẽ tốt hơn Đó là nguồn động lực không nhỏ giúp người học cố gắng hơn trong học tập, nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập

Trang 37

Tiểu kết chương 1

Qua các vấn đề lý luận trên đây, chúng tôi nhận thấy việc tự học của

SV chính là một hình thức tổ chức dạy học ở bậc đại học - cao đẳng, trong

đó phát huy cao nhất vai trò chủ thể, tích cực độc lập nhận thức của SVnhưng không tách rời vai trò điều khiển của giảng viên Muốn có kết quả học tập cao đòi hỏi SV phải có một quá trình rèn luyện thường xuyên các kỹ năng tự học Trong quá trình rèn luyện đó giáo viên giữ vai trò quan trọng trong việc định hướng giáo dục, lựa chọn các biện pháp tác động nhằm hình thành ở SV các kỹ năng tự học và biết giúp SV rèn luyện kỹ năng tự học Việc rèn luyện kỹ năng tự học của SV được tiến hành trong mối quan hệ chặt chẽ, khoa học với hoạt động dạy của giảng viên và hoạt động dạy giữ vai trò chủ đạo, định hướng, tổ chức, dẫn dắt và điều chỉnh hoạt động tự học của SV Quá trình dạy học phải biến thành quá trình tự học Tự học của SV

là yếu tố đảm bảo kết quả, chất lượng dạy học ở đại học, cao đẳng Đây cũng chính là vấn đề mà các trường Đại học, Cao đẳng đang quan tâm và là một hướng đi không phải dễ dàng mà nó cần thời gian và các yếu tố khác cấu thành thì mới đạt hiệu quả tốt

Trang 38

2.1.1 Giới thiệu chung về trường Đại học Sài Gòn

Trường Đại học Sài Gòn trước đây mang tên Trường Cao đẳng Sư phạm Tp Hồ Chí Minh Đại học Sài Gòn được thành lập theo Quyết định số 478/QĐ-TTT ngày 25/04/07 của Thủ tướng Chính Phủ Nguyễn Tấn Dũng Đại học Sài Gòn là cơ sở giáo dục đại học công lập trực thuộc Ủy Ban Nhân dân TP Hồ Chí Minh, Đại học Sài Gòn chịu sự quản lý Nhà nước về Giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo Đại học Sài Gòn là trường đào tạo đa ngành đa cấp, đa lĩnh vực Đại học Sài Gòn đào tạo từ trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học Đại học Sài Gòn đào tạo theo 2 phương thức: chính quy

và không chính quy (VLVH, liên thông) Tốt nghiệp Đại học Sài Gòn sinh viênhọc được cấp các bằng cấp: trung cấp chuyên nghiệp, cử nhân, kỹ sư, thạc sĩ

Hiện nay, Đại học Sài Gòn đang tổ chức đào tạo cho 30 chuyên ngành cấp độ đại học, 25 chuyên ngành cấp độ cao đẳng, 4 chuyên ngành cấp độ trung cấp thuộc các lãnh vực: kinh tế - kỹ thuật; văn hoá - xã hội; chính trị - nghệ thuật và sư phạm

Ngoài việc đào tạo cấp bằng, Đại học Sài Gòn còn được phép đào tạo cấp các chứng chỉ tin học và ngoại ngữ cấp độ A, B, C Đại học Sài Gòn được

Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép cấp chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm bậc I, bậc

II Đại học Sài Gòn cũng đào tạo và cấp các chứng chỉ về ứng dụng Công nghệ thông tin và ứng dụng các nghiệp vụ khác

Trang 39

Các cơ sở hoạt động của Đại học Sài Gòn:

- Trụ sở chính: 273 An Dương Vương - Phường 3 - Quận 5

- Cơ sở 105 Bà Huyện Thanh Quan - Phường 7 - Quận 3

- Cơ sở 04 Tôn Đức Thắng - Quận 1

- Trường Trung học Thực Hành, 220 Trần Bình Trọng - Phường 4 - Quận 5

Hiện nay Đại học Sài Gòn đang triển khai xây dựng cơ sở mới tại Phường Tân Phong Quận 7, khu Nam Sài Gòn

Đại học Sài Gòn đã được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng I,

II, III

Sau 7 năm thành lập, trường đã tạo được uy tín trong xã hội, người học

đã biết đến Trường Đại học Sài Gòn ngày càng nhiều, số thí sinh dự thi tuyển sinhvào nhà trường ngày càng tăng:

Năm 2009 - 2010: 28.000 thí sinhNăm 2010 - 2011: 43.000 thí sinhNăm 2011 - 2012: 51.000 thí sinhNăm 2012 - 2013: 49.000 thí sinh

Trang 40

Và đồng thời số lượng sinh viên của trường cũng tăng nhanh, với số lượng được thống kê trong 3 năm học vừa qua như sau:

Bảng 2.1 Bảng thống kê số lượng sinh viên qua 3 năm học

Hệ Đại học liên thông chính quy 377 1667 1285

PHÒNG ĐÀO TẠO TẠI CHỨC & TNGV QUẢN LÝ

Hệ Đại học VLVH, Đại học liên

Ngày đăng: 03/11/2015, 19:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ngọc Bảo, Hà Thị Đức (2000), Tổ chức hoạt động dạy học ở trường trung học cơ sở, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức hoạt động dạy học ở trường trung học cơ sở
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bảo, Hà Thị Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
2. Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc (1997), Những cơ sở khoa học về quản lý giáo dục. Trường cán bộ quản lý giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở khoa học về quản lý giáo dục
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Năm: 1997
3. Trần Thị Dung (2006), Quản lý hoạt động tự học trong khu nội trú - một biện pháp nâng cao hiệu quả học tập của sinh viên, Tạp chí Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý hoạt động tự học trong khu nội trú - một biện pháp nâng cao hiệu quả học tập của sinh viên
Tác giả: Trần Thị Dung
Năm: 2006
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
5. Trịnh Thanh Hà (2004), Quản lý hoạt động tự học của học viên hệ từ xa, Tạp chí Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý hoạt động tự học của học viên hệ từ xa
Tác giả: Trịnh Thanh Hà
Năm: 2004
6. Đặng Hữu Hoạt, Hà Thị Đức, (1994), Lý luận dạy học đại học, Nxb Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học đại học
Tác giả: Đặng Hữu Hoạt, Hà Thị Đức
Nhà XB: Nxb Sư phạm Hà Nội
Năm: 1994
7. Nguyễn Thị Lan Hương (2009), Quản lý hoạt động tự học của sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hoá Nga trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ , Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý hoạt động tự học của sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hoá Nga trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ
Tác giả: Nguyễn Thị Lan Hương
Năm: 2009
8. Nguyễn Kỳ, Nguyễn Cảnh Toàn (1997), Dạy- tự học, Nxb Giáo dục 9. Luật Giáo dục (2005), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy- tự học", Nxb Giáo dục9. "Luật Giáo dục
Tác giả: Nguyễn Kỳ, Nguyễn Cảnh Toàn (1997), Dạy- tự học, Nxb Giáo dục 9. Luật Giáo dục
Nhà XB: Nxb Giáo dục9. "Luật Giáo dục "(2005)
Năm: 2005
10. Nguyễn Bá Minh (2006), Nghiên cứu tổ chức quá trình dạy- tự học phần tâm lý học lứa tuổi sư phạm, Đề tài NCKH, Mã số: T2006-09-07, Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tổ chức quá trình dạy- tự học phần tâm lý học lứa tuổi sư phạm
Tác giả: Nguyễn Bá Minh
Năm: 2006
11. Võ Quang Phúc (2001), Một số vấn đề về tự học, Trường Cán bộ quản lý giáo dục - đào tạo II, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về tự học
Tác giả: Võ Quang Phúc
Năm: 2001
12. Nguyễn Thị Tính (2004), các biện pháp tổ chức hoạt động tự học môn Giáo dục học cho sinh viên các trường đại học sư phạm, LATS, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: các biện pháp tổ chức hoạt động tự học môn Giáo dục học cho sinh viên các trường đại học sư phạm
Tác giả: Nguyễn Thị Tính
Năm: 2004
13. Nguyễn Cảnh Toàn (1997), Quá trình dạy - tự học, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình dạy - tự học
Tác giả: Nguyễn Cảnh Toàn
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 1997
14. Nguyễn Thành Thế (2009), Biện pháp tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên Khoa Ngoại Ngữ trường Đại học Thài Nguyên, Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên Khoa Ngoại Ngữ trường Đại học Thài Nguyên
Tác giả: Nguyễn Thành Thế
Năm: 2009
15. Thái Duy Tuyên (2003), Dạy tự học cho sinh viên trong các nhà trường Cao đẳng Đại học chuyên nghiệp, Chuyên đề Phương pháp dạy học cho học viên Cao học, Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy tự học cho sinh viên trong các nhà trường Cao đẳng Đại học chuyên nghiệp
Tác giả: Thái Duy Tuyên
Năm: 2003
16. Thái Duy Tuyên (2004), Những vấn đề chung của Giáo dục học, Nxb Đại học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề chung của Giáo dục học
Tác giả: Thái Duy Tuyên
Nhà XB: Nxb Đại học
Năm: 2004
17. A.A. Gôroxepxki-M.I. Lubixowra (1987), Tổ chức công việc tự học của sinh viên đại học, Nxb Đại học Sư phạm 1, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức công việc tự học của sinh viên đại học
Tác giả: A.A. Gôroxepxki-M.I. Lubixowra
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm 1
Năm: 1987

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Bảng thống kê số lượng sinh viên qua 3 năm học - Một số giải pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên hệ vừa làm vừa học tại trường Đại học Sài Gòn
Bảng 2.1. Bảng thống kê số lượng sinh viên qua 3 năm học (Trang 40)
Bảng 2.2. Số lượng sinh viên đầu vào từ năm 2008 đến 2013 - Một số giải pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên hệ vừa làm vừa học tại trường Đại học Sài Gòn
Bảng 2.2. Số lượng sinh viên đầu vào từ năm 2008 đến 2013 (Trang 43)
Bảng 2.4. Số lớp và số sinh viên hệ VLVH năm học 2012-2013 - Một số giải pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên hệ vừa làm vừa học tại trường Đại học Sài Gòn
Bảng 2.4. Số lớp và số sinh viên hệ VLVH năm học 2012-2013 (Trang 44)
Bảng 2.5. Kết quả khảo sát trình độ, chất lượng đầu vào - Một số giải pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên hệ vừa làm vừa học tại trường Đại học Sài Gòn
Bảng 2.5. Kết quả khảo sát trình độ, chất lượng đầu vào (Trang 45)
Bảng 2.6. Động cơ của học tập của sinh viên - Một số giải pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên hệ vừa làm vừa học tại trường Đại học Sài Gòn
Bảng 2.6. Động cơ của học tập của sinh viên (Trang 46)
Bảng 2.7. Việc Quản lý học tập của sinh viên - Một số giải pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên hệ vừa làm vừa học tại trường Đại học Sài Gòn
Bảng 2.7. Việc Quản lý học tập của sinh viên (Trang 47)
Bảng 2.8. Thái độ của SV trong học tập - Một số giải pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên hệ vừa làm vừa học tại trường Đại học Sài Gòn
Bảng 2.8. Thái độ của SV trong học tập (Trang 48)
Bảng 3.1. Kết quả thăm dò mức độ cần thiết và tính khả thi - Một số giải pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên hệ vừa làm vừa học tại trường Đại học Sài Gòn
Bảng 3.1. Kết quả thăm dò mức độ cần thiết và tính khả thi (Trang 77)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w