1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở các trường mầm non huyện Nghĩa Đàn tỉnh Nghệ An

115 697 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 707 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

5 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC HÒA NHẬP TRẺ KHUYẾT TẬT Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON.... Mục tiêu của chiến lược giáo dục cho ngườikhuyết tật là đến n

Trang 2

luËn v¨n th¹c sÜ khoa häc gi¸o dôc

Chuyªn ngµnh: Qu¶n lý gi¸o dôc

M· sè: 60.14.05

Ngêi híng dÉn khoa häc: PGS TS Hà Văn Hùng

NGHỆ AN, 2013

Trang 3

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp tôi đã nhận được rất nhiều ý kiến đóng góp và sự quan tâm giúp đỡ của Ban giám hiệu nhà trường, các thầy cô khoa Sau Đại học của trường Đại học Vinh Tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm

và những đóng góp quý báu đó

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Hà Văn Hùng, người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi suốt quá trình hình thành và hoàn thiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo và các ban ngành của huyện Nghĩa Đàn đã cung cấp số liệu và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu luận văn Cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên, khích lệ, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này

Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng chắc chắn trong luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi mong muốn nhận được sự trao đổi, ý kiến góp ý của các thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp và bạn đọc khác để bổ sung, sửa chữa

và hoàn thiện luận văn của mình

Xin chân thành cảm ơn!

Nghệ An, tháng năm 2013

Tác giả

Đinh Thị Phương

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài……… 1

2 Mục đích nghiên cứu……… 3

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu……… 3

4 Giả thuyết khoa học……… 4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu……… 4

6 Phương pháp nghiên cứu ……… 4

7 Đóng góp của luận văn……… 5

8 Cấu trúc của luận văn……… 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC HÒA NHẬP TRẺ KHUYẾT TẬT Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON 6

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài 7

1.1.2 Nghiên cứu ở trong nước 9

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 13

1.2.1 Khái niệm trẻ khuyết tật 13

1.2.2 Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật 15

1.2.3 Khái niệm quản lý 20

1.2.4 Quản lý chất lượng giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật 23

1.2.5 Giải pháp và giải pháp quản lý nâng cao chất lượng giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật 32

1.3 Một số vấn đề lý luận của quản lý nâng cao chất lượng giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật 33

1.3.1 Ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng giáo dục hòa nhập TKT 33

1.3.2 Nội dung quản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật 34 1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng quản lý giáo dục hòa nhập TKT 35

Trang 5

HÒA NHẬP TRẺ KHUYẾT TẬT Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON

HUYỆN NGHĨA ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN 39

2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội - giáo dục ở huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An 39

2.2 Thực trạng quản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở các trường mầm non huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An 50

2.2.1 Mục đích khảo sát thực trạng 50

2.2.2 Đánh giá thực trạng 50

2.2.3 Cách thức tiến hành điều tra 51

2.2.4 Kết quả điều tra 51

2.2.4.1 Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên trong việc giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở các trường mầm non huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An 51

2.2.4.2 Thực trạng việc quản lý chất lượng giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở các trường mầm non huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An 55

2.3 Thực trạng hoạt động quản lý nâng cao chất lượng giáo dục hòa nhập TKT ở các trường mầm non huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An 66

2.4 Đánh giá chung về thực trạng 79

2.4.1 Nguyên nhân thành công 79

2.4.2 Nguyên nhân hạn chế và những thiếu sót 79

Kết luận chương 2 80

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC HÒA NHẬP TRẺ KHUYẾT TẬT Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON HUYỆN NGHĨA ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN 82

3.1 Nguyên tắc đề xuất giải pháp 82

3.1.1 Đảm bảo tính mục tiêu 82

3.1.2 Đảm bảo tính thực tiễn 82

3.1.3 Đảm bảo tính hiệu quả 83

Trang 6

khuyết tật ở các trường mầm non huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An 83

3.2.1 Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý và đội ngũ cán bộ giáo viên về công tác quản lý nâng cao chất lượng giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật 83

3.2.1.1 Mục tiêu của phải pháp 83

3.2.1.2 Nội dung của giải pháp 83

3.2.1.3 Tổ chức thực hiện giải pháp 84

3.2.1.4 Điều kiện thực hiện giải pháp 84

3.2.2 Bồi dưỡng năng lực quản lý các hoạt động GDHN TKT cho CBQL ở các trường mầm non 85

3.2.2.1 Mục tiêu của phải pháp 85

3.2.2.2 Nội dung của giải pháp 85

3.2.2.3 Tổ chức thực hiện giải pháp 85

3.2.2.4 Điều kiện thực hiện giải pháp 87

3.2.3 Tăng cường quản lý các điều kiện đảm bảo chất lượng cho việc chăm sóc, giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật 87

3.2.3.1 Mục tiêu của phải pháp 87

3.2.3.2 Nội dung của giải pháp 88

3.2.3.3 Tổ chức thực hiện giải pháp 88

3.2.3.4 Điều kiện thực hiện giải pháp 89

3.2.4 Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền, nâng cao nhận thức sâu rộng đối với gia đình và xã hội về công tác GDHN TKT 90

3.2.4.1 Mục tiêu của phải pháp 90

3.2.4.2 Nội dung của giải pháp 90

3.2.4.3 Tổ chức thực hiện giải pháp 91

3.2.4.4 Điều kiện thực hiện giải pháp 91

3.2.5 Phối hợp với y tế phân định trẻ khuyết tật thành từng nhóm riêng để giáo viên tiện chăm sóc, giáo dục 92

Trang 7

3.2.5.4 Điều kiện thực hiện giải pháp 92

3.2.6 Tổ chức thực hiện tốt mối quan hệ “Bạn vừa là bạn, vừa là thầy” đối với TKT 93

3.2.6.1 Mục tiêu của phải pháp 93

3.2.6.2 Nội dung của giải pháp 93

3.2.6.3 Tổ chức thực hiện giải pháp 95

3.2.6.4 Điều kiện thực hiện giải pháp 95

3.2.7 Quản lý tốt các thông tin và đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá 95

3.2.7.1 Mục tiêu của phải pháp 95

3.2.7.2 Nội dung của giải pháp 96

3.2.7.3 Tổ chức thực hiện giải pháp 97

3.2.7.4 Điều kiện thực hiện giải pháp 97

3.3 Thăm dò tính cần thiết và khả thi của các giải pháp 98

Kết luận chương 3 101

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 102

TÀI LIỆU THAM KHẢO 106

Trang 8

Công nghệ thông tinChăm sóc-giáo dục

Cơ sở vật chấtChương trình giáo dục mầm nonGiáo dục

Giáo dục và đào tạoGiáo dục hòa nhậpGiáo dục mầm nonGiáo viên

Giáo viên mầm nonMầm non

Trẻ khuyết tật

Ủy ban nhân dân

Xã hội hóa giáo dục

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục mầm non là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân

Là bậc học có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển con người Trẻ em lànhững mầm non tương lai của đất nước Trong chương trình giáo dục mầm nonmới hiện nay, ngành giáo dục mầm non xác định mục tiêu đào tạo là nhằm hìnhthành ở trẻ những chức năng, năng lực của con người, phát triển tối đa tiềm năngvốn có; hình thành những giá trị, những kỹ năng sống cần thiết cho bản thân phùhợp với yêu cầu của gia đình, bản thân và xã hội, chuẩn bị tốt cho trẻ bước vàolớp 1 Tuy nhiên, không phải mọi trẻ em sinh ra đều có cuộc sống bình thường,bên cạnh những “Bé khoẻ, bé ngoan” vẫn còn những em bé khuyết tật, sinh ravới những khiếm khuyết về thể chất, tinh thần khiến các em gặp nhiều khó khănbất hạnh trong cuộc sống

TKT là đối tượng thiệt thòi nhất trong số những trẻ em thiệt thòi, các emcần được sự quan tâm đặc biệt của gia đình, cộng đồng và toàn thể xã hội Nhiềucông trình nghiên cứu đó chứng minh rằng, TKT cũng có nhu cầu và năng lựchọc tập như mọi trẻ bình thường khác Vì vậy, việc phát hiện, can thiệp sớm vàgiáo dục cho TKT, giúp các em vượt qua những nghiệt ngã của số phận, có cuộcsống bình thường là điều hết sức quan trọng Đặc biệt đối với trẻ em lứa tuổimầm non, đây là giai đoạn hình thành những phẩm chất nhân cách và năng lựcnhận thức ban đầu làm nền tảng cho sự phát triển sau này của trẻ Việc chămsóc, giáo dục trẻ nói chung và TKT nói riêng ngay từ lứa tuổi đầu đời là tráchnhiệm của cộng đồng và toàn thể xã hội “Chiến lược Giáo dục mầm non từ nayđến năm 2020” đã chỉ rõ: “Cần làm cho chính quyền các cấp thấy được việcgiáo dục TKT là trách nhiệm, nghĩa vụ của toàn xã hội và cộng đồng, đây khôngphải là một việc làm mang tính nhân đạo đơn thuần mà là thực hiện các luật,chính sách quốc gia, chính sách của giáo dục và đào tạo, TKT có quyền về cơhội bình đẳng trong học tập và hoà đồng với trẻ em phát triển bình thường” [2]

Trang 10

Thực hiện Quyền về cơ hội giáo dục cho đối tượng khuyết tật, theo chỉ thị

số 01-2006/CT-TTg, ngày 6/1/2006 của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Giáo dục vàĐào tạo đã được giao nhiệm vụ: biên soạn và trình Thủ tướng Chính phủ Chiếnlược và kế hoạch hành động giáo dục cho người khuyết tật giai đoạn 2006 –

2010 và định hướng đến năm 2015 Mục tiêu của chiến lược giáo dục cho ngườikhuyết tật là đến năm 2015 hầu hết đối tượng khuyết tật Việt Nam có cơ hội bìnhđẳng trong tiếp cận một nền giáo dục có chất lượng và được trợ giúp để pháttriển tối đa tiềm năng, tham gia và đóng góp tích cực cho xã hội, trong đó mụctiêu cụ thể là đến năm 2010 đảm bảo cho 70% đối tượng khuyết tật được đi học.Điều 23 – Công ước Liên hiệp quốc thông qua ngày 20/11/1989 và có hiệulực ngày 2/9/1990, đã đề cập đến vấn đề: “Người bị khuyết tật về tinh thần hay

cả thể chất cần được hưởng cuộc sống trọn vẹn và tử tế trong điều kiện đảm bảophẩm giá, thúc đẩy khả năng tự lực và tạo điều kiện dễ dàng cho người khuyếttật tham gia tích cực vào cộng đồng và người khuyết tật được chăm sóc đặc biệt,bình đẳng, rằng người khuyết tật được thật sự tiếp xúc và nhận được sự giáo dục– đào tạo, các dịch vụ y tế, dịch vụ phục hồi chức năng, sự chuẩn bị để có việclàm và các cơ hội vui chơi giải trí theo cách có lợi cho người khuyết tật đượchòa nhập vào xã hội và sự phát triển cá nhân trọn vẹn nhất

Trước đây, TKT thường được giáo dục ở các trường chuyên biệt, trẻ ít có

cơ hội tiếp xúc với xã hội, với bạn đồng trang lứa nên gặp nhiều khó khăn tronggiao tiếp bình thường Xu thế phát triển chung của thời đại cùng với những tiến

bộ về khoa học kĩ thuật đó thúc đẩy sự ra đời của mô hình GDHN cho TKT.GDHN tạo cơ hội cho TKT được tiếp cận bình đẳng, có chất lượng, giúp TKTđược học tại nơi trẻ sinh sống cùng gia đình, không có sự tách biệt môi trườngsống GDHN tạo điều kiện tốt nhất để mọi trẻ em cùng chung sống, học tập vàxây dựng một xã hội bình đẳng cho tất cả mọi người Điều này đó được nêu rõtrong tuyên bố Salamanca, năm 1990: “Các trường học chính quy theo hướng

Trang 11

hoà nhập là phương thức tốt nhất để xoá bỏ phân biệt, tạo ra những cộng đồngthân ái, xây dựng một xã hội bình đẳng cho tất cả mọi người” [7].

Vấn đề GDHN mang ý nghĩa to lớn đối với trẻ em khuyết tật lứa tuổi mầmnon, là điều kiện hết sức quan trọng giúp TKT sớm được can thiệp và có cơ hộitrở lại với cuộc sống bình thường, hoà nhập vào cộng đồng Tuy nhiên, hiện nay

ở Nghệ An nói chung và huyện miền núi Nghĩa Đàn nói riêng, công tác GDHNcho TKT vẫn chưa được quan tâm đúng mức Vẫn còn nhiều TKT chưa đượcđến trường, có một số trẻ đã theo học ở các trường mầm non nhưng vẫn chưanhận được sự chăm sóc và giáo dục phù hợp, có hiệu quả Việc nghiên cứu thựctrạng trong việc quản lý chất lượng GDHN TKT nhằm tìm ra nguyên nhân từ đó

đề xuất một số biện pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng giáodục trẻ khuyết tật ở các trường mầm non trên địa bàn huyện miền núi NghĩaĐàn, giúp TKT sớm được can thiệp, vượt lên số phận và hoà nhập vào cộngđồng là điều rất cần thiết

Từ những lý do trên tôi đó mạnh dạn chọn đề tài: “Một số giải pháp quản

lý nâng cao chất lượng giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở các trường mầm non huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An” làm đề tài nghiên cứu.

Hoạt động giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở các trường mầm non

3.2 Đối tượng nghiên cứu.

Một số giải pháp nâng cao chất lượng quản lý giáo dục hòa nhập trẻkhuyết tật ở các trường mầm non huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An

Trang 12

4 Giả thuyết khoa học

Nếu đề xuất và thực hiện một cách đồng bộ các giải pháp quản lý khoa học,

có tính khả khi thì sẽ nâng cao được chất lượng giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật

ở các trường mầm non huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An

5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về vấn đề quản lý nâng cao chất lượnggiáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở các trường mầm non

5.1.2 Tìm hiểu thực trạng quản lý chất lượng giáo dục hòa nhập trẻkhuyết tật ở các trường mầm non huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An

5.1.3 Đề xuất một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng giáo dục hòanhập trẻ khuyết tật ở các trường mầm non huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Công tác quản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở các trường mầm nonhuyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa các vấn đề lý luận có liên quan đến

đề tài nghiên cứu

6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra: Sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến cán bộ quản lý,giáo viên ở các trường mầm non nhằm thu thập thông tin về việc thực hiện côngtác giáo dục trẻ khuyết tật hòa nhập ở trường mầm non

- Phương pháp đàm thoại: Trò chuyện, trao đổi với giáo viên về các vấn

đề chăm sóc, giáo dục trẻ khuyết tật hòa nhập Phỏng vấn cán bộ quản lý cáctrường mầm non nhằm thu thập thêm thông tin về công tác giáo dục trẻ khuyếttật hòa nhập tại các trường mầm non

Trang 13

- Phương pháp quan sát: Quan sát giáo viên trong quá trình tổ chức các hoạtđộng chăm sóc, giáo dục trẻ và quan sát TKT trong các hoạt động ở lớp hòa nhập.

6.3 Phương pháp thống kê toán học: Xử lí số liệu thu được

7 Đóng góp của luận văn

7.1 Về lý luận:

- Hệ thống cơ sở lý luận về quản lý nâng cao chất lượng giáo dục hòanhập trẻ khuyết tật tại các trường mầm non huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An

- Làm rõ thực trạng quản lý giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật tại các

trường mầm non trên địa bàn huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An.

7.2 Về thực tiễn:

Đề xuất một số biện pháp quản lý nâng cao chất lượng giáo dục hòa nhậptrẻ khuyết tật ở các trường mầm non huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần: Mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được chiathành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của công tác quản lý nâng cao chất lượng giáo

dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở các trường mầm non

Chương 2: Thực trạng quản lý chất lượng giáo dục hòa nhập trẻ khuyết

tật ở các trường mầm non huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An

Chương 3: Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng giáo dục hòa

nhập trẻ khuyết tật ở các trường mầm non huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An

Trang 14

CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC HÒA NHẬP TRẺ KHUYẾT TẬT Ở CÁC

TRƯỜNG MẦM NON 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X (2011) đã xác định “Giáo dục-đào tạo

và khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực thúc đẩy, là điều kiện

cơ bản đảm bảo thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội; xây dựng và bảo vệ tổquốc” [12]

Đảng ta đã khẳng định đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển; giáodục vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời

sự phát triển kinh tế - xã hội cũng chính là mục tiêu là sức mạnh cho giáo dục.Giáo dục đã được Đảng và nhà nước đề cập quan tâm đến trong các văn kiệnquan trọng: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;Hội nghị lần thứ tư BCH TW Đảng khóa VII; Hội nghị lần thứ hai BCH TWĐảng khóa VIII; Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (4-2001) Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX đó chỉ rõ nhiệm vụ của ngành giáo dục

và đào tạo bước vào thế kỷ XXI là: “Phải tạo chuyển biến cơ bản, toàn diệntrong phát triển giáo dục, thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, tiếp tục nâng caochất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy học” [11]

Tiếp theo Nghị quyết TW 4 khóa VII là Nghị quyết TW 2 khóa VIII,Nghị quyết TW VI về GD-ĐT, ngành học ở bậc học mầm non đã dần được củng

cố và phát triển Từ năm 1994 đến nay, số lượng trẻ tới nhà trẻ ổn định, quy mômạng lưới trường lớp được củng cố và mở rộng Quyết định 149/2006/QĐ –TTg của Thủ tướng chính phủ phê duyệt đề án phát triển giáo dục mầm non giaiđoạn 2006 – 2015, Quyết định số 239/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ: Phêduyệt Đề án Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi giai đoạn 2010-2015

Trang 15

góp phần làm thay đổi công tác quản lý giáo dục nói chung và GDMM nóiriêng, liên tục đổi mới và chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ không ngừng đượcnâng cao [9,10]

Giáo dục mầm non là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân

Là bậc học có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển con người Trongchương trình đổi mới, ngành giáo dục mầm non xác định mục tiêu đào tạo lànhằm hình thành ở trẻ những chức năng, năng lực của con người; phát triển tối

đa tiềm năng vốn có; hình thành những giá trị, những kỹ năng sống cần thiết chobản thân phù hợp với yêu cầu của gia đình, cộng đồng và xã hội, tạo tiền đềvững chắc cho trẻ phát triển ở giai đoạn sau Chính vì vậy, GDMN không ngừngđổi mới về phương pháp, hình thức; từ công tác quản lý tới công tác chăm sócgiáo dục; hoạt động giáo dục lấy trẻ làm trung tâm nhằm nâng cao chất lượngcủa GDMN đặc biệt trong công tác GDHN TKT, phù hợp và đáp ứng với yêucầu của sự phát triển

Việc nghiên cứu GDHN TKT được nhiều nhà khoa học trong và ngoàinước quan tâm Các tác giả đều nhấn mạnh, GDHN không phải đơn thuần đemlại ý nghĩa riêng cho TKT, mà quan trọng hơn, nó tạo ra cộng đồng thân ái, xóa

bỏ mọi phân biệt để xây dựng một xã hội bình đẳng cho tất cả mọi người Họcũng chỉ ra vai trò to lớn của GDHN đối với TKT tuổi mầm non, và chỉ ranhững điều kiện, những phương thức hình thành quá trình GDHN Từ đó chỉ ratầm quan trọng trong việc quản lý để nâng cao chất lượng GDHN TKT

1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài

Từ những năm đầu của thế kỉ XI, ở các nước Pháp, Đức, Tây Ban Nha vàmột số nước Châu Âu đó xuất hiện phương thức giáo dục chuyên biệt mang đậm

tư tưởng nhân văn, quan điểm y tế, phục hồi chức năng chính trị, đây là mô hìnhxuất hiện sớm nhất trong lịch sử giáo dục TKT Ở phương thức này, trẻ có cácdạng khuyết tật khác nhau được đưa vào các cơ sở giáo dục riêng, tách biệt với

hệ thống giáo dục quốc dân

Trang 16

Theo quan niệm thời bấy giờ, TKT là những người “không bình thường”cần phải huấn luyện “đặc biệt” để trở thành người bình thường Như vậy, mụctiêu của giáo dục chuyên biệt là thực hiện vấn đề nhân đạo, cái đích cuối cùng làphục hồi chức năng để hi vọng “lành lặn”, TKT mới đạt tiêu chuẩn để trở thànhngười lao động như mọi người khác Nhưng trước hết, khi họ còn là ngườikhuyết tật thì cần sự quản lý, giám sát để khỏi làm ảnh hưởng đến cộng đồng.Quan điểm tâm lí học: Góp phần tạo một mô hình giáo dục hội nhập, TKTđược chăm sóc, hòa nhập từng phần vào xã hội [16]

Năm 1770 đó xuất hiện một mô hình giáo dục hội nhập TKT ở Mỹ, năm

1950 mô hình giáo dục hội nhập xuất hiện ở nhiều nước Năm 1956, Philipin đãđưa trẻ điếc vào học ở trường phổ thông Năm 1945, Anh đưa TKT vào trườnghội nhập …

Về bản chất, giáo dục hội nhập vẫn dựa vào mô hình y tế - phục hồi chứcnăng, TKT sau khi được phục hồi chức năng được học với trẻ lành, song chỉtham gia một số hoạt động [19]

Cho đến năm 1960, tư tưởng tôn trọng giá trị và bình đẳng cho mọi người,trong đó có trẻ em, đó xuất hiện và trở thành trào lưu trên toàn thế giới GDHN

ra đời Ở đó TKT được giáo dục ngay trong trường học của trẻ em bình thường,tại cộng đồng nơi các em đang sinh sống

Đầu tiên xuất hiện ở một số nước Châu Âu như: Thụy Điển, Nauy, Italy,Tây Ban Nha… sau tiếp là ở Bắc Mỹ, Newzeland, tiếp tục phát triển ở các nước

và được sự ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng Quốc tế, UNESCO và UNICEF.Thành công của GDHN được khẳng định từ nửa thế kỉ XX, giúp một số lượnglớn TKT ở mọi quốc gia có cơ hội phát triển, nhiều trẻ thành đạt, đại đa số cócuộc sống bình thường, hòa nhập cộng đồng thuận lợi [19]

Một số tác giả đã dày công nghiên cứu về vấn đề GDHN:

Trang 17

M.Soder, đã nghiên cứu thực hiện hòa nhập cho trẻ chậm phát triển trí tuệ.ông cho rằng: Cần phải tập trung nghiên cứu để giúp trẻ tự tìm ra hoàn cảnh củamình thay thế cho việc đo đạc hiệu quả của công việc hòa nhập.

Cũng quan điểm này, Irene Lospez đó nghiên cứu thành công “hòa nhập từviễn cảnh học sinh”: “… những suy nghĩ, nhận thức và mong muốn của đứa trẻcần được tìm ra bằng cách hỏi trẻ như một con người”, và ông xác định trongmục tiêu hòa nhập đấy là cộng đồng tinh thần đoàn kết, sự hiểu biết lẫn nhau,tham gia và giao tiếp [19]

L.X.Vưgôtxki nhà tâm lí học hoạt động, đã khởi xướng thuyết về “Vùng

phát triển gần nhất” của trẻ em Ông cho rằng : “Sự phát triển của trẻ lứa tuổi mầm non không thể dựa vào vốn liếng di truyền, không tự phát mà diễn ra trong quá trình phát triển” Điều này, không có nghĩa là chỉ có giá trị với trẻ em Mầm

non bình thường, mà rất có ý nghĩa với TKT mầm non Bởi vì, được hòa nhậpvới bạn bè, với người lớn trong môi trường giáo dục là phương thức tốt nhất đểtrẻ hoạt động và phát triển [1]

Cũng trong cuốn “Tư duy và ngôn ngữ” Vưgôtxki lập luận rằng: Hoạt độngtinh thần của con người chính là kết quả học tập mang tính xã hội, chứ khôngphải là hoạt động học tập chỉ là của cá thể Theo ông, khi trẻ em gặp phải nhữngkhó khăn trong cuộc sống, trẻ tham gia vào sự hợp tác với người lớn và với bạn

bè có năng lực cao hơn, những người này đó giúp đỡ và khuyến khích trẻ Trongmối quan hệ hợp tác này, quá trình tư duy trong một xã hội nhất định đượcchuyển giao sang trẻ Điều này vô cùng có ý nghĩa đối với việc cần phải GDHNcho TKT [1]

1.1.2 Nghiên cứu ở trong nước

Ở Việt Nam, trước cách mạng tháng tám, công tác chăm sóc giáo dụcTKT chưa được quan tâm, ở một số cơ sở tiếp nhận khoảng 200 TKT: Thành lập

cơ sở dạy trẻ điếc 1866 tại Lái Thiêu và cơ sở dạy gần 100 trẻ mù tại Sài Gòn

Trang 18

Từ sau cách mạng tháng tám đến năm 1975, có thêm một cơ sở tập trung

12 trẻ điếc tại bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội

Năm 1976- 1990, thành lập một số cơ sở giáo dục chuyên biệt cho trẻkhiếm thính, khiếm thị và chậm phát triển trí tuệ với 72 cơ sở, tập trung thu nhậngần 4000 TKT

Từ năm 1991 đến nay, GDHN tại Việt Nam chính thức hình thành và pháttriển Hơn 10 năm thực hiện GDHN cho TKT Mầm non, có 40 tỉnh thành vớikhoảng 70.000 TKT được GDHN Những năm gần đây, với sự hỗ trợ của tổchức UNICEF, Vụ Giáo dục Mầm non đã tổ chức tập huấn về GDHN cho nhiềuđịa phương trong cả nước Từ tháng 9/2003 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo

có quyết định số 4431 thành lập ban chỉ đạo giáo dục TKT để thực hiện chứcnăng quản lí nhà nước của Bộ đối với công tác giáo dục TKT ở Việt Nam

Việc nghiên cứu GDHN cho TKT Mầm non được thể hiện nhiều trongcác tạp chí, báo giáo dục, chuyên san giáo dục đặc biệt và nhiều tài liệu nghiêncứu của nhiều nhà khoa học:

Tác giả Lê Văn Tạc trong cuốn “Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật” đó

xem xét hiệu quả của công tác GDHN trong việc điều chỉnh chương trình dạyhọc phự hợp với khả năng và nhu cầu của TKT Theo tác giả, trên cơ sở nhữngđặc điểm khác nhau về khả năng, nhu cầu, sở thích của trẻ, căn cứ vào nộidung của môn học, bài học, trong lớp học hòa nhập có thể áp dụng một trongcác cách điều chỉnh sau: Phương pháp đồng loạt, phương pháp đa trình độ,phương pháp trùng lặp giáo án, phương pháp thay thế Việc điều chỉnh cần dựavào khả năng của từng trẻ và cũng không có một phương pháp nào có thể ápdụng cho mọi TKT

Cũng trong cuốn “Giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật ở Việt Nam”, nhóm tác giả Lê Văn Tạc, Trần Văn Đích và một số tác giả đó viết: “Cần nhìn trẻ khuyết tật như mọi trẻ em khác, những em này cũng có năng lực nhất định…

Trang 19

các em phải được tham gia một cách bình đẳng trong mọi công việc của cộng đồng để thực hiện lí tưởng một xã hội cho mọi người” Các tác giả đã chỉ ra cụ

thể từng bước đi và cách làm đối với công tác GDHN cho TKT ở Việt Nam

Nhóm tác giả: Trịnh Đức Huy, Phạm Toán, Dương Thận trong cuốn “Dạy học hòa nhập cho trẻ khuyết tật” đề cập nhiều đến hình thức giáo dục cho TKT,

trong đó khẳng định GDHN là mô hình giáo dục toàn diện và hiệu quả nhất Cáctác giả cho rằng: Việc áp dụng lí luận dạy học hiện đại - dạy học lấy trẻ làmtrung tâm - là nền tảng để dạy học hòa nhập cho TKT Cần phải xem xét đứa trẻ

ở năng lực và nhu cầu của chúng để áp dụng biện pháp giáo dục cho phù hợp.Một số kỹ năng cơ bản dạy các loại tật của trẻ trong hòa nhập cũng được các tácgiả chỉ ra một cách chi tiết

Hai đề tài nghiên cứu cấp Bộ của Phòng giáo dục trẻ khiếm thính, Viện

khoa học giáo dục: “Phương pháp nâng cao khả năng giao tiếp của trẻ khiếm thính tuổi mầm non và tiểu học trong môi trường giáo dục hòa nhập”, “Chương trình và giáo trình đào tạo giáo viên mầm non và tiểu học dạy trẻ khiếm thính học hòa nhập” đã khái quát các bước tổ chức quá trình dạy học hòa nhập, mô tả

khá tỉ mỉ các khả năng và đặc điểm phát triển của trẻ khiếm thính Các công trìnhnày cung cấp tài liệu về những bước phát triển nhằm nâng cao các khả năng hòanhập của TKT về thính giác Đóng góp cho lĩnh vực nghiên cứu GDHN TKTmầm non nói chung và TKT thính giác nói riêng, đồng thời là những cơ sở khoahọc định hướng cho việc nghiên cứu tiếp về GDHN TKT ở các địa phương

Những năm qua, tại trung tâm nghiên cứu giáo dục mầm non, trung tâmkhuyết tật, Viện khoa học giáo dục còn thực hiện nhiều đề tài cấp Bộ, Viện vàcác đề tài tham dự Dự án hợp tác Quốc tế khác về GDHN cho trẻ Mầm non

Viện khoa học giáo dục, trung tâm giáo dục TKT “Tài liệu đào tạo giáo viên dạy hòa nhập cho trẻ khuyết tật” (1995).

Trang 20

Tác giả, chủ biên Nguyễn Thị Ngọc Châm và nhóm tác giả: Phạm Mai Chi,

Trương Đắc Nguyên, Nguyễn Thị Hoan, Ngô Sỹ Sính với “Tài liệu bồi dưỡng giáo viên mầm non về phát hiện sớm và GDHN” (1998).

Nhóm tác giả: Nguyễn Thị Thu Hà, Lê Thị Đức với cuốn “Phương pháp GDHN lứa tuổi mầm non” (1999) Chủ nhiệm Nguyễn Văn Hường và nhóm tác giả Trương Văn Đích, Nguyễn Văn Đính, Lê Văn Tạc với cuốn “GDHN và cộng đồng” (2001).

Tác giả Hoàng Thị Hồng Nga với luận văn thạc sĩ “Một số giải pháp quản

lý nâng cao chất lượng hoạt động dạy nghề ở Trung tâm dạy nghề cho ngườikhuyết tật tỉnh Hà Tĩnh” (2012)

Tổ chức CRS - Tổ chức cứu trợ phát triển - đã hỗ trợ Vụ Mầm non xâydựng và cấp phát nhiều tài liệu quan trọng về giáo dục TKT Điển hình là bộ

sách “Can thiệp sớm và GDHN TKT mầm non” Tài liệu này không chỉ là công

cụ tốt của cán bộ giáo viên mầm non mà ngay cả với những bà mẹ trong độ tuổisinh đẻ cũng rất cần thiết để phát hiện những dấu hiệu bất thường của con từ đó

có biện pháp can thiệp sớm cho trẻ

Tháng 6/2007, Vụ Mầm non đó tổ chức xây dựng phim phóng sự “Tầm quan trọng của can thiệp sớm trong GDHN TKT mầm non” Phim có tác dụng

nâng cao nhận thức cho phụ huynh và cộng đồng, khẳng định sự phối hợp quantrọng giữa y tế và giáo dục cũng như vai trò quan trọng của các cơ quan trongquản lí giáo dục và chính quyền các cấp trong hoạt động GDHN

Để thực hiện công tác GDHN có hiệu quả cần có sự phối hợp của rấtnhiều yếu tố Trong đề tài này chúng tôi mong muốn một mặt tiếp tục làm sáng

tỏ vai trò của công tác quản lý nâng cao chất lượng GDHN cho TKT mầm non.Mặt khác nghiên cứu tìm hiểu những khó khăn của các trường mầm non khithực hiện công tác GDHN cho TKT, qua đó thử đề xuất một số biện pháp nhằmnâng cao hiệu quả công tác GDHN cho TKT mầm non

Trang 21

Qua việc tìm hiểu chúng tôi thấy có rất ít đề tài nghiên cứu về quản lýnâng cao chất lượng của hoạt động GDHN TKT ở các trường mầm non, đặc biệtchưa có đề tài nào nghiên cứu về vấn đề này ở các trường mầm non huyệnNghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An.

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1 Khái niệm trẻ khuyết tật.

Xây dựng khái niệm khoa học trả lời cho câu hỏi: Thế nào là TKT? là mộtvấn đề phức tạp Việc tìm kiếm những đặc điểm chung để định nghĩa về TKT đãđược nhiều nhà khoa học nghiên cứu và gây không ít những tranh luận gay gắt.Bởi quan niệm về TKT không giống nhau, tùy thuộc vào thời kì lịch sử, nhậnthức, chế độ xã hội, nền văn hóa và thái độ của mỗi người, hay nhóm ngườitrong cộng đồng xã hội

Trước đây, quan điểm duy tâm tôn giáo: Con người do thượng đế tạo ra

và TKT chính là những linh hồn bị trừng phạt

Quan điểm giáo lý phật giáo: Kiếp sống do trời phật định đoạt, TKT làhậu quả do kiếp trước ăn ở ác, kiếp sau phải gánh chịu cho nên không thể trởthành người

Quan điểm duy tâm tôn giáo đó coi TKT là đối tượng không được chấpnhận trong xã hội Các quan điểm của họ chỉ dựa vào thế giới quan tôn giáo đểgán mác, chụp mũ cho TKT Cũng có thể thời bấy giờ khoa học kỹ thuật chưaphát triển, cho nên bế tắc trong việc giải thích các hiện tượng khuyết tật mộtcách khoa học Do đó, quan niệm về TKT mang tính tiêu cực, chủ quan, hạ thấp,thậm chí còn sai lệch và xuyên tạc

Tư tưởng nhân văn đó có ảnh hưởng tích cực trong cách nhìn nhận củacộng đồng đối với TKT Tư tưởng này xuất hiện từ thời văn hóa phục hưngChâu Âu Lúc này, y học đã có những bước phát triển Quan điểm về TKT là

Trang 22

những con bệnh cần chữa trị, muốn vậy cần phân loại con bệnh để chăm sócriêng biệt cho phù hợp.

Quan điểm này dù có tiến bộ hơn quan điểm duy tâm tôn giáo, đó là nhận

ra được các khuyết tật ở con người Tuy nhiên vẫn là sự gán mác, nhìn nhậnTKT một cách biệt lập, coi TKT là người không bình thường trong xã hội người

Quan điểm tâm lí học: Trước hết thừa nhận TKT là trẻ em như mọi trẻ emkhác Coi mỗi đứa trẻ đều có những khả năng nhất định và những hạn chế nhấtđịnh trong hoạt động Quan điểm này tiến bộ hơn nhiều, bởi cho rằng, mỗi đứatrẻ đều có những khó khăn trong quá trình phát triển Những khó khăn đó có cáinằm bên trong đứa trẻ, có cái nằm bên ngoài đứa trẻ

Quan điểm tôn trọng giá trị con người và bình đẳng: TKT là trẻ em, là conngười như mọi người trong xã hội Mỗi TKT đều như trẻ em khác, đều có nhucầu và năng lực nhất định Như vậy mỗi đứa trẻ chính là một cá nhân, một nhâncách có năng lực khác nhau, có cách học khác nhau, tốc độ lĩnh hội, tiếp nhận trithức, kinh nghiệm xã hội khác nhau Song tất cả TKT đều có thể tham gia hòanhập xã hội, đều có khả năng tham gia các hoạt động để tồn tại và phát triển

Điều 1 Pháp lệnh người tàn tật, 1998 định nghĩa: “Trẻ tàn tật là những trẻ

từ 0 -18 tuổi, không phân biệt nguồn gốc gây ra khuyết tật, thiếu một hay nhiều

bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, học tập, sinh hoạt gặp nhiều khó khăn”.[8]

“TKT là những trẻ có thiếu hụt cấu trúc cơ thể hoặc suy giảm các chứcnăng dẫn đến những hạn chế nhất định trong hoạt động của cá nhân và gặp khókhăn, trở ngại (do môi trường sống đem lại) trong việc tham gia đầy đủ và cóhiệu quả mọi hoạt động trong xã hội – cộng đồng”

Như vậy khái niệm TKT có thể phát biểu như sau: Trẻ khuyết tật là những trẻ bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể, giác quan (thể chất)

Trang 23

hoặc chức năng (tinh thần) biểu hiện dưới nhiều dạng khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho trẻ gặp nhiều khó khăn trong lao động, sinh hoạt, học tập, vui chơi [6]

1.2.2 Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật.

GDHN được dùng nhiều trong những năm gần đây ở nhiều quốc gia trênthế giới Khái niệm GDHN tương đối năng động để biểu đạt quan điểm “quâyquần lại chúng ta sẽ tốt hơn” (Irenne Lóper- Thụy Điển) Động từ gốc La Tinhincludere có nghĩa là đóng cửa lại sau khi có người nào đó vào nhà

Định nghĩa thông thường của động từ tiếng Anh include là có, xem xét vànhìn nhận một cái gì đấy như một phần của một tổng thể Giáo dục trong ngữcảnh này nhấn mạnh những hoạt động nhằm khuyến khích óc phê phán, pháttriển năng lực trí tuệ và kích thích tính tò mò GDHN cũng có hàm ý là giảm bớt

sự phân biệt

GDHN là “Hỗ trợ mọi học sinh, trong đó có TKT, cơ hội bình đẳng tiếpcận các dịch vụ giáo dục với những hỗ trợ cần thiết trong lớp học phù hợp tại

trường phổ thông nơi trẻ sinh sống nhằm chuẩn bị cho trẻ trở thành những thành

viên đầy đủ của xã hội” Hòa nhập không có nghĩa là “xếp chỗ” cho trẻ khuyếttật trong trường lớp phổ thông và không phải tất cả mọi trẻ đều đạt trình độ hoàntoàn như nhau trong mục tiêu giáo dục GDHN đòi hỏi sự hỗ trợ cần thiết để mọihọc sinh phát triển hết khả năng của mình Sự hỗ trợ cần thiết đó được thể hiệntrong việc điều chỉnh chương trình, các đồ dùng học tập, dụng cụ hỗ trợ đặc biệt,các kỹ năng giảng dạy đặc thù…

Như vậy: GDHN là phương thức giáo dục trong đó TKT được học chung với trẻ em bình thường cùng lứa tuổi ở nơi sinh sống, trẻ được tham gia vào các hoạt động như mọi trẻ bình thường, không có sự phân biệt Tất cả trẻ đều học theo nội dung chương trình giáo dục chung có sự điều chỉnh cho phù hợp với mức độ và loại tật của trẻ [6]

Trang 24

GDHN cho TKT Mầm non là phương thức giáo dục cho trẻ TKT vào họctrong môi trường giáo dục bình thường (trường Mầm non) TKT Mầm non đượcvui chơi, học tập cùng với trẻ bình thường cùng lứa tuổi ngay tại nơi trẻ sinh ra

và lớn lên Trong môi trường đó, giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn và tạo cơhội cho TKT được tham gia tiếp xúc, giao tiếp với mọi người, được tham gia hoạtđộng với các bạn để lĩnh hội những kiến thức văn hóa, hình thành những kỹ năngsống phù hợp với lứa tuổi Mầm non, giúp trẻ có thói quen và tự tin vào bản thân

Giáo dục cho tất cả các cháu trong độ tuổi Mầm non, đây là quan điểmthiết yếu, yếu tố đầu tiên thể hiện bản chất của GDHN Trong GDHN không có

sự tách biệt giữa trẻ, mọi trẻ đều được tôn trọng và có giá trị như nhau

Sự cần thiết GDHN cho TKT trong độ tuổi Mầm non xuất phát từ quanđiểm xã hội trong việc nhìn nhận TKT Nguyên nhân gây ra khuyết tật khôngphải chỉ do khiếm khuyết của bản thân cơ thể mà còn là khiếm khuyết về phía

xã hội

Chẳng hạn, TKT về thính giác sẽ mất khả năng nghe nếu không có hỗ trợcủa máy trợ thính, không được tham gia các hoạt động xã hội, trẻ sẽ trở thànhngười tàn phế suốt đời Ngược lại, cũng trẻ đó nếu được hỗ trợ của máy trợthính, được tham gia giao tiếp, hòa nhập cộng đồng, được tham gia các hoạtđộng vui chơi, học tập với trẻ khác, trẻ đó sẽ có sự bình đẳng và phát triển nhưmọi trẻ khác

Như vậy, “như mọi trẻ khác” TKT là trung tâm của quá trình giáo dụcđiều chỉnh Các em được tham gia đầy đủ và bình đẳng trong mọi hoạt động củatrường Mầm non để thừa hưởng các quyền lợi và thực hiện các nhiệm vụ, tạocho TKT niềm tin, lòng tự trọng, ý chí vươn lên để đạt tới mức cao nhất mànăng lực của mình cho phép [6] [7]

Trang 25

* Cơ sở tâm lí của GDHN [5,6]

Theo quan điểm tật học hiện đại, TKT không phải ít phát triển hơn so vớitrẻ em bình thường cùng tuổi mà phát triển theo cách khác Không thể quy mộtcách đơn giản về mặt số lượng bằng cách lấy tâm lí của trẻ em bình thường trừ

đi phần khiếm khuyết của TKT để có tâm lí của TKT

Chẳng hạn, không thể lấy tâm lí của trẻ em bình thường trừ đi độ mấtthính lực của trẻ khiếm thính để có tâm lí của trẻ điếc Theo đó, không thể lấytâm lí của các em có thị giác bình thường trừ đi phần thị giác của các em khiếmthị để có tâm lí của trẻ mù Trẻ chậm phát triển trí tuệ được phân biệt với trẻbình thường bằng những đặc trưng về cấu tạo tâm lí và cơ thể, bằng kiểu pháttriển khác nhau Cũng như ngôn ngữ của trẻ khiếm thính và tư duy của trẻ chậmphát triển trí tuệ là những chức năng khác về chất với tư duy và ngôn ngữ của trẻbình thường

Ở TKT, sự thiếu hụt, khiếm khuyết của cơ thể là hạn chế, là yếu đuối vàchậm phát triển, nhưng chính sự khiếm khuyết đó đã tạo nên ở chúng nhữngkích thích để vươn lên như là sự bù trừ

Quan niệm của tật học ngày nay đã định hướng cho việc nghiên cứu TKT.Không chỉ xem xét đứa trẻ trong giới hạn của sự khiếm khuyết được xác định,

mà cần phải tính đến quá trình bù trừ trong sự phát triển của trẻ Giống như yhọc hiện đại, vấn đề quan trọng không phải là bệnh mà là người bệnh Tật họcngày nay khách thể không phải là sự khiếm khuyết mà là đứa trẻ khuyết tật

Theo đặc điểm chung của hình thái học, chức năng của vỏ bán cầu đại não

và chức năng của hệ thống phân tích cảm giác của trẻ chưa thật sự hoàn hảo.Chúng sẽ phát triển và hoàn thiện dần theo sự phát triển của trẻ và chịu ảnhhưởng tốt hay xấu của sự phát triển bên trong và sự tác động của các yếu tố bênngoài Trong đó, sự tác động bên ngoài đóng vai trò rất quan trọng vì trên cơ sởphản xạ không điều kiện tác động bên ngoài sẽ nảy sinh và hình thành phản xạ

Trang 26

có điều kiện Nếu được tác động thường xuyên phản xạ có điều kiện trở nên bềnvững tạo thành thói quen hay định hình.

TKT cũng vậy, muốn có một thói quen hay định hình tốt rất cần những tácđộng sớm lặp lại nhiều lần từ môi trường giáo dục

Bác sỹ tâm thần người Áo, Adler đã nhấn mạnh cảm giác về khuyết tậtcũng như là kích thích thường xuyên đối với cá nhân, làm cho cá nhân phát triểntâm lí Nếu như ở một cơ thể không có sự hoàn hảo về mặt hình thái học và chứcnăng, thì không thể thực hiện các nhiệm vụ của mình một cách đầy đủ, vì vậy hệthần kinh cấp cao và cơ cấu tâm lí của nó sẽ đặt ra nhiệm vụ bù đắp nhữngkhiếm khuyết của cơ thể Chúng tạo ra sự đổi mới về tâm lí và những chức năng

về tâm lí ở những chức năng hay cơ quan kém phát triển, nhằm đảm bảo cho cơthể tồn tại và trong điều kiện bị đe dọa Nếu đứa trẻ không đấu tranh vươn lên,khả năng bị bệnh tăng và có thể bị chết Chính mâu thuẫn này làm tăng khả năng

và kích thích quá trình bù trừ Do đó, khuyết tật trở thành điểm xuất phát và làđộng lực chính cho sự phát triển tâm lí

Điều quan trọng nhất là bên cạnh sự khuyết tật cơ thể còn xuất hiện sứcmạnh của xu hướng và mong muốn vượt qua nó Đây là xu hướng tăng cường sựphát triển, xu hướng này đã tạo ra sự đa dạng trong quá trình phát triển củaTKT Chúng tạo ra những hình thức phát triển sáng tạo, phong phú, đôi khi gây

ra sự ngạc nhiên Adler đã có cách nhìn rất lạc quan: Đứa trẻ muốn nhìn thấy tất

cả nếu như nó bị cận thị, muốn nghe thấy tất cả nếu như nó bị khiếm thính,muốn nói nếu như nó gặp khó khăn trong việc thể hiện ngôn ngữ hoặc bị nói lắp.Học thuyết bù trừ trong sự phát triển tâm lí đã hé mở khả năng giáo dục TKT.Quá trình bù trừ cũng tất yếu dẫn đến sự phát triển hoàn thiện về nhân cách vàtài năng Sự phát triển bù trừ có dẫn đến chiến thắng hay không còn phụ thuộcvào rất nhiều nguyên nhân: Mức độ khuyết tật, môi trường giáo dục, sự nỗ lực,

sự cố gắng và ý chí bản thân đứa trẻ khuyết tật Đặc trưng tích cực ở TKT không

Trang 27

phải là sự giảm bớt chức năng này hay chức năng khác so với trẻ bình thường,

mà chính là sự khắc phục những chức năng này bằng cách tạo ra trong cuộcsống những cấu tạo mới, là những phản ứng của nhân cách đối với khuyết tật, là

sự bù trừ trong quá trình phát triển Nếu trẻ khiếm thị hay khiếm thính trong sựphát triển đạt được mức độ nào đó như trẻ bình thường thì nó đạt được điều nàybằng cách khác, bằng những phương tiện khác và đối với nhà giáo dục cần phảinắm được con đường riêng của TKT Chìa khóa mở ra tính đặc thù cho sự pháttriển của trẻ chính là quy luật biến đổi từ cực âm của khuyết tật sang cực dươngcủa tính bù trừ Đặc biệt cần lưu ý tính đặc thù trong sự phát triển tâm lí, xã hội

ở TKT Vì mất cân bằng trong chức năng thích nghi do khuyết tật, một hệ thốngthích nghi mới được hình thành nhằm đảo bảo sự cân bằng mới Sự bù trừ có thểtạo ra cho quá trình phát triển của TKT một sự cân bằng lại các chức năng tâm

lí Rất nhiều thứ trong sự phát triển bình thường đã biến mất vì khuyết tật, hìnhthành nên một dạng mới của sự phát triển Nhà tâm lí học, tật học người Đức –K.Biuklen ngay từ năm 1924 đã viết: “Ở họ - người mù rất phát triển những khảnăng đặc biệt mà chúng ta không thể nhận thấy ở người tinh mắt và cần phảinghĩ rằng trong từng trường hợp giao tiếp giữa người mù với nhau, hoàn toànkhông có sự can thiệp của người tinh mắt, có thể xuất hiện một loại người đặcbiệt” [19]

Nguyên nhân của hiện tượng này là mù lòa như một khiếm khuyết của cơthể đã thúc đẩy quá trình bù trừ, tạo ra những nét đặc biệt trong tâm lí ngườikhiếm thị và biến đổi lại những chức năng riêng biệt dưới ảnh hưởng của nhiệm

vụ cơ bản hàng ngày Mỗi chức năng riêng biệt của bộ máy thần kinh ở họ đều

có những nét rất đặc biệt và thường rất có ý nghĩa so với những người bìnhthường

Sự khuyết tật cũng ảnh hưởng tới sự phát triển nhân cách, TKT thường bịchế định xã hội Hậu quả trực tiếp từ khuyết tật là việc giảm vị thế xã hội của

Trang 28

đứa trẻ, trẻ có cảm giác bị thiếu hụt, bị coi thường Vì thế đưa trẻ đến trường họchòa nhập giúp trẻ xóa dần mặc cảm yếu kém.

Về sự phát triển của TKT, cần lưu ý đến sự phát triển văn hóa của chúng.Nếu đứa trẻ bình thường sự phát triển không tách rời hai quá trình phát triển tựnhiên và phát triển văn hóa, nó diễn ra đồng thời và tương tác lẫn nhau tạo nên

sự trưởng thành về mặt sinh học và xã hội của nhân cách thì ở TKT, sự kết hợptrên không như trẻ em bình thường Do sự kết hợp trên có sự khiếm khuyết vềmặt sinh học Khuyết tật tạo ra sự phát triển không bình thường về mặt sinh học,

sự giám sát các chức năng riêng biệt, sự không đầy đủ hay thiếu hụt các bộphận, ít nhiều biến đổi sự phát triển trên nền tảng cơ sở mới, đương nhiên theodạng mới, đã phá hủy sự phát triển bình thường của đứa trẻ về mặt văn hóa ĐểTKT đạt được những gì như trẻ bình thường, cần phải sử dụng phương tiện đặcbiệt TKT được sống trong môi trường giàu lòng nhân ái, được nuôi dạy mộtcách khoa học sẽ có cuộc sống tâm lí bình thường

1.2.3 Khái niệm quản lý

Khái niệm quản lý được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khoa học.Hiện nay có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về quản lý

Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể(người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặtchính trị, văn hóa, xó hội, kinh tế, … bằng một hệ thống các luật lệ, các chínhsách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môitrường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng, quản lý được hiểu là việc tổchức, điều hành tập hợp người, công cụ, phương tiện, tài chính… để kết hợp cácyếu tố đó với nhau nhằm đạt mục tiêu định trước

Theo từ điển tiếng Việt: Quản lý là một tổ chức và điều hành các hoạtđộng theo những yêu cầu nhất định [22]

Trang 29

Sự cần thiết của việc quản lý được C.Mác viết: “Tất cả mọi lao động trựctiếp hay lao động chung nào được tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ítnhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thựchiện chức năng chung, phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khácvới sự vận động của những cơ quan độc lập nó Một người độc tấu vĩ cầm riêng

lẻ tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc cần có nhạc trưởng” (C.Mác

và Ăng –Ghen toàn tập, tập 23, trang 24 – NXB Chính trị quốc gia)

Như vậy, C.Mác đã chỉ ra được bản chất quản lý là một hoạt động laođộng để điều khiển lao động, một hoạt động tất yếu quan trọng trong quá trìnhphát triển của xã hội loài người Quản lý trở thành một hoạt động phổ biến ởmọi nơi, mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và các liên quan đến mọi người Đó là mộthoạt động bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác đểlàm một công việc nhằm đặt được mục tiêu chung

Theo F.Taylor: Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người kháclàm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và

Trang 30

Theo Thái Duy Tuyên: quản lý là một hoạt động lao động tất yếu trongquá trình phát triển của xã hội loài người, nó được bắt nguồn và gắn chặt với sựphân công và hợp tác lao động [20]

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo, hoạt động quản lý là hoạt động gồm hai quátrình “quản” và “lý” tích hợp vào nhau; trong đó “quản” có nghĩa là duy trì ổnđịnh hệ, “lý” có nghĩa là đổi mới hệ [2]

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: Quản lý là quá trình tác động củachủ thể quản lý đến đối tượng nhằm điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội,hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí của nhàquản lý và phù hợp với quy luật khách quan, để khái quát và làm rõ được quytrình quản lý [17]

Như vậy, các tác giả tùy theo cách tiếp cận đã nêu ra các quan niệm khácnhau về khái niệm quản lý, song dù cách tiếp cận nào thì bản chất của hoạt độngquản lý cũng là cách thức tác động có hướng đích (tổ chức, điều khiển, chỉ huyđiều phối, tham gia can thiệp, hướng dẫn, giúp đỡ) phù hợp với quy luật của chủthể quản lý đến khách thể quản lý làm cho tổ chức vận hành đạt kết quả mongmuốn Giữa chủ thể và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động tương hỗ lẫnnhau, chủ thể này làm nảy sinh ra các tác động quản lý, khách thể làm nảy sinh

ra vật chất và tinh thần có giá trị sử dụng trực tiếp, đáp ứng nhu cầu của conngười, đáp ứng mục đích quản lý

Bản chất của hoạt động quản lý là tác động có mục đích vào tập thể ngườinhằm thực hiện mục tiêu quản lý Trong giáo dục và đào tạo đó là tác động củanhà quản lý giáo dục đến tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dụckhác trong xã hội nhằm thực hiện hệ thống các mục tiêu quản lý giáo dục

* Chức năng của quản lý: [17]

Chức năng của quản lý là một dạng hoạt động quản lý chuyên biệt, thôngqua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện một mục

Trang 31

tiêu nhất định Nhiều nhà khoa học và quản lý thực tiễn đã đưa ra những quan điểmkhác nhau về phân loại chức năng quản lý Theo quan điểm quản lý hiện đại, từ các

hệ thống chức năng quản lý có thể khái quát một số chức năng cơ bản sau:

- Kế hoạch

- Tổ chức

- Chỉ đạo (bao gồm cả sửa chữa, uốn nắn và phối hợp)

- Kiểm tra (bao gồm cả thanh tra, kiểm soát và kiểm kê)

1.2.4 Quản lý chất lượng giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật.

1.2.4.1 Quản lý giáo dục:

Quản lý giáo dục là một bộ phận trong quản lý nhà nước XHCN Việt Nam

Vì vậy, quản lý giáo dục mặc dù có những đặc điểm riêng biệt, song sự chi phốibởi mục tiêu quản lý nhà nước XHCN Tùy theo việc xác định đối tượng quản lý

mà quản lý giáo dục được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau Xét trên bình diệnchung, chúng ta có thể tiếp cận một số khái niệm quản lý giáo dục như sau:

Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là quản lý trường học, thực hiệnđường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưanhà trường vận hành theo nguyên tắc giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng họcsinh” [10]

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang: Khái niệm quản lý giáo dục là khái niệm đacấp (bao hàm cả quản lý hệ giáo dục quốc gia, quản lý các phân hệ của nó đặcbiệt là quản lý trường học) [17]

Tác giả Trần Kiểm quan niệm: Quản lý giáo dục được phân chia thành 2cấp: vĩ mô và vi mô Đối với cấp vĩ mô: “Quản lý giáo dục được hiểu là những tácđộng tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) củachủ thể quản lý đến tất cả mắt xích của hệ thống (từ cấp cao đến các cơ sở giáo dụcnhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục,đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục” Đối với cấp vi mô: “Quản

Trang 32

lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác(có ý thức, có mục đích,

có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên,tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trườngnhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục nhà trường

Tuy tiếp cận ở những góc nhìn khác nhau, song về cơ bản khái niệm quản

lý giáo dục đều có những dấu hiệu chung sau:

- Quản lý giáo dục nằm trong phạm trù quản lý xã hội nói chung Các hoạtđộng quản lý trong giáo dục dựa trên cơ sở quyền lực nhà nước mà đại diện làcác cơ quan quản lý giáo dục và đào tạo từ Bộ GD&ĐT đến các cơ sở đào tạo

- Quản lý giáo dục là quản lý con người Quản lý con người trong ngànhgiáo dục có ý nghĩa là đào tạo con người, dạy cho họ thực hiện vai trò xã hội,những chức năng, nghĩa vụ, trách nhiệm của mình, phát triển nghề nghiệp để họlàm tròn trách nhiệm với xã hội

Tóm lại, quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lênđối tượng và khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáodục đạt được kết quả mong muốn một cách có hiệu quả nhất

sự đáng giá với đồng tiền [bỏ ra] (quality as value for money); Chất lượng là sựchuyển đổi về chất (quality as transformation)

Trang 33

Tổ chức Quốc tế và tiêu chuẩn hóa ISO, trong dự thảo DIS 9000:2000 đãđưa ra định nghĩa sau: “Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của mộtsản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và cácbên có liên quan”.

Trần Khánh Đức (Kỷ yếu hội thảo về kiểm định chất lượng do Tổng cụcdạy nghề tổ chức tại Quảng Ninh tháng 6/2000) viết tóm tắt một số khái niệm vềchất lượng như sau: [13]

- Chất lượng là “Tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật(sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác” (Từ điển Tiếng Việt phổthông) [14]

- Chất lượng là “Cái làm nên phẩm chất, giá trị của sự vật” hoặc là “Cáitạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác sự vật kia” (Từ điển thôngdụng) [21,22]

- Chất lượng là “Mức hoàn thiện, là đặc trưng so sánh hay đặc trưng tuyệtđối, dấu hiệu đặc thù, các dữ kiện, các thông số cơ bản” (Oxford PoketDictionnary)

- Chất lượng là “Tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thỏamãn nhu cầu người sử dụng” (Tiêu chuẩn Pháp – NFX 50 - 109)

- Chất lượng là “Tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạocho thực thể (đối tượng) khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhucầu tiềm ẩn” (TCVN – ISO 8402)

Theo quan điểm của chúng tôi: Chất lượng là sự đáp ứng nhu cầu củakhách hàng (người sử dụng lao động)

* Chất lượng giáo dục.

Tác giả Nguyễn Đức Chính (2000): Chất lượng giáo dục được đánh giáqua mức độ trùng khớp với mục tiêu định sẵn

Trang 34

Theo tác giả Nguyễn Kim Dung, Phạm Xuân Thành (2003): Chất lượnggiáo dục là sự đáp ứng của sản phẩm đào tạo đối với các chuẩn mực và tiêu chí

đã được xác định

Theo Nguyễn Văn Đản (Trường đại học Sư phạm Hà Nội), chất lượnggiáo dục là những lợi ích, giá trị mà kết quả học tập đem lại cho cá nhân và xãhội, trước mắt và lâu dài Khái niệm trên được đúc kết từ nhiều góc độ khácnhau Dưới góc độ quản lý chất lượng, thì chất lượng giáo dục là học sinh vừacần phải nắm được các kiến thức kỹ năng, phương pháp chuẩn mực thái độ saumột quá trình học; đáp ứng được các yêu cầu khi lên lớp, chuyển cấp, vào họcnghề hay đi vào cuộc sống lao động

Theo chúng tôi, chất lượng giáo dục là mức độ trùng khớp giữa sản phẩmđào tạo và các chuẩn mực, tiêu chí đã định sẵn

1.2.4.3 Quản lý chất lượng giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật.

1.2.4.3.1 Quản lý mục tiêu hoạt động giáo dục hòa nhập TKT [5,6]

Theo quan điểm của Chủ Tịch Hồ Chí Minh chăm sóc và giáo dục thiếuniên nhi đồng không chỉ mang lại cho các em cuộc sống tự do, có cơm áo ấm

no, được học hành, mà phải giúp cho các em thành người Mục tiêu giáo dụctrước hết với mỗi cá nhân là hoàn thiện nhân cách, phát triển toàn diện Thựchiện theo lời dạy của Bác, ngày nay Đảng và Nhà nước đang hướng tới mục tiêugiáo dục và đào tạo “những chủ nhân tương lai của đất nước” là những conngười có trí tuệ, mạnh khỏe về thể chất, phong phú về tâm hồn, trong sáng vềđạo đức, sẵn sàng phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc

Mục tiêu cụ thể của việc chăm sóc giáo dục trẻ là giúp trẻ phát triển mộtcách toàn diện nhằm đạt được các tiêu chí mà Bộ giáo dục đã đề ra và cụ thể ởtừng độ tuổi với từng lĩnh vực phát triển như sau:

Lĩnh vực phát triển nhận thức: Trẻ tò mò và ham hiểu biết, thích khámphá, tìm tòi những sự vật hiện tượng xung quanh Trẻ có khả năng quan sát, so

Trang 35

sánh, phân loại, phán đoán, suy luận, chú ý và ghi nhớ có chủ định Nhận biết về

số, số đếm, một số hình học cũng như định hướng được trong không gian, cómột số hiểu biết ban đầu về thời gian Trẻ có một số hiểu biết ban đầu về bảnthân, môi trường tự nhiên và xã hội

Lĩnh vực phát triển ngôn ngữ: Trẻ có thể nghe hiểu được lời nói và biết sửdụng lời nói để giao tiếp và biểu lộ cảm xúc, cảm nghĩ Có khả năng diễn đạtbằng lời nói rõ ràng để thể hiện ý muốn, cảm xúc, tình cảm của mình và củangười khác Biết thể hiện một số quy tắc thông thường trong giao tiếp Có một

số biểu tượng về việc đọc và việc viết để vào học lớp 1

Lĩnh vực phát triển thẩm mỹ: Trẻ cảm nhận được vẻ đẹp trong thiênnhiên, trong cuộc sống và trong tác phẩm nghệ thuật Có nhu cầu, hứng thú khitham gia vào các hoạt động hát, múa, vận động theo nhạc, đọc thơ, kể chuyện,đóng kịch…và biết thể hiện cảm xúc sáng tạo thông qua các hoạt động đó

Lĩnh vực phát triển thể chất: Trẻ khỏe mạnh, cơ thể phát triển cân đối hàihòa phù hợp với sự phát triển của trẻ về chiều cao, cân nặng và đạt mức pháttriển bình thường theo biểu đồ theo dõi sức khỏe Trẻ thực hiện được các vậnđộng cơ bản; biết phối hợp vận động của các nhóm cơ nhở, cơ lớn; biết phối hợpcác giác quan và giữ thăng bằng khi vận động, thể hiện sức mạnh, sự dẻo dai của

cơ thể Trẻ có khả năng thích nghi tốt với môi trường sinh hoạt ở trường mầmnon Có một số thói quen, kỹ năng tốt về tự phục vụ trong ăn uống, giữ gìn sứckhỏe, vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và biết cách đảm bảo an toàn

Lĩnh vực phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội: Trẻ mạnh dạn, hồn nhiên,

tự tin, lễ phép trong giao tiếp Nhận ra một số trạng thái cảm xúc và thể hiện tìnhcảm phù hợp với các đối tượng và hoàn cảnh cụ thể Thực hiện một số quy địnhđơn giản trong sinh hoạt Có ý thức tự phục vụ, kiên trì thực hiện công việcđược giao Yêu quý gia đình, trường lớp mầm non vá nơi sinh sống Quan tâm,

Trang 36

chia sẻ, hợp tác với những người gần gũi Quan tâm chăm sóc vật nuôi, câytrồng và bảo vệ môi trường.

Mục tiêu của giáo dục hoà nhập (còn được gọi là "lồng ghép") là tạo ramột môi trường giáo dục mà tất cả TKT, bao gồm các nhóm trước đó bị loại trừ,

có thể tìm hiểu và tham gia cùng nhau trong hệ thống trường học Cách tiếp cậncủa giáo dục hoà nhập TKT bao gồm việc tạo ra các lớp học hiệu quả, tạo cơ hộitham gia cho TKT, nơi mà các nhu cầu giáo dục của mọi trẻ em được giải quyết,không phân biệt trẻ bình thường hay khuyết tật

Theo Thông tư số 39/2009/TT-BGDĐ ngày 29/12/2009 về việc Ban hànhquy định giáo dục hòa nhập cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn thì:

- Mọi trẻ em có hoàn cảnh khó khăn đều được học tập bình đẳng trong các

cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân, được giáo dục các kĩ năng sống,học văn hoá, hướng nghiệp, học nghề để hoà nhập cộng đồng

- Mọi trẻ em được nhận một nền giáo dục phù hợp với hoàn cảnh sống,nhu cầu và khả năng học tập trong các giai đoạn phát triển của trẻ

Mục tiêu, yêu cầu chương trình học của trẻ khuyết tật tùy thuộc vào mức

độ khuyết tật Chương trình học được xây dựng riêng cho từng TKT và chuẩn bịđầy đủ đồ dùng, trang thiết bị chung cho cả lớp và riêng cho trẻ khuyết tật.Mục tiêu giáo dục hòa nhập TKT về cơ bản dựa trên mục tiêu chung củamục tiêu chăm sóc giáo dục trẻ trong trường mầm non, tập trung vào việc huấnluyện, khắc phục các khó khăn chính của trẻ sao cho trẻ khuyết tật “bìnhthường” trong xã hội của mình Phấn đấu tạo cơ hội bình đẳng tiếp nhận dịch

vụ giáo dục với những hỗ trợ cần thiết trong lớp học phù hợp tại trường học,nơi trẻ sinh sống nhằm chuẩn bị và giúp TKT trở thành những thành viên đầy

đủ của xã hội

Trang 37

1.2.4.3.2 Quản lý nội dung hoạt động giáo dục hòa nhập TKT

Để hình thành nhân cách con người phát triển toàn diện và hài hòa Đảng

ta đã xác định những nội dung cần giáo dục trẻ bao gồm: phát triển thể chất,phát triển nhận thức, phát triển ngôn ngữ, phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội.Những nội dung trên được xây dựng trong chương trình Giáo dục mầm non mới.Các chương trình đã được thiết kế phù hợp với từng độ tuổi và được thực hiệndựa trên mục tiêu cụ thể của từng địa phương Các cơ sở giáo dục cũng xâydựng cho mình nội dung giáo dục phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hộicủa địa phương mình, nhưng tất cả đều dựa vào chương trình khung của Bộ giáodục Khi thực hiện nội dung giáo dục cần phải tìm hiểu kỹ mục tiêu giáo dụctheo các lĩnh vực của trẻ Lựa chọn và cụ thể hóa nội dung giáo dục trongchương trình dựa vào mục tiêu giáo dục trẻ theo từng lĩnh vực

Nội dung chăm sóc giáo dục hòa nhập TKT chính là cụ thể mục tiêu giáodục hòa nhập TKT và được thể hiện trong kế hoạch, giáo án và các hoạt độnggiảng dạy Các lĩnh vực phát triển được cụ thể hóa qua các hoạt động học, cácmôn học cụ thể, góp phần phát triển toàn diện ở trẻ và đặc biệt là đối với TKT,đảm bảo nhu cầu của phụ huynh và nhu cầu phát triển của xã hội Chính vì vậy,quản lý nội dung, chương trình là quán triệt mục đích cụ thể của từng lĩnh vực,từng môn học trên cơ sở nắm chắc chương trình khung của Bộ giáo dục Ngoài

ra các cấp ban ngành, ban giám hiệu các trường mầm non cần phải cập nhậtthường xuyên các chủ trương nhằm đổi mới công tác quản lý và áp dụng vàoviệc xây dựng chương trình giáo dục hòa nhập TKT

Quản lý việc thực hiện nội dung chương trình, kế hoạch GDHN TKT là:Đảm bảo cho nội dung đã được quy định thực hiện đầy đủ, đạt yêu cầu về mụctiêu phát triển Đây là công tác trọng yếu nhất của giáo dục mầm non, vì nó ảnhhưởng quyết định đến kết quả cuối trong công tác quản lý giáo dục mầm non nóichung và GDHN TKT nói riêng [6]

Trang 38

* Phân loại các hình thức khuyết tật

Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) phân loại khuyết tật được dựa trênnhững đặc điểm sức khỏe và những hạn chế trong hoạt động của cá thể trongmôi trường sống của họ [5]

Thông thường phân loại khuyết tật theo 3 yếu tố cơ bản:

+ Những thiếu hụt về cấu trúc cơ thể

+ Sự suy giảm các chức năng

+ Những hạn chế trong hoạt động của cá thể

Quá trình nghiên cứu để tìm kiếm những phương thức giáo dục phù hợpcho TKT, các nhà khoa học đã phân chia TKT thành các loại như sau:

Đặc điểm cơ bản và chung nhất ở tất cả các loại khuyết tật là đều làm ảnhhưởng đến ngôn ngữ và khả năng giao tiếp của trẻ

Từ việc nắm bắt cụ thể về đặc điểm của các loại hình khuyết tật, nhà quản

lý xây dựng mô hình quản lý cụ thể việc nâng cao chất lượng GDHN TKT mộtcách có hiệu quả

Trang 39

1.2.4.3.3 Quản lý phương pháp, hình thức, nguyên tắc tổ chức hoạt

động giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật

* Hình thức tổ chức hoạt động GDHN TKT ở trường mầm non [6]

- Hoạt động ngoài trời

* Nguyên tắc tổ chức hoạt động GDHN TKT ở các trường mầm non [6]

Tổ chức cho trẻ học phải dựa vào đặc điểm cá nhân của trẻ, đặc biệt là đốivới các TKT Đối với TKT khi học hòa nhập cần đảm bảo tính vừa sức Cần tạo

ra môi trường học tập đầy đủ các điều kiện cần thiết: có đồ dùng trực quan, có

cơ hội hoạt động tương tác, có nguyên liệu để trẻ được làm trẻ học qua cácgiác quan, được trải nghiệm trực tiếp để lĩnh hội tri thức

Cần tổ chức học tập hợp tác theo các chủ đề với nội dung tích hợp, hìnhthức kỹ thuật đa dạng, các hoạt động cá nhân của trẻ được xã hội hóa

Luôn hướng vào mục tiêu phát triển trẻ Phát triển những chức năng vàhoạt động cơ bản của con người trên các lĩnh vực: thể lực, trí tuệ, tình cảm, thẩm

mỹ hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1.Đối với TKT, cần giúp trẻ hoạt động “hòa nhập” vào môi trường học tập củamình, phát huy những điểm mạnh đã có, hạn chế và khắc phục những điểm yếu,khiếm khuyết của trẻ

* Phương pháp tổ chức hoạt động GDHN TKT ở trường mầm non [5,6]

- Thông tin truyền đạt ngắn gọn, dễ hiểu

Trang 40

- Tổ chức trò chơi: được sử dụng trò chơi, trẻ ghi nhớ nguyên tắc chơi;trải nghiệm những kiến thức, kỹ năng hoặc hình thành nó trong khi chơi.

- Làm việc theo nhóm nhỏ: phát triển kỹ năng làm việc theo nhóm

- Làm việc cả lớp: Trẻ có cơ hội phát triển sự đa dạng và khả năng củatừng cá nhân

- Nghiên cứu xử lý tình huống

- Khuyến khích biểu đạt cá nhân

Các phương pháp này mang lại hiệu quả cao trong công tác tổ chức hoạtđộng giáo dục cho trẻ, đặc biệt là đối với TKT TKT khiếm khuyết về một số bộphận, chức năng nên việc truyền đạt thông tin ngắn gọn, dễ hiểu giúp trẻ nắmthông tin và thực hiện theo yêu cầu thông tin một cách dễ dàng Việc tổ chức tròchơi, làm việc theo nhóm nhỏ, làm việc cả lớp tạo cơ hội để TKT được “hòamình” vào hoạt động chung với bạn bè giúp tiếp nhận những kiến thức một cách

dễ dàng nhất Đặc biệt với TKT có rất nhiều tình huống có thể xảy ra do đặcđiểm cá nhân của trẻ, chính vì vậy việc nghiên cứu xử lý tình huống giúp giáoviên có thể chủ động trong công tác chăm sóc GDHN TKT Sự động viênkhuyến khích kịp thời là món quà quí giá đối với TKT, giúp TKT tự tin hơn vớichính bản thân mình và với cộng đồng

1.2.5 Giải pháp và giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật

Theo Từ điển Tiếng Việt giải pháp là: “phương pháp giải quyết một vấnđề” Nói đến giải pháp là nói đến những cách thức tác động nhằm thay đổichuyển biến một quá trình, một trạng thái hoặc hệ thống nhằm đạt được mụcđích Giải pháp thích hợp sẽ giúp cho vấn đề được giải quyết nhanh hơn, manglại hiệu quả cao hơn [22]

Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục hòa nhập TKT là những cáchthức tác động vào quá trình phát triển của TKT với những hỗ trợ cần thiết thông

Ngày đăng: 03/11/2015, 19:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. A.A. Xmiecnop, Tâm lý học, tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội 1974 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học
Nhà XB: NXB Giáo dục
2. Đặng Quốc Bảo, Khái niệm về quản lý giáo dục và chức năng quản lý giáo dục, Tạp chí Phát triển giáo dục 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm về quản lý giáo dục và chức năng quản lý giáodục
3. Bộ GD và ĐT, Chiến lược giáo dục mầm non từ 1998-2020, Hà Nội 2009 4. Bộ GD và ĐT, Điều lệ trường Mầm non, NXB Giáo dục, Hà Nội 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược giáo dục mầm non từ 1998-2020", Hà Nội 20094. Bộ GD và ĐT, "Điều lệ trường Mầm non
Nhà XB: NXB Giáo dục
5. Bộ Lao động thương binh và Xã hội, Unicef, Phân tích tình hình trẻ em khuyết tật ở Việt Nam, NXB Lao động – Xã hội, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích tình hình trẻ emkhuyết tật ở Việt Nam
Nhà XB: NXB Lao động – Xã hội
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo dục trẻ khuyết tật, Hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện nghị định 26/CP của Chính phủ 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục trẻ khuyết tật
7. Phạm Thị Châu, Quản lý Giáo dục mầm non. Trường CĐSP Nhà trẻ – Mẫu giáo TW, số 1, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý Giáo dục mầm non
8. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Pháp lệnh về người tàn tật và các văn bản hướng dẫn thi hành, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh về ngườitàn tật và các văn bản hướng dẫn thi hành
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội
9. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quyết định số 149/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án phát triển mầm non giai đoạn 2006-2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số149/2006/QĐ-TTg
10. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quyết định số 239/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án phổ cập mầm non cho trẻ em 5 tuổi giai đoạn 2010-2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số239/QĐ-TTg
11. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
12. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
13. Trần Khánh Đức (2005), Mối quan hệ giữa quy mô chất lượng và hiệu quả trong phát triển giáo dục nước ta thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa, Tạp chí GD, (105) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa quy mô chất lượng và hiệu quảtrong phát triển giáo dục nước ta thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa
Tác giả: Trần Khánh Đức
Năm: 2005
14. Phạm Minh Hạc, Một số vấn đề giáo dục và khoa học giáo dục. NXB Giáo dục, Hà Nội 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề giáo dục và khoa học giáo dục
Nhà XB: NXB Giáodục
15. Phạm Minh Hạc (1991), Góp phần đổi mới tư duy giáo dục, NXB giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần đổi mới tư duy giáo dục
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 1991
16. Komensky, J.A, Thiên đường của trái tim, NXB “Ngoại văn”, Hà Nội 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiên đường của trái tim", NXB “Ngoại văn
Nhà XB: NXB “Ngoại văn”
17. Nguyễn Ngọc Quang (1989), Những khái niệm cơ bản về lý luận quản lý giáo dục, Trường Cán bộ quản lý giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những khái niệm cơ bản về lý luận quản lýgiáo dục
Tác giả: Nguyễn Ngọc Quang
Năm: 1989
18. Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật giáo dục, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật giáo dục
Nhà XB: NXBchính trị quốc gia
19. Radda Barnen, Giáo dục hoà nhập ở Việt Nam, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục hoà nhập ở Việt Nam
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia
20. Thái Duy Tuyên, Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới
Nhà XB: NXB Giáodục
21. Trung tâm biên soạn từ điển Hà Nội (1995), Từ điển Bách khoa Việt Nam, NXB văn hóa thông tin Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Bách khoa Việt Nam
Tác giả: Trung tâm biên soạn từ điển Hà Nội
Nhà XB: NXB văn hóa thông tin Hà Nội
Năm: 1995

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Quy mô mạng lưới trường, lớp mầm non - Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở các trường mầm non huyện Nghĩa Đàn tỉnh Nghệ An
Bảng 2.1. Quy mô mạng lưới trường, lớp mầm non (Trang 52)
Bảng 2.4. Cơ cấu về trình độ đào tạo của đội ngũ CBGV MN huyện Nghĩa Đàn năm học 2012 - 2013 - Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở các trường mầm non huyện Nghĩa Đàn tỉnh Nghệ An
Bảng 2.4. Cơ cấu về trình độ đào tạo của đội ngũ CBGV MN huyện Nghĩa Đàn năm học 2012 - 2013 (Trang 55)
Bảng 2.6: Nhận thức của CBGV về công tác GDHN cho TKT ở trường - Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở các trường mầm non huyện Nghĩa Đàn tỉnh Nghệ An
Bảng 2.6 Nhận thức của CBGV về công tác GDHN cho TKT ở trường (Trang 60)
Bảng 2.7: Cách hiểu của CBGV mầm non về khái niệm Giáo dục hòa nhập - Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở các trường mầm non huyện Nghĩa Đàn tỉnh Nghệ An
Bảng 2.7 Cách hiểu của CBGV mầm non về khái niệm Giáo dục hòa nhập (Trang 61)
Bảng 2.9: Chương trình giáo dục đang được sử dụng trong dạy học hòa - Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở các trường mầm non huyện Nghĩa Đàn tỉnh Nghệ An
Bảng 2.9 Chương trình giáo dục đang được sử dụng trong dạy học hòa (Trang 66)
Bảng 2.10: Các giờ học chung giáo viên thường sử dụng để dạy trẻ khuyết - Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở các trường mầm non huyện Nghĩa Đàn tỉnh Nghệ An
Bảng 2.10 Các giờ học chung giáo viên thường sử dụng để dạy trẻ khuyết (Trang 69)
Bảng 2.12: Tổng hợp trưng cầu ý kiến về công tác chỉ đạo xây dựng mạng - Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở các trường mầm non huyện Nghĩa Đàn tỉnh Nghệ An
Bảng 2.12 Tổng hợp trưng cầu ý kiến về công tác chỉ đạo xây dựng mạng (Trang 76)
Bảng 2.13: Các biện pháp đã sử dụng để chỉ đạo thực hiện chương trình - Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở các trường mầm non huyện Nghĩa Đàn tỉnh Nghệ An
Bảng 2.13 Các biện pháp đã sử dụng để chỉ đạo thực hiện chương trình (Trang 77)
Bảng 2.14: Hình thức bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên trực tiếp - Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở các trường mầm non huyện Nghĩa Đàn tỉnh Nghệ An
Bảng 2.14 Hình thức bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên trực tiếp (Trang 81)
Bảng 3.1: Ý kiến của CBQL và GV về mức độ cần thiết của các giải pháp. - Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở các trường mầm non huyện Nghĩa Đàn tỉnh Nghệ An
Bảng 3.1 Ý kiến của CBQL và GV về mức độ cần thiết của các giải pháp (Trang 106)
Bảng 3.2: Ý kiến của CBQL và GV về tính khả thi của các giải pháp. - Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở các trường mầm non huyện Nghĩa Đàn tỉnh Nghệ An
Bảng 3.2 Ý kiến của CBQL và GV về tính khả thi của các giải pháp (Trang 107)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w