LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp với đề tài “ Xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong giải toán có lời văn lớp 5” là kết qu
Trang 1TRONG GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN LỚP 5
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học
Người hướng dẫn khoa học ThS PHẠM HUYỀN TRANG
Trang 2tốt khóa luận này
Do điều kiện thời gian nghiên cứu có hạn nên đề tài không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Em rất mong tiếp tục nhận đƣợc sự đóng góp của thầy cô và các bạn để khóa luận đƣợc hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Vân
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp với đề tài “ Xây dựng và sử
dụng hệ thống câu hỏi nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong giải toán có lời văn lớp 5” là kết quả nghiên cứu riêng tôi, trên cơ sở giúp đỡ của
giáo viên hướng dẫn và tham khảo các tài liệu có liên quan
Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu của mình không trùng với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác Nếu sai, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Vân
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 2
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
7 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 3
NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG CÂU HỎI NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH 4
1.1 Cơ sở lí luận 4
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 4
1.1.2 Một số vấn đề về xây dựng và sử dựng câu hỏi 8
1.1.3 Một số vấn đề về việc giải bài toán có lời của học sinh lớp 5 17
1.2 Cơ sở thực tiễn 27
1.2.1 Thực trạng của việc dạy và học giải toán có lời văn của học lớp 5 27
1.2.2 Thực trạng của việc xây dựng và sử dụng câu hỏi nhằm pháp huy tính tích cực của học sinh lớp 5 trong giải toán có lời văn 30
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG CÂU HỎI NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN LỚP 5 33
2.1 Quy trình chung của việc xây dựng và sử dụng câu hỏi 33
2.1.1 Nguyên tắc 33
2.1.2 Quy trình 34
Trang 52.2 Một số biện pháp xây dựng và sử dụng câu hỏi nhằm phát huy tính tích
cực của học sinh trong dạy học giải toán có lời văn lớp 5 39
2.2.1 Xây dựng và sử dụng câu hỏi trong việc gợi hướng giải các bài toán có lời văn 39
2.2.2 Xây dựng và sử dụng câu hỏi hướng dẫn học sinh khai thác bài toán để tìm ra nhiều cách giải cho một bài toán 43
2.2.3 Xây dựng và sử dụng câu hỏi hướng dẫn học sinh lớp 5 phát hiện và sửa lỗi khi giải bài toán có lời văn 51
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 57
3.1 Mục đích, nội dung thực nghiệm 57
3.1.1 Mục đích 57
3.2 Tổ chức thực nghiệm 59
3.2.1 Đặc điểm trường lớp và giáo viên thực nghiệm 59
3.2.2 Thời gian thực nghiệm 60
3.2.3 Phương pháp thực nghiệm 60
3.3 Kết quả thực nghiệm 60
KẾT LUẬN 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngày nay, chúng ta đang sống trong bối cảnh kinh tế - xã hội phát triển như vũ bão Vì vậy, giáo dục cần đào tạo đội ngũ nhân lực có khả năng đáp ứng được những đòi hỏi mới của xã hội và thị trường lao động, đặc biệt là tính tích cực, tính năng động, sáng tạo, tính tự lực và trách nhiệm cũng như năng lực cộng tác làm việc, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp
Trong những năm gần đây giáo dục đã có những cố gắng trong việc đổi mới phương pháp dạy học và đã đạt được những tiến bộ trong việc phát huy tính tính tích cực của học sinh Tuy nhiên các phương pháp dạy học truyền thống, đặc biệt là lối dạy học thuyết trình theo hướng một chiều vẫn chiếm một vị trí chủ đạo trong các phương pháp dạy học ở các trường Tiểu học đã làm hạn chế việc phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh Học sinh tiếp thu kiến thức một cách thụ động, chủ yếu chỉ nghe giảng , ghi nhớ và làm bài theo mẫu Do đó việc học tập thường ít hứng thú, nội dung các hoạt động học tập thường đơn điệu, nghèo nàn, ít quan tâm đến phát triển năng lực cá nhân học sinh
Thực trạng trên dẫn đến hệ quả là thế hệ trẻ được đào tạo mang tính thụ động cao, hạn chế khả năng sáng tạo và năng lực vận dụng tri thức đã học để giải quyết các tình huống thực tiễn cuộc sống Điều đó có nghĩa là giáo dục chưa đáp ứng đầy đủ mục tiêu đặt ra là “Giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực
cá nhân, tính năng động và sáng tạo…”
Giải toán có lời văn là một trong năm mạch kiến thức chính ở chương trình Toán Tiểu học, là nội dung có một vị trí quan trọng và góp phần không nhỏ trong việc phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh, đặc biệt là khả
Trang 7năng vận dụng các kiến thức đã học vào giải quyết các tình huống trong thực tiễn Bởi trong giải toán mọi học sinh đều phải hoạt động, phải độc lập suy nghĩ và làm việc tích cực theo hướng dẫn, tổ chức của giáo viên, tạo cho học sinh thói quen làm việc tự giác, chủ động và tích cực
Tuy nhiên, đa số các giáo viên hiện nay đều chưa sử dụng đúng mức các phương pháp dạy học trong việc hướng dẫn học sinh giải các bài toán Học sinh thường giải một cách máy móc các bài toán theo mẫu mà giáo viên
đã dạy mà không biết giải bài tập một cách sáng tạo Vậy vấn đề nằm ở việc cách thức giáo viên hướng dẫn học sinh tiếp thu bài học chưa làm phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong suy nghĩ của học sinh
Xuất phát từ những lí do trên tôi chọn: “Xây dựng và sử dụng hệ thống
câu hỏi nhằm phát huy tính tích cực trong dạy học giải toán có lời văn lớp 5”
là đề tài nghiên cứu với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả học tập của học sinh và chất lượng đào tạo trong học tập
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu lí luận và thực trạng của việc dạy và học giải toán có lời văn lớp 5 trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong giải toán có lời văn lớp 5
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: Việc xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong giải toán có lời văn lớp 5
- Khách thể nghiên cứu: Một số biện pháp xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong giải toán có lời văn lớp 5
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Học sinh tiểu học khối lớp 5, giáo viên tiểu học dạy lớp 5
Trang 8- Trường Tiểu học Đồng Cương – Yên Lạc – Vĩnh Phúc
- Toán lớp 5, nội dung dạy học toán 5
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Cơ sở lí luận của việc xây dựng và sử dụng câu hỏi nhằm phát huy tính tích cực của học sinh Mục tiêu, nội dung chương trình toán lớp 5 nói chung và giải toán có lời văn nói riêng Thực trạng của việc dạy và học giải toán có lời văn lớp 5
- Đề xuất một số biện pháp xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong giải toán có lời văn lớp 5
- Chứng minh tính đúng đắn của việc xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong giải toán có lời văn lớp 5 bằng thực nghiệm
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp điều tra, quan sát, phỏng vấn
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Phương pháp xử lý số liệu
7 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu đề xuất một số biện pháp “ Xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi
nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong giải toán có lời văn lớp 5”
thành công thì sẽ mang lại hiệu quả cho dạy học giải toán có lời văn lớp 5 và nâng cao chất lượng dạy học
Trang 9NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG CÂU HỎI NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA
HỌC SINH 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Khái niệm “câu hỏi”
Câu hỏi là loại câu dùng trong giao tiếp (trực tiếp hoặc gián tiếp) Thông thường, câu hỏi có mục đích tìm hiểu, làm rõ sự kiện, sự vật nhất định, đòi hỏi sự cung cấp, giải thích, nhận xét, đánh giá thông tin về sự vật, sự mô
tả, phân tích, so sánh có liên quan đến sự vật và bản thân sự vật dưới hình thức trả lời, đáp lại
Khái niệm về câu hỏi có nhiều cách hiểu khác nhau:
- Theo Đề-Các: không có câu hỏi thì không có tư duy cá nhân cũng như không có tư duy nhân loại Ông cũng nhấn mạnh dấu hiệu bản chất của câu hỏilà phải có mối quan hệ giữa cái đã biết và cái chưa biết
- Theo Trần Bá Hoành [4]: câu hỏi kích thích tư duy là câu hỏi đặt ra trước học sinh một nhiệm vụ nhận thức, khích lệ và đòi hỏi họ cố gắng trí tuệ cao nhất, tự lực tìm ra câu trả lời
- Câu hỏi là kiểu câu nghi vấn nhằm làm rõ, giải thích, nhận xét, đánh giá thông tin, phân tích, so sánh những gì liên quan đến sự vật và bản thân sự vật dưới hình thức trả lời, đáp trả
- Theo Arixtot: Câu hỏi là một mệnh đề trong đó có chứa đựng cả cái
đã biết và cái chưa biết
Khái niệm câu hỏi đã xuất hiện từ thời triết học cổ Hy Lạp Arixtot là người đầu tiên đã phân tich câu hỏi dưới góc độ logic, ông cho rằng đặc trưng
Trang 10của câu hỏi là buộc người bị hỏi phải lựa chọn cách hiểu nay hay cách hiểu khác (câu hỏi lựa chọn)
Nghiên cứu của Arixtot được cụ thể hóa theo công thức sau:
Câu hỏi = cái đã biết + cái chưa biết (cần tìm)
Câu hỏi thuộc phạm trù khả năng chứa đựng cả hai yếu tố: sự có mặt của cái không rõ và nguyện vọng nhu cầu của người muốn hỏi Câu hỏi là một dạng cấu trúc ngôn ngữ, diễn đạt một yêu cầu, một đòi hỏi, một mệnh đề diễn đạt bằng ngôn từ nhằm yêu cầu được giải quyết
Tuy có nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm câu hỏi nhưng đều
có điểm chung làm thành đặc trưng câu hỏi: Sự xuất hiện cái không rõ và một yêu cầu cần phải giải quyết
Sự tương quan giữa cái đã biết và cái chưa biết thúc đẩy việc mở rộng hiểu biết của con người Để hiểu biết thêm về vấn đề nào đó con người phải xác định rõ cái mình đã biết và cái mình chưa biết từ đó mới đặt câu hỏi: cái gì? Như thế nào? Vì sao? Lúc này câu hỏi thực sự trở thành nhiệm vụ của quá trình nhận thức Câu hỏi chịu ảnh hưởng của động cơ, nhu cầu hiểu của con người ngày càng lớn thì việc đặt câu hỏi ngày càng nhiều Vì vậy trong câu hỏi luôn chứa đựng động cơ, nhu cầu của người muốn hỏi
Cùng với chức năng mong muốn được giải đáp một vấ đề nào đó, câu hỏi còn có thể mang tính chất gợi mỏi, dẫn dắt, kích thích tư duy đối với người được hỏi Chức năng này được thể hiện đặc biệt rõ nét trong lĩnh vực giáo dục, nhất là trong xu hướng giáo dục hiện đại Do đó, việc xác định những điều đã biết, chưa biết hoặc còn đang nghi ngờ để đặt ra những câu hỏi phù hợp là điều không thể thiếu
Trang 111.1.1.2 Khái niệm “xây dựng câu hỏi”
Xây dựng câu hỏi là đặt ra được câu hỏi, sắp xếp hợp lý chúng theo một hệ thống để hướng học sinh từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, tính quy luật của hiện tượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết
1.1.1.3 Khái niệm “tính tích cực”
Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người Con người sản xuất ra của cải vật chất cần thiết cho sự tồn tại, phát triển của xã hội, sáng tạo
ra nền văn hoá mỗi thời đại
Tính tích cực của con người biểu hiện trong các hoạt động Học tập là hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi đi học Tính tích cực trong hoạt động học tập là tính tích cực nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức Lĩnh hội những tri thức của loài người đồng thời tìm kiếm “khám phá” ra những hiểu biết mới cho bản thân Qua đó, sẽ thông hiểu, ghi nhớ những gì đã nắm được qua hoạt động chủ động, nỗ lực của chính mình
Tính tích cực nhận thức trong học tập liên quan với động cơ học tập Động cơ đúng tạo ra hứng thú Hứng thú là tiền đề của tự giác Hứng thú và
tự giác là hai yếu tố tâm lí tạo nên tính tích cực Tính tích cực sản sinh ra nếp
tư duy độc lập Suy nghĩ độc lập là mầm mống của sáng tạo và ngược lại
Tính tích cực học tập biểu hiện ở những dấu hiệu như: hăng hái, chủ động, tự giác tham gia các hoạt động học tập, thích tìm tòi khám phá những điều chưa biết dựa trên những cái đã biết Sáng tạo vận dụng kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống
Tính tích cực được biểu hiện qua các cấp độ:
- Bắt chước: cố gắng thực hiện theo các mẫu hành động của thầy của bạn…
Trang 12- Tìm tòi: độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm cách giải quyết khác nhau về một vấn đề …
- Sáng tạo: tìm ra cách giải quyết mới độc đáo hữu hiệu
1.1.1.4 Khái niệm “phát huy tính tích cực”
Vấn đề phát huy tính tích cực học tập của học sinh đã được đặt ra trong ngành giáo dục Việt Nam từ những năm 1960 Ở thời điểm này, các trường sư phạm đã có khẩu hiệu: “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” Trong cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai, năm 1980, phát huy tính tích cực đã
là một trong các phương hướng cải cách, nhằm đào tạo những người lao động sáng tạo, làm chủ đất nước Từ đó, trong nhà trường xuất hiện ngày càng nhiều tiết dạy tốt của các giáo viên giỏi, theo hướng tổ chức cho học sinh hoạt động, tự lực chiếm lĩnh tri thức mới Tuy vậy, phương pháp dạy học ở trường phổ thông và phương pháp đào tạo giáo viên ở trường sư phạm phổ biến vẫn
là cách dạy thông báo kiến thức “đọc - chép” hay còn được gọi là truyền thụ một chiều phương pháp dạy học này dẫn đến sự thụ động của người học, nặng về ghi nhớ lý thuyết, thiếu kỹ năng thực hành áp dụng…
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sự thách thức của quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu đòi hỏi phải có nguồn nhân lực, người lao động có đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của xã hội trong giai đoạn mới Người lao động phải có khả năng thích ứng, khả năng thu nhận và vận dụng linh hoạt, sáng tạo tri thức của nhân loại vào điều kiện hoàn cảnh thực
tế, tạo ra những sản phẩm đáp ứng yêu cầu của xã hội
Để có nguồn nhân lực trên, yêu cầu đặt ra là phải đổi mới giáo dục, trong đó có đổi mới mục tiêu giáo dục, đổi mới nội dung giáo dục và phương pháp dạy và học Định hướng đổi mới phương pháp dạy học đã được xác định trong Nghị Quyết Trung ương 4 khóa VII (1-1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12- 1996) và được thể chế hóa trong Luật Giáo dục sửa đổi ban
Trang 13hành ngày 27/6/2005, điều 2.4, đã ghi “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học Bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”
Phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh có nghĩa là phải thay đổi cách dạy và cách học Chuyển cách dạy thụ động, truyền thụ một chiều
“đọc- chép”, giáo viên làm trung tâm sang cách dạy lấy học sinh làm trung tâm hay còn được gọi là dạy và học tích cực Trong cách dạy này học sinh là chủ thể hoạt động, giáo viên là người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn, tạo nên sự tương tác tích cực giữa người dạy và người học Dạy học tích cực là điều kiện tốt khuyến khích sự tham gia chủ động, sáng tạo và ngày càng độc lập của học sinh vào quá trình học tập
1.1.2 Một số vấn đề về xây dựng và sử dựng câu hỏi
1.1.2.1 Vai trò của câu hỏi
Như tôi đã nêu, câu hỏi là phương tiện phổ biến và quan trọng trong dạy và học, là nguồn để hình thành kiến thức, kỹ năng cho học sinh Khi tim được câu trả lời có nghĩa là người học đã tìm ra được kiến thức mới, rèn được
kĩ năng xác định mối quan hệ, đồng thời sử dụng được những điều kiện đã cho, như vậy là vừa củng cố kiến thức, vừa nắm vững và mở rộng kiến thức
Đối với giáo viên:
- Câu hỏi là phương tiện giúp giáo viên truyền đạt tri thức tới học sinh một cách hữu hiệu
- Câu hỏi là công cụ, phương tiện để giáo viên định hướng cho học sinh tìm hiểu, chiếm lĩnh tri thức, giúp học sinh tự học, tự chiếm lĩnh tác phẩm văn chương
Trang 14- Câu hỏi được dùng để khắc sâu, củng cố kiến thức trong quá trình truyền đạt kiến thức mới đồng thời khắc phục được tình trạng học sinh ghi nhớ máy móc
- Câu hỏi là công cụ chủ yếu để kiểm tra, đánh giá năng lực học sinh
- Dạy học bằng câu hỏi giúp giáo viên tạo được không khí gần gũi, thân thiết với học sinh, và học sinh lĩnh hội tri thức nhanh hơn và sâu hơn
Đối với học sinh:
- Hệ thống câu hỏi là công cụ giúp học sinh khám phá tri thức của các tác phẩm
- Hệ thống câu hỏi giúp học sinh phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập
- Hệ thống câu hỏi có vai trò phát triển tư duy cho học sinh
- Tạo điều kiện cho học sinh tự học và rèn luyện phương pháp học Câu hỏi là phương tiện để phát triển và rèn luyện tư duy Khi trả lời câu hỏi học sinh phải phân tích xác định mối quan hệ, so sánh, đói chiếu những điều đã cho và những điều cần tìm tòi, đòi hỏi phải suy nghĩ logic Người học phải luôn luôn suy nghĩ do đó tư duy được phát triển Cũng qua việc tìm câu trả lời mà lôi cuốn, thu hút người học vào nhiệm vụ nhận thức do đó người học luôn cố gắng
Câu hỏi phát huy năng lực tự lực, tính tích cực của học sinh, nếu giáo viên sử dụng thành công còn có tác dụng gây được hứng thú nhận thức khát vọng tìm tòi dựa trên năng lực tự lực cho học sinh Cho phép giáo viên thu được thông tin ngược về chất lượng lĩnh hội kiến thức của học sinh (không chỉ chất lượng kiến thức mà cả chất lượng tư duy) Những thông tin này giúp giáo viên điều chỉnh quá trình dạy học một cách linh hoạt
Trang 15Câu hỏi được sử dụng phổ biến thích hợp cho hầu hết các bài và thường được sử dụng phối hợp với các phương pháp dạy học khác góp phần nâng cao chất lượng dạy học
1.1.2.2 Các loại câu hỏi
Câu hỏi vô cùng đa dạng trong dạy học câu hỏi được sử dụng trong nhiều trường hợp tuy nhiên dạy học không phải với nội dung nào của bài học đều có sữn những câu hỏi phù hợp với đối tượng học sinh Vì vậy trong những trường hợp khác nhua giáo viên cần phải tự xậy dựng câu hỏi để hướng dẫn học sinh tự nghiên cứu để phát triển kiến thức khi lựa chọn và xây dựng câu hỏi giáo viên cần phải nắm vững cáo dạng câu hỏi, câu hỏi chỉ pháy huy được tác dụng dạy học khi ta sử dụng câu hỏi phù hơp với mục tiêu bài học đồng thời vừa sức đối với học sinh.Câu hỏi gồm có các loại sau:
1/ Phân loại câu hỏi theo mức độ tư duy
Theo sáu cấp độ nhận thức của Bloom, câu hỏi có thể được chia thành
sáu cấp độ:
- Câu hỏi mức độ nhớ (biết)
- Câu hỏi mức độ hiểu
- Câu hỏi mức độ vận dụng
- Câu hỏi mức độ phân tích
- Câu hỏi mức độ tổng hợp
- Câu hỏi mức độ đánh giá
2/ Phân loại câu hỏi dựa vào nội dung mà câu hỏi phản ánh
Theo nội dung mà câu hỏi phản ánh, câu hỏi được chia thành:
- Câu hỏi nêu các sự kiện
- Câu hỏi xác định các dấu hiệu bản chất
- Câu hỏi xác định mối quan hệ
- Câu hỏi xác định cơ chế
Trang 16- Câu hỏi xác định phương pháp khoa học
- Câu hỏi xác định ý nghĩa lí luận hay thực tiễn của kiến thức
3/ Phân loại câu hỏi để hình thành, phát triển năng lực nhận thức
Gồm những loại câu hỏi sau:
- Câu hỏi rèn luyện kĩ năng quan sát
- Câu hỏi rèn luyện kĩ năng phân tích
- Câu hỏi rèn luyện kĩ năng tổng hợp
- Câu hỏi rèn luyện kĩ năng so sánh
- Câu hỏi rèn luyện kĩ năng sử dụng con đường quy nạp
- Câu hỏi rèn luyện kĩ năng sử dụng con đường diễn dịch6
4/ Phân loại câu hỏi theo mức độ tích cực trong dạy học
Gồm các loại câu hỏi:
- Câu hỏi tái hiện, trình bày lại kiến thức
- Câu hỏi tìm tòi bộ phận
- Câu bỏi phát huy tính tích cực, sáng tạo trong học tập của học sinh
5/ Phân loại câu hỏi theo các giai đoạn của quá trình dạy học
Gồm các loại câu hỏi:
- Câu hỏi hình thành kiến thức mới
- Câu hỏi củng cố, luyện tập, hoàn thiện kiến thức
- Câu hỏi kiểm tra, đánh giá
1.1.2.3 Các loại câu hỏi phát huy tính tích cực của học sinh
1/ Câu hỏi kiểm tra kiến thức
Mục đích của dạng câu hỏi này là kiểm tra sự ghi nhớ kiến thức đã học, nắm vững được bản chất kiến thức, giải thích và vận dụng kiến thức đã học vàogiải quyết nhiệm vụ mới hoặc xác định ý nghĩa của kiến thức trong lý luận vàtrong thực tiễn
Trang 172/ Câu hỏi hình thành phát triển năng lực nhận thức
Các phần nội dung bài học của bài toán có lời văn đều có phần cung cấp thông tin, hoặc hướng dẫn học sinh thu thập các thông tin (là các sự vật hiện tượng, quá trình, các thínghiệm …) Giáo viên cần xây dựng câu hỏi rèn luyện kĩ năng quan sát, phân tích, tổng hợp, so sánh, quy nạp để phát triển năng lực nhận thức
3/ Câu hỏi hình thành kiến thức mới
4/ Câu hỏi để củng cố hoàn thiện kiến thức
5/ Câu hỏi trắc nghiệm
6/ Câu hỏi liên hệ thực tế
Ngoài những câu hỏi trên còn có nhiều cách phân loại khác Mỗi cách đều có ý nghĩa riêng, có vai trò khác nhau đối với quá trình dạy học Từ cách phân loại trên ta thấy rằng câu hỏi nói chung, câu hỏi phát huy tính tích cực,
tự lực của học sinh nói riêng đều có vai trò rất quan trọng đối với quá trình dạy học
1.1.2.4 Kĩ năng đặt câu hỏi trong dạy học
1/ Dừng lại sau khi đặt câu hỏi
- Mục tiêu:Tích cực hóa suy nghĩ của tất cả học sinh.Đưa ra các câu hỏi tốt hơn hoàn chỉnh hơn
- Tác dụng đối với học sinh: Dành thời gian cho học sinh suy nghĩ để tìm ra lời giải
- Cách thức dạy học:
+ Giáo viên “sử dụng thời gian chờ đợi” sau khi đưa ra câu hỏi
+ Chỉ định một học sinh đưa ra câu trả lời ngay sau “thời gian chờ đợi”
2/ Phản ứng với câu trả lời sai của học sinh
- Mục tiêu: Nâng cao chất lượng câu trả lời của học sinh.Tạo ra sự tương tác cởi mở và khuyến khích sự trao đổi
Trang 18- Tác dụng đối với học sinh:Khi giáo viên phản ứng với câu trả lời sai của học sinh có thể xảy ra hai tình huống sau :
+ Phản ứng tiêu cực : Phản ứng về mặt tình cảm học sinh tránh không tham gia vào hoạt động
+ Phản ứng tích cực : Học sinh cảm thấy mình được tôn trọng, được kích thích phấn chấn và có thể có sáng kiến trong tương lai
- Tác dụng đối với học sinh:
+ Phát triển được ở học sinh những cảm tưởng tích cực như học sinh cảm thấy “những việc làm đó dành cho mình”
+ Kích thích được học sinh tham gia tích cực vào các họat động học tập
- Cách thức dạy học:
+ Giáo viên chuẩn bị trước bảng các câu hỏi và nói với học sinh : “Các
em sẽ được lần lượt được gọi lên để trả lời câu hỏi”
+ Gọi học sinh mạnh dạn và học sinh nhút nhát phát biểu
+ Tránh làm việc chỉ trong một nhóm nhỏ
+ Có thể gọi cùng một học sinh vài lần khác nhau
Trang 194/ Phân phối câu hỏi cho cả lớp
- Mục tiêu:Tăng cường sự tham gia của học sinh trong quá trình học
tập.Giảm “thời gian nói của giáo viên”.Thay đổi khuôn mẫu “hỏi - trả lời”
- Tác dụng đối với học sinh
+ Chú ý nhiều hơn các câu trả lời của nhau
+ Phản ứng với câu trả lời của nhau
+ Học sinh tập trung chú ý tham gia tích cực vào việc trả lời câu hỏi của giáo viên
- Cách thức dạy học
+ Giáo viên cần chuẩn bị trước và đưa ra các câu trả lời tốt (câu hỏi
mở, có nhiều cách trả lời, có nhiều giải pháp khác nhau Câu hỏi phải rõ ràng,
dễ hiểu, xúc tích) Giọng nói của giáo viên phải đủ to cho cả lớp nghe thấy
+ Khi hỏi học sinh, trong trường hợp câu hỏi khó nên đưa ra cho cả lớp nghe thấy
+Khi gọi học sinh có thể sử dụng cả cử chỉ
+ Giáo viên cố gắng hỏi nhiều học sinh, cần chú ý hỏi những học sinh thụ động và các học sinh ngồi khuất cuối lớp
5/ Tập trung vào trọng tâm
- Mục tiêu:Giúp học sinh hiểu đuợc trọng tâm bài học thông qua việc trả lời câu hỏi.Khắc phục tình trạng học sinh đưa ra câu trả lời “Em không biết”, hoặc câu trả lời không đúng
- Tác dụng đối với học sinh:
+ Học sinh phải suy nghĩ, tìm ra các sai sót hoặc lấp các “chỗ hổng” của kiến thức
+ Có cơ hội để tiến bộ
+ Học theo cách khám phá “từng bước một”
- Cách thức dạy học:
Trang 20+ Giáo viên chuẩn bị trước và đưa cho học sinh những câu hỏi cụ thể, phù hợp với những nội dung chính của bài học
+ Đối với các câu hỏi khó có thể đưa ra những gợi ý nhỏ cho các câu trả lời
+ Trường hợp nhiều học sinh không trả lời được, giáo viên nên tổ chức cho học sinh thảo luân nhóm
+ Giáo viên dựa vào một phần nào đó câu trả lời của học sinh để đặt tiếp câu hỏi.Tuy nhiên cần tránh đưa ra các câu hỏi vụn vặt, không có chất lượng
6/ Giải thích
- Mục tiêu:Nâng cao chất lượng câu trả lời chưa hoàn chỉnh
- Tác dụng đối với học sinh: Học sinh đưa ra câu trả lời hoàn chỉnh hơn
- Cách thức dạy học: Giáo viên có thể đặt ra các câu hỏi yêu cầu học sinh đưa thêm thông tin
8/ Tránh nhắc lại câu hỏi của mình
- Mục tiêu:Giảm “thời gian giáo viên nói”.Thúc đẩy sự tham gia tích cực của học sinh
- Tác dụng đối với học sinh:
Trang 21+ Học sinh chú ý nghe lời giáo viên nói hơn
+ Có nhiều thời gian để học sinh trả lời hơn
+ Tham gia tích cực hơn vào các họat động thảo luận
- Cách thức dạy học: Giáo viên chuẩn bị trước câu hỏi và có cách hỏi rõ ràng, xúc tích, áp dụng tổng hợp các kỹ năng nhỏ đã nêu ở trên
9/ Tránh tự trả lời câu hỏi của mình
- Mục tiêu: Tăng cường sự tham gia của học sinh.Hạn chế sự tham gia của giáo viên
- Tác dụng đối với học sinh:
+ Học sinh tích cực tham gia vào các hoạt động học tập như suy nghĩ
để giải bài tập, thảo luận, phát biểu để tìm kiếm tri thức…
+ Thúc đẩy sự tương tác : học sinh với giáo viên, học sinh với học sinh
- Cách thức dạy học:
+ Giáo viên tạo ra sự tương tác giữa học sinh với học sinh làm cho giờ học không bị đơn điệu Nếu có học sinh chưa rõ câu hỏi, giáo viên cần chỉ định học sinh khác nhắc lại câu hỏi
+ Câu hỏi phải dễ hiểu, phù hợp với trình độ học sinh, với nội dung kiến thức bài học Đối với các câu hỏi yêu cầu học sinh trả lời về những kiến thức mới, thì những kiến thức đó phải có mối liên hệ với những kiến thức cũ
mà học sinh đã được học hoặc tiếp thu được từ thực tế cuộc sống
10/ Tránh nhắc lại câu trả lời của học sinh
- Mục tiêu: Phát triển mô hình có sự tương tác giữa học sinh với học sinh, tăng cường tính độc lập của học sinh.Giảm thời gian nói của giáo viên
- Tác dụng đối với học sinh:
+ Phát triển khả năng tham gia vào họat động thảo luận và nhận xét các câu trả lời của nhau
+ Thúc đẩy học sinh tự tìm ra câu trả lời hoàn chỉnh
Trang 22- Cách thức dạy học:Để đánh giá được câu trả lời của học sinh đúng hay chưa đúng, giáo viên nên chỉ định các học sinh khác nhận xét về câu trả lời của bạn, sau đó giáo viên hãy kết luận
1.1.3 Một số vấn đề về việc giải bài toán có lời của học sinh lớp 5
Toán có lời văn có vị trí rất quan trọng trong chương trình toán ở trường phổ thông Học sinh tiểu học được làm quen toán có lời văn ngay từ lớp 1 và các lớp khác của bậc tiểu học
1.1.3.1 Thế nào là bài toán có lời văn
Toán có lời văn thực chất là những bài toán thực tế Nội dung bài toán được ghi bằng lời văn nói về những quan hệ, tương quan và phụ thuộc, có liên quan tới cuộc sống thường xảy ra hằng ngày Cái khó của bài toán có lời văn
là phải lược bỏ những yếu tố về lời văn đã che đậy bản chất của bài toán, hay nói cách khác là chỉ ra các mối quan hệ giữa các yếu tố toán học chứa trong bài toán và nêu ra phép tính thích hợp để từ đó tìm được đáp số bài toán
Việc dạy học giải toán ở tiểu học nhằm giúp học sinh biết cách vận dụng những kiến thức về toán, được rèn kỹ năng thực hành với những yêu cầu được thể hiện một cách đa dạng, phong phú Nhờ việc dạy học giải toán mà học sinh có điều kiện rèn luyện và phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp suy luận
Giải toán là một hoạt động bao gồm những thao tác : xác lập được mối liên hệ giữa các dữ liệu, giữa cái đã cho và cái phải tìm trong điều kiện của bài toán: chọn được phép tính thích hợp trả lời đúng câu hỏi của bài toán
Các bài toán số học ở tiểu học được phân chia thành các bài toán đơn, các bài toán hợp, các bài toán điển hình
1.1.3.2 Kế hoạch giải bài toán có lời văn của học sinh
Gồm bốn bước sau:
Bước 1: Tìm hiểu đề bài
Trang 23Việc tìm tiểu đề bài thường thông qau việc đọc bài toán dù bài toán cho
ở dạng có lời văn hoàn chỉnh hoặc dạng tóm tắt sơ đồ Trong quá trình đọc bài học sinh cần nhận ra bài toán đã cho thuộc dạng toán nào Học sinh cần phải đọc kĩ, hiểu rõ đề toán:
+ Bài toán cho gì?
+ Bài toán yêu cầu tìm gì?
+ Tóm tắt bài toán
Khi đọc đề toán phải hiểu thật kĩ một số từ, thuật ngữ quan trọng chỉ rõ tình huống toán học được diễn đạt theo ngôn ngữ thông thường, chẳng hạn
như : bay đi, làm vỡ, ăn hết,… Nếu trong bài toán nào có thuật ngữ học sinh
chưa hiểu thì giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh hiểu được nội dung và ý
nghĩa của từ đó ở trong bài toán đang làm, chẳng hạn như: năng suất, tiết
kiệm, sản lượng… sau đó cho học sinh thuật lại vắn tắt bài toán mà không
phải đọc nguyên văn bài toán đó
Bước 2: Lập kế hoạch giải toán ( Đưa ra được hệ thống câu hỏi đi từ điều phải tìm tới điều đã biết cùng sơ đồ phân tích đi lên)
Dựa vào việc nhận dạng bài toán ở bước 1, ở bước này học sinh sẽ đi tìm cách giải
Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm tòi cách giải của bài toán gắn liền với việc phân tích các dữ kiện và câu hỏi của bài toán nhằm xác lập mối quan
hệ giữa chúng và tìm được các phép tính số học thích hợp
Lập kế hoạch giải bài toán nhằm xác định hướng giải quyết, thực hiện các phép tính số học, thực hiện các phép tính số học bằng cách đưa ra được hệ thống câu hỏi đi từ điều phải tìm tới điều đã biết: Muốn giải đáp những yêu cầu của bài toán thì cần phải biết những gì? Những điều đó đề bài đã cho biết chưa? Nếu chưa biết thì tìm bằng cách nào? Dựa vào đâu để tìm?
Trang 24Cần tìm điều gì trước , điều gì sau bằng cách dựa vào những dữ kiên trong bài toán Cứ lần lượt như vậy đến khi nào học sinh có thể tìm ra cách giải đáp từ những dữ kiện cho sẵn trong đề bài Đây là bước quan trọng vì nó giúp học sinh hiểu được cách giải bài toán và hiểu sâu bài toán
Bước 3: Trình bày lời giải
Hoạt động này bao gồm việc thực hiện các phép tính đã nêu trong kế hoạch giải bài toán và trình bày lời giải
Bước 4: Khai thác bài toán
Đối với học sinh tiểu học khi làm xong một bài toán học sinh cần phải thử lại kết quả tìm được Ở hoạt động này, giáo viên có thể đưa ra nhiều cách giải khác nhau sau đó chon cách giải ngắn gọn, hợp lý nhất Giáo viên cũng
có thể đưa ra bài toán tương tự để học sinh làm củng cố kiến thức
1.1.3.3 Mục tiêu và nội dung dạy học toán ở lớp 5
- Biết vận dụng những kiến thức và kĩ năng về số thập phân để: tính giá trị của biểu thức có đến ba dấu phép tính; tìm một thành phần chưa biết của
Trang 25phép tính; tính bằng cách thuận tiện nhất; nhân (chia) nhẩm một số thạp phân với (cho) 10,100,1000,….(bằng cách chuyển dấu phẩy trong số thập phân)
Ôn tập, củng cố, hệ thống hoá những kiến thức và kĩ năng cơ bản về số
và phép tính (với số tự nhiên, phân số đơn giản,số thập phân)
- Biết tính chu vi, diện tích hình tam giác, hình than, hình tròn
- Biết tính diện tích xung quanh, diện tích toàn phần, thể tích hình hộp chữ nhật, hình lập phương
4.Về giải bài toán có lời văn
Biết giải và trình bài bài giải các bài toán có đến bốn bước tính, trong
đó có :
- Một số bài toán về quan hệ tỷ lệ (khi giải các bài toán về quan hệ “tỉ
lệ thuận”, “tỉ lệ nghịch” không dùng các tên gọi này; có thể giải bài toán bằng cách “rút về đơn vị” hoặc bằng cách “tìm tỉ số”.)
- Các bài toán về tỉ số phần trăm : Tìm tỉ số phần trăm của hai số ; tìm giá trị tỉ số phần trăm của một số cho trước ; tìm một số biết giá trị tỉ số phần trăm của số đó
- Các bài toán có nội dung hình học liên quan đến các hình đã học
Trang 265.Về một số yếu tố thống kê
- Biết đọc các số liệu trên biểu đồ hình quạt
- Bước đầu biết nhận xét về một số thông tin đơn giản thu thập từ biểu
đồ
6.Về phát triển ngôn ngữ, tư duy và góp phần hình thành nhân cách của học sinh
- Biết diễn đạt một số nhận xét, quy tắc, tính chất,… bằng ngôn ngữ
(nói, viết dưới dạng công thức,…)ở dạng khái quát
- Tiếp tục phát triển (ở mức độ thích hợp) năng lực phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, cụ thể hoá ; bước đầu hình thành và phát triển tư duy phê phán
và sáng tạo; phát triển trí tưởng tượng và không gian,…
- Tiếp tục rèn luyện các đức tính : chăm học, cẩn thận, tự tin, trung thực, có tinh thần trách nhiệm…
Nội dung
1/.Các bài toán có lời văn trong chương trình toán tiểu học
- Bài toán đơn được giải bằng một phép tính gọi là bài toán đơn
- Bài toán được giải bằng một số bước tính (từ 2 phép tính trở lên) được gọi là toán hợp
- Toán điển hình là loại toán hợp có cùng một cấu trúc và cùng một cách giải nhất định
- Việc dạy học giải toán ở tiểu học nhằm giúp học sinh biết cách vận dụng những kiến thức về toán, được rèn luyện kỹ năng thực hành
- Giải toán là một hoạt động bao gồm những thao tác : xác lập được mối quan hệ giữa các dữ liệu, giữa cái đã cho và cái phải tìm trong điều kiện của bài toán, chọn được phép tính thích hợp trả lời đúng câu hỏi của bài toán
Trang 27Việc phân chia như trên chỉ có ý nghĩa tương đối, bởi vì đôi khi rất khó xác định ranh giới giữa các khái niệm này Chẳng hạn xét bài toán về tỷ số phần trăm sau :
“Trường em có 440 học sinh nữ, Số học sinh nữ chiểm 55% số học sinh
cả trường Hỏi trường em có bao nhiêu học sinh ? ”
+Nếu ta giải bằng các phép tính đối với các số tự nhiên thì phải dùng hai phép tính:
440 : 55 = 8 (học sinh)
8 100 = 800 (học sinh)
Vậy đây là bài toán hợp
+ Nếu ta dùng các phép tính đối với số thập phân (hoặc phân số) để giải thì chỉ cần một phép tính :
440 : 0, 55 = 800 (học sinh)
100
55 :
440 (học sinh)
Thì đây lại là một bài toán đơn
a, Các bài toán đơn
Bài toán đơn (chỉ có 1 phép tính) ở tiểu học (chủ yếu ở lớp 1 và lớp 2) được chia làm 5 nhóm sau :
+Nhóm 1: gồm những bài toán đơn thể hiện ý nghĩa cụ thể của phép
Trang 28- Tìm số hạng chưa biết, khi biết tổng và số hạng còn lại
- Tìm số bị trừ chưa biết khi biết hiệu và số trừ
- Tìm số trừ khi biết hiệu và số bị trừ
- Tìm một thừa số chưa biết, khi biết tích và thừa số còn lại
- Tìm số bị chia chưa biết khi biết thương và số chia
- Tìm số chi khi biết thương và số bị chia
+Nhóm 3: Gồm những bài toán đơn phát triển thêm ý nghĩa mới của phép tính số học :
- So sánh hai số hơn kém nhau một số đơn vị ( tìm số lớn )
- So sánh hai số hơn kém nhau một số đơn vị ( tìm số bé )
- Một số được tăng thêm vài đơn vị ( dạng trực tiếp )
- Một số được tăng thêm vài đơn vị ( dạng gián tiếp )
- Một số được giảm đi vài đơn vị ( dạng trực tiếp )
- Một số được giảm đi vài đơn vị ( dạng gián tiếp )
- So sánh hai số gấp, kém nhau một số lần ( tìm số lớn )
- So sánh hai số gấp, kém nhau một số lần ( tìm số bé )
- Một số tăng lên vài lần ( dạng trực tiếp hoặc gián tiếp )
- Một số giảm đi vài lần ( dạng trực tiếp hoặc gián tiếp )
+ Nhóm 4 : gồm những bài toán đơn liên quan đến phân số, tỉ số :
- Tìm một phần mấy của một số
- Tìm tỉ số của hai số
- Tìm số thứ nhất, khi biết tỉ số của 2 số và số thứ hai
- Tìm số thứ hai, khi biết tỉ số của 2 số và số thứ nhất
- Tìm một số, khi biết tỉ lệ xích và một số cho trước
- Tìm tỉ số phần trăm của hai số
- Tìm tỉ số phần trăm của một số
Trang 29+ Nhóm 5 : Gồm những bài toán đơn được giải theo công thức
- Tìm diện tích hình vuông, khi biết cạnh của nó
- Tìm diện tích hình chữ nhật, khi biết chiều dài và chiều rộng
- Tìm chu vi hình tròn, khi biết đường kính của nó
- Tìm vận tốc, khi biết quãng đường và thời gian chuyển động
- Tìm quãng đường đi được, khi biết vận tốc và thời gian chuyển động
- Tìm thời gian chuyển động, khi biết quãng đường và vận tốc
b, Các bài toán hợp
Bắt đầu từ lớp 3 học sinh được học giải các bài toán hợp, tức là các bài toán giải từ 2 phép tính trở lên, trong đó có các phép tính cộng, trừ, nhân chia
để giải các bài toán có lời văn
Bài toán hợp chứa đựng trong nó những bài toán đơn theo một cấu trúc : số phải tìm trong bài toán đơn này lại là số cho trước của bài toán đơn khác; hay là kết quả của phép tính trong bài toán đơn này sẽ trở thành một phần của phép tính trong bài toán đơn tiếp sau đó Ở tiểu học (nhất là lớp cuối cấp lớp 5) có thể chia các bài toán hợp thành hai nhóm chính sau :
Nhóm 1 : Gồm các bài toán hợp mà quá trình giải không theo một
phương pháp thống nhất cho các bài toán đó
Nhóm 2 : Gồm các bài toán điển hình, các bài toán mà quá trình giải có
phương pháp riêng cho từng dạng bài toán như :
- Các bài toán có liên quan đến việc “Rút về đơn vị” dạng a : b x c
- Các bài toán có liên quan đến việc rút về đơn vị dạng a : (b : c)
- Các bài toán về “ trung bình cộng của nhiều số “
- Bài toán về “Tìm hai số khi biết tổng và tỷ số của chúng”
- Bài toán về “Tìm hai số khi biết hiệu và tỷ số của chúng
- Bài toán “Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của chúng”
- Các bài toán về “tỷ số phần trăm”
Trang 30- Các bài toán về “ chuyển động động đều”
Nhóm 3: Các bài toán có nội dung hình học kết hợp với các tình huống đơn
giản trong thực tế về :
+ Tính chu vi, diện tích, thể tích…
+ Tính sản lượng, năng suất…
+ Tính tiền vốn, tiền lãi …
2/ Nội dung các bài toán có lời văn ở lớp 5
Biết giải và trình bày bài giải các bài toán có đến bốn phép tính, trong
đó có các bài toán về :
Quan hệ tỷ lệ
Ví dụ 1 : Trong một giờ, 2 công nhân đào được 7m rãnh để đặt ống
nước Hỏi với mức đào như vậy, trong một giờ, 6 công nhân đào được bao nhiêu mét rãnh ?
Ví dụ 2 : Muốn đắp một nền nhà trong 4 ngày, cần có 6 người Hỏi
muốn đắp xong nền nhà đó trong 3 ngày thì cần có bao nhiêu người ? (mức làm của mỗi người như nhau)
Tỷ số phần trăm
Các dạng toán này có mấy loại sau :
1 Cho hai số a và b Tìm tỉ số phần trăm của a và b
Ví dụ 1 : Một trường học có 600 học sinh , trong đó có 303 học sinh nữ
Hỏi số học sinh nữ chiếm bao nhiêu phần trăm số học sinh toàn trường ?
2 Cho b và tỉ số phần trăm của a và b Tìm a
Ví dụ 2 : Lãi tiết kiệm là 0,5% một tháng Một người gửi tiết kiệm
5000000 đồng Tính số tiền lãi tiết kiện sau một tháng ?
3 Cho a và tỉ số phần trăm của a và b Tìm b
Ví dụ 3 : Số học sinh nữ của một trường là 420 em và chiếm 52,5% số
học sinh toàn trường Hỏi trường đó có bao nhiêu học sinh ?
Trang 31- Một số loại toán có nội dung phối hợp
Ví dụ 4 : Một bình đựng 120g dung dịch chứa 15% muối Hỏi phải đổ
thêm vào bình đó bao nhiêu gam nước để nhận được một dung dịch chứa 10% muối?
Toán chuyển động đều
Ví dụ 1 : Một máy bay bay được 1800km trong 2 giờ 15 phút Tính vận
tốc cuat máy bay
Ví dụ 2 : Một người đi xe đạp trong 2 giờ 30 phút với vận tốc 12,6
km/giờ Tính quãng đường đi được của người đó
Ví dụ 3 : Một ca nô đi với vận tốc 18 km/giờ trên quãng đường sông dài
42 km Tính thời gian đi của ca nô trên quãng đường sông đó
Ví dụ 4 : Hai thành phố A và B cách nhau 150km Một xe máy đi từ
thành phố A đến thành phố B với vận tốc 35 km/giờ, cùng lúc đó một ô tô đi thành phố B đến thành phố A với vận tốc 65 km/giờ Hỏi sau bao lâu ô tô và
xe máy gặp nhau ?
Ví dụ 5 : Một người đi xe đạp từ A đến B với vận tốc 12 km/giờ Sau 3
giờ một xe máy cũng đi từ A đến B với vận tốc 36 km/giờ Hỏi từ lúc xe máy bắt đầu đi thì sau bao lâu xe máy đuổi kịp xe đạp ?
Bài toán có nội dung hình học
Ví dụ 1 : Một thửa ruộng hình thang có đáy lớn 120m, đáy bé bằng
3 2
đáy lớn, đáy bé dài hơn chiều cao 5m Trung bình cứ 100m2
thu hoạch được 64,5kg thóc Tính số kí-lô-gam thóc thu hoạch được tren thửa ruộng đó
Ví dụ 2 : Một phòng học dạng hiònh hộp chữ nhật có chiều dài 6m,
chiều rộng 4,5m và chiều cao 4m Người ta muốn quét vôi trần nhà và bốn bức tường trong phòng Biết rằng diện tích các cửa bằng 8,5m2, hãy tính diện tích cần quét vôi?
Trang 321.2 Cơ sở thực tiễn
Tôi tiến hành khảo sát thực tế ở các trường Tiểu học:
1 Trường Tiểu học Đồng Cương – Yên Lạc – Vĩnh Phúc
2 Trường Tiểu học Liên Minh – Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc
Qua thực tiễn khảo sát ở hai trường Tiểu học tôi đã tiến hành điều tra, quan sát, dự giờ và trực tiếp giảng dạy, trao đổi xin ý kiến của các thầy cô giáo dạy khối lớp 5 để từ đó điều tra được:
1.2.1 Thực trạng của việc dạy và học giải toán có lời văn của học lớp 5
Năm học 2014 – 2015, là sinh viên năm cuối trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2, tôi đã được phân công thực tập tại lớp 5A1 (50 học sinh) trường Tiểu học Liên Minh - thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc.Với thời gian thực tập 3 tháng (chia làm 2 đợt: Đợt 1 từ 27/10 đến 28/11 và Đợt 2 từ ngày 2/3 đến ngày 10/4) Qua việc quan sát các buổi học môn toán, được giảng dạy một số tiết toán và được phân công chấm các bài kiểm tra của học sinh, tôi nhận thấy kĩ năng giải toán có lời văn của đa số các em học sinh còn hạn chế, các em giải sai rất nhiều Bài làm vô cùng lủng củng và sơ sài, đa số chỉ viết được các phép tính cộc lốc mà không nắm rõ và hiểu bản chất của bài toán Thậm chí các em còn chưa xác đinh được dạng toán, không nắm được cách giải và trình bày bài giải không hợp lý…
Hiện nay, trong giảng dạy môn toán ở Tiểu học nhìn chung học sinh thường áp dụng khá thành thạo trong việc vận dụng các kĩ năng cộng trừ nhân chia, đổi đơn vị đo đại lượng, nhận biết các loại hình học, nhưng kĩ năng giải toám có lời văn còn hạn chế Cụ thể như:
- Học sinh chỉ biết áp dụng giải đối với các bài tập đã cho biết hết các
dữ kiện của bài toán
- Học sinh còn lúng túng chưa xác định được dạng toán để áp dụng cách giải cho phù hợp
Trang 33- Thậm chí có những học sinh còn chưa biết đặt lời giải, chưa trình bày được một bài giải chính xác, đầy đủ, ngắn gọn
- Lời giải không trùng với yêu cầu phép tính đặt ra
Năm học 2014 -2015, tôi được phân công chấm bài kiểm tra khảo sát chất lượng tháng 10, 11 và tháng 3,4 lớp 5A1 ( sĩ số: 50 học sinh) Kết quả khảo sát chất lượng hàng tháng như sau:
Bảng kết quả khảo sát chất lượng lớp 5A1
Tháng KẾT QUẢ KHẢO SÁT CHÂT LƯỢNG
Có nhiều học sinh thì giải sai hoàn toàn bài toán cũng có những học sinh viết được phép tính nhưng câu trả lời lại không tương ứng với phép tính đúng…
Giải toán có lời văn là yếu tố quan trọng trong chương trình môn toán,
nó đòi hỏi ở học sinh khả năng tuy duy khoa học vừa phải vận dụng tính toán đồng thời phải tư duy ngôn ngữ để hoàn thành bài giải Điều đó có thể là đơn giản với học sinh khá, giỏi nhưng là rất khó đối với học sinh trung bình, đặc biệt là học sinh yếu, kém Vì vậy, những em có lực học khá giỏi sẽ rất hứng thú khi giải các bài toán còn các em tư duy chậm hơn thì rất ngại học, chán
Trang 34nản dẫn đến tình trạng học sinh học yếu nội dung giải toán có lời văn chiếm tỉ
lệ cao trong môn toán
Nguyên nhân của thực trạng trên:
Về phía giáo viên:
Khi hướng dẫn học sinh giải bài toán một số giáo viên chưa nắm rõ bản chất của vấn đề, dấu hiệu của bài toán, chưa tạo cho các em thói quen tóm tắt bài toán, lập kế hoạch giải mà chỉ đọc đề rồi giải
Một số giáo viên thì chưa coi trọng việc hướng dẫn tổ chức cho học sinh biết cách tìm hiểu phân tích bài toán, bỏ qua bước phân tích bài toán khi hướng dẫn học sinh thực hành giải toán Giáo viên thường cho học sinh đọc
đề toán, xác đinh cái đã biết và cái cần tìm sau đó cho học sinh giải Giáo viên
đã bỏ qua bước quan trọng nhất để hướng dẫn học sinh cách giải bài toán chính xác đúng với yêu cầu đặt ra là phân tích bài toán để tìm mối liên quan giữa cái đã cho và cái cần tìm, xác định được dạng toán và lời giải
Khi đưa ra bài toán giáo viên thường hỏi “ Bạn nào làm được bài toàn này” ngay lúc đó nếu có học sinh khá giỏi làm được thì học sinh đó sẽ lên bảng làm rồi giáo viên nhận xét, đánh giá qua loa sau đó cho học sinh chép vào vở Nếu không có học sinh nào làm được thì giáo viên thường làm luôn lên bảng cho học sinh mà không đưa ra câu hỏi gợi mở để từng bước giúp học sinh giải được bài toán Đây là vấn đề giáo viên cần quan tâm để có thể hướng dẫn học sinh giải bài toán có lời văn một cách hiệu quả, qua đó có thể phát triển năng lực tư duy, tính tích cực cho học sinh
Về phía học simh:
Do một số em không có thói quen đọc kĩ đề bài, chưa biết tóm tắt bài toán, chưa biết phân tích đề toán để tìm ra lời giải, chưa biết tổng hợp để trình bày lời giải, diễn đạt vụng về thiếu logic Ngôn ngữ toán còn hạn chế, kĩ năng tính toán chậm, trình bày thiếu chính xác, thiếu khoa học, các em chưa có