Trong các tố chất thể lực để phát triển cho trẻ như: sức nhanh, sức mạnh, sức bền… thì tố chất sức mạnh có vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển con người toàn diện, giúp trẻ sa
Trang 1VĨNH YÊN - VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
HÀ NỘI, 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Lê Thị Thúy
Sinh viên: Lớp K37A - GDMN Trường ĐHSP Hà Nội 2
Tôi xin cam đoan đề tài này là của riêng tôi, kết quả nghiên cứu của đề tài không trùng với bất cứ đề tài nào nghiên cứu về vấn đề này tại trường Mầm non Đồng Tâm - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc Toàn bộ những vấn đề được đưa ra bàn luận, nghiên cứu là những vấn đề mang tính thời sự, cấp bách và đúng thực tế của trường Mầm non Đồng Tâm - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Sinh viên
Lê Thị Thúy
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BGDĐT : Bộ giáo dục đào tạo
cm : centimet ĐHSP : Đại học Sư phạm
GD & ĐT : Giáo dục và đào tạo GDMN : Giáo dục mầm non GDTC : Giáo dục thể chất NĐC : Nhóm đối chứng
NTN : Nhóm thực nghiệm NXB : Nhà xuất bản STT : Số thứ tự TCVĐ : Trò chơi vận động TDTT : Thể dục thể thao
Trang 5MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở lý luận xác định hướng nghiên cứu của đề tài 4
1.1.1 Những quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác GDTC cho trẻ mầm non 4
1.1.2 Cở sở khoa học của lý luận GDTC cho trẻ em lứa tuổi mầm non 5
1.2 GDMN trong hệ thống giáo dục quốc dân 9
1.2.1 Vị trí, vai trò của GDMN 9
1.2.2 Mục tiêu của GDMN 10
1.2.3 Chương trình GDMN 10
1.2.4 Yêu cầu về nội dung, phương pháp GDMN 11
1.3 Giáo dục thể chất ở trường mầm non 12
1.3.1 Vị trí và vai trò của môn GDTC đối với việc phát triển thể chất cho trẻ mầm non 12
1.3.2 Nhiệm vụ GDTC cho trẻ em lứa tuổi mầm non 13
1.4 Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mẫu giáo lớn trường mầm non Đồng Tâm - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc 15
1.4.1 Đặc điểm tâm lý 15
1.4.2 Đặc điểm sinh lý 16
1.5 Vị trí, vai trò của ném bóng trong quá trình phát triển thể chất cho trẻ mầm non 18
1.6 Cơ sở giáo dục sức mạnh 19
1.6.1 Khái niệm và phân loại sức mạnh 19
1.6.2 Cơ chế sinh lí điều hòa sức mạnh 19
1.6.3 Nhiệm vụ và phương tiện giáo dục sức mạnh 20
CHƯƠNG 2 NHIỆM VỤ, PHƯƠNG PHÁP, TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 22
2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu 22
2.2 Phương pháp nghiên cứu 22
2.2.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu 22
2.2.2 Phương pháp phỏng vấn 22
2.2.3 Phương pháp quan sát sư phạm 23
2.2.4 Phương pháp sử dụng test kiểm tra thể lực 23
Trang 62.2.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 23
2.2.6 Phương pháp toán học thống kê 23
2.3 Tổ chức nghiên cứu 24
2.3.1 Thời gian nghiên cứu 24
2.3.2.Đối tượng nghiên cứu 25
2.3.3 Địa điểm nghiên cứu 25
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26
3.1 Đánh giá thực trạng việc sử dụng TCVĐ cho trẻ 5 - 6 tuổi trường Mầm non Đồng Tâm - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc 26
3.1.1 Thực trạng công tác GDTC trường Mầm non Đồng Tâm - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc 26
3.1.2 Thực trạng năng lực đội ngũ giáo viên 26
3.1.3 Thực trạng về cơ sở vật chất của nhà trường 28
3.1.4 Thực trạng việc sử dụng một số TCVĐ nhằm phát triển sức mạnh cho trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) trường Mầm non Đồng Tâm - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc 29
3.1.5 Thực trạng sử dụng trò chơi ném bóng nhằm phát triển sức mạnh cho trẻ 5 - 6 tuổi trường Mầm non Đồng Tâm - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc 31
3.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng trò chơi ném bóng nhằm phát triển sức mạnh cho trẻ 5 - 6 tuổi trường Mầm non Đồng Tâm - Vĩnh Yên -Vĩnh Phúc 32
3.2.1 Cơ sở lựa chọn một số trò chơi ném bóng nhằm phát triển sức mạnh cho trẻ 5 - 6 tuổi trường Mầm non Đồng Tâm 32
3.2.2 Xây dựng kế hoạch thực nghiệm 36
3.2.3 Lựa chọn test đánh giá sức mạnh cho trẻ mẫu giáo lớn trường Mầm non Đồng Tâm - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc 37
3.2.5 Kết quả thực nghiệm 40
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 44 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Số bảng
biểu
Bảng 3.1 Thực trạng đội ngũ giáo viên trong trường (n=26) 27 Bảng 3.2 Kết quả phỏng vấn giáo viên về việc lựa chọn một số trò chơi
ném bóng nhằm phát triển sức mạnh cho trẻ 5 - 6 tuổi trường Mầm non Đồng Tâm - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc (n=26)
32
Bảng 3.3 Tiến trình giảng dạy trò chơi ném bóng nhằm phát triển sức
mạnh cho trẻ 5 - 6 tuổi trường Mầm non Đồng Tâm - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc
37
Bảng 3.4 Bảng phỏng vấn lựa chọn test đánh giá sức mạnh cho trẻ 5 - 6
tuổi trường Mầm non Đồng Tâm - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc (n=26)
Trang 8GDMN có một vị trí quan trọng, là khâu đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, là bậc học đặt nền móng cho sự phát triển nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam GDMN thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi Mục đích của GDMN là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một GDMN tạo sự khởi đầu cho sự phát triển toàn diện của trẻ, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời Trẻ em hôm nay
- thế giới ngày mai Trẻ em sinh ra có quyền được chăm sóc và bảo vệ, được tồn tại, được chấp nhận trong gia đình và cộng đồng Vì thế, giáo dục con người ở lứa tuổi mầm non vừa là quyền lợi vừa là nghĩa vụ của mỗi người đối với xã hội, đối với cộng đồng
GDTC là một bộ phận quan trọng của giáo dục phát triển toàn diện Hơn nữa, GDTC cho trẻ mầm non càng có ý nghĩa quan trọng hơn bởi cơ thể trẻ đang phát triển khỏe mạnh, hệ thần kinh, cơ xương hình thành nhanh, bộ máy hô hấp đang hoàn thiện Cơ thể trẻ còn non yếu dễ bị phát triển lệch lạc,
Trang 9mất cân đối nếu không được chăm sóc giáo dục đúng đắn thì có thể gây nên những thiếu sót trong sự phát triển cơ thể trẻ mà không thể khắc phục được Nhận thức được điều đó, Đảng và Nhà nước ta trong những năm gần đây đã đặc biệt chú trọng tới công tác chăm sóc giáo dục trẻ mầm non
Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng từng dặn: “Giáo dục phải đảm bảo tính toàn diện trong đó GDTC là một mặt không thể thiếu được Nếu các đồng chí được Đảng và Nhà nước giao trọng trách giáo dục mà coi nhẹ GDTC là một điều không đúng mà còn là một sai lầm” GDTC không chỉ tác động tích cực tới quá trình phát triển và hoàn thiện thể chất mà còn góp phần quan trọng trong phát triển các phẩm chất đạo đức, nhân cách và những phẩm chất cho cuộc sống, học tập và lao động con người GDTC cho trẻ trước tuổi đi học đặt
cơ sở cho sự phát triển toàn diện, tôi luyện cơ thể, rèn luyện tinh thần sảng khoái, rèn luyện kỹ năng vận động cơ bản, hình thành thói quen vận động cần thiết trong cuộc sống
Tuổi mẫu giáo, các em đến trường không chỉ được học tập mà các em còn được hoạt động vui chơi hàng ngày, bởi lứa tuổi mẫu giáo vui chơi là hoạt động chủ đạo Ở trường mầm non, TCVĐ được sử dụng một cách thường xuyên TCVĐ vừa là nội dung học tập vừa là hình thức vui chơi được trẻ yêu thích và tích cực tham gia Trong khi chơi trẻ hào hứng, hình thành những phẩm chất đạo đức, biết giúp đỡ lẫn nhau, biết quan tâm đến bạn cùng chơi TCVĐ chống lại sự mệt mỏi, căng thẳng của trẻ trong quá trình học tập, là điều kiện để hình thành thói quen vận động cho trẻ
Trong các tố chất thể lực để phát triển cho trẻ như: sức nhanh, sức mạnh, sức bền… thì tố chất sức mạnh có vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển con người toàn diện, giúp trẻ sau này có cơ thể khỏe mạnh Trong nhà trường có rất nhiều hoạt động để phát triển sức mạnh cho trẻ Trò chơi ném bóng là phương tiện tốt để phát triển sức mạnh cho trẻ mầm non Trò
Trang 10chơi ném bóng tạo sự hứng thú cho các em Trong khi chơi, các em được giao lưu với nhau, có sự hợp tác, đoàn kết với nhau để đạt được kết quả tốt nhất Chính vì thế, áp dụng trò chơi ném bóng là một việc làm ý nghĩa giúp các em phát triển toàn diện, giúp các em nhanh nhẹn, hoạt bát và năng động với môi trường xung quanh
Qua tìm hiểu, việc tổ chức hướng dẫn TCVĐ đặc biệt là tổ chức trò chơi ném bóng trong dạy học ở trường mầm non còn chưa được quan tâm, giáo viên chưa chú trọng và chưa sát với mục đích của giờ học, còn hoài nghi chưa dám chắc chắn trò chơi có ảnh hưởng tốt tới chất lượng giờ học phát triển thể chất hay không? Đã có đề tài nghiên cứu về vấn đề này như: “Lựa chọn và ứng dụng một số trò chơi vận động để phát triển sức mạnh cho trẻ 5 -
6 tuổi trường mầm non Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc” của sinh viên K36 khoa GDTH, nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu về hiệu quả sử dụng trò chơi ném bóng trong phát triển sức mạnh cho trẻ 5 - 6 tuổi trường Mầm non Đồng Tâm - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc
Xuất phát từ lí do trên, đề tài tiến hành nghiên cứu: “Đánh giá hiệu
quả sử dụng trò chơi ném bóng trong phát triển sức mạnh cho trẻ 5 - 6 tuổi trường Mầm non Đồng Tâm - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài với mục đích lựa chọn hệ thống các bài tập nhằm nâng cao tố chất sức mạnh cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường Mầm non Đồng Tâm - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc
3 Giả thuyết khoa học
Thực tế cho thấy việc phát triển các tố chất sức mạnh cho trẻ thông qua các TCVĐ chưa tốt Với đề tài tiến hành nghiên cứu, việc áp dụng trò chơi ném bóng sẽ đem lại hiệu quả cao trong phát triển sức mạnh cho trẻ Nếu trò chơi ném bóng được tổ chức một cách hợp lí thì không chỉ phát triển cho trẻ mẫu giáo lớn trường Mầm non Đồng Tâm mà còn cho tất cả trẻ ở các trường khác
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận xác định hướng nghiên cứu của đề tài
1.1.1 Những quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác GDTC cho trẻ mầm non
Hồ Chủ Tịch đã từng căn dặn: “Dạy trẻ như trồng cây non”, [II.15],
“Giáo dục mẫu giáo tốt sẽ mở đầu cho một nền giáo dục tốt” [II.10] Nhận thức được vai trò quan trọng của GDMN trong sự hình thành phát triển nhân cách con người Việt Nam hiện đại, giáo dục trẻ trước tuổi học - giáo dục tiền học đường, luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, định hướng xác định mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục học sinh lứa tuổi mầm non Nghị quyết
số 14 NQ/TW ngày 11/1/1979 của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục đã chỉ rõ
“…kết hợp các biện pháp thể dục khoa học và những biện pháp y học hiện đại để bảo vệ sức khỏe và rèn luyện các cháu, làm cho thể chất của các cháu ngay từ bé đã được nuôi dưỡng và phát triển tốt”, [4] Trong thư của Nguyên
Tổng bí thư Đỗ Mười gửi tạp chí “Vì trẻ thơ” có viết: “Bảo vệ và chăm sóc giáo dục trẻ em, là một trong những mắt xích đầu tiên của quá trình triển khai thực hiện chiến lược con người”, [12]
Quan niệm giáo dục hiện đại và tiến bộ nhấn mạnh rằng, cùng với việc chăm lo nuôi dưỡng, bảo vệ sức khỏe của trẻ, chủ động tạo ra những kích thích, làm nảy sinh nhu cầu phát triển mới, từng bước hoàn thiện và phát triển nhân cách của trẻ Vì vậy, việc chăm sóc và giáo dục trẻ ngay từ những năm đầu tiên của cuộc sống, là một việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự nghiệp chăm lo đào tạo và bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành những chủ nhân tương lai của đất nước
Con người cần phải được giáo dục, đào tạo một cách có hệ thống ngay
từ khi bước những bước chập chững đầu tiên Trong những điều kiện phát
Trang 12triển giáo dục một cách đặc biệt, thì những khả năng tiềm tàng to lớn của trẻ
sẽ được bộc lộ và do đó việc hình thành nhân cách cho trẻ sẽ thu được những thành công to lớn Nhiều công trình khoa học trên thế giới và ở Việt Nam đã chứng minh được lợi ích và hiệu quả của việc “can thiệp” vào lứa tuổi mầm non Việc chăm sóc sức khỏe của trẻ một cách khoa học từ khi trẻ còn nhỏ sẽ đảm bảo phát triển toàn diện, đúng hướng, làm cơ sở cho sự phát triển trong những giai đoạn tiếp theo của con người
Do vậy, giáo dục nói chung và GDTC nói riêng cho trẻ trước tuổi đi học
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Nếu trẻ không được chăm sóc, GDTC đúng đắn
và có hệ thống sẽ gây nên những thiếu sót trong sự phát triển cơ thể của trẻ, mà
về sau không thể khắc phục được Có thể nói, sự thành công trong bất kì hoạt động nào của trẻ cũng đều phụ thuộc vào trạng thái sức khỏe Sức khỏe tốt sẽ tạo điều kiện cho trẻ tiếp thu quá trình giáo dục một cách toàn diện [II.3]
Quan điểm chiến lược về GD & ĐT đến năm 2020 là thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện ở tất cả các bậc học, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII đã khẳng định: Ở bậc học, cấp học, ngành học nhất thiết không thể coi nhẹ việc chăm sóc, bảo
vệ sức khỏe cho học sinh, tạo mọi điều kiện cho các em được rèn luyện thông qua các hoạt động, đặc biệt là hoạt động thể dục thể thao, để bản thân các em được thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội [I.3]
1.1.2 Cở sở khoa học của lý luận GDTC cho trẻ em lứa tuổi mầm non
1.1.2.1 Cơ sở tư tưởng
Trong đời sống thực tế xã hội, không có GDTC chung chung tồn tại ngoài điều kiện lịch sử cụ thể Trong mỗi chế độ kinh tế xã hội nhất định đều
có từng loại GDTC cụ thể
Các nhà lý luận giáo dục duy tâm cho rằng, GDTC là bản tính hay nhu cầu bản năng của con người giống như các sinh vật khác, GDTC mang tính chất bẩm sinh của con người cũng tương tự như “sự giáo dục” - bắt chước của
Trang 13loài vật vậy như đi, chạy, nhảy… Với lập luận này, trên thực tế họ đã phủ nhận vai trò của lao động và tư duy - một hiện tượng mới về chất đã làm cho con người khác biệt với các loài vật Theo họ, thực tiễn của hình thức giáo dục này nhằm thỏa mãn những yêu cầu bản năng nào đó và hầu như không có liên quan đến yêu cầu xã hội Do đó, họ đã phủ nhận mối quan hệ chặt chẽ giữa xã hội và giáo dục và cả nội dung của giáo dục
Các nhà lý luận giáo dục duy vật cho rằng: GDTC là một hiện tượng xã hội - là phương tiện phục vụ xã hội, chủ yếu nhằm nâng cao thể chất, đồng thời tác động mạnh mẽ đến sự phát triển tinh thần của con người Họ khẳng định rằng, chỉ khi nào con người tự giác tập luyện các bài tập thể chất, nhằm phát triển cơ thể của bản thân để chuẩn bị cho những hoạt động nhất định thì lúc đó mới có GDTC thực sự
Các tư tưởng tiến bộ về giáo dục toàn diện, đó là con người phải được phát triển hài hòa giữa thể chất và tinh thần đã xuất hiện trong kho tàng văn hóa chung của xã hội loài người từ nhiều thế kỷ trước đây
Tuy nhiên, do tính chất của quan hệ xã hội và lịch sử trong các chế độ
ấy thực tế đã không vượt ra khỏi giới hạn của những ước mơ tuy cao đẹp nhưng không có điều kiện khách quan để biến thành hiện thực
Trên cơ sở nghiên cứu một cách sâu sắc các quy luật khách quan của sự phát triển xã hội, Các Mác và Ăngghen đã chứng minh sự phụ thuộc của giáo dục vào điều kiện vật chất, khám phá bản chất xã hội và giai cấp của giáo dục Các Mác nhấn mạnh rằng: “Giáo dục trong tương lai sẽ kết hợp lao động sản xuất của xã hội, mà còn là biện pháp duy nhất để đào tạo con người phát triển toàn diện” (Các Mác, Ăngghen: Tuyển tập, tập 23, trang 495 - tiếng Nga)
Công lao lớn nhất của C Mác là phát hiện ra sự tái sản xuất trong mỗi con người để xã hội phát triển Ông coi GDTC là một bộ phận hữu cơ của hiện tượng giáo dục, là điều kiện tất yếu đối với việc phát triển con người một
Trang 141.1.2.2 Cơ sở khoa học tự nhiên
Cơ sở khoa học tự nhiên của GDTC là toàn bộ các môn khoa học mà nhiệm vụ của nó là nghiên cứu những quá trình phát triển sinh học của con người Những kiến thức khoa học này được xây dựng trên cơ sở học thuyết của các nhà sinh học vĩ đại như: I M Xêtrênốp (1829 - 1905) I P Paplốp (1849 - 1936) và những người kế tục Các học thuyết đó bao gồm: học thuyết
về sự thống nhất giữa cơ thể và môi trường, học thuyết về mối liên hệ thần kinh tạm thời của các phản xạ có điều kiện và sự hình thành định hình động lực, học thuyết về hoạt động thần kinh cao cấp
Các môn khoa học tự nhiên nghiên cứu các quá trình phát triển sinh học của con người, quy luật về sự thay đổi trong cơ thể do ảnh hưởng của luyện tập TDTT, quy luật về sự thay đổi cơ chế sinh lý theo giới tính và theo lứa tuổi dưới ảnh hưởng của lượng vận động, những biểu hiện của những quy luật vật lý, sinh học trong các động tác kỹ thuật của bài tập thể chất tác động lên
cơ thể con người,…
Những môn khoa học thuộc nhóm này bao gồm: sinh lý học TDTT, sinh cơ học, sinh hóa học, vệ sinh học, y học TDTT, thể dục chữa bệnh
Trang 15Sinh hóa học TDTT nghiên cứu các quá trình hóa học diễn ra trong cơ thể khi thực hiện bài tập thể chất cho phép hoàn thiện phương pháp tiến hành chúng
Vệ sinh học TDTT nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến chế độ vận động hợp lý, các phương tiện hoạt động TDTT
Y học TDTT nghiên cứu những vấn đề đảm bảo về mặt sức khỏe cho mọi người trong quá trình luyện tập TDTT
Thể dục chữa bệnh nghiên cứu và xây dựng hệ thống bài tập thể chất nhằm hoàn thiện những khuyết tật của con người về mặt thể chất
Mỗi một môn khoa học trên nghiên cứu những mặt riêng lẻ, các quy luật hay các điều kiện GDTC có liên quan đến bản chất GDTC, cho phép lựa chọn các phương tiện, nội dung, phương pháp sư phạm phù hợp trong quá trình GDTC cho con người
Lịch sử TDTT nghiên cứu sự phát sinh, quá trình phát triển TDTT
Tâm lý học TDTT nghiên cứu những đặc điểm tâm lý, những biến đổi
về tâm lý con người do ảnh hưởng của hoạt động này
Trang 16GDMN là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân Trong báo cáo giám sát toàn cầu về giáo dục cho mọi người năm 2005, UNESCO đã đánh giá: “Những năm đầu của cuộc sống là giai đoạn chủ yếu của sự phát triển trí tuệ, nhân cách và hành vi”, “Bằng chứng cho thấy rằng việc chăm sóc giáo dục trẻ ở lứa tuổi trước tuổi đi học có liên quan đến việc phát triển nhận thức và xã hội tốt hơn” [1]
GDMN là giai đoạn khởi đầu đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ em, thời kỳ mầm non còn được gọi là thời kỳ vàng của cuộc đời Sự phát triển của trẻ em trong thời kỳ này rất đặc biệt, chúng hồn nhiên non nớt, buồn vui, khóc cười theo ý thích Những gì trẻ được học, được trang bị ở trường mầm non có thể sẽ là những dấu ấn theo trẻ suốt cả cuộc đời Theo như nhà giáo dục lỗi lạc Nga đã nói: “Những cơ sở căn bản của việc giáo dục trẻ được hình thành từ trước tuổi lên 5 Những điều dạy cho trẻ trong thời kì đó chiếm tới 90% tiến trình giáo dục trẻ Về sau việc giáo dục đào tạo
Trang 17Sinh thời Chủ Tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo tới sự nghiệp GDMN, Người từng căn dặn: “Làm mẫu giáo tức là thay mẹ dạy trẻ, dạy trẻ cũng như trồng cây non, trồng cây non được tốt thì sau này cây lên tốt, dạy trẻ tốt thì sau này các cháu thành người tốt” Lời dạy của Người vẫn luôn được cán bộ, giáo viên ngành học mầm non khắc ghi và biến thành phương châm hành động
Lịch sử GDMN ghi nhận: GDMN là khâu đầu tiên của quá trình đào tạo con người Việt Nam GDMN góp phần giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam nữ Nhờ có phát triển GDMN, phụ nữ yên tâm công tác, lao động sản xuất, có điều kiện học hành nâng cao hiểu biết và hưởng thụ những phúc lợi nho nhỏ trong gia đình cũng như có cơ hội đóng góp cho xã hội
Như vậy, GDMN là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân Tầm quan trọng của GDMN là chỗ nó đặt nền móng ban đầu cho việc giáo dục hình thành và phát triển nhân cách trẻ em
1.2.2 Mục tiêu của GDMN
Mục tiêu của GDMN là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành cho trẻ những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp một GDMN tạo sự khởi đầu cho sự phát triển toàn diện của trẻ, đặt nền móng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời
1.2.3 Chương trình GDMN
(Ban hành kèm theo thông tư số: 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009 của Bộ Giáo dục và Đào tạo)
Trang 18Chương trình GDMN là căn cứ để triển khai và chỉ đạo công tác chăm sóc giáo dục trẻ trong các cơ sở GDMN, đồng thời là căn cứ để đào tạo bồi dưỡng giáo viên mầm non, tăng cường cơ sở vật chất và đảm bảo các điều kiện khác để nâng cao chất lượng GDMN
Chương trình GDMN thể hiện mục tiêu GDMN, cụ thể hóa các yêu cầu về nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em ở từng độ tuổi, quy định việc tổ chức các hoạt động nhằm tạo điều kiện để trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hướng dẫn đánh giá sự phát triển của trẻ em ở lứa tuổi mầm non
1.2.4 Yêu cầu về nội dung, phương pháp GDMN
Nội dung GDMN phải đảm bảo tính khoa học, tính vừa sức và nguyên tắc đồng tâm phát triển từ dễ đến khó; đảm bảo tính liên thông giữa các độ tuổi; thống nhất giữa nội dung giáo dục với cuộc sống hiện thực, gắn với cuộc sống và kinh nghiệm của trẻ, chuẩn bị cho trẻ từng bước hòa nhập vào cuộc sống Phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em, hài hòa giữa nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; giúp trẻ em phát triển cơ thể cân đối, khỏe mạnh, nhanh nhẹn; cung cấp kỹ năng sống phù hợp với lứa tuổi; giúp trẻ em biết kính trọng, yêu mến, lễ phép với ông bà, cha mẹ, thầy cô giáo; yêu quý anh, chị, em, bạn bè; thật thà, mạnh dạn, tự tin và hồn nhiên, yêu thích cái đẹp; ham hiểu biết, thích cái đẹp
Phương pháp GDMN chủ yếu là thông qua việc tổ chức các hoạt động chơi để giúp trẻ em phát triển toàn diện; chú trọng việc nêu gương, động viên, khích lệ Phương pháp giáo dục phải tạo điều kiện cho trẻ được trải nghiệm,
Trang 19tìm tòi, khám phá môi trường xung quanh dưới nhiều hình thức đa dạng, đáp ứng nhu cầu, hứng thú của trẻ theo phương châm “chơi mà học, học bằng chơi” Chú trọng đổi mới tổ chức môi trường giáo dục nhằm kích thích và tạo
cơ hội cho trẻ tích cực khám phá, thử nghiệm và sáng tạo ở các khu vực hoạt động một cách vui vẻ
Mục tiêu của nền giáo dục nước ta đặt ra là phải đào tạo ra những con người toàn diện về mọi mặt có đủ: Đức, Trí, Thể, Mỹ, Lao động Bên cạnh công tác giáo dục văn hóa thì GDTC cũng chiếm một vị trí quan trọng, là một
bộ phận không thể thiếu của giáo dục quốc dân Nó là tiền đề giúp người học
có đủ sức khỏe, tinh thần thoải mái, sảng khoái để tiếp thu kiến thức các bộ môn khác
GDTC trường học là cơ sở nền tảng của TDTT quốc dân Đây là một chiến lược quan trọng GDTC đối với trẻ em góp phần thúc đẩy phát triển thân thể khỏe mạnh, tăng cường thể chất
GDTC là một bộ phận không thể thiếu để thúc đẩy sự phát triển toàn diện của trẻ em, là bộ phận hợp thành quan trọng của nền giáo dục phát triển toàn diện Thân thể khỏe mạnh là cơ sở để thực hiện các nhiệm vụ giáo dục
Trang 20khác GDTC liên hệ mật thiết với giáo dục đạo đức, giáo dục trí tuệ, giáo dục thẩm mỹ và lao động
GDTC không những có thể bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cho trẻ em
mà còn làm cho con người tinh thần mạnh khỏe, cuộc sống văn minh vui vẻ
có ý nghĩa, tạo nên hành vi thói quen văn minh như tôn trọng kỷ luật Có trách nhiệm với tập thể, tính đoàn kết cao, khích lệ lòng tự tin, dũng cảm của bản thân
GDTC trong trường học là yếu tố cơ bản để chuẩn bị sức khỏe, thể lực phục vụ cho lao động sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc Vì kết quả của hoạt động GDTC là trình độ hoạt động thể lực của người học sẽ được nâng cao Đó là cơ
sở để tiếp thu các thao tác lao động và giải quyết các nhiệm vụ mà thực tiễn đòi hỏi người lao động và giải quyết các kỹ xảo vận động hoàn thiện GDTC còn giúp trẻ em rèn luyện ý chí, tinh thần vượt khó
1.3.2 Nhiệm vụ GDTC cho trẻ em lứa tuổi mầm non
Mục tiêu của GDMN là “…Hình thành ở trẻ những cơ sở đầu tiên của nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
- Khỏe mạnh và nhanh nhẹn, cơ thể phát triển hài hòa cân đối
- Giàu lòng thương, biết quan tâm nhường nhịn, giúp đỡ những người gần gũi, thật thà, lễ phép, mạnh dạn hồn nhiên
- Yêu thích cái đẹp, biết giữ gìn cái đẹp và mong muốn tạo ra cái đẹp ở xung quanh
- Thông minh, ham hiểu biết, thích khám phá tìm tòi, có một số kỹ năng
sơ đẳng (quan sát, so sánh, tổng hợp) cần thiết để vào trường phổ thông, thích
đi học
Để thực hiện được các mục tiêu trên, GDTC trong trường mẫu giáo có những nhiệm vụ cụ thể sau:
Trang 21- Đảm bảo chế độ dinh dưỡng, chế độ sinh hoạt hợp lý, tích cực phòng bệnh, phòng tai nạn, làm tốt công tác vệ sinh môi trường, sinh hoạt và thân thể, không để trẻ mệt mỏi vì hoạt động quá sức hoặc thần kinh căng thẳng
- Hướng dẫn tổ chức rèn luyện cho trẻ một cách hợp lý nhằm tăng cường sức khỏe, phát triển cân đối hình dạng và các chức năng của cơ thể, tăng cường khả năng thích ứng của trẻ với những thay đổi của thời tiết hoặc môi trường bên ngoài
b Rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo vận động cơ bản và những phẩm chất vận động
- Hình thành, phát triển và hoàn thiện các kỹ năng, kỹ xảo vận động cơ bản (đi, chạy, nhảy, leo, trèo), rèn luyện năng lực phối hợp cảm giác với vận động, phối hợp các vận động của các bộ phận cơ thể với nhau…
- Từng bước rèn luyện những phẩm chất của vận động, giúp trẻ vận động ngày càng nhanh nhẹn, linh hoạt, dẻo dai, gọn gàng, ngày càng chính xác, khéo léo hơn
c Giáo dục nếp sống có giờ giấc, có thói quen và các kỹ năng, kỹ xảo vệ sinh
cụ thể
- Giáo dục cho trẻ nếp sống có giờ giấc Rèn luyện cho trẻ thói quen ăn, ngủ, thức đúng giờ và dễ dàng thích nghi khi chuyển từ hoạt động này sang hoạt động khác Những thói quen này sẽ giúp cho trẻ ăn ngon, ngủ say, hoạt động thoải mái, ảnh hưởng tốt tới sức khỏe của trẻ và giúp trẻ thích nghi với thời khóa biểu sau này ở trường tiểu học
Trang 22- Rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo vệ sinh có ý nghĩa vô cùng lớn đối với việc bảo vệ sức khỏe và tăng cường thể lực Cần hình thành, rèn luyện những thói quen một cách tỉ mỉ, kiên trì trong thời gian dài để thói quen được củng
Trẻ ưa thích hoạt động
- Bởi lứa tuổi mẫu giáo vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ
- Trẻ rất thích chơi những trò chơi bắt chước người lớn như: nấu ăn, bán hàng, xây dựng ghép hình, các trò chơi đóng vai theo chủ đề và các trò chơi vận động như: đá bóng, cướp cờ, ai ném xa nhất, đu quay, cầu trượt…
Trẻ có tâm lý ngại đi học:
- Trong thực tế có rất nhiều trẻ hăng hái đến trường Đó đa số là những đứa trẻ hướng ngoại, ưa thích khám phá và chúng hứng thú đi học để có thêm bạn chơi cùng Nhưng cũng còn một số ít trẻ sợ đến trường, thường nhút nhát hoặc hay khóc khi tới lớp
- Để khắc phục tình trạng sợ đến lớp của trẻ cha mẹ cần tạo cho trẻ hứng thú khi đến trường bằng việc trò chuyện, giảng giải với trẻ (ví dụ: Con bây giờ đã lớn nên phải đi học, ở trường con sẽ rất vui vì có nhiều bạn bè nhiều đồ chơi mà ở nhà không có, con có thể được hát, múa, vẽ, nặn…), không hù dọa trẻ và cần quan tâm đến trẻ nhiều hơn
Trang 23Trẻ có nhu cầu chơi trong nhóm bạn
- Trẻ có ý thức chan hòa với bạn cùng chơi Biết tuân thủ luật chơi, biết mượn, chia sẻ đồ chơi với bạn, biết thiết lập mối quan hệ rộng rãi và phong phú với bạn cùng chơi
- Nếu như ở lứa tuổi trước, chỉ cần hai bạn chơi mẹ con thì đến tuổi này, các bạn cùng hợp tác lại để chơi trò gia đình với các vai bố, mẹ, con cái, ông bà
Tính tình tương đối ổn định, dễ hướng dẫn, chỉ bảo
- Đời sống tình cảm của trẻ ở lứa tuổi này phong phú và sâu sắc hơn nhiều so với lứa tuổi trước Trẻ trải nghiệm nhiều trạng thái cảm xúc, tình cảm, hướng tình cảm của mình đến nhiều đối tượng khác nhau
- Trẻ luôn mong muốn nhận sự yêu thương trìu mến của cha mẹ, rất dễ tủi thân khi không được quan tâm Trẻ cũng bộc lộ tình cảm của mình mạnh
mẽ và rõ ràng hơn với mọi người, luôn tỏ ra an ủi, thông cảm với người khác
Sự phát triển xúc cảm và ngôn ngữ:
- Ở lứa tuổi này, tình cảm đã bắt đầu phức tạp và phân hóa, từ quan hệ gắn bó mẹ - con, trẻ bắt đầu có nhu cầu giao lưu tình cảm nhiều hơn giữa mẹ - con ở trẻ trai và bố - con ở trẻ gái Trẻ đòi hỏi sự quan tâm cuộc sống một cách
cụ thể và đa dạng hơn, vì vậy đã xuất hiện ở trẻ những biểu hiện về tình cảm rõ ràng cũng như những phản ứng chống đối dưới nhiều hình thức khác nhau
- Đây là lứa tuổi phát triển khá hoàn chỉnh về khả năng giao tiếp, trẻ có khả năng nói những câu đầy đủ, đôi khi phức tạp cũng như hiểu được những câu nói dài của người khác Điều này là cơ sở cho trẻ tiếp nhận những kiến thức của lớp 1 và bậc học tiếp theo
1.4.2 Đặc điểm sinh lý
Hệ thần kinh: sự phát triển của hệ thần kinh ở lứa tuổi này đã được ở
mức cao hơn so với lứa tuổi nhà trẻ Sự trưởng thành của các tế bào thần kinh
Trang 24của đại não kết thúc… Tuy nhiên ở trẻ em quá trình hưng phấn và ức chế chưa cân bằng, sự hưng phấn mạnh hơn sự ức chế Do đó, phải đối xử thận trọng với trẻ, tránh để trẻ phải thực hiện một khối lượng vận động quá sức hoặc kéo dài thời gian vận động vì sẽ làm trẻ mệt mỏi Hệ thần kinh có tác dụng chi phối và điều tiết đối với vận động cơ thể vì vậy hoạt động vận động của trẻ có hai tác dụng: thúc đẩy sự phát triển công năng của tổ chức cơ bắp và thúc đẩy sự phát triển công năng của hệ thần kinh Vận động cơ thể của trẻ có thể cải thiện tính không công năng của quá trình thần kinh ở chúng Song cần chú ý tới sự luân phiên giữa vận động và nghỉ ngơi, tình trạng quá trình vận động của trẻ
Hệ vận động: bao gồm xương, cơ và khớp
Xương: thành phần hóa học xương của trẻ có chứa nhiều nước và chất
hữu cơ hơn chất vô cơ so với người lớn, nên có nhiều sụn xương, xương mềm, dễ bị cong gãy Ở trẻ 5 - 6 tuổi xương cột sống có 2 đoạn uốn cong vĩnh viễn ở cổ và ở ngực, lồng ngực đã hẹp hơn, đường kính ngang lớn hơn đường kính trước sau, xương sườn chếch theo hướng dốc nghiêng
Cơ: hệ cơ của trẻ phát triển yếu, tổ chức cơ bắp còn ít, các sợi cơ nhỏ
mảnh, thành phần nước trong cơ tương đối nhiều nên sức mạnh cơ bắp còn yếu, cơ nhanh mệt mỏi Do đó, trẻ lứa tuổi này không thích nghi với sự căng thẳng lâu của cơ bắp, cần xen kẽ giữa vận động và nghỉ ngơi thích hợp trong thời gian luyện tập Khi trẻ được thường xuyên tham gia vận động thể lực hợp
lý sẽ tăng cường hiệu quả công năng các tổ chức cơ bắp, làm cho sức mạnh và sức bền cơ bắp phát triển
Khớp: trẻ lứa tuổi này ổ khớp còn nông, cơ bắp xung quanh khớp còn
yếu, dây chằng lỏng lẻo Hoạt động vận động phù hợp với lứa tuổi của trẻ sẽ giúp khớp được rèn luyện, từ đó tăng tính vững chắc của khớp
Hệ tuần hoàn: hệ tuần hoàn của trẻ đang phát triển và hoàn thiện
Buồng tim phát triển tương đối hoàn thiện, tần số co bóp của tim là 80 - 110 lần/phút Để tăng cường công năng của tim, khi cho trẻ luyện tập nên đa dạng
Trang 25hóa các dạng bài tập, nâng dần lượng vận động cũng như cường độ vận động, phối hợp động và tĩnh một cách nhẹ nhàng
Hệ hô hấp: đường hô hấp của trẻ tương đối hẹp, niêm mạc đường hô
hấp mềm mại, mao mạch phong phú, dễ phát sinh nhiễm cảm Lên 6 tuổi thể tích hô hấp của phổi là khoảng 215 - 220 ml Trẻ 5 - 6 tuổi mỗi phút hít thở khoảng 20 - 22 lần
Hệ trao đổi chất: cơ thể trẻ đang phát triển đòi hỏi bổ sung liên tục năng
lượng tiêu hao và cung cấp các chất tạo hình để kiến tạo các cơ quan và mô Ở trẻ năng lượng tiêu hao cho sự lớn lên và dự trữ chất nhiều hơn là cho hoạt động
cơ bắp Do vậy, khi trẻ hoạt động vận động quá mức, ngay cả khi dinh dưỡng đầy đủ thường dẫn đến tiêu hao năng lượng dự trữ trong các cơ bắp và đọng lại những sản phẩm độc hại ở các cơ quan trong quá trình trao đổi chất Sẽ làm ảnh hưởng tới cơ bắp và hệ thần kinh, làm giảm sự nhạy cảm Do đó, cần thường xuyên thay đổi vận động của các cơ, chọn hình thức vận động phù hợp với trẻ
1.5 Vị trí, vai trò của ném bóng trong quá trình phát triển thể chất cho trẻ mầm non
Ném bóng là một nội dung học trong chương trình GDTC cho trẻ em lứa tuổi mầm non không chỉ có tác dụng tới sự phát triển của con người mà còn giúp cho việc hoàn thiện và phát triển nhân cách cũng như đảm bảo, đáp ứng đời sống cho con người, là nhu cầu không thể thiếu của người hâm mộ thể thao
Ném bóng không chỉ giúp con người nâng cao thể chất chung mà còn nhằm phát triển một cách toàn diện các tố chất thể lực như sức nhanh, sức mạnh, sức bền và khả năng phối hợp vận động Bên cạnh đó ném bóng còn giúp cho con người có khả năng thích nghi với những thay đổi phức tạp và đa dạng của điều kiện môi trường, nâng cao khả năng chống đỡ lại những tác động có hại của môi trường
Ném bóng đòi hỏi có sự tham gia hoạt động của toàn bộ cơ thể, vì vậy sẽ giúp cho cơ thể phát triển toàn diện về hình thái và chức năng sinh lý Tập luyện
Trang 26ném bóng thường xuyên và có hệ thống thì các chỉ số về hô hấp, tuần hoàn và trao đổi chất đều có những chuyển biến tốt, mạch yên tĩnh giảm, thể tích buồng tim tăng Giúp trẻ phát triển nhanh và toàn diện các tố chất thể lực đồng thời còn giúp giáo dục các ý chí, tinh thần đồng đội, tình đoàn kết, tính kỷ luật quyết đoán
Các em ở lứa tuổi mẫu giáo rất thích bóng Vì vậy, các trò chơi với bóng luôn luôn đem lại nhiều hứng thú Khi chơi với bóng, các động tác chụp, đá, lăn, ném đòi hỏi sự phối hợp tay và mắt kết hợp cùng các cơ bắp khác của cơ thể để giúp trẻ hoàn thiện các kỹ năng vận động tinh cũng như vận động thô
GDTC trong trường mầm non nhằm đảm bảo sự phát triển toàn diện của trẻ Chính vì thế, việc đưa nội dung ném bóng vào trong chương trình giảng dạy là rất phù hợp, nó góp phần giáo dục và nâng cao thể lực cho trẻ
em Trẻ hào hứng vui chơi, tham gia nhiệt tình, xua tan những căng thẳng, mệt mỏi, đời sống tinh thần thêm phong phú Kích thích trẻ luôn có sự sáng tạo trong học tập và vui chơi
1.6.1.2 Phân loại sức mạnh
- Sức mạnh tĩnh (sức mạnh đơn thuần): là khả năng sinh lực trong các động tác chậm và tĩnh
- Sức mạnh tốc độ: là khả năng sinh lực trong các động tác nhanh
- Ngoài ra, còn có sức mạnh bột phát, sức mạnh tuyệt đối và sức mạnh tương đối
1.6.2 Cơ chế sinh lí điều hòa sức mạnh
Lực tối đa mà con người có thể sản sinh ra một mặt phụ thuộc vào đặc tính sinh cơ động tác, mặt khác phụ thuộc vào mức độ hoạt động của từng
Trang 27Thứ nhất: Huy động số lượng khác nhau các đơn vị vận động Thứ hai: Thay đổi tần số xung động ly tâm (trong căng cơ tối đa, từ 5 - 6 đến 35 - 40 xung động)
Nếu lực do cơ phát huy chỉ vào khoảng 20 - 80% khả năng tối đa của
nó thì cơ chế điều hòa số lượng sợi cơ có ý nghĩa cơ bản Điều đó có nghĩa: Nếu lực kích thích nhỏ thì chỉ có số ít sợi cơ hoạt động tích cực
1.6.3 Nhiệm vụ và phương tiện giáo dục sức mạnh
Nhiệm vụ chung của quá trình giáo dục sức mạnh là phát triển toàn diện và đảm bảo khả năng phát huy cao sức mạnh trong các hình thức hoạt động vận động khác nhau
Nhiệm vụ cụ thể:
- Tiếp thu và hoàn thiện khả năng thực hiện các hình thức sức mạnh cơ bản: sức mạnh tĩnh lực và sức mạnh động lực, sức mạnh đơn thuần và sức mạnh tốc độ, sức mạnh khắc phục và sức mạnh nhượng bộ
- Phát triển cân đối sức mạnh của tất cả các nhóm cơ của hệ vận động
- Phát triển năng lực sử dụng hợp lý sức mạnh trong các điều kiện khác nhau
Trang 28+ Các bài tập với lực đối kháng của người tập
+ Các bài tập với lực đàn hồi
+ Các bài tập với lực đối kháng của môi trường bên ngoài
- Các bài tập khắc phục trọng lượng cơ thể: lò cò, chống đẩy…
Trang 29CHƯƠNG 2 NHIỆM VỤ, PHƯƠNG PHÁP, TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu đã đề ra, đề tài tiến hành giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng việc sử dụng trò chơi vận động cho
trẻ 5 - 6 tuổi trường Mầm non Đồng Tâm - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc
- Nhiệm vụ 2: Đánh giá hiệu quả sử dụng trò chơi ném bóng trong phát
triển sức mạnh cho trẻ 5 - 6 tuổi trường Mầm non Đồng Tâm - Vĩnh Yên -
Vĩnh Phúc
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ của đề tài trong quá trình nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp:
2.2.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu
Thu thập thông tin bằng cách đọc và phân tích tài liệu tham khảo Trong quá trình nghiên cứu đã tìm hiểu, tập hợp các tài liệu như văn kiện, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước Tìm hiểu các sách viết về trò chơi vận động, về sức mạnh, trò chơi ném bóng, các sách tâm lý, sinh lý trẻ em Từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau như: sách, báo, internet… Đề tài thu thập tài liệu có liên quan nhằm mở rộng kiến thức tâm sinh lý, phương pháp giáo dục thể chất cho trẻ, tìm hiểu về trò chơi vận động đặc biệt là trò chơi ném bóng nhằm phát triển sức mạnh cho trẻ mẫu giáo lớn trường Mầm non Đồng Tâm - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc
2.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Trong quá trình nghiên cứu đề tài đã sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp và gián tiếp
- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp