1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khoá luận tốt nghiệp xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong giải toán có lời văn lớp 5

42 560 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 117,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC===gofflca=== NGUYỄN THỊ VÂN XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG CÂU HỎI • • • NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH cực CỦA HỌC SINH TRONG GIẢI TOÁN CÓ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

===gofflca===

NGUYỄN THỊ VÂN

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG CÂU HỎI

• • •

NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH cực CỦA HỌC SINH TRONG GIẢI

TOÁN CÓ LỜI VĂN LỚP 5

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

• • • •

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Toán ở Tiếu học

Ngưòi hưóng dẫn khoa học ThS PHẠM HUYÈN TRANG

HÀ NỘI – 2015 LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học, các thầy cô trong trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 và các bạn sinh viên Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới

Trang 2

Do điều kiện thời gian nghiên cứu có hạn nên đề tài không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót

Em rất mong tiếp tục nhận được sự đóng góp của thầy cô và các bạn đế khóa luận được hoàn thiện hơn

Em xỉn chân thành cảm ơn!

Hà NỘI, thảng 5 năm 2015 S i n h v i ê n

Nguyễn Thị Vân

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp với đề tài “ Xây dụng và sử dụng hệ thống câu hỏi

nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong giải toán có lời văn lớp 5” là kết quả nghiên cứu riêng tôi, trên cơ sở giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn và tham khảo các tài liệu có liên quan

Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu của mình không trùng với kết quả nghiên cún của các tác giả khác Nếu sai, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Hci Nội, thảng 5 năm 2015 Sinh viên

Trang 3

MỤC LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

MỞ ĐÀU

1 LÝ DO CHỌN ĐÈ TÀI

Ngày nay, chúng ta đang sống trong bối cảnh kinh tế - xã hội phát triển như vũ bão Vì vậy, giáo dục cần đào tạo đội ngũ nhân lực có khả năng đáp ứng được nhũng đòi hỏi mới của xã hội và thị trường lao động, đặc biệt là tính tích cực, tính năng động, sáng tạo, tính tự lực và trách nhiệm cũng như năng lực cộng tác làm việc, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp

Trong những năm gần đây giáo dục đã có nhũng cố gắng trong việc đối mới phương pháp dạy học và đã đạt được nhũng tiến bộ trong việc phát huy tính tính tích cực của học sinh Tuy nhiên các phương pháp dạy học truyền thống, đặc biệt là lối dạy học thuyết trình theo hướng một chiều vẫn chiếm một vị trí chủ đạo trong các phương pháp dạy học ở các trường Tiểu học đã làm hạn chế việc phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh Học sinh tiếp thu kiến thức một cách thụ động, chủ yếu chỉ nghe giảng , ghi nhó’ và làm bài theo mẫu Do đó việc học tập thường ít hứng thú, nội dung các hoạt động học tập thường đơn điệu, nghèo nàn, ít quan tâm đến phát triển năng lực cá nhân học sinh

Thực trạng trên dẫn đến hệ quả là thế hệ trẻ được đào tạo mang tính thụ động cao, hạn chế khả năng sáng tạo và năng lực vận dụng tri thức đã học để giải quyết các tình huống thực tiễn cuộc sống Điều đó có nghĩa là giáo dục chưa đáp ứng đầy đủ mục tiêu đặt ra là “Giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các

kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo

Giải toán có lời văn là một trong năm mạch kiến thức chính ở chương trình Toán Tiểu học, là nội dung có một vị trí quan trọng và góp phần không nhỏ trong việc phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh, đặc biệt là khả năng vận dụng các kiến thức đã học vào giải quyết các tình huống trong thực tiễn Bởi trong giải toán mọi học sinh đều

Trang 5

phải hoạt động, phải độc lập suy nghĩ và làm việc tích cực theo hướng dẫn, tố chức của giáo viên, tạo cho học sinh thói quen làm việc tự giác, chủ động và tích cực.

Tuy nhiên, đa số các giáo viên hiện nay đều chưa sử dụng đúng mức các phương pháp dạy học trong việc hướng dẫn học sinh giải các bài toán Học sinh thường giải một cách máy móc các bài toán theo mẫu mà giáo viên đã dạy mà không biết giải bài tập một cách sáng tạo Vậy vấn đề nằm ở việc cách thức giáo viên hướng dẫn học sinh tiếp thu bài học chưa làm phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong suy nghĩ của học sinh

Xuất phát từ những lí do trên tôi chọn: “Xây dụng và sử dụng hệ thong câu hỏi nhằm phát huy tính tích cực trong dạy học giải toán có lời văn lóp 5 ” là đề tài nghiên cún với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả học tập của học sinh và chất lượng đào tạo trong học tập

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CÚÌJ

Nghiên cứu lí luận và thực trạng của việc dạy và học giải toán có lời văn lớp 5 trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong giải toán có lời văn lóp 5

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THẺ NGHIÊN CÍTU

- Đối tượng nghiên cứu: Việc xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong giải toán có lời văn lớp 5

- Khách thể nghiên cứu: Một số biện pháp xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong giải toán có lời văn lóp 5

4 PHẠM VI NGHIÊN cứu

- Học sinh tiểu học khối lớp 5, giáo viên tiểu học dạy lớp 5

- Trường Tiểu học Đồng Cương - Yên Lạc - Vĩnh Phúc

- Toán lớp 5, nội dung dạy học toán 5

Trang 6

5 NHIỆM VỤ NGHIÊN cứu

- Cơ sở lí luận của việc xây dựng và sử dụng câu hỏi nhằm phát huy tính tích cực của học sinh Mục tiêu, nội dung chương trình toán lớp 5 nói chung và giải toán có lời văn nói riêng Thực trạng của việc dạy và học giải toán có lời văn lóp 5

- Đe xuất một số biện pháp xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong giải toán có lời văn lóp 5

- Chứng minh tính đúng đắn của việc xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong giải toán có lời văn lóp 5 bằng thực nghiệm

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CÚXJ

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp điều tra, quan sát, phỏng vấn

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

- Phương pháp xử lý số liệu

7 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Neu đề xuất một số biện pháp “ Xây dựng và sử dụng hệ thong câu hỏi nhăm phát huy tính tích cực của học sinh trong giải toán có lời văn lớp 5 ” thành công thì

sẽ mang lại hiệu quả cho dạy học giải toán có lời văn lớp 5 và nâng cao chất lượng dạy học

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 Cơ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỤC TIỄN CỦA VIỆC XÂY

DỤNG CÂU HỎI NHẢM PHÁT HUY TÍNH TÍCH cực CỦA

HỌC SINH 1.1.Cơ sở lí luận

7.7.7 Một số khái niệm cơ bản

ỉ.ỉ 1.1 Khái niệm “câu hỏi”

Trang 7

Câu hỏi là loại câu dùng trong giao tiếp (trực tiếp hoặc gián tiếp) Thông thường, câu hỏi có mục đích tìm hiểu, làm rõ sự kiện, sự vật nhất định, đòi hỏi sự cung cấp, giải thích, nhận xét, đánh giá thông tin về sự vật, sự mô tả, phân tích, so sánh có liên quan đến sự vật và bản thân sự vật dưới hình thức trả lời, đáp lại.

Khái niệm về câu hỏi có nhiều cách hiểu khác nhau:

- Theo Đề-Các: không có câu hỏi thì không có tư duy cá nhân cũng như không có

tư duy nhân loại Ông cũng nhấn mạnh dấu hiệu bản chất của câu hỏilà phải có mối quan

hệ giữa cái đã biết và cái chưa biết

- Theo Trần Bá Hoành [4]: câu hỏi kích thích tư duy là câu hỏi đặt ra trước học sinh một nhiệm vụ nhận thức, khích lệ và đòi hỏi họ cố gắng trí tuệ cao nhất, tự lực tìm

ra câu trả lời

- Câu hỏi là kiểu câu nghi vấn nhằm làm rõ, giải thích, nhận xét, đánh giá thông tin, phân tích, so sánh nhũng gì liên quan đến sự vật và bản thân sự vật dưới hình thức trả lời, đáp trả

- Theo Arixtot: Câu hỏi là một mệnh đề trong đó có chứa đựng cả cái đã biết và cái chưa biết

Khái niệm câu hỏi đã xuất hiện từ thời triết học cố Hy Lạp Arixtot là người đầu tiên đã phân tich câu hỏi dưới góc độ logic, ông cho rằng đặc trưng của câu hỏi là buộc người bị hỏi phải lựa chọn cách hiểu nay hay cách hiểu khác (câu hỏi lựa chọn)

Nghiên cún của Arixtot được cụ thế hóa theo công thức sau:

Câu hỏi = cái đã biết + cái chưa biết (cần tìm)

Câu hỏi thuộc phạm trù khả năng chứa đựng cả hai yếu tố: sự có mặt của cái không rõ và nguyện vọng nhu cầu của người muốn hỏi Câu hỏi là một dạng cấu trúc ngôn ngữ, diễn đạt một yêu cầu, một đòi hỏi, một mệnh đề diễn đạt bằng ngôn từ nhằm yêu cầu được giải quyết

Trang 8

Tuy có nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm câu hỏi nhưng đều có điểm chung làm thành đặc trưng câu hỏi: Sự xuất hiện cái không rõ và một yêu cầu cần phải giải quyết.

Sự tương quan giữa cái đã biết và cái chưa biết thúc đẩy việc mở rộng hiểu biết của con người Đe hiếu biết thêm về vấn đề nào đó con người phải xác định rõ cái mình

đã biết và cái mình chưa biết từ đó mới đặt câu hỏi: cái gì? Như thế nào? Vì sao? Lúc này câu hỏi thực sự trở thành nhiệm vụ của quá trình nhận thức Câu hỏi chịu ảnh hưởng của động cơ, nhu cầu hiểu của con người ngày càng lớn thì việc đặt câu hỏi ngày càng nhiều Vì vậy trong câu hỏi luôn chứa đựng động cơ, nhu cầu của người muốn hỏi

Cùng với chức năng mong muốn được giải đáp một va đề nào đó, câu hỏi còn có thể mang tính chất gợi mỏi, dẫn dắt, kích thích tư duy đối với người được hỏi Chức năng này được thế hiện đặc biệt rõ nét trong lĩnh vực giáo dục, nhất là trong xu hướng giáo dục hiện đại Do đó, việc xác định nhũng điều đã biết, chưa biết hoặc còn đang nghi ngờ để đặt ra những câu hỏi phù hợp là điều không thể thiếu

1.1.1.2 Khái niệm “xây dựng câu hỏi”

Xây dựng câu hỏi là đặt ra được câu hỏi, sắp xếp hợp lý chúng theo một hệ thống

đế hướng học sinh từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, tính quy luật của hiện tượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiêu biết ì.ỉ 1.3 Khái niệm “tính tích cực”

Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người Con người sản xuất ra của cải vật chất cần thiết cho sự tồn tại, phát triển của xã hội, sáng tạo ra nền văn hoá mỗi thời đại

Tính tích cực của con người biểu hiện trong các hoạt động Học tập là hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi đi học Tính tích cực trong hoạt động học tập là tính tích cực nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức Lĩnh hội những tri thức của loài người đồng thời tìm kiếm “khám

Trang 9

phá” ra những hiêu biết mới cho bản thân Qua đó, sẽ thông hiểu, ghi nhớ những gì đã nắm được qua hoạt động chủ động, nỗ lực của chính mình.

Tính tích cực nhận thức trong học tập liên quan với động cơ học tập Động cơ đúng tạo ra hứng thú Hứng thú là tiền đề của tự giác Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tâm lí tạo nên tính tích cực Tính tích cực sản sinh ra nếp tư duy độc lập Suy nghĩ độc lập là mầm mong của sáng tạo và ngược lại

Tính tích cực học tập biểu hiện ở những dấu hiệu như: hăng hái, chủ động, tự giác tham gia các hoạt động học tập, thích tìm tòi khám phá những điều chưa biết dựa trên những cái đã biết Sáng tạo vận dụng kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống

Tính tích cực được biểu hiện qua các cấp độ:

- Bắt chước: cố gắng thực hiện theo các mẫu hành động của thầy của

bạn

- Tìm tòi: độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm cách giải quyết khác

nhau về một vấn đề

- Sáng tạo: tìm ra cách giải quyết mới độc đáo hữu hiệu

1.1 1.4 Khái niệm “phát huy tỉnh tích cực ”

Vấn đề phát huy tính tích cực học tập của học sinh đã được đặt ra trong ngành giáo dục Việt Nam từ những năm 1960 Ớ thời điểm này, các trường sư phạm đã có khẩu hiệu: “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” Trong cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai, năm 1980, phát huy tính tích cực đã là một trong các phương hướng cải cách, nhằm đào tạo những người lao động sáng tạo, làm chủ đất nước Từ đó, trong nhà trường xuất hiện ngày càng nhiều tiết dạy tốt của các giáo viên giỏi, theo hướng tổ chức cho học sinh hoạt động, tự' lực chiếm lĩnh tri thức mới Tuy vậy, phương pháp dạy học ở trường phố thông và phương pháp đào tạo giáo viên ở trường sư phạm phô biến vẫn là cách dạy thông báo kiến thức “đọc - chép” hay còn được gọi là truyền thụ một chiều, phương pháp dạy học này dẫn đến sự thụ động của người học, nặng về ghi nhó' lý thuyết, thiếu kỹ năng thực hành áp dụng

Trang 10

Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sự thách thức của quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu đòi hỏi phải có nguồn nhân lực, người lao động có đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của xã hội trong giai đoạn mới Người lao động phải

có khả năng thích ứng, khả năng thu nhận và vận dụng linh hoạt, sáng tạo tri thức của nhân loại vào điều kiện hoàn cảnh thực tế, tạo ra những sản phâm đáp ứng yêu cầu của

xã hội

Đe có nguồn nhân lực trên, yêu cầu đặt ra là phải đổi mới giáo dục, trong đó có đôi mới mục tiêu giáo dục, đổi mới nội dung giáo dục và phương pháp dạy và học Định hướng đôi mới phương pháp dạy học đã được xác định trong Nghị Quyết Trung ương 4 khóa VII (1-1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12- 1996) và được thể chế hóa trong Luật Giáo dục sửa đổi ban hành ngày 27/6/2005, điều 2.4, đã ghi “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học Bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”

Phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh có nghĩa là phải thay đồi cách dạy

và cách học Chuyển cách dạy thụ động, truyền thụ một chiều “đọc- chép”, giáo viên làm trung tâm sang cách dạy lấy học sinh làm trung tâm hay còn được gọi là dạy và học tích cực Trong cách dạy này học sinh là chủ thế hoạt động, giáo viên là người thiết kế, tố chức, hướng dẫn, tạo nên sự tương tác tích cực giữa người dạy và người học Dạy học tích cực là điều kiện tốt khuyến khích sự tham gia chủ động, sáng tạo và ngày càng độc lập của học sinh vào quá trình học tập

1.1.2.1 Vai trò của câu hỏi

Như tôi đã nêu, câu hỏi là phương tiện phồ biến và quan trọng trong dạy và học,

là nguồn để hình thành kiến thức, kỹ năng cho học sinh Khi tim được câu trả lời có nghĩa là người học đã tìm ra được kiến thức mới, rèn được kĩ năng xác định mối quan

Trang 11

hệ, đồng thời sử dụng được những điều kiện đã cho, như vậy là vừa củng cố kiến thức, vừa nắm vững và mở rộng kiến thức.

Đối với giáo viên:

- Câu hỏi là phương tiện giúp giáo viên truyền đạt tri thức tới học sinh một cách hữu hiệu

- Câu hỏi là công cụ, phương tiện để giáo viên định hướng cho học sinh tìm hiếu, chiếm lĩnh tri thức, giúp học sinh tự học, tự chiếm lĩnh tác phẩm văn chương

- Câu hỏi được dùng để khắc sâu, củng cố kiến thức trong quá trình truyền đạt kiến thức mới đồng thời khắc phục được tình trạng học sinh ghi nhớ máy móc

- Câu hỏi là công cụ chủ yếu để kiểm tra, đánh giá năng lực học sinh

- Dạy học bằng câu hỏi giúp giáo viên tạo được không khí gần gũi, thân thiết với học sinh, và học sinh lĩnh hội tri thức nhanh hơn và sâu hơn

Đổi với học sinh:

- Hệ thống câu hỏi là công cụ giúp học sinh khám phá tri thức của các tác phẩm

- Hệ thống câu hỏi giúp học sinh phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập

- Hệ thống câu hỏi có vai trò phát triển tư duy cho học sinh

- Tạo điều kiện cho học sinh tự học và rèn luyện phương pháp học

Câu hỏi là phương tiện để phát triển và rèn luyện tư duy Khi trả lời câu

hỏi học sinh phải phân tích xác định mối quan hệ, so sánh, đói chiếu những điều đã cho

và những điều cần tìm tòi, đòi hỏi phải suy nghĩ logic Người học phải luôn luôn suy nghĩ do đó tư duy được phát triển Cũng qua việc tìm câu trả lời mà lôi cuốn, thu hút người học vào nhiệm vụ nhận thức do đó người học luôn cố gắng

Câu hỏi phát huy năng lực tự lực, tính tích cực của học sinh, nếu giáo viên sử dụng thành công còn có tác dụng gây được hứng thú nhận thức khát vọng tìm tòi dựa trên năng lực tự lực cho học sinh Cho phép giáo viên thu được thông tin ngược về chất lượng lĩnh hội kiến thức của học sinh (không chỉ chất lượng kiến thức mà cả chất lượng

Trang 12

tư duy) Những thông tin này giúp giáo viên điều chỉnh quá trình dạy học một cách linh hoạt.

Câu hỏi được sử dụng phổ biến thích họp cho hầu hết các bài và thường được sử dụng phối hợp với các phương pháp dạy học khác góp phần nâng cao chất lượng dạy học ỉ ỉ.2.2 Các loại câu hỏi

Câu hỏi vô cùng đa dạng trong dạy học câu hỏi được sử dụng trong nhiều trường họp tuy nhiên dạy học không phải với nội dung nào của bài học đều có sữn những câu hỏi phù họp với đối tượng học sinh Vì vậy trong những trường hợp khác nhua giáo viên cần phải tự xậy dựng câu hỏi đế hướng dẫn học sinh tự nghiên cứu để phát triển kiến thức, khi lựa chọn và xây dựng câu hỏi giáo viên cần phải nắm vững cáo dạng câu hỏi, câu hỏi chỉ pháy huy được tác dụng dạy học khi ta sử dụng câu hỏi phù hơp với mục tiêu bài học đồng thời vừa sức đối với học sinh.Câu hỏi gồm có các loại sau:

7 / Phân loại câu hỏi theo mức độ tư duy

Theo sáu cấp độ nhận thức của Bloom, câu hỏi có thể được chia thành sáu cấp độ:

- Câu hỏi mức độ nhớ (biết)

- Câu hỏi mức độ hiểu

- Câu hỏi mức độ vận dụng

- Câu hỏi mức độ phân tích

- Câu hỏi mức độ tổng hợp

- Câu hỏi mức độ đánh giá

2/ Phân loại câu hỏi dựa vào nội dung mà câu hỏi phản ánh

Theo nội dung mà câu hỏi phản ánh, câu hỏi được chia thành:

- Câu hỏi nêu các sự kiện

- Câu hỏi xác định các dấu hiệu bản chất

- Câu hỏi xác định mối quan hệ

- Câu hỏi xác định cơ chế

- Câu hỏi xác định phương pháp khoa học

Trang 13

- Câu hỏi xác định ỷ nghĩa lí luận hay thực tiễn của kiến thức

3/ Phân loại câu hỏi đê hình thành, phát triên năng lực nhận thức G ồ m

n h ữ n g l o ạ i c â u h ỏ i s a u :

- Câu hỏi rèn luyện kĩ năng quan sát

- Câu hỏi rèn luyện kĩ năng phân tích

- Câu hỏi rèn luyện kĩ năng tống họp

- Câu hỏi rèn luyện kĩ năng so sánh

- Câu hỏi rèn luyện kĩ năng sử dụng con đường quy nạp

- Câu hỏi rèn luyện kĩ năng sử dụng con đường diễn dịchó 4/

Phân loại câu hỏi theo mức độ tích cực trong dạy học Gồm

các loại câu hỏi:

- Câu hỏi tái hiện, trình bày lại kiến thức

- Câu hỏi tìm tòi bộ phận

- Câu bỏi phát huy tính tích cực, sáng tạo trong học tập của học sinh 5/

Phân loại câu hỏi theo các giai đoạn của quá trình dạy học Gồm các

loại câu hỏi:

- Câu hỏi hình thành kiến thức mới

- Câu hỏi củng cố, luyện tập, hoàn thiện kiến thức

- Câu hỏi kiểm tra, đánh giá

1.1.2.3 Các loại câu hỏi phát huy tính tích cực của học

sinh ỉ/ Câu hỏi kiêm tra kiên thức.

Mục đích của dạng câu hỏi này là kiểm tra sự ghi nhớ kiến thức đã học, nắm vững được bản chất kiến thức, giải thích và vận dụng kiến thức đã học vàogiải quyết nhiệm vụ mới hoặc xác định ý nghĩa của kiến thức trong lý luận vàtrong thực tiễn

2 / Câu hỏi hình thành phát triền năng lực nhận thức.

Các phần nội dung bài học của bài toán có lời văn đều có phần cung cấp thông tin, hoặc hướng dẫn học sinh thu thập các thông tin (là các sự vật hiện tượng, quá trình,

Trang 14

các thínghiệm .) Giáo viên cần xây dựng câu hỏi rèn luyện kĩ năng quan sát, phân tích, tổng hợp, so sánh, quy nạp để phát triển năng lực nhận thức.

3/ Câu hỏi hình thành kiên thức mới.

4/ Câu hởi đê củng cổ hoàn thiện kiên thức.

5/ Câu hỏi trắc nghiệm.

6/ Câu hỏi liên hệ thực tế.

Ngoài những câu hỏi trên còn có nhiều cách phân loại khác Mỗi cách đều có ý nghĩa riêng, có vai trò khác nhau đối với quá trình dạy học Từ cách phân loại trên ta thấy rằng câu hỏi nói chung, câu hỏi phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh nói riêng đều có vai trò rất quan trọng đối với quá trình dạy học

1.1.2.4 Kĩ năng đặt câu hỏi trong dạy học

1/Dùng lại sau khi đặt câu hỏi

- Mục tiêu:Tích cực hóa suy nghĩ của tất cả học sinh.Đưa ra các câu hỏi tốt hơn hoàn chỉnh hơn

- Tác dụng đối với học sinh: Dành thời gian cho học sinh suy nghĩ để tìm ra lời giải

- Cách thức dạy học:

+ Giáo viên “sử dụng thời gian chờ đợi” sau khi đưa ra câu hỏi

+ Chỉ định một học sinh đưa ra câu trả lời ngay sau “thời gian chờ đợi”

2/ Phản ứng với câu trả lời sai của học sinh

- Mục tiêu: Nâng cao chất lượng câu trả lời của học sinh.Tạo ra sự tương tác cởi

mở và khuyến khích sự trao đổi

- Tác dụng đối với học sinh:Khi giáo viên phản ứng với câu trả lời sai

của học sinh có thế xảy ra hai tình huống sau :

+ Phản ứng tiêu cực : Phản úng về mặt tình cảm họcsinh tránhkhôngtham gia vào hoạt động

+ Phản ứng tích cực : Học sinh cảm thấy mình được tôn trọng, được

Trang 15

kích thích phấn chấn và có thế có sáng kiến trong tương lai.

- Tác dụng đối với học sinh:

+ Phát triển được ở học sinh những cảm tưởng tích cực như học sinh cảm thấy

+ Có thể gọi cùng một học sinh vài lần khác nhau

4/ Phân phối câu hỏi cho cá lóp

- Mục tiêu:Tăng cường sự tham gia của học sinh trong quá trình học tập.Giảm

“thời gian nói của giáo viên”.Thay đổi khuôn mẫu “hỏi - trả lời”

- Tác dụng đối vói học sinh

+ Chú ý nhiều hơn các câu trả lời của nhau

Trang 16

+ Phản úng với câu trả lời của nhau.

+ Học sinh tập trung chú ý tham gia tích cực vào việc trả lời câu hỏi của giáo viên

- Cách thức dạy học

+ Giáo viên cần chuẩn bị trước và đưa ra các câu trả lời tốt (câu hỏi mở, có nhiều cách trả lời, có nhiều giải pháp khác nhau Câu hỏi phải rõ ràng, dễ hiếu, xúc tích) Giọng nói của giáo viên phải đủ to cho cả lớp nghe thấy

+ Khi hỏi học sinh, trong trường họp câu hỏi khó nên đưa ra cho cả lóp nghe thấy

+Khi gọi học sinh có thê sử dụng cả cử chỉ

+ Giáo viên cố gắng hỏi nhiều học sinh, cần chú ỷ hỏi những học sinh thụ động

và các học sinh ngồi khuất cuối lớp

5/ Tập trung vào trọng tâm

- Mục tiêu:Giúp học sinh hiểu đuợc trọng tâm bài học thông qua việc trả lời câu hỏi.Khắc phục tình trạng học sinh đưa ra câu trả lời “Em không biết”, hoặc câu trả lời không đúng

- Tác dụng đối với học sinh:

+ Học sinh phải suy nghĩ, tìm ra các sai sót hoặc lấp các “chỗ hổng” của kiến thức

+ Có cơ hội để tiến bộ

Trang 17

+ Giáo viên dựa vào một phần nào đó câu trả lời của học sinh để đặt tiếp câu hỏi.Tuy nhiên cần tránh đưa ra các câu hỏi vụn vặt, không có chất lượng.

6/ Giải thích

- Mục tiêu:Nâng cao chất lượng câu trả lời chưa hoàn chỉnh

- Tác dụng đối với học sinh: Học sinh đưa ra câu trả lời hoàn chỉnh

hơn

- Cách thức dạy học: Giáo viên có thể đặt ra các câu hỏi yêu cầu học

sinh đưa thêm thông tin

8/ Tránh nhắc lại câu hỏi của mình

- Mục tiêu:Giảm “thời gian giáo viên nói”.Thúc đẩy sự tham gia tích cực của học sinh

- Tác dụng đối với học sinh:

+ Học sinh chú ý nghe lời giáo viên nói hơn

+ Có nhiều thời gian đế học sinh trả lời hơn

+ Tham gia tích cực hon vào các họat động thảo luận

- Cách thức dạy học: Giáo viên chuẩn bị trước câu hỏi và có cách hỏi rõ ràng, xúc tích, áp dụng tổng họp các kỹ năng nhỏ đã nêu ở trên

9/ Tránh tự trả lòi câu hỏi của mình

- Mục tiêu: Tăng cường sự tham gia của học sinh.Hạn chế sự tham gia của giáo viên

Trang 18

- Tác dụng đối với học sinh:

+ Học sinh tích cực tham gia vào các hoạt động học tập như suy nghĩ để giải bài tập, thảo luận, phát biểu để tìm kiếm tri thức

+ Thúc đấy sự tương tác : học sinh với giáo viên, học sinh với học sinh

- Cách thức dạy học:

+ Giáo viên tạo ra sự tương tác giữa học sinh với học sinh làm cho giờ học không

bị đơn điệu Neu có học sinh chưa rõ câu hỏi, giáo viên cần chỉ định học sinh khác nhắc lại câu hỏi

+ Câu hỏi phải dễ hiểu, phù họp với trình độ học sinh, với nội dung kiến thức bài học Đối với các câu hỏi yêu cầu học sinh trả lời về những kiến thức mới, thì nhũng kiến thức đó phải có mối liên hệ với nhũng kiến thức cũ mà học sinh đã được học hoặc tiếp thu được từ thực tế cuộc sống

10/ Tránh nhắc lại câu trả lòi của học sinh.

- Mục tiêu: Phát triên mô hình có sự tương tác giữa học sinh với học sinh, tăng cường tính độc lập của học sinh.Giảm thời gian nói của giáo viên

- Tác dụng đối với học sinh:

+ Phát triển khả năng tham gia vào họat động thảo luận và nhận xét các câu trả lời của nhau

+ Thúc đẩy học sinh tự tìm ra câu trả lời hoàn chỉnh

- Cách thức dạy học:Đe đánh giá được câu trả lời của học sinh đúng hay chưa đúng, giáo viên nên chỉ định các học sinh khác nhận xét về câu trả lời của bạn, sau đó giáo viên hãy kết luận

Toán có lời văn có vị trí rất quan trọng trong chương trình toán ở trường phố thông Học sinh tiếu học được làm quen toán có lời văn ngay từ lóp 1 và các lóp khác của bậc tiểu học

1.1.3.1 Thế nào là bài toán có lời vãn

Trang 19

Toán có lời văn thực chất là những bài toán thực tế Nội dung bài toán được ghi bằng lời văn nói về những quan hệ, tương quan và phụ thuộc, có liên quan tới cuộc sống thường xảy ra hằng ngày Cái khó của bài toán có lời văn là phải lược bỏ những yếu tố

về lời văn đã che đậy bản chất của bài toán, hay nói cách khác là chỉ ra các mối quan hệ giữa các yếu tố toán học chứa trong bài toán và nêu ra phép tính thích hợp để từ đó tìm được đáp số bài toán

Việc dạy học giải toán ở tiểu học nhằm giúp học sinh biết cách vận dụng nhũng kiến thức về toán, được rèn kỹ năng thực hành với nhũng yêu cầu được thế hiện một cách đa dạng, phong phú Nhờ việc dạy học giải toán mà học sinh có điều kiện rèn luyện

và phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp suy luận

Giải toán là một hoạt động bao gồm những thao tác : xác lập được mối liên hệ giữa các dữ liệu, giữa cái đã cho và cái phải tìm trong điều kiện của bài toán: chọn được phép tính thích họp trả lời đúng câu hỏi của bài toán

Các bài toán số học ở tiểu học được phân chia thành các bài toán đon, các bài toán họp, các bài toán điển hình

1.1.3.2 Ke hoạch giải bài toán có lời văn của học sinh

Gồm bổn bước sau:

Bước 1: Tìm hiếu đề bài

Việc tìm tiểu đề bài thường thông qau việc đọc bài toán dù bài toán cho ở dạng có lời văn hoàn chỉnh hoặc dạng tóm tắt sơ đồ Trong quá trình đọc bài học sinh cần nhận ra bài toán đã cho thuộc dạng toán nào Học sinh cần phải đọc kĩ, hiểu rõ đề toán:

+ Bài toán cho gì?

+ Bài toán yếu cầu tìm gì?

Trang 20

hướng dẫn cho học sinh hiểu được nội dung và ý nghĩa của từ đó ở trong bài toán đang làm, chang hạn như: năng suất, tiết kiệm, sản lượng sau đó cho học sinh thuật lại vắn tắt bài toán mà không phải đọc nguyên văn bài toán đó.

Bước 2: Lập kế hoạch giải toán ( Đua ra được hệ thắng câu hỏi đi từ điều phải tìm tới điều đã biết cùng sơ đồ phân tích đi lên)

Dựa vào việc nhận dạng bài toán ở bước 1, ở bước này học sinh sẽ đi tìm cách giải

Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm tòi cách giải của bài toán gắn liền với việc phân tích các dữ kiện và câu hỏi của bài toán nhằm xác lập mối quan hệ giữa chúng và tìm được các phép tính số học thích hợp

Lập kế hoạch giải bài toán nhằm xác định hướng giải quyết, thực hiện các phép tính số học, thực hiện các phép tính số học bằng cách đưa ra được hệ thống câu hỏi đi từ điều phải tìm tới điều đã biết: Muốn giải đáp những yêu cầu của bài toán thì cần phải biết những gì? Nhũng điều đó đề bài đã cho biết chưa? Neu chưa biết thì tìm bằng cách nào? Dựa vào đâu để tìm?

cần tìm điều gì trước , điều gì sau bằng cách dựa vào những dữ kiên trong bài toán Cứ lần lượt như vậy đến khi nào học sinh có thế tìm ra cách giải đáp từ những dữ kiện cho sẵn trong đề bài Đây là bước quan trọng vì nó giúp học sinh hiểu được cách giải bài toán và hiếu sâu bài toán

Bước 3: Trình bày lòi giải

Hoạt động này bao gồm việc thực hiện các phép tính đã nêu trong kế hoạch giải bài toán và trình bày lời giải

Bước 4: Khai thác bài toán

Đối với học sinh tiếu học khi làm xong một bài toán học sinh cần phải thử lại kết quả tìm được Ớ hoạt động này, giáo viên có thể đưa ra nhiều cách giải khác nhau sau đó chon cách giải ngắn gọn, hợp lý nhất Giáo viên cũng có thể đưa ra bài toán tương tự đế học sinh làm củng cố kiến thức

Trang 21

1.1.3.3 Mục tiêu và nội dung dạy học toán ở lớp 5

- Biết vận dụng những kiến thức và kĩ năng về số thập phân để: tính giá trị của biểu thức có đến ba dấu phép tính; tìm một thành phần chưa biết của phép tĩnh; tính bằng cách thuận tiện nhất; nhân (chia) nhẩm một số thạp phân với (cho) 10,100,1000, (bằng cách chuyển dấu phẩy trong số thập phân)

Ôn tập, củng cố, hệ thống hoá những kiến thức và kĩ năng cơ bản về số và phép tính (với số tự nhiên, phân số đơn giản,số thập phân)

Ngày đăng: 03/11/2015, 15:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng kết quả khảo sát chất lượng lóp 5AI - Khoá luận tốt nghiệp xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong giải toán có lời văn lớp 5
Bảng k ết quả khảo sát chất lượng lóp 5AI (Trang 29)
Bảng thống kê kết quả như sau: - Khoá luận tốt nghiệp xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong giải toán có lời văn lớp 5
Bảng th ống kê kết quả như sau: (Trang 32)
Hình nào đã biết? - Khoá luận tốt nghiệp xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong giải toán có lời văn lớp 5
Hình n ào đã biết? (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w