Đó chính là lý do tôi lựa chọn đề tài: “Áp dụng phương pháp chi phí du lịch để xác định giá trị chất lượng môi trường tại vườn quốc gia Bạch Mã, Thừa Thiên - Huế”... Mục tiêu: Qua phương
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
GIẢI THÍCH CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI 3
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 4
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ 5
PHẦN MỞ ĐẦU 6
1 Tính cấp thiết của đề tài 6
2 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài 8
3 Phạm vi nghiên cứu 8
4 Các phương pháp nghiên cứu 8
5 Cấu trúc của chuyên đề 9
PHẦN NỘI DUNG 12
CHƯƠNG I: SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP CHI PHÍ DU LỊCH CHO ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG 12
1.1 Chất lượng môi trường 12
1.1.1 Khái niệm 12
1.1.2 Giá trị kinh tế của chất lượng môi trường: Tổng giá trị kinh tế 12
1.2 Vấn đề định giá môi trường 16
1.2.1 Sự cần thiết phải định giá môi trường 16
1.2.2 Phương pháp định giá môi trường 17
1.3 Phương pháp chi phí du lịch (Travel Cost Method – TCM) 20
1.3.1 Khái niệm 20
1.3.2 Các cách tiếp cận của phương pháp chi phí du lịch 21
1.3.3 Các bước thực hiện phương pháp chi phí du lịch 23
1.3.4 Ưu điểm 26
1.3.5 Hạn chế 26
CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ VƯỜN QUỐC GIA BẠCH MÃ, 28
THỪA THIÊN - HUẾ 28
2.1 Đặc điểm chung của VQG Bạch Mã, Thừa Thiên - Huế 28
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 29
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 34
2.2 Thực trạng về hoạt động du lịch 35
2.2.1 Tiềm năng du lịch 35
2.2.2 Thực trạng du lịch 36
2.2.3 Cơ sở vật chất phục vụ du lịch 39
Trang 22.3 Những hoạt động bảo tồn thiên nhiên và giáo dục môi trường 40
2.3.1 Nghiên cứu khoa học 40
2.3.2 Công tác quản lý và bảo vệ rừng 41
2.3.3 Công tác phát triển kinh tế vùng đệm 42
2.3.4 Công tác giáo dục môi trường 43
2.4 Tiểu kết 44
CHƯƠNG III: ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP CHI PHÍ DU LỊCH ĐỂ XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ CẢNH QUAN TẠI VQG BẠCH MÃ 45
3.1 Sử dụng ZTCM để xác định giá trị chất lượng môi trường cho VQG Bạch Mã 45
3.2 Phương pháp thu thập và xử lý thông tin 45
3.2.1 Đối với thông tin thứ cấp 45
3.2.2 Đối với thông tin sơ cấp 46
3.3 Tổng quan về các đặc điểm mẫu nghiên cứu 49
3.3.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội của du khách tham gia phỏng vấn 49
3.3.2 Các hoạt động tại VQG Bạch Mã của du khách tham gia phỏng vấn.52 3.3.3 Các chi phí du lịch của du khách tham gia phỏng vấn 55
3.4 Xác định mô hình hàm cầu du lịch cho VQG Bạch Mã 56
3.4.1 Phân vùng xuất phát 56
3.4.2 Tỷ lệ tham quan của vùng xuất phát (VR) 56
3.4.3 Ước lượng chi phí du lịch cho một chuyến đi đến Bạch Mã 57
3.4.4 Xây dựng hàm cầu du lịch cho VQG Bạch Mã 62
3.5 Những kết quả thu được 64
3.6 Những khó khăn trong quá trình thực hiện ZTCM tại VQG Bạch Mã 65
3.7 Kiến nghị 65
KẾT LUẬN 67
Tài liệu tham khảo 69 PHỤ LỤC
Trang 3GIẢI THÍCH CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
- BV: Bequest Value – giá trị tuỳ thuộc hay giá trị để lại
- DUV: Direct Use Value – giá trị sử dụng trực tiếp
- EXV: Existence Value – giá trị tồn tại
- ITCM: Individual Travel Cost Method – cách tiếp cận phương pháp chi phí
du lịch theo cá nhân
- IUV: Indirect Use Value – giá trị sử dụng gián tiếp
- NUV: Non Use Value – giá trị không sử dụng
- OV: Option Value – giá trị tuỳ chọn
- TEV: Total Economic Value - tổng giá trị kinh tế
- TCM: Travel Cost Method – phương pháp chi phí du lịch
- Trung tâm DLST và GDMT: trung tâm du lịch sinh thái và giáo dục môitrường
- UV: Use Value – giá trị sử dụng
- VQG: Vườn quốc gia
- WTP: Willingness to pay - mức sẵn lòng chi trả
- ZTCM: Zonal Travel Cost Method – cách tiếp cận phương pháp chi phí dulịch theo vùng
Trang 4Bảng 3.17: Giá trị VRi và TCi ở các vùng 63Bảng 3.18: Lợi ích giải trí của du khách từ các vùng đến Bạch Mã 64
Trang 5Hình 2.3: Biểu đồ lượng khách du lịch 37Hình 3.1: Đồ thị hàm cầu giải trí của VQG Bạch Mã 63
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, môi trường là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu củanhân loại Việc nhận thức về môi trường đối với sự phát triển kinh tế - xã hộicủa loài người ngày càng được nâng cao Khái niệm môi trường theo nghĩarộng bao gồm tất cả các yếu tố như không khí, nước, đất, ánh sáng, âm thanh,cảnh quan và các tài nguyên thiên nhiên cần thiết cho sinh sống và sản xuấtcủa con người Trong đó, chính con người cũng là yếu tố quan trọng tác độngtới quá trình vận động và phát triển của môi trường
Điều đó có nghĩa là môi trường và phát triển có mối quan hệ rất chặt chẽ,tác động qua lại lẫn nhau: bất kỳ một hoạt động kinh tế nào cũng phải dựa vàomôi trường và gây ra những tác động đến môi trường Ngược lại, bất kỳ một
sự biến đổi nào của hệ thống môi trường cũng đều gây ra những tác độngngược trở lại đối với việc phát triển kinh tế – xã hội
Môi trường có ba chức năng cơ bản đối với xã hội loài người: môi trường
là không gian sống và cung cấp những điều kiện hỗ trợ cuộc sống cho conngười; môi trường cung cấp các tài nguyên thiên nhiên cần thiết cho các hoạtđộng của con người; đồng thời môi trường cũng chứa đựng và hấp thụ chấtthải do con người tạo ra trong các hoạt động của mình
Rõ ràng, môi trường tự nhiên là một thành tố quan trọng của hệ thốngkinh tế và nếu không có môi trường tự nhiên thì hệ thống kinh tế sẽ không thểhoạt động và thực hiện được các chức năng của nó Do vậy, ta cần quan tâmđến môi trường tự nhiên như là một tài sản, một tài nguyên không thể thiếu
Từ trước đến nay, con người vẫn luôn coi môi trường là dạng “trời cho”hay “thiên nhiên ban tặng” nên người ta khai thác và sử dụng không tính toánđến những thiệt hại mà hoạt động khai thác gây ra cho môi trường Một trongnhững nguyên nhân của điều này là do hàng hoá môi trường không được địnhgiá trên thị trường
Trang 7Việt Nam là một nước có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa Vì vậy, mộttrong những nguồn tài nguyên quan trọng của Việt nam là rừng nhiệt đới, nómang lại cho chúng ta tổng giá trị kinh tế cao bao gồm cả giá trị sử dụng vàkhông sử dụng Đặc biệt, rừng còn cung cấp cho con người những giá trị cảnhquan cực kỳ phong phú và quý giá phục vụ cho phát triển du lịch sinh thái đápứng nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí ngày càng tăng của cộng đồng trong và ngoàinước Du lịch sinh thái đang ngày càng phát triển và được coi là một trongnhững biện pháp sử dụng rừng mà không cần khai thác nhưng đem lại giá trịkinh tế cao và đầy tiềm năng.
Tuy nhiên, không phải ai cũng nhận thức được điều này bởi giá trị giải trícủa rừng tự nhiên thường bị ẩn sau nhiều giá trị trực tiếp khác Do vậy nghiêncứu đánh giá giá trị cảnh quan du lịch của rừng tự nhiên là điều cần thiết, đặcbiệt là ở các nước đang phát triển, nơi rừng tự nhiên đang bị suy giảm nghiêmtrọng do chưa được đánh giá đúng mức Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm
rõ hơn giá trị của rừng trên khía cạnh cảnh quan du lịch làm cơ sở cho việcxây dựng các cơ chế quản lý sử dụng rừng hợp lý đúng với giá trị mà nómang lại
Vườn quốc gia Bạch Mã là khu vườn quốc gia nổi tiếng ở Việt Namcũng như trên thế giới với các mẫu động thực vật đặc hữu của Việt Nam cótrong sách Đỏ của thế giới Bạch Mã từ lâu đã nổi tiếng là một khu du lịchnghỉ mát cực kỳ lý tưởng vì tại đây có khí hậu rất mát mẻ của rừng, của núinon và những khu biệt thự, những đường mòn thiên nhiên, những nhà nghỉđạt tiêu chuẩn quốc tế Vì vậy, việc xác định giá trị thực của vườn là rất cầnthiết để khai thác hợp lý tiềm năng du lịch kết hợp với mục tiêu bảo tồn
Đó chính là lý do tôi lựa chọn đề tài:
“Áp dụng phương pháp chi phí du lịch để xác định giá trị chất lượng môi trường tại vườn quốc gia Bạch Mã, Thừa Thiên - Huế”.
Trang 82 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
2.1 Mục tiêu:
Qua phương pháp chi phí du lịch, nhằm xác định lợi ích từ hoạt động dulịch hàng năm VQG Bạch Mã đem lại cho cộng đồng, bên cạnh đó xác địnhgiá trị môi trường của nó để làm căn cứ cho trong việc quy hoạch phát triển,hướng tới phát triển bền vững
2.2 Nhiệm vụ
Tổng quan cơ sở lí luận về giá trị chất lượng môi trường và định giámôi trường, đặc biệt về phương pháp chi phí du lịch để áp dụng vào địabàn nghiên cứu
Khái quát thực trạng môi trường và hoạt động du lịch của vườn quốcgia Bạch Mã
Ứng dụng phương pháp chi phí du lịch nhằm tính toán ra giá trị cảnhquan cho VQG Bạch Mã
3 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian lãnh thổ: địa bàn nghiên cứu là VQG Bạch Mã.
Về thời gian nghiên cứu: điều tra, phỏng vấn khách du lịch vào tháng
6/2006, sử dụng số liệu thống kê về lượng khách du lịch đến Bạch
Mã từ năm 2000 đến nay
Về giới hạn khoa học: giá trị chất lượng môi trường tại VQG Bạch
Mã bao gồm cả giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng Tuy nhiên, đềtài chỉ nghiên cứu và tính toán giá trị cảnh quan tại vườn
4 Các phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập thông tin: tổng hợp tài liệu thứ cấp và phỏng
vấn trực tiếp
Phương pháp thực địa
Phương pháp điều tra xã hội học
Trang 9 Phương pháp chuyên gia
Phương pháp xử lí số liệu bằng các phần mềm Excel, Mfit 286
Phương pháp lượng giá giá trị cảnh quan: sử dụng phương pháp chi
phí du lịch theo vùng (Zonal travel cost method – ZTCM)
5 Cấu trúc của chuyên đề
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, chuyên đềđược trình bày trong ba chương:
Chương I: Sử dụng phương pháp chi phí du lịch cho đánh giá chất lượngmôi trường
Chương II: Tổng quan về VQG Bạch Mã
Chương III: Ứng dụng phương pháp chi phí du lịch để xác định giá trịcảnh quan tại VQG Bạch Mã
Trang 10PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP CHI PHÍ DU LỊCH CHO
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG 1.1 Chất lượng môi trường
1.1.1 Khái niệm
Chất lượng môi trường là sự cân bằng của tự nhiên, bao gồm động vật,thực vật, tài nguyên thiên nhiên và các vật thể do con người làm ra, phục vụcho sự tồn tại của nhân loại, sự sống còn của loài người và tự nhiên
Chất lượng môi trường là khả năng tương đối của một môi trường có thểthoả mãn nhu cầu và mong muốn của một cá nhân hay toàn xã hội
Trong nền kinh tế thị trường mọi quan hệ đều được tiền tệ hoá, đều đượccoi như là hàng hoá Và người ta cho rằng chất lượng môi trường cũng là mộtloại hàng hoá, được gọi là hàng hoá chất lượng môi trường Trong thực tế,loại hàng hoá này đã từng được sử dụng trong việc mua bán, trao đổi trên thịtrường dưới hình thức này hoặc hình thức khác Tuy nhiên, hầu hết các hànghoá môi trường vẫn không được tính giá hoặc chúng được định giá không hợp
lý Chất lượng của không khí chúng ta thở, của nước chúng ta uống, của sông
hồ mà chúng ta đến giải trí đều ảnh hưởng đến tình trạng sức khoẻ và tinhthần của chúng ta, nhưng chúng lại không có giá trên thị trường Vậy thì giátrị kinh tế của chất lượng môi trường là gì và được tính như thế nào?
1.1.2 Giá trị kinh tế của chất lượng môi trường: Tổng giá trị kinh tế
Khái niệm tổng giá trị kinh tế (Total Economic Value – TEV) ra đời vàonhững năm 1980, được xây dựng trên cơ sở nhìn nhận một cách toàn diện vềgiá trị hàng hoá môi trường mà sự nhìn nhận đó không chỉ bao gồm những giátrị trực tiếp có thể lượng hoá được mà còn cả những giá trị gián tiếp - nhữnggiá trị ẩn khó nhìn thấy nhưng lại rất có ý nghĩa về mặt kinh tế xã hội
Một khu rừng có thể đồng thời cung cấp gỗ cho những người tiều phu,các dịch vụ sinh thái cho cộng đồng địa phương, lọc nước cho các nhà máy
Trang 11thuỷ điện, các nguồn gen cho các công ty dược phẩm đa quốc gia và là nơihấp thụ carbon cho phát thải CO2 toàn cầu Như vậy, tổng của tất cả các loạigiá trị liên quan đến một tài nguyên thì được gọi là tổng giá trị kinh tế (TEV).Các nhà khoa học đã phân tích TEV theo nhiều cách khác nhau Callan(2000) cho rằng:
Tổng giá trị = Giá trị sử dụng + Giá trị tồn tại
(trực tiếp và gián tiếp) (tiêu dùng của người khác và giữ gìn cho thế hệ tương lai)Theo Tom Tietenberg: TEV = UV + OV + NUV
Trong đó: UV là giá trị sử dụng
OV là giá trị tuỳ chọn
NUV là giá trị không sử dụng
Như vậy, các nhà kinh tế học môi trường đã làm được rất nhiều khi phânloại giá trị kinh tế trong mối quan hệ của chúng với môi trường thiên nhiên.Tuy vấn đề thuật ngữ vẫn chưa được thống nhất hoàn toàn, nhưng nhìn chung
họ đều dựa trên cơ sở sự tương tác giữa con người (người định ra giá trị) vàmôi trường (vật được đánh giá) Theo nguyên tắc, để đo lường TEV các nhàkinh tế học bắt đầu bằng việc phân biệt giữa giá trị sử dụng và giá trị không
sử dụng, và TEV đã được khái quát hoá bằng công thức sau:
TEV = UV + NUV = (DUV + IUV + OV) + (BV + EXV)
Trang 12- UV (Use values) là giá trị sử dụng.
- DUV (Direct use values) là giá trị sử dụng trực tiếp
- IUV (Indirect use values) là giá trị sử dụng gián tiếp
- OV (Option values) là giá trị tuỳ chọn
- NUV (Nonuse values) là giá trị không sử dụng
- BV (Bequest values) là giá trị tuỳ thuộc hay giá trị để lại
- EXV (Existence values) là giá trị tồn tại
Sự phân biệt đầu tiên và quan trọng nhất đó là giữa giá trị sử dụng và giátrị không sử dụng
Giá trị sử dụng là những giá trị bắt nguồn từ lợi ích của xã hội do sử
dụng hoặc có tiềm năng sử dụng một tài nguyên môi trường nhất định hay cácdịch vụ của nó Nói cách khác, giá trị sử dụng được hình thành từ việc thực sự
sử dụng môi trường Trên thực tế, nó bao gồm:
Giá trị sử dụng trực tiếp là các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ trực tiếp
cung cấp mà chúng ta có thể tính được về giá cả và khối lượng trên thịtrường Một cá nhân có thể trực tiếp thưởng thức nguồn tài nguyên bằng cáchtiêu dùng nó (ví dụ: chặt gỗ để đốt hay câu cá để tồn tại ) hoặc bằng cáchtăng lợi ích từ bản thân thị trường tài nguyên (ví dụ: giá trị cảnh quan của mộtcông viên)
Giá trị sử dụng gián tiếp là những giá trị chủ yếu dựa trên chức năng của
hệ sinh thái, có ý nghĩa về mặt sinh thái và môi trường, hay nói cách khác đây
là các chức năng môi trường cơ bản gián tiếp hỗ trợ cho hoạt động kinh tế và
và lợi ích của mọi người Ví dụ: một khu rừng bảo vệ lưu vực sông hay tầngôzone bảo vệ Trái đất khỏi tia cực tím Tuy nhiên, sự khác nhau giữa giá trị sửdụng trực tiếp và gián tiếp không phải lúc nào cũng rõ ràng
Giá trị tuỳ chọn là lượng mà mỗi cá nhân sẵn sàng chi trả để bảo tồn
nguồn lực hoặc một phần sử dụng nguồn lực đó, để sử dụng cho tương lai.Đây là giá trị do nhận thức, lựa chọn của con người đặt ra trong hệ sinh thái
Trang 13Giá trị này không có tính thống nhất chung và cũng phải được tính về mặt tiền
tệ theo tính chất lựa chọn của nó Ví dụ, bảo tồn một khu vực tự nhiên là mộtlựa chọn, cho chúng ta khả năng biến đổi khu vực đó trong tương lai hoặc giữlại nó, dựa vào những thông tin được thu thập về giá trị tương đối của khuvực tự nhiên
Giá trị không sử dụng thể hiện các giá trị phi phương tiện nằm trong bản
chất của sự vật, không liên quan đến việc sử dụng thực tế hoặc thậm chí việclựa chọn sự vật này Tuy nhiên, thay vào đó, những giá trị này thường liênquan nhiều về lợi ích của con người Giá trị không sử dụng bao gồm:
Giá trị tuỳ thuộc (giá trị để lại) phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong một
hàm nhiều biến và có thể có sự thay đổi trên cơ sở phát hiện của khoa họccũng như nhận thức của con người Một số người biệt hoá giá trị tuỳ thuộc làgiá trị của việc để lại các giá trị sử dụng và phi sử dụng cho con cháu Nhữngngười khác đưa cả giá trị tuỳ chọn và giá trị tồn tại vào trong dạng giá trị này
Giá trị tồn tại xuất phát từ nhận thức của con người về tài nguyên và môi
trường mà người ta cho rằng sự tồn tại của một cá thể hay một giống loài nào
đó có ý nghĩa về mặt kinh tế không chỉ trước mắt mà kể cả lâu dài buộc người
ta phải duy trì giống loài đó bằng mọi giá Trong việc tính toán giá trị này thìviệc xác lập tiền tệ là khó khăn nhưng sự xác lập nhận thức về mặt giá trị rất
dễ dàng
Dưới đây là một ví dụ về tổng giá trị kinh tế của một khu rừng nhiệt đới,
từ đó giúp chúng ta hình dung rõ hơn về các hợp phần của TEV
Rừng nhiệt đới: + Giá trị sử dụng trực tiếp là gỗ, củi, hoa quả và du lịch
sinh thái
+ Giá trị sử dụng gián tiếp là các dịch vụ của hệ sinh
thái, ngắm chim, bảo vệ đất, hấp thụ carbon
+ Giá trị tuỳ chọn là các dược phẩm.
Trang 14+ Giá trị tồn tại là thưởng thức mà không cần quan tâm
đến các chức năng của rừng
+ Giá trị tuỳ thuộc lợi ích từ gỗ và giải trí để lại cho thế
hệ sau
Như vậy, trong giá trị của một hệ sinh thái ngoài những giá trị trực tiếp
và giá trị gián tiếp có thể nhìn thấy thì đối với giá trị tuỳ chọn, giá trị tuỳthuộc và giá trị tồn tại đòi hỏi chúng ta phải có những cách nhìn nhận hết sứcnhạy cảm và linh hoạt, phụ thuộc vào ý nghĩa của những giá trị này đối vớicon người, đối với hoạt động kinh tế Đó là lý do các nhà kinh tế học môitrường không ngừng hoàn thiện về phương pháp luận và phương pháp tiếpcận để nhìn một cách toàn diện TEV của một khu rừng, một hệ sinh thái Từ
đó tư vấn chính xác cho các nhà hoạch định chính sách phương án sử dụnghợp lý
1.2 Vấn đề định giá môi trường
1.2.1 Sự cần thiết phải định giá môi trường
Định giá môi trường là việc sử dụng các công cụ kỹ thuật nhằm lượnghoá giá trị bằng tiền của các hàng hoá chất lượng môi trường để làm cơ sởcho việc hoạch định các chính sách về khai thác, sử dụng và quản lý các hànghoá môi trường
Chúng ta nên định giá môi trường vì:
Thứ nhất, chất lượng môi trường thoả mãn vô số nhu cầu của con người
như: cung cấp không gian sống và các điều kiện sống, cung cấp tài nguyênthiên nhiên cho các quá trình sản xuất, chứa đựng và hấp thụ chất thải từ quátrình sản xuất và tiêu dùng của con người Đồng thời, việc phục hồi chấtlượng môi trường là do lao động sản xuất của con người (hay hao phí laođộng xã hội) Điều đó có nghĩa là chất lượng môi trường thoả mãn hai thuộctính của hàng hoá là giá trị và giá trị sử dụng Vì chất lượng môi trường làhàng hoá nên chúng ta cần định giá nó, tránh gây thất bại thị trường
Trang 15Thứ hai, trong quá khứ người ta cho rằng tài nguyên và môi trường là
dạng “trời cho” hay “thiên nhiên ban tặng” nên người ta khai thác và sử dụngkhông tính toán và cũng không tính đến những thiệt hại mà hoạt động khaithác gây ra cho môi trường Việc định giá môi trường là một cách nhắc nhởcon người quan tâm và bảo vệ môi trường Đồng thời, qua định giá cũng đođược tốc độ sử dụng hết các nguồn tài nguyên môi trường và báo hiệu chocon người rằng mức độ khan hiếm ngày càng tăng lên
Thứ ba, khi định giá được môi trường cũng như những thiệt hại một hoạt
động kinh tế gây ra cho môi trường sẽ góp phần tạo công bằng trong việc raquyết định Định giá góp phần thực hiện được nguyên tắc “người gây ô nhiễmtrả tiền” tức là qua định giá môi trường chúng ta sẽ xác định được đối tượnggây ô nhiễm “phải trả bao nhiêu”
Thứ tư, khi môi trường đã được định giá tức là các giá trị của nó bao gồm
cả giá trị sử dụng và giá trị không sử dụng sẽ được lượng hoá, từ đó sẽ có tínhthuyết phục cao hơn trong việc giáo dục nâng cao nhận thức của người dâncũng như có thể chỉ dẫn quá trình thực hiện về mặt kinh tế đúng đắn hơn
Thứ năm, nếu tiến hành lượng hoá một cách cẩn thận thì sẽ tạo ra được
một cơ sở chính sách an toàn và hợp lý, qua đó có phương cách sử dụng môitrường cẩn thận hơn
Như vậy, việc định giá môi trường là hoàn toàn cần thiết và hữu ích Vậyngười ta sẽ định giá môi trường bằng cách nào? Sau đây là một số phươngpháp được áp dụng khá phổ biến
1.2.2 Phương pháp định giá môi trường
Để đánh giá hàng hoá môi trường (hay là TEV) thì quan điểm chung tiếpcận của thế giới cơ bản có hai nhóm phương pháp đánh giá Đó là: cácphương pháp sử dụng đường cầu và các phương pháp không sử dụng đườngcầu
Trang 161.2.2.1 Các phương pháp không sử dụng đường cầu
Là các phương pháp trực tiếp hay gián tiếp khi đánh giá chất lượng môitrường người ta xác định giá trị trên cơ sở các kỹ thuật đánh giá mà không lậphàm cầu (hàm lợi ích) Đây là những phương pháp không thể lập được hàmcầu, do đó không đo lường được phúc lợi thực tế nhưng thông tin lại rất hữuích cho các nhà hoạch định chính sách
Các phương pháp không sử dụng đường cầu bao gồm:
Phương pháp đáp ứng liều lượng
Phương pháp chi phí thay thế
Phương pháp chi phí cơ hội
1.2.2.2 Các phương pháp sử dụng đường cầu
Là các phương pháp được sử dụng trên cơ sở xây dựng đường cầu đểđánh giá giá trị hàng hoá môi trường Khi đánh giá chất lượng hàng hoá môitrường ở một khu vực nào đó người ta phải xác lập cho được hàm cầu mà dựatrên nguyên lý kinh tế trong mối quan hệ giữa chất lượng môi trường và giá
cả Đây là những phương pháp dùng để đo lường phúc lợi
Hình 1.2: Đồ thị hàm cầu giá trị môi trường
Các phương pháp sử dụng đường cầu bao gồm:
Phương pháp chi phí du lịch (TCM: travel cost method)
Trang 17 Phương pháp đánh giá theo hưởng thụ (HPM: Hedomic pricingmethod)
Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM: Contigent valuationmethod)
Trong Kinh tế môi trường: Hướng dẫn thực hành lại chia ra thành 5 cách
tiếp cận cơ bản với hàng hoá chất lượng môi trường, đó là:
Đánh giá theo giá thị trường (market price – based): được ứng
dụng khi dịch vụ hàng hoá môi trường cần thẩm định có thể chuyểnđược sang thị trường của hàng hoá thông thường, chẳng hạn cácnguồn tài nguyên có thể khai thác được như gỗ, khoáng sản vànhững động vật quí hiếm Bao gồm: phương pháp tiếp cận phần cònlại – đánh giá giá trị tô kinh tế và định giá mờ
Định giá bằng thị trường ẩn hoặc thị trường thay thế (surrogate market – based): được sử dụng khi hàng hóa và dịch vụ môi trường
không có trên thị trường thông thường Ở đây giá trị của nó có thểsuy ra từ việc quan sát tác động của nó trong thị trường liên quan.Những kỹ thuật hay dùng là phương pháp đánh giá theo hưởng thụ(HPM), phương pháp chi phí du lịch (TCM) và tiếp cân thay đổinăng suất (CoP)
Xây dựng thị trường giả định (hypothetical market – based): Một
số hàng hoá và dịch vụ môi trường không hề tồn tại giá trị trên thịtrường, và cũng không có thị trường thay thế Vì thế trong trườnghợp này, ta cần xây dựng một thị trường giả định Kĩ thuật thôngdụng nhất là phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM)
Đánh giá dựa vào chi phí (cost – based): dựa trên nguồn thông
tin liên quan đến chi phí ẩn hoặc hiện của các dịch vụ môi trường cóđược nhờ quan sát trực tiếp hành vi của cá nhân trên thị trường.Hàng hoá chất lượng môi trường sẽ được phản ánh dựa trên sự biểu
Trang 18hiện của “Giá” Kỹ thuật đánh giá này khá hữu hiệu, nó đã khắc phụcđược các khó khăn trong việc đo lường giá trị môi trường Có haihình thức tiếp cận chi phí chính, đó là dựa vào chi phí phòng ngừa vàchi phí thay thế.
Chuyển giao lợi ích (benefit transfer): cho phép chuyển những
ước tính hiện hành của giá trị môi trường từ nơi này sang nơi khác(cụ thể ở đây là từ nơi nghiên cứu sang nơi hoạch định chính sách).Phương pháp này được sử dụng khi không đủ thời gian, nguồn vốnhoặc thiếu thông tin, không thể thực hiện các cách đánh giá lợi íchkhác bằng dữ liệu sơ cấp
1.3 Phương pháp chi phí du lịch (Travel Cost Method – TCM)
1.3.1 Khái niệm
Phương pháp chi phí du lịch là phương pháp về sự lựa chọn ngầm có thểdùng để ước lượng đường cầu đối với các nơi vui chơi giải trí và từ đó đánhgiá giá trị cho các cảnh quan này Giả thiết cơ bản của TCM rất đơn giản, đó
là chi phí phải tốn để tham quan một nơi nào đó phần nào phản ánh được giátrị giải trí của nơi đó
Phương pháp này được sử dụng hữu ích trong việc đánh giá chất lượngcủa các khu vực thiên nhiên cung cấp giải trí, nơi mà mọi người thường lui tới
để tổ chức các hoạt động giải trí như picnic, đi dạo Thực chất những nơi cóchất lượng môi trường tốt là những nơi người ta phát triển du lịch và có nhiềukhách tham quan nghỉ ngơi Do đó, nếu căn cứ vào chi tiêu của khách đếnnghỉ ngơi ở vị trí du lịch thì có nghĩa là chất lượng môi trường tỷ lệ thuận vớichi phí của du khách Nếu xét về cầu thì:
Nhu cầu về giải trí = Nhu cầu về khu vực tự nhiênBản chất của phương pháp chi phí du lịch là sử dụng các chi phí củakhách du lịch làm đại diện cho giá Mặc dù chúng ta không quan sát được conngười mua chất lượng hàng hoá môi trường nhưng chúng ta lại quan sát được
Trang 19cách họ đi du lịch để hưởng thụ tài nguyên môi trường Đi du lịch là tốn tiền
và cũng tốn thời gian Các chi phí du lịch này có thể làm đại diện cho cái giá
mà con người phải trả để hưởng thụ được cảnh quan môi trường Có thể sửdụng phương pháp chi phí du lịch để xây dựng đường cầu cho các cảnh quanmôi trường này Bằng cách thu thập số lượng lớn số liệu chi phí du lịch vàmột số yếu tố khác có liên quan (thu nhập, số lần đến thăm…), chúng ta cóthể ước lượng giá sẵn lòng trả tổng cộng cho những cảnh quan môi trường cụthể
1.3.2 Các cách tiếp cận của phương pháp chi phí du lịch
Trong số các mô hình chi phí du lịch thì chi phí du lịch theo vùng(ZTCM) và chi phí du lịch theo cá nhân (ITCM) là 2 cách tiếp cận phổ biến
và đơn giản nhất của phương pháp chi phí du lịch
1.3.2.1 Cách tiếp cận phương pháp chi phí du lịch theo cá nhân (Individual Travel Cost Method – ITCM)
Cách tiếp cận này xác định mối quan hệ giữa số lần đến điểm du lịchhàng năm của một cá nhân với chi phí du lịch mà cá nhân đó phải bỏ ra
Vi = f(TCi, Si)Trong đó : Vi là số lần đến điểm du lịch của cá nhân i trong 1 năm
TCi là chi phí du lịch của cá nhân i
Si là các nhân tố khác có ảnh hưởng đến cầu du lịch của cánhân, ví dụ như: thu nhập, chi phí thay thế, tuổi, giới tính,tình trạng hôn nhân, và trình độ học vấn
Đơn vị quan sát của ITCM là các cá nhân đến thăm điểm du lịch, giá trịgiải trí của mỗi cá nhân là diện tích phía dưới đường cầu của họ Vì vậy, tổnggiá trị giải trí của khu du lịch sẽ được tính bằng cách tổng hợp các đường cầu
cá nhân
Theo Georgiou et al, 1997, "ITCM yêu cầu phải có sự dao động trong sốlần đến địa điểm du lịch của một cá nhân hàng năm để ước lượng ra hàm
Trang 20cầu" Vì vậy, cách tiếp cận ITCM sẽ gặp phải khó khăn khi sự dao động làquá nhỏ hoặc khi các cá nhân không đến điểm du lịch một vài lần trong năm.
Do đó, nếu mọi khách du lịch chỉ đến địa điểm du lịch 1 lần trong năm thì khó
có thể chạy hàm hồi quy
Cách tiếp cận phương pháp chi phí du lịch theo cá nhân chỉ phù hợp chocác khu du lịch mà du khách đến nhiều lần trong năm như công viên hayvườn bách thảo
1.3.2.2 Cách tiếp cận phương pháp chi phí du lịch theo vùng (Zonal Travel Cost Method – ITCM)
Cách tiếp cận này xác định mối quan hệ giữa tỷ lệ tham quan của vùngxuất phát tới vị trí nghiên cứu với tổng chi phí du lịch của vùng xuất phát
Vi = V(TCi, POPi, Si)Trong đó : Vi là số lần viếng thăm từ vùng i tới điểm du lịch
POPi là dân số của vùng i
Si là các biến kinh tế xã hội ví dụ như thu nhập trung bình củamỗi vùng
Thông thường biến phụ thuộc được biểu hiện dưới dạng (Vi/POPi) hay tỉ
lệ số lần tham quan trên 1000 dân – VR
Áp dụng ZTCM thì diện tích xung quanh điểm du lịch sẽ được chiathành các vùng với khoảng cách khác nhau tới điểm du lịch, vì vậy đơn vịquan sát của ZTCM là các vùng Những hạn chế nói trên của ITCM lại đượckhắc phục khi sử dụng ZTCM ZTCM sử dụng tỷ lệ số lần viếng thăm củamỗi vùng tới điểm du lịch (VR) là hàm của chi phí du lịch, bởi vậy số lần một
cá nhân đến điểm du lịch không ảnh hưởng đến hàm
Tuy nhiên, ZTCM cũng có những hạn chế riêng của nó Theo Georgiou
et al 1997, "Mô hình chi phí du lịch theo vùng thống kê không hiệu quả bởi
nó tổng hợp dữ liệu từ số lượng lớn các cá nhân thành 1 vài vùng quan sát.Thêm vào đó, mô hình chi phí du lịch theo vùng coi tất cả các cá nhân đến từ
Trang 21một vùng có các chi phí du lịch như nhau trong khi điều này không phải lúcnào cũng đúng".
Tuy nhiên, mô hình chi phí du lịch theo vùng ZTCM vẫn được áp dụngrộng rãi ở Việt Nam và cũng được áp dụng để tính giá trị cảnh quan của VQGBạch Mã Ở chương 2, lý do áp dụng ZTCM trong đề tài sẽ được giải thíchrõ
1.3.3 Các bước thực hiện phương pháp chi phí du lịch
Trong phần này sẽ nêu các bước thực hiện phương pháp chi phí du lịchtheo vùng
Họ tới từ đâu (thành phố nào, nước nào)
Số khách trên một phương tiện chuyên chở tới
Phương tiện chuyên chở (ô tô, máy bay, xe máy…)
Thời gian đi đến và ở tại địa điểm
Tần suất du lịch, thời gian của chuyến đi
Trang 22Ngoài ra, ta cũng phải thu thập thông tin về số lượng khách du lịch từmỗi vùng và số lần thăm khu du lịch vào năm trước Ở tình huống giả thuyếtnày, giả định rằng cán bộ ở khu du lịch giữ những ghi chép về số lượng khách
du lịch và nơi đến của họ, những dữ liệu được sử dụng để tính tổng số lầnthăm khu du lịch ở mỗi vùng trong năm trước
Thứ nhất là về chi phí của chuyến đi: chi phí toàn bộ của chuyến
đi sẽ được tính như sau:
P = e + f + ac + OC + ctTrong đó: e (entrance fee) là vé vào cổng
f (food and drink) là chi phí ăn uống
ac (accomodation) là chi phí nghỉ ngơi
OC là chi phí thời gian
ct (cost of transport) là chi phí phương tiện giao thôngNhư vậy, chi phí của toàn bộ chuyến đi bao gồm: vé vào cổng, chiphí nghỉ ngơi, chi phí ăn uống, chi phí cơ hội trên đường đi và trongthời gian lưu lại khu giải trí, chi phí phương tiện giao thông
Trang 23 Thứ hai là tính tỷ lệ thăm trên 1000 dân ở mỗi vùng Nó đơngiản chỉ là tổng lượt thăm mỗi năm từ mỗi vùng chia cho dân số củavùng với đơn vị nghìn.
Bước 5:
Xem xét mối quan hệ giữa chi phí của chuyến đi và số lần đi tới vị tríđánh giá của các nhóm thông qua các số liệu điều tra, tính toán ở trên
Vi = V(TCi, POPi, Si)Hay: VRi = V(TCi, Si)Toàn bộ vùng sẽ có nhu cầu là:
niVRi = niV(TCi, Si)Trong đó: ni là số người ở vùng i đến thăm quan
Mối quan hệ giữa chi phí đi lại và số lần đi lại được coi là thể hiện nhucầu giải trí Có nghĩa là chúng ta giả định rằng chi phí đi lại thể hiện giá trịgiải trí và số lần đi lại thể hiện lượng giải trí
Hình 1.3: Đồ thị hàm cầu về giải trí trong TCM
Tuy nhiên, để phương pháp chi phí du lịch có thể áp dụng được, một sốgiả thiết sau phải được thoả mãn:
Chi phí đi lại và giá vé vào cổng có ảnh hưởng như nhau tớihành vi, nghĩa là các cá nhân nhận thức và phản ứng về sự thay đổi
Vùng dưới đường cầu = lợi ích của giải trí
= lợi ích của khu vực tự nhiên (theo giả định)
Số lần đến Chi phí đi lại
Đường cầu về giải trí
Trang 24trong chi phí đi lại theo cùng một kiểu đối với những thay đổi trong giá
vé vào cổng Điều này có ý nghĩa quan trọng để xác định tổng chi phímột cách chính xác
Từng chuyến đi tới điểm giải trí chỉ nhằm mục đích thăm riêngđiểm đó Nếu giả thiết này bị vi phạm, tức là chi phí đi lại sẽ bị tínhchung giữa nhiều nơi tham quan, thì rất khó có thể phân bổ chi phí mộtcách chính xác giữa các mục đích khác nhau
Toàn bộ các lần viếng thăm đều có thời gian lưu lại giống nhau,
có như vậy thì ta mới đánh giá được lợi ích của điểm giải trí thông qua
số lần viếng thăm
Không có tiện ích hoặc bất tiện nào khác trong thời gian dichuyển tới điểm giải trí để đảm bảo chi phí đi lại không bị tính vượtquá mức
1.3.4 Ưu điểm
Đây là phương pháp dễ được chấp nhận về mặt lý thuyết cũng như thựctiễn vì việc đánh giá môi trường thông qua hưởng thụ là hoàn toàn chính xác.Xem xét trên góc độ kinh tế, phương pháp chi phí du lịch cho chúng tamột cách nhìn nhận tương đối dễ hiểu, dễ tiếp cận
Nếu công việc điều tra, phỏng vấn khách quan và đúng quy trình thì kếtquả mang lại phục vụ tốt cho công tác chính sách
1.3.5 Hạn chế
Trong thực tế có thể xảy ra trường hợp có những du khách cho rằng vị tríđánh giá rất có ý nghĩa với họ Do vậy, thay vì thường xuyên đến họ mua luônnhà gần vị trí đó để ở Trong trường hợp đó việc xác lập cự ly phải được xemxét và tính toán lại
Cũng có trường hợp khi chúng ta điều tra gặp phải những đối tượngkhông phải bỏ chi phí (thường xảy ra ở những vị trí gần với địa bàn cư trú)
Trang 25nhưng lại đánh giá rất cao chất lượng môi trường ở đó Như vậy, không thểđịnh giá môi trường bằng phương pháp chi phí du lịch mà phải sử dụngphương pháp khác.
Ngoài ra, khi sử dụng phương pháp này chúng ta còn gặp phải một số trởngại khác như: sự trả lời không chính xác theo mẫu hoặc những vấn đề liênquan đến lợi ích của những người không sử dụng trực tiếp… Trong trườnghợp đó đòi hỏi người đánh giá phải có những cách xử lý về mặt kỹ thuật phùhợp
Tóm lại, đo lường sự thay đổi chất lượng môi trường là công việc khó
khăn Cái mà người ta muốn đo lường là giá trị thay đổi chất lượng môitrường tại một địa điểm Phương pháp chi phí du lịch chỉ đại diện cho giá sẵnlòng chi trả cho một mức chất lượng môi trường Với những khó khăn này,TCM được sử dụng hạn chế trong phân tích chi phí lợi ích Tuy nhiên, nó lạirất hữu dụng trong việc tính giá trị kinh tế của một khu rừng, vườn quốc giahay hệ sinh thái
Trang 26CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ VƯỜN QUỐC GIA BẠCH MÃ,
THỪA THIÊN - HUẾ 2.1 Đặc điểm chung của VQG Bạch Mã, Thừa Thiên - Huế
Hình 2.1: Vị trí địa lý VQG Bạch Mã
Vườn Quốc Gia Bạch Mã nằm ở miền Trung của Việt Nam, cách thủ đô
Hà Nội 680 km, thành phố Huế 40 km và thành phố Đà Nẵng 65 km TheoQuyết Định 214/CT-HĐBT, VQG Bạch Mã được thành lập năm 1991 với
Trang 27diện tích 22.031 ha nhằm bảo vệ và phát triển các mẫu chuẩn động thực vật
và các hệ sinh thái thuộc vùng chuyển tiếp khí hậu giữa miền Bắc và NamViệt Nam Là phần cuối của dãy Trường Sơn Bắc và trung tâm của dải rừngxanh tự nhiên còn lại duy nhất của Việt Nam kéo dài từ biển Đông đến biêngiới Việt Lào, VQG Bạch Mã có một vị trí hết sức quan trọng trong việc bảotồn hệ sinh thái rừng nhiệt đới rất giàu và đẹp nơi đây VQG Bạch Mã đượccông nhận là một trong những trung tâm đa dạng sinh học của khu vực ĐôngDương
Đỉnh cao nhất của Vườn là đỉnh Bạch Mã với độ cao 1450 m so với mựcnước biển và chỉ cách bờ biển 18 km Từ những năm 30, khu vực Bạch Mã đãnổi tiếng là một khu nghỉ mát lý tưởng để tránh cái nóng bức của khu vựcđồng bằng lân cận vào các tháng hè Hiện nay, VQG Bạch Mã đã và đangphục hồi một số biệt thự cũ, đường mòn sinh thái và các cơ sở hạ tầng khácnhằm phục vụ việc tham quan, nghiên cứu và nghĩ dưỡng của quý khách gần
xa Đây thực sự là một nguồn tài nguyên thiên nhiên vô giá mà thiên nhiên đãban tặng cho thế hệ hôm nay và mai sau
2.1.1.2 Địa hình và thổ nhưỡng
Về địa hình, Bạch Mã là phần cuối của dãy Trường Sơn Bắc, có nhiềudãy núi cao chia cắt và thấp dần ra biển Núi ở đây có nhiều đỉnh cao thườngđược gọi là động như động Truồi, cao 1154m, động Nôm cao 1186m, động
Trang 28Đlip cao 1200m và cao nhất là động Bạch Mã cao 1450m Độ dốc bình quântoàn khu vực là 25, những nơi dốc biến động từ 45 đến 60.
Hình 2.2: Bản đồ VQG Bạch Mã
Về địa chất, thổ nhưỡng, hầu hết toàn bộ núi Bạch Mã nền địa chất cơbản là đá granit thuộc nguyên đại đệ nhất Đất Feralit vàng đến vàng đỏ pháttriển từ đá granit Tầng đất từ mỏng đến trung bình, riêng ở đai cao trên900m, do nhiệt độ thấp, quá trình phân huỷ thấp nên tầng thảm mục dày hơn
Trang 292.1.1.3 Khí hậu, thuỷ văn
Do có địa hình là đồi núi xen kẽ với đồng bằng và vị trí nằm sát biển nêncác tiểu vùng ở Bạch Mã mặc dù nằm sát nhau nhưng lại có sự khác biệt nhau
về khí hậu Tuy nhiên toàn vùng có thể phân thành hai mùa rõ rệt:
Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 2 với lượng mưa trung bình
3000 mm, có khi lên đến 8000 mm Nhiệt độ trung bình dưới 200C và
độ ẩm trung bình là 90%
Mùa khô bắt đầu từ tháng 3 đến tháng 8 với nhiệt độ trung bình là
250C và độ ẩm từ 70% - 80% Độ ẩm ở đỉnh núi Bạch Mã thường rấtlớn nên làm tăng thêm cảm giác mát lạnh cho du khách tham quan.Một điều thú vị là nhiệt độ tối thiểu tại khu nghỉ mát Bạch Mã khôngxuống quá 40C vào mùa đông và không vượt quá 260C vào mùa hè Vào cácbuổi chiều thường có mưa dông và mây mù đậu trên các đỉnh núi cao
Cũng do nằm trong khu vực có lượng mưa lớn, rừng còn tương đốinguyên vẹn nên nguồn nước ở Bạch Mã khá dồi dào, ở độ cao trên 900 mcũng có rất nhiều suối và thác có nước chảy quanh năm Tuy nhiên tại độ caonày, do nhiệt độ thấp nên nước rất lạnh, chỉ có thể tắm vào buổi sáng trongkhoảng từ 10 – 12 giờ Đây cũng là nơi điều hoà nguồn nước cho các consông lớn trong vùng như sông Truồi, sông Cuđê và nhất là sông Tả Trạch làđầu nguồn của dòng sông Hương xứ Huế thơ mộng
2.1.1.4 Thực vật
Tài nguyên rừng ở Bạch Mã được bao phủ bởi 2 kiểu rừng chính:
- Rừng kín thường xanh mưa mùa á nhiệt đới ở đai cao trên 900m
Rừng chỉ còn ở 2 trạng thái là rừng nghèo và rừng non phục hồi, trữlượng bình quân 100m3/ha Tầng cây gỗ cao từ 18-25m Tán cây khôngliên tục nên độ cho phủ biến động từ 0,2-0,6 Những họ cây gỗ cónhiều cá thể nhất là họ Kim giao (Podocarceae), đáng chú ý là tùng
Trang 30bạch mã hay còn gọi là Hoàng đàn giả Chúng tạo thành những quần tụchiếm ưu thế mọc quanh đỉnh Bạch Mã Tiếp đến là cây họ chè, họ dẻ.
- Rừng lá kim thường xanh mưa mùa nhiệt đới ở đai thấp dưới 900m
Tổ thành chủ yếu là các cây thuộc họ Dầu, họ Đậu, họ Bồ hòn, họTrôm, họ Bứa, họ Sim, họ Xoài, họ Long não
Kiểu rừng này được phân thành 4 trạng thái rõ rệt là rừng giàu, rừngtrung bình, rừng nghèo và rừng non Đặc biệt diện tích rừng giàu chiếmtrên 2700 ha thuộc đối tượng rừng ít hoặc chưa bị tác động, loại nàyđược phân bố tập trung xung quanh các đỉnh núi: động Bạch Mã, độngNôm, động Kijao, động Truồi,… Rừng ở đây được chia thành 5 tầng rõrệt: Tầng nhô cao 35-40m do một số cá thể của cây họ Dầu, họ Trámtạo thành; tầng ưu thế sinh thái có tán liên tục, cao 18-30m do nhiềucây hình thành như chò chai, ươi, trâm, re, kiền kiền, huỳnh,… trong
đó, chò chai chiếm ưu thế Tầng dưới tán đại đa số là cây non của tầngtrên và các loài thuộc họ thị, họ na, họ thầu dầu… Nhìn chung, thực vật
ở trạng thái rừng giàu khá phong phú, các cây họ Dầu chiếm đến 24% về diện tích ngang, trữ lượng bình quân đạt trên 400m3/ha Riêngtrạng thái rừng trung bình, rừng nghèo, rừng non do tác động của dân
21-cư, chiến tranh hoặc do tập quán canh tác của một số đồng bào dân tộcthiểu số Pa-cô, Kà-tu, tình hình rừng tuỳ thuộc vào mức độ tác động mà
tổ thành loài cây và kết cấu tầng tán có khác nhau rõ rệt
Hệ thực vật:
VQG Bạch Mã có hệ thực vật rất phong phú và đa dạng Những kết quảnghiên cứu cho thấy thực vật ở Bạch Mã bao gồm 2.147 loài chiếmkhoảng 1/5 tổng số loài thực vật ở Việt Nam Trong số này có 86 loàiđược liệt kê vào sách đỏ Việt Nam có nguy cơ bị tuyệt chủng Có trên
500 loài có tiềm năng thương mại và được sử dụng làm cây thuốc
Bạch Mã có ít nhất 3 loài cây mang tên của mình: Piper
Trang 31bachmariaefolia, cissus bachmaensis (Chìa vôi Bạch Mã) và elaeocarpus bachmaensis (Côm Bạch Mã).
Tại khu vực đỉnh có một vài loài thực vật hạt trần hiếm thuộc họ kim
giao như Hoàng đàn giả, podocarpus neriifolius va podocarpus fleuryi.
Vào tháng 2, có rất nhiều hoa Đỗ Quyên dọc theo các con suối nhỏ vàđặc biệt là dưới chân thác Đỗ Quyên
Các khu rừng còn chứa các loài cây lá rộng có giá trị như các loài thuộc
họ Dipterocarpaceae, gỗ hồng mộc và trầm hương Ở trên núi cao, các
loài cây gỗ sồi và hạt dẻ là rất phổ biến Các khu rừng ở đây giàu vềcác loài thuộc họ cau dừa như mây và cọ đuôi cá, cũng như các loàidương xỉ và các loài lan Do ảnh hưởng của việc rải chất độc diệt cỏ vàbom đạn trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam, rừng nguyên sinh ởmột số vùng của Vườn Quốc Gia đã bị ảnh hưởng đáng kể
Về thực vật quý hiếm, đặc hữu, kết quả điều tra cho thấy ở VQG Bạch
Mã có hơn 30 loài thực vật có nguy cơ tuyệt chủng đã được đưa vàosách đỏ của Việt Nam Nhiều loài cây thuốc có giá trị cũng có nguy cơtuyệt chủng cần phải bảo vệ như: Vàng đắng, Hoàng tinh trắng, Kimtuyến Sa pa, Kim tuyến… Nhiều loài hoa đẹp có giá trị như các loàiphong lan, địa lan, loài hoa Đỗ Quyên… và các loài cây gỗ quý hiếmkhác như trầm hương, trắc… Bên cạnh đó cũng có các loài cây có giátrị về khoa học như: dương xỉ thân gỗ, đỉnh tùng hay các loài đặc hữunhư: Côm Bạch Mã, Chìa vôi Bạch Mã
2.1.1.5 Động vật
Khu hệ động vật ở đây cũng rất phong phú với nhiều loài đặc hữu và quíhiếm Cho đến nay các nhà khoa học đã ghi nhận được 1.493 loài động vậtbao gồm: 132 loài thú (chiếm 1/2 số loài thú ở Việt Nam), 358 loài chim, 31loài bò sát, 21 loài ếch nhái, 57 loài cá, 894 loài côn trùng đang có mặt trong
Trang 32Vườn Trong tổng số các loài hiện thống kê được, đã có đến 68 loài được ghivào sách Đỏ Việt Nam, là những loài cần phải bảo vệ nghiêm ngặt.
Đặc biệt, có những loài thú mới cũng được tìm thấy ở đây như Sao la
(Pseudoryx nghetinhensis), Mang Trường Sơn (Muntiacus truongsonensis) và Mang lớn (Megamuntiacus vuquangensis) Các loài thú lớn như hổ và báo có
thể vẫn còn nhưng chỉ ở những vùng hẻo lánh thuộc phía Tây Nam của Vườn.Tính đa dạng còn được chứng minh rõ ràng qua sự ghi nhận với 358 loàichim, chiếm một phần ba số loài chim có mặt ở Việt Nam Trong đó bộ Gà có
7 loài trên tổng số 12 loài ở Việt Nam, trong đó có những loài quí hiếm như
Trĩ sao (Rheinardia ocellata) và gà Lôi lam mào trắng (Lophura edwardsi)
-loài vừa mới được phát hiện ở đây sau hơn 55 năm được cho là đã tiệt chủngngoài thiên nhiên
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
VQG Bạch Mã và vùng đệm nằm trên địa phận hành chính của cáchuyện Phú Lộc và Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế và huyện Hoa Vang, tỉnhQuảng Nam Có tất cả khoảng 11.214 hộ với tổng số dân khoảng 62.774người thuộc các xã và ở thị trấn vùng đệm Trong tổng số 20.381 lao động, cókhoảng 10.000 lao động thuộc khu vực vùng đệm chiếm chủ yếu là ngườiKinh (60.959 người), ngoài ra còn có 3 dân tộc Katu (1.359 người), Mường(23 người) và Vân Kiều (433 người)
Đa số dân cư sống trong vùng đệm là người Kinh và sống ở đây từ rấtlâu đời Từ những ngày đầu mới thống nhất đất nước, theo chính sách xâydựng các vùng kinh tế mới, người dân các nơi trong tỉnh đã đến khai hoangđất đai và thành lập nhiều xóm làng trù phú cho đến tận bây giờ Nhiều xãmới đã hình thành và dân số trong vùng đệm ngày càng tăng lên Phía Nam vàTây Nam của vùng đệm, ở những nơi xa xôi hẻo lánh là vùng sinh sống củamột tộc người thiểu số - người Katu Tộc người này trước đây sống ở nhữngvùng rừng núi hoang vu hiểm trở của hai huyện Hiên và Giằng, và trên các
Trang 33triền núi cao của huyện A Lưới Dần dần, họ chuyển xuống định cư ở nhữngvùng thấp hơn Ngoài ra, còn có một bộ phận nhỏ người Vân Kiều đang sinhsống ở phia Đông Bắc của vườn thuộc phạm vi vùng đệm Cộng đồng ngườidân tộc này di cư từ tỉnh Quảng Trị vào cuối năm 1993 và hiện nay đã định cưlâu dài tại đây, trở thành một bàn làng độc lập nhưng không tách rời với cáccộng đồng người Kinh sống xung quanh.
Nhìn chung, đời sống kinh tế của người dân nơi đây còn gặp rất nhiềukhó khăn, nghề nghiệp chủ yếu là làm nông nghiệp và khai thác tài nguyênrừng (gỗ, củi, săn bắt chim, thú, hái, lượm) Một số lao động làm nghề khaithác sạn, chăn nuôi và bán gỗ Bình quân lương thực đầu người trong mộtnăm là 238,8 kg, chi tiêu hàng ngày bình quân là 2.747 đồng/người Toànvùng đệm có khoảng 20% hộ khá, 44% hộ trung bình và 36% hộ nghèo
2.2 Thực trạng về hoạt động du lịch
2.2.1 Tiềm năng du lịch
Từ năm 1930, người Pháp đã xây dựng khu nghỉ mát ở đây, với 139 biệtthự và một số công trình kiến trúc như hệ thống đường nhựa 19km nối từquốc lộ 1A vào khu trung tâm, công trình chợ, bưu điện, hồ bơi… Ngoài giátrị to lớn về mặt khoa học, vườn quốc gia Bạch Mã còn có những thế mạnhtrong việc tổ chức du lịch sinh thái như sau:
Có tính đa dạng sinh học cao: Bạch Mã là nơi giao lưu của hệ động,
thực vật 2 miền Bắc và Nam, số lượng cá thể các loài động thực vậtkhá phong phú Đặc biệt là nơi hội tụ của nhiều loài chim Việt Nam,đáng lưu ý hơn là các loài chim quý như trĩ sao, gà lôi Giá trị du lịchsinh thái cao nhất của khu vực Bạch Mã là cảnh quan thiên nhiên và khíhậu trong lành Do nơi đây có địa hình núi cao lại gần biển nên nhiệt độbình quân biến động vào mùa hè chỉ từ 180C đến 230C Khí hậu ở trungtâm Bạch Mã được các chuyên gia nước ngoài đánh giá là một trong