Theo Nguyễn Xuân Trạch và Mai Thị Thơm 2004 [30] các yếu tố khí hậu, thời tiết ảnh hưởng không thuận lợi đến sức khoẻ và sức sản xuất của bò sữa thông qua hai con đường: ảnh hưởng trực t
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp I
Nguyễn đình tưởng
Đánh giá thực trạng phát triển chăn nuôi
bò sữa ở hai huyện Khoái Châu và Văn Giang –
Hưng Yên giai đoạn 2003-2007
luận văn thạc sĩ nông nghiệp
Chuyên ngành : chăn nuôi Mã số : 60.62.40
Người hướng dẫn khoa học: pgs.ts nguyễn xuân trạch
Hà Nội - 2007
Trang 2Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………i
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để công bố
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đ được cám ơn và các thông tin trích dẫn đ được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Đình Tưởng
Trang 3Lời cám ơn
Trong quá trình học tập và nghiên cứu cao học tại Trường đại học Nông nghiệp I; tôi luôn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ, hướng dẫn của các thầy, cô giáo của nhà trường của khoa Sau đại học; Khoa chăn nuôi – Nuôi trồng thủy sản, nhất là các thầy, cô giáo bộ môn Chăn nuôi chuyên khoa, đặc biệt là thầy hướng dẫn kho học PGS – TS Nguyễn Xuân Trạch đ tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và xây dựng Luận văn
Tôi xin bầy tỏ lòng trân trọng biết ơn chân thành tới các thầy, cô giáo Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Sở nông nghiệp và PTNT tỉnh Hưng Yên, Trung tâm Khuyến nông, khuyến ngư Hưng Yên, Chi cục Thú y Hưng Yên, Ban quản lý đề án chăn nuôi bò sữa Hưng Yên, Phòng Nông nghiệp và PTNT, Phòng Tài nguyên môi trường huyện Khoái Châu và Văn Giang; các hộ chăn nuôi bò sữa tại Khoái Châu và Văn Giang; cùng toàn thể
đồng nghiệp và bạn bè đ giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Nhân dịp hoàn thành Luận văn, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Nhà trường, các thầy cô giáo, các cơ quan và gia đình cùng bạn bè đồng nghiệp đ động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua
Tác giả luận văn
Nguyễn Đình Tưởng
Trang 4Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………iii
Mục lục
2.1 Vấn đề thích nghi của bò sữa trong điều kiện nhiệt đới 4
2.4 Tình hình chăn nuôi và xu hướng phát triển bò sữa trên thế giới 15 2.5 Tình hình chăn nuôi bò sữa ở một số nước Châu á và các nước nhiệt đới 17
4.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế - x hội của Khoái Châu và Văn Giang 44
Trang 54.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp của Khoái Châu và Văn Giang 51
4.3 Tình hình phát triển chăn nuôi bò sữa ở Khoái Châu và Văn Giang 57
4.3.5 Về cơ cấu giống và cơ cấu đàn bò sữa ở các nông hộ đến tháng
4.4.2 Khối l−ợng phối lần đầu và khối l−ợng để lần đầu 76
Trang 6Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………v
Danh môc viÕt t¾t
Trang 72.4 Phân bố và tốc độ phát triển đàn bò ở các vùng giai đoạn 2001 - 2006 24
2.6 Năng suất và sản lượng sữa ở Việt Nam từ năm 2000 26
2.8 Tình hình phát triển đàn bò lai hướng sữa ở Việt Nam 34
4.1 Số liệu khí tượng thủy văn của khu vực Châu Giang năm 2006 454.2 Hiện trạng sử dụng đất của Khoái Châu - Văn Giang Năm 2005 484.3 a Tình hình phát triển kinh tế của huyện Khoái Châu 2001-2005 494.3b Tình hình phát triển kinh tế của huyện Văn Giang (2001-2005) 504.4.a Một số chỉ tiêu về dân số, x hội huyện Khoái Châu (2001-2005) 514.4.b Một số chỉ tiêu về dân số, x hội huyện Văn Giang (2001-2005) 524.5 Kết quả sản xuất ngành trồng trọt ở hai huyện Khoái Châu, Văn Giang 534.6 Tình hình phát triển chăn nuôi ở Khoái Châu và Văn Giang
4.8 Kết quả phát triển đàn bò sữa ở Khoái Châu và Văn Giang
Trang 8Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………vii
4.12 Năng suất cỏ voi qua các tháng trong năm ở Khoái Châu và Văn Giang 65
4.14 Khẩu phần ăn của bò sữa tại nông hộ ở Khoái Châu và Văn Giang 684.15 Tình hình thực hiện chăm sóc nuôi d−ỡng bò sữa tại nông hộ ở
4.16 Tình hình chuồng trại nuôi bò sữa ở Khoái Châu và Văn Giang 714.17 Tình hình bệnh tật trên đàn bò sữa nuôi tại nông hộ ở Khoái
4.21 Khoảng cách lứa đẻ của bò sữa nuôi ở Khoái Châu và Văn Giang 78
4.25 Bảng phân tích hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi bò sữa 87
Trang 91 mở đầu
1.1 Đặt vấn đề
Những năm gần đây, nhờ thành tựu của công cuộc đổi mới do Đảng ta khới xướng và l.nh đạo, nền kinh tế nước ta liên tục phát triển khá toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt trên 8%/năm Đời sống của tuyệt đại đa số nhân dân không ngừng được cải thiện, nhu cầu về thực phẩm ngày càng cao, nhất là nhu cầu sữa, tăng từ 2,05kg/người (1995) lên 10,0kg/ người (2006) [3] Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của x hội, hàng năm chúng ta nhập khoảng 80-90% lượng sữa tiêu dùng trong nước Nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa, vô hình dung chúng ta đ gián tiếp nhập khẩu sức lao động nông nghiệp, trong khi nông dân còn thiếu việc làm Từ thực tiễn đó, một mặt nhằm đẩy mạnh cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng chăn nuôi, một mặt giải quyết công ăn việc làm và nâng cao đời sống nhân dân Ngày 26/10/2001 Chính phủ đ ban hành quyết định
số 167/2001/QĐ-TTg “Về một số biện pháp và chính sách phát triển chăn nuôi bò sữa Việt Nam thời kỳ 2001-2010” với mục tiêu phấn đấu đến năm
2010 tổng đàn bò sữa cả nước đạt 200.000 con; sản xuất 350.000 tấn sữa, đáp ứng 40% nhu cầu sữa tiêu dùng trong nước, nhằm tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho nông dân, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới [3]
Thực hiện chủ trương này UBND tỉnh Hưng Yên đ có quyết định số 502/2003/QĐ-UB ngày 07/03/2003 “về việc triển khai đề án phát triển chăn nuôi
bò sữa với mục tiêu đến năm 2010 toàn tỉnh có 5.000 con”, tập trung chủ yếu ở các huyện ven đê Sông Hồng như Văn Giang, Khoái Châu, Kim Động… [38]
Qua 5 năm triển khai, đề án đ đạt được những kết quả bước đầu, chăn nuôi bò sữa đ và đang trở thành một nghề ở một số địa phương như Khoái Châu và Văn Giang Để phát triển chăn nuôi bò sữa bền vững, đòi hỏi phải
Trang 10Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………2
đánh giá sát thực thực trạng tình hình chăn nuôi bò sữa hiện nay, tìm ra những khó khăn, thuận lợi, cũng như tiềm năng của các địa phương này, để định hướng và đưa ra những giải pháp sát thực Xuất phát từ thực tiễn trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá thực trạng phát triển chăn nuôi bò sữa ở hai huyện Khoái Châu và Văn Giang – Hưng Yên giai đoạn 2003-2007” 1.2 Mục đích, yêu cầu
- Đề xuất một số giải pháp phát triển chăn nuôi bò sữa của các nông hộ
ở Khoái Châu và Văn Giang
1.2.2 Yêu cầu
- Làm rõ tình hình phát triển chăn nuôi bò sữa ở các nông hộ
- Làm rõ được ngành hàng sữa ở hai huyện Khoái Châu và Văn Giang
- Đánh giá được hiệu quả trong chăn nuôi bò sữa
1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trang 12Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………4
2 Tổng quan tài liệu
2.1 Vấn đề thích nghi của bò sữa trong điều kiện nhiệt đới
2.1.1 Khái niệm
Thích nghi là quá trình làm quen với điều kiện sống, làm quen với khí hậu, đất đai, với sự chăm sóc của con người, với điều kiện tập luyện của gia súc Giống thích nghi thì sinh sản phát triển bình thường, giống thích nghi không hoàn toàn hoặc không thích nghi thì sức khoẻ không bình thường, sinh sản phát triển không bình thường, có thể suy thoái, diệt vong (Nguyễn Xuân Trạch và cs, 2006) [ 31]
2.1.2 Khả năng thích nghi
Sức sản xuất thực tế của gia súc nói chung, của bò sữa nói riêng do kết quả của sự tương tác giữa tiềm năng di truyền của con vật và các yếu tố môi trường (bao gồm các yếu tố khí hậu, thời tiết, yếu tố chăm sóc, nuôi dưỡng ) Theo Nguyễn Xuân Trạch và Mai Thị Thơm (2004) [30] các yếu tố khí hậu, thời tiết ảnh hưởng không thuận lợi đến sức khoẻ và sức sản xuất của bò sữa thông qua hai con đường: ảnh hưởng trực tiếp của nhiệt độ và ẩm độ cao lên cơ thể con vật và ảnh hưởng gián tiếp qua chất lượng thức ăn và bệnh tật Các yếu tố khí hậu, thời tiết ảnh hưởng trực tiếp đến trao đổi nhiệt của cơ thể và do vậy mà ảnh hưởng đến khả năng thu nhận thức ăn, sức khoẻ của
bò Các yếu tố đó bao gồm nhiệt độ, ẩm độ, lượng mưa, thời gian chiếu sáng, gió, bức xạ; trong đó yếu tố nhiệt độ và ẩm độ giữ vai trò quan trọng nhất Nhiệt độ không khí từ 10-200C, ẩm độ từ 55-60% là điều kiện lý tưởng cho sự sinh trưởng phát triển và sản xuất của bò Trong điều kiện nhiệt đới như nước
ta, thường thì nhiệt độ không khí vượt mức 250C và ẩm độ tương đối vượt mức 80% là tác nhân bất lợi, gây nhiều tác động xấu đến khả năng sản xuất của bò sữa Khi nhiệt độ, ẩm độ môi trường tăng cao, bò có khuynh hướng giảm những hoạt động cơ thể để hạn chế quá trình sản sinh nhiệt Bò dành nhiều
Trang 13thời gian nghỉ ngơi Bò giảm ăn, uống nhiều nước, giảm thời gian gặm cỏ Khi được chăn thả bò đi tìm những nơi có bóng mát, giảm thơi gian gặm cỏ, vì vậy giảm lượng thức ăn thu nhận Bên cạnh đó, người ta còn nhận thấy bò
có biểu hiện giảm những hoạt động tính dục như không nhảy lên bò khác, ít
ở bò sữa, việc tiết mồ hôi là biện pháp chính để thải nhiệt Quá trình này bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ môi trường và ẩm độ không khí Khi nhiệt độ môi trường cao, ẩm độ không khí cao sẽ làm hạn chế quá trình bốc hơi nước trên bề mặt da, từ đó làm giảm hiệu quả thải nhiệt Khi nhiệt độ và ẩm độ môi trường tăng cao, bò sẽ có khuynh hướng uống nhiều nước để bù đắp cho lượng nước cơ thể thải ra qua tiết mồ hôi để giảm nhiệt Khi uống nhiều nước
sẽ dẫn đến những hậu quả xấu như giảm nồng độ hormon trong máu, ảnh hưởng đến các quá trình sinh lý, giảm lượng thức ăn thu nhận (do độ choán của nước và do bò dành nhiều thời gian cho nghỉ ngơi, uống nước, thở hơn là thời gian ăn); dẫn đến thiếu hụt dinh dưỡng, ảnh hưởng đến sức khoẻ của bò
và kết cục là năng suất sữa giảm rõ rệt Do tầm quan trọng đặc biệt của nhiệt
độ và ẩm độ đối với khả năng thích nghi của bò sữa ở các vùng khí hậu khác nhau, nên người ta đ xây dựng chỉ số ẩm nhiệt (THI- Temperature Humidity Index) liên quan đến stress nhiệt của bò Stress nhiệt ở bò sữa được hiểu là trạng thái mà tại đó do tác động của nhiệt độ, ẩm độ bắt đầu xuất hiện các
Trang 14Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………6
điều chỉnh ở mức độ mô bào và toàn bộ cơ thể gia súc giúp nó tránh được các rối loạn chức năng sinh lý và làm cho gia súc thích nghi tốt hơn với môi trường bên ngoài (Kadzere và CS, 2002) [60] Nhiệt độ được ổn định trong cơ thể trong một giới hạn khá hẹp và các qúa trình sinh lý trong điều kiện trao
đổi chất bình thường (Shearer and Beed, 1990) [62] Bò sữa là động vật đẳng nhiệt, để duy trì được trạng thái đẳng nhiệt, bò cần ở trạng thái cân bằng nhiệt với môi trường (Kadzere và CS, 2002) [60] Bò sữa thích hợp nhất với khoảng nhiệt độ từ 5-250C, đây là vùng nhiệt độ trung tính (Roen feldt, 1998) [61] Khi nhiệt độ > 250C, bò sữa đạt tới điểm mà tại đó chúng không thể làm mát cơ thể được nữa và rơi vào trạng thái stress nhiệt
Mọi sự thay đổi về môi trường đều đe doạ và ảnh hưởng đến cân bằng trao đổi chất ở bò sữa (Kadzere và CS, 2002) [60] ở bò sữa khi năng suất tăng, thì nhiệt độ sinh ra cũng tăng lên với quá trình tiêu hoá một lượng lớn thức ăn (Kadzere và CS, 2002) [60] Do vậy, bò sữa năng suất cao, chịu ảnh hưởng của nhiệt độ và ẩm độ môi trường lớn hơn ở bò năng suất thấp và có mức độ trao đổi chất lớn hơn, trao đổi chất và năng suất luôn đi song song với nhau (Brody, 1945) [58] Theo Coppock và CS (1982) [59] bò sữa năng suất cao chịu ảnh hưởng của stress nhiệt cao hơn vì vùng trung hoà nhiệt của chúng giảm thấp Khi năng suất sữa tăng, lượng thu nhận thức ăn tăng dần
đến nhiệt sản xuất ra trong cơ thể tăng Theo Silanikove (1994) [63] stress nhiệt làm tăng sự mất dịch từ cơ thể vì tăng hô hấp và tiết mồ hôi Nếu quá trình này tiếp tục đến một lúc nào đó cơ thể mất sự kiểm soát sẽ đe doạ đến khả năng điều khiển nhiệt và hệ tim mạch (Silanikove, 1994) [63] Để chống lại stress nhiệt gia súc thực hiện các đáp ứng về thần kinh và thể dịch trong việc điều hoà thân nhiệt
Shearer và Beede (1990) [62] khi chỉ số nhiệt ẩm THI ≤ 72 bò sữa ôn
đới bắt đầu có dấu hiệu stress; THI nằm trong khoảng 79-89 bò sẽ rơi vào tình trạng stress nặng Trong khi đó ở giới hạn THI 79-89 thì ảnh hưởng của
Trang 15stress nhiệt với bò sữa lai F1 và F2 nuôi tại Ba Vì trong mùa hè là không rõ
Bò F2 biểu hiện stress nặng hơn bò F1 (Vương Tuấn Thực, 2005) [55] Trong
điều kiện stress nhiệt, quá trình trao đổi chất (trao đổi muối khoáng, trao đổi nước), hoạt động tiêu hoá bị ảnh hưởng, khi bò bị stress nhiệt, Na trong nước tiểu tăng, bổ sung thêm Na và K cao hơn tiêu chuẩn thấy năng suất sữa tăng lên đáng kể Khi bị stress nhiệt tốc độ mất nước cao hơn, dẫn tới lượng nước tiêu thụ của bò tăng, giảm lượng thức ăn thu nhận, hơn nữa nhiệt độ môi trường tăng ảnh hưởng đến quá trình tổng hợp axít amin và axít béo, tổng hợp Vitamin nhóm B của vi sinh vật dạ cỏ, làm giảm lượng axít béo bay hơi trong dạ cỏ, gián tiếp làm giảm nhu động dạ cỏ và dạ múi khế, làm tăng thời gian lưu thức ăn trong đường tiêu hoá, dẫn đến kết quả tỷ lệ tiêu hoá các chất dinh dưỡng tăng lên đôi chút Stress nhiệt ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của bò nói chung và bò sữa nói riêng, trên thực tế những cá thể nào đẻ vào các tháng mùa hè viêm tử cung cao hơn đẻ vào mùa khác, tỷ lệ bệnh sát nhau cao hơn
và thời gian chửa ngắn hơn Hơn nữa mầm bệnh thường phát triển vào mùa
hè, đây cũng là những nhân tố ảnh hưởng đến sức khoẻ gia súc, mùa hè các bệnh truyền nhiễm dễ phát sinh và lan truyền, bò sữa gốc ôn đới hay mắc bệnh ký sinh trùng đường máu
2.2 Khả năng sinh sản của bò và các yếu tố ảnh hưởng
2.2.1 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh sản
Tính trạng sinh sản trong chăn nuôi bò sữa là tính trạng quan trọng vì sinh sản với bò sữa không chỉ đơn thuần là để duy trì nòi giống, mà còn để tạo ra sản phẩm (sữa), nó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi bò sữa Các chỉ tiêu đánh giá sinh sản của bò gồm:
2.2.1.1 Tuổi phối lần đầu
Cũng như các loài gia súc khác thời gian thành thục về tính ở bò thường sớm hơn thời gian thành thục về thể vóc, với bò khi mới đạt 30-40% khối lượng trưởng thành bò đ thành thục về tính Vì vậy, đòi hỏi chúng ta
Trang 16Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………8
phải chọn thời điểm phối lần đầu phù hợp, nếu phối quá sớm sẽ ảnh hưởng đến khả năng phát triển của bò mẹ và khối lượng bê sơ sinh, ảnh hưởng đến khả năng sinh sản và sức sản xuất của bò sữa Theo tác giả Nguyễn Xuân Trạch và Mai Thị Thơm (2004) [30] tuổi phối lần đầu tiên của bò vàng Việt Nam là 20-
24 tháng tuổi, bò laisind là 18-24 tháng tuổi, bò HF từ 15-20 tháng tuổi
2.2.1.2 Tuổi đẻ lứa đầu
Tuổi đẻ lứa đầu phụ thuộc vào yếu tố di truyền, ngoại cảnh, chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc bê, khí hậu và khả năng sinh trưởng, phát dục của giống Do thời gian mang thai của bò ít biến động nên tuổi đẻ lứa đầu phụ thuộc vào tuổi phối lần đầu Tuổi đẻ lứa đầu của giống bò lai có khuynh hướng tăng dần theo sự tăng tỷ lệ máu bò ôn đới Các tác giả Trần Do.n Hối, Nguyễn Văn Thiện (1979) cho rằng tuổi đẻ lứa đầu của các thế hệ bò lai HF với bò lai sind ở Việt Nam từ 32,7 – 45,5 tháng [51] Theo Tăng Xuân Lưu (1999) [45] tuổi đẻ lứa đầu của bò F1 là 38,47 tháng, bò F2 là 38,87 tháng 2.2.1.3 Khoảng cách lứa đẻ
Như đ đề cập, thời gian mang thai của bò cơ bản ổn định, vì vậy khoảng cách lứa đẻ phụ thuộc lớn vào thời gian có chửa trở lại sau đẻ Về lý thuyết khoảng cách lứa đẻ lý tưởng là 12 tháng, song trong thực tế do nhiều nguyên nhân khách quan cũng như chủ quan như đặc điểm phẩm giống, chế
độ chăm sóc nuôi dưỡng, kỹ thuật cạn sữa, kỹ thuật phối giống làm cho khoảng cách lứa đẻ thường kéo dài 390-420 ngày hoặc hơn (Nguyễn Xuân Trạch và Mai Thị Thơm, 2004) [30] Để nâng cao sản lượng sữa và số bê sinh
ra trong một đời gia súc đòi hỏi chúng ta phải thực hiện tốt và đồng bộ các yếu
tố từ chăm sóc nuôi dưỡng, đến kỹ thuật vắt sữa, cạn sữa và thụ tinh nhân tạo
để rút ngắn khoảng cách lứa đẻ
2.2.1.4 Hệ số phối giống
Hệ số phối giống là số lần phối đến khi thụ thai Đây là chỉ tiêu kinh tế
kỹ thuật khá quan trọng trong chăn nuôi bò sữa Chỉ tiêu này phụ thuộc vào
Trang 17chất lượng phẩm giống, điều kiện khí hậu, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng, kỹ thuật thụ tinh nhân tạo và chất lượng tinh dịch Hệ số phối giống trên đàn bò lai hướng sữa ở Vĩnh Thịnh F1 là 2,13 và F2 là 2,37 (Mai Thị Thơm, 2004) [19] ở Hưng Yên hệ số phối giống của bò F1 là 1,91 và bò F2 là 1,95 (Trung tâm Khuyến nông Hưng Yên, 2005) [ 52]
2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản
Khả năng sinh sản của bò sữa liên quan chặt chẽ và phụ thuộc vào hai yếu tố di truyền và ngoại cảnh, các giống bò khác nhau khả năng sinh sản khác nhau Khả năng sinh sản của bò sữa được thể hiện qua nhiều chỉ tiêu như tuổi đẻ lứa đầu, tuổi phối lần đầu, các chỉ tiêu này có hệ số di truyền thấp nên chúng chịu tác động mạnh của yếu tố ngoại cảnh bao gồm thức ăn, dinh dưỡng, chuồng trại, vệ sinh thú y Trên thực tế việc xác định mức độ ảnh hưởng của mỗi nhân tố riêng biệt trong sự chi phối chung là rất khó khăn 2.2.2.1 Yếu tố di truyền
Yếu tố di truyền phụ thuộc vào đặc tính của giống, những chỉ tiêu có hệ
số di truyền càng cao phụ thuộc vào đặc tính phẩm giống càng lớn Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoa (2007) trên đàn bò lai hướng sữa nuôi tại Nghĩa Đàn – Nghệ An thì tuổi phối lần đầu ở bò F1 là 15,12 tháng; bò F2 là 16,23 tháng và bò F3 là 17,15 tháng Khoảng cách lứa đẻ của bò F1 là 391,03 ngày; bò F2 là 401,63 ngày và bò F3 là 417,1 ngày Theo Vũ Chí Cương và cộng sự (2006) [57] nghiên cứu trên bò lai F2 và F3 nuôi ở Phù Đổng, Ba Vì, Lâm Đồng, Thành phố Hồ Chí Minh và các vùng lân cận cho biết tuổi đẻ lứa
đầu của toàn đàn trong vùng là 26,65 và 27,71 tháng Khả năng sinh sản của
bò có hệ số di truyền thấp Theo Nguyễn Văn Thiện (1995) [27] hệ số di truyền về khoảng cách lứa đẻ của bò h2 = 0,01 Theo Nguyễn Xuân Trạch và Mai Thị Thơm (2000) [30] hệ số di truyền về năng suất sữa của bò tương đối thấp (h2 = 0,32 – 0,44)
Trang 18Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………10
2.2.2.2 Yếu tố ngoại cảnh
Yếu tố ngoại cảnh bao gồm điều kiện khí hậu, thức ăn dinh dưỡng, chuồng trại, vệ sinh thú y ảnh hưởng lớn đến sức sinh sản của bò sữa Điều kiện dinh dưỡng thấp sẽ kìm h.m sinh trưởng của bò cái tơ làm chậm thời gian
đưa vào sử dụng; đối với bò trưởng thành khi kéo dài thời gian phục hồi sau
đẻ, giảm khả năng sinh sản Ngược lại nếu dinh dưỡng quá nhiều, nhất là gluxit sẽ làm cho bò quá béo, buồng trứng bị tích luỹ mỡ nên giảm hoạt động chức năng sinh sản (Nguyễn Xuân Trạch và CS, 2006) [31]
Các yếu tố môi trường như nhiệt độ, ẩm độ đều ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến năng suất sinh sản của bò Các yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp thông qua việc kích thích thần kinh thể dịch điều chỉnh duy trì thân nhiệt,
hệ thống enzym và các hormon gây ảnh hưởng gián tiếp thông qua số lượng và chất lượng thức ăn Trên thực tế điều kiện này đ được chứng minh, bò sữa ở nước ta khả năng sinh sản thường giảm vào mùa hè
Chăm sóc nuôi dưỡng cũng ảnh hưởng lớn đến sức sinh sản của bò, Theo Nguyễn Xuân Trạch và Mai Thị Thơm (2004) [30] chăm sóc, quản lý không tốt, để bò gày yếu, dễ mắc bệnh sản khoa, làm giảm khả năng sinh sản
Thời gian cho sữa thực tế và lượng sữa sản xuất ra trên một ngày quyết
định sản lượng sữa Thông thường thời gian cho sữa lý tưởng của bò là
300-305 ngày Song vì chỉ tiêu này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống, điều kiện môi trường, thức ăn nên thường biến động trong khoảng lớn Theo kết quả nghiên cứu trên đàn bò lai hướng sữa HF của Nguyễn Quốc Đạt (1998)
Trang 19[20] cho thấy thời gian cho sữa dài nhất ở bò F2 là 307,54 ngày, sau đó là bò F1 là 306,02 ngày và ngắn nhất ở bò F2 là 302,4 ngày
2.3.1.2 Sản lượng sữa
Sản lượng sữa là chỉ tiêu quan trọng cho phép đánh giá phẩm chất con giống, nó quyết định đến hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi bò sữa Tính trạng này phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố di truyền và các yếu tố ngoại cảnh, cho nên các giống khác nhau, điều kiện nuôi dưỡng khác nhau, chu kỳ cho sữa khác nhau, sản lượng sữa sẽ khác nhau Bò HF nhập từ úc nuôi ở Mộc Châu có sản lượng sữa 4365 kg, ở Lâm Đồng đạt 3877kg (Nguyễn Hữu Lương, 2006)[24]
Bò HF nuôi ở Cu Ba có sản lượng sữa bình quân 4.099kg; ở Mộc Châu đạt 3.766kg, còn ở Lâm Đồng là 3.315kg (Trần Công Thành, 2000) [50]
Theo Cục Chăn nuôi sản lượng sữa bình quân năm 2006 ở bò lai HF là
3900 và bò HF thuần là 4700
2.3.1.3 Chất lượng sữa
Chất lượng sữa được đánh giá thông qua hai chỉ tiêu cơ bản quan trọng
là mỡ và protein trong sữa Tỷ lệ mỡ cao thì giá trị năng lượng của sữa cao, tỷ
lệ protein cao thì giá trị dinh dưỡng của sữa cao
- Tỷ lệ protein sữa là chỉ tiêu quan trọng trong đánh giá chất lượng sữa Các loại bò sữa khác nhau thì tỷ lệ protein sữa khác nhau Lê Xuân Cương và Denvendra (1993) [16] cho biết tỷ lệ protein sữa của bò lai (Hà ấn) F1, F2, F3
ở Thành Phố Hồ Chí Minh lần lượt là 3,49%, 3,27% và 3,25% Nghiên cứu của Phạm Ngọc Thiệp (2003) [33] trên đàn bò sữa lai F1, F2, F3 nuôi tại Lâm Đồng cho kết quả tỷ lệ protein sữa lần lượt là 3,09 ± 0,13; 3,02 ± 0,15 và 2,82 ± 0,01
- Tỷ lệ mỡ sữa là chỉ tiêu cơ bản để đánh giá chất lượng và giá trị kinh
tế của sữa Bò HF nuôi ở Mộc Châu có tỷ lệ mỡ sữa là 3,4-3,8%, bò ở Phù
Đổng có tỷ lệ mỡ sữa là 4,89%, bò lai có tỷ lệ mỡ sữa là 3.83% (Nguyễn Xuân Trạch và Mai Thị Thơm; 2004) [30] Theo báo cáo của Lê Xuân Cương và Denvendra (1993) [13] cho biết tỷ lệ mỡ sữa của bò lai Hà ấn F1, F2, F3 ở Thành
Trang 20Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………12
phố Hồ Chí Minh lần lượt là 3,75; 3,73; và 3,7% Qua kết quả nghiên cứu của các tác giả cho thấy tỷ lệ mỡ sữa tỷ lệ nghịch với tỷ lệ máu HF trong con lai 2.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng sữa
2.3.2.1 Giống
Các giống khác nhau cho sản lượng sữa khác nhau Giống bò sữa HF
đạt năng suất 5000 – 8000kg/chu kỳ với tỷ lệ mỡ sữa từ 3,2-3,8%, giống bò Jersey đạt năng suất trung bình 2800-3500kg/chu kỳ; với tỷ lệ mỡ sữa 5,8-6,0%; Bò lai Hà ấn F1 cho sản lượng sữa 2800-2900kg/chu kỳ với tỷ lệ mỡ sữa 3,24%; Bò laisind bình quân đạt 700-1200kg/chu kỳ với tỷ lệ mỡ sữa 5-6% Các giống chuyên sản xuất thịt như các giống bò Charolais, Hereford sản lượng sữa chỉ đủ nuôi con
Tuy yếu tố phẩm giống ảnh hưởng lớn đến năng suất sữa, song hệ số di truyền về năng suất sữa tương đối thấp (h2 = 0,32 – 0,44) (Nguyễn Xuân Trạch
và Mai Thị Thơm, 2004) [30]
2.3.2.2 Tuổi có thai lần đầu
Thông thường bê thành thục về tính sớm hơn thành thục về thể vóc, vì vậy cần chọn thời điểm phối lần đầu cho phù hợp để tránh ảnh hưởng đến sự sinh trưởng phát triển của cơ thể Đối với các giống bò sữa nên tiến hành phối lần đầu vào khoảng 16-18 tháng tuổi, khi khối lượng đạt từ 65-70% thể trọng
bò cái trưởng thành (Nguyễn Xuân Trạch và CS, 2006) [31]
2.3.2.3 Tuổi và lứa đẻ
Sản lượng sữa ở lứa đẻ thứ nhất và thứ hai thường thấp hơn các lứa về sau đó Sản lượng sữa đạt cao nhất ở lứa đẻ thứ 5 và ổn định trong hai hoặc ba năm sau, sau đó lại giảm dần Một số bò sữa có thể trạng tốt, nuôi dưỡng và chăm sóc tốt, điều kiện khí hậu thuận lợi có thể cho sản lượng sữa cao đến lứa thứ 12 Theo Trần Trọng Thêm (1986) [48] sự giảm thấp khả năng tiết sữa về già là do số lượng tế bào tuyến giảm thấp, chức năng hoạt động của các tuyến sữa kém dần, đồng thời chức năng của các cơ quan khác cũng giảm sút
Trang 21đến khả năng tiết sữa (Nguyễn Xuân Trạch, Mai Thị Thơm, 2004) [30]
2.3.2.5 Khối lượng cơ thể
Nhìn chung, về cơ bản trong cùng một giống bò con nào có thể trọng lớn thì khả năng cho sữa cao hơn Tuy vậy, thể trọng quá cao có thể làm giảm năng suất sữa do phải sử dụng quá nhiều dinh dưỡng cho nhu cầu duy trì Người ta dùng hệ số sinh sữa (HSSS) để đánh giá khả năng tạo sữa Hệ số này biểu thị năng suất sữa (kg) trên 100kg trọng lượng cơ thể Các giống bò sữa thường có HSSS là 8-10 Giống bò Jersey có thể trọng khoảng 300-350kg, sản lượng sữa một chu kỳ bình quân 3000kg, có HSSS là 9-10 (Nguyễn Xuân Trạch và CS, 2006) [31]
2.3.2.6 Môi trường
Sức sản xuất sữa chịu ảnh hưởng rõ rệt nhất bởi nhiệt độ và ẩm độ môi trường Trong phạm vi nhiệt độ O0C – 210C sản lượng sữa của bò không bị ảnh hưởng Khi nhiệt độ thấp hơn 50C và từ 220C lên 270C sản lượng sữa giảm dần Nhiệt độ trên 270C năng suất sữa giảm rõ rệt, khi nhiệt độ trực tràng của bò tăng 10C sản lượng sữa giảm 1kg Trong điều kiện ẩm độ cao, sản lượng sữa cũng giảm nhiều Các giống bò sữa khác nhau, nhiệt độ thích hợp tối đa, tối thiểu cho sức sản xuất sữa cũng khác nhau Sức sản xuất sữa giảm nhanh chóng ở nhiệt độ môi trường cao hơn 210C với bò Hostein Frisian, còn đối với
bò Brahman lai là 320C Sự giảm thấp sản lượng sữa trong điều kiện mùa hè không hoàn toàn do sữa giảm thấp về lượng thức ăn thu nhận hay phẩm chất
cỏ mà còn chịu ảnh hưởng của nhiệt độ đến cơ chế sinh học liên quan đến tiết sữa (Vương Tuấn Thực, 2005) [55]
Trang 22Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………14
2.3.2.7 Thời gian từ khi đẻ đến khi phối lại
Thông thường lượng sữa ở bò có chửa giảm từ 15-20% so với không có thai, và sản lượng sữa giảm nhiều khi bò có thai từ tháng thứ 5 trở đi Song không có nghĩa là để đạt được năng suất cao là phải kéo dài thời gian không mang thai Nghiên cứu cho thấy trong điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng đảm bảo đúng yêu cầu, nếu lấy khối lượng sữa trung bình trong một chu kỳ là 300 ngày là 100%, khi kéo dài chu kỳ sữa lên 450 ngày, năng suất bình quân ngày chỉ đạt 85% Như thế việc kéo dài thời gian của chu kỳ không bù đắp được 15% lượng sữa giảm khi bò mang thai (Theo Đặng Thị Dung và CS, 2003) [9] thời gian của một chu kỳ cho sữa tốt nhất là khoảng 300 ngày, muốn vậy phải phối giống cho bò cái sau khi đẻ từ 60 đến 80 ngày
2.3.2.8 Kỹ thuật vắt sữa
Bài tiết sữa dựa trên phản xạ thần kinh - hormon, vắt sữa không đúng kỹ thuật, thời gian vắt sữa không ổn định, người vắt sữa không ổn định sẽ ảnh hưởng tới sự tiết sữa (Nguyễn Xuân Trạch, 2003) [29] Số lần vắt sữa trong ngày cũng ảnh hưởng đến năng suất sữa Số lần vắt sữa quá ít ở bò cao sản sẽ làm tăng áp suất trong bầu vú và ức chế quá trình tạo sữa tiếp theo
2.3.2.9 Bệnh tật
Khi bò sữa mắc bệnh thường kém ăn, thậm chí bỏ ăn, thể trạng gầy yếu, dẫn đến khả năng tạo sữa kém, tỷ lệ đàn bò sữa thường mắc bệnh sản khoa rất cao, có khi tới 60-70%, nhất là các bệnh viêm vú Sữa ở các bầu vú bị viêm không đảm bảo yêu cầu, không dùng chế biến, thậm chí có trường hợp không thể dùng cho bê bú Một thuỳ viêm nếu không được điều trị kịp thời thường sẽ
bị nhục hoá, lượng sữa giảm từ 20-25% (Nguyễn Văn Thưởng, 2005) [25] 2.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sữa
2.3.3.1 Giống và tuổi
Các giống khác nhau có tỷ lệ mỡ và protein sữa khác nhau (Phạm Ngọc Thiệp (2003) [33] thành phần chất lượng sữa ở các giống khác nhau là khác
Trang 23nhau Tỷ lệ mỡ sữa của các giống HF, F3, F2, F1 tương ứng là 3,43%, 3,47%, 3,97% và 4,27% (Trần Trọng Thêm 1986) [47] tỷ lệ mỡ và protein trong sữa
có giảm đi theo tuổi bò
2.3.3.2 Thức ăn
Thành phần của khẩu phần thức ăn, chất lượng thức ăn ảnh hưởng nhiều
đến chất lượng sữa Nếu bò sữa được cung cấp khẩu phần thức ăn không cân
đối, khi thiếu protein thường dẫn tới sự giảm hàm lượng chất khô, mỡ, protein tróng sữa (Theo Nguyễn Xuân Trạch và CS, 2006) [31] Khẩu phần cân bằng dinh dưỡng trong giai đoạn cạn sữa sẽ kích thích nâng cao tỷ lệ mỡ sữa ở thời
kỳ tiết sữa sau
2.3.3.3 Nhiệt độ và ẩm độ môi trường
Nhiệt độ và ẩm độ môi trường không chỉ ảnh hưởng đến sản lượng sữa
mà còn ảnh hưởng đến chất lượng sữa, khi các yếu tố này tăng thì hàm lượng
mỡ sữa, chất khô đ tách bơ có xu hướng giảm, trong khi đó một vài thành phần như nitơ fiprotein có xu hướng tăng Tỷ lệ mỡ sữa giảm khi nhiệt độ môi trường từ 210C-270C, khi nhiệt độ tăng hơn 270C thì tỷ lệ mỡ sữa có xu hướng tăng (Vương Tuấn Thực, 2005) [55]
2.3.3.4 Giai đoạn của chu kỳ sữa
Hàm lượng mỡ sữa thường thay đổi trong một chu kỳ vắt sữa, nó thường cao ở đầu kỳ, sau đó giảm đi theo lượng sữa tăng lên, về cuối kỳ hàm lượng
mỡ sữa lại có xu hướng tăng lên Tỷ lệ protein sữa cũng biến đổi tương tự như
Trang 24Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………16
Bản 6,28%; úc 10,52%; ở Bắc Mỹ giảm không đáng kể (0,26%) Canađa giảm 2,38%; Mỹ 0,75% Các nước đang phát triển số lượng đàn bò sữa có xu hướng tăng: ấn độ tăng 5,85%; NewZeland tăng 11,61%; nhất là Trung Quốc tăng 135,25%; Việt Nam 24,9% Nhìn chung đàn bò sữa ở khu vực Châu Mỹ, Châu Âu có xu hướng giảm và giảm mạnh, tăng ở khu vực Châu á và Châu
và 5,7% ấn Độ là quốc gia đứng đầu về sản lượng sữa của Châu á, đạt trên
38 triệu tấn Cũng theo dự báo của IDF, mặc dù sản lượng sữa của Thế giới trong năm 2005 tăng nhanh ở các nước đang phát triển, nhưng giá sữa vẫn ở mức cao do sản lượng sữa cấp cho thị trường từ các nước xuất khẩu chính của Thế giới giảm Sản lượng sữa thế giới được trình bày ở bảng 2.2
Trang 25Nhờ có những chủ trương, chính sách khuyến khích chăn nuôi bò sữa phù hợp, những năm qua tốc độ tăng đàn và sản lượng sữa ở Thái Lan cao nhất khu vực Đông Nam á (Siriporn, 2005) [40] Năm 2004 số lượng bò sữa ở Thái Lan là 408.350 con, trong đó có 164.449 con (40%) bò vắt sữa; 45.851 con (11%) bò cạn sữa, 79.963 con (20%) bò tơ và bê là 118.042 con (29%) Thái Lan áp dụng một số kinh nghiệm trong chăn nuôi bò sữa sau:
- Chính phủ Thái Lan định hướng sản xuất sữa chủ yếu theo quy mô nhỏ tại hộ gia đình ở nông thôn, khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư vào phát triển ngành sản xuất sữa; Cục phát triển chăn nuôi trực tiếp đảm trách nhiệm vụ cung cấp đầy đủ các dịch vụ TTNT, kiểm soát dịch bệnh miễn phí,
hỗ trợ hoạt động kinh doanh tập thể, khuyến khích phát triển chăn nuôi bò sữa theo hình thức hợp tác x., để chủ động thực hiện mối liên kết chặt chẽ giữa người chăn nuôi sản xuất sữa tươi và chế biến tiêu thụ sữa, chủ động cung cấp
Trang 26Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………18
các dịch vụ như cung cấp con giống, thức ăn tổng hợp, hỗ trợ vốn, cung cấp trang thiết bị, dụng cụ chuyên dụng và các dịch vụ kỹ thuật Hỗ trợ về tài chính cho các trang trại bò sữa tư nhân qui mô lớn; tổ chức tốt và có hiệu quả các cơ sở chăn nuôi, thu gom, chế biến và tiêu thụ sữa
- Công tác giống: từ năm 1994 đến nay, Thái Lan đ gây tạo đàn bò sữa theo 2 hướng (Siriporn, 2005) [40]
Một là: Tạo đàn bò sữa có tỷ lệ máu HF cao (trên 75%) thông qua việc phối bò đực giống HF Canađa với bò cái giống HF Canađa trong 3 đời (nhóm 1), phối giống bò đực giống HF với bò cái lai HF có tỷ lệ máu HF bằng hoặc trên 75% (Sản lượng sữa trên 3.500kg) trong 3 đời (nhóm 2) Sau đó dùng bò
đực giống HF thuần tạo ra trong nước (nhóm 1) phối với bò cái lai HF ở nhóm
2 Đàn bò sữa này có sản lượng sữa khoảng 4.500kg/chu kỳ tiết sữa
Hai là: Tiến hành phối giống bò đực giống HF với bò cái Zebu, bò cái
địa phương để tạo đàn bò sữa có 75% máu HF, sau đó cố định bò lai HF (75% máu HF) loại bò sữa này cho sản lượng sữa 3500kg/chu kỳ
2.5.2 Phát triển chăn nuôi bò sữa ở Indonesia
Theo Tatisetiawati, Cục trưởng Cục chăn nuôi Indonesia [6] ; giống bò lai HF là giống bò sữa được nuôi chủ yếu ở Indonesia, bên cạnh đó có một số lượng ít bò sữa giống Hissa và Shaniwal Bò HF được nhập lần đầu tiên vào Indonesia vào năm 1891 và sau đó nước này đ nhập khẩu giống bò này với số lượng lớn từ các nước Mỹ, úc Đàn bò HF thuần được nuôi chủ yếu tại các vùng có độ cao 500m, tại các vùng có độ cao thấp hơn 500m người ta nuôi bò lai HF (giữa bò Zebu và Holstein)
Phát triển chăn nuôi bò sữa ở Indonesia giai đoạn 2005-2009 nhằm nâng cao tỷ lệ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sữa nội địa từ sản xuất sữa tươi trong nước lên 50% vào năm 2009, cải thiện chất lượng sữa để đáp ứng tiêu chuẩn sữa quốc gia từ 12% tăng lên 50% vào năm 2009, nâng cao thu nhập của nông dân vượt qua mức lương trung bình tối thiểu, thu hút 2% số lao động bổ sung vào ngành chăn nuôi bò sữa
Trang 272.5.3 Chăn nuôi bò sữa ở Trung Quốc
Trước những năm 50 của thế kỷ XX, hầu hết nhân dân Trung Quốc không hoặc ít tiêu thụ sữa, nên năm 1949 Trung Quốc chỉ có 120.000 con bò sữa Những năm gần đây, nhất là trong 10 năm trở lại đây, Chính phủ Trung Quốc đ ban hành nhiều cơ chế, chính sách khuyến khích các thành phần kinh
tế phát triển sản xuất sữa, tốc độ tăng đàn bò sữa của Trung Quốc đạt 12%/năm, cuối năm 2002 Trung Quốc đ có 5,66 triệu bò sữa, tổng sản lượng sữa sản xuất trong nước đạt 11,23 triệu tấn, bình quân đạt 8,8kg/người, đ đáp ứng được 78-80% nhu cầu tiêu dùng trong nước Hơn 90% bò sữa nuôi tại các trang trại tư nhân, bình quân mỗi trại nuôi từ 40-50 con, nhiều gia trại nuôi tới
200 đến 400 con bò sữa (Hoàng Kim Giao, 2003) [14]
2.5.4 Chăn nuôi bò sữa ở Đài Loan
Từ năm 1957 ngành Chăn nuôi bò sữa Đài Loan bắt đầu; từ quy mô 2 con/hộ tăng lên 34 con/hộ và đến nay là 150con/hộ Hiện nay Đài Loan có khoảng 110.000 con bò sữa, cho sản lượng khoảng 350.000 tấn được nuôi tập trung ở khoảng 700 hộ Chính phủ Đài Loan có chiến lược cải tạo năng suất bàn bò sữa thông qua bình tuyển đàn bò sữa hiện có, thụ tinh nhân tạo và cấy truyền phôi; chất lượng đàn bò sữa ở Đài Loan không ngừng được nâng cao, sản lượng sữa bình quân đạt 7165kg/chu kỳ; trong đó có khoảng 5% bò sữa cho sản lượng 9000kg/chu kỳ (Hoàng Kim Giao, 2003) [14] Qua tổng kết 50 năm phát triển chăn nuôi bò sữa ở Đài Loan cho thấy: Chỉ có khoảng 30 - 35% số bò vắt sữa được từ 3 - 4 lứa và có khoảng 5% số bò sống và cho sữa
đến 10 năm tuổi Trong chương trình phát triển và nhập nội bò sữa; Đài Loan chỉ có thể chọn được 30 – 35% trong tổng số bò phù hợp với điều kiện sinh thái của họ để nhân giống trong nước và khẳng định giống bò sữa HF là giống thích hợp nhất và cho sản lượng sữa cao nhất Do vậy, đến năm 1996 Đài Loan ngừng nhập nội giống bò sữa; để tập trung chọn tạo những giống đ nhập nội
và thực hiện chương trình cải tiến giống (DHI) của Đài Loan, việc nhập tinh
Trang 28Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………20
bò sữa HF cao sản phải có sự thẩm định của nhà nước; đồng thời tiến hành chọn và nuôi bò đực giống HF để sản xuất tinh đông lạnh trong nước Đài Loan sử dụng thụ tinh nhân tạo cho trên 90% tổng số bò sữa; chọn lọc và quản
lý đàn theo chương trình cải tiến giống DHI [53]
2.5.5 Chăn nuôi bò sữa ở Ixraen
Ixraen là một nước bán sa mạc, mùa hè nóng (tới gần 400C) đ nuôi thành công bò Holstein thuần Năng suất sữa bò Holstein của Ixraen hiện nay cao nhất thế giới: 10.500kg/chu kỳ (trong khi đó tại Hà Lan chỉ khoảng 7.900kg/chu kỳ) Ngay cả ở những nơi gần biển chết, nhiệt độ mùa hè lên tới
45 – 470C có một trại bò 276con, đ có năng suất bình quân 11.320kg/chu kỳ (1998) Từ những năm 1920 đến 1930 Ixraen triển khai thực hiện chương trình cải tạo đàn bò địa phương thông qua nhập bò đực HF từ Hà Lan và Đức; những năm tiếp theo họ tiếp tục nhập bò đực HF từ Canada và Mỹ để thực hiện chương trình cải tạo đàn bò địa phương bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo Từ năm 1963 hầu hết đàn bò cái đ được thụ tinh nhân tạo bằng tinh đông viên của bò đực HF sinh ra tại Ixraen Sau 60 năm tạo giống bò sữa trong điều kiện nông hộ đ thành công trong việc tạo ra giống bò sữa Ixraen thích nghi với điều kiện khí hậu nóng Trong vòng 10 năm trở lại đây nước nay đ xuất khẩu tinh bò đực đ được đánh giá qua đời sau đến 25 nước trên thế giới tập trung chủ yếu ở Tây âu, Đông Âu, Châu á…[12]
2.6 Tình hình chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam
2.6.1 Giai đoạn 1920-1980
Ngành chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam có thể coi được bắt đầu từ năm
1920, khi mà người Pháp đưa một số bò sind (Red Sindhi) vào Việt Nam Số
bò này được lai tạo với bò vàng địa phương tạo ra bò Laisind Bò Laisind hiện nay được phân bố khá rộng r.i trong cả nước, một số có thể khai thác sữa trực tiếp và có thể làm nền rất tốt để lai tạo với các giống bò sữa chuyên dụng, như
Trang 29bò sữa Holstein Frisiend (HF) tạo ra các loại bò lai hướng sữa thích nghi với
điều kiện khí hậu của nước ta (ACI và VS CICD, 2005) [1]
Từ năm 1954 đến năm 1960, nước ta bắt đầu quan tâm đến phát triển chăn nuôi bò thịt và bò sữa Nhiều nông trường quốc doanh đ được xây dựng: Mộc Châu (Sơn La), Ba Vì (Hà Tây), Than Uyên (Yên Bái), Tam Dương (Lai Châu), Hà Trung (Thanh Hoá) Năm 1960 chúng ta đ nhập bò sữa Lang trắng đen Bắc Kinh gốc Hà Lan về nuôi thử nghiệm ở Mộc Châu, Ba Vì và Sa
Pa Năm 1963 ở miền Bắc đ sử dụng bò Lang trắng đen Bắc Kinh cho lai với
bò laisind tạo con lai Hà ấn, dùng bò Lang trắng đen Bắc Kinh lai với bò vàng Việt Nam, đời con sinh ra gọi là bò lai Hà - Việt
Trong những năm 1970, nước ta được chính phủ Cu Ba viện trợ cho
1000 con bò sữa Holstein về nuôi thử nghiệm tại Mộc Châu Sau năm 1975 một số bò thuần HF được chuyển vào Đức Trọng (Lâm Đồng) Đồng thời chính phủ Cu Ba đ giúp ta xây dựng Trung tâm bò đực giống Môn Ca Đa, sản xuất tinh bò đông lạnh tại Ba Vì - Hà Tây Trong giai đoạn đó bò HF thuần do các nông trường quốc doanh quản lý và chủ yếu được nuôi theo hình thức chăn thả luân phiên Từ khi có chỉ thị 100/CT-TW của Đảng về khoán, quản lý nông nghiệp, đàn bò sữa HF thuần từng bước được chuyển về nông hộ quản lý
và chủ yếu được nuôi theo phương thức nuôi nhốt (ACI và VSF – CIDA, 2005) [1]
2.6.2 Giai đoạn 1980-2000
Từ năm 1980-2000 phong trào chăn nuôi bò sữa ở nông hộ phát triển, cùng với việc áp dụng rộng r.i tiến bộ kỹ thuật, nhất là kỹ thuật TTNT mà đàn bò sữa giai đoạn này phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng Tổng đàn năm
1993 là 11.150 con tăng 14 lần so với năm 1978 Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương có tốc độ tăng nhanh nhất, tốc độ tăng bình quân là 60%/năm Từ số liệu này cho thấy vai trò quan trọng của yếu tố con người, yếu tố khoa học kỹ thuật nhất là công tác TTNT, đặc biệt là hình thức chăn nuôi bò sữa tại hộ gia đình đ
Trang 30Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………22
trở thành động lực thúc đẩy ngành chăn nuôi bò sữa phát triển (Trần Trọng Thêm, 2000) [ 48] Thời gian này mặc dù đàn bò sữa tăng nhưng phân bố không
đều, chỉ tập trung ở một số nơi; đàn bò sữa lai được nuôi trong hộ gia đình ở lân cận Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hà Tây Đàn bò sữa thuần HF được nuôi chủ yếu ở Mộc Châu và Lâm Đồng Sản lượng sữa tăng nhanh, song chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ (Phùng Quốc Quảng và cs, 2003) [34]
Từ năm 1986, năm khởi đầu chuyển đổi của sự quản lý kinh tế từ tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng x hội chủ nghĩa Các cơ sở chăn nuôi bò sữa quốc doanh gặp nhiều khó khăn, số lượng đàn bò sữa giảm đáng kể, đàn bò sữa thuần HF giảm liên tục từ 3500 con (1995) xuống 2000 con (2000) Trước thực tế đó, đòi hỏi các cơ sở quốc doanh phải chuyển đổi hình thức chăn nuôi; chăn nuôi tập trung từng bước chuyển sang theo cơ chế khoán hộ Trong giai đoạn (1995-1997) do sản phẩm sữa làm ra khó tiêu thụ, giá cả thức ăn không ổn định, chất lượng
đàn bò sữa xấu Nên tình hình chăn nuôi bò sữa ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh phát triển chững lại và có xu hướng giảm (Nguyễn Văn Thưởng, 2000) [26] Ba năm (1998-2000), nhờ thành tựu khoa học kỹ thuật và phong trào nuôi bò sữa ở hộ gia đình phát triển, nhất là ở các thành phố lớn Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và một số vùng phụ cận; đàn bò sữa tiếp tục tăng từ 27.000 con (1998) lên 35.000 con (2000) Tốc độ tăng bình quân là 14,8%/năm; tổng sản lượng sữa tăng từ 32.000 tấn lên 52.200 tấn, tốc độ tăng 31,7%/năm Song sản lượng sữa tươi cũng chỉ mới đáp ứng được 8% nhu cầu tiêu dùng trong nước (Cục Chăn nuôi, 2003) [3] Nguyên nhân quan trọng của tình trạng trên là do chăn nuôi bò sữa phát triển trên một nền tảng không vững chắc Vì thế, ngay cả khi chăn nuôi bò sữa đ được phục hồi thì nó vẫn còn tiềm ẩn những nguy cơ khủng hoảng (Pozy; P, Phùng Quốc Quảng, 2000)[34]
Trang 312.6.3 Tình hình phát triển chăn nuôi bò sữa từ 2000 đến nay
2.6.3.1 Sự phát triển số lượng và phân bố đàn bò sữa ở các vùng miền ở Việt Nam
Từ năm 2000 đến 2004, đàn bò sữa ở nước ta, phát triển nhanh, tốc độ tăng đàn bình quân của giai đoạn là 27,8% Diễn biến số lượng và tốc độ phát triển đàn bò sữa cả nước từ năm 2000 - 2006, được thể hiện ở bảng 2.3 [12]
độ quản lý thấp không đáp ứng kịp yêu cầu, hơn nữa giá thức ăn tinh và các dịch vụ khác tăng cao, trong khi giá thu mua sữa không tăng Chăn nuôi bò sữa hiệu quả thấp, thậm chí lỗ vốn, dẫn đến nhiều hộ dân chuyển sang nuôi bò thịt
Tính đến 2006, tổng đàn bò sữa của nước ta là 113,2 nghìn con, trong
đó trên 75% tập trung ở thành phố Hồ Chí Minh và các vùng lân cận như:
Đồng Nai, Bình Dương; khoảng 20% ở các tỉnh phía Bắc và dưới 2% ở các tỉnh miền Trung và trên 2%, ở Tây Nguyên (Nguyên Xuân Trạch và cs, 2006) [31] Dự báo đến cuối năm 2007, số lượng đàn bò sữa của nước ta là 130.300con Phân bố về số lượng của đàn bò sữa từ 2001 đến 2006 được thể hiện ở bảng 2.4
Trang 33Như vậy, trên phạm vi toàn quốc số lượng đàn bò sữa đều tăng qua các năm, trong đó tốc độ tăng cao nhất là năm 2003, tổng đàn bò sữa cả nước tăng 42% so với năm 2002 Tuy nhiên đến năm 2006; hầu hết các vùng sinh thái trong cả nước, đàn bò sữa đều giảm; chỉ có vùng Đông Nam Bộ và Đồng Bằng sông Cửu Long có số lượng đàn bò sữa tăng tương ứng là 17% và 26%; nhờ vậy mà đàn bò sữa trên toàn quốc năm 2006 tiếp tục tăng so với năm 2005 là 8,74% [12]
2.6.3.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ sữa
Sau nhiều năm đổi mới, đời sống của nhân dân được cải thiện cả về vật chất và tinh thần Nhu cầu về các loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao; nhất là nhu cầu tiêu dùng sữa tươi và các sản phẩm sữa ngày càng tăng nhanh Tình hình sản xuất và tiêu thụ sữa được trình bày ở bảng 2.5
Năm 2006, tổng sản lượng bò sữa của Việt Nam gần 216 nghìn tấn, đáp ứng 26% nhu cầu tiêu dùng trong nước, các sản phẩm sữa tiêu dùng hàng ngày như sữa tiệt trùng, sữa bột, sữa đặc có đường phần lớn được sản xuất từ sữa bột gầy và bơ nhập khẩu nước ngoài Năm 2006, tổng các sản phẩm sữa nhập bằng con đường chính ngạch quy ra sữa bột khoảng trên 50.000nghìn tấn tương đương khoảng 450.000 tấn sữa tươi Dự kiến năm 2010 tự sản xuất 350.000 tấn, nhập khẩu 710.000 tấn [6]
Bảng 2.5 Tình hình sản xuất và tiêu dùng sữa
Trang 34Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………26
pháp chính sách phát triển bò sữa ở Việt Nam thời kỳ 2001 - 2010”, đến nay phát triển mạnh không chỉ về số lượng mà cả về năng suất sữa Năng suất và sản lượng sữa ở nước ta được thể hiện ở bảng 2.6
Bảng 2.6 Năng suất và sản lượng sữa ở Việt Nam từ năm 2000
2.6.3.4 Cơ cấu giống bò sữa
Theo số liệu của Cục chăn nuôi, 2005 [3] trong tổng số đàn bò sữa của cả nước tính đến ngày 31/7/2005 có 107.609con, trong đó bò lai F1 50% HF: 26.022 con (24,18%); bò lai 75% HF: 28.108 con (26,12%); bò lai 87,5% HF: 21.907 con (20,36%); bò lai trên 87,5% HF: 14.989 con (13,93%); bò lai Jersey: 274 con (0,25%) và bò HF thuần: 16.309 con (15,15%)
Do điều kiện tự nhiên, kinh tế - x hội của các vùng, các miền và của mỗi địa phương khác nhau, nên cơ cấu giống bò sữa của các vùng miền cũng
có sự khác nhau; tổng đàn bò lai hướng sữa của cả nước là: 88.545 con (82,88%); được phân bố tập trung chủ yếu ở Đồng bằng Sông Hồng và Miền
Đông Nam Bộ Đàn bò sữa HF thuần tập trung chủ yếu ở vùng Đông Bắc Bộ, Tây Bắc Bộ và Tỉnh Lâm Đồng; các địa phương khác có nuôi song số lượng không nhiều [23]
Trang 35Bảng 2.7 Năng suất sữa của các loại bò sữa Việt Nam
Phần giống Sản lượng
(Kg/chu kỳ)
Chu kỳ vắt sữa (ngày)
Mỡ sữa (%)
Năng suất sữa/ngày (kg)
có quy mô chăn nuôi từ 200 đến 2000con, như trại Phú Lâm (Tuyên Quang), Thọ Xuân (Thanh Hóa)…
2.6.4 Mục tiêu phát triển ngành chăn nuôi bò sữa nước ta đến năm 2020
Tổ chức sản xuất chăn nuôi bò sữa ở các vùng sinh thái có lợi thế nhằm mục tiêu sau:
- Đạt số lượng bò sữa lên 200 ngàn con năm 2010; 350 ngàn con năm
Trang 36Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………28
năm 2010; 16kg/người năm 2015 và 20kg/người năm 2020
- Đưa tỷ lệ sữa tươi sản xuất trong nước so với tổng lượng sữa chế biến tiêu dùng lên 33% năm 2010, 38% năm 2015 và 40% năm 2020 (Cục Chăn nuôi, 2007) [6]
2.6.5 Đánh giá những thuận lợi cơ bản và khó khăn chính đối với ngành Chăn nuôi bò sữa của nước ta
Đồng thời có sự phối hợp chặt chẽ có hiệu quả của các cơ quan khoa học, của các ngành từ Trung ương đến địa phương
- Chương trình bò sữa đ góp phần thúc đẩy chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn và phát triển ngành sữa của nước ta, chăn nuôi bò sữa đ góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống nông
hộ, phát triển nông thôn; nhiều hộ đ vươn lên làm giàu từ nghề chăn nuôi bò sữa, đ tích lũy, tích tụ tăng quy mô trở thành các trang trại nuôi bò sữa
- Có cơ sở khoa học và thực tiễn, chất lượng giống ngày càng được cải thiện đáng kể
+ Thực tiễn sản xuất đ khẳng định được phẩm giống thích hợp với điều kiện tự nhiên khí hậu nóng, ẩm nhiệt đới và có hiệu quả là bò lai giữa bò HF và
bò lai sind; có tỷ lệ máu HF từ 50 - 75% Trong thời gian tới cần nghiên cứu, xem xét liệu bò lai 87,25% HF có thích nghi với điều kiện nóng ẩm của các vùng hay không
Trang 37+ Để có cơ sở đánh giá chất lượng của đàn bò sữa, hàng năm một số địa phương đ tổ chức giám định, bình tuyển để cơ cấu lại đàn, tăng cường loại thải những cá thể năng suất thấp, nuôi kém hiệu quả, chọn lọc những con tốt,
tổ chức quản lý phôi tinh giống năng suất cao, là cơ sở để cải thiện chất lượng giống và tăng sản lượng sữa hàng hóa
+ Để cơ cấu lại đàn, các địa phương đ tổ chức giám định bình tuyển, tổ chức công tác quản lý giống, tăng cường loại thải những cá thể có năng suất thấp, chọn lọc những con tốt, tổ chức quản lý, thực hiện tốt chương trình giống, nhờ đó chất lượng giống ngày được cải thiện Người nông dân từng bước tích lũy kiến thức và kinh nghiệm chăn nuôi bò sữa; thông qua tổ chức tốt các lớp tập huấn, xây dựng các mô hình, các cuộc Hội thảo trao đổi kinh nghiệm trong chăn nuôi bò sữa, có điều kiện và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật
về chuồng trại, về chăm sóc nuôi dưỡng theo hướng công nghệ tiên tiến như làm mát cho bò trong mùa nắng nóng, xử lý chất thải qua hệ thống Biogas…
- Có thị trường tiêu thụ sữa lớn; nhu cầu tiêu dùng sữa ở thị trường trong nước đang và sẽ tiếp tục tăng nhanh, nhất là ở các khu vực thành phố, đô thị và khu công nghiệp Sản xuất sữa trong nước, hiện nay mới đáp ứng khoảng 26% nhu cầu tiêu dùng, như vậy, thị trường tiêu thụ sữa trong nước còn rất lớn để phát triển ngành hàng sữa
- Chăn nuôi bò sữa đ mang lại hiệu quả kinh tế bước đầu; mặc dù là một nghề mới, quy mô sản xuất hiện tại còn nhỏ, phân tán, bước đầu đ khẳng
định tính hiệu quả của nó trong sản xuất nông nghiệp so với các cây con khác thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Trang 38Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………30
+ Hệ thống quản lý và sản xuất con giống chưa được thống nhất từ Trung
ương đến địa phương, chưa hình thành hệ thống quản lý sản xuất bò sữa giống tốt Chương trình quốc gia về con giống còn chưa rõ ràng, chưa cụ thể; việc hình thành con giống bò sữa Việt Nam còn nhiều tranh c.i, nên tiếp tục tăng dần tỷ lệ máu HF trong đàn bò lai hướng sữa hay cố định F2, hay cố định F3
+ Việc quản lý và sử dụng nguồn tinh bò sữa còn thiếu thống nhất, nhà nước không kiểm soát chặt chẽ chất lượng nguồn tinh nhập khẩu, trên thị trường xuất hiện tinh của nhiều bò đực có tiềm năng năng suất thấp [9]; việc
tổ chức và quản lý hoạt động của hệ thống truyền tinh nhân tạo chưa chặt chẽ; nhiều dẫn tinh viên tay nghề thấp, thiếu trách nhiệm thiếu lương tâm nghề nghiệp, không quan tâm đến kết quả và tiến bộ chất lượng giống của đời sau thế nào, tạo bất lợi cho ngành chăn nuôi
+ Tất cả bò cái nuôi trong nông hộ quy mô nhỏ không có sổ ghi chép,
do vậy không quản lý được giống và hệ phả của mỗi bò cái
+ Trong những năm đầu, nhiều địa phương triển khai chương trình chăn nuôi bò sữa, nhu cầu con giống tăng cao, nhiều nơi đ cho lai giữa bò HF với
bò lai sind chất lượng thấp và cả bò vàng địa phương để sản xuất con lai (Hà - Việt) hâu như không có khả năng cho sữa thương phẩm
- Tổ chức sản xuất chưa hợp lý: Quy mô chăn nuôi nhỏ và chưa liên kết sản xuất khép kín; ngay cả như ở thành phố Hồ Chí Minh là địa phương có chăn nuôi bò sữa phát triển nhất thì số hộ chăn nuôi quy mô dưới 10 con chiếm tới 83,3% và có chưa đến 5% số hộ tham gia tổ hợp tác và Hợp tác x [15] Đây có thể nói là rào cản cho quá trình phát triển sản xuất lớn, làm ảnh hưởng trực tiếp đến việc ứng dụng đồng bộ công nghệ mới nhằm giảm giá thành sản phẩm sữa, tạo đà phát triển chăn nuôi bò sữa bền vững trong thời kỳ hội nhập WTO
- Điều kiện khí hậu không thuận lợi: khí hậu nước ta nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm có những ngày, những tháng nhiệt độ lên cao từ 37 - 380C, ẩm độ lớn
Trang 39lên tới 95 - 100% là điều kiện bất thuận cho các loại bò sữa, nhất là các phẩm giống có tỷ lệ máu HF cao
- Thiếu thức ăn thô xanh
+ Nhìn chung, nước ta không có đồng cỏ lớn, vùng Đồng bằng không
có b.i chăn thả, nên nguồn thức ăn thô xanh cho nuôi bò sữa chỉ dựa vào 3 nguồn chính là: Cỏ trồng, tận dụng cỏ tự nhiên và nguồn phụ phẩm nông nghiệp và công nghiệp chế biến Do thiếu đồng cỏ không nên tổ chức chăn nuôi bò sữa theo quy mô lớn, nếu một khi không dành diện tích canh tác tương ứng để trồng cỏ Hơn nữa hiện nay các giống cỏ năng suất cao chỉ có tập đoàn giống cỏ hòa thảo như: cỏ voi, cỏ ghine….cho năng suất bình quân
130 - 150tấn/ha/năm, nhưng thiếu tập đoàn giống cỏ họ đậu thích hợp [13]
+ Việc phát triển đồng cỏ làm thức ăn cho bò sữa hiện nay gặp nhiều khó khăn do quỹ đất có hạn, giá đất không phù hợp; nhất là những vùng chăn nuôi tập trung như thành phố, thị x.; do vậy nguồn thức ăn xanh nhìn chung là chưa đáp ứng được nhu cầu cho phát triển đàn bò Theo ước tính sản lượng cỏ trồng và cỏ xanh tự nhiên hiện nay chỉ đáp ứng được khoảng 50% nhu cầu thức ăn xanh cho đàn bò sữa Những tháng mùa khô cỏ xanh thiếu trầm trọng, ngay cả rơm rạ; nguồn thức ăn dự trữ chính, có hàm lượng dinh dưỡng thấp cũng không đủ; từ thực tế đó, người nuôi phải sử dụng thức ăn tinh, thậm chí nhiều nơi còn quá lạm dụng thức ăn tinh thay thế một phần thức ăn thô xanh trong chăn nuôi bò sữa Đây chính là nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng
bò sinh sản kém, năng suất sữa thấp, chất lượng sữa kém
- Trình độ chăn nuôi thấp
+ Nghề nuôi bò sữa là một nghề mới ở hầu hết các địa phương của nước ta; nên người chăn nuôi nhiều vùng chưa có kinh nghiệm chăn nuôi, thiếu những hiểu biết và kiến thức cơ bản về chọn giống, chăm sóc nuôi dưỡng, công tác thú y và khai thác sữa… nên hiệu quả chăn nuôi của nhiều hộ gia
đình chưa cao, thập chí là thua lỗ
Trang 40Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………32
+ Mặc dù đ được tập huấn, trang bị những kiến thức, kỹ năng cơ bản
về chăn nuôi bò sữa, trên thực tế thực tiễn trình độ kỹ thuật của người chăn nuôi còn nhiều hạn chế Nhiều nông dân mắc phải những sai lầm như: quá lạm dụng trong việc sử dụng thức ăn tinh cho bò sữa, vừa gây l.ng phí, vừa ảnh hưởng không tốt đến sinh lý sinh sản, tăng bệnh sinh sản, bệnh chân móng, gối; tăng tỷ lệ loại thải; nuôi dưỡng kém trong thời gian cho sữa, không quan tâm nhiều đến vận động làm ảnh hưởng đến sức khỏe bò cái khả năng sinh sản kém, vệ sinh thú y không đúng, nhất là trong sinh sản và khai thác sữa không
đảm bảo vệ sinh làm giảm sản lượng và chất lượng sữa, không thực hiện ghi chép đầy đủ các thông tin về công tác quản lý kỹ thuật, quản lý kinh tế để chọn lọc và loại thải chính xác
- Thú y và vụ dịch vụ kỹ thuật còn hạn chế
+ Mạng lưới thú y còn nhiều bất cập, nhất là đội ngũ thú y ở cơ sở x., liên thôn Số lượng thiếu, chất lượng chưa theo kịp yêu cầu của sản xuất, trình
độ chuyên sâu về chăn nuôi bò sữa thấp, thiếu kịp thời trong công tác chẩn
đoán và điều trị
+ Hiện tại chưa có những giải pháp, những hướng dẫn để khắc phục triệt để nhiều loại bệnh thông thường nhất là các bệnh về sinh sản; đ gây ra nhiều rủi ro cho người chăn nuôi bò sữa
+ Việc quản lý nhà nước kiểm tra chặt chẽ chất lượng thuốc thú y, thức
ăn chăn nuôi, giống Sản xuất trong nước và nhập khẩu chưa tốt, hàng kém chất lượng, hàng giả còn lưu thông trên thị trường, nông dân sử dụng gặp rủi
ro nhiều
- Cơ chế chính sách chưa đồng bộ:
Nhà nước chưa có cơ chế pháp lý để buộc các Công ty chế biến sữa phải
tổ chức xây dựng vùng nguyên liệu sữa cho nhà máy chế biến sữa Các công
ty chế biến sữa chưa tổ chức vùng nguyên liệu bò sữa vì họ có thể nhập sữa bột và các loại sản phẩm sữa vào nước ta rất dễ dàng Mặc dù Chính phủ đ có