ý nghĩa khoa học - Nghiên cứu một số đặc tính nông sinh học của các giống cúc có triển vọng, trong điều kiện sinh thái vùng trồng hoa ngoại ô thành phố Thanh Hoá,... Theo nghiên cứu của
Trang 1Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………i
Trường đại học nông nghiệp I
-LÊ HOàI THANH
NghiÊn cứu đặc tính nông sinh học và các biện pháp
kỹ thuật nâng cao năng suất, phẩm chất một số
giống cúc ở vùng trồng hoa thanh hoá
Trang 2Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………ii
lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình khoa học do tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Hoàng Ngọc Thuận
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đ được cám ơn và các trích dẫn trong luận văn đ được chỉ rõ nguồn gốc
Các số liệu, kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực
và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào khác ở trong và ngoài nước
Tác giả luận văn
Lê Hoài Thanh
Trang 3Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………iii
lời cảm ơn
Để hoàn thành luận văn này, trong quá trình học tập và nghiên cứu, bên cạnh sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đ nhận được sự quan tâm giúp
đỡ tận tình của nhiều tập thể, cá nhân, của gia đình và người thân
Nhân dịp này, trước hết cho phép tôi đựơc bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới thầy PGS -TS Hoàng Ngọc Thuận đ tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện thành công các thí nghiệm và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô Khoa nông học, trường đại học nông nghiệp 1 Hà Nội; Khoa sau đại học, trường đại học nông nghiệp 1
Hà Nội đ luôn luôn giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn Trường đại học Hồng Đức; Khoa nông lâm ngư, trường đại học Hồng Đức; Bộ môn khoa học cây trồng, khoa nông lâm ngư, trường đại học Hồng Đức và các đồng nghiệp … đ quan tâm giúp đỡ
và tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện công trình nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn này, tôi còn nhận được sự động viên kịp thời của gia đình và người thân
Một lần nữa cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đén tất cả những
sự giúp đỡ khích lệ quy báu này
Tác giả luận văn
Trang 4Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………iv
Môc lôc
2.1.1 Nguån gèc, vÞ trÝ, ph©n lo¹i, gi¸ trÞ kinh tÕ vµ gi¸ trÞ sö dông 6
2.1.4 T×nh h×nh s¶n xuÊt vµ ph¸t triÓn hoa cóc trªn thÕ giíi vµ ë ViÖt Nam 13
2.1.4.1 T×nh h×nh s¶n xuÊt vµ ph¸t triÓn hoa cóc trªn thÕ giíi 14
2.2 T×nh h×nh nghiªn cøu c©y hoa cóc trªn thÕ giíi vµ ë ViÖt Nam 18
2.2.2.1 ChiÕu s¸ng bæ sung hoÆc chiÕu s¸ng gi¸n ®o¹n 23
2.2.2.2 Rót ng¾n thêi kú sinh tr−ëng sinh d−ìng, kÝch thÝch sù në hoa cña c©y hoa cóc b»ng c¸ch che s¸ng trong thùc tÕ s¶n xuÊt 24
2.2.2.5 Nh÷ng nghiªn cøu vÒ nu«i cÊy m« tÕ bµo hoa cóc 26
2.2.2.6 Nghiªn cøu vÒ chÊt ®iÒu tiÕt sinh tr−ëng hoa cóc 27
Trang 5Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………v
4.1.1 Đặc điểm khí hậu của thành phố Thanh Hoá ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát
4.1.2 Đặc điểm của đất đai thành phố Thanh Hoá ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát
4.2 Thực trạng sản xuất và tiêu thụ hoa cúc tại thành phố Thanh Hoá 50
4.2.1 Thực trạng sản xuất hoa cúc của thành phố Thanh Hóa 50
4.2.2 Thực trạng tiêu thụ hoa cúc ở thành phố Thanh Hóa 52
4.3 Nghiên cứu quá trình sinh trưởng, phát triển của một số giống cúc ở các
4.3.2 Thời gian và tỷ lệ ra rễ ở cành giâm của các giống cúc nghiên cứu trong vụ
4.3.3 Các thời kỳ sinh trưởng, phát triển của các giống cúc nghiên cứu ở vụ đông
4.3.4 Đặc điểm sinh trưởng của các giống cúc nghiên cứu ở vụ đông xuân 2006 –
4.3.5 Đặc điểm về số lượng và chất lượng hoa của các giống cúc nghiên cứu 57
4.4 Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật để tăng năng suất, chất lượng hoa của một số giống cúc trồng vụ đông xuân 2006 – 2007 và vụ xuân hè 2007 tại Thanh Hoá 58
4.4.1 ảnh hưởng của cường độ và thời gian chiếu sáng đến năng suất, phẩm chất hoa
4.4.1.1 ảnh hưởng của cường độ và thời gian chiếu sáng đến sinh trưởng của một số
4.4.1.2 ảnh hưởng của cường độ và thời gian chiếu sáng đến khả năng kháng sâu bệnh hại của một số giống cúc trồng vụ đông xuân 2006 - 2007 và vụ xuân hè 2007 tại Thanh Hoá
65
4.4.1.3 ảnh hưởng của cường độ và thời gian chiếu sáng đến năng suất, chất lượng của một số
Trang 6Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………vi
4.4.1.4 ảnh hưởng của cường độ và thời gian chiếu sáng đến hiệu quả kinh tế của một số
4.4.2 ảnh hưởng của nguồn gốc cây mẹ đến hệ số nhân giống và năng xuất, chất lượng giống cúc vàng Đài Loan trong vụ đông – xuân 2006 - 2007 tại Thanh Hoá 70
4.4.2.1 ảnh hưởng của nguồn gốc giống đến hệ số nhân giống và các thời kỳ sinh trưởng, phát triển của giống cúc vàng Đài Loan trong vụ đông xuân 2006 - 2007 tại Thanh Hoá 71
4.4.2.2 ảnh hưởng của nguồn gốc giống đến năng suất, chất lượng hoa của giống cúc
4.4.3 ảnh hưởng của thời vụ trồng đến thời gian thu hoạch, năng suất, chất lượng hoa cắt cành của một số giống cúc trong vụ đông xuân 2006 - 2007 và vụ xuân hè 2007 tại Thanh Hoá
74
4.4.3.1 ảnh hưởng của thời vụ trồng đến sinh trưởng của một số giống cúc trong vụ đông
4.4.3.2 ảnh hưởng của thời vụ trồng đến chất lượng hoa của các giống cúc mới nhập nội trong vụ
4.4.3.3 Hiệu quả kinh tế của thời vụ trồng đến chất lượng hoa của một số giống cúc
4.4.4 ảnh hưởng của một số dạng phân bón lá Pomior đến năng suất, chất lượng hoa
4.4.5 ảnh hưởng của phân bón vi sinh Bảo Đắc đến chất lượng hoa cắt cành của một số
4.4.5.1 ảnh hưởng của phân bón vi sinh Bảo Đắc đến sinh trưởng, phát triển của một số
4.4.5.2 ảnh hưởng của phân bón vi sinh Bảo Đắc đến chất lượng hoa cắt cành của một
4.4.5.3 Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng phân bón vi sinh Bảo Đắctrong sản xuất hoa
4.4.6 Nghiên cứu ảnh hưởng của dung dịch cắm hoa đến độ bền hoa cúc cắm lọ 98
Trang 7Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………vii
Trang 8Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………1
1 Mở đầu 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Tập quán văn hoá dùng hoa tươi tăng trưởng theo sự phát triển kinh tế và phồn vinh của một đất nước ở các nước tiên tiến, nhu cầu và chi phí về hoa tươi khá cao: Pháp 140 USD, Hà Lan 65 USD, Thuỵ Sĩ 67 USD, Mỹ 43 USD, Canada 39 USD / người / năm Sản lượng hoa tăng lên theo thời gian, từ 1996-
2002 sản lượng tăng lên 2 lần, giá trị sản lượng từ 25 tỉ USD lên 45 tỉ USD Nhiều nước có nền công nghiệp trồng hoa đạt giá trị sản lượng rất cao như Hà Lan 4,5 tỉ USD / năm; Mỹ 3,9 tỉ USD / năm; Nhật bản 3,2 tỉ USD / năm v.v Châu á - Thái Bình Dương có diện tích trồng hoa chiếm 60% diện tích hoa của thế giới, nhưng diện tích trồng hoa thương mại nhỏ, các nước đang phát triển chỉ chiếm 20% thị trường hoa thế giới, nguyên nhân do diện tích trồng hoa
được bảo vệ thấp, hoa thường được trồng trong điều kiện tự nhiên của đồng ruộng, chủ yếu phục vụ thị trường nội địa Các nước Đông Nam á có sản lượng hoa lớn: Thái Lan; Đài Loan; Singapo; Trung Quốc.[19]
Việt Nam là một nước nông nghiệp, có diện tích trồng trọt là 7 triệu ha, 70% dân số sống bằng nghề nông, người dân cần cù chịu khó, có kinh nghiệm sản xuất hoa, nhưng diện tích trồng hoa ở Việt Nam còn nhỏ, chiếm khoảng 0,02% diện tích
đất trồng trọt, tập trung ở các vùng trồng hoa truyền thống, ở thành phố, khu công nghiệp, khu du lịch, nghỉ mát Năm 2003 tổng diện tích trồng hoa khoảng 5.700 ha Những năm gần đây, do nhu cầu của cuộc sống, và do hoa là cây trồng cho thu nhập khá, việc phát triển sản xuất hoa ở Việt Nam đ tăng nhanh, nhưng chủ yếu vẫn là trồng hoa ngoài tự nhiên; năm 2004, Công ty hoa Hafarm (Đà Lạt-Lâm
Đồng) đ ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất hoa hồng, cúc, đồng tiền, lily; giống nhập từ Hà Lan, với 28 ha nhà lưới, kết quả cho năng suất và thu hiệu quả kinh tế cao gấp 20-30 lần so với trồng hoa thông thường
Trang 9Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………2
Cùng với sự phát triển của x hội đời sống con người được nâng cao, nhu cầu thưởng thức cái đẹp càng gia tăng thì nghề trồng hoa, đ và đang trở thành một ngành kinh tế thu nhiều lợi nhuận Năm 2006 Festival hoa thế giới được tổ chức tại Đà Lạt đ nói lên ý nghĩa và giá trị nghề trồng hoa ở nước ta Kế hoạch của Việt Nam là phát triển diện tích trồng hoa lên khoảng 10.000 ha, với sản lượng 3,5 tỷ cành, kim ngạch xuất khẩu 60 triệu USD vào năm 2010 Hướng sản xuất hoa là tăng năng suất, giảm chi phí lao động, giảm giá thành sản phẩm Mục tiêu sản xuất hoa cần hướng tới là giống hoa
đẹp, tươi, chất lượng cao và giá thành thấp
Cùng với các địa phương có truyền thống trồng hoa như Đà Lạt (Lâm
Đồng); Hóc Môn (Thành phố Hồ Chí Minh); Tây Tựu, Phú Thượng,Vĩnh Tuy, Thanh Trì (Hà Nội); Mê Linh (Vĩnh Phúc) sản xuất hoa ở thành phố Thanh Hoá trong những năm gần đây cũng phát triển, đ góp phần xoá đói giảm nghèo và tạo công ăn việc làm cho nhiều hộ nông dân
Tuy nhiên sản xuất hoa ở thành phố Thanh Hoá còn nhiều hạn chế về diện tích canh tác, năng suất chất lượng chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường Việc mở rộng sản xuất cũng gặp nhiều khó khăn do diện tích manh mún, quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu chủ yếu hoa được trồng tự nhiên ngoài đồng ruộng, chỉ có một số diện tích thí nghiệm và vườn ươm là có mái che, các biện pháp sản xuất theo lối canh tác cổ truyền, mang nặng tính tự phát, dựa vào kinh nghiệm là chính
Hoa cúc là một trong năm loại hoa quan trọng trên thế giới được trồng rộng r.i ở hầu khắp các nước ở Việt Nam cây hoa cúc đ có từ lâu
đời, ngày càng trở nên thân thuộc với người sản xuất và tiêu dùng Cây hoa cúc không chỉ hấp dẫn người thưởng ngoạn về màu sắc, hình dáng mà còn thu hút các nhà sản xuất kinh doanh bởi đặc tính rất bền, tươi lâu, không bị
Trang 10Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………3
rụng cánh, dễ bảo quản và vận chuyển đi xa, đây là một đặc tính mà không phải loài hoa nào cũng có được Cúc cũng là loại cây dễ trồng, dễ nhân giống, có thể trồng nhiều vụ trong năm trên một quy mô lớn và đặc biệt là nhu cầu về hoa cúc trên thị trường lúc nào cũng lớn, do đó hoa cúc đang là cây trồng được chú trọng phát triển Trong những năm qua tốc độ phát triển cây hoa cúc ở nước ta rất mạnh đóng góp một nguồn thu không nhỏ cho các
hộ nông dân trồng hoa, làm thay đổi bộ mặt nông thôn Tuy nhiên, sản xuất hoa cúc ở nước ta cũng còn nhiều hạn chế về diện tích canh tác, năng suất, chất lượng chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường, nguồn cung cấp giống chưa được khai thác hết, các giống nhập về tuy đ góp phần làm tăng chủng loại, tăng sự đa dạng về màu sắc nhưng chỉ trồng theo kinh nghiệm , chưa
đánh giá hết được các đặc tính nông sinh học của giống, chưa xây dựng
được các biện pháp kỹ thuật phù hợp với từng giống, dẫn đến tình trạng năng suất và chất lượng hoa chưa cao, số lượng không cân đối, tồn đọng vào ngày bình thường, đắt và khan hiếm trong những dịp lễ tết do đó phải nhập hoa của nước ngoài Nhằm góp phần khắc phục tình trạng trên tạo điều kiện cho cây hoa cúc phát triển vững chắc, có hiệu quả ở vùng trồng hoa thành phố Thanh Hoá, chúng tôi đ lựa chọn đề tài:
“Nghiên cứu đặc tính nông sinh học và các biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất, phẩm chất một số giống cúc ở vùng trồng hoa thành phố Thanh Hoá”
1.2 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.2.1 ý nghĩa khoa học
- Nghiên cứu một số đặc tính nông sinh học của các giống cúc có triển vọng, trong điều kiện sinh thái vùng trồng hoa ngoại ô thành phố Thanh Hoá,
Trang 11Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………4
làm cơ sở dữ liệu để xây dựng quy trình kỹ thuật thâm canh hoa cúc theo hướng sản xuất hàng hoá cho năng suất và chất lượng cao
- Các kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở cho các đề tài khoa học tiếp theo về hoa cúc - là tư liệu để nghiên cứu, giảng dạy ở địa phương và các vùng trong cả nước
1.3 Mục tiêu của đề tài
- Nghiên cứu một số đặc tính nông sinh học của các giống có triển vọng trong điều kiện canh tác trong nhà nilông có độ mở 60%
- Xác định các yếu tố vi khí hậu ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển
và chất lượng hoa cắt của một số giống cúc
- Xác định một số biện pháp kỹ thuật thích hợp (phương pháp trồng, phân bón, mật độ và thời vụ) cho một số giống cúc
1.4 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu của đề tài
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu: 5 giống cúc gồm: CN 20, CN19, CN01, Vàng Đài Loan, Tiger
1.4.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu của đề tài:
- Các thí nghiệm được thực hiện trên đất vườn thực nghiệm, Trường
đại học Hồng Đức (X Quảng Thắng - Thành phố Thanh Hoá)
Trang 12Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………5
- Thí nghiệm đ−ợc thực hiện ở 2 vụ: vụ đông xuân 2006 - 2007 và vụ xuân hè 2007
Trang 13Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………6
2 Tổng quan 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Nguồn gốc, vị trí, phân loại, giá trị kinh tế và giá trị sử dụng
- Cây hoa Cúc có tên khoa học là Chrysanthemum được định nghĩa từ Chrysos (vàng) và Anthemon (hoa) bởi Linneaus năm 1753, có nguồn gốc từ Trung Quốc, Nhật Bản và một số nước Châu Âu Chen J (1985) [27] đ chứng minh rằng cúc đ được trồng ở Trung Quốc cách đây 500 năm trước công nguyên Ngày nay cúc đ được trồng hầu khắp các nước trên thế giới ở Việt Nam hoa cúc đ được trồng từ lâu đời, người Việt Nam coi hoa cúc là biểu tượng của sự thanh cao, là một trong 4 loài thảo mộc được xếp vào hàng tứ quý
“tùng, cúc, trúc, mai” hoặc “mai, lan, cúc, trúc”
- Từ đầu thế kỷ 19, hoa cúc đ được trồng ở Mỹ, nhưng phải đến năm
1860 hoa cúc mới trở thành hàng hóa và được trồng trong nhà lưới Hiện nay ở Mỹ, hoa cúc là loại hoa rất quan trọng, chủ yếu để cắt cành, một phần trồng trong chậu [26]
- Trong hệ thống phân loại thực vật, Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến (1988) [5] đ xếp cây hoa cúc vào lớp hai lá mầm (Dicotyledonec) phân lớp cúc (Asterydae), bộ cúc (Asterales), họ cúc (Asteraceae), phân họ hoa cúc (Asteroidae), chi (Chrysanthemum) Còn theo điều tra của Lê Kim Biên (1984) [1] thì riêng Chrysanthemum L (Đại cúc) ở Việt Nam có 5 loài, trên thế giới 200 loài và khoảng 1000 giống, các giống loài thuộc chi này chủ yếu sử dụng làm hoa, cây cảnh
- Năm 1969, Võ Văn Chi, Lê Khả Kế, Vũ Văn Chuyên [4] khi điều tra phân loại cây cỏ ở Việt Nam cũng đ kết luận họ cúc rất lớn, có nhiều chi và hiện nay trên thế giới có khoảng 20.000 loài và trên 1000 giống đ
Trang 14Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………7
được trồng phổ biến, riêng Việt Nam có 75 giống, 199 loài (trong đó có nhiều giống loài nhập trồng nhưng chưa được mô tả)
- Trần Hợp năm 1993 [10] đ phân loại cây hoa cúc thuộc nhóm cây thân cỏ, có hoa làm cảnh và cũng đưa ra một số loài cúc trồng ở Việt Nam như cây Tần ô (Rau cúc – C coronarium Linn), cây cúc trắng (C morifolium), cây cúc vàng (Kim cúc – C indicum Linn) và cúc trừ trùng (C cinerariaefolium vis)
- Lê Hữu Cần, Nguyễn Xuân Linh (2003) [2] đ dựa vào 3 cách sau
để phân loại cúc:
+ Dựa vào hình dáng hoa để phân loại cúc đơn hay cúc kép:
Cúc đơn: hoa thường nhỏ từ 2-5 cm, chỉ có từ 1-3 hàng cánh ở vòng ngoài cùng, còn những vòng trong là những cánh hoa rất nhỏ thường gọi là cồi hoa như Chi thơm vàng, Chi Đà Lạt
Cúc kép: hoa có thể > 10 cm hoặc < 5 cm nhưng có nhiều cánh, xếp từng vòng xít nhau, có loại cánh dài cong như Đại đoá, Bạch khổng tước
có loại cánh ngắn đều như CN93, CN98
+ Dựa vào hình thức nhân giống: bao gồm nhân giống bằng phương pháp vô tính như tỉa chồi, giâm cành và nhân giống bằng phương pháp hữu tính đó là hình thức sử dụng hạt để gieo
+ Dựa vào thời vụ trồng hay phản ứng của giống đối với tính chịu rét để phân loại:
Vụ sớm: những giống kém chịu rét như cúc gấm, Hoạ mi
Vụ muộn: những giống chịu rét như Móng rồng, Kim tử nhung
Chính vụ: những giống chịu rét trung bình như các loại cúc Đại đoá Tuy nhiên căn cứ vào tính chịu rét của giống cũng không chính xác tuyệt đối vì còn phụ thuộc vào thời tiết của từng vụ, từng năm Hiện nay một
Trang 15Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………8
số giống nhập nội có thể ra hoa vào mùa hè như CN93, CN98 đ làm cho cúc có thể trồng quanh năm
Để dễ dàng với người sản xuất cũng như người tiêu dùng, các giống cúc ở Việt Nam chủ yếu phân theo 2 loại là cúc đơn (để 1 bông trên cây) như CN93, CN98 và cúc chùm (để nhiều bông / cây) như Hoạ mi, Cúc gấm
- Theo Hoàng Thị Sản (2000) thì Họ cúc là một họ lớn nhất, phân bố rộng r.i nhất, bao gồm tới 1000 chi và hơn 20.000 loài, phân bố ở khắp mọi nơi trên trái đất và sống được ở các môi trường khác nhau Trong họ có nhiều cây được trồng làm cảnh như: cúc đại đoá (chrysanthemum), cúc vạn thọ (tagetes), cúc bướm (cosmos bipinatus), cúc đồng tiền (gerbera) [12]
- Về hiệu quả kinh tế: hiệu quả trồng hoa cúc thường cao hơn trồng các loại cây trồng khác, qua điều tra ở các vùng trồng hoa thì trên cùng một đơn vị diện tích nếu trồng hoa cúc với mật độ khoảng 40 - 45 cây/ m2, người trồng cúc có thu nhập cao hơn trồng lúa khoảng 10 lần / vụ (trong vòng 3-4 tháng) [13]
- Thân: cây hoa cúc thuộc loại thân thảo có nhiều đốt, giòn, dễ g.y, khả năng phân cành mạnh, những giống cúc đơn, thân mập thẳng, giống cúc chùm thân nhỏ và cong Thân đứng hay bò, cao hay thấp, đốt dài hay ngắn, sự phân
Trang 16Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………9
cành mạnh hoặc yếu còn tuỳ thuộc vào từng giống Cây có thể cao từ 30-80 cm, thậm chí có khi đến 1,5 – 2 m
- Lá: lá cúc xẻ thuỳ có răng cưa, lá đơn mọc so le, mặt dưới bao phủ một lớp lông tơ, mặt trên nhẵn, gân hình mạng lưới Từ mỗi nách lá thường phát sinh một mầm nhánh Phiến lá to nhỏ, dày mỏng, xanh đậm nhạt hay xanh vàng còn tuỳ theo giống Bởi vậy trong sản xuất để đạt hiệu quả kinh
tế cao thường tỉa bỏ các cành nhánh phụ đối với giống cúc đơn và để cây sinh trưởng phát triển tự nhiên đối với các giống cúc chùm Từ những đặc
điểm về thân lá cho thấy, những giống cúc có năng suất cao thường có bộ lá gọn, thân cứng mập và thẳng, khả năng chống đổ tốt
- Hoa: theo Okada (1994) [37] đ miêu tả cúc là hoa lưỡng tính hoặc
đơn tính với nhiều màu sắc khác nhau, đường kính hoa từ 1,5 – 2 cm, có thể
là đơn hay kép và thường mọc nhiều hoa trên một cành, phát sinh từ các nách lá Hoa cúc gồm nhiều hoa nhỏ hợp lại trên một cuống hoa, hình thành hoa tự đầu trạng Tràng hoa dính vào bầu như hình cái ống, trên ống đó phát sinh cánh hoa Những cánh nằm phía ngoài thường có màu sắc đậm hơn và xếp thành nhiều tầng, việc xếp chặt hay lỏng còn tuỳ giống Cánh có nhiều hình dạng khác nhau, cong hoặc thẳng, có loại cánh ngắn đều, có loại dài, xoè
ra ngoài hay cuốn vào trong Hoa cúc có 4 - 5 nhị đực dính vào nhau bao xung quanh vòi nhuỵ Vòi nhuỵ mảnh, hình chỉ chẻ đôi Khi phấn chín, bao phấn nở tung phấn ra ngoài, nhưng lúc này nhuỵ còn non chưa có khả năng tiếp nhận hạt phấn Bởi vậy hoa cúc tuy lưỡng tính mà thường biệt giao, nghĩa là không thể thụ phấn trên cùng hoa, nếu muốn lấy hạt giống phải thụ phấn nhân tạo Trong sản xuất việc cung cấp cây con chủ yếu thực hiện bằng phương pháp nhân giống vô tính
- Quả: là quả bế khô, hình trụ hơi dẹt chỉ chứa một hạt Hạt có phôi thẳng và không có nội nhủ
Trang 17Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………10
2.1.3 Yêu cầu ngoại cảnh của cây hoa cúc
- Nhiệt độ
Cây hoa cúc có nguồn gốc ôn đới nên ưa khí hậu mát mẻ Theo Langton (1987) [ 36 ] nhiệt độ cho cây cúc sinh trưởng phát triển tốt là 15 –
200C Cúc có thể chịu được nhiệt độ từ 10 – 350C, nhưng trên 350C và dưới
100C sẽ làm cúc sinh trưởng và phát triển kém DeJong (1978) [29], Hoogeweg (1999) [31] và Karlson (1989) [33] cho rằng nhiẹt độ tối thích cho
sự ra rễ của cúc là 160C – 200C Nhiệt độ này phù hợp với điều kiện mùa Xuân
và mùa Thu của miền Bắc Việt Nam
Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của nhiệt độ tới sự ra hoa của các giống cúc tại Châu Âu, Karlson [33], [34] chia cúc làm 3 nhóm:
+ Nhóm giống không bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ: trong phạm vi từ
100C – 270C, nhiệt độ không ảnh hưởng gì đến sự phân hóa và phát dục của hoa, nhưng nhiệt độ cao hơn hoặc thấp hơn sẽ ức chế sự ra hoa
+ Nhóm giống bị nhiệt độ thấp ức chế ra hoa: bình thường chúng bắt đầu phân hóa mầm hoa từ 160C trở lên, nhiệt độ thấp dưới 160C sẽ ức chế sự phân hóa hoa
+ Nhóm giống bị nhịêt độ cao ức chế ra hoa: nhiệt độ bắt đầu phân hóa hoa của nhóm này cao (>200C) nhưng nếu nhiệt độ quá cao (trên 350C) kéo dài thì sự phát dục của nụ bị ngừng trệ
Theo các tác giả Strelitus, Zhuravic (1986) [39] thì nhiệt độ ảnh hưởng tới cây hoa cúc thể hiện ở hai mặt:
Nhiệt độ ảnh hưởng tới tốc độ phát triển nụ và thúc đẩy quá trình nở hoa
Nhiệt độ ảnh hưởng tới màu sắc hoa, chất lượng hoa: ở nhiệt độ cao, màu sắc hoa nhạt, không đậm
Trang 18Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………11
Các tác giả Jong (1989) [35], Strojuy (1995) [40] khẳng định, thời gian chiếu sáng rất quan trọng cho cây, hay nói cách khác: ngày, đêm dài ngắn khác nhau có tác dụng khác nhau với loại cây này Hầu hết các giống cúc trong thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng cần ánh sáng ngày dài trên 13 giờ, còn trong giai đoạn trổ hoa, cây chỉ cần ánh sáng ngày ngắn từ 10 – 11 giờ / ngày-
đêm
Một số giống cúc có giới hạn về độ dài ngày cho sự ra hoa, tức là chỉ khi thời gian chiếu sáng bằng hoặc ngắn hơn thời gian nhất định mới có thể hình thành mầm hoa và nụ, khi thời gian chiếu sáng dài hơn thời gian giới hạn thì chúng không thể hình thành mầm hoa
Theo nghiên cứu của Đặng Văn Đông (2000) [7] , hoa cúc được trồng vào vụ hè – thu ở điều kiện miền Bắc Việt Nam, sau ngày hạ chí với thời gian chiếu sáng trong ngày ngắn dần, khi đến một độ dài chiếu sáng nhất
định, cúc bắt đầu phân hóa mầm hoa Lúc này, thời gian chiếu sáng trong ngày tiếp tục ngắn thêm, nụ hoa sẽ phát dục bình thường và đến cuối mùa Thu, đầu mùa Đông thì hoa nở Chính vì vậy đây là thời vụ thuận lợi nhất cho trồng cúc ở các tỉnh miền Bắc mà không cần phải xử lý quang chu kỳ ở các mùa vụ khác nhau và các vùng vĩ độ khác nhau, kể cả lúc bắt đầu phân hóa mầm hoa, yêu cầu số ngày có thời gian chiếu sáng ngày dài và ngày ngắn cũng khác nhau Vì vậy, khi trồng cúc ta phải chọn giống và thời vụ trồng
Trang 19Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………12
thích hợp, đồng thời cần điều tiết để đảm bảo cho sự ra hoa bình thường theo ý muốn
Các giống hoa cúc phản ứng khác nhau với quang chu kỳ tức là khác nhau về số giờ chiếu sáng trong ngày và số ngày có ánh sáng ngày ngắn ở một
số nước như Hà Lan, Mỹ, người ta căn cứ vào thời gian bắt đầu phân hóa hoa,
đến khi hoa nở hoàn toàn để phân thành các nhóm giống khác nhau gọi là nhóm giống quang chu kỳ, họ đặt tên các giống theo số tuần bắt đầu có ánh sáng ngày ngắn, đến khi ra hoa Chẳng hạn: nhóm giống phải qua 50 – 56 ngày từ lúc bắt
đầu phân hóa mầm hoa đến khi hoa nở hoàn toàn gọi là nhóm giống 8 tuần, nhóm giống phải qua 57 – 60 ngày gọi là nhóm giống 9 tuần Với cách đó họ đ chia ra 10 nhóm giống với các mức dao động từ 6 – 15 tuần, trong đó số nhóm
từ 9 – 11 tuần là nhiều nhất, số nhóm 13 – 15 tuần gần giống cúc đông của Việt Nam [35]
Sự ra hoa của các nhóm giống không những có nhu cầu khác nhau về
số ngày có thời gian chiếu sáng ngắn mà còn có sự khác nhau về số giờ của từng giai đoạn như giai đoạn phân hóa hoa, giai đoạn hình thành và phát triển của hoa
Theo các nghiên cứu ở Trung Quốc [6] [18] thì các giống cúc mẫn cảm với quang chu kỳ bất kể là ngày ngắn hay ngày dài đều có hai dạng: một dạng yêu cầu về chất và một dạng yêu cầu về lượng của quang chu kỳ Dạng yêu cầu về chất: các giống này phát triển trong một số ngày ngắn nhất định mới phân hóa mầm hoa và nở hoa được Độ dài chiếu sáng trong ngày càng ngắn thì càng có lợi cho việc thúc đẩy phân hóa mầm hoa Các giống cúc trồng vụ Thu - Đông ở miền Bắc Việt Nam phần lớn thuộc dạng này
Trang 20Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………13
Dạng yêu cầu về lượng: các giống này có thể ra hoa trong bất kể độ dài chiếu sáng nào, nhưng ngày càng ngắn thì hoa càng ra sớm, ngày càng dài thì hoa càng ra muộn
Sự ra hoa của cúc chịu sự tác động của ngoại cảnh, chủ yếu là quang chu kỳ và nhiệt độ Quá trình biến đổi sinh lý, sinh hóa trong cây sẽ sản sinh
ra một chất kích thích ra hoa gọi là “florigen”, dưới tác dụng của chất này cây mới có thể phân hóa mầm hoa và ra hoa Rất nhiều thí nghiệm đ chứng minh chất ra hoa được hình thành từ lá, chuyển đến đỉnh ngọn, cành và tạo thành mầm hoa Nếu sau một thời gian tác động của quang chu kỳ, ta ngắt
bỏ lá, sự ra hoa sẽ bị ảnh hưởng Để xác định thời kỳ nào bắt đầu tạo ra sự phân hóa mầm hoa của các giống hoa cúc, ta có thể dùng cách ngắt bỏ lá ở các thời điểm khác nhau Năm 1997, Quách Trí Cương, Trương Vỹ [6] đ tiến hành thí nghiệm với những giống hoa cúc Hàn tử, Đông hồng, Công xuân ở các thời điểm khác nhau Khi ngắt toàn bộ lá của các giống này trước ngày 10/10 thì cây không phân hóa mầm hoa, nhưng ngắt sau ngày 20/10 thì cây phân hóa hoa Từ đó các ông đ rút ra kết luận những giống cúc này bắt đầu phân hóa mầm hoa vào khoảng sau ngày 10/10 Thí nghiệm này cũng đ xác định vai trò cảm ứng của lá đối với sự phân hóa mầm hoa
đất thích hợp = 6- 6,5; đất kiềm và chua thường không thích hợp [2]
2.1.4 Tình hình sản xuất và phát triển hoa cúc trên thế giới và ở Việt Nam
Trang 21Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………14
2.1.4.1 Tình hình sản xuất và phát triển hoa cúc trên thế giới
Theo Hoàng Ngọc Thuận, [ 20 ], tuy cây hoa cúc có từ lâu đời nhưng m.i đến năm 1886 Jacob Layn người Hà Lan mới trồng phát triển mang tính thương mại trên đất nước của ông Cho đến thế kỷ 18 cây hoa cúc mới được trồng rất nhiều và là cây hoa quan trọng nhất đối với Trung Quốc, Nhật Bản
ở Hà Lan cúc là cây hoa trồng quan trọng thứ 2 sau hoa hồng Hàng năm kim ngạch giao lưu buôn bán về hoa cúc trên thị trường thế giới ước đạt tới 1,5 tỷ USD
Bảng 1.1 Những nước xuất và nhập hoa cúc hàng năm (triệu USD)
Ba nước sản xuất hoa cúc lớn nhất chiếm 50% sản lượng hoa của thế giới là Trung Quốc, Hà Lan, Nhật
ở Nhật Bản, cúc được coi là quốc hoa, đây là nước trồng hoa cúc nhiều nhất, diện tích trồng hoa cúc chiếm 2/3 diện tích trồng hoa của cả nước, mỗi năm sản xuất được 200 triệu cành, sản lượng đạt 26 tỷ Yên / năm
và là nước tiêu thụ hoa cúc lớn nhất thế giới
Hà Lan là một trong những nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu hoa cúc Diện tích trồng hoa cúc của Hà Lan năm 1970 là 109 ha, đến năm 1984
Trang 22Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………15
tăng lên tới 5016 ha, chiếm 30% tổng diện tích trồng hoa của cả nước Mỗi năm Hà Lan sản xuất 800 triệu cành cúc, xuất khẩu 150 triệu cành tới 80 nước trên thế giới
Trung Quốc là một quốc gia có kỷ thuật trồng và tạo giống cúc mới rất tốt: phong phú về chủng loại, màu sắc, sản lượng hoa cúc chiếm 20% thị trường hoa cắt Các vùng sản xuất hoa cúc chính là: Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Đông Đây là nước có kỷ thuật tiên tiến trong lĩnh vực sản xuất hoa cúc khô
ở Malaysia sản lượng hoa cúc chiếm 23% tổng số hoa cắt, ngành sản xuât hoa có nhiều tiến bộ kỹ thuật được áp dụng
Hiện nay Tây Âu vẫn là nơi sản xuất và cũng là thị trường tiêu thụ lớn nhất, Đức và Pháp là những nước sản xuất hoa cúc lớn và có hiệu quả nhưng hàng năm vẫn phải nhập một số lượng lớn hoa cúc từ Hà Lan Tuy nhiên đây là những thi trường rất khó tính, muốn xuất khẩu hoa đến các thị trường này đòi hỏi chất lượng hoa tương đối cao, trong khi đó thị trường của các nước châu á
đang tăng do thu nhập của người dân ngày một tăng nhất là thị trường Nhật, Singapo… Điều này đ mở ra một hướng phát triển cho ngành sản xuất hoa của những nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, cần mở rộng diện tích trồng hoa, đầu tư nghiên cứu và áp dụng các biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng xuất và chất lượng hoa, nhất là đối với hoa cúc để đạt tiêu chuẩn hoa xuất khẩu
2.1.4.2 Tình hình sản xuất và phát triển hoa cúc ở Việt Nam
Việt Nam có diện tích đất tự nhiên trên 33 triệu ha Diện tích trồng hoa ở Việt Nam còn nhỏ, chiếm khoảng 0,02% diện tích trồng trọt Hoa
được trồng từ lâu đời; trước kia diện tích trồng hoa chỉ tập trung ở các vùng hoa truyền thống, cạnh các thành phố lớn, khu công nghiệp, khu du lịch, nghỉ mát như: Ngọc Hà, Quảng An, Nhật Tân, Tây Tựu (Hà Nội); Mê Linh
Trang 23Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………16
(Vĩnh Phúc); Đằng Hải, Đằng Lâm (Hải Phòng); Hoành Bồ, Hạ Long (Quảng Ninh); Triệu Sơn, Thành phố Thanh Hoá (Thanh Hoá); Gò Vấp, Hoóc Môn (thành phố Hồ Chí Minh); Thành phố Đà Lạt, Đức Trọng (Lâm
Đồng), ngày nay hoa đ có mặt ở mọi nơi từ núi cao đến đồng bằng, từ nông thôn đến thành thị [7]
Theo số liệu của tổng cục thống kê, năm 2003 cả nước có 9430 ha hoa các loại với giá trị 482,6 tỷ đồng trong đó hoa cúc là 1,484 ha cho giá trị 129,49 tỷ đồng và được phân bố như sau:
Bảng 1.2 Thực trạng sản xuất hoa cúc ở Việt Nam
Diện tích (ha)
Giá trị sản lượng (triệu đồng)
Vùng Đà Lạt (bao gồm cả thành phố Đà Lạt và huyện Đức Trọng) có khí hậu mát mẻ rất thuận lợi cho các loại hoa nói chung và hoa cúc nói riêng Diện tích hoa cắt cành của vùng này năm 1996 chỉ có 174 ha, đến năm 2000 đ tăng lên 853 ha và năm 2005 có khoảng 1467 ha (trong đó hoa cúc chiếm khoảng 24%) Sản lượng hoa cúc hàng năm ước tính khoảng 10 – 13 triệu cành, với giá trị khoảng 84 tỷ đồng [7]
Trang 24Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………17
Trước kia người dân Đà Lạt chỉ trồng một số giống cúc quen thuộc và nhân giống bằng tách thân hoặc giâm cành là chính, hiện nay đ có rất nhiều các chủng loại giống mới từ Hà Lan, Nhật Bản, Singapo được trồng ở Đà Lạt, hầu hết được nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào, nên chất lượng hoa cúc Đà Lạt tương đối tốt, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu Giá trị thu được
từ trồng cúc ở Đà Lạt khoảng 150-180 triệu đồng / ha / vụ (trong đó l.i
Ngoài hai vùng trồng hoa cúc lớn là Đà Lạt và Tây Tựu còn phải kể
đến các vùng hoa cúc tập trung khác là: Gò Vấp (TP Hồ Chí Minh), Nhật Tân, Quảng An (Hà Nội), Đằng Hải (Hải Phòng), Mê Linh (Vĩnh Phúc), Bình Thuận với diện tích tập trung từ vài chục héc ta đến hàng trăm héc ta Ngoài ra
ở hầu khắp các tỉnh thành trong cả nước đều trồng hoa cúc với mức độ phân tán
từ vài héc ta đến vài chục héc ta [9]
Hoa cúc có giá thành thấp so với các loại hoa khác (dao động từ 400 -
800 đồng / cành) nên ngoài các vùng đô thị thì ở những vùng nông thôn, miền núi hoa cúc cũng được tiêu dùng với mức độ khá lớn (chỉ đứng thứ 2 sau hoa hồng) đặc biệt là vào dịp tết Nguyên Đán
Hiện nay, một số công ty nước ngoài đ vào Việt Nam thuê đất, lập doanh nghiệp hoặc liên doanh, hợp tác sản xuất hoa Chỉ tính riêng tỉnh Lâm
Đồng đ có 4 công ty: Nhật Bản, Thái Lan ở Bảo Lộc; Đài Loan ở Di Linh;
Trang 25Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………18
Chánh Đài Lâm ở Đức Trọng và Hasfarm ở Đà Lạt Họ sản xuất các loại hoa cắt có năng suất, chất lượng cao, không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ nội
địa mà còn xuất khẩu [7]
Về thị trường tiêu thụ: Thành phố Hồ Chí Minh là thị trường tiêu thụ hoa cắt lớn nhất Việt Nam, nhu cầu tiêu dùng hàng ngày từ 40-50 ngàn cành
… tiếp đó đến Hà Nội, có nhu cầu từ 25 – 30 ngàn cành / ngày Trong số các loại hoa tiêu dùng hàng ngày thì hoa cúc chiếm từ 25-30% về số lượng
và từ 17-20% về giá trị Hiện nay Việt Nam vẫn phải nhập từ Đài Loan, Hà Lan, Singapo… các giống cúc chùm, cúc đơn như: vàng Đài Loan, CN93, CN98…
Như vậy, có thể nói so với những năm trước đây sản xuất hoa cúc ở Việt Nam đ tăng đáng kể về sản lượng hoa, cũng đ có nhiều cải tiến về kỹ thuật, thâm canh, giống… song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của thị trường cả về số lượng và chất lượng Nếu được đầu tư nghiên cứu, phát triển một cách thích hợp thì cây hoa cúc có thể mang lại nhiều tiềm năng to lớn
2.2 Tình hình nghiên cứu cây hoa cúc trên Thế giới và ở Việt Nam 2.2.1 Tình hình nghiên cứu cây hoa cúc trên thế giới
Cũng như các loại cây hoa khác, hiện nay vấn đề quan tâm của các nhà khoa học là nghiên cứu để tìm ra những giống cúc mới đạt năng xuất cao, mẫu m đẹp, sạch bệnh đáp ứng nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng Hoa cúc ngày nay là một trong những loại hoa thời vụ phổ biến nhất trên thế giới, hoa cúc được ưa chuộng bởi sự đa dạng, phong phú về màu sắc, kích
cỡ, hình dáng hoa, người ta có thể chủ động điều khiển sự ra hoa của cây để tạo nên nguồn sản phẩm hàng hoá liên tục và ổn định quanh năm Hà Lan là một trong những nước sản xuất hoa cúc lớn nhất trên thế giới, một trong những nhân tố góp phần tạo nên sự thành công của nước này là đ sử dụng
Trang 26Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………19
công nghệ nhân giống invitro để sản xuất cây con Công nghệ nhân giống tiên tiến này đ trở thành nền tảng cho ngành sản xuất hoa và cây cảnh của
Hà Lan cũng như các nước sản xuất hoa khác trên thế giới [ 41]
ở Thái Lan để sản xuất cúc thương mại có chất lượng cao, Kamemoto (1997) [32] đ cung cấp ánh sáng nhân tạo để duy trì sinh trưởng dinh dưỡng của cành giâm và dừng chiếu ánh sáng một tháng trước khi chuẩn bị thu hoạch, mùa hè chuyển vùng sản xuất lên nơi cao và điều khiển hoa nở trong điều kiện ánh sáng ngày dài với việc che tối khoảng 30 ngày tính từ khi bắt đầu thu hoa
Fukuda và các cộng sự (1987) [30] cho rằng: nhóm cúc ra hoa mùa thu, sự hình thành và phát triển chồi là trong điều kiện ngày ngắn, chồi hoa hình thành ở nhịêt độ ≥ 150C, nhịêt độ cao không gây ức chế; nhóm cúc ra hoa mùa đông dù trong điều kiện ngày ngắn, nhưng nếu ở nhiệt độ cao sẽ ức chế sự phát triển của chồi hoa; nhóm cúc ra hoa mùa hè, chồi hoa thường hình thành ở 100C trong điều kiện ngày trung tính
Theo Hoogeweg (1999) [31], thời gian chiếu sáng 11 giờ sẽ cho chất lượng hoa cúc tốt nhất, nhưng nếu ở nhiệt độ cao vẫn ức chế sự ra hoa, nên vào những năm nóng ấm sự ra hoa của cúc sẽ gặp nhiều khó khăn, mặc dù
điều kiện ánh sáng có thể đ phù hợp
Theo Lưu Hải Thọ [18] thì tuyệt đại bộ phận giống hoa cúc dưới ánh sáng ngày dài hơn không thể ra hoa được, hoặc những nụ đ được phân hoá, cũng dừng lại tạo thành hình đầu lá liễu Trong điều kiện ngày ngắn đêm dài, cây mới có thể phân hoá hoa và tiếp tục tạo thành hoa Lúc đầu phân hoá hoa, sự sinh trưởng phát dục của hoa yêu cầu độ dài chiếu sáng giữa các giống khác nhau Ví dụ cúc thu có yêu cầu: lúc mầm hoa bắt đầu phân hoá,
độ dài chiếu sáng mỗi ngày nằm trong giới hạn 14,5 giờ; trên 14,5 giờ thì
Trang 27Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………20
không thể phân hoá hoa Mầm hoa sau khi đ phân hoá, ở độ dài chiếu sáng dưới 13,5 giờ / ngày mới có thể tiếp tục phát dục, nếu không sẽ hình thành
đầu lá liễu Các giống hoa cúc đông có độ dài chiếu sáng an toàn cho sự phân hoá mầm hoa và phát dục của hoa là 12,5 giờ/ ngày - đêm Độ dài chiếu sáng trong ngày từ lúc mầm hoa bắt đầu phân hoá cho đến khi hoa nở, phụ thuộc vào thời vụ trồng, vào vĩ độ của từng vùng, vì nếu vĩ độ càng cao, thì số giờ chiếu sáng trong ngày càng ngắn
Các nghiên cứu của Quách Trí Cương, Trương Vỹ (1997) [6], cho thấy yêu cầu về độ dài ánh sáng tới hạn trong ngày của các giống khác nhau, không giống nhau, chúng dao động trong phạm vi từ 12,0 – 13,5 giờ/ ngày-đêm Tuy nhiên cũng có một số giống có phạm vi giới hạn tương đối rộng như giống Encor 14,5 giờ/ ngày - đêm, giống White – Wonder 16 giờ/ ngày- đêm
Số ngày kể từ khi bắt đầu chiếu sáng ngày ngắn đến khi mắt thường
có thể nhìn thấy nụ, ở các giống khác nhau không giống nhau, các thí nghiệm xử lý che bớt ánh sáng với 50 giống cúc thu từ 15 đến 40 ngày cho thấy kết quả khác nhau khá lớn: đa số các giống (57,14%) xuất hiện nụ và hoa đồng bộ nhau; 35,62% ra nụ sớm nhưng ra hoa muộn; 10,20% ra nụ muộn nhưng nụ sinh trưởng phát dục nhanh, [6] Từ những kết quả trên cho thấy, cúc thu bất kể là giống ra hoa sớm hay muộn sau khi chiếu sáng ngày ngắn thì thời gian bắt đầu phân hoá mầm hoa và phân hoá hoa tự, tốc độ nhìn chung giống nhau, tức là sau khi chiếu sáng ngày ngắn 3-5 ngày, hoa bắt đầu phân hoá, sau 24-30 ngày thì sự phân hoá mầm hoa được hoàn thành Các nhóm giống khác nhau ra hoa sớm muộn khác nhau quyết định bởi thời gian kể từ lúc phân hoá mầm hoa và tốc độ phát dục hoa nhanh hay chậm
Thạch Vạn Lý và Đào Thu Chân khi quan sát hai giống cúc mùa thu Hoàng Kim Cầu và Ngân Phong Lĩnh ở Hàng Châu (30021’ Bắc) đ nhận
Trang 28Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………21
thấy sau khi chiếu sáng ngày ngắn 30 ngày thì chúng hoàn thành việc phân hoá mầm hoa Giống Hoàng Kim Cầu bắt đầu phân hoá từ ngày 31/8 và đến ngày 31/9 thì hoàn thành, đến ngày 9/11 thì nở hoa Giống Ngân Phong Lĩnh bắt đầu phân hoá vào nàgy 6/9 và đến ngày 6/10 thì hoàn thành, bắt
đầu nở hoa vào ngày 14/11 [18]
Khi nghiên cứu bộ phận cảm ứng ánh sáng của một số giống cúc ở Trung Quốc, Quách Trí Cương, Trương Vỹ (1997) [ 6 ] đều nhận thấy rằng các lá phía trên là cơ quan cảm thụ chủ yếu, còn các lá phía dưới ít cảm ứng hơn, thậm chí không có cảm ứng Nếu xử lý che sáng (hoặc chiếu sáng bổ sung) quá ít thì không đủ để cây thay đổi quy luật ra hoa
Bên cạnh ánh sáng, nhiệt độ cũng ảnh hưởng đến cây cúc trên hai mặt: một là tác động tới sinh trưởng, phát triển của cây; hai là tác động đến
sự hình thành chồi, sự phát dục của hoa và ảnh hưởng đến chất lượng hoa
Các dòng và giống hoa khác nhau có yêu cầu về nhiệt độ sinh trưởng của cây và sự phân hoá mầm hoa, phát dục khác nhau Nhìn chung nhiệt độ thấp làm chậm quá trình hình thành và phát triển của hoa, còn nhiệt độ cao không chỉ ảnh hưởng đến sự phát dục của hoa mà còn làm giảm phẩm chất hoa
Okada ( 1999 ) [37], cũng cho rằng: sự ra hoa của cây cúc ngoài ảnh hưởng của quang chu kỳ, còn chịu ảnh hưởng của nhiệt độ Nhiệt độ không chỉ ảnh hưởng đén tốc độ phát triển của nụ mà còn ảnh hưởng đến sự phân hoá và phát dục của hoa, nụ đ được phân hoá nếu gặp nhiệt độ thấp, quá trình phát dục sẽ chậm nên hoa cũng nở muộn Thời gian nở hoa sớm hay muộn tuỳ thuộc vào chế độ nhiệt và đặc tính di truyền của giống
Fukuda (1987) [30] cho rằng đối với một số giống cúc, sự ra hoa của chúng không chỉ đơn thuần chịu tác động riêng rẽ của nhiệt độ và ánh sáng,
mà chúng chịu tác động phối hợp của cả hai yếu tố trên Đối với nhóm cúc
Trang 29Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………22
ra hoa vào mùa thu, sự hình thành và phát triển hoa trong điều kiện ngày ngắn, nhiệt độ trung bình 15 - 250C ở nhóm cúc hè sự hình thành và phát triển hoa trong điều kiện ngày dài, nhiệt độ cao 25 - 300C (trong điều kiện Nhật Bản)
Jong J (1989) [35] cũng chứng minh sự phân hoá và phát dục của hoa
được hình thành dưới tác động đồng thời của quang chu kỳ và nhiệt độ Trong quá trình sinh trưởng, phát dục, dưới tác dụng phối hợp của độ dài chiếu sáng trong ngày và nhiệt độ ở mức độ nhất định mới có thể ra hoa, trong đó độ dài chiếu sáng là yếu tố quan trọng hơn, yêu cầu khắt khe hơn
Nhiều nghiên cứu khác cũng cho thấy cả ánh sáng và nhiệt độ đều có
ảnh hưởng đến sự ra hoa của cúc Giới hạn độ dài ngày với việc bắt đầu hình thành mầm hoa và phân hoá hoa không phải bất biến, thường thay đổi khi nhiệt độ thay đổi Kết quả nghiên cứu của Caythel 1957 (dẫn theo Nguyễn Xuân Linh) [12] cho biết: Khi nhiệt độ ban đêm thấp, giới hạn thời gian chiếu sáng của hoa cúc cần dài ra Các giống có thời gian sinh trưởng trung bình và thời gain sinh trưởng dài cần có giới hạn độ dài chiếu sáng cho sự bắt đầu hình thành mầm hoa là 12,5 - 14 giờ/ ngày - đêm
Khi nghiên cứu về tác động của cả nhiệt độ, ánh sáng tới sinh trưởng phát triển của cây cúc Fukuda và các cộng sự (1987) [30] lại cho rằng đối với nhóm cúc ra hoa mùa thu, sự hình thành và phát triển mầm hoa là trong
điều kiện ngày ngắn và mầm hoa này hình thành ở nhiệt độ ≤ 150C, nhiệt
độ cao không gây ức chế Các nhóm cúc ra hoa mùa đông dù trong điều kiện ngày ngắn, nhưng nếu nhiệt độ cao sẽ ức chế sự phát triển của mầm hoa Riêng nhóm ra hoa mùa hè, chồi hoa hình thành ở nhiệt độ > 200C, đối với ánh sáng thì không có biểu hiện phản ứng
Trang 30Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………23
Theo một nghiên cứu khác của Runkle (1998) [38], muốn để cho hoa của giống cúc Snowcap nở hoàn toàn, tập trung, với số lượng lớn cần phải
xử lý lạnh ở 50C trong ít nhất 6 tuần, sau đó xử lý ánh sáng ngày dài ≥ 16giờ/ ngày - đêm, hoặc xử lý quang gián đoạn 4 giờ/ đêm
2.2.2 Tình hình nghiên cứu cây hoa cúc ở Việt Nam
2.2.2.1 Chiếu sáng bổ sung hoặc chiếu sáng gián đoạn
Nếu trồng cúc vào vụ đông cần phải tính đến việc chiếu sáng bổ sung, tăng cường độ chiếu sáng trong ngày để đảm bảo nhu cầu sinh trưởng và phát triển của cây Theo báo cáo khoa học của Viện nghiên cứu rau quả, ở các tỉnh miền Bắc nếu trồng cúc vào các tháng 10, 11, 12 cần phải chiếu sáng bổ sung trung bình 3h/ ngày mới đáp ứng được nhu cầu sinh trưởng của cây hoa cúc Nếu trồng cúc chi vào vụ hè – thu, ngoài việc chọn giống có thời gian sinh trưởng ngắn, cần phải che bớt ánh sáng làm cho cúc ra hoa sớm Đa số các giống cúc đều phản ứng với ánh sáng ngày ngắn, chịu sự tác động của quang chu kỳ ngày ngắn trong việc phân hoá mầm hoa, tức là chúng chỉ phân hoá mầm hoa ở trong một
điều kiện thời gian chiếu sáng nhất định trong ngày [8] Nguyễn Quang Thạch và
Đặng Văn Đông đ đề ra một số biện pháp điều chỉnh sự ra hoa của cúc vào các thời điểm thích hợp bằng cách che bớt ánh sáng hoặc kéo dài thời gian chiếu sáng trong ngày hay sử dụng quang gián đoạn, ví dụ giống cúc CN93 ra hoa sớm trong
điều kiện ngày ngắn, nếu trồng vụ đông thì sau trồng 20 -30 ngày cây sẽ ra hoa,
để khắc phục điều này phải chiếu sáng nhân tạo quang gián đoạn làm cho cúc sinh trưởng, phát triển bình thường và khi đủ kích thước nhất định mới ra hoa thì chất lượng hoa cao hơn hẳn (tương tự trồng chính vụ) Mục đích của chiếu sáng quang gián đoạn là giảm thời gian tối đa của mỗi ngày chứ không phải kéo dài thời gian chiếu sáng liên tục, vì vậy, nếu chiếu sáng thực hiện vào lúc nửa đêm để chia cắt thời gian tối thành 2 giai đoạn tối, đồng thời cũng để tăng số giờ chiếu sáng thì hiệu quả cao hơn nhiều [8]
Trang 31Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………24
Đặng Văn Đông (2000) [7] đ tiến hành thí nghiệm cho cúc CN93 (là giống phản ứng rất chặt với ánh sáng ngày ngắn ) trồng vào vụ đông ở 3 mức độ chiếu sáng bổ sung khác nhau: 2 giờ, 3 giờ, 4 giờ so sánh với đối chứng không xử
lý và xử lý ánh sáng liên tục cả đêm Kết quả cho thấy: thời gian trồng đến nở hoa
ở công thức đối chứng chỉ có 60 ngày, ngắn hơn hẳn các công thức đ xử lý từ 43
- 45 ngày Tỷ lệ nở hoa ở công thức đối chứng cũng rất thấp (65%), trong khi tỷ lệ
nở hoa ở công thức quang gián đoạn cao hơn từ 23 - 25%, chất lượng hoa ở các công thức xử lý ánh sáng đều cao hơn đối chứng (không xử lý)
Nhóm tác giả của Viện nghiên cứu Rau quả đi sâu nghiên cứu biện pháp bổ sung chiếu sáng và đ đưa ra kết luận là: đối với những cây đ xử lý chiếu sáng bổ sung 15 ngày, sau đó để thời gian chiếu sáng ngày ngắn cho cây phân hoá mầm hoa (20 ngày), rồi lại chiếu sáng bổ sung thêm 12 ngày, thì thời gian ra hoa sẽ kéo dài từ 7 - 10 ngày, độ lớn, phẩm chất hoa tốt hơn hẳn so với đối chứng không xử lý, và xử lý liên tục 47 ngày [9]
2.2.2.2 Rút ngắn thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng, kích thích sự nở hoa của cây hoa cúc bằng cách che sáng trong thực tế sản xuất
Căn cứ vào thời kỳ cần thu hoa, căn cứ vào quang chu kỳ của giống trong từng vụ và phương pháp trồng để xác định thời kỳ che sáng thích hợp
- Thời gian bắt đầu và chấm dứt che sáng mỗi ngày: cơ chế làm cho hoa ra sớm của việc che bớt ánh sáng là kéo dài số giờ tối liên tục chứ không đơn thuần là rút ngắn thời gian chiếu sáng trong ngày, vì vậy thời gian che sáng cần tính đến thời gian tối tự nhiên của vùng Thời gian che sáng chỉ có thể lựa chọn: bắt đầu che sáng lúc trước khi mặt trời lặn hay che sáng trước khi tối vài giờ, hoặc che lúc sáng sớm đến khi mặt trời lên cao để rút ngắn thời gian chiếu sáng liên tục Che sáng trước khi mặt trời lặn dễ làm, nhưng vào mùa hè việc che sáng quá sớm khi nhiệt độ không khí quá cao sẽ kéo dài thời gian phân hoá mầm hoa, để tránh nhiệt độ quá cao vào mùa hè ta
Trang 32Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………25
tiến hành che sáng vào sáng sớm Từ khi bắt đầu che, cần tiến hành liên tục
mà không dứt đoạn, đặc biệt là 2 tuần đầu đến lúc bắt đầu phân hoá hoa, nếu quá trình che bị gián đoạn sẽ làm cho cây trở lại sinh trưởng dinh dưỡng Thời gian xử lý che sáng cần phải tiến hành đến khi nụ có màu Sau khi che sáng
14 ngày liên tục thì cúc bắt đầu phân hoá mầm hoa, sau giai đoạn này, mỗi tuần có thể không che một ngày cũng không ảnh hưởng lớn
- Số giờ chiếu sáng mỗi ngày căn cứ vào độ dài ban đêm và sự mẫn cảm của mỗi giống Nguyên tắc chung là phải đảm bảo thời gian tối liên tục mỗi ngày không dưới 13 h Thời gian che sáng ngắn quá không có tác dụng làm cho hoa ra sớm, thậm chí sinh ra hiện tượng đầu lá liễu, nhưng nếu che dài quá thì giảm tác dụng quang hợp, dẫn đến sinh trưỏng kém, hoa nhỏ Sự che sáng gián đoạn trong thời kỳ này rất mẫn cảm với hoa cúc Thời gian che sáng 13 -
14 h mỗi ngày cần được liên tục và phải che hoàn toàn
- Độ lớn của cây khi che sáng: khi che sáng thì cây ít nhất có từ 8 lá trở lên Cúc trồng lấy hoa phải có độ cao nhất định vì vậy khi che sáng phải căn cứ vào yêu cầu chiều dài cành hoa cắt, tốt nhất là bắt đầu che khi cây cao 35 - 50 cm [8]
2.2.2.3 Điều tiết sinh trưởng cho hoa cúc
- Xử lý quang gián đoạn để ngăn cản hiện tượng nở hoa sớm
Nhiều giống cúc phản ứng rất chặt với ánh sáng ngày ngắn (như Cánh sen, Vàng pha lê, Chi vàng ) do vậy khi mới trồng gặp điều kiện ánh sáng ngày ngắn đ ra hoa làm giảm chất lượng hoa Để khắc phục hiện tượng này trồng cúc vào vụ đông - xuân: dùng bóng điện 100W để chiếu sáng thêm 4 giờ,
từ 10 giờ đêm đến 2 giờ sáng (sử dụng rơle tự ngắt để bật tắt công tắc điện), cứ
6 m2/ 1 bóng, chiều cao bóng đèn điều chỉnh xê dịch từ 1,0 - 1,2 m so với ngọn cây Chiếu sáng liên tục kể từ khi trồng được 3 – 4 ngày đến trước trổ bông 30
Trang 33Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………26
ngày, sẽ làm cây chậm phân hoá mầm hoa, kết quả là cây đủ chiều cao cần thiết mới cho ra hoa.[8]
- Sử dụng một số hoá chất kích thích sinh trưởng để tăng chiều cao cây
Phun GA33 nồng độ 20ppm cho cúc vào thời kỳ sinh trưởng gặp điều kiện không thuận lợi (như nhiệt độ thấp) để tăng chiều cao cây Cũng có thể phun kích thích tố Thiên nông 10ml / bình 8 lít, phun ở giai đoạn trước khi cây hình thành nụ [9]
- Cắt tỉa nụ: Nếu là cúc bông một chỉ cần giữ lại 1 hoa chính trên cây
và phải ngắt bỏ toàn bộ số nụ ở phía dưới, thời gian tỉa nụ tốt nhất là khi cuống nụ bắt đầu dài ra từ 1-1,5cm [2]
2.2.2.4 Cắm cọc làm giàn giữ cây hoa cúc
Khi cây cúc đạt chiều cao từ 15 - 20 cm tiến hành cắm cọc giàn giữ cho cây cúc mọc thẳng không bị đổ ng.: dùng cọc tre chắc cắm với khoảng cách 1,5m/ cọc xung quanh luống cúc, sau đó dùng dây nilong hoặc lưới
đan sẵn có kích thước mắt lưới 15 x 15 cm căng trên mặt luống chớm ngọn cây sao cho cây cúc phân bố đều trong mắt lưới Khi cây lớn dần thì lưới
được nâng dần lên theo độ cao của cây
Với các giống cúc có chiều cao cây > 50 cm cần căng 2 lớp lưới, lớp trên cách bông hoa từ 15 - 20 cm để tránh cho cây khỏi bị đổ khi mang hoa[8]
2.2.2.5 Những nghiên cứu về nuôi cấy mô tế bào hoa cúc
Nguyễn Xuân Linh và cộng sự (1998) khi nghiên cứu quá trình nhân giống cúc CN93 bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào mà nguyên liệu khởi
đầu là đỉnh sinh trưởng, kết quả cho hệ số nhân giống khá cao khoảng
611/năm Thí nghiệm trên giống vàng Đài Loan cũng cho hệ số nhân là 510 -
610/năm, giống hồng Đài Loan 310- 410/ năm [11]
Trang 34Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………27
Những tiến bộ của công nghệ sinh học hiện đại và việc áp dụng công nghệ nuôi cấy mô tế bào thực vật trong nghiên cứu khoa học nông nghiệp
mà hoa cúc cũng là một đối tượng được quan tâm nghiên cứu đ góp phần phục vụ sản xuất nông nghiệp trên quy mô lớn hiện nay Phương pháp nhân giống này cho hệ số nhân giống cao hơn gấp nhiều lần so với các phương pháp nhân giống thông thường, đảm bảo giống đồng đều, sạch bệnh, chất lượng hoa tăng rõ rệt Trung tâm hoa và cây cảnh của Viện DTNN, Trường
Đại học Nông nghiệp I, Trung tâm kỹ thuật Rau - Hoa - Quả Hà Nội, Trường đại học Hồng Đức là những cơ quan nuôi cấy mô cây hoa nói chung và cây hoa cúc nói riêng trong suốt nhiều năm nghiên cứu đ cho một
số kết quả Từ 1993 - 1999 một số giống nhập nội đ được chọn tạo và khẳng định được vị thế trên thị trường hoa cắt như giống CN93 (cúc trắng)
được nhập từ Nhật Bản, ngoài ra một số giống nhập nội đang sử dụng trong sản xuất như CN97, CN98, một số giống cúc nhập nội từ tập đoàn giống của
Hà Lan đ chọn được giống vàng Đài Loan, đây là giống chủ lực trong vụ cúc đông hiện nay Các giống trên đ được các cơ quan khoa học nghiên cứu và nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào
2.2.2.6 Nghiên cứu về chất điều tiết sinh trưởng hoa cúc
Báo cáo khoa học của Trường Đại học Nông nghiệp I (1997) đ kết luận: SMG 1% đ làm tăng đường kính bông hoa ở loại nụ 3 cm, nhưng không có hiệu quả ở loại nụ 1,5 cm; làm cho hoa nở sớm hơn so với đối chứng
Đặng Văn Đông khi nghiên cứu ảnh hưởng của 3 dạng chế phẩm dinh dưỡng và kính thích sinh trưởng là Spay- N- Grow (Smg), GA3, Atonik đều kết luận các chế phẩm dinh dưỡng và các chất điều tiết sinh trưởng này có tác dụng tốt tới sinh trưởng, phát triển, năng xuất, chất lượng của giống vàng
Đài Loan [7]
Trang 35Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………28
2.2.2.7 Nghiên cứu về sâu bệnh hại hoa cúc
Theo điều tra của Trần Thị Xuyên (1998) trên hoa cúc có tới 13 loại sâu bệnh gây hại Trong đó có 8 loại sâu và thường gây hại nặng là sâu xanh, sâu xám, sâu cuốn lá Trong 5 loại bệnh đ xác định có 4 loại do nấm gây ra và một loại do vi khuẩn, bệnh phổ biến và gây nặng là bệnh đốm lá, phấn trắng, gỉ sắt [23]
2.2.2.8 Một số nghiên cứu về phân bón cho hoa cúc
Theo Hoàng Ngọc Thuận [ 21 ]:
- Pomior là loại phân bón qua lá tổng hợp dạng phức hữu cơ, thành phần gồm 20 loại hợp chất hóa học vô cơ và hữu cơ khác nhau với nhiều axit amin không thay thế, được thủy phân từ nhiều loại protein thực vật Promior gồm có đầy đủ nguyên tố đa lượng, vi lượng và một số chất điều tiết sinh trưởng với hàm lượng như sau: N= 9.9 %, P2O5=7.8 %, K2O = 4.8%, Ca = 0.4%, Mg = 540 mg/lít, FeO =322 mg/lít , Zn =336 mg/lít, CuO = 222 mg/lít,
Mn = 163mg/lít, Bo = 84 mg/lít, Ni =78.4 mg/lít, Mo = 3 mg/lít và trên 20 loại axít kết hợp với kim loại ở dạng hỗn hợp phức hữu cơ Độ pH 6,5 - 7 Thành phần NPK trong phân phức hữu cơ có thể thay đổi phù hợp với từng dạng khác nhau của cây trồng và tính chất đất đai Phân bón Promior có các tính chất hóa học, vật lý và tác dụng sinh học đối với cây trồng tương tự như các loại phân bón lá phức hữu cơ đang được sử dụng rộng r.i ở một số nước châu âu như Fabella của Anh và Algoflosh của Pháp ở Việt Nam loại phân này đ được thử nghiệm thành công trên nhiều loại cây trồng nông nghiệp như: hoa hồng, hoa cúc, phong lan và địa lan ở nhiều địa phương; đ được ứng dụng trong kỹ thuật trồng rau trên cát, nhân giống và trồng cây phủ xanh b.i cát đảo trường sa lớn cho kết quả cao
Trang 36Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………29
- Phân Pomior cung cấp đầy đủ và kịp thời các nguyên tố đa lượng, trung lượng, vi lượng cho cây trồng ở mọi giai đoạn sinh trưởng, đặc biệt ở những giai đoạn khủng hoảng dinh dưỡng như : thời kỳ cây tăng trưởng mạnh, thời kỳ phân hóa mầm hoa, thời kỳ hình thành nụ, thời kỳ nở hoa và thời kỳ thụ phấn thụ tinh, hình thành quả,…phun trên lá, phun cho toàn bộ cây hoặc tưới thấm trong các nhà vườn ươm cây , trồng hoa trong nhà có mái che sẽ phát huy hiệu lực rất cao của phân bón
Phân bón có tác dụng thúc đẩy các quá trình sinh trưởng , xúc tiến ra hoa, tăng tỷ lệ đậu quả, tăng độ bền hoa cắt, hoa trồng chậu, tăng sức đề kháng của cây đối với sâu bệnh hại nguy hiểm
- Phân bón Bảo Đắc:
+ Loại bón cho rễ: thành phần có khuẩn sống ƯY9710 hàm chứa những loại vi khuẩn bào nha hữu ích, số lượng vi khuẩn sống có ích ≥ 1,2 tỷ con/gam, loại này có tác dụng:
•Tăng màu mỡ cho đất, hoạt hóa đất, cải thiện đất đai
•Tăng cường sức sống cho rễ cây, thúc đẩy cây trồng sinh trưởng khỏe mạnh, ổn định
•Phòng ngừa bệnh hại truyền nhiễm trong đất, ngăn chặn vi khuẩn
có hại, có bệnh xâm nhập
•Hạ thấp và giải quyết những tàn dư trong đát, nâng cao sản lượng, cải tạo chất lượng
+ Loại phân bón cho lá: thành phần bao gồm nhiều loại khuẩn sống
ƯY9702 và những chất thay thế phù hợp, những hoạt chất hoạt tính bảo vệ sức khỏe của những vi khuẩn kìm nén , cùng nhiều loại chất cho sinh trưởng cây trồng và những chất dinh dưỡng khác, loại này có tác dụng:
Điều tiết phản ứng lên men , tăng cường tác dụng quang hợp
Cung cấp nhiều loại dinh dưỡng , xúc tiến sinh trưởng phát dục
Nâng cao tính đề kháng cho cây , giảm bớt sâu bệnh hại phát sinh
Giải quyết những tàn dư độc hại, nâng cao sản lượng, cải thiện chất lượng
Trang 37Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………30
3 Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu 3.1 Vật liệu và địa điểm nghiên cứu
3.1.1 Vật liệu nghiên cứu
5 giống cúc gồm: Vàng Đài Loan, CN01, Tiger, CN19, CN 20
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Vườn Trường đại học Hồng Đức ( X Quảng Thắng, Thành phố Thanh Hoá)
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Khảo sát, phân tích các điều kiện tự nhiên (khí hậu, đất đai), tìm ra những ưu nhược điểm của các điều kiện trên đến sinh trưởng và phát triển của hoa cúc
- Thực trạng sản xuất và tiêu thụ hoa cúc ở thành phố Thanh Hoá
- Nghiên cứu đặc tính nông sinh học của các giống cúc
- Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật để tăng năng suất, chất lượng hoa của các giống cúc
- Góp phần hoàn thiện quy trình sản xuất hoa cúc
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp phi thực nghiệm
- Khảo sát, phân tích các điều kiện tự nhiên (khí hậu, đất đai)
- Khảo sát tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa cúc ở thành phố Thanh Hoá
- Phân tích tài liệu thứ cấp
3.3.2 Phương pháp thực nghiệm
Thí nghiệm 1: Nghiên cứu quá trình sinh trưởng, phát triển của một
số giống cúc ở các vụ đông - xuân (2006 - 2007), xuân - hè (2007)
Trang 38Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………31
- Số lượng giống: gồm 5 giống (Vàng Đài Loan, CN01, Tiger, CN19, CN20)
- Thời vụ
+ Thời vụ nhân giống
Vụ đông - xuân: giâm ngọn tháng 8, 9
Vụ xuân – hè: giâm ngọn tháng 2, 3
+ Thời vụ trồng:
Vụ đông – xuân: Trồng tháng 9, 10; thu hoạch tháng 2,3,4
Vụ xuân - hè: Trồng tháng 3, 4, 5; thu hoạch tháng 6, 7, 8
- Kỹ thuật chăm bón
+ Làm đất: đất thích hợp nhất cho cúc là đất thịt nhẹ, tơi xốp hay đất sét pha nhiều mùn, có tầng canh tác dày, tương đối bằng phẳng và hơi nghiêng về một phía, có hệ thống tưới tiêu tốt và độ pH từ 6- 6,5, cày sâu, bừa kỹ, phơi ải
+ Bón phân: 30-35 tấn phân chuồng, 300 kg urê, 500- 600 kg lân supe
Bón thúc lần 3: khi cây ra nụ: toàn bộ số đạm còn lại
+ Tưới nước: luôn giữ đủ ẩm cho vườn bằng cách tưới nhẹ, tưới nhiều lần trong ngày không, tưới nhiều vào một lần tưới
+ Bấm ngọn, tỉa cành bấm nụ: cúc có hoa to: không bấm ngọn mà chỉ tỉa bỏ hết các cành nhánh phụ mọc từ nách lá, chỉ để 1 nụ chính trên thân và
1 nụ phụ đề phòng nụ chính g.y hỏng; cúc có hoa nhiều: bấm ngọn cây
Trang 39Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………32
(ngắt 1-2 đốt trên ngọn của thân chính, để cây phát triển nhiều cành nhánh cho nhiều nụ, nhiều hoa)
+ Chất kích thích sinh trưởng: acid indola acetic (IAA), acid indola buteric (IBA) và acid naftalen acetic (NAA) để kích thích ra rễ; Spray- N- Grow (SNG) của Mỹ, GA3 của Trung Quốc, kích tố phất tố hoa trái (KPTHT) và GA3 của công ty hoá phẩm Thiên Nông (Việt Nam), phân phức hữu cơ bón lá Pomior làm tăng năng suất, chất lượng hoa cúc
Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của cường độ và thời gian chiếu sáng đến phẩm chất, độ bền hoa cắt của một số giống cúc ở vụ đông - xuân
Công thức 1 (Đối chứng): Chiếu sáng tự nhiên
Công thức 2: Chiếu sáng 1 đèn nóng sáng 60W/ 9m2, độ cao treo bóng 80– 100cm, thời gian chiếu sáng từ 22h-1h, 3 lần chiếu, 60 phút chiếu
1 lần, 6 phút/lần
Công thức 3: Chiếu sáng 1 đèn compax 18W/ 9m2, độ cao treo bóng 200cm, thời gian chiếu sáng từ 22h – 1h, 6 lần chiếu sáng , 30 chiếu 1 lần, 6’/ 1 lần
- Giống cúc gồm 3 giống: vàng Đài Loan, CN01, Tiger
Trang 40Trường ðại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………33
Phương pháp thiết kế thí nghiệm:
Thí nghiệm được thiết kế ngẫu nhiên hoàn chỉnh RCB 2 yếu tố, 3 lần nhắc lại
Tổng số ô thí nghiệm 3 x 3 x 3 = 27 ô
Diện tích mỗi ô thí nghiệm 6m2; dải bảo vệ giữa các ô là 30 cm
Sơ đồ thí nghiệm vụ đông – xuân
Ghi chú:
* I, II, III: Số lần nhắc lại;
* 1, 2, 3: Số công thức thí nghiệm
* a, b, c: Các giống cúc tham gia thí nghiệm
+ Các công thức thí nghiệm bố trí trong vụ xuân – hè:
Thí nghiệm bố trí 3 công thức, 3 lần nhắc lại, 2 giống tham gia thí nghiệm
Công thức 1(ĐC): Chiếu sáng tự nhiên
Công thức 2: Chiếu sáng đèn 60w/9m2, 3 lần chiếu
Công thức 3: Chiếu sáng một đèn comvax 18w/ 9m2, 6 lần chiếu
Chú ý: 2 công thức chiếu sáng đều thực hiện từ 22h - 1h, mỗi lần chiếu 6 phút
Yêu cầu thí nghiệm: Các thí nghiệm thực hiện trong nhà lưới có che phủ nilong và lưới đen che ánh sáng khi cần Có bổ sung thêm các đèn chiếu sáng bổ sung vào ban đêm Có dùng Rơle để đặt giờ chiếu sáng Các bóng
đèn cần dùng khi tiến hành thí nghiệm là bóng đèn nóng sáng 60W/ 9 m2
Độ cao treo bóng 80-100 cm Và bóng đèn Compax 18 W/ 9 m2 Độ cao
Dải bảo vệ
I1a II1a III1a I2a II2a III2a I3a II3a III3a I1b II1b III1b I2b II2b III2b I3b II3b III3b I1c II2c III1c I2c II2c III2c I3c II3c III3c
Dải bảo vệ