- Xác định được một số bệnh thường gặp ở cơ quan sinh dục cái của bò vàng - Tìm ra phác đồ điều trị đặc hiệu bệnh viêm nội mạc tử cung ở bò vàng.. ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề t
Trang 1Bé GI¸O DôC Vµ §µO T¹O TR¦êNG §¹I HäC N¤NG NGHIÖP I
- -
§ç HåNG TH¸I
KH¶O S¸T MéT Sè ChØ TI£U SINH S¶N Vµ BÖNH th−êng gÆp ë C¬ quan SINH DôC C¸I trªn §µN Bß VµNG NU¤I T¹I MéT Sè §ÞA PH¦¥NG THUéC THµNH PHè BU¤N MA THUéT, tØnh §¾K L¾K
LUËN V¡N TH¹C SÜ N¤NG NGHIÖP
Chuyªn ngµnh: Ch¨n nu«i
M· sè: 60-62-40
Ng−êi h−íng dÉn khoa häc: ts nguyÔn v¨n thanh
Hµ NéI - 2007
Trang 2
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan những số liệu và kết quả nghiên cứu trung thực và ch−a
hề đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đ5 đ−ợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đ5 đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc
Trang 3
LờI CảM ƠN Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Ban Chủ nhiệm Khoa Sau
đại học, Ban Chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi- Thú y Trường Đại học Nông nghiệp
I - Hà Nội đ5 tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn khoa học
TS Nguyễn Văn Thanh đ5 tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu
và xây dựng luân văn
Tôi xin chân thành cảm ơn cục thống kê, phòng kinh tế,UBND các x5,
phường, thành phố Buôn Ma Thuột tỉnh ĐăkLăk đ5 giúp tôi khảo sát, thu thập,
tổng hợp số liệu
Tôi xin chân thành cảm ơn các hộ chăn nuôi bò ở các x5, phường, chủ
cơ sở và đội ngũ nhân viên trung tâm giết mổ trâu, bò phường Khánh Xuân
thành phố Buôn Ma Thuột đ5 tạo mọi điều kiện cho tôi có được số liệu thực tế
để xây dựng luận văn
Nhân dịp này cho tôi được bày tỏ sự biết ơn tới Ban Giám hiệu và các
Phòng Ban của Trường Cao đẳng nghề TNDT Tây Nguyên đ5 tạo điều kiện
thuân lợi để tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin được bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới gia đình và bạn bè đồng
nghiệp đ5 tận tình giúp đỡ tôi vượt qua khó khăn để hoàn thành luận văn
Hà Nội, tháng 11 năm 2007
Đỗ Hồng Thái
Trang 4Mục lục
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục
iii Danh mục từ và các cụm từ viết tắt vi
Danh mục các bảng vii
Danh mục các hình viii
Danh mục đồ thị, biểu đồ viii
1 Mở đầu: 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài: 1
1.2 Mục đích nghiên cứu đề tài: 2
1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài: 2
2 Tổng quan tài liệu, cơ sở khoa học của đề tài: 3
2.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu khả năng sinh sản của bò vàng 3
2.1.1 Nguồn gốc bò thế giới 3
2.1.2 Nguồn gốc bò vàng Việt Nam 3
2.1.3 Đặc điểm sinh lý của bò 4
2.1.4 Hoạt động sinh dục của bò cái 8
2.2 Những bệnh thường gặp ở cơ quan sinh dục cái 13
2.2.1 Viêm âm môn, tiền đình, âm đạo 14
2.2.2 Viêm cổ tử cung 15
2.2.3.Viêm tử cung 16
2.2.3.1 Viêm nội mạc tử cung 17
2.2.3.2 Viêm cơ tử cung 17
Trang 52.2.3.3 Viêm tương mạc tử cung 19
2.2.4 Các bệnh ở buồng trứng 19
2.2.4.1.Viêm buồng trứng 19
2.2.4.2.Thiểu năng và teo buồng trứng 20
2.2.4.3 Xơ cứng buồng trứng 21
2.2.4.4 Thể vàng tồn tại 21
2.2.4.5 U nang buồng trứng 22
2.3 ứng dụng Prostaglandin ( PG F2α) trong sinh sản gia súc 25
2.3.1 Sử dụng Prostaglandin ( PG F2α) trong điều trị viêm nội mạc tử cung.26 3 đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 27
3.1 Đối tượng nghiên cứu 27
3.2 Nội dung nghiên cứu 27
3.2.1 Xác định một số chỉ tiêu sinh sản ở bò cái vàng 27
3.2.2 Một số bệnh thường gặp ở cơ quan sinh dục bò cái vàng 27
3.2.3 Thử nghiệm ứng dụng Prostaglandin trong điều trị viêm nội mạc tử cung ở bò vàng 28
3.3 Phương pháp nghiên cứu 28
3.3.1 Xác định một số chỉ tiêu sinh sản ở bò cái vàng 28
3.3.2 Chẩn đoán các bệnh cơ quan sinh dục ở bò cái vàng 29
3.3.3 Phương pháp sử dụng Prostaglandin ( PG F2α) kết hợp với một số thuốc khác để điều trị bệnh cơ quan sinh dục bò cái 30
3.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu đề tài 30
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 30
4 Kết quả và thảo luận kết quả 32
4.1 Kết quả một số chỉ tiêu sinh sản của bò cái vàng 32
4.1.1.Tuổi thành thục về tính 32
4.1.2 Tuổi đẻ lứa đầu 34
Trang 64.1.4 Tỷ lệ đẻ theo độ tuổi 37
4.1.5 Khoảng cách giữa hai lứa đẻ 39
4.1.6 Tỷ lệ đẻ qua các tháng trong năm 40
4.1.7 Tỷ lệ nuôi sống bê đến 6 tháng tuổi 42
4.2 Kết quả điều tra về một số bệnh thường gặp ở cơ quan sinh dục cái trên bò vàng tại thành phố Buôn Ma Thuột 44
4.2.1 Tỷ lệ bệnh ở các bộ phận cơ quan sinh dục cái 47
4.2.2 Bệnh viêm âm môn, tiền đình, âm đạo 48
4.2.3.Bệnh ở tử cung 50
4.2.4 Bệnh ở buồng trứng 57
4.3 Kết quả thử nghiệm điều trị bệnh viêm nội mạc tử cung trên bò vàng tại một số địa phương thuộc thành phố Buôn Ma Thuật .60
5 Kết luận-Đề nghị 63
Tài liệu tham khảo 65
Trang 7DANH MôC Tõ Vµ C¸C CôM Tõ VIÕT T¾T
Trang 84.9 Tû lÖ m¾c bÖnh c¬ quan sinh dôc c¸i
4.10 Tû lÖ bÖnh ë c¸c bé phËn cña c¬ quan sinh dôc c¸i 49
4.12 C¸c chØ tiªu sinh lý vµ bÖnh lý cña bß vµng bÞ viªm tö cung 52
4.15 KÕt qu¶ sinh s¶n sau ®iÒu trÞ viªm néi m¹c tö cung 61
Trang 9Danh mục các biểu đồ, đồ thị
4.8 Tỷ lệ mắc bệnh ở các bộ phận của cơ quan sinh dục cái 48
Danh mục các hình
Trang 10Phần thứ I: mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là nước chủ yếu làm nông nghiệp Với khí hậu nhiệt đới, gió mùa, tài nguyên thiên nhiên phong phú, giàu tiềm năng cho sự phát triển kinh
tế trong đó có ngành trồng trọt và chăn nuôi
Tây Nguyên nói chung, Đắk Lắk nói riêng là cao nguyên với khí hậu thời tiết 2 mùa mưa, nắng rõ rệt, đất đỏ bazan màu mỡ, phù hợp cho nhiều thảm thực vật và các loại cây trồng phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển chăn nuôi tăng nhanh đàn gia súc, gia cầm
Mấy năm gần đây, ngoài việc thuần hoá đàn bò địa phương thì nhiều dự
án quốc gia đ5 hỗ trợ các gia đình khó khăn ở Đắk Lắk từ 1 đén 2 con bò cái nuôi sinh sản, để thực hiện mục tiêu (xoá đói, giảm nghèo) của Đảng và Chính phủ Vì vậy mà đàn bò cái ở Đăk Lăk đ5 tăng lên đáng kể
Thành phố Buôn Ma Thuột là trung tâm của tỉnh Đắk Lắk, được chia thành 21 x5, phường, với tổng diện tích đất tự nhiên là 37.156 ha (chiếm 1, 86% tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh) Theo số liệu cục thống kê Dắk Lắk tổng kết tháng 12/2006 là tổng đàn bò hiện có tại thành phố Buôn Ma Thuột là 9.200 con, trong đó 70% là giống bò vàng Việt Nam, còn lại là bò lai
Tuy đàn bò cái sinh sản ở Đắk Lắk có tăng, song với tiềm năng phong phú, đa dạng, rất phù hợp cho chăn nuôi đại gia súc phát triển mà hiệu quả chưa cao Bởi ở đây có 35 dân tộc, cùng sinh sống với phong tục, tâp quán, phương thức chăn nuôi khác nhau Đặc biệt sự hiểu biết, tiếp cận với kỹ thuật chăn nuôi còn hạn chế
Để góp phần bảo vệ và phát triển đàn bò cái vàng ở Tây Nguyên, đồng thời bổ sung thêm tư liệu cho kho tàng dữ liệu nghiên cứu về con bò của Quốc gia Được sự hướng dẫn của thầy giáo TS Nguyễn Văn Thanh-Trưởng bộ môn Ngoại-Sản, khoaThú y, Trường Đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội, tôi tiến hành
Trang 11nghiên cứu đề tài: “Khảo sát một số chỉ tiêu sinh sản và bệnh thường gặp ở cơ quan sinh dục cái trên đàn bò vàng nuôi tại một số địa phương thuộc thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk
1.2 Mục đích nghiên cứu đề tài
- đánh giá được một số chỉ tiêu sinh sản ở đàn bò cái vàng nuôi tại một
số địa phương thuộc thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk
- Xác định được một số bệnh thường gặp ở cơ quan sinh dục cái của bò vàng
- Tìm ra phác đồ điều trị đặc hiệu bệnh viêm nội mạc tử cung ở bò vàng 1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Kết quả nghiên cứu của đề tài về một số chỉ tiêu sinh sản của đàn bò vàng là tư liệu giúp cho các cấp quản lý có những chính sách, biện pháp thích hợp nhằm bảo vệ và phát triển đàn bò vàng ở Việt Nam nói chung và Tây Nguyên nói riêng
- Các kết quả nghiên cứu về một số bệnh thường gặp ở cơ quan sinh dục cái của bò vàng giúp ích cho cán bộ thú y trong công tác chẩn đoán, phân biệt các quá trình bệnh lý thường gặp ở cơ quan sinh dục cái và biện pháp điều trị thích hợp, hiệu quả
Trang 12Phần thứ II: tổng quan tài liệu và cơ sở khoa học
của đề tài 2.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu khả năng sinh sản của bò vàng 2.1.1 Nguồn gốc bò thế giới
Các tác giả Nguyễn Trọng Tiến và cs (1991)[16], căn cứ vào định luật của Linnas (1758) cho rằng tất cả giống bò nhà hiện nay đều do một giống bò
tổ, giống bò này xuất hiện ở rừng Trung á, rồi diễn tiến thành 2 biến chủng là
bò tổ châu Âu và bò tổ châu á Từ 2 biến chủng này diễn tiến ra nhiều loại bò rừng khác nhau Và chính những loại bò rừng này dần dần được thuần hoá thành bò nhà ở Trung Quốc bò được thuần hoá 2000 năm trước công nguyên Nhìn chung bò nhà hiện nay được thuần hoá từ bò rừng trước kia và có sự biến đổi trong quá trình tiến hoá có chọn lọc của con người nhưng đều thuộc: + Ngành: Động vật có xương sống (Vetebrata)
+ Loài: Bò-Bosindicus (á), Bosbison (Mỹ) , Bostaurus (ÂU)
2 1 2 Nguồn gốc bò vàng Việt Nam
Có tên bò vàng vì phần lớn (>90%) chúng có sắc lông màu vàng Theo một số tác giả cho rằng bò vàng Việt Nam có nguồn gốc từ loại hình bò U châu á diễn tiến thành và tổ tiên thuộc loài bò rừng châu á Theo tác giả Nguyễn Trọng Tiến (2001)[17] bò vàng nước ta có nguồn gốc từ ấn Độ (Bosindicus) và bò Trung Quốc Trong quá trình giao lưu buôn bán, bò vàng
được thuần hoá và đưa vào Việt Nam rất lâu đời Từ đó bò vàng đ5 trở thành
Trang 13con vật quý của người nông dân nước ta và nó gắn liền với đời sống kinh tế, x5 hội của từng địa phương Vì vậy bò hình thành nên các tên theo tính chất của từng địa danh nơi nó sinh sống Trong các giống bò được thuần hoá thì giống
bò địa phương là nhỏ con nhất
2.1.3 Đặc điểm sinh lý của bò
2.1.3.1 Một số đặc điểm sinh lý của bò đực
Tác giả Nguyễn Văn Thanh(1999)[13] so sánh cơ quan sinh dục đực bò
và trâu có nhận xét: Về tổ chức giải phẫu cơ quan sinh dục bò và trâu như nhau, nhưng thành thục về tính của bò sớm hơn Bò Vàng từ 15 đến 18 tháng tuổi đ5 có thể phối giống, tuy nhiên khả năng phối giống tốt nhất là 2 đến 5 tuổi, thời gian sử dụng đực giống khoảng 10 năm
Bò đực vàng thể hiện tính hăng rõ rệt, tác động phóng tinh mạnh, nhanh, thông thường phối giống 2 đến 3 lần/tuần Do hạn chế về thể vóc nên bò đực vàng ít được chú ý khai thác tinh làm thụ tinh nhân tạo mà chủ yếu để cày, kéo, nuôi thịt
2.1.3.2 Một số đặc điếm sinh lý sinh sản của bò cái
Các đặc điểm sinh lý sinh sản của bò cái vàng Việt Nam không khác nhiều so với các loài bò khác
2.1.3.2.1 Đặc điểm cấu tạo và chức năng của cơ quan sinh dục bò cái Sinh sản là chức năng trọng yếu của sự sống, nó đóng vai trò quyết định trong việc duy trì, phát triển và bảo tồn giống nòi
Trong chăn nuôi gia súc, biết tác động và đầu tư đúng vào sinh sản thì đó
là con đường nhanh nhất, tốt nhất và kinh tế nhất để góp phần nâng cao năng suất vật nuôi
Giống như các loài gia súc khác, cơ quan sinh dục bò cái được chia thành
2 bộ phận: Bộ phận sinh dục bên ngoài và bộ phận sinh dục bên trong
Bộ phận sinh dục bên ngoài gồm: Âm môn, âm vật, tiền đình
Trang 14Bộ phận sinh dục bên trong gồm: Âm đạo, tử cung, buồng trứng, ống dẫn trứng
Bộ phận sinh dục bên ngoài:
* Âm môn (Vulva) hay còn gọi là âm hộ: Nằm dưới hậu môn, bên ngoài có 2 môi (Labia vulvae) bờ trên hai môi có nhiều tuyến tiết chất nhờn trắng và mồ hôi
* Âm vật (Clitoris): Giống như dương vật thu nhỏ lại, bên trong có các thể hổng, trên âm vật có lớp da tạo ra mũ âm vật, giữa âm vật bẻ gập xuống dưới
* Tiền đình (Vestibule vaginae sinus inogenitalis): là giới hạn giữa âm môn và âm đạo Trong tiền đình có màng trinh, trước là âm đạo Màng trinh gồm các sợi cơ đàn hồỉ ở giữa và do 2 lớp niêm mạc giáp lại thành một nếp Tiền đình có một số tuyến xếp chéo hướng về âm đạo
Bộ phận sinh dục trong:
Trang 15Âm đạo còn là cái ống để thai đi ra ngoài khi sinh đẻ và cũng là ống thải các chất dịch trong tử cung ra
* Tử cung(Uterus)
Tử cung bò thuộc nhóm tử cung hai sừng (Uterus bicornus), nó có hình sừng cừu gồm một thân tử cung ngắn, hai sừng tử cung dài và cùng một cổ tử cung Bò cái tơ toàn bộ tử cung nằm trong xoang chậu, khi đ5 đẻ nhiều lần thì
tử cung nằm trong xoang bụng, tử cung là nơi làm tổ của hợp tử, hợp tử (sau này là thai) phát triển được là nhờ chất dinh dưỡng từ cơ thể mẹ thông qua lớp niêm mạc tử cung, cung cấp Giai đoạn đầu hợp tử sống được một phần nhờ vào no5n hoàng, một phần dựa vào sữa mẹ thông qua cơ chế thẩm thấu Sau này giữa mẹ và thai hình thành hệ thống nhau thai Niêm mạc tử cung và dịch
tử cung giữ vai trò cực kỳ quan trọng trong sinh sản như vận chuyển tinh trùng
và trứng, tham gia điều hoà chức năng của thể vàng, đảm nhận sự làm tổ, mang thai và đẻ Tử cung của bò có 3 phần từ ngoài vào trong là: Cổ tử cung, thân tử cung và sừng tử cung
a) Cổ tử cung: Là phần ngoài cùng của tử cung, cổ tử cung bò hình tròn thông với âm đạo, dài khoảng 6-10 cm, đường kính từ 3-6 cm Cổ tử cung luôn luôn
đóng, chỉ mở khi nào hưng phấn cao độ hoặc khi sinh đẻ hoặc khi bị bệnh lý Niêm mạc cổ tử cung gấp nếp nhiều lần làm cho thành cổ tử cung không đồng
đều tạo thành những thuỳ gọi là thuỳ hoa nở, có từ 3-5 lần hoa nở Thuỳ ngoài cùng nhô vào âm đạo khoảng 0,5-1,0cm nhìn bên ngoài tựa như hoa cúc đại Có
sự khác biệt về cổ tử cung giữa bò già và bò trẻ, giữa bò đẻ ít và bò đẻ nhiều, giữa các giống bò, giữa bò đẻ bình thường và bò đẻ không bình thường
b) Thân tử cung: ở bò thân tử cung rất ngắn, chỉ khoảng từ 2-4 cm, thân
tử cung nối giữa cổ tử cung với sừng tử cung
c) Sừng tử cung: Bò cái có 2 sừng tử cung gồm sừng trái và sừng phải, độ dài của sừng khoảng 20-25cm, đường kính phần dưới sừng tử cung 3-4cm,
Trang 16thân tử cung dính lại với nhau tạo thành một lõm hình lòng máng, phía trên của tử cung gọi là r5nh giữa tử cung dài 3-5cm, r5nh này dễ dàng nhận thấy khi khám qua trực tràng để chẩn đoán gia súc có thai và bệnh lý ở tử cung
*Buồng trứng (ovarium)
Buồng trứng của bò gồm một đôi, treo ở cạnh trước dây chằng rộng, gần mút sừng tử cung và nằm trong xoang chậu, hình dáng buồng trứng rất đa dạng, nhưng phần lớn có hình bầu dục hoặc ô van dẹt, không có lõm rụng, khi mới sinh buồng trứng có khối lượng khoảng 0,3gram, khi trưởng thành có khối lượng 10-20gram, kích thước dài 1-2cm, rộng 1-1,5cm (Nguyễn Tấn Anh, 1995)[3] Buồng trứng của gia súc có chức năng sinh ra trứng và tiết ra các hormone Cấu tạo của buồng trứng gồm lớp trong và lớp vỏ, được bao bọc bởi lớp biểu mô mầm Lớp trong có nhiều mạch máu, tổ chức liên kết trên buồng trứng có từ 70.000-100.000 no5n bào ở các giai đoạn phát triển khác nhau, tầng ngoài là những no5n bào sơ cấp phân bố tương đối đều, tầng trong
là những no5n bào thứ cấp đang sinh trưởng, khi no5n bào chín thì nổi lên trên
bề mặt buồng trứng No5n bào sơ cấp có trứng ở giữa, xung quanh là tế bào no5n bào, tế bào no5n bào lúc đầu hình dẹt, sau thành hình khối và hình trụ No5n bào thứ cấp do tế bào no5n bào tăng sinh thành nhiều và hình thành xoang no5n bào, ép trứng về một phía Khi no5n bào chín là quá trình sinh trưởng đ5 hoàn thành, no5n bao nổi lên trên bề mặt buồng trứng đến một giai
đoạn xác định, no5n bào vỡ ra, tế bào trứng theo dịch no5n bào đi vào loa kèn
và đi vào ống dẫn trứng Nơi no5n bào vỡ sẽ hình thành thể vàng Do sự nở to
và sự lutein hoá của các tế bào kết hạt được bắt đầu từ đó Mô lutein lớn lên chủ yếu do sự nở to của các tế bào lutein
Tế bào thể vàng tiết ra progesterone, khối lượng thể vàng và hàm lượng progesterone tăng nhanh từ ngày thứ 2 dến ngày thứ 8 và giữ tương đối ổn
Trang 17định cho đến ngày thứ 15, sự thoái hoá thể vàng ở bò bắt đầu từ ngày thứ
17-18 và chuyển thành thể bạch nếu trứng không thụ tinh
* ống dẫn trứng
ống dẫn trứng còn gọi là vòi fallop, nằm ở màng treo buồng trứng Chức năng của ống dẫn trứng là vận chuyển trứng và tinh trùng theo chiều ngược nhau Cấu tạo của ống dẫn trứng thích hợp tốt với chức năng phức tạp đó Một
đầu của ống dẫn trứng thông với xoang bụng, gần sát buồng trứng và có hình loa kèn, loa kèn là màng mỏng tạo thành một cái tán rộng, vành tán có các tua
điểm lô nhô không đều, ôm lấy buồng trứng Đối với bò diện tích của loa kèn thường rộng 20-40mm2 và phủ toàn bộ buồng trứng (Hoàng Kim Giao, Nguyễn Thanh Dương (1997)[7] Trứng được chuyển qua lớp nhầy đi đến lòng ống dẫn trứng, nơi xảy ra sự thụ tinh và phân chia sớm của phôi Phôi được lưu lại trong ống dẫn trứng vài ngày trước khi về tử cung, dịch ống dẫn trứng cung cấp điều kiện thích hợp cho sự thụ tinh và phân chia của phôi, bao gồm chất dinh dưỡng và bảo vệ cho tinh trùng, no5n bào và hợp tử
Thời gian tế bào trứng di chuyển trong ống dẫn trứng từ 3-10 ngày Trên
đường di hành trong ống dẫn trứng tế bào trứng có thể bị đứng lại ở các đoạn khác nhau do những chỗ hẹp của ống dẫn trứng Có thể chia ống dẫn trứng thành 4 đoạn chức năng: Đoạn tua điểm-phễu-phồng ống dẫn trứng và đoạn co của ống dẫn trứng (Nguyễn Tấn Anh, 1992)[2]
2.1.4 Hoạt động sinh dục của bò cái
2.1.4.1 Sự thành thục về tính và tuổi phối giống lần đầu
Khi cơ quan sinh dục của gia súc cái phát triển đến mức độ hoàn thiện, buồng trứng có no5n bào chín, có trứng rụng và trứng có khả năng thụ thai, tử cung cũng biến đổi theo và đủ điều kiện cho thai phát triển trong tử cung Những dấu hiệu động dục xuất hiện đối với gia súc ở tuổi như vậy gọi là thành thục về tính Trong thực tế, thành thục về tính thường đến sớm hơn thành thục
Trang 18về thể vóc Nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống, gia súc, ngoại cảnh và mức độ nuôi dưỡng Trong điều kiện nuôi dưỡng tốt thì sự sinh trưởng được thúc đẩy và thành thục về tính sẽ đến sớm hơn Bò sữa thành thục tính dục khi thể trọng đạt từ 30-40% thể trọng lúc trưởng thành, còn bò thịt với mức độ cao hơn 45-50% Theo Khuất Văn Dũng(2005)[6]: Bò sữa thành thục tính vào khoảng 12- 14 tháng tuổi, bò Zebu thành thục tính muộn hơn bò cái có nguồn gốc châu âu từ 6-12 tháng
Bò cái nếu nuôi dưỡng tốt thì thành thục lúc 12 tháng tuổi, còn tầm vóc để bảo đảm cho sự phối giống phải từ 18 tháng trở lên (Theo Khuất Văn Dũng (2005)[6] Đối với bò lang trắng, đen Hà Lan cho ăn đầy đủ, chăm sóc tốt thì thành thục lúc 10-12 tháng tuổi, chăm sóc kém có thể kéo dài tới 16-18 tháng tuổi
Trong điều kiện nước ta do ảnh hưởng của khí hậu và chế độ dinh dưỡng không thích hợp cho nên bò vàng Việt Nam tuổi đẻ lứa đầu từ 33-48 tháng tuổi ( Lê Xuân Cương, 1997)[4]
17 ngày hoặc dài hơn 24 ngày thường có tỷ lệ thụ thai thấp Quá trình trứng phát triển chín và rụng đều chịu sự điều hoà chặt chẽ của hormone Trên cơ sở
đó nhiều tác giả đ5 phân chia chu kỳ động dục thành 2 pha:
Trang 19- Pha Folliculin: Gồm toàn bộ biểu hiện trước khi trứng rụng
- Pha Lutein: Là những biểu hiện sau khi trứng rụng và hình thành thể vàng
Chu kỳ động dục của bò nhiều tác giả đ5 đề cập đến các đợt sóng nang (Follicular wave)
Sóng nang là sự phát triển đồng loạt của một số bao no5n ở cùng một thời gian Các công trình nghiên cứu, theo dõi sự phát triển của buồng trứng Invivo bằng phương pháp nội soi và siêu âm được nhiều tác giả công bố Các tác giả cho thấy ở bò trong một chu kỳ thường có 2-3 đợt sóng nang phát triển (một
số ít có 4 đợt) Đợt một bắt đầu diễn ra sau khi rụng trứng, vào ngày thứ 3-9 của chu kỳ Đợt 2 vào ngày 11-17 và đợt 3 vào ngày 18-20 Mỗi dợt sóng nang có thể huy động tới 15 nang kích thước từ 5-7mm phát triển Sau này có một số nang phát triển mạnh hơn gọi là nang trội (nang khống chế), kích thước của nang khống chế ở đợt 1, 2, 3 có thể đạt tới 12-15mm và các kích thước nang tương ứng quan sát thấy vào các ngày 6, 13, 21
Đặc điểm quan trọng trong các đợt phát triển nang là sự phát triển có tính
tự điều khiển và cạnh tranh giữa các nang Một đợt có 1-2 nang trội, vài nang lớn phát triển và sự phát triển của các nang còn lại bị kìm h5m Tuy vậy khi thể vàng còn tồn tại, nang khống chế và nang lớn sẽ bị thoái hoá, chỉ có đợt cuối cùng khi thể vàng không còn thì nang khống chế mới phát triển tới chín
và rụng trứng xảy ra Do đặc điểm này các đợt phát triển nang gọi là sóng phát triển Trong mỗi đợt sóng như vậy sự tồn tại của các nang không phải nang khống chế, dao động 5-6 ngày (Bierschwal và cộng sự (USA)1980)[26] Riêng nang khống chế có thể phát triển nhanh sau ngày 18 của chu kỳ, tốc độ phát triển của nang khống chế ở thời điểm này có thể đạt 1,6mm/ngày (Trích Hoàng Kim Giao, Nguyễn Thanh Dương, 1997)[7]
Trang 20Theo Khuất Văn Dũng(2005)[6]: bò chu kỳ động dục thường kéo dài 21 ngày, thời gian động dục thường kéo dài 25-36 giờ, chu kỳ động dục ở gia súc mang tính đặc trưng theo loài
Chu kỳ động dục của bò được chia làm 4 giai đoạn:
- Giai đoạn trước động dục (Preoestrus)
- Giai đoạn động dục (Oestrus)
- Giai đoạn sau động dục (Postoestrus)
- Giai đoạn cân bằng sinh học (An-Di-oestrus)
di truyền của loài
Người ta thường phân chia quá trình thụ tinh của động vật có vú ra 4 giai
đoạn nhỏ: Sự chuẩn bị của tế bào trứng, tinh trùng và tế bào trứng, sự hình thành tiền hạch đực và tiền hạch cái, sự kết hợp giữa hai tiền hạch
2.1.4.4 Quá trình mang thai
Sự phát triển của thai là hiện tượng sinh lý đặc biệt của cơ thể, nó được bắt đầu từ khi trứng được thụ tinh cho đến khi đẻ xong Trong thực tế sự có thai của bò được tính ngay từ ngày phối giống cuối cùng cho đến ngày đẻ Thời gian mang thai phụ thuộc nhiều vào các yếu tố như: tuổi của mẹ, điều kiện nuôi dưỡng, chế độ khai thác và sử dụng, số lượng thai, đôi khi còn phụ thuộc vào lứa đẻ và tính biệt của thai Thời gian mang thai của bò dao động trong khoảng 278-290 ngày
Tác giả Lê Xuân Cương (1997)[4] khi nghiên cứu nhóm bò sinh sản tại
Bà Rịa-Vũng Tàu cho biết thời gian mang thai của bò trung bình là 280 ngày
Trang 212.1.4.5 Tuổi đẻ lứa đầu
Tuổi đẻ lứa đầu của bò chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: Giống, điều kiện nuôi dưỡng, môi trường và cả sự điều khiển của người Theo Lê Xuân Cương, 1997, [4] khi nghiên cứu trên giống bò tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu cho biết:
bò ở đây tuổi thành thục, đẻ lúa đầu muộn hơn các địa phương (40-45 tháng)
2 1.4.6 Tỷ lệ đẻ toàn đàn
Tỷ lệ đẻ ở bò cao, trung bình, thấp phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó có 3 yếu tố quan trọng, quyết định đến tỷ lệ đẻ của bò: Vùng chăn nuôi, lứa tuổi
bò, mùa vụ bò sinh sản
2.1.4.7 Khoảng cách giữa hai lứa đẻ
Khoảng cách giữa hai lứa đẻ là thước đo khả năng sinh sản một cách rõ rệt nhất Bò một năm đẻ một lứa là khoảng cách lý tưởng Khoảng cách lứa đẻ dài ảnh hưởng đến toàn bộ thời gian cho sản phẩm, tới tổng sản lượng sữa và
số bê con được sinh ra trong một đời bò mẹ, dẫn đến hạn chế việc nâng cao tiến bộ di truyền Khoảng cách lứa đẻ phụ thuộc vào chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, đặc điểm sinh vật của giống, thời gian động dục lại sau khi đẻ, kỹ thuật phối giống, vắt sữa và cạn sữa gia súc càng mắn đẻ thì hệ số tái sản xuất (Kt) càng cao Lauhiuna (Liên Xô cũ) đ5 đưa ra công thức tái sản xuất của bò (Kt):
T
K t =
V - 3 Trong đó:
T: số bê do bò cái đẻ ra,
V: tuổi bò cái (năm)
Kt càng cao hiệu quả kinh tế càng lớn
Sadal đ5 ra chỉ tiêu năng suất bò cái bằng khoảng cách lứa đẻ Bò có khoảng cách lứa đẻ K=410 ngày là bò rất tốt, K= 411-460 ngày là bò tốt,
Trang 22K=461 ngày trở lên là bò không tốt (Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong 1994,[9])
Việt Nam trong điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng chưa đầy đủ nên khoảng cách giữa hai lứa đẻ là 18-20 tháng (Nguyễn Văn Thưởng, 1995 [15])
2.1.4.8 Tỷ lệ đẻ qua các tháng trong năm
Hoạt động sinh sản của bò r5i rác quanh năm Thành phố Buôn Ma Thuột nằm ở tiểu vùng khí hậu trung tâm tỉnh Đăk Lăk có 2 mùa mưa và mùa khô (mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau).Theo tác giả Khuất Văn Dũng (2005)[6], bò hoạt đông sinh dục mạnh vào mùa mưa, mát, nhiệt độ thấp, những tháng nóng bò động dục kém
2.1.4.9 Tỷ lệ nuôi sống bê đến 6 tháng tuổi
Đây là chỉ tiêu quan trọng để tính hiệu quả trong chăn nuôi, tỷ lệ nuôi sống phụ thuộc nhiều yếu tố như: Chế độ chăm sóc nuôi dưỡng mẹ, con sơ sinh, thời tiết khí hậu, bệnh tật v v
2.2 Những bệnh thường gặp ở cơ quan sinh dục bò cái
Một gia súc cái được đánh giá có khả năng sinh sản tốt trước hết phải kể
đến sự nguyên vẹn và mọi hoạt động bình thường của cơ quan sinh dục (Settergren I 1986 [41]) Khi bất kỳ một bộ phận của cơ quan sinh dục cái bị bệnh sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của gia súc (Anberth Youssef, 1997)[23]
Chẩn đoán, phát hiện và điều trị kịp thời các bệnh ở cơ quan sinh dục cái
là việc làm cần thiết góp phần quyết định sự thành công của kỹ thuật thụ tinh nhân tạo(Anberth Youssef, 1997)[23], Hashem, S E (1980)[33]
Trên thế giới vấn đề bệnh sinh sản ở gia súc đ5 và đang được nghiên cứu một cách toàn diện Hàng năm các chương trình đào tạo của quốc tế về sinh sản của gia súc thường xuyên được tổ chức tại trường Đại học khoa nông nghiệp Uppsala (Thụy Điển), Trung tâm Khoa học quốc tế về Nông nghiệp Cairo (Ai Cập) Trong nội dung của các khoá đào tạo này thì vấn đề về
Trang 23phương pháp chẩn đoán phát hiện và điều trị các bệnh về sinh sản luôn là một nội dung chính
ở Việt Nam một số nhà khoa học thú y như Đặng Đình Tín (1985)[18], Nguyễn Hữu Ninh, Bặch Đăng Phong (1994)[9] ; Huỳnh Văn Kháng (1995)[8], Bạch Đăng Phong (1995)[10], đ5 có những nghiên cứu và tổng kết
về một số bệnh cơ quan sinh dục cái ở đại gia súc Tuy nhiên cho đến nay những tư liệu về bệnh ở cơ quan sinh dục cái của bò vàng rất ít và chủ yếu là những tư liệu bệnh ở bò sữa
2.2.1 Viêm âm môn, tiền đình và âm đạo (vulvitis vestibulitsi set vaginitis puerperalis)
Athur G H (1964)[24], đ5 có những quan sát và ghi chép về bệnh viêm
âm môn, tiền đình và âm đạo ở bò Theo tác giả nguyên nhân chính của bệnh
là do những sai sót kỹ thuật đỡ đẻ Khi bò đẻ khó, phải can thiệp bằng tay hay dụng cụ, không đúng kỹ thuật, không vô trùng, gây tổn thương và nhiễm trùng niêm mạc âm môn, tiền đình, âm đạo Sử dụng các thuốc điều trị bệnh ở tử cung, âm đạo không đúng, kích thích quá mạnh, làm niêm mạc âm đạo, âm môn, tiền đình bị viêm
Bệnh có thể do bị sẩy thai, thai thối rữa trong tử cung, âm đạo lộn ra ngoài hoặc do sát nhau
Lúc đầu niêm mạc bộ phận bị viêm xung huyết nhẹ, có nhiều dịch thẩm xuất Kiểm tra âm đạo bằng mỏ vịt, con vật không có phản xạ đau, không có triệu chứng toàn thân Con vật rặn vặt, đi đái rắt, Nhiều dịch viêm lẫn tổ chức hoại tử màu trắng, chảy ra ngoài
Viêm âm môn, tiền đình, âm đạo m5n tính, niêm mạc trở nên khô cứng, màu sắc nhợt nhạt, trên bề mặt niêm mạc có chỗ trắng, đỏ không đều
Khi kiểm tra âm đạo, con vật đau đớn Những con viêm m5n tính thì ủ rũ,
uể oải, kém ăn, lượng sữa giảm Gia súc luôn rặn, khi rặn từ cơ quan sinh dục
Trang 24thải ra hỗn hợp dịch rỉ viêm gồm mủ lẫn mảnh tổ chức hoại tử màu vàng nâu, mùi tanh, dính vào đuôi, mông
Viêm màng giả thì trên niêm mạc được phủ một màng mỏng tổ chức hoại
tử màu trắng, nâu hoặc vàng xám, phía dưới có những vết loét nằm rải rác hay tập trung lại thành từng đám lớn trên niêm mạc Con vật đau đớn rõ rệt, khi kiểm tra âm đạo, vật luôn cong đuôi rặn, dịch rỉ viêm, máu, mủ lẫn tổ chức hoại tử màu vàng nâu, mùi tanh, thối chảy ra Viêm màng giả rất dễ dẫn tới nhiễm trùng huyết Hậu quả thường là do tế bào của âm đạo tăng sinh, niêm mạc âm đạo sẹo hoá, nhăn nhúm, lòng âm đạo bị hẹp ảnh hưởng đến quá trình phối giống và sinh sản lần sau
2.2.2 Viêm cổ tử cung
Sau âm đạo là cổ tử cung ở gia súc sinh sản thường bị viêm Cổ tử cung
được cấu tạo bởi các lớp cơ rắn chắc, lớp niêm mạc có nhiều gấp nếp, nó là hàng rào bảo vệ tử cung Cổ tử cung luôn đóng, chỉ hé mở khi động dục và mở hoàn toàn khi sinh đẻ (Kenneth Mc Enter (1986) [34]
Bệnh viêm cổ tử cung ở gia súc thường là hậu quả của những sai sót về thụ tinh nhân tạo, do thao tác đỡ đẻ nhất là các trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hay các dụng cụ không phù hợp, làm niêm mạc cổ tử cung bị xây xát Viêm cổ tử cung còn do kế phát từ viêm âm đạo, viêm tử cung (Shafik Ebrrahim Taufik, 1986 [43])
Hậu quả của viêm cổ tử cung là cổ tử cung bị tắc, khi gia súc động dục niêm mạc không thoát ra ngoài được
Dùng mỏ vịt và đèn soi khám qua âm đạo: cổ tử cung mở đường kính khoảng 1-2cm, niêm mạc xung huyết hoặc phù rõ, cá biệt có vết loét, dính mủ (Nongthombam Babu Singh, 1986)[36]
Kiểm tra qua trực tràng: cổ tử cung sưng to và cứng, do tổ chức tăng sinh (Đặng Đình Tín, 1985)[18]
Trang 252.2.3 Viêm tử cung (Metritis)
Tử cung là bộ phận quan trọng của cơ quan sinh dục, nơi thai làm tổ và
được đảm bảo mọi điều kiện để phát triển Mọi quá trình bệnh lý ở tử cung
đều ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng sinh sản
Trong các bộ phận của cơ quan sinh dục cái các bệnh ở tử cung được nhiều tác giả tập trung nghiên cứu Roberts S J, (1980)[37] đ5 khảo sát các dạng thái bất thường của tử cung bò; Dawson F L M , (1983)[28] nghiên cứu
về hệ vi khuẩn trong tử cung bò
Black W G (1983)[27] với công trình nghiên cứu so sánh đàn bò tơ và
đàn bò sữa đ5 nhận xét: Bệnh ở tử cung làm suy giảm đáng kể khả năng sinh sản và cho sữa của bò
Black W G (1983)[27], nghiên cứu chứng viêm ở tử cung bò, đ5 xét nghiệm hormone và vi khuẩn trong các bệnh ở tử cung
Đi sâu nghiên cứu các bệnh tử cung, Arthur G H (1964)[24], đ5 có công trình về các thể viêm, A Ban (1986)[22], nghiên cứu về sự liên quan giữa các trang thái bệnh lý ở tử cung với hiện tượng vô sinh của bò Kopecky và cs (1977)[35], đ5 theo dõi các hiện tượng nhiểm trùng tử cung do bệnh lao bò gây ra
ở nước ta, Nguyễn Tấn Anh và cộng sự (1984)[1], Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong (1994)[9]; Bạch Đăng Phong (1995)[10], bằng cách tổng kết các thành tựu có kết hợp với các nghiên cứu của mình đ5 có tư liệu tương
đối toàn diện về các bệnh sản khoa ở gia súc Đặng Đình Tín (1985)[18], cũng
đ5 tập hợp các tư liệu về bệnh sản khoa trong cuốn sản khoa và bệnh sản khoa thú y Theo các tác giả viêm tử cung có thể chia theo ba thể:
Viêm nội mạc tử cung
Viêm cơ tử cung
Trang 262.2.3 1 Viêm nội mạc tử cung (Endometritis)
Theo Black W G (1983)[27], Debois C H W (1989)[30], viêm nội mạc tử cung là viêm lớp niêm mạc của tử cung Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm suy giảm khả năng sinh sản của gia súc cái
Viêm nội mạc tử cung phổ biến và chiếm tỷ lệ cao nhất trong các thể viêm ở tử cung Samad và cs (1987)[39], theo dõi 293 con trâu bị mắc các bệnh ở cơ quan sinh dục cho biết: Tỷ lệ trâu bị viêm nội mạc tử cung là cao nhất 35,9%, tiếp đến là các bệnh sản khoa khác 13,5%
ở bò bệnh viêm nội mạc tử cung thường xây ra sau khi sinh đẻ, nhất là các trường hợp đẻ khó phải can thiệp làm niêm mạc tử cung bị thương Sau đó
là vi khuẩn Streptococcus, Staphylococcus, E Coli, C pyogenes, roi trùng Trychomonas Foetus, Brrucella, salmonella tác động gây viêm nội mạc tử cung (Arthur G H , 1964 [24], Settergreen I , 1986)[42]
Khi bị bệnh, gia súc biểu hiện một số triệu chứng: thân nhiệt hơi cao, ăn uống giảm, lượng sữa giảm Vật bệnh đau đớn nhẹ, thỉnh thoảng cong lưng rặn, từ cơ quan sinh dục thải ra ngoài hỗn dịch bao gồm: dịch viêm, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức hoại tử Khi con vật nằm, dịch viêm thải ra nhiều hơn xung quanh âm môn, gốc đuôi, hai bên mông dính nhiều dịch bẩn, khô lại thành từng đám vảy màu trắng, xám Kiểm tra qua âm đạo, niêm dịch và dịch viêm thải ra nhiều,cổ tử cung hơi mở Kiểm tra qua trực tràng có thể phát hiện tử cung sưng to, hai sừng tử cung không cân xứng nhau, thành tử cung dày và mềm hơn bình thường Khi kích thích nhẹ sừng tử cung co lại yếu Trường hợp trong tử cung tích lại nhiều dịch viêm, mủ thì phát hiện trạng thái chuyển động sóng
2.2.3.2 Viêm cơ tử cung (Myometritis puerperalis)
Theo Settergreen I (1986)[42], viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung: niêm mạc bị thấm dịch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập, viêm
Trang 27phát triển sâu làm các tế bào tổ chức bị phân giải, hệ thống mạch quản và lâm
ba quản bị tổn thương Các lớp cơ và một ít lớp tương mạc bị hoại tử
Viêm cơ tử cung dễ gây huyết nhiễm trùng hoặc nhiễm mủ, do lớp cơ, lớp tương mạc bị hoại tử, tử cung bị hoại tử, thậm chí thủng từng đám Vật bệnh sốt cao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống kém, giảm hay ngừng nhai lại sản lượng sữa giảm hay mất hẳn bệnh kế phát chướng bụng, đầy hơi, viêm vú, có khi viêm phúc mạc Gia súc bệnh luôn đau đớn, rặn liên tục Từ cơ quan sinh dục thải ra hỗn dịch mùi tanh, thối, màu đỏ nâu, lợn cợn mủ và những mảnh tổ chức thối rữa Kiểm tra qua âm đạo: cổ tử cung mở, hỗn dịch chảy ra nhiều, con vật đau đớn Khám qua trực tràng: tử cung to hơn, hai sừng tử cung to nhỏ không đều, thành tử cung dày và cứng Kích thích nhẹ vật rất đau và rặn nặng, nhiều hỗn dịch bẩn từ tử cung thải ra
2.2.3.3 Viêm tương mạc tử cung (Perimetritis Puerperalis)
Theo Đặng Đình Tín (1985)[18], Samd và cs (1987)[39], viêm tương mạc
tử cung thường kế phát từ viêm cơ tử cung Thể viêm này thường tiến triển cấp tính với các triệu chứng cục bộ và toàn thân rất điển hình Lúc đầu, lớp tương mạc tử cung có màu hồng, sau chuyển thành màu đỏ sẫm và trở nên sần sùi, mất tính trơn bóng Các tế bào bị hoại tử, bong ra, dịch thẩm xuất tăng tiết Trường hợp viêm nặng, lớp tương mạc dính với các tổ chức xung quanh, dẫn
đến viêm mô tử cung (parametritis), viêm phúc mạc Thân nhiệt tăng cao, mạch nhanh Vật ủ rũ, uể oải, đại, tiểu tiện khó khăn vật ăn uống kém hoặc
bỏ ăn, giảm hay ngừng nhai lại, lượng sữa còn rất ít hay mất hẳn, thường kế phát viêm vú Vật luôn bị đau đớn, khó chịu, lưng, đuôi cong, rặn liên tục Từ
âm hộ thải ra ngoài rất nhiều hỗn dịch lẫn mủ với tổ chức hoại tử, màu nâu, mùi thối, khắm Kiểm tra qua trực tràng thấy thành tử cung dày, cứng, hai sừng tử cung mất cân đối, khi kích thích vật biểu hiện đau đớn rõ rệt, rặn mạnh hơn Trường hợp một số vùng của tương mạc dính với các bộ phận xung
Trang 28khi không tìm thấy một hoặc cả hai buồng trứng Viêm tương mạc thương dẫn
đến kế phát viêm phúc mạc, bại huyết, huyết nhiễm mủ
2.2 4 Các bệnh ở buồng trứng:
Buồng trứng là một tuyến ngoại tiết với chức năng sản sinh ra một số lượng lớn các no5n bào; buồng trứng của bò có tới 70.000 no5n bào nguyên thuỷ và chỉ khoảng 0,01% số trên được sử dụng (Bierschwal và cs (1980)[26] Buồng trứng còn chức năng như một tuyến nội tiết, tiết ra hàng loạt các hormone điều khiển hoạt động sinh sản của cơ thể Là một bộ phận quan trọng nhất của bộ máy sinh sản, buồng trứng hoạt động dưới sự điều khiển của hệ thống thần kinh và thể dịch Bất kỳ một sự thay đổi gì trong buồng trứng
đều làm hoạt động sinh sản của gia súc rối loạn (Arthur G H, 1964)[24] Nhiều tác giả như Settergreen I (1986)[41], Bạch Đăng Phong (1995)[10], Anberth Youssef (1997)[23], đ5 nghiên cứu các quá trình bệnh lý
ở buồng trứng Theo các tác giả các bệnh ở buồng trứng thường gặp
2.2.4.1 Viêm buồng trứng (Ovaritis)
Theo Anberth Youssef (1997)[23], viêm buồng trứng ở đại gia súc do viêm tử cung, viêm ống dẫn trứng, viêm phúc mạc lan sang Nếu viêm cả hai buồng trứng ở thể cấp tính thì gia súc mất hẳn chu kỳ sinh dục Buồng trứng sưng to lên thành hình tròn, mềm và mặt ngoài nhẵn bóng, không có no5n bào
và thể vàng, ở bò và ngựa, buồng trứng bị viêm có thể phát triển lên gấp 3-4 lần bình thường
Nếu viêm buồng trứng m5n tính, buồng trứng sưng to rõ rệt, rắn và mặt ngoài có nhiều chỗ lồi lõm khác nhau Có thể biết được khi kiểm tra qua trực tràng Nếu buồng trứng bị viêm kéo dài, tế bào tổ chức bị thoái hoá, các tổ chức liên kết tăng sinh, cả hai buồng trứng bị xơ cứng, vật sẽ mất khả năng sinh sản
Trang 292.2.4.2 Thiều năng và teo buồng trứng (Hypophunctio et atrophia Ovariorium)
Thiểu năng buồng trứng là bệnh thường gặp nhiều ở đại gia súc
Barr và Hashim (1968)[25] đ5 thông báo, 80% trâu Ai Cập không sinh sản là do thiểu năng buồng trứng
Soliman và cs (1963)[45] Schmidt và cs (1963)[40], Soliman và cs (1981)[46], nghiên cứu về nguyên nhân chậm sinh sản, vô sinh ờ trâu, bò Ai Cập cũng thông báo 32-40% trâu, bò Ai Cập không có kh5 năng sinh sản vì buồng trứng không hoạt động
Arthur G H (1964)[24], Settergreen I (1986)[42], Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (1994)[9], đều khẳng định rằng bệnh thiểu năng, teo buồng trứng xẩy ra phổ biến và là nguyên nhân gây ra tình trạng rối loạn sinh sản nhất là ở đại gia súc
Về nguyên nhân các tác giả đều thống nhất cho rằng: thiểu năng và teo buồng trứng do kế phát viêm tử cung, viêm ống dẫn trứng, nuôi dưỡng, chăm sóc kém, khai thác và làm việc quá sức có thể dẫn tới
Một số tác giả đ5 đề cập tới vai trò của tuyến giáp, đ5 phát hiện ở những
bò cái buồng trứng không hoạt động, tuyến giáp xơ cứng, do mô liên kết tăng sinh, thay thế các mô tuyến Chính vì vậy hàm lượng các hormone tuyến giáp, Iode không liên kết, Triiodthyronin (T3) trong huyết thanh của những bò này rất thấp so với mức sinh lý Từ những xét nghiệm trên, người ta nghĩ đến sự thiếu hụt các nguyên tố vi lượng như sắt (Salem và cs (1979)[38], Iode (Schmidt và cs 1963)[40] trong thiểu năng và teo buồng trứng ở gia súc
Vai trò của Thyromin Stimulin Hormone (TSH) trong bệnh thiểu năng và teo buồng trứng cũng được nhiều tác giả đề cập tới Settergreen I (1986)[42] cho biết, mức TSH trong máu bò của buồng trứng không hoạt dộng là rất thấp Triệu chứng đặc trưng của bệnh thiểu năng và teo buồng trứng là chu kỳ
Trang 30động dục nhưng không phồng noán Kiểm tra qua trực tràng vị trí, hình dáng
và tính đàn hồi của buồng trứng không thay đổi, nhưng không có no5n bào phát triển và thể vàng Cũng có trường hợp trên một buồng trứng có vết tích của thể vàng Nếu buồng trứng bị teo thì thể tích nhỏ lại
2.2.4.3 Xơ cứng buồng trứng (Selerosis Ovariorium)
ở gia súc cái sinh sản thường xẩy ra tình trạng tế bào buồng trứng thoái hoá, tổ chức liên kết tăng sinh, buồng trứng teo, biến dạng và cứng gọi là xơ cứng buồng trứng (Settergreen I, 1986)[41]
Xơ cứng buồng trứng chủ yếu do kế phát từ hiện tượng viêm buồng trứng, do hậu quả của quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý, khai thác và
sử dụng gia súc cái không hợp lý Bệnh có thể xuất hiện trạng thái chai cứng toàn bộ hay một phần của buồng trứng Đặc điểm chủ yếu của bệnh là buồng trứng bị teo nhỏ lại, mặt ngoài buồng trứng lồi lõm không đều Kiểm tra qua trực tràng, khi kích thích xoa bóp nhẹ nhàng buồng trứng ta có cảm giác cứng rắn, gia súc không có biểu hiện đau đớn
Theo Settergreen I, (1986)[41], nếu cả hai buồng trứng xơ cứng, tử cung
sẽ bị teo nhỏ lại, gia súc cái mất hoàn toàn kh5 năng sinh sản Đây là một bệnh thường gặp ở gia súc sinh sản, mà hậu quả thường con vật bị thải loại, thiệt hại về kinh tế không nhỏ
2.2.4.4 Thể vàng tồn tại (corpus luteum persistens)
Trong điều kiện sinh lý bình thường, khi gia súc cái xuất hiện chu kỳ sinh dục, lúc đó no5n bào chín, nổi rõ trên bề mặt buồng trứng Dưới tác dụng của thần kinh, hormone, áp suất, no5n bào vỡ, giải phóng tế bào trứng, đồng thời thải xuất ra dịch folliculin Sau khi no5n bào vỡ, dịch nang chảy ra, nang Graf xẹp xuống, đường kính ngắn lại, tạo ra những nếp nhăn trên vách xoang
ăn sâu vào trong và chứa nhiều tế bào hạt làm thu hẹp xoang tế bào trứng Trong tế bào hạt có chứa Lipoit và sắc tố màu vàng, chúng tăng nhanh về kích
Trang 31thước và lấp đầy xoang tế bào trứng, lúc này thay thế cho tế bào trứng là thể vàng (Corpus Luteum), chính là nơi tiết ra hormone Progesteron
Từ ngày thứ nhất đến ngày thứ tư gọi là thể huyết (từ ngày thứ tư trở đi,
có thể sờ thấy) Từ ngày thứ tư đến ngày thứ 12, hoàn toàn màu vàng và tiết Progesteron Nếu không có thai thể vàng nhanh chóng đạt đến độ lớn tối đa và bắt đầu tiêu biến đi, trái lại nếu gia súc có thai, thể vàng tồn tại suốt thời gian
có thai đến ngày gia súc gần đẻ Trường hợp gia súc sau khi đẻ xong hoặc sau hiện tượng động dục, chưa phối giống hay phối giống không có thai mà thể vàng vẫn tồn tại trên buồng trứng hàng tháng, có thể hàng năm được gọi là bệnh thể vàng tồn tại (Corpus Luteum Persistens) Đây là một trong những nguyên nhân làm gia súc không động hớn, vô sinh, bệnh thường gặp ở gia súc cái sinh sản nhất là đại gia súc (Athur 1964 [24], Anberth Youssel, 1997 [23])
Về mặt cấu tạo, chức năng, tác dụng của thể vàng trong bệnh này giống thể vàng của buồng trứng trong thời gian gia súc mang thai Nguyên nhân gây bệnh thể vàng tồn tại thường do nuôi dưỡng kém, nhất là khẩu phần thức ăn thiếu protein, vitamin, khoáng
Theo Soliman et al (1963)[45], Schmidt et al (1963)[40], Salem, Soliman (1979)[38], Soliman et al (1981)[46], thiếu hụt hàm lượng khoáng,
đặc biệt là I2, Fe làm rối loạn cơ năng sau đó là thể vàng tồn tại trên buồng trứng Ngoài ra bệnh còn là hậu quả kế phát của viêm tử cung tích mủ, thai can xi hoá, sát nhau (Nguyễn Hữu Ninh, Bặch Đăng Phong 1994[9]) gia súc
bị bệnh thể vàng tồn tại hoàn toàn không động dục, có thể qua trực tràng, phát hiện thấy có thể vàng to, nhỏ, nhô lên trên bề mặt buồng trứng
2.2.4.5 U nang buồng trứng (Cystes ovariorum)
Trong qua trình hình thành, phát triển của no5n bào, các tế bào thượng bì của no5n bào dần dần bị thoái hoá và biến đổi, các tổ chức liên kết của no5n
Trang 32bàotrứng bị chết, dịch no5n bào chứa đầy trong bào no5n được gọi là u nang buồng trứng (Đặng Đình Tín, 1985 [18], Anberth Youssel, 1997 [23])
U nang buồng trứng bao gồm: những u tuyến nang (cysta denomes) là những u lành thường gặo ở gia súc sinh sản Đây là những u có dạng tròn, nhẵn một thuỳ hoặc nhiều thuỳ, bên trong chứa thanh dịch hoặc dạng nhày và
kỳ rụng trứng, sau khi đẻ 35-45 ngày, đặc biệt ở những bò già cao sản thường
bị bệnh này về mùa thu hoặc mùa đông Godon I (1988)[32] thông báo những đàn bò có nhiều con đẻ song thai thường sinh u nang buồng trứng Deas
và cs (1979)[29], nghiên cứu trên giống bò đỏ và bò Friesan ở Thuỵ Điển đ5
đưa ra nhận xét bệnh u nang buồng trứng thường xảy ra vào tháng thứ 2 và 3 sau khi đẻ Tỷ lệ mắc bệnh ở các lứa tuổi khác nhau 16-20% ở bò cái 4-5 tuổi, 50% ở bò cái 10-11 tuổi Đỉnh cao của tỷ lệ mắc bệnh ở tháng 12 và tháng 1, thấp nhất từ tháng 6 đến tháng 9 trong năm
Về nguyên nhân gây bệnh u nang buồng trứng, các tác giả đều thống nhất cho rằng bệnh u nang buồng trứng thường xuất hiện do quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc kém, khẩu phần ăn đơn điệu hay kém phẩm chất, chế độ khai thác không hợp lý hoặc gia súc phải làm việc, cày, kéo quá sức, gia súc quá gầy yếu
Một số ý kiến cho rằng, bệnh u nang buồng trứng là kết quả của sự rối loạn cơ năng thần kinh và hormone trong cơ thể, đặc biệt do những sai lệch về chế tiết Gonadotropin khi chức năng sinh lý của tuyến yên rối loạn, dẫn đến
Trang 33tình trạng rối loạn hoạt động chu kỳ sinh dục (Deas D W et al , 1979 [29], Gordon I , 1988 [32]) Sự rối loạn trạng thái động dục, rụng trứng, coi như triệu chứng đặc biệt của hiện tượng rối loạn cơ năng hoạt động của buồng trứng No5n bào phát triển chưa thành thục hoàn toàn, không phóng no5n, không teo lại, tồn tại lâu ngày dưới dạng u nang Ngoài ra bệnh có thể kế phát
từ sát nhau, sẩy thai, viêm ống dẫn trứng, viêm nội mạc tử cung, viêm buồng trứng, do gia súc động dục nhiều lần mà không được phối giống hay trong quá trình hình thành, phát triển của no5n bào, gia súc gặp phải điều kiện khí hậu, nhiệt độ của môi trường thay đổi quá đột ngột
Biểu hiện điển hình của cơ thể gia súc khi mắc bệnh u nang buồng trứng
là hoạt động hưng phấn sinh dục rất mạnh, không theo một quy luật nhất định Con vật biểu hiện trạng thái động dục mạnh và liên tục Nhiều tác giả gọi là chứng cuồng dục (Bierschwal và cs (1980)[26] Con vật kêu rống, hoạt động rối loạn, nhảy lên lưng con khác Vật ở trong trạng thái không yên tĩnh, mép
âm môn sệ xuống và bóng láng Niêm mạc âm đạo ẩm và xung huyết Cổ tử cung phù nề, gi5n ra Niêm mạc tử cung chảy ra thường đọng lại trước âm đạo Lõm khum đuôi võng xuống, đuôi cong lên, thích gần đực, khi gặp đực giống vật bệnh luôn đứng, hai chân sau dạng ra, lưng võng xuống, đuôi cong sang một bên ở tư thế sẵn sàng chịu đực Con vật bệnh có thể cho phối giống bất kỳ lúc nào trong thời gian có biểu hiện động dục Cũng có trường hợp do các tế bào thượng bì của no5n bào bị thoái hoá nên foliculin tiết ra quá ít hay hoàn toàn không sản sinh làm cho gia súc mất hẳn động dục trong một thời gian (Deas và cs 1979)[29]
Khám qua trực tràng, có thể phát hiện trên một hoặc cả hai buồng trứng
có một hay nhiều u nang, kích cỡ to nhỏ từ 2-8 mm; có thể có từ 1-5 cái Những u nang này nổi rõ trên bề mặt buồng trứng Thành của u nang mỏng, khi xoa nhẹ có cảm giác mềm, bên trong tích đầy dịch Những trờng hợp trên
Trang 342.3 ứng dụng prostaglandin (PGF2α) trong sinh sản gia súc
Trong kỹ thuật điều khiển quá trình sinh sản ở gia súc, việc sử dụng kích dục tố đóng vai trò quyết định sự thành công của công nghệ sinh sản Một trong những kích dục tố thông dụng đang được ưa chuộng và sử dụng nhiều trên thế giới là Prostaglandin F2α (PGF2α) Nhờ tác dụng kích thich trực tiếp
đối với cơ quan sinh dục cũng như hệ thống điều khiển quá trình sinh sản của cơ thể gia súc mà PGF2α đựoc sử dụng như một công cụ kỹ thuật đặc biệt của công nghệ sinh sản trong chăn nuôi gia súc nhất là với gia súc lớn
Trên thế giới PGF2α đ5 được nghiên cứu và sử dụng rộng r5i trong nhiều lĩnh vực của công nghệ sinh sản và đ5 thu được nhiều kết quả đáng khích lệ Việt Nam trong những năm gần đây nhiều nhà khoa học như Nguyễn Tấn Anh
và cộng sự (1984)[1], Trịnh Quang Phong và Đào Đức Thà (1993)[11], Đỗ Kim Tuyên (1995)[19], Nguyễn Thị Ước (1996)[21], Hoàng Kim Giao, Nguyễn Thanh Dương (1997)[7], Đ5 nghiên cứu ứng dụng PGF2α trong chăn nuôi thú y Tuy nhiên những tư liệu trong việc sử dụng PGF2α điều trị bệnh sinh sản của gia súc trong đó có con bò còn rất ít Do vậy việc tiến hành thử nghiệm sử dụng PGF2α điều trị các bệnh sinh sản cho bò là cần thiết Tác dụng chính của PGF2α làm thoái hoá thể vàng, giảm hàm lượng Progesterone trong máu, kích thích bài tiết Gonadotropin, kích thích phát triển nang trứng gây động dục và rụng trứng PGF2α không có hiệu lực khi dùng cho gia súc không có thể vàng do đó nó ít được dùng cho gia súc nuôi vì phần lớn những gia súc này không có khả năng động dục trước ngày thứ 50 sau khi
đẻ
Theo Nguyễn Phước Tương (1994)[20], Hoàng Kim Giao, Nguyễn Thanh Dương (1997)[7], trong chăn nuôi đại gia súc, đặc biệt trong chăn nuôi bò sữa PGF2α được dùng trong các trường hợp sau:
Các dạng không sinh sản với thể vàng tồn lưu
Trang 35Rụng trứng yếu sau các lần động dục ẩn, PGF2α giúp quay lai nhanh chóng chu lỳ động dục mới, sự rung trứng xảy ra sau đó 2-4 ngày
Chết phôi, thai chết lưu
Bọc mủ tử cung, viêm nội mạc tử cung, thai biến thành xác khô
Kiểm soát chủ động chu lỳ động dục của bò cái, kết hợp với các hormone khác gây siêu bài no5n, gây động dục đồng pha trong công nghệ cấy truyền phôi
Gây sảy thai, đẻ theo ý muốn
Từ năm 1966, PGF2α và các chất có tác dụng tương tự đ5 được điều chế sản xuất và sử dụng rộng r5i ở các nước Anh, Mỹ, Hà Lan ( Nguyễn Văn Thanh1999[13] )
2.3.1 Sử dụng PGF2α trong điều trị viêm nội mạc tử cung
Theo Hoàng Kim Giao và Nguyễn Thanh Dương (1997)[7], những bò bị viêm tử cung có thể tiêm PGF2α để điều trị Nhờ tác động của PGF2α, tử cung nhu động, co bóp, tống chất bẩn trong tử cung ra ngoài, đồng thời giúp cho sự hoạt động của bộ máy sinh dục trở lại bình thường Tỷ lệ khỏi viêm đạt 70-90%, cũng có thể tiêm GnRH 48 giờ sau khi tiêm PGF2α Sự kết hợp này đ5 giúp 100% bò viêm khỏi bệnh Theo các tác giả như trên chúng tôi d5 sử dụng PGF2α kết hợp với một số thuốc khác để điều trị bệnh viêm nội mạc tử cung
Trang 36Phần thứ III: đối tượng, nội dung và phương pháp
nghiên cứu 3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đàn bò cái vàng Việt Nam trong độ tuổi sinh sản, đang được nuôi ở các
hộ gia đình 3 x5, 1 phường Hoà Thắng,Hoà Phú, Eakao, Thành Nhất và 1
trung tâm giết mổ trâu, bò ở phường Khánh Xuân
Thời gian nghiên cứu từ tháng 11/2006 đến tháng 10/2007
3.2 Nội dung nghiên cứu
3.2.1 Xác định một số chỉ tiêu sinh sản ở bò cái vàng
3.2.2 Một số bệnh thường gặp ở cơ quan sinh dục bò cái vàng
Bệnh ở âm đạo và tiền đình: bệnh viêm âm môn, âm đạo và tiền đình
Những bệnh ở tử cung: bệnh viêm nội mạc tử cung, bệnh viêm cơ tử
cung và bệnh viêm tương mạc tử cung
Những bệnh ở buồng trứng bao gồm: bệnh viêm buồng trứng, bệnh
thiểu năng và teo buồng trứng, bệnh thể vàng tồn tại và bệnh u nang buồng
trứng
Những bệnh kể trên đều được theo dõi nghiên cứu về nguyên nhân, triệu
chứng, tính chất bệnh lý, phương pháp chẩn đoán và thử nghiệm điều trị bệnh
viêm nội mạc tử cung
Trang 373.2.3 Thử nghiệm ứng dụng Prostaglandin trong điều trị viêm nội mạc tử cung ở bò vàng
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3 3 1 Xác định các chỉ tiêu sinh sản ở bò cái vàng
Đánh giá các chỉ tiêu sinh sản bằng phương pháp theo dõi, ghi chép trực tiếp, qua sổ sách giống đ5 lưu và điều tra trực tiếp các hộ chăn nuôi ở gia đình
- Tuổi thành thục về tính
Trực tiếp theo dõi, ghi chép, điều tra tìm hiểu sổ sách của dẫn tinh viên, các hộ gia đình chăn nuôi bò
- Tuổi đẻ lứa đầu
Trực tiếp theo dõi ghi chép, qua sổ phối giống, sổ theo dõi sinh đẻ của các hộ chăn nuôi gia đình trên 198 bò cái vàng Tuổi đẻ lứa đầu được tính từ khi con gia súc sinh ra cho đến khi đẻ lứa đầu tiên (thời gian tính bằng tháng)
- Tỷ lệ đẻ toàn đàn
Trực tiếp theo dõi ghi chép, qua sổ phối giống, sổ theo dõi sinh đẻ của
kỹ thuật dẫn tinh viên, thú y cơ sở và phiếu sinh sản của các hộ chăn nuôi trên
275 bò cái vàng Tuổi đẻ toàn đàn là chỉ tiêu so sánh giữa tổng số bò đẻ trong năm với tổng số bò toàn đàn trong độ tuổi sinh sản
Trang 38- Khoảng cách giữa hai lứa đẻ
Trực tiếp theo dõi ghi chép, qua sổ sinh đẻ của kỹ thuật viên dẫn tinh và các hộ chăn nuôi của 397 bò cái vàng đ5 qua 3 đến 5 lứa đẻ
Khoảng cách giữa hai lứa đẻ là khoảng cách giữa lứa đẻ này đến lứa
đẻtiếp theo (thời gian tính bằng tháng)
- Tỷ lệ đẻ qua các tháng trong năm
Trực tiếp theo dõi, ghi chép qua sổ phối giống, phiếu sinh đẻ của kỹ thuật viên chăn nuôi,thú y, hộ nuôi của 337 bò cái để xác định bò sinh sản theo các tháng trong năm
- Tỷ lệ nuôi sống bê đến 6 tháng tuổi
Trực tiếp theo dõi ghi chép, qua sổ sinh đẻ của kỹ thuật viên dẫn tinh và các hộ chăn nuôi của 309 bò cái vàng đ5 qua 3 đến 5 lứa đẻ Là số con đẻ ra sống và nuôi đến 6 tháng tuổi
3.3.2 Chẩn đoán các bệnh cơ quan sinh dục ở bò cái vàng
3.3.2.1 Khám lâm sàng:
Bệnh ở âm đạo, tiền đình, bệnh ở tử cung và bệnh ở buồng trứng được dựa trên kết quả chẩn đoán qua khám lâm sàng trực tiếp, theo dõi, ghi chép bằng các phương pháp chuyên dụng, thường quy với số mẫu nghiên cứu 3.3.2.2 Mổ khám cơ quan sinh dục cái
Để đánh giá mức độ chính xác của phương pháp khám lâm sàng trên thực tiễn sản xuất tôi đ5 tiến hành kiểm tra lại bằng phương pháp mổ khám cơ quan sinh dục cái Phương pháp này được tiến hành tại trung tâm giết mổ bò ở phường Khánh Xuân, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk
Những bò cái trước khi giết mổ được theo dõi các chỉ tiêu sinh lý lâm sàng, khám cơ quan sinh dục thông qua trực tràng Sau khi giết mổ cắt toàn bộ
đuường sinh dục cái tiến hành mổ khám từng bộ phận Phương pháp này giúp
Trang 39tôi xác định được một cách chính xác tỷ lệ và mức độ bị bệnh của từng bộ phận ở cơ quan sinh dục cái của bò
3.3.3 Phương pháp sử dụng Prostaglandin F2α (FGF2α) kết hợp với một
số thuốc khác để điều trị bệnh viêm nội mạc tử cung
Bò cái mắc bệnh được chia làm 3 lô thí nghiệm và được diều trị theo 3 phác đồ khác nhau(trình bày tại phần kết quả và thảo luận) các chỉ tiêu theo dõi để đánh giá so sánh hiệu quả điều trị bao gồm: tỷ lệ lệ khỏi bệnh, thời gian
điều trị, tỷ lệ động dục lại, tỷ lệ có thai trở lại sau 3 tháng
3.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu đề tài
Thành phố Buôn Ma Thuột có 13 phường và 8 x5 Tổng đàn bò là 9.200 con, trong đó có đến 70%là giống bò vàng Việt Nam
Địa điểm nghiên cứu tại: x5 Hoà Thắng (nằm về phía Đông, các hộ chăn nuôi bò vàng là dân tộc Mường), x5 Hòa Phú (nằm về phía Tây, các hộ chăn nuôi bò vàng là dân tộc Thái) , x5 Eakao (nằm về phía nam, các hộ chăn nuôi
bò vàng là dân tộc Êđê) 3 x5 này đều ở vùng ven thành phố, phường Thành Nhất nằm trong trung tâm thành phố, về phía Bắc, các hộ chăn nuôi là dân tộc Kinh) và 1 trung tâm giết mổ trâu, bò tập trung tại phường Khánh Xuân-thành phố Buôn Ma Thuột Tất cả các địa điểm trên có đường kính cách nhau từ 23
đến 26 km, cùng chung một tiểu vùng khí hậu