1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khảo sát một số chỉ tiêu sinh sản và bệnh thường gặp ở cơ quan sinh dục cái trên đàn bò vàng nuôi tại một số địa phương thuộc thành phố buôn ma thuột, tỉnh đắk lắk

79 693 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 2,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Xác định được một số bệnh thường gặp ở cơ quan sinh dục cái của bò vàng - Tìm ra phác đồ điều trị đặc hiệu bệnh viêm nội mạc tử cung ở bò vàng.. ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề t

Trang 1

Bé GI¸O DôC Vµ §µO T¹O TR¦êNG §¹I HäC N¤NG NGHIÖP I

- -

§ç HåNG TH¸I

KH¶O S¸T MéT Sè ChØ TI£U SINH S¶N Vµ BÖNH th−êng gÆp ë C¬ quan SINH DôC C¸I trªn §µN Bß VµNG NU¤I T¹I MéT Sè §ÞA PH¦¥NG THUéC THµNH PHè BU¤N MA THUéT, tØnh §¾K L¾K

LUËN V¡N TH¹C SÜ N¤NG NGHIÖP

Chuyªn ngµnh: Ch¨n nu«i

M· sè: 60-62-40

Ng−êi h−íng dÉn khoa häc: ts nguyÔn v¨n thanh

Hµ NéI - 2007

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan những số liệu và kết quả nghiên cứu trung thực và ch−a

hề đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này

đ5 đ−ợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đ5 đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc

Trang 3

LờI CảM ƠN Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Ban Chủ nhiệm Khoa Sau

đại học, Ban Chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi- Thú y Trường Đại học Nông nghiệp

I - Hà Nội đ5 tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành luận văn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn khoa học

TS Nguyễn Văn Thanh đ5 tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu

và xây dựng luân văn

Tôi xin chân thành cảm ơn cục thống kê, phòng kinh tế,UBND các x5,

phường, thành phố Buôn Ma Thuột tỉnh ĐăkLăk đ5 giúp tôi khảo sát, thu thập,

tổng hợp số liệu

Tôi xin chân thành cảm ơn các hộ chăn nuôi bò ở các x5, phường, chủ

cơ sở và đội ngũ nhân viên trung tâm giết mổ trâu, bò phường Khánh Xuân

thành phố Buôn Ma Thuột đ5 tạo mọi điều kiện cho tôi có được số liệu thực tế

để xây dựng luận văn

Nhân dịp này cho tôi được bày tỏ sự biết ơn tới Ban Giám hiệu và các

Phòng Ban của Trường Cao đẳng nghề TNDT Tây Nguyên đ5 tạo điều kiện

thuân lợi để tôi hoàn thành luận văn

Tôi xin được bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới gia đình và bạn bè đồng

nghiệp đ5 tận tình giúp đỡ tôi vượt qua khó khăn để hoàn thành luận văn

Hà Nội, tháng 11 năm 2007

Đỗ Hồng Thái

Trang 4

Mục lục

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục

iii Danh mục từ và các cụm từ viết tắt vi

Danh mục các bảng vii

Danh mục các hình viii

Danh mục đồ thị, biểu đồ viii

1 Mở đầu: 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài: 1

1.2 Mục đích nghiên cứu đề tài: 2

1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài: 2

2 Tổng quan tài liệu, cơ sở khoa học của đề tài: 3

2.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu khả năng sinh sản của bò vàng 3

2.1.1 Nguồn gốc bò thế giới 3

2.1.2 Nguồn gốc bò vàng Việt Nam 3

2.1.3 Đặc điểm sinh lý của bò 4

2.1.4 Hoạt động sinh dục của bò cái 8

2.2 Những bệnh thường gặp ở cơ quan sinh dục cái 13

2.2.1 Viêm âm môn, tiền đình, âm đạo 14

2.2.2 Viêm cổ tử cung 15

2.2.3.Viêm tử cung 16

2.2.3.1 Viêm nội mạc tử cung 17

2.2.3.2 Viêm cơ tử cung 17

Trang 5

2.2.3.3 Viêm tương mạc tử cung 19

2.2.4 Các bệnh ở buồng trứng 19

2.2.4.1.Viêm buồng trứng 19

2.2.4.2.Thiểu năng và teo buồng trứng 20

2.2.4.3 Xơ cứng buồng trứng 21

2.2.4.4 Thể vàng tồn tại 21

2.2.4.5 U nang buồng trứng 22

2.3 ứng dụng Prostaglandin ( PG F2α) trong sinh sản gia súc 25

2.3.1 Sử dụng Prostaglandin ( PG F2α) trong điều trị viêm nội mạc tử cung.26 3 đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 27

3.1 Đối tượng nghiên cứu 27

3.2 Nội dung nghiên cứu 27

3.2.1 Xác định một số chỉ tiêu sinh sản ở bò cái vàng 27

3.2.2 Một số bệnh thường gặp ở cơ quan sinh dục bò cái vàng 27

3.2.3 Thử nghiệm ứng dụng Prostaglandin trong điều trị viêm nội mạc tử cung ở bò vàng 28

3.3 Phương pháp nghiên cứu 28

3.3.1 Xác định một số chỉ tiêu sinh sản ở bò cái vàng 28

3.3.2 Chẩn đoán các bệnh cơ quan sinh dục ở bò cái vàng 29

3.3.3 Phương pháp sử dụng Prostaglandin ( PG F2α) kết hợp với một số thuốc khác để điều trị bệnh cơ quan sinh dục bò cái 30

3.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu đề tài 30

3.5 Phương pháp xử lý số liệu 30

4 Kết quả và thảo luận kết quả 32

4.1 Kết quả một số chỉ tiêu sinh sản của bò cái vàng 32

4.1.1.Tuổi thành thục về tính 32

4.1.2 Tuổi đẻ lứa đầu 34

Trang 6

4.1.4 Tỷ lệ đẻ theo độ tuổi 37

4.1.5 Khoảng cách giữa hai lứa đẻ 39

4.1.6 Tỷ lệ đẻ qua các tháng trong năm 40

4.1.7 Tỷ lệ nuôi sống bê đến 6 tháng tuổi 42

4.2 Kết quả điều tra về một số bệnh thường gặp ở cơ quan sinh dục cái trên bò vàng tại thành phố Buôn Ma Thuột 44

4.2.1 Tỷ lệ bệnh ở các bộ phận cơ quan sinh dục cái 47

4.2.2 Bệnh viêm âm môn, tiền đình, âm đạo 48

4.2.3.Bệnh ở tử cung 50

4.2.4 Bệnh ở buồng trứng 57

4.3 Kết quả thử nghiệm điều trị bệnh viêm nội mạc tử cung trên bò vàng tại một số địa phương thuộc thành phố Buôn Ma Thuật .60

5 Kết luận-Đề nghị 63

Tài liệu tham khảo 65

Trang 7

DANH MôC Tõ Vµ C¸C CôM Tõ VIÕT T¾T

Trang 8

4.9 Tû lÖ m¾c bÖnh c¬ quan sinh dôc c¸i

4.10 Tû lÖ bÖnh ë c¸c bé phËn cña c¬ quan sinh dôc c¸i 49

4.12 C¸c chØ tiªu sinh lý vµ bÖnh lý cña bß vµng bÞ viªm tö cung 52

4.15 KÕt qu¶ sinh s¶n sau ®iÒu trÞ viªm néi m¹c tö cung 61

Trang 9

Danh mục các biểu đồ, đồ thị

4.8 Tỷ lệ mắc bệnh ở các bộ phận của cơ quan sinh dục cái 48

Danh mục các hình

Trang 10

Phần thứ I: mở đầu

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là nước chủ yếu làm nông nghiệp Với khí hậu nhiệt đới, gió mùa, tài nguyên thiên nhiên phong phú, giàu tiềm năng cho sự phát triển kinh

tế trong đó có ngành trồng trọt và chăn nuôi

Tây Nguyên nói chung, Đắk Lắk nói riêng là cao nguyên với khí hậu thời tiết 2 mùa mưa, nắng rõ rệt, đất đỏ bazan màu mỡ, phù hợp cho nhiều thảm thực vật và các loại cây trồng phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển chăn nuôi tăng nhanh đàn gia súc, gia cầm

Mấy năm gần đây, ngoài việc thuần hoá đàn bò địa phương thì nhiều dự

án quốc gia đ5 hỗ trợ các gia đình khó khăn ở Đắk Lắk từ 1 đén 2 con bò cái nuôi sinh sản, để thực hiện mục tiêu (xoá đói, giảm nghèo) của Đảng và Chính phủ Vì vậy mà đàn bò cái ở Đăk Lăk đ5 tăng lên đáng kể

Thành phố Buôn Ma Thuột là trung tâm của tỉnh Đắk Lắk, được chia thành 21 x5, phường, với tổng diện tích đất tự nhiên là 37.156 ha (chiếm 1, 86% tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh) Theo số liệu cục thống kê Dắk Lắk tổng kết tháng 12/2006 là tổng đàn bò hiện có tại thành phố Buôn Ma Thuột là 9.200 con, trong đó 70% là giống bò vàng Việt Nam, còn lại là bò lai

Tuy đàn bò cái sinh sản ở Đắk Lắk có tăng, song với tiềm năng phong phú, đa dạng, rất phù hợp cho chăn nuôi đại gia súc phát triển mà hiệu quả chưa cao Bởi ở đây có 35 dân tộc, cùng sinh sống với phong tục, tâp quán, phương thức chăn nuôi khác nhau Đặc biệt sự hiểu biết, tiếp cận với kỹ thuật chăn nuôi còn hạn chế

Để góp phần bảo vệ và phát triển đàn bò cái vàng ở Tây Nguyên, đồng thời bổ sung thêm tư liệu cho kho tàng dữ liệu nghiên cứu về con bò của Quốc gia Được sự hướng dẫn của thầy giáo TS Nguyễn Văn Thanh-Trưởng bộ môn Ngoại-Sản, khoaThú y, Trường Đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội, tôi tiến hành

Trang 11

nghiên cứu đề tài: “Khảo sát một số chỉ tiêu sinh sản và bệnh thường gặp ở cơ quan sinh dục cái trên đàn bò vàng nuôi tại một số địa phương thuộc thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk

1.2 Mục đích nghiên cứu đề tài

- đánh giá được một số chỉ tiêu sinh sản ở đàn bò cái vàng nuôi tại một

số địa phương thuộc thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk

- Xác định được một số bệnh thường gặp ở cơ quan sinh dục cái của bò vàng

- Tìm ra phác đồ điều trị đặc hiệu bệnh viêm nội mạc tử cung ở bò vàng 1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Kết quả nghiên cứu của đề tài về một số chỉ tiêu sinh sản của đàn bò vàng là tư liệu giúp cho các cấp quản lý có những chính sách, biện pháp thích hợp nhằm bảo vệ và phát triển đàn bò vàng ở Việt Nam nói chung và Tây Nguyên nói riêng

- Các kết quả nghiên cứu về một số bệnh thường gặp ở cơ quan sinh dục cái của bò vàng giúp ích cho cán bộ thú y trong công tác chẩn đoán, phân biệt các quá trình bệnh lý thường gặp ở cơ quan sinh dục cái và biện pháp điều trị thích hợp, hiệu quả

Trang 12

Phần thứ II: tổng quan tài liệu và cơ sở khoa học

của đề tài 2.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu khả năng sinh sản của bò vàng 2.1.1 Nguồn gốc bò thế giới

Các tác giả Nguyễn Trọng Tiến và cs (1991)[16], căn cứ vào định luật của Linnas (1758) cho rằng tất cả giống bò nhà hiện nay đều do một giống bò

tổ, giống bò này xuất hiện ở rừng Trung á, rồi diễn tiến thành 2 biến chủng là

bò tổ châu Âu và bò tổ châu á Từ 2 biến chủng này diễn tiến ra nhiều loại bò rừng khác nhau Và chính những loại bò rừng này dần dần được thuần hoá thành bò nhà ở Trung Quốc bò được thuần hoá 2000 năm trước công nguyên Nhìn chung bò nhà hiện nay được thuần hoá từ bò rừng trước kia và có sự biến đổi trong quá trình tiến hoá có chọn lọc của con người nhưng đều thuộc: + Ngành: Động vật có xương sống (Vetebrata)

+ Loài: Bò-Bosindicus (á), Bosbison (Mỹ) , Bostaurus (ÂU)

2 1 2 Nguồn gốc bò vàng Việt Nam

Có tên bò vàng vì phần lớn (>90%) chúng có sắc lông màu vàng Theo một số tác giả cho rằng bò vàng Việt Nam có nguồn gốc từ loại hình bò U châu á diễn tiến thành và tổ tiên thuộc loài bò rừng châu á Theo tác giả Nguyễn Trọng Tiến (2001)[17] bò vàng nước ta có nguồn gốc từ ấn Độ (Bosindicus) và bò Trung Quốc Trong quá trình giao lưu buôn bán, bò vàng

được thuần hoá và đưa vào Việt Nam rất lâu đời Từ đó bò vàng đ5 trở thành

Trang 13

con vật quý của người nông dân nước ta và nó gắn liền với đời sống kinh tế, x5 hội của từng địa phương Vì vậy bò hình thành nên các tên theo tính chất của từng địa danh nơi nó sinh sống Trong các giống bò được thuần hoá thì giống

bò địa phương là nhỏ con nhất

2.1.3 Đặc điểm sinh lý của bò

2.1.3.1 Một số đặc điểm sinh lý của bò đực

Tác giả Nguyễn Văn Thanh(1999)[13] so sánh cơ quan sinh dục đực bò

và trâu có nhận xét: Về tổ chức giải phẫu cơ quan sinh dục bò và trâu như nhau, nhưng thành thục về tính của bò sớm hơn Bò Vàng từ 15 đến 18 tháng tuổi đ5 có thể phối giống, tuy nhiên khả năng phối giống tốt nhất là 2 đến 5 tuổi, thời gian sử dụng đực giống khoảng 10 năm

Bò đực vàng thể hiện tính hăng rõ rệt, tác động phóng tinh mạnh, nhanh, thông thường phối giống 2 đến 3 lần/tuần Do hạn chế về thể vóc nên bò đực vàng ít được chú ý khai thác tinh làm thụ tinh nhân tạo mà chủ yếu để cày, kéo, nuôi thịt

2.1.3.2 Một số đặc điếm sinh lý sinh sản của bò cái

Các đặc điểm sinh lý sinh sản của bò cái vàng Việt Nam không khác nhiều so với các loài bò khác

2.1.3.2.1 Đặc điểm cấu tạo và chức năng của cơ quan sinh dục bò cái Sinh sản là chức năng trọng yếu của sự sống, nó đóng vai trò quyết định trong việc duy trì, phát triển và bảo tồn giống nòi

Trong chăn nuôi gia súc, biết tác động và đầu tư đúng vào sinh sản thì đó

là con đường nhanh nhất, tốt nhất và kinh tế nhất để góp phần nâng cao năng suất vật nuôi

Giống như các loài gia súc khác, cơ quan sinh dục bò cái được chia thành

2 bộ phận: Bộ phận sinh dục bên ngoài và bộ phận sinh dục bên trong

Bộ phận sinh dục bên ngoài gồm: Âm môn, âm vật, tiền đình

Trang 14

Bộ phận sinh dục bên trong gồm: Âm đạo, tử cung, buồng trứng, ống dẫn trứng

Bộ phận sinh dục bên ngoài:

* Âm môn (Vulva) hay còn gọi là âm hộ: Nằm dưới hậu môn, bên ngoài có 2 môi (Labia vulvae) bờ trên hai môi có nhiều tuyến tiết chất nhờn trắng và mồ hôi

* Âm vật (Clitoris): Giống như dương vật thu nhỏ lại, bên trong có các thể hổng, trên âm vật có lớp da tạo ra mũ âm vật, giữa âm vật bẻ gập xuống dưới

* Tiền đình (Vestibule vaginae sinus inogenitalis): là giới hạn giữa âm môn và âm đạo Trong tiền đình có màng trinh, trước là âm đạo Màng trinh gồm các sợi cơ đàn hồỉ ở giữa và do 2 lớp niêm mạc giáp lại thành một nếp Tiền đình có một số tuyến xếp chéo hướng về âm đạo

Bộ phận sinh dục trong:

Trang 15

Âm đạo còn là cái ống để thai đi ra ngoài khi sinh đẻ và cũng là ống thải các chất dịch trong tử cung ra

* Tử cung(Uterus)

Tử cung bò thuộc nhóm tử cung hai sừng (Uterus bicornus), nó có hình sừng cừu gồm một thân tử cung ngắn, hai sừng tử cung dài và cùng một cổ tử cung Bò cái tơ toàn bộ tử cung nằm trong xoang chậu, khi đ5 đẻ nhiều lần thì

tử cung nằm trong xoang bụng, tử cung là nơi làm tổ của hợp tử, hợp tử (sau này là thai) phát triển được là nhờ chất dinh dưỡng từ cơ thể mẹ thông qua lớp niêm mạc tử cung, cung cấp Giai đoạn đầu hợp tử sống được một phần nhờ vào no5n hoàng, một phần dựa vào sữa mẹ thông qua cơ chế thẩm thấu Sau này giữa mẹ và thai hình thành hệ thống nhau thai Niêm mạc tử cung và dịch

tử cung giữ vai trò cực kỳ quan trọng trong sinh sản như vận chuyển tinh trùng

và trứng, tham gia điều hoà chức năng của thể vàng, đảm nhận sự làm tổ, mang thai và đẻ Tử cung của bò có 3 phần từ ngoài vào trong là: Cổ tử cung, thân tử cung và sừng tử cung

a) Cổ tử cung: Là phần ngoài cùng của tử cung, cổ tử cung bò hình tròn thông với âm đạo, dài khoảng 6-10 cm, đường kính từ 3-6 cm Cổ tử cung luôn luôn

đóng, chỉ mở khi nào hưng phấn cao độ hoặc khi sinh đẻ hoặc khi bị bệnh lý Niêm mạc cổ tử cung gấp nếp nhiều lần làm cho thành cổ tử cung không đồng

đều tạo thành những thuỳ gọi là thuỳ hoa nở, có từ 3-5 lần hoa nở Thuỳ ngoài cùng nhô vào âm đạo khoảng 0,5-1,0cm nhìn bên ngoài tựa như hoa cúc đại Có

sự khác biệt về cổ tử cung giữa bò già và bò trẻ, giữa bò đẻ ít và bò đẻ nhiều, giữa các giống bò, giữa bò đẻ bình thường và bò đẻ không bình thường

b) Thân tử cung: ở bò thân tử cung rất ngắn, chỉ khoảng từ 2-4 cm, thân

tử cung nối giữa cổ tử cung với sừng tử cung

c) Sừng tử cung: Bò cái có 2 sừng tử cung gồm sừng trái và sừng phải, độ dài của sừng khoảng 20-25cm, đường kính phần dưới sừng tử cung 3-4cm,

Trang 16

thân tử cung dính lại với nhau tạo thành một lõm hình lòng máng, phía trên của tử cung gọi là r5nh giữa tử cung dài 3-5cm, r5nh này dễ dàng nhận thấy khi khám qua trực tràng để chẩn đoán gia súc có thai và bệnh lý ở tử cung

*Buồng trứng (ovarium)

Buồng trứng của bò gồm một đôi, treo ở cạnh trước dây chằng rộng, gần mút sừng tử cung và nằm trong xoang chậu, hình dáng buồng trứng rất đa dạng, nhưng phần lớn có hình bầu dục hoặc ô van dẹt, không có lõm rụng, khi mới sinh buồng trứng có khối lượng khoảng 0,3gram, khi trưởng thành có khối lượng 10-20gram, kích thước dài 1-2cm, rộng 1-1,5cm (Nguyễn Tấn Anh, 1995)[3] Buồng trứng của gia súc có chức năng sinh ra trứng và tiết ra các hormone Cấu tạo của buồng trứng gồm lớp trong và lớp vỏ, được bao bọc bởi lớp biểu mô mầm Lớp trong có nhiều mạch máu, tổ chức liên kết trên buồng trứng có từ 70.000-100.000 no5n bào ở các giai đoạn phát triển khác nhau, tầng ngoài là những no5n bào sơ cấp phân bố tương đối đều, tầng trong

là những no5n bào thứ cấp đang sinh trưởng, khi no5n bào chín thì nổi lên trên

bề mặt buồng trứng No5n bào sơ cấp có trứng ở giữa, xung quanh là tế bào no5n bào, tế bào no5n bào lúc đầu hình dẹt, sau thành hình khối và hình trụ No5n bào thứ cấp do tế bào no5n bào tăng sinh thành nhiều và hình thành xoang no5n bào, ép trứng về một phía Khi no5n bào chín là quá trình sinh trưởng đ5 hoàn thành, no5n bao nổi lên trên bề mặt buồng trứng đến một giai

đoạn xác định, no5n bào vỡ ra, tế bào trứng theo dịch no5n bào đi vào loa kèn

và đi vào ống dẫn trứng Nơi no5n bào vỡ sẽ hình thành thể vàng Do sự nở to

và sự lutein hoá của các tế bào kết hạt được bắt đầu từ đó Mô lutein lớn lên chủ yếu do sự nở to của các tế bào lutein

Tế bào thể vàng tiết ra progesterone, khối lượng thể vàng và hàm lượng progesterone tăng nhanh từ ngày thứ 2 dến ngày thứ 8 và giữ tương đối ổn

Trang 17

định cho đến ngày thứ 15, sự thoái hoá thể vàng ở bò bắt đầu từ ngày thứ

17-18 và chuyển thành thể bạch nếu trứng không thụ tinh

* ống dẫn trứng

ống dẫn trứng còn gọi là vòi fallop, nằm ở màng treo buồng trứng Chức năng của ống dẫn trứng là vận chuyển trứng và tinh trùng theo chiều ngược nhau Cấu tạo của ống dẫn trứng thích hợp tốt với chức năng phức tạp đó Một

đầu của ống dẫn trứng thông với xoang bụng, gần sát buồng trứng và có hình loa kèn, loa kèn là màng mỏng tạo thành một cái tán rộng, vành tán có các tua

điểm lô nhô không đều, ôm lấy buồng trứng Đối với bò diện tích của loa kèn thường rộng 20-40mm2 và phủ toàn bộ buồng trứng (Hoàng Kim Giao, Nguyễn Thanh Dương (1997)[7] Trứng được chuyển qua lớp nhầy đi đến lòng ống dẫn trứng, nơi xảy ra sự thụ tinh và phân chia sớm của phôi Phôi được lưu lại trong ống dẫn trứng vài ngày trước khi về tử cung, dịch ống dẫn trứng cung cấp điều kiện thích hợp cho sự thụ tinh và phân chia của phôi, bao gồm chất dinh dưỡng và bảo vệ cho tinh trùng, no5n bào và hợp tử

Thời gian tế bào trứng di chuyển trong ống dẫn trứng từ 3-10 ngày Trên

đường di hành trong ống dẫn trứng tế bào trứng có thể bị đứng lại ở các đoạn khác nhau do những chỗ hẹp của ống dẫn trứng Có thể chia ống dẫn trứng thành 4 đoạn chức năng: Đoạn tua điểm-phễu-phồng ống dẫn trứng và đoạn co của ống dẫn trứng (Nguyễn Tấn Anh, 1992)[2]

2.1.4 Hoạt động sinh dục của bò cái

2.1.4.1 Sự thành thục về tính và tuổi phối giống lần đầu

Khi cơ quan sinh dục của gia súc cái phát triển đến mức độ hoàn thiện, buồng trứng có no5n bào chín, có trứng rụng và trứng có khả năng thụ thai, tử cung cũng biến đổi theo và đủ điều kiện cho thai phát triển trong tử cung Những dấu hiệu động dục xuất hiện đối với gia súc ở tuổi như vậy gọi là thành thục về tính Trong thực tế, thành thục về tính thường đến sớm hơn thành thục

Trang 18

về thể vóc Nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống, gia súc, ngoại cảnh và mức độ nuôi dưỡng Trong điều kiện nuôi dưỡng tốt thì sự sinh trưởng được thúc đẩy và thành thục về tính sẽ đến sớm hơn Bò sữa thành thục tính dục khi thể trọng đạt từ 30-40% thể trọng lúc trưởng thành, còn bò thịt với mức độ cao hơn 45-50% Theo Khuất Văn Dũng(2005)[6]: Bò sữa thành thục tính vào khoảng 12- 14 tháng tuổi, bò Zebu thành thục tính muộn hơn bò cái có nguồn gốc châu âu từ 6-12 tháng

Bò cái nếu nuôi dưỡng tốt thì thành thục lúc 12 tháng tuổi, còn tầm vóc để bảo đảm cho sự phối giống phải từ 18 tháng trở lên (Theo Khuất Văn Dũng (2005)[6] Đối với bò lang trắng, đen Hà Lan cho ăn đầy đủ, chăm sóc tốt thì thành thục lúc 10-12 tháng tuổi, chăm sóc kém có thể kéo dài tới 16-18 tháng tuổi

Trong điều kiện nước ta do ảnh hưởng của khí hậu và chế độ dinh dưỡng không thích hợp cho nên bò vàng Việt Nam tuổi đẻ lứa đầu từ 33-48 tháng tuổi ( Lê Xuân Cương, 1997)[4]

17 ngày hoặc dài hơn 24 ngày thường có tỷ lệ thụ thai thấp Quá trình trứng phát triển chín và rụng đều chịu sự điều hoà chặt chẽ của hormone Trên cơ sở

đó nhiều tác giả đ5 phân chia chu kỳ động dục thành 2 pha:

Trang 19

- Pha Folliculin: Gồm toàn bộ biểu hiện trước khi trứng rụng

- Pha Lutein: Là những biểu hiện sau khi trứng rụng và hình thành thể vàng

Chu kỳ động dục của bò nhiều tác giả đ5 đề cập đến các đợt sóng nang (Follicular wave)

Sóng nang là sự phát triển đồng loạt của một số bao no5n ở cùng một thời gian Các công trình nghiên cứu, theo dõi sự phát triển của buồng trứng Invivo bằng phương pháp nội soi và siêu âm được nhiều tác giả công bố Các tác giả cho thấy ở bò trong một chu kỳ thường có 2-3 đợt sóng nang phát triển (một

số ít có 4 đợt) Đợt một bắt đầu diễn ra sau khi rụng trứng, vào ngày thứ 3-9 của chu kỳ Đợt 2 vào ngày 11-17 và đợt 3 vào ngày 18-20 Mỗi dợt sóng nang có thể huy động tới 15 nang kích thước từ 5-7mm phát triển Sau này có một số nang phát triển mạnh hơn gọi là nang trội (nang khống chế), kích thước của nang khống chế ở đợt 1, 2, 3 có thể đạt tới 12-15mm và các kích thước nang tương ứng quan sát thấy vào các ngày 6, 13, 21

Đặc điểm quan trọng trong các đợt phát triển nang là sự phát triển có tính

tự điều khiển và cạnh tranh giữa các nang Một đợt có 1-2 nang trội, vài nang lớn phát triển và sự phát triển của các nang còn lại bị kìm h5m Tuy vậy khi thể vàng còn tồn tại, nang khống chế và nang lớn sẽ bị thoái hoá, chỉ có đợt cuối cùng khi thể vàng không còn thì nang khống chế mới phát triển tới chín

và rụng trứng xảy ra Do đặc điểm này các đợt phát triển nang gọi là sóng phát triển Trong mỗi đợt sóng như vậy sự tồn tại của các nang không phải nang khống chế, dao động 5-6 ngày (Bierschwal và cộng sự (USA)1980)[26] Riêng nang khống chế có thể phát triển nhanh sau ngày 18 của chu kỳ, tốc độ phát triển của nang khống chế ở thời điểm này có thể đạt 1,6mm/ngày (Trích Hoàng Kim Giao, Nguyễn Thanh Dương, 1997)[7]

Trang 20

Theo Khuất Văn Dũng(2005)[6]: bò chu kỳ động dục thường kéo dài 21 ngày, thời gian động dục thường kéo dài 25-36 giờ, chu kỳ động dục ở gia súc mang tính đặc trưng theo loài

Chu kỳ động dục của bò được chia làm 4 giai đoạn:

- Giai đoạn trước động dục (Preoestrus)

- Giai đoạn động dục (Oestrus)

- Giai đoạn sau động dục (Postoestrus)

- Giai đoạn cân bằng sinh học (An-Di-oestrus)

di truyền của loài

Người ta thường phân chia quá trình thụ tinh của động vật có vú ra 4 giai

đoạn nhỏ: Sự chuẩn bị của tế bào trứng, tinh trùng và tế bào trứng, sự hình thành tiền hạch đực và tiền hạch cái, sự kết hợp giữa hai tiền hạch

2.1.4.4 Quá trình mang thai

Sự phát triển của thai là hiện tượng sinh lý đặc biệt của cơ thể, nó được bắt đầu từ khi trứng được thụ tinh cho đến khi đẻ xong Trong thực tế sự có thai của bò được tính ngay từ ngày phối giống cuối cùng cho đến ngày đẻ Thời gian mang thai phụ thuộc nhiều vào các yếu tố như: tuổi của mẹ, điều kiện nuôi dưỡng, chế độ khai thác và sử dụng, số lượng thai, đôi khi còn phụ thuộc vào lứa đẻ và tính biệt của thai Thời gian mang thai của bò dao động trong khoảng 278-290 ngày

Tác giả Lê Xuân Cương (1997)[4] khi nghiên cứu nhóm bò sinh sản tại

Bà Rịa-Vũng Tàu cho biết thời gian mang thai của bò trung bình là 280 ngày

Trang 21

2.1.4.5 Tuổi đẻ lứa đầu

Tuổi đẻ lứa đầu của bò chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: Giống, điều kiện nuôi dưỡng, môi trường và cả sự điều khiển của người Theo Lê Xuân Cương, 1997, [4] khi nghiên cứu trên giống bò tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu cho biết:

bò ở đây tuổi thành thục, đẻ lúa đầu muộn hơn các địa phương (40-45 tháng)

2 1.4.6 Tỷ lệ đẻ toàn đàn

Tỷ lệ đẻ ở bò cao, trung bình, thấp phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó có 3 yếu tố quan trọng, quyết định đến tỷ lệ đẻ của bò: Vùng chăn nuôi, lứa tuổi

bò, mùa vụ bò sinh sản

2.1.4.7 Khoảng cách giữa hai lứa đẻ

Khoảng cách giữa hai lứa đẻ là thước đo khả năng sinh sản một cách rõ rệt nhất Bò một năm đẻ một lứa là khoảng cách lý tưởng Khoảng cách lứa đẻ dài ảnh hưởng đến toàn bộ thời gian cho sản phẩm, tới tổng sản lượng sữa và

số bê con được sinh ra trong một đời bò mẹ, dẫn đến hạn chế việc nâng cao tiến bộ di truyền Khoảng cách lứa đẻ phụ thuộc vào chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, đặc điểm sinh vật của giống, thời gian động dục lại sau khi đẻ, kỹ thuật phối giống, vắt sữa và cạn sữa gia súc càng mắn đẻ thì hệ số tái sản xuất (Kt) càng cao Lauhiuna (Liên Xô cũ) đ5 đưa ra công thức tái sản xuất của bò (Kt):

T

K t =

V - 3 Trong đó:

T: số bê do bò cái đẻ ra,

V: tuổi bò cái (năm)

Kt càng cao hiệu quả kinh tế càng lớn

Sadal đ5 ra chỉ tiêu năng suất bò cái bằng khoảng cách lứa đẻ Bò có khoảng cách lứa đẻ K=410 ngày là bò rất tốt, K= 411-460 ngày là bò tốt,

Trang 22

K=461 ngày trở lên là bò không tốt (Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong 1994,[9])

Việt Nam trong điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng chưa đầy đủ nên khoảng cách giữa hai lứa đẻ là 18-20 tháng (Nguyễn Văn Thưởng, 1995 [15])

2.1.4.8 Tỷ lệ đẻ qua các tháng trong năm

Hoạt động sinh sản của bò r5i rác quanh năm Thành phố Buôn Ma Thuột nằm ở tiểu vùng khí hậu trung tâm tỉnh Đăk Lăk có 2 mùa mưa và mùa khô (mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau).Theo tác giả Khuất Văn Dũng (2005)[6], bò hoạt đông sinh dục mạnh vào mùa mưa, mát, nhiệt độ thấp, những tháng nóng bò động dục kém

2.1.4.9 Tỷ lệ nuôi sống bê đến 6 tháng tuổi

Đây là chỉ tiêu quan trọng để tính hiệu quả trong chăn nuôi, tỷ lệ nuôi sống phụ thuộc nhiều yếu tố như: Chế độ chăm sóc nuôi dưỡng mẹ, con sơ sinh, thời tiết khí hậu, bệnh tật v v

2.2 Những bệnh thường gặp ở cơ quan sinh dục bò cái

Một gia súc cái được đánh giá có khả năng sinh sản tốt trước hết phải kể

đến sự nguyên vẹn và mọi hoạt động bình thường của cơ quan sinh dục (Settergren I 1986 [41]) Khi bất kỳ một bộ phận của cơ quan sinh dục cái bị bệnh sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của gia súc (Anberth Youssef, 1997)[23]

Chẩn đoán, phát hiện và điều trị kịp thời các bệnh ở cơ quan sinh dục cái

là việc làm cần thiết góp phần quyết định sự thành công của kỹ thuật thụ tinh nhân tạo(Anberth Youssef, 1997)[23], Hashem, S E (1980)[33]

Trên thế giới vấn đề bệnh sinh sản ở gia súc đ5 và đang được nghiên cứu một cách toàn diện Hàng năm các chương trình đào tạo của quốc tế về sinh sản của gia súc thường xuyên được tổ chức tại trường Đại học khoa nông nghiệp Uppsala (Thụy Điển), Trung tâm Khoa học quốc tế về Nông nghiệp Cairo (Ai Cập) Trong nội dung của các khoá đào tạo này thì vấn đề về

Trang 23

phương pháp chẩn đoán phát hiện và điều trị các bệnh về sinh sản luôn là một nội dung chính

ở Việt Nam một số nhà khoa học thú y như Đặng Đình Tín (1985)[18], Nguyễn Hữu Ninh, Bặch Đăng Phong (1994)[9] ; Huỳnh Văn Kháng (1995)[8], Bạch Đăng Phong (1995)[10], đ5 có những nghiên cứu và tổng kết

về một số bệnh cơ quan sinh dục cái ở đại gia súc Tuy nhiên cho đến nay những tư liệu về bệnh ở cơ quan sinh dục cái của bò vàng rất ít và chủ yếu là những tư liệu bệnh ở bò sữa

2.2.1 Viêm âm môn, tiền đình và âm đạo (vulvitis vestibulitsi set vaginitis puerperalis)

Athur G H (1964)[24], đ5 có những quan sát và ghi chép về bệnh viêm

âm môn, tiền đình và âm đạo ở bò Theo tác giả nguyên nhân chính của bệnh

là do những sai sót kỹ thuật đỡ đẻ Khi bò đẻ khó, phải can thiệp bằng tay hay dụng cụ, không đúng kỹ thuật, không vô trùng, gây tổn thương và nhiễm trùng niêm mạc âm môn, tiền đình, âm đạo Sử dụng các thuốc điều trị bệnh ở tử cung, âm đạo không đúng, kích thích quá mạnh, làm niêm mạc âm đạo, âm môn, tiền đình bị viêm

Bệnh có thể do bị sẩy thai, thai thối rữa trong tử cung, âm đạo lộn ra ngoài hoặc do sát nhau

Lúc đầu niêm mạc bộ phận bị viêm xung huyết nhẹ, có nhiều dịch thẩm xuất Kiểm tra âm đạo bằng mỏ vịt, con vật không có phản xạ đau, không có triệu chứng toàn thân Con vật rặn vặt, đi đái rắt, Nhiều dịch viêm lẫn tổ chức hoại tử màu trắng, chảy ra ngoài

Viêm âm môn, tiền đình, âm đạo m5n tính, niêm mạc trở nên khô cứng, màu sắc nhợt nhạt, trên bề mặt niêm mạc có chỗ trắng, đỏ không đều

Khi kiểm tra âm đạo, con vật đau đớn Những con viêm m5n tính thì ủ rũ,

uể oải, kém ăn, lượng sữa giảm Gia súc luôn rặn, khi rặn từ cơ quan sinh dục

Trang 24

thải ra hỗn hợp dịch rỉ viêm gồm mủ lẫn mảnh tổ chức hoại tử màu vàng nâu, mùi tanh, dính vào đuôi, mông

Viêm màng giả thì trên niêm mạc được phủ một màng mỏng tổ chức hoại

tử màu trắng, nâu hoặc vàng xám, phía dưới có những vết loét nằm rải rác hay tập trung lại thành từng đám lớn trên niêm mạc Con vật đau đớn rõ rệt, khi kiểm tra âm đạo, vật luôn cong đuôi rặn, dịch rỉ viêm, máu, mủ lẫn tổ chức hoại tử màu vàng nâu, mùi tanh, thối chảy ra Viêm màng giả rất dễ dẫn tới nhiễm trùng huyết Hậu quả thường là do tế bào của âm đạo tăng sinh, niêm mạc âm đạo sẹo hoá, nhăn nhúm, lòng âm đạo bị hẹp ảnh hưởng đến quá trình phối giống và sinh sản lần sau

2.2.2 Viêm cổ tử cung

Sau âm đạo là cổ tử cung ở gia súc sinh sản thường bị viêm Cổ tử cung

được cấu tạo bởi các lớp cơ rắn chắc, lớp niêm mạc có nhiều gấp nếp, nó là hàng rào bảo vệ tử cung Cổ tử cung luôn đóng, chỉ hé mở khi động dục và mở hoàn toàn khi sinh đẻ (Kenneth Mc Enter (1986) [34]

Bệnh viêm cổ tử cung ở gia súc thường là hậu quả của những sai sót về thụ tinh nhân tạo, do thao tác đỡ đẻ nhất là các trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hay các dụng cụ không phù hợp, làm niêm mạc cổ tử cung bị xây xát Viêm cổ tử cung còn do kế phát từ viêm âm đạo, viêm tử cung (Shafik Ebrrahim Taufik, 1986 [43])

Hậu quả của viêm cổ tử cung là cổ tử cung bị tắc, khi gia súc động dục niêm mạc không thoát ra ngoài được

Dùng mỏ vịt và đèn soi khám qua âm đạo: cổ tử cung mở đường kính khoảng 1-2cm, niêm mạc xung huyết hoặc phù rõ, cá biệt có vết loét, dính mủ (Nongthombam Babu Singh, 1986)[36]

Kiểm tra qua trực tràng: cổ tử cung sưng to và cứng, do tổ chức tăng sinh (Đặng Đình Tín, 1985)[18]

Trang 25

2.2.3 Viêm tử cung (Metritis)

Tử cung là bộ phận quan trọng của cơ quan sinh dục, nơi thai làm tổ và

được đảm bảo mọi điều kiện để phát triển Mọi quá trình bệnh lý ở tử cung

đều ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng sinh sản

Trong các bộ phận của cơ quan sinh dục cái các bệnh ở tử cung được nhiều tác giả tập trung nghiên cứu Roberts S J, (1980)[37] đ5 khảo sát các dạng thái bất thường của tử cung bò; Dawson F L M , (1983)[28] nghiên cứu

về hệ vi khuẩn trong tử cung bò

Black W G (1983)[27] với công trình nghiên cứu so sánh đàn bò tơ và

đàn bò sữa đ5 nhận xét: Bệnh ở tử cung làm suy giảm đáng kể khả năng sinh sản và cho sữa của bò

Black W G (1983)[27], nghiên cứu chứng viêm ở tử cung bò, đ5 xét nghiệm hormone và vi khuẩn trong các bệnh ở tử cung

Đi sâu nghiên cứu các bệnh tử cung, Arthur G H (1964)[24], đ5 có công trình về các thể viêm, A Ban (1986)[22], nghiên cứu về sự liên quan giữa các trang thái bệnh lý ở tử cung với hiện tượng vô sinh của bò Kopecky và cs (1977)[35], đ5 theo dõi các hiện tượng nhiểm trùng tử cung do bệnh lao bò gây ra

ở nước ta, Nguyễn Tấn Anh và cộng sự (1984)[1], Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong (1994)[9]; Bạch Đăng Phong (1995)[10], bằng cách tổng kết các thành tựu có kết hợp với các nghiên cứu của mình đ5 có tư liệu tương

đối toàn diện về các bệnh sản khoa ở gia súc Đặng Đình Tín (1985)[18], cũng

đ5 tập hợp các tư liệu về bệnh sản khoa trong cuốn sản khoa và bệnh sản khoa thú y Theo các tác giả viêm tử cung có thể chia theo ba thể:

Viêm nội mạc tử cung

Viêm cơ tử cung

Trang 26

2.2.3 1 Viêm nội mạc tử cung (Endometritis)

Theo Black W G (1983)[27], Debois C H W (1989)[30], viêm nội mạc tử cung là viêm lớp niêm mạc của tử cung Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm suy giảm khả năng sinh sản của gia súc cái

Viêm nội mạc tử cung phổ biến và chiếm tỷ lệ cao nhất trong các thể viêm ở tử cung Samad và cs (1987)[39], theo dõi 293 con trâu bị mắc các bệnh ở cơ quan sinh dục cho biết: Tỷ lệ trâu bị viêm nội mạc tử cung là cao nhất 35,9%, tiếp đến là các bệnh sản khoa khác 13,5%

ở bò bệnh viêm nội mạc tử cung thường xây ra sau khi sinh đẻ, nhất là các trường hợp đẻ khó phải can thiệp làm niêm mạc tử cung bị thương Sau đó

là vi khuẩn Streptococcus, Staphylococcus, E Coli, C pyogenes, roi trùng Trychomonas Foetus, Brrucella, salmonella tác động gây viêm nội mạc tử cung (Arthur G H , 1964 [24], Settergreen I , 1986)[42]

Khi bị bệnh, gia súc biểu hiện một số triệu chứng: thân nhiệt hơi cao, ăn uống giảm, lượng sữa giảm Vật bệnh đau đớn nhẹ, thỉnh thoảng cong lưng rặn, từ cơ quan sinh dục thải ra ngoài hỗn dịch bao gồm: dịch viêm, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức hoại tử Khi con vật nằm, dịch viêm thải ra nhiều hơn xung quanh âm môn, gốc đuôi, hai bên mông dính nhiều dịch bẩn, khô lại thành từng đám vảy màu trắng, xám Kiểm tra qua âm đạo, niêm dịch và dịch viêm thải ra nhiều,cổ tử cung hơi mở Kiểm tra qua trực tràng có thể phát hiện tử cung sưng to, hai sừng tử cung không cân xứng nhau, thành tử cung dày và mềm hơn bình thường Khi kích thích nhẹ sừng tử cung co lại yếu Trường hợp trong tử cung tích lại nhiều dịch viêm, mủ thì phát hiện trạng thái chuyển động sóng

2.2.3.2 Viêm cơ tử cung (Myometritis puerperalis)

Theo Settergreen I (1986)[42], viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung: niêm mạc bị thấm dịch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập, viêm

Trang 27

phát triển sâu làm các tế bào tổ chức bị phân giải, hệ thống mạch quản và lâm

ba quản bị tổn thương Các lớp cơ và một ít lớp tương mạc bị hoại tử

Viêm cơ tử cung dễ gây huyết nhiễm trùng hoặc nhiễm mủ, do lớp cơ, lớp tương mạc bị hoại tử, tử cung bị hoại tử, thậm chí thủng từng đám Vật bệnh sốt cao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống kém, giảm hay ngừng nhai lại sản lượng sữa giảm hay mất hẳn bệnh kế phát chướng bụng, đầy hơi, viêm vú, có khi viêm phúc mạc Gia súc bệnh luôn đau đớn, rặn liên tục Từ cơ quan sinh dục thải ra hỗn dịch mùi tanh, thối, màu đỏ nâu, lợn cợn mủ và những mảnh tổ chức thối rữa Kiểm tra qua âm đạo: cổ tử cung mở, hỗn dịch chảy ra nhiều, con vật đau đớn Khám qua trực tràng: tử cung to hơn, hai sừng tử cung to nhỏ không đều, thành tử cung dày và cứng Kích thích nhẹ vật rất đau và rặn nặng, nhiều hỗn dịch bẩn từ tử cung thải ra

2.2.3.3 Viêm tương mạc tử cung (Perimetritis Puerperalis)

Theo Đặng Đình Tín (1985)[18], Samd và cs (1987)[39], viêm tương mạc

tử cung thường kế phát từ viêm cơ tử cung Thể viêm này thường tiến triển cấp tính với các triệu chứng cục bộ và toàn thân rất điển hình Lúc đầu, lớp tương mạc tử cung có màu hồng, sau chuyển thành màu đỏ sẫm và trở nên sần sùi, mất tính trơn bóng Các tế bào bị hoại tử, bong ra, dịch thẩm xuất tăng tiết Trường hợp viêm nặng, lớp tương mạc dính với các tổ chức xung quanh, dẫn

đến viêm mô tử cung (parametritis), viêm phúc mạc Thân nhiệt tăng cao, mạch nhanh Vật ủ rũ, uể oải, đại, tiểu tiện khó khăn vật ăn uống kém hoặc

bỏ ăn, giảm hay ngừng nhai lại, lượng sữa còn rất ít hay mất hẳn, thường kế phát viêm vú Vật luôn bị đau đớn, khó chịu, lưng, đuôi cong, rặn liên tục Từ

âm hộ thải ra ngoài rất nhiều hỗn dịch lẫn mủ với tổ chức hoại tử, màu nâu, mùi thối, khắm Kiểm tra qua trực tràng thấy thành tử cung dày, cứng, hai sừng tử cung mất cân đối, khi kích thích vật biểu hiện đau đớn rõ rệt, rặn mạnh hơn Trường hợp một số vùng của tương mạc dính với các bộ phận xung

Trang 28

khi không tìm thấy một hoặc cả hai buồng trứng Viêm tương mạc thương dẫn

đến kế phát viêm phúc mạc, bại huyết, huyết nhiễm mủ

2.2 4 Các bệnh ở buồng trứng:

Buồng trứng là một tuyến ngoại tiết với chức năng sản sinh ra một số lượng lớn các no5n bào; buồng trứng của bò có tới 70.000 no5n bào nguyên thuỷ và chỉ khoảng 0,01% số trên được sử dụng (Bierschwal và cs (1980)[26] Buồng trứng còn chức năng như một tuyến nội tiết, tiết ra hàng loạt các hormone điều khiển hoạt động sinh sản của cơ thể Là một bộ phận quan trọng nhất của bộ máy sinh sản, buồng trứng hoạt động dưới sự điều khiển của hệ thống thần kinh và thể dịch Bất kỳ một sự thay đổi gì trong buồng trứng

đều làm hoạt động sinh sản của gia súc rối loạn (Arthur G H, 1964)[24] Nhiều tác giả như Settergreen I (1986)[41], Bạch Đăng Phong (1995)[10], Anberth Youssef (1997)[23], đ5 nghiên cứu các quá trình bệnh lý

ở buồng trứng Theo các tác giả các bệnh ở buồng trứng thường gặp

2.2.4.1 Viêm buồng trứng (Ovaritis)

Theo Anberth Youssef (1997)[23], viêm buồng trứng ở đại gia súc do viêm tử cung, viêm ống dẫn trứng, viêm phúc mạc lan sang Nếu viêm cả hai buồng trứng ở thể cấp tính thì gia súc mất hẳn chu kỳ sinh dục Buồng trứng sưng to lên thành hình tròn, mềm và mặt ngoài nhẵn bóng, không có no5n bào

và thể vàng, ở bò và ngựa, buồng trứng bị viêm có thể phát triển lên gấp 3-4 lần bình thường

Nếu viêm buồng trứng m5n tính, buồng trứng sưng to rõ rệt, rắn và mặt ngoài có nhiều chỗ lồi lõm khác nhau Có thể biết được khi kiểm tra qua trực tràng Nếu buồng trứng bị viêm kéo dài, tế bào tổ chức bị thoái hoá, các tổ chức liên kết tăng sinh, cả hai buồng trứng bị xơ cứng, vật sẽ mất khả năng sinh sản

Trang 29

2.2.4.2 Thiều năng và teo buồng trứng (Hypophunctio et atrophia Ovariorium)

Thiểu năng buồng trứng là bệnh thường gặp nhiều ở đại gia súc

Barr và Hashim (1968)[25] đ5 thông báo, 80% trâu Ai Cập không sinh sản là do thiểu năng buồng trứng

Soliman và cs (1963)[45] Schmidt và cs (1963)[40], Soliman và cs (1981)[46], nghiên cứu về nguyên nhân chậm sinh sản, vô sinh ờ trâu, bò Ai Cập cũng thông báo 32-40% trâu, bò Ai Cập không có kh5 năng sinh sản vì buồng trứng không hoạt động

Arthur G H (1964)[24], Settergreen I (1986)[42], Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (1994)[9], đều khẳng định rằng bệnh thiểu năng, teo buồng trứng xẩy ra phổ biến và là nguyên nhân gây ra tình trạng rối loạn sinh sản nhất là ở đại gia súc

Về nguyên nhân các tác giả đều thống nhất cho rằng: thiểu năng và teo buồng trứng do kế phát viêm tử cung, viêm ống dẫn trứng, nuôi dưỡng, chăm sóc kém, khai thác và làm việc quá sức có thể dẫn tới

Một số tác giả đ5 đề cập tới vai trò của tuyến giáp, đ5 phát hiện ở những

bò cái buồng trứng không hoạt động, tuyến giáp xơ cứng, do mô liên kết tăng sinh, thay thế các mô tuyến Chính vì vậy hàm lượng các hormone tuyến giáp, Iode không liên kết, Triiodthyronin (T3) trong huyết thanh của những bò này rất thấp so với mức sinh lý Từ những xét nghiệm trên, người ta nghĩ đến sự thiếu hụt các nguyên tố vi lượng như sắt (Salem và cs (1979)[38], Iode (Schmidt và cs 1963)[40] trong thiểu năng và teo buồng trứng ở gia súc

Vai trò của Thyromin Stimulin Hormone (TSH) trong bệnh thiểu năng và teo buồng trứng cũng được nhiều tác giả đề cập tới Settergreen I (1986)[42] cho biết, mức TSH trong máu bò của buồng trứng không hoạt dộng là rất thấp Triệu chứng đặc trưng của bệnh thiểu năng và teo buồng trứng là chu kỳ

Trang 30

động dục nhưng không phồng noán Kiểm tra qua trực tràng vị trí, hình dáng

và tính đàn hồi của buồng trứng không thay đổi, nhưng không có no5n bào phát triển và thể vàng Cũng có trường hợp trên một buồng trứng có vết tích của thể vàng Nếu buồng trứng bị teo thì thể tích nhỏ lại

2.2.4.3 Xơ cứng buồng trứng (Selerosis Ovariorium)

ở gia súc cái sinh sản thường xẩy ra tình trạng tế bào buồng trứng thoái hoá, tổ chức liên kết tăng sinh, buồng trứng teo, biến dạng và cứng gọi là xơ cứng buồng trứng (Settergreen I, 1986)[41]

Xơ cứng buồng trứng chủ yếu do kế phát từ hiện tượng viêm buồng trứng, do hậu quả của quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý, khai thác và

sử dụng gia súc cái không hợp lý Bệnh có thể xuất hiện trạng thái chai cứng toàn bộ hay một phần của buồng trứng Đặc điểm chủ yếu của bệnh là buồng trứng bị teo nhỏ lại, mặt ngoài buồng trứng lồi lõm không đều Kiểm tra qua trực tràng, khi kích thích xoa bóp nhẹ nhàng buồng trứng ta có cảm giác cứng rắn, gia súc không có biểu hiện đau đớn

Theo Settergreen I, (1986)[41], nếu cả hai buồng trứng xơ cứng, tử cung

sẽ bị teo nhỏ lại, gia súc cái mất hoàn toàn kh5 năng sinh sản Đây là một bệnh thường gặp ở gia súc sinh sản, mà hậu quả thường con vật bị thải loại, thiệt hại về kinh tế không nhỏ

2.2.4.4 Thể vàng tồn tại (corpus luteum persistens)

Trong điều kiện sinh lý bình thường, khi gia súc cái xuất hiện chu kỳ sinh dục, lúc đó no5n bào chín, nổi rõ trên bề mặt buồng trứng Dưới tác dụng của thần kinh, hormone, áp suất, no5n bào vỡ, giải phóng tế bào trứng, đồng thời thải xuất ra dịch folliculin Sau khi no5n bào vỡ, dịch nang chảy ra, nang Graf xẹp xuống, đường kính ngắn lại, tạo ra những nếp nhăn trên vách xoang

ăn sâu vào trong và chứa nhiều tế bào hạt làm thu hẹp xoang tế bào trứng Trong tế bào hạt có chứa Lipoit và sắc tố màu vàng, chúng tăng nhanh về kích

Trang 31

thước và lấp đầy xoang tế bào trứng, lúc này thay thế cho tế bào trứng là thể vàng (Corpus Luteum), chính là nơi tiết ra hormone Progesteron

Từ ngày thứ nhất đến ngày thứ tư gọi là thể huyết (từ ngày thứ tư trở đi,

có thể sờ thấy) Từ ngày thứ tư đến ngày thứ 12, hoàn toàn màu vàng và tiết Progesteron Nếu không có thai thể vàng nhanh chóng đạt đến độ lớn tối đa và bắt đầu tiêu biến đi, trái lại nếu gia súc có thai, thể vàng tồn tại suốt thời gian

có thai đến ngày gia súc gần đẻ Trường hợp gia súc sau khi đẻ xong hoặc sau hiện tượng động dục, chưa phối giống hay phối giống không có thai mà thể vàng vẫn tồn tại trên buồng trứng hàng tháng, có thể hàng năm được gọi là bệnh thể vàng tồn tại (Corpus Luteum Persistens) Đây là một trong những nguyên nhân làm gia súc không động hớn, vô sinh, bệnh thường gặp ở gia súc cái sinh sản nhất là đại gia súc (Athur 1964 [24], Anberth Youssel, 1997 [23])

Về mặt cấu tạo, chức năng, tác dụng của thể vàng trong bệnh này giống thể vàng của buồng trứng trong thời gian gia súc mang thai Nguyên nhân gây bệnh thể vàng tồn tại thường do nuôi dưỡng kém, nhất là khẩu phần thức ăn thiếu protein, vitamin, khoáng

Theo Soliman et al (1963)[45], Schmidt et al (1963)[40], Salem, Soliman (1979)[38], Soliman et al (1981)[46], thiếu hụt hàm lượng khoáng,

đặc biệt là I2, Fe làm rối loạn cơ năng sau đó là thể vàng tồn tại trên buồng trứng Ngoài ra bệnh còn là hậu quả kế phát của viêm tử cung tích mủ, thai can xi hoá, sát nhau (Nguyễn Hữu Ninh, Bặch Đăng Phong 1994[9]) gia súc

bị bệnh thể vàng tồn tại hoàn toàn không động dục, có thể qua trực tràng, phát hiện thấy có thể vàng to, nhỏ, nhô lên trên bề mặt buồng trứng

2.2.4.5 U nang buồng trứng (Cystes ovariorum)

Trong qua trình hình thành, phát triển của no5n bào, các tế bào thượng bì của no5n bào dần dần bị thoái hoá và biến đổi, các tổ chức liên kết của no5n

Trang 32

bàotrứng bị chết, dịch no5n bào chứa đầy trong bào no5n được gọi là u nang buồng trứng (Đặng Đình Tín, 1985 [18], Anberth Youssel, 1997 [23])

U nang buồng trứng bao gồm: những u tuyến nang (cysta denomes) là những u lành thường gặo ở gia súc sinh sản Đây là những u có dạng tròn, nhẵn một thuỳ hoặc nhiều thuỳ, bên trong chứa thanh dịch hoặc dạng nhày và

kỳ rụng trứng, sau khi đẻ 35-45 ngày, đặc biệt ở những bò già cao sản thường

bị bệnh này về mùa thu hoặc mùa đông Godon I (1988)[32] thông báo những đàn bò có nhiều con đẻ song thai thường sinh u nang buồng trứng Deas

và cs (1979)[29], nghiên cứu trên giống bò đỏ và bò Friesan ở Thuỵ Điển đ5

đưa ra nhận xét bệnh u nang buồng trứng thường xảy ra vào tháng thứ 2 và 3 sau khi đẻ Tỷ lệ mắc bệnh ở các lứa tuổi khác nhau 16-20% ở bò cái 4-5 tuổi, 50% ở bò cái 10-11 tuổi Đỉnh cao của tỷ lệ mắc bệnh ở tháng 12 và tháng 1, thấp nhất từ tháng 6 đến tháng 9 trong năm

Về nguyên nhân gây bệnh u nang buồng trứng, các tác giả đều thống nhất cho rằng bệnh u nang buồng trứng thường xuất hiện do quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc kém, khẩu phần ăn đơn điệu hay kém phẩm chất, chế độ khai thác không hợp lý hoặc gia súc phải làm việc, cày, kéo quá sức, gia súc quá gầy yếu

Một số ý kiến cho rằng, bệnh u nang buồng trứng là kết quả của sự rối loạn cơ năng thần kinh và hormone trong cơ thể, đặc biệt do những sai lệch về chế tiết Gonadotropin khi chức năng sinh lý của tuyến yên rối loạn, dẫn đến

Trang 33

tình trạng rối loạn hoạt động chu kỳ sinh dục (Deas D W et al , 1979 [29], Gordon I , 1988 [32]) Sự rối loạn trạng thái động dục, rụng trứng, coi như triệu chứng đặc biệt của hiện tượng rối loạn cơ năng hoạt động của buồng trứng No5n bào phát triển chưa thành thục hoàn toàn, không phóng no5n, không teo lại, tồn tại lâu ngày dưới dạng u nang Ngoài ra bệnh có thể kế phát

từ sát nhau, sẩy thai, viêm ống dẫn trứng, viêm nội mạc tử cung, viêm buồng trứng, do gia súc động dục nhiều lần mà không được phối giống hay trong quá trình hình thành, phát triển của no5n bào, gia súc gặp phải điều kiện khí hậu, nhiệt độ của môi trường thay đổi quá đột ngột

Biểu hiện điển hình của cơ thể gia súc khi mắc bệnh u nang buồng trứng

là hoạt động hưng phấn sinh dục rất mạnh, không theo một quy luật nhất định Con vật biểu hiện trạng thái động dục mạnh và liên tục Nhiều tác giả gọi là chứng cuồng dục (Bierschwal và cs (1980)[26] Con vật kêu rống, hoạt động rối loạn, nhảy lên lưng con khác Vật ở trong trạng thái không yên tĩnh, mép

âm môn sệ xuống và bóng láng Niêm mạc âm đạo ẩm và xung huyết Cổ tử cung phù nề, gi5n ra Niêm mạc tử cung chảy ra thường đọng lại trước âm đạo Lõm khum đuôi võng xuống, đuôi cong lên, thích gần đực, khi gặp đực giống vật bệnh luôn đứng, hai chân sau dạng ra, lưng võng xuống, đuôi cong sang một bên ở tư thế sẵn sàng chịu đực Con vật bệnh có thể cho phối giống bất kỳ lúc nào trong thời gian có biểu hiện động dục Cũng có trường hợp do các tế bào thượng bì của no5n bào bị thoái hoá nên foliculin tiết ra quá ít hay hoàn toàn không sản sinh làm cho gia súc mất hẳn động dục trong một thời gian (Deas và cs 1979)[29]

Khám qua trực tràng, có thể phát hiện trên một hoặc cả hai buồng trứng

có một hay nhiều u nang, kích cỡ to nhỏ từ 2-8 mm; có thể có từ 1-5 cái Những u nang này nổi rõ trên bề mặt buồng trứng Thành của u nang mỏng, khi xoa nhẹ có cảm giác mềm, bên trong tích đầy dịch Những trờng hợp trên

Trang 34

2.3 ứng dụng prostaglandin (PGF2α) trong sinh sản gia súc

Trong kỹ thuật điều khiển quá trình sinh sản ở gia súc, việc sử dụng kích dục tố đóng vai trò quyết định sự thành công của công nghệ sinh sản Một trong những kích dục tố thông dụng đang được ưa chuộng và sử dụng nhiều trên thế giới là Prostaglandin F2α (PGF2α) Nhờ tác dụng kích thich trực tiếp

đối với cơ quan sinh dục cũng như hệ thống điều khiển quá trình sinh sản của cơ thể gia súc mà PGF2α đựoc sử dụng như một công cụ kỹ thuật đặc biệt của công nghệ sinh sản trong chăn nuôi gia súc nhất là với gia súc lớn

Trên thế giới PGF2α đ5 được nghiên cứu và sử dụng rộng r5i trong nhiều lĩnh vực của công nghệ sinh sản và đ5 thu được nhiều kết quả đáng khích lệ Việt Nam trong những năm gần đây nhiều nhà khoa học như Nguyễn Tấn Anh

và cộng sự (1984)[1], Trịnh Quang Phong và Đào Đức Thà (1993)[11], Đỗ Kim Tuyên (1995)[19], Nguyễn Thị Ước (1996)[21], Hoàng Kim Giao, Nguyễn Thanh Dương (1997)[7], Đ5 nghiên cứu ứng dụng PGF2α trong chăn nuôi thú y Tuy nhiên những tư liệu trong việc sử dụng PGF2α điều trị bệnh sinh sản của gia súc trong đó có con bò còn rất ít Do vậy việc tiến hành thử nghiệm sử dụng PGF2α điều trị các bệnh sinh sản cho bò là cần thiết Tác dụng chính của PGF2α làm thoái hoá thể vàng, giảm hàm lượng Progesterone trong máu, kích thích bài tiết Gonadotropin, kích thích phát triển nang trứng gây động dục và rụng trứng PGF2α không có hiệu lực khi dùng cho gia súc không có thể vàng do đó nó ít được dùng cho gia súc nuôi vì phần lớn những gia súc này không có khả năng động dục trước ngày thứ 50 sau khi

đẻ

Theo Nguyễn Phước Tương (1994)[20], Hoàng Kim Giao, Nguyễn Thanh Dương (1997)[7], trong chăn nuôi đại gia súc, đặc biệt trong chăn nuôi bò sữa PGF2α được dùng trong các trường hợp sau:

Các dạng không sinh sản với thể vàng tồn lưu

Trang 35

Rụng trứng yếu sau các lần động dục ẩn, PGF2α giúp quay lai nhanh chóng chu lỳ động dục mới, sự rung trứng xảy ra sau đó 2-4 ngày

Chết phôi, thai chết lưu

Bọc mủ tử cung, viêm nội mạc tử cung, thai biến thành xác khô

Kiểm soát chủ động chu lỳ động dục của bò cái, kết hợp với các hormone khác gây siêu bài no5n, gây động dục đồng pha trong công nghệ cấy truyền phôi

Gây sảy thai, đẻ theo ý muốn

Từ năm 1966, PGF2α và các chất có tác dụng tương tự đ5 được điều chế sản xuất và sử dụng rộng r5i ở các nước Anh, Mỹ, Hà Lan ( Nguyễn Văn Thanh1999[13] )

2.3.1 Sử dụng PGF2α trong điều trị viêm nội mạc tử cung

Theo Hoàng Kim Giao và Nguyễn Thanh Dương (1997)[7], những bò bị viêm tử cung có thể tiêm PGF2α để điều trị Nhờ tác động của PGF2α, tử cung nhu động, co bóp, tống chất bẩn trong tử cung ra ngoài, đồng thời giúp cho sự hoạt động của bộ máy sinh dục trở lại bình thường Tỷ lệ khỏi viêm đạt 70-90%, cũng có thể tiêm GnRH 48 giờ sau khi tiêm PGF2α Sự kết hợp này đ5 giúp 100% bò viêm khỏi bệnh Theo các tác giả như trên chúng tôi d5 sử dụng PGF2α kết hợp với một số thuốc khác để điều trị bệnh viêm nội mạc tử cung

Trang 36

Phần thứ III: đối tượng, nội dung và phương pháp

nghiên cứu 3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đàn bò cái vàng Việt Nam trong độ tuổi sinh sản, đang được nuôi ở các

hộ gia đình 3 x5, 1 phường Hoà Thắng,Hoà Phú, Eakao, Thành Nhất và 1

trung tâm giết mổ trâu, bò ở phường Khánh Xuân

Thời gian nghiên cứu từ tháng 11/2006 đến tháng 10/2007

3.2 Nội dung nghiên cứu

3.2.1 Xác định một số chỉ tiêu sinh sản ở bò cái vàng

3.2.2 Một số bệnh thường gặp ở cơ quan sinh dục bò cái vàng

Bệnh ở âm đạo và tiền đình: bệnh viêm âm môn, âm đạo và tiền đình

Những bệnh ở tử cung: bệnh viêm nội mạc tử cung, bệnh viêm cơ tử

cung và bệnh viêm tương mạc tử cung

Những bệnh ở buồng trứng bao gồm: bệnh viêm buồng trứng, bệnh

thiểu năng và teo buồng trứng, bệnh thể vàng tồn tại và bệnh u nang buồng

trứng

Những bệnh kể trên đều được theo dõi nghiên cứu về nguyên nhân, triệu

chứng, tính chất bệnh lý, phương pháp chẩn đoán và thử nghiệm điều trị bệnh

viêm nội mạc tử cung

Trang 37

3.2.3 Thử nghiệm ứng dụng Prostaglandin trong điều trị viêm nội mạc tử cung ở bò vàng

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3 3 1 Xác định các chỉ tiêu sinh sản ở bò cái vàng

Đánh giá các chỉ tiêu sinh sản bằng phương pháp theo dõi, ghi chép trực tiếp, qua sổ sách giống đ5 lưu và điều tra trực tiếp các hộ chăn nuôi ở gia đình

- Tuổi thành thục về tính

Trực tiếp theo dõi, ghi chép, điều tra tìm hiểu sổ sách của dẫn tinh viên, các hộ gia đình chăn nuôi bò

- Tuổi đẻ lứa đầu

Trực tiếp theo dõi ghi chép, qua sổ phối giống, sổ theo dõi sinh đẻ của các hộ chăn nuôi gia đình trên 198 bò cái vàng Tuổi đẻ lứa đầu được tính từ khi con gia súc sinh ra cho đến khi đẻ lứa đầu tiên (thời gian tính bằng tháng)

- Tỷ lệ đẻ toàn đàn

Trực tiếp theo dõi ghi chép, qua sổ phối giống, sổ theo dõi sinh đẻ của

kỹ thuật dẫn tinh viên, thú y cơ sở và phiếu sinh sản của các hộ chăn nuôi trên

275 bò cái vàng Tuổi đẻ toàn đàn là chỉ tiêu so sánh giữa tổng số bò đẻ trong năm với tổng số bò toàn đàn trong độ tuổi sinh sản

Trang 38

- Khoảng cách giữa hai lứa đẻ

Trực tiếp theo dõi ghi chép, qua sổ sinh đẻ của kỹ thuật viên dẫn tinh và các hộ chăn nuôi của 397 bò cái vàng đ5 qua 3 đến 5 lứa đẻ

Khoảng cách giữa hai lứa đẻ là khoảng cách giữa lứa đẻ này đến lứa

đẻtiếp theo (thời gian tính bằng tháng)

- Tỷ lệ đẻ qua các tháng trong năm

Trực tiếp theo dõi, ghi chép qua sổ phối giống, phiếu sinh đẻ của kỹ thuật viên chăn nuôi,thú y, hộ nuôi của 337 bò cái để xác định bò sinh sản theo các tháng trong năm

- Tỷ lệ nuôi sống bê đến 6 tháng tuổi

Trực tiếp theo dõi ghi chép, qua sổ sinh đẻ của kỹ thuật viên dẫn tinh và các hộ chăn nuôi của 309 bò cái vàng đ5 qua 3 đến 5 lứa đẻ Là số con đẻ ra sống và nuôi đến 6 tháng tuổi

3.3.2 Chẩn đoán các bệnh cơ quan sinh dục ở bò cái vàng

3.3.2.1 Khám lâm sàng:

Bệnh ở âm đạo, tiền đình, bệnh ở tử cung và bệnh ở buồng trứng được dựa trên kết quả chẩn đoán qua khám lâm sàng trực tiếp, theo dõi, ghi chép bằng các phương pháp chuyên dụng, thường quy với số mẫu nghiên cứu 3.3.2.2 Mổ khám cơ quan sinh dục cái

Để đánh giá mức độ chính xác của phương pháp khám lâm sàng trên thực tiễn sản xuất tôi đ5 tiến hành kiểm tra lại bằng phương pháp mổ khám cơ quan sinh dục cái Phương pháp này được tiến hành tại trung tâm giết mổ bò ở phường Khánh Xuân, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk

Những bò cái trước khi giết mổ được theo dõi các chỉ tiêu sinh lý lâm sàng, khám cơ quan sinh dục thông qua trực tràng Sau khi giết mổ cắt toàn bộ

đuường sinh dục cái tiến hành mổ khám từng bộ phận Phương pháp này giúp

Trang 39

tôi xác định được một cách chính xác tỷ lệ và mức độ bị bệnh của từng bộ phận ở cơ quan sinh dục cái của bò

3.3.3 Phương pháp sử dụng Prostaglandin F2α (FGF2α) kết hợp với một

số thuốc khác để điều trị bệnh viêm nội mạc tử cung

Bò cái mắc bệnh được chia làm 3 lô thí nghiệm và được diều trị theo 3 phác đồ khác nhau(trình bày tại phần kết quả và thảo luận) các chỉ tiêu theo dõi để đánh giá so sánh hiệu quả điều trị bao gồm: tỷ lệ lệ khỏi bệnh, thời gian

điều trị, tỷ lệ động dục lại, tỷ lệ có thai trở lại sau 3 tháng

3.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu đề tài

Thành phố Buôn Ma Thuột có 13 phường và 8 x5 Tổng đàn bò là 9.200 con, trong đó có đến 70%là giống bò vàng Việt Nam

Địa điểm nghiên cứu tại: x5 Hoà Thắng (nằm về phía Đông, các hộ chăn nuôi bò vàng là dân tộc Mường), x5 Hòa Phú (nằm về phía Tây, các hộ chăn nuôi bò vàng là dân tộc Thái) , x5 Eakao (nằm về phía nam, các hộ chăn nuôi

bò vàng là dân tộc Êđê) 3 x5 này đều ở vùng ven thành phố, phường Thành Nhất nằm trong trung tâm thành phố, về phía Bắc, các hộ chăn nuôi là dân tộc Kinh) và 1 trung tâm giết mổ trâu, bò tập trung tại phường Khánh Xuân-thành phố Buôn Ma Thuột Tất cả các địa điểm trên có đường kính cách nhau từ 23

đến 26 km, cùng chung một tiểu vùng khí hậu

Ngày đăng: 03/11/2015, 12:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Tấn Anh, Đào Đức Thà, Đào Hoàng Giang, Nguyễn Văn Vinh, Trịnh Văn Thân (1984), “Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật nâng cao khả năng sinh sản cho bò cái”. Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật 1979 - 1984, Viện Chăn nuôi Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật nâng cao khả năng sinh sản cho bò cái
Tác giả: Nguyễn Tấn Anh, Đào Đức Thà, Đào Hoàng Giang, Nguyễn Văn Vinh, Trịnh Văn Thân
Nhà XB: Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật 1979 - 1984
Năm: 1984
2. Nguyễn Tấn Anh, Nguyễn Văn Vinh, Đào Đức Thà, Trịnh Quang Phong (1992), “Kết quả nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao khả năng sinh sản của đàn bò cái”, kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật viện chăn nuôi (1985- 1990), tr 84-87. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao khả năng sinh sản của đàn bò cái
Tác giả: Nguyễn Tấn Anh, Nguyễn Văn Vinh, Đào Đức Thà, Trịnh Quang Phong
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1992
3. Nguyễn Tấn Anh, Nguyễn Thiện, Lưu Kỷ, Trịnh Quang Phong, Đào Đức Thà (1969-1995), “Biện pháp nâng cao khả năng sinh sản cho bò cái”, Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học chăn nuôi, Viện chăn nuôi, (1969-1995), tr325-329. NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp nâng cao khả năng sinh sản cho bò cái
Tác giả: Nguyễn Tấn Anh, Nguyễn Thiện, Lưu Kỷ, Trịnh Quang Phong, Đào Đức Thà
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1969-1995
4. Lê Xuân C−ơng (1997). Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh tr−ởng và sinh sản của một số nhóm bò tại tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu (1977) Tr.4 NXB Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh tr−ởng và sinh sản của một số nhóm bò tại tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
Tác giả: Lê Xuân C−ơng
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp Hà Nội
Năm: 1997
5. Trần Tiến Dũng, D−ơng Đình Long, Nguyễn Văn Thanh (2002), Giáo trình sinh sản gia súc, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sinh sản gia súc
Tác giả: Trần Tiến Dũng, D−ơng Đình Long, Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2002
7. Hoàng Kim Giao, Nguyễn Thanh D−ơng (1997), Công nghệ sinh sản trong chăn nuôi bò, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ sinh sản trong chăn nuôi bò
Tác giả: Hoàng Kim Giao, Nguyễn Thanh D−ơng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1997
đàn bò sữa nuôi trong hộ gia đình thuộc các huyện ngoại thành Hà Nội và ph−ơng pháp điều trị”. Kỷ yếu kết quả NCKH CNTY, ĐHNNI - HN (1995) Sách, tạp chí
Tiêu đề: đàn bò sữa nuôi trong hộ gia đình thuộc các huyện ngoại thành Hà Nội và ph−ơng pháp điều trị
Nhà XB: Kỷ yếu kết quả NCKH CNTY
Năm: 1995
9. Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong (1994), Giáo trình bệnh sinh sản gia súc, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bệnh sinh sản gia súc
Tác giả: Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1994
10. Bạch Đăng Phong (1995), “Hiện t−ợng vô sinh ở bò sữa”. Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, Hội thú y Việt Nam, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện t−ợng vô sinh ở bò sữa
Tác giả: Bạch Đăng Phong
Năm: 1995
11. Trịnh Quang Phong, Đào Đức Thà (1993), “Một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao sinh sản của bò”, Hội thảo thức ăn bổ sung – sinh sản và thụ tinh nhân tạo, Bộ Nông nghiệp và CNTP – Viện Chăn nuôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao sinh sản của bò
Tác giả: Trịnh Quang Phong, Đào Đức Thà
Nhà XB: Bộ Nông nghiệp và CNTP
Năm: 1993
12. Lê Văn Tạo, Khương Bích Thuỷ, Nguyễn Thị Vui, Đào Thị Băng Tâm (1993), “Xác ủịnh yếu tố di truyền bằng Plasmid của vi khuẩn E. coliđể chọn giống sản xuất vacxin phòng bệnh lợn con phân trắng”, kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật thú y, 1990 – 1991, Viện thú y, NXB, Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác ủịnh yếu tố di truyền bằng Plasmid của vi khuẩn E. coliđể chọn giống sản xuất vacxin phòng bệnh lợn con phân trắng
Tác giả: Lê Văn Tạo, Khương Bích Thuỷ, Nguyễn Thị Vui, Đào Thị Băng Tâm
Nhà XB: Viện thú y
Năm: 1993
13. Nguyễn Văn Thanh (1999), “Một số chỉ tiêu sinh sản và bệnh ủường sinh dục cái thường gặp ở đàn trâu các tỉnh phía Bắc Việt Nam”, Luậnán TS NN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chỉ tiêu sinh sản và bệnh ủường sinh dục cái thường gặp ở đàn trâu các tỉnh phía Bắc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: Luậnán TS NN
Năm: 1999
14. Bùi Thị Tho (2003), Thuốc kháng sinh và nguyên tắc sử dụng trong chăn nuôi, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuốc kháng sinh và nguyên tắc sử dụng trong chăn nuôi
Tác giả: Bùi Thị Tho
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2003
15. Nguyễn Văn Thưởng (1995), Kỹ thuật nuôi bò sữa - bò thịt ở gia ủình, NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi bò sữa - bò thịt ở gia ủình
Tác giả: Nguyễn Văn Thưởng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1995
16. Nguyễn Trọng Tiến, Mai Thị Thơm, Nguyễn Xuân Trạch, Lê Văn Ban (1991), Giáo trình chăn nuôi bò, tr−ờng Đại học Nông nghiệp I Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi bò
Tác giả: Nguyễn Trọng Tiến, Mai Thị Thơm, Nguyễn Xuân Trạch, Lê Văn Ban
Nhà XB: tr−ờng Đại học Nông nghiệp I Hà Nội
Năm: 1991
19. Đỗ Kim Tuyên (1995), “Nghiên cứu siêu bài no5n ở bò bằng sử dụng FSH và Prostaglandin”, luận án PTS khoa học Nông nghiệp, Viện khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu siêu bài no5n ở bò bằng sử dụng FSH và Prostaglandin
Tác giả: Đỗ Kim Tuyên
Năm: 1995
21. Nguyễn Thị Ước (1996), “Nghiên cứu gây rụng trứng nhiều và gây động dục đồng pha trong cấy phôi cho trâu bò”, luận án PTS, Hà Nội.tài liệu nƯớc ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu gây rụng trứng nhiều và gây động dục đồng pha trong cấy phôi cho trâu bò
Tác giả: Nguyễn Thị Ước
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1996
22. Ban A. (1986), Control and Prevention of inherited disorder causing infertility. Technical Manaagement A. I Programmes Swisdish University of Agricaltural sciences. Uppsala Sweden Sách, tạp chí
Tiêu đề: Control and Prevention of inherited disorder causing infertility
Tác giả: Ban A
Nhà XB: Technical Management A. I Programmes Swisdish University of Agricultural sciences
Năm: 1986
23. Anberth Youssef (1997), Reproductive diseases in livestocks. Egyptian International Center for Agriculture. Course on Animal Production and Health Sách, tạp chí
Tiêu đề: Reproductive diseases in livestocks
Tác giả: Anberth Youssef
Nhà XB: Egyptian International Center for Agriculture
Năm: 1997
24. Athur G. H (1964), Wrights Veterinary obstetrics. The Williams and Wilkins Company Sách, tạp chí
Tiêu đề: Wrights Veterinary obstetrics
Tác giả: Athur G. H
Nhà XB: The Williams and Wilkins Company
Năm: 1964

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.2. Tuổi đẻ lứa đầu - khảo sát một số chỉ tiêu sinh sản và bệnh thường gặp ở cơ quan sinh dục cái trên đàn bò vàng nuôi tại một số địa phương thuộc thành phố buôn ma thuột, tỉnh đắk lắk
Bảng 4.2. Tuổi đẻ lứa đầu (Trang 43)
Bảng 4.3: Tỷ lệ đẻ toàn đàn - khảo sát một số chỉ tiêu sinh sản và bệnh thường gặp ở cơ quan sinh dục cái trên đàn bò vàng nuôi tại một số địa phương thuộc thành phố buôn ma thuột, tỉnh đắk lắk
Bảng 4.3 Tỷ lệ đẻ toàn đàn (Trang 45)
Bảng 4.4: Tỷ lệ đẻ theo độ tuổi - khảo sát một số chỉ tiêu sinh sản và bệnh thường gặp ở cơ quan sinh dục cái trên đàn bò vàng nuôi tại một số địa phương thuộc thành phố buôn ma thuột, tỉnh đắk lắk
Bảng 4.4 Tỷ lệ đẻ theo độ tuổi (Trang 47)
Bảng 4.5. Khoảng cách giữa hai lứa đẻ - khảo sát một số chỉ tiêu sinh sản và bệnh thường gặp ở cơ quan sinh dục cái trên đàn bò vàng nuôi tại một số địa phương thuộc thành phố buôn ma thuột, tỉnh đắk lắk
Bảng 4.5. Khoảng cách giữa hai lứa đẻ (Trang 48)
Đồ thị 4.5: Tỷ lệ đẻ qua các tháng trong năm 2006 – 2007 - khảo sát một số chỉ tiêu sinh sản và bệnh thường gặp ở cơ quan sinh dục cái trên đàn bò vàng nuôi tại một số địa phương thuộc thành phố buôn ma thuột, tỉnh đắk lắk
th ị 4.5: Tỷ lệ đẻ qua các tháng trong năm 2006 – 2007 (Trang 51)
Bảng 4.7. Tỷ lệ nuôi sống bê đến 6 tháng tuổi - khảo sát một số chỉ tiêu sinh sản và bệnh thường gặp ở cơ quan sinh dục cái trên đàn bò vàng nuôi tại một số địa phương thuộc thành phố buôn ma thuột, tỉnh đắk lắk
Bảng 4.7. Tỷ lệ nuôi sống bê đến 6 tháng tuổi (Trang 52)
Bảng 4.8 : Tỷ lệ mắc bệnh cơ quan sinh dục cái - khảo sát một số chỉ tiêu sinh sản và bệnh thường gặp ở cơ quan sinh dục cái trên đàn bò vàng nuôi tại một số địa phương thuộc thành phố buôn ma thuột, tỉnh đắk lắk
Bảng 4.8 Tỷ lệ mắc bệnh cơ quan sinh dục cái (Trang 55)
Bảng 4.9. : Tỷ lệ mắc bệnh cơ quan sinh dục cái   (Kết quả nghiên cứu tại lò mổ trâu bò tập trung ph−ờng Khánh Xuân ) - khảo sát một số chỉ tiêu sinh sản và bệnh thường gặp ở cơ quan sinh dục cái trên đàn bò vàng nuôi tại một số địa phương thuộc thành phố buôn ma thuột, tỉnh đắk lắk
Bảng 4.9. Tỷ lệ mắc bệnh cơ quan sinh dục cái (Kết quả nghiên cứu tại lò mổ trâu bò tập trung ph−ờng Khánh Xuân ) (Trang 56)
Bảng 4.10: Tỷ lệ mắc bệnh ở các bộ phận của cơ quan sinh dục bò cái (n - khảo sát một số chỉ tiêu sinh sản và bệnh thường gặp ở cơ quan sinh dục cái trên đàn bò vàng nuôi tại một số địa phương thuộc thành phố buôn ma thuột, tỉnh đắk lắk
Bảng 4.10 Tỷ lệ mắc bệnh ở các bộ phận của cơ quan sinh dục bò cái (n (Trang 57)
Bảng 4.11: Các thể bệnh viêm tử cung (n=19) - khảo sát một số chỉ tiêu sinh sản và bệnh thường gặp ở cơ quan sinh dục cái trên đàn bò vàng nuôi tại một số địa phương thuộc thành phố buôn ma thuột, tỉnh đắk lắk
Bảng 4.11 Các thể bệnh viêm tử cung (n=19) (Trang 59)
Bảng 4.12: Các chỉ tiêu lâm sàng của bò bị viêm nội mạc tử cung - khảo sát một số chỉ tiêu sinh sản và bệnh thường gặp ở cơ quan sinh dục cái trên đàn bò vàng nuôi tại một số địa phương thuộc thành phố buôn ma thuột, tỉnh đắk lắk
Bảng 4.12 Các chỉ tiêu lâm sàng của bò bị viêm nội mạc tử cung (Trang 61)
Bảng 4.13 : Các thể bệnh ở buồng trứng (n=14) - khảo sát một số chỉ tiêu sinh sản và bệnh thường gặp ở cơ quan sinh dục cái trên đàn bò vàng nuôi tại một số địa phương thuộc thành phố buôn ma thuột, tỉnh đắk lắk
Bảng 4.13 Các thể bệnh ở buồng trứng (n=14) (Trang 66)
Bảng 4.14. Kết quả sinh sản sau điều trị viêm nội mạc tử cung - khảo sát một số chỉ tiêu sinh sản và bệnh thường gặp ở cơ quan sinh dục cái trên đàn bò vàng nuôi tại một số địa phương thuộc thành phố buôn ma thuột, tỉnh đắk lắk
Bảng 4.14. Kết quả sinh sản sau điều trị viêm nội mạc tử cung (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w