1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học phục vụ phát triển bền vững làng nghề quảng bố, xã quảng phú, huyện lương tài, tỉnh bắc ninh

90 469 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 2,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, ở những mức độ khác nhau và với những sắc thái khác nhau, làn sóng đô thị hoá tiếp tục lan rộng như là một quá trình kinh tế - xã hội KT - XH toà

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

NGUYỄN THỊ HUYỀN MINH

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA TỚI BIẾN ĐỔI KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA THỊ XÃ TỪ SƠN,

BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI – 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

NGUYỄN THỊ HUYỀN MINH

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA TỚI BIẾN ĐỔI KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA THỊ XÃ TỪ SƠN,

HÀ NỘI – 2013

Trang 3

MỤC LỤC

Mục lục i

Danh mục ký tự viết tắt iii

Danh mục bảng biểu iv

Danh mục hình vi

Mở đầu 1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Quan điểm nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 2

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÔ THỊ HÓA VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA TỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 1.1 Cơ sở lý luận về đô thị hóa 5

1.1.1 Một số vấn đề cơ bản về đô thị 5

1.1.2 Một số vấn đề cơ bản về đô thị hóa 7

1.2 Đặc điểm đô thị hóa trên thế giới và Việt Nam hiện nay 14

1.2.1 Đặc điểm đô thị hóa trên thế giới 14

1.4.2 Đặc điểm quá trình đô thị hóa ở Việt Nam 16

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA Ở THỊ XÃ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH GIAI ĐOẠN 2000 - 2010 2.1 Khái quát về lịch sử phát triển thị xã Từ Sơn 20

2.2 Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến quá trình đô thị hóa ở thị xã Từ Sơn 21

2.2.1 Vị trí địa lý 21

2.2.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 24

2.2.3 Các nhân tố kinh tế - xã hội 26

2.3 Đặc điểm quá trình đô thị hóa ở Thị xã Từ Sơn 29

2.3.1 Số dân thành thị tăng nhanh 29

2.3.2 Mức độ đô thị hóa cao so với trong toàn tỉnh Bắc Ninh 30

2.3.3 Dân cư tập trung đông ở khu vực nội thị 32

Chương 3 ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA TỚI BIẾN ĐỔI KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA THỊ XÃ TỪ SƠN,

Trang 4

3.1 Những biến đổi về kinh tế giai đoạn 2000 – 2010 36

3.1.1 Kinh tế tăng trưởng nhanh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng CNH – HĐH 36

3.1.2 Biến đổi trong sản xuất nông nghiệp 36

3.1.3 Biến đổi trong sản xuất công nghiệp – xây dựng 46

3.1.4 Những biến đổi trong ngành dịch vụ 49

3.2 Biến động sử dụng đất trong giai đoan 2000 – 2010 49

3.2.1 Hiện trạng sử dụng đất của thị xã năm 2010 49

3.2.2 Phân tích tình hình biến động đất giai đoan 2000 – 2010 51

3.2.3 Biến động đất đai và những tác động đối với đời sống của người dân thị xã 56

3.3 Kết cấu hạ tầng không ngừng được nâng cấp và xây dựng mới 63

3.3.1 Mạng lưới điện 63

3.3.2 Hệ thống giao thông 63

3.3.3 Hệ thống trường học 64

3.3.4 Hệ thống y tế 65

3.3.5 Hệ thống thủy lợi 65

3.4 Những biến đổi về xã hội trên địa bàn thị xã Từ Sơn, giai đoạn 2000 – 2010 66

3.4.1 Chuyển dịch cơ cấu lao động, đa dạng hóa cơ cấu ngành nghề 66

3.4.2 Mức sống của người dân 70

3.5 Giải pháp phát triển KT – XH thị xã Từ Sơn dưới tác động của quá trình đô thị hóa 75

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 79

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1 CNH - HĐH : Công nghiệp hóa - hiện đại hóa

2 CN - TTCN : Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Đô thị hóa và tổng sản phẩm trong nước theo giá thực tế của các

nhóm nước, năm 2007 9

Bảng1.2 So sánh nhóm nước có mức độ đô thị hóa cao với HDI và GDP/người, năm 2007 12

Bảng1.3 So sánh nhóm nước có mức độ đô thị hóa thấp với HDI và GDP/người, năm 2007 12

Bảng 1.4 Tỉ lệ dân cư đô thị toàn quốc từ năm 1950 đến năm 2009 16

Bảng 1.5 Phân bố đô thị và số dân đô thị giữa các vùng, năm 2007 18

Bảng 2.1 Gia tăng dân số tự nhiên của thị xã Từ Sơn giai đoạn 1999 –2010 26

Bảng 2.2 Giá trị tổng sản phẩm theo giá thực tế phân theo khu vực kinh tế 27

Bảng 2.3 Quy mô dân thành thị của thị xã Từ Sơn giai đoạn 1999 – 2010 29

Bảng 2.4 Mức độ đô thị hóa của thị xã Từ Sơn giai đoạn 1999 – 2010 30

Bảng 2.5 Mức độ đô thị hóa của thị xã Từ Sơn so với các khu vực khác trong tỉnh Bắc Ninh, năm 2010 30

Bảng 2.6 Mật độ dân số trung bình của thị xã Từ Sơn theo khu vực nội thị và ngoại thị, giai đoạn 2000 – 2010 32

Bảng 3.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm của Thị xã Từ Sơn qua một số giai đoạn 36

Bảng 3.2 Cơ cấu kinh tế của Thị xã Từ Sơn qua một số năm 36

Bảng 3.3 Cơ cấu các ngành trong hệ thống nông nghiệp của thị xã Từ Sơn, giai đoạn 2000 – 2010 37

Bảng 3.4 Chỉ số đa dạng hóa trong ngành trồng trọt phân theo phường, xã trên địa bàn thị xã Từ Sơn giai đoạn 2000 – 2010 37

Bảng 3.5 Thống kê chỉ số đa dạng trong nông nghiệp phân theo phường, xã trên địa bàn thị xã Từ Sơn, giai đoạn 2000 – 2010 40

Bảng 3.6 Số lượng gia súc phân theo các phường, xã trên địa bàn thị xã Từ Sơn, giai đoạn 2000 – 2010 43

Bảng 3.7 Tình hình chăn nuôi gia cầm trên địa bàn thị xã Từ Sơn giai đoạn 2000 – 2010 44 Bảng 3.8 Diện tích nuôi trồng thủy sản phân theo phường, xã trên địa bàn

Trang 7

thị xã Từ Sơn, giai đoạn 2000 – 2010 44

Bảng 3.9 Sản lượng nuôi trồng thủy sản phân theo phường, xã trên địa bàn thị xã giai đoạn 2000 – 2010 45

Bảng 3.10 Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn phân theo thành phần kinh tế 46

Bảng 3.11 Cơ sở sản xuất công nghiệp trên địa bàn thị xã, giai đoạn 2000 – 2010 47

Bảng 3.12 Lao động sản xuất công nghiệp của thị xã Từ Sơn, giai đoạn 2000 – 2010 48

Bảng 3.13 Hiện trạng sử dụng đất thị xã Từ Sơn năm 2010 50

Bảng 3.14 Thống kê biến động đất theo mục đích sử dụng trên địa bàn thị xã Từ Sơn giai đoạn 2000 – 2005 51

Bảng 3.15 Thống kê biến động đất theo mục đích sử dụng trên địa bàn thị xã Từ Sơn giai đoạn 2005 – 2010 53

Bảng 3.16 Tổng hợp tình hình biến động đất trên địa bàn thị xã Từ Sơn giai đoạn 2000 – 2010 55

Bảng 3.17 Mật độ hữu hiệu của thị xã Từ Sơn giai đoạn 2000 – 2010 57

Bảng 3.18 Số lao động nông nghiệp trên địa bàn thị xã 60

Bảng 3.19 Một số chỉ tiêu về lớp mẫu giáo phân theo xã, phường năm 2010 64

Bảng 3.20 Một số chỉ tiêu về giáo dục trên địa bàn thị xã 64

Bảng 3.21 Một số chỉ tiêu về y tế của thị xã giai đoạn 2000 – 2010 65

Bảng 3.22 Cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế 66

Bảng 3.23 Số lao động sản xuất công nghiệp phân theo xã, phường năm 2010 67

Bảng 3.24 Số cơ sở kinh doanh và lao động của ngành thương mại dịch vụ phân theo ngành kinh doanh trên địa bàn thị xã Từ Sơn 69

Bảng 3.25 Thu nhập bình quân đầu người (theo giá thực tế) trên địa bàn thị xã Từ Sơn 70

Bảng 3.26 Thu nhập bình quân đầu người một tháng theo giá thực tế phân theo khu vực nội thị, ngoại thị 70

Bảng 3.27 Phân tích SWOT về ảnh hưởng của ĐTH đến biến đổi KT – XH của thị xã Từ Sơn giai đoạn 2000 – 2010 74

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Bản đồ hành chính thị xã Từ Sơn 23 Hình 2.2 Xu hướng biến đổi chỉ số đô thị - nông thôn thị xã Từ Sơn

giai đoạn 1999 – 2010 31 Hình 2.3 Bản đồ mật độ dân số huyện Từ Sơn năm 2000 33 Hình 2.4 Bản đồ mật độ dân số thị xã Từ Sơn năm 2010 34 Hình 3.1 Bản đồ đa dạng các loại cây trồng trên địa bàn huyện

Từ Sơn năm 2000 41 Hình 3.2 Bản đồ đa dạng các loại cây trồng trên địa bàn thị xã

Từ Sơn năm 2010 42 Hình 3.3 Biểu đồ biến động một số loại đất trên địa bàn thị xã Từ Sơn,

giai đoạn 2000 – 2010 56 Hình 3.4 Bản đồ mật độ hữu hiệu huyện Từ Sơn năm 2000 58 Hình 3.5 Bản đồ mật độ hữu hiệu thị xã Từ Sơn năm 2010 59 Hình 3.6 Cơ cấu thu nhập bình quân đầu người của thị xã Từ Sơn chia

theo nguồn thu 71 Hình 3.7 Chi tiêu cho đời sống bình quân đầu người/1 tháng theo giá thực

tế phân theo khoản chi trên địa bàn thị xã Từ Sơn giai đoạn 2004 - 2010 71 Hình 3.8 Tỷ lệ hộ có nhà ở chia theo loại nhà ở địa bàn thị xã Từ Sơn

giai đoạn 1999 – 2010 72

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đô thị hoá (ĐTH) là xu thế tất yếu của các quốc gia trong quá trình phát triển Những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, ở những mức độ khác nhau

và với những sắc thái khác nhau, làn sóng đô thị hoá tiếp tục lan rộng như là một quá trình kinh tế - xã hội (KT - XH) toàn thế giới – quá trình mở rộng thành phố, tập trung dân cư, thay đổi các mối quan hệ xã hội; quá trình đẩy mạnh và đa dạng hoá những chức năng phi nông nghiệp, mở rộng giao dịch, phát triển lối sống và văn hoá đô thị

Sau hơn 25 đổi mới, cùng với chính sách mở cửa và chuyển đổi nền kinh

tế từ hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường, Việt Nam đã và đang bước vào giai đoạn mới của quá trình ĐTH với nhiều biến đổi nhanh chóng về tất cả các mặt: kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường, Sự biến đổi này bao gồm cả mặt tích cực và tiêu cực Sự phát triển của các đô thị lớn cấp quốc gia như: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và một số đô thị lớn trong hai vùng tam giác tăng trưởng phía Bắc và phía Nam đã dẫn đến những thay đổi nhanh chóng ở vùng ngoại vi

Nằm ở vị trí chiến lược quan trọng, “cửa ngõ” phía Đông Bắc của thủ đô

Hà Nội, Bắc Ninh có nhiều lợi thế trong phát triển KT - XH cũng như trong quá trình ĐTH của tỉnh Bắc Ninh hội tụ đầy đủ các yếu tố để phát triển nhanh nền kinh tế, văn hóa và khoa học kỹ thuật, trong tương lai gần Bắc Ninh sẽ là thành phố vệ tinh của thủ đô Hà Nội

Từ xưa đến nay, thị xã Từ Sơn là địa phương sầm uất và năng động nhất của tỉnh Bắc Ninh Thị xã Từ Sơn luôn giữ được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, bình quân 5 năm (2006-2010) đạt 16,2% Trong đó, công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp (CN - TTCN) từng bước phát triển nhanh theo hướng hiện đại và bền vững với tốc độ tăng bình quân là 21,7%, được xác định là ngành kinh tế chủ lực trong phát triển KT - XH của địa phương

Không nằm ngoài xu thế chung của cả nước, quá trình ĐTH đã và đang tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực của cuộc sống người dân ở tỉnh Bắc Ninh nói chung cũng như ở thị xã Từ Sơn nói riêng Tuy nhiên, quá trình ĐTH cũng khiến cho khu vực phải đối mặt với nhiều thách thức: vấn đề gia tăng dân số, việc làm, tình hình rác thải công nghiệp, ô nhiễm môi trường, sự biến đổi về văn hoá, đạo đức lối sống,… là những vấn đề làm biến đổi cuộc sống của người dân

Trang 10

Để làm rõ quá trình ĐTH đang diễn ra và có những tác động đến cuộc sống của người dân cũng như chỉ ra những biến đổi của thị xã Từ Sơn, đề tài

được lựa chọn với tiêu đề: “Nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa tới biến đổi kinh tế - xã hội của thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh”

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa tới biến đổi kinh tế - xã hội thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2010 Từ đó làm

cơ sở đề xuất những giải pháp phát triển KT - XH của địa phương bền vững dưới ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ mục tiêu trên, nhiệm vụ của đề tài cần giải quyết những vấn đề sau:

- Tổng quan những vấn đề lí luận về ĐTH trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng

- Phân tích các nguồn lực phát triển thị xã và đặc điểm quá trình đô thị hóa ở thị xã Từ Sơn trong những năm gần đây

- Nghiên cứu những ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến KT – XH thị xã Từ Sơn giai đoạn 2000 – 2010

- Kết luận và đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế những tác động tiêu cực

và phát huy những tác động tích cực của quá trình ĐTH trên địa bàn thị xã Từ Sơn

Nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến kinh tế - xã hội thị xã

Từ Sơn từ năm 2000 đến năm 2010

4 Quan điểm nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Quan điểm nghiên cứu

4.1.1 Quan điểm lãnh thổ

Bất cứ đối tượng địa lí KT - XH nào cũng gắn liền với một lãnh thổ nhất định, do đó quan điểm lãnh thổ là quan điểm đặc thù của ngành Địa lí Quá trình ĐTH cũng vậy, nó có sự khác biệt rõ rệt giữa các địa phương về tốc độ, quy mô, chức năng, hiện trạng phát triển,…và tác động tới sự phát triển KT - XH từng

Trang 11

địa phương Quan điểm này được vận dụng vào đề tài thông qua việc đánh giá những nhân tố ảnh hưởng tới quá trình ĐTH ở thị xã Từ Sơn, lợi thế so sánh và hạn chế của thị xã trong mạng lưới đô thị của cả nước…

4.1.2 Quan điểm tổng hợp

Quán triệt quan điểm này đòi hỏi người nghiên cứu xem xét các sự vật hiện tượng trong các mối quan hệ của thế giới khách quan, tránh xa rời hoặc tách chúng ra riêng biệt Vận dụng quan điểm này vào đề tài, cần phải xem xét quá trình ĐTH của thị xã Từ Sơn trong mối quan hệ với quá trình ĐTH đang diễn ra trên cả tỉnh và cả nước; xem xét những chuyển biến trong đời sống KT - XH thị

xã trong sự phát triển KT - XH chung của toàn tỉnh; đồng thời xem xét tác động của quá trình ĐTH trong mối tương quan với các yếu tố khác như: quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa (CNH – HĐH), đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước

4.1.3 Quan điểm lịch sử

Khi nghiên cứu một đối tượng địa lí, phải chú ý tới sự hình thành, phát triển của đối tượng đó trong quá khứ; như vậy mới hiểu được bản chất của sự vật hiện tượng đó ở hiện tại và lí giải được nguồn gốc của chúng Vận dụng quan điểm này vào đề tài cần xem xét quá trình ĐTH cũng như những tác động của nó tới đời sống

KT - XH ở khu vực nghiên cứu trong những năm gần đây

4.1.4 Quan điểm phát triển bền vững

Quan điểm phát triển bền vững xuất hiện từ cuối thế kỷ XX và trở thành một nhu cầu cấp bách và xu thế tất yếu, một quan điểm trong tiến trình phát triển của các quốc gia trên thế giới nhằm khắc phục những hạn chế của quá trình phát triển trước đó Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng thỏa mãn nhu cầu của thế hệ mai sau trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm công bằng, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường [15] Đề tài vận dụng quan điểm này nhằm đưa ra những giải pháp đối với sự phát triển bền vững thị xã Từ Sơn trong giai đoạn tiếp theo dưới tác động của quá trình đô thị hóa

4.2 Phương pháp nghiên cứu

4.2.1 Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã thu thập tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau một cách có chọn lọc để đảm bảo tính đa dạng và chính xác của thông tin; đồng thời phân tích xử lí các số liệu thu thập được nhằm phục vụ

Trang 12

lao động được khai thác ở Phòng thống kê thị xã Từ Sơn, Phòng kế hoạch và Đầu tư, Phòng Xây dựng, Phòng Lao động - Thương binh xã hội, Phòng Tài nguyên - Môi trường thị xã Từ Sơn và các ban ngành có liên quan trong thị xã

4.2.2 Phương pháp bản đồ, biểu đồ

Phương pháp này được sử dụng trong quá trình tìm hiểu, khảo sát, nghiên cứu địa bàn Xuất phát từ bản đồ hành chính, các kết quả nghiên cứu lại được thể hiện thông qua các bản đồ, biểu đồ mới để phản ánh các đặc điểm không gian - thời gian của các thành phần

4.2.4 Phương pháp điều tra xã hội học

Trên cơ sở xây dựng bảng hỏi có nội dung hợp lí, tác giả đã khảo sát lấy ý kiến của nhân dân tại một số phường và xã trên địa bàn nghiên cứu Bảng hỏi được sử dụng để thu thập thông tin định lượng chung về sự biến đổi mức sống, thu nhập, cơ cấu lao động nghề nghiệp…ở một số địa bàn tại khu vực Việc chọn hộ điều tra được thực hiện theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống, đảm bảo tính khách quan Tổng số phiếu phát ra là 100 phiếu, tổng số phiếu thu về là

100 phiếu, số phiếu xử lý là 100 phiếu

4.2.5 Phương pháp chuyên gia

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã tiến hành trao đổi thông tin, tham khảo ý kiến của các nhà khoa học trong các lĩnh vực địa lí, công nghiệp nông thôn, lịch sử, văn hóa - xã hội, môi trường…và một số lãnh đạo cấp tỉnh, cấp thị xã

Trang 13

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÔ THỊ HÓA VÀ NHỮNG ẢNH

HƯỞNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA TỚI

PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

1.1 Cơ sở lý luận về đô thị hóa

1.1.1 Một số vấn đề cơ bản về đô thị

a) Định nghĩa

Đô thị được cấu thành bởi hai bộ phận: phần “đô” và phần “thị” Phần

“đô” chỉ chức năng hành chính, phần “thị” có nghĩa là nơi buôn bán, biểu hiện của phạm trù hoạt động kinh tế Hai bộ phận này có mối quan hệ đặc biệt, tương tác hỗ trợ, bổ sung cho nhau trong quá trình hình thành và phát triển của một đô thị Trong xã hội hiện đại ngày nay, người ta chú ý nhiều đến tính chất “thị” hơn tính chất “đô”, tức là coi trọng yếu tố kinh tế hơn [24]

Có rất nhiều thuật ngữ để chỉ đô thị Trên thế giới, các thuật ngữ chỉ đô thị như city, town (trong tiếng Anh), urbanized area, urban cluster (trong tiếng Mỹ),…Trong tiếng Việt hiện đại có các từ ngữ chỉ đô thị như: thị tứ, thị trấn, thị

xã, thành phố, thành thị [22]

Do tính chất đa dạng về nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã hội và đặc điểm riêng của từng quốc gia nên khái niệm đô thị được phân tích dưới các khía cạnh khác nhau và hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Các quan điểm về đô thị không thống nhất giữa các quốc gia, thậm chí trong một quốc gia cũng chưa thống nhất

Ở Việt Nam, khái niệm đô thị có sự thay đổi theo thời gian Thông tư liên tịch số 02/2002-TTLT-BXD-TCCBCP hướng dẫn về phân loại đô thị và cấp

quản lý đô thị nêu rõ: “Đô thị là một khu dân cư tập trung có đủ hai điều kiện: về cấp quản lý, đô thị là thành phố, thị xã, thị trấn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập; về trình độ phát triển, đô thị là trung tâm tổng hợp

hay chuyên ngành có vai trò thúc đẩy sự phát triển KT- XH của một vùng lãnh thổ, tỷ lệ lao động của khu vực nội thành, nội thị xã, thị trấn tối thiểu đạt 65% tổng số lao động, cơ sở hạ tầng tối thiểu đạt 70% mức quy chuẩn xây dựng, quy

mô dân ít nhất là 4.000 người và mật độ dân số tối thiểu 2.000 người/km2” [4]

Thông tư số 34/2009/TT-BXD quy định chi tiết một số nội dung của Nghị

định 42/2009/NĐ-CP của Chính phủ về Phân loại đô thị đã định nghĩa: “ Đô thị

là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong

Trang 14

hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển KT-XH của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã, thị trấn” [23]

b) Phân loại đô thị

Ngày 7/5/2009, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã

ban hành nghị định số 42/2009/NĐ-CP về “Phân loại đô thị”, trong đó nêu rõ

các tiêu chuẩn cơ bản để phân loại đô thị như sau:

- Chức năng: là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành cấp quốc gia, cấp vùng liên tỉnh, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc trung tâm của vùng trong tỉnh; có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất định

- Quy mô dân số toàn đô thị phải đạt 4.000 người trở lên

- Mật độ dân số phải phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị và được tính trong phạm vi nội thành, nội thị và khu phố xây dựng tập trung của thị trấn

- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp được tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội thị, khu vực xây dựng tập trung phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động

- Hệ thống công trình hạ thầng đô thị gồm hệ thống công trình hạ tầng xã hội và hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật:

+ Đối với khu vực nội thành, nội thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ

và có mức độ hoàn chỉnh theo từng loại đô thị

+ Đối với khu vực ngoại thành, ngoại thị phải được đầu tư xây dựng đồng

bộ mạng lưới hạ tầng và bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển đô thị bền vững

+ Việc xây dựng phát triển đô thị phải theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị được phê duyệt, có các khu đô thị kiểu mẫu, các tuyến phố văn minh đô thị,

có các không gian công cộng phục vụ đời sống tinh thần của dân cư đô thị; có tổ hợp kiến trúc hoặc công trình kiến trúc tiêu biểu và phù hợp với môi trường, cảnh quan thiên nhiên

Theo Nghị định 42/2009/NĐ-CP về “Phân loại đô thị” thì hiện nay, hệ

thống đô thị nước ta được phân ra thành 6 loại: đô thị đặc biệt, đô thị loại I, loại

II, loại III, loại IV và loại V Sự phân cấp đô thị như vậy được dựa trên các tiêu chí tổng hợp về: chức năng đô thị, quy mô dân số toàn đô thị, mật độ dân số, tỉ

Trang 15

lệ lao động phi nông nghiệp, hệ thống công trình hạ tầng đô thị, và kiến trúc cảnh quan đô thị [12]

c, Vai trò của đô thị đối với sự phát triển kinh tế - xã hội

Hệ thống đô thị là kết quả tất yếu của quá trình phát triển KT - XH, đặc biệt gắn bó hữu cơ với các cuộc cách mạng phát triển công nghiệp, cách mạng khoa học kĩ thuật Vì vậy, vai trò của hệ thống đô thị trong quá trình phát triển lãnh thổ thể hiện khác nhau theo từng giai đoạn lịch sử

Ngày nay, đô thị không chỉ đơn thuần là nơi tập trung dân cư đông đúc với các hoạt động mang tính chất phi nông nghiệp, các trung tâm đơn chức năng

về hành chính hoặc thương mại,…mà đô thị đã trở thành một không gian cư trú của dân cư, là kết quả tất yếu của một quá trình phát triển KT - XH, đóng vai trò

là trung tâm tổng hợp hoặc về một số mặt của một vùng hoặc quốc gia, biểu hiện của nó là sự tập trung dân cư với mật độ cao với lối sống đô thị và các hoạt động phi nông nghiệp chiếm ưu thế, có cơ sở hạ tầng phát triển ngày càng hiện đại…Do đó, phát triển hệ thống đô thị như là một quy luật tất yếu của quá trình phát triển KT - XH ở các quốc gia trên thế giới, nhằm tiến tới một xã hội văn minh và hiện đại

Hệ thống đô thị đóng vai trò như một “bộ khung” phát triển không gian của mỗi lãnh thổ, mỗi quốc gia Những quốc gia phát triển là những nước có mạng lưới đô thị dày đặc với sự phân hóa sâu sắc về quy mô dân số và lãnh thổ cũng như cấu trúc không gian của nó Các đô thị là nơi chủ yếu tạo ra của cải vật chất cho loài người Đô thị tối ưu hóa việc sử dụng năng lượng, con người và máy móc, cho phép vận chuyển nhanh và rẻ, tạo ra thị trường linh hoạt, có năng suất lao động cao Các đô thị tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân phối sản phẩm và phân bố nguồn lực giữa các không gian đô thị, ven đô, ngoại thành và nông thôn Đô thị là nơi tạo ra nhiều việc làm và thu nhập cho người lao động Các đô thị cũng là nơi tiêu thụ sản phẩm hàng hóa lớn và đa dạng, là nơi sử dụng lực lượng lao động có chất lượng cao, cơ sở hạ tầng hiện đại, có sức hút đầu tư mạnh trong nước và nước ngoài Đô thị luôn giữ vai trò đầu tàu cho sự phát triển, dẫn dắt các cộng đồng nông thôn đi trên con đường tiến bộ và văn minh

1.1.2 Một số vấn đề cơ bản về đô thị hóa

a) Định nghĩa

Đô thị hóa là một phạm trù KT - XH, là quá trình chuyển hóa và vận động phức tạp mang tính quy luật, là quá trình phổ biến diễn ra trên quy mô toàn cầu,

Trang 16

Hiểu theo nghĩa hẹp, đô thị hóa là “quá trình biến nông thôn thành đô thị,

sự phát triển thành phố và việc nâng cao vai trò của nó trong đời sống kinh tế -

b) Phân loại đô thị hóa

- Đô thị hóa thay thế: Là khái niệm để chỉ quá trình đô thị hoá diễn ra

trong đô thị Ở đây cũng có sự di dân, nhưng là từ trung tâm ra ngoại thành hoặc vùng ven đô Quá trình này cũng có thể là sự chỉnh trang, nâng cấp đô thị, đáp ứng những yêu cầu mới

- Đô thị hóa cưỡng bức: Là khái niệm dùng để chỉ sự di chuyển dân cư từ

nông thôn ra thành thị Đặc điểm của ĐTH cưỡng bức là không gian kiến trúc không được mở rộng theo quy hoạch mà mang tính tự phát cao Các nhu cầu của dân nhập cư không được đáp ứng Đô thị trở nên quá tải, nhiều hiện tượng tiêu cực phát sinh

- Đô thị hóa ngược: Là khái niệm dùng để chỉ sự di dân từ đô thị lớn sang

đô thị nhỏ, hoặc từ đô thị trở về nông thôn Hiện tượng này còn được một số học giả gọi là “sự phục hưng nông thôn” Phát triển đến một lúc nào đó, bằng các chính sách của mình, các Chính phủ sẽ điều chỉnh hướng vào sự phát triển nông thôn Quá trình này sẽ góp phần san bằng khoảng cách về chất lượng sống giữa nông thôn và thành thị [19]

c) Phân kỳ đô thị hóa

Có những căn cứ khác nhau để phân kỳ ĐTH: dựa theo các mốc thay đổi chế độ chính trị xã hội trong lịch sử; dựa theo trình độ phát triển lực lượng sản xuất Nhìn chung, quá trình ĐTH được phân chia thành 3 thời kỳ:

- Đô thị hóa tiền công nghiệp (trước thế kỷ XVIII): ĐTH phát triển mang

đặc trưng của nền văn minh nông nghiệp Các đô thị phân tán, quy mô nhỏ, phát triển theo dạng tập trung, cơ cấu đơn giản Tính chất đô thị lúc bấy giờ chủ yếu

là hành chính, thương nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

- Đô thị hóa công nghiệp (đến nửa đầu thế kỷ XX): Các đô thị phát triển

mạnh song song với quá trình công nghiệp hóa Cuộc cách mạng công nghiệp đã

Trang 17

làm cho nền văn minh đô thị phát triển nhanh chóng, sự tập trung sản xuất và dân cư đã tạo nên những đô thị lớn và cực lớn Cơ cấu đô thị phức tạp hơn, đặc biệt là các thành phố mang nhiều chức năng khác nhau, như thủ đô, thành phố cảng Đặc trưng của thời kì này là sự phát triển thiếu kiểm soát của các thành phố

- Đô thị hóa hậu công nghiệp (từ nửa sau thế kỷ XX đến nay): Sự phát

triển của công nghệ tin học đã làm thay đổi cơ cấu sản xuất và phương thức sinh hoạt ở các đô thị Không gian đô thị có cơ cấu tổ chức phức tạp, quy mô lớn Hệ thống tổ chức dân cư đô thị phát triển theo cụm, chùm và chuỗi [2]

d) Những ảnh hưởng chủ yếu của ĐTH đến phát triển kinh tế - xã hội

Những ảnh hưởng chủ yếu của ĐTH đến sự phát triển kinh tế - xã hội mang tính chất hai mặt Một mặt nó là động lực thúc đẩy sự tiến bộ của nền KT – XH và mặt khác làm gay gắt thêm nhiều vấn đề KT – XH chưa được giải quyết triệt để ở các quốc gia và lãnh thổ Mặt tích cực và tiêu cực đã trở thành quy luật khá phổ biến đối với hầu hết các quốc gia, khu vực lãnh thổ trên thế giới, cho dù ở mức độ rất khác nhau Tính tích cực hay tiêu cực của ĐTH phụ thuộc rất nhiều vào khả năng chủ động “ điều khiển” quá trình ĐTH của mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ

* Đô thị hóa ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành

Đô thị hóa có liên quan chặt chẽ với quá trình phát triển kinh tế và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế của mỗi nước So sánh giữa tỉ lệ đô thị hóa với tổng sản phẩm trong nước (GDP) cho thấy rõ điều đó

Bảng 1.1 Đô thị hóa và tổng sản phẩm trong nước theo giá thực tế của

các nhóm nước, năm 2007

Các nước phát triển Các nước đang phát triển

Tên nước

Tỉ lệ dân thành thị (%)

GDP (triệu USD)

Tên nước

Tỉ lệ dân thành thị (%)

GDP (triệu USD)

Nguồn: HDR 2009 và Niên giám thống kê 2007

Bảng 1.1 cho thấy quan hệ giữa mức độ đô thị hóa với GDP của hai nhóm

Trang 18

có tổng sản phẩm trong nước GDP cao Còn các nước đang phát triển có tỉ lệ dân thành thị thấp thì GDP thường thấp

Đô thị hóa như một quy luật gắn liền với không chỉ sự phát triển công nghiệp mà còn gắn với sự gia tăng giao thông vận tải, thương mại và dịch vụ

Do đó, đô thị hóa có tác động tích cực thúc đẩy quá trình chuyển dich cơ cấu kinh tế từ khu vực I (Nông – Lâm – Ngư nghiệp) sang khu vực II (Công nghiệp

và Xây dựng) và khu vực III (Dịch vụ) Đây là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, hiện đại góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia

* Sự thay đổi cơ cấu lao động trong quá trình đô thị hóa

Đô thị hóa là yếu tố tích cực làm biến đổi quá trình phát triển và phân bố lực lượng sản xuất, chuyển giao lao động từ khối kinh tế này sang khối kinh tế khác Jean Fourastiés, nhà xã hội học Pháp đã phân tích và đưa ra khái niệm về

sự biến đổi của ba khu vực lao động trong các giai đoạn phát triển kinh tế xã hội

và quá trình đô thị hóa:

- Lao động khu vực I: Thành phần lao động sản xuất nông – lâm – ngư

nghiệp Thành phần lao động này chiếm tỉ lệ cao ở thời kì tiền công nghiệp và giảm dần ở các giai đoạn sau, chiếm tỉ lệ thấp nhất trong ba thành phần ở giai đoạn hậu công nghiệp

- Lao động khu vực II: Bao gồm lực lượng lao động sản xuất công nghiệp

Thành phần lao động này phát triển rất nhanh ở giai đoạn công nghiệp hóa, chiếm tỉ lệ cao nhất trong giai đoạn hậu công nghiệp và sau đó giảm dần do sự thay thế trong lao động công nghiệp bằng tự động hóa

- Lao động khu vực III: Bao gồm các thành phần lao động khoa học và

dịch vụ Thành phần này từ chỗ chiếm tỉ lệ thấp nhất trong thời kì tiền công nghiệp đã tăng dần và cuối cùng chiếm tỉ lệ cao nhất trong giai đoạn văn minh khoa học kĩ thuật (giai đoạn hậu công nghiệp)

- Lí thuyết ba thành phần lao động ki tế của Fourastiés có ý nghĩa rất lớn trong quá trình đô thị hóa Muốn biết trình độ phát triển của lực lượng sản xuất của một quốc gia ta chỉ cần xem tỉ lệ lao động giữa ba khu vực đó Lí thuyết này cũng phù hợp với ba thời kì của quá trình đô thị hóa ở hầu hết các nước trên thế giới [2]

* Đô thị hóa làm thay đổi nhu cầu sử dụng đất

Hiện nay, diện tích đất đô thị là khoảng 3 triệu km2, chiếm khoảng 2% diện tích lục địa và khoảng 13% diện tích đất có giá trị sử dụng cao nhưng lại là

Trang 19

nơi tập trung đến gần một nửa dân số thế giới [22] Trong tương lai, khi quy mô dân số đô thị tăng lên thì nhu cầu mở rộng đất là tất yếu Việc mở rộng đất có được chủ yếu là do quá trình lấn chiếm đất nông nghiệp ở nông thôn Hay nói cách khác, các vùng nông nghiệp ở nông thôn chính là nguồn dự trữ để mở rộng đất cho các đô thị trong tương lai

Đất đai là tài sản vô cùng quý giá, là địa bàn để xây dựng cơ sở cư trú, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa xã hội và an ninh quốc phòng Đất đô thị đặc biệt có giá trị rất lớn do chức năng và tính chất sử dụng cao độ của nó Do vậy, quá trình chuyển đổi chức năng từ đất nông nghiệp sang đất đô thị làm cho giá trị đất có sự thay đổi mạnh mẽ và có sự biến động lớn về cơ cấu sử dụng đất

Đất đô thị được chia thành các loại đất:

- Đất công nghiệp: là đất xây dựng các xí nghiệp công nghiệp, thủ công

nghiệp Khu đất công nghiệp là bộ phận quan trọng, thường là khu vực sản xuất chủ đạo của đô thị Nhưng do yêu cầu phát triển sản xuất và bảo vệ môi trường sống cho con người, nên khu đất công nghiệp thường đuwocj bố trí xa nơi tập trung đông dân cư hoặc bố trí ra ngoại ô Ngược lại, một số xí nghiệp công nghiệp sạch, ít ảnh hưởng đến môi trường và sản phẩm khó vận chuyển cần tiêu thụ ngay hoặc cần nguồn nhân lực có trình độ tay nghề cao, lại được bố trí ở gần khu dân cư hay gần trung tâm đô thị

- Đất dân dụng: là đất phục vụ cho nhu cầu xây dựng nhà ở, các câu lạc

bộ, khu vực vui chơi nghỉ ngơi, giải trí của nhân dân, bao gồm đất xây dựng nhà

ở, hệ thống đường giao thông, các công trình phục vụ công cộng, cây xanh Diện tích đất dân dụng có xu hướng tăng lên gắn với việc nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư và sự quy hoạch hợp lí

- Đất thương mại, dịch vụ: là đất dành cho các trung tâm giao dịch thương

mại, ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, chứng khoán,…thường tập trung ở trung tâm đô thị

- Đất kho tàng: là đất để xây dựng các loại kho tàng trực thuộc thành phố

hoặc trung ương,…

- Đất giao thông: là đất phục vụ cho nhu cầu giao thông vận tải nối liền

đô thị với bên ngoài, như đất làm đường sắt, đường ô tô, đường thủy, đường không,…

- Đất đặc biệt: là khu vực đất dung cho quân sự, ngoại giao, nghĩa

trang,…[22]

Trang 20

Nhìn chung, diện tích đất đô thị có xu hướng tăng lên mạnh mẽ, đặc biệt

là đất dân dụng và đất công nghiệp Khi quy hoạch đất đô thị, phân chia đất đô thị cho các mục đích khác nhau, cần có sự đánh giá nghiên cứu kĩ càng, đầy đủ, phải lựa chọn các loại đất phù hợp với từng loại chức năng

* Ảnh hưởng của đô thị hóa đến cơ sở hạ tầng – kỹ thuật

Quá trình đô thị hóa dẫn đến sự tích tụ dân cư và tập trung quá trình sản xuất trong các đô thị Điều này nhanh chóng làm cho lưu lượng hàng hóa, sự di chuyển và những nhu cầu thiết yếu của người dân ngày càng nhiều Để thực hiện chủ trương công nghiệp hóa, đô thị hóa đất nước thì phải đầu tư nâng cấp và xây dựng cơ sở hạ tầng – kỹ thuật nhằm đáp ứng yêu cầu của sự phát triển KT – XH

* Đô thị hóa làm thay đổi chất lượng cuộc sống và lối sống của người dân

Quá trình đô thị hóa đã làm thay đổi chất lượng sống của con người Nếu lập bảng so sánh có thể nhận thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa quá trình đô thị hóa thể hiện qua tỉ lệ dân số đô thị với các chỉ số phát triển con người (HDI) và GDP/người Ở những nước và khu vực phát triển có tỉ lệ dân thành thị cao thường là những nước có chỉ số HDI và GDP bình quân đầu người cao

Bảng1.2 So sánh nhóm nước có mức độ đô thị hóa cao với HDI và

(Nguồn: HDR 2009 và niên giám thống kê 2007)

Bảng1.3 So sánh nhóm nước có mức độ đô thị hóa thấp với HDI và

GDP/người, năm 2007

STT Quốc gia Tỉ lệ dân thành

thị (%) HDI

GDP/người theo PPP (USD/người)

(Nguồn: HDR 2009 và niên giám thống kê 2007)

Đô thị hoá tạo điều kiện cải biến con người thuần nông với nền sản xuất lúa nước, phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên sang người thành thị, có tính

Trang 21

công nghiệp cao hơn Nhiều người nông dân vốn được tự do, nền kinh tế nông nghiệp chưa đủ điều kiện đào tạo họ thành người biết tuân thủ đầy đủ yêu cầu của điều kiện khách quan Nhưng nền kinh tế thị trường mà họ đang gia nhập ở thành phố đã rèn luyện cho họ có nhiều phẩm chất mới từ ý thức

kỷ luật đến kỹ thuật và cả trình độ văn hoá, khoa học Nhiều thế hệ đi qua từ người nông dân tự do ban đầu trở thành người dân thành phố có tính công nghiệp và chuyên nghiệp cao

Không những thế, với mức thu nhập cao, người dân được sống trong một môi trường tiện nghi, chất lượng và hiện đại Họ được học tập, được làm việc, được vui chơi giải trí, được thưởng thức những món ăn ngon, được đi du lịch vào những dịp cuối tuần,…Đây chính là lối sống của những người dân thành thị Lối sống đó, chúng ta ít thấy ở trong cuộc sống của những người dân nông thôn

“ bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”

Tuy nhiên, thành thị cũng là nơi xuất hiện ngày càng nhiều “lối sống lạ”

đó là những tệ nạn xã hội và những tệ nạn này ngày càng phổ biến rộng rãi ở cuộc sống đô thị như mại dâm, ma túy, nghiện game online, đồng tính, trầm cảm, hoang tưởng…những lối sống buông thả này đang phổ biến ngày càng rộng rãi tới các vùng ngoại vi thành phố và vùng nông thôn

e) Chỉ số đánh giá đô thị hóa

* Tỉ lệ dân thành thị: được tính bằng tỉ lệ giữa dân số đô thị trên tổng số dân của một vùng hay một khu vực Đơn vị tính là phần trăm (%) Công thức:

UR = PUR

P x 100 (%) ِ Trong đó: UR: là tỉ lệ dân thành thị

PUR : là tổng dân số thành thị

P : là tổng dân số (dân số trung bình năm)

Đây là cơ sở để đánh giá mức độ ĐTH giữa các quốc gia Nước có tỉ lệ dân thành thị cao chứng tỏ ĐTH phát triển mạnh, dân cư thành thị đông hơn dân

cư nông thôn chứng tỏ nước đó có lực lượng dân cư hoạt động trong sản xuất công nghiệp, dịch vụ nhiều hơn trong nông nghiệp và ngược lại Từ đó phản ánh trình độ phát triển kinh tế cao hay thấp

* Tỉ lệ đô thị hóa (hay còn gọi là Mức độ đô thị hóa): là chỉ tiêu thể hiện

sự phát triển mở rộng của đô thị được xác định bằng tỷ lệ dân số khu vực nội thành, nội thị so với tổng dân số toàn đô thị Công thức:

Trang 22

Trong đó:

T: Tỷ lệ đô thị hóa của đô thị (%);

Nn: Tổng dân số các khu vực nội thị trong địa giới hành chính của đô thị (người);

N: Dân số toàn đô thị (người)

* Chỉ số dân thành thị - nông thôn (Urban – Ruaral Ratio): Chỉ số này

thường được sử dụng trong các nghiên cứu dự báo về động lực và xu hướng phát

triển của đô thị hóa, được xác định bằng công thức:

URR t = t

t

PU PR

Trong đó: URRt: Chỉ số đô thị - Nông thôn tại thời điểm t

PUt: Dân số đô thị tại thời điểm t

PRt: Dân số nông thôn tại thời điểm t

Về bản chất, chỉ số này chỉ thể hiện tỷ lệ dân số đô thị so với nông thôn tại một thời điểm cố định Qua đó, phản ánh sự phát triển của đô thị trong khu vực nghiên cứu

1.2 Đặc điểm đô thị hóa trên thế giới và Việt Nam hiện nay

1.2.1 Đặc điểm đô thị hóa trên thế giới

a) Số dân đô thị tăng nhanh dẫn đến sự bùng nổ dân số đô thị

Từ khi xuất hiện đô thị đến nay, số dân đô thị liên tục tăng lên với tốc độ nhanh cả tuyệt đối lẫn tương đối Đầu thế kỉ XIX, toàn thế giới có trên 29 triệu dân đô thị (chiếm 3,2% tổng số dân); bước sang thế kỉ XX, con số này đã tăng lên gần 220 triệu người (chiếm 13,6% dân số); đến giữa thế kỉ XX, số dân đô thị đạt 732 triệu người (chiếm 29,2% dân số thế giới); sang những năm đầu của thế

kỉ XXI, dân số đô thị đã lên tới trên 2.900 triệu dân (chiếm 47,7% dân số) Dự báo đến năm 2030, hơn 60% dân số thế giới là thị dân

Tuy nhiên, việc tăng dân số đô thị quá nhanh đã gây sức ép rất lớn về các vấn đề phát triển kinh tế - xã hội và môi trường

b) Sự gia tăng về số lượng và quy mô các đô thị lớn

Năm 1950, toàn thế giới mới có 8 đô thị trên 5 triệu dân; đến năm 1975 tăng lên 23; hiện nay là 50 đô thị với tổng số dân là 372,4 triệu người, chiếm khoảng 6% tổng dân số thế giới và gần 13% dân số đô thị toàn cầu

Số lượng các đô thị cực lớn (quy mô từ 10 triệu dân trở lên) cũng tăng nhanh chóng, năm 1975 mới có 5 thành phố cực lớn thì đến năm 2000 đã có 14 thành phố

Trang 23

Đô thị hóa làm cho diện tích các đô thị ngày càng được mở rộng Diện tích các đô thị hiện nay là khoảng 3 triệu km2, chiếm khoảng 2% diện tích lục địa Việc mở rộng diện tích đô thị là do nhu cầu cần phải mở rộng hoặc xây dựng mới nhiều tuyến đường giao thông, khu dân cư, khu công nghiệp và dịch

vụ Các đô thị nhiều khi còn phải mở rộng ranh giới hành chính Quá trình này làm cho các đô thị lớn dần lên và mở rộng phạm vi ảnh hưởng Đồng thời với quá trình này là quá trình chuyển đổi diện tích đất nông nghiệp thành diện tích đất đô thị, gây ra những hậu quả tiêu cực như giảm diện tích gieo trồng trong nông nghiệp và làm suy thoái môi trường,…

c) Phổ biến rộng rãi lối sống thành thị

ĐTH đã làm cho lối sống của nông dân gần với lối sống của dân cư thành phố về nhiều mặt Mặc dù sản xuất nông nghiệp vẫn là công việc cơ bản của dân

cư nông thôn, song tỉ lệ lao động phi nông nghiệp tăng lên, ngày càng có nhiều người cư trú ở nông thôn nhưng hàng ngày ra thành phố làm việc Chính những người dân “nửa đô thị” này đã đưa ảnh hưởng mọi mặt của lối sống đô thị vào nông thôn Biểu hiện của lối sống thành thị là: tính cơ động cao trong việc lựa chọn nghề nghiệp, nơi ở, nơi làm việc; có nhu cầu giao tiếp đa dạng, nhu cầu văn hóa và đời sống tinh thần của dân cư ngày càng cao; việc sử dụng thời gian nhàn rỗi rất đa dạng, phong phú…

d) Có sự khác nhau giữa quá trình đô thị hóa ở các nước phát triển và các nước đang phát triển

Quá trình ĐTH có tính chất khác nhau giữa các nước, các vùng kinh tế có trình độ phát triển khác nhau, có chế độ xã hội khác nhau Điều này là do quá trình ĐTH là quá trình mang tính quy luật, phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của từng nước, từng vùng

Ở các nước phát triển, do quá trình công nghiệp hóa diễn ra sớm nên quá trình ĐTH cũng bắt đầu khá sớm, tốc độ gia tăng tỷ lệ dân số đô thị tương đối cao và quá trình hình thành các đô thị cực lớn được tăng cường Các nước phát triển cũng có mức sống cao, các nhu cầu về đời sống vật chất và tinh thần giữa nông thôn và thành thị có khoảng cách không lớn, không gian đô thị chật chội

mà chất lượng môi trường lại kém hơn vùng nông thôn vì vậy có xu hướng chuyển cư từ trung tâm thành phố ra vùng ngoại ô, từ các thành phố lớn về các thành phố vệ tinh, dẫn đến nhịp độ gia tăng dân số đô thị trong thời gian gần đây bắt đầu chậm lại

Trang 24

Ở các nước đang phát triển, sự bùng nổ dân số là bạn đồng hành với bùng

nổ ĐTH Đặc trưng của quá trình này là sự thu hút dân cư nông thôn vào các thành phố lớn, trước hết là vào thủ đô Khoảng cách về mức sống vật chất và tinh thần giữa đô thị và nông thôn còn cách xa nhau Quá trình ĐTH diễn ra nhanh hơn tốc độ công nghiệp hóa, cùng với số người nhập cư ngày càng đông,

đã làm tăng tỉ lệ thất nghiệp ở các thành phố

1.4.2 Đặc điểm quá trình đô thị hóa ở Việt Nam

a) Quá trình đô thị hóa diễn ra chậm chạp, trình độ đô thị hóa thấp

Tỉ lệ dân thành thị nước ta có xu hướng tăng, nhưng tăng chậm và vẫn còn thấp hơn mức trung bình thế giới

Bảng 1.4 Tỉ lệ dân cư đô thị toàn quốc từ năm 1950 đến năm 2009

Năm Tỉ lệ dân đô thị

Nguồn: Xử lý số liệu từ Niên giám thống kê dân số Việt Nam qua các năm

Hiện nay tỉ lệ dân thành thị thế giới là 48%, các nước đang phát triển là khoảng 41 %, các nước phát triển là hơn 77% trong khi chúng ta mới chỉ đạt 28,11% (2008) và 29,6% (2009), nghĩa là tỉ lệ dân thành thị nước ta còn quá thấp, thấp hơn trung bình của thế giới và của các nước đang phát triển và kém xa các nước phát triển

Tỉ lệ dân thành thị thấp, tốc độ tăng tỉ lệ dân thành thị nước ta còn chậm

và không đều theo thời gian Điều này phản ánh sự phát triển công nghiệp hóa chưa cao cũng như tình trạng chậm phát triển của ngành dịch vụ Như vậy, Việt Nam vẫn ở giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa và tương ứng là giai đoạn đầu của quá trình ĐTH, tức là giai đoạn chuyển dịch lao động từ khu vực 1 (Nông – Lâm – Ngư nghiệp) sang khu vực II (Công nghiệp và Xây dựng) và khu vực III (Dịch vụ)

Trang 25

Theo dự báo dân số đô thị nước ta sẽ tăng lên đạt 46% vào 2020 Nghĩa là trong vài thập kỷ tới, tỉ lệ dân thành thị nước ta vẫn thấp hơn mức trung bình của Đông Nam Á, thấp hơn phần lớn các nước trong khu vực Châu Á, - Thái Bình Dương

b) Mạng lưới đô thị rải tương đối đều khắp trong cả nước

Nước ta có mạng lưới đô thị rải tương đối đều khắp trong cả nước nhưng phần lớn là các đô thị nhỏ và trung bình Mạng lưới đô thị này được liên kết lại bằng hệ thống giao thông vận tải và thông tin liên lạc, đang góp phần tích cực vào sự phát triển KT - XH của các vùng lãnh thổ, là các trung tâm phát triển của các huyện, tỉnh, vùng và cả nước

Tính đến tháng 6 năm 2009, cả nước có 752 đô thị, trong đó:

- 2 đô thị loại đặc biệt: Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh

- 7 đô thị loại I: Đà Nẵng, Hải Phòng, Huế, Vinh, Đà Lạt, Nha Trang và Cần Thơ Trong đó, Hải Phòng, Đà Nẵng và Cần Thơ là ba than phố trực thuộc trung ưng

- 14 đô thị loại II: Biên Hòa, Quy Nhơn, Nam Định, Hạ Long, Vũng Tàu, Buôn Ma Thuột, Thái Nguyên, Việt Trì, Hải Dương, Than Hóa, Mỹ Tho, Long Xuyên, Pleiku, Phan Thiết

- 45 đô thị loại III: Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Yên, Cẩm Phả,…

- 38 đô thị loại IV

- 646 đô thị loại V

Theo kế hoạch, đến năm 2015 cả nước sẽ có 870 đô thị, quy mô dân số khoảng 35 triệu người; Năm 2025 dự kiến phát triển lên 1000 đô thị, trong đó có

17 đô thị loại I và loại đặc biệt, 20 đô thị loại II, 81 đô thị loại III, 122 đô thị loại

IV, còn lại là các đô thị loại V với tổng số dân đô thị khoảng 52 triệu người [27]

c) Quá trình đô thị hóa diễn ra không đều giữa các vùng lãnh thổ

Ở vùng núi và cao nguyên quá trình ĐTH nói chung gặp nhiều khó khăn hơn Ngay ở Đồng bằng sông Hồng, mạng lưới đô thị dày đặc nhưng lại chủ yếu

là các thị trấn nhỏ, nên tỉ lệ dân số đô thị vẫn thấp Vùng Đông Nam Bộ, nơi có thành phố Hồ Chí Minh, tỉ lệ dân số đô thị cao nhất cả nước Đồng bằng sông Cửu Long chủ yếu là các thị xã, thị trấn nhỏ, phân bố rải rác Ở đây có đô thị lớn

là thành phố Cần Thơ Dọc duyên hải miền Trung có nhiều thành phố, thị xã, trong đó Đà Nẵng là đô thị lớn, Huế là cố đô cổ kính [9]

Trang 26

Bảng 1.5 Phân bố đô thị và số dân đô thị giữa các vùng, năm 2007

Các vùng

Số lượng

đô thị

Trong đó Số dân đô

thị (nghìn người)

Tỉ lệ dân số đô thị so với cả nước (%) Thành

Nguồn : Niên giám thống kê 2007

Ta thấy, mạng lưới đô thị Việt Nam phân bố rộng khắp các vùng trong cả nước, nhưng không cân đối giữa các vùng, số lượng đô thị nhiều nhất là ở Trung

du miền núi phía Bắc Bộ, Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long Tuy nhiên các đô thị lớn về quy mô dân số và tiềm lực kinh tế lại phân bố chủ yếu ở hai vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và phía Nam

Hiện nay, công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đang tạo ra những tiền đề cho việc đẩy nhanh hơn tốc độ đô thị hóa, đặc biệt là ở các vùng trọng điểm kinh tế: Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh – Biên Hòa – Vũng Tàu

d) Chất lượng nguồn nhân lực ở các đô thị mặc dù cao hơn nông thôn nhưng nhìn chung vẫn còn thấp

Tính chung toàn quốc, có đến 86,7% dân số từ 15 tuổi trở lên không có trình độ chuyên môn kỹ thuật Tỷ lệ được đào tạo với các trình độ khác nhau rất thấp, 2,6% có trình độ sơ cấp, 4,7% có trình độ trung cấp, 1,6% có trình độ cao đẳng và 4,4% có trình độ đại học trở lên Điều này cũng cho thấy một sự mất cân đối nhất định trong công tác đào tạo chuyên môn kỹ thuật hiện nay, khi trình

Trang 27

độ sơ cấp, trung cấp chỉ chiếm một phần không lớn trong các bậc đào tạo của dân số từ 15 tuổi trở lên

Trình độ chuyên môn kỹ thuật của dân số có sự khác biệt giữa khu vực đô thị và nông thôn Chỉ có khoảng 8% dân số nông thôn tuổi 15 trở lên có trình độ chuyên môn kỹ thuật từ sơ cấp trở lên và tỷ lệ có trình độ cao đẳng, đại học trở lên chỉ chiếm khoảng 3% Trong khi đó, tỷ lệ người có trình độ chuyên môn kỹ thuật ở khu vực đô thị là 25,4% và tỷ lệ có trình độ cao đẳng trở lên là 13,4% Điều này cho thấy một sự mất cân đối nghiêm trọng trong phân bố lực lượng

chuyên môn kỹ thuật giữa khu vực đô thị và nông thôn [21]

Tóm lại: Quá trình đô thị hóa là đặc trưng nổi bật của thời đại ngày nay,

thể hiện trình độ phát triển kinh tế - xã hội hiện đại Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa đang xảy ra với trình độ khác nhau giữa các khu vực quốc gia trên thế giới Việt Nam mới chỉ đang ở giai đoạn đầu của quá trình đô thị hóa với trình độ đô thị hóa còn thấp so với các nước khác trên thế giới Hệ thống đô thị phân bố khắp các vùng trong cả nước nhưng chủ yếu là các đô thị có quy mô vừa và nhỏ với chức năng hành chính, văn hóa là chủ yếu, tức là đô thị hóa nước ta diễn ra chưa song hành với công nghiệp hóa Tuy nhiên, quá trình đô thi hóa đã và đang ảnh hưởng đến đời sống KT – XH của nước ta cả ở 2 mặt tích cực và tiêu cực Song, tính tích cực hay tiêu cực của đô thị hóa phụ thuốc rất nhiều vào khả năng chủ động “điều khiển” quá trình đô thị hóa của mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ

Trang 28

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA THỊ XÃ

TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH GIAI ĐOẠN 2000 - 2010

2.1 Khái quát về lịch sử phát triển thị xã Từ Sơn

Thị xã Từ Sơn có diện tích tự nhiên là 61,33 km2

Thời các vua Hùng chia nước Văn Lang thành 15 bộ, Từ Sơn nằm trong

bộ Vũ Ninh Đời nhà Đường đô hộ, Từ Sơn thuộc địa phận của Long Châu, thời

Lê Đại Hành (989-1005) gọi là Cổ Pháp; thời nhà Lý (1010 - 1225) được đổi thành phủ Thiên Đức; thời nhà Trần (1225 - 1400) được gọi là huyện Đông Ngàn, rồi huyện Từ Sơn

Phủ Từ Sơn được thành lập đầu thời Lê (1428 - 1788) và bắt đầu từ thời Hồng Đức, Từ Sơn thuộc trấn Kinh Bắc và gồm 5 huyện: Tiên Du, Đông Ngàn,

Võ Giàng, Quế Dương và Yên Phong và giữ nguyên đến năm 1832 Năm Minh Mệnh thứ 13 (năm 1832) tách hai huyện Quế Dương và Võ Giàng để thành lập phân phủ Từ Sơn Phân phủ này bị bãi bỏ năm Tự Đức thứ 5 (năm 1852)

Sau khi bãi bỏ phân phủ Từ Sơn thì phủ Từ Sơn lại gồm 5 huyện : Tiên

Du, Đông Ngàn, Võ Giàng, Quế Dương và Yên Phong Huyện Đông Ngàn bị cắt 3 tổng Tuân Lệ, Xuân Canh và Cổ Loa nhập vào huyện Đông Anh, tỉnh Vĩnh Phúc

Dưới thời Pháp thuộc, chính quyền thực dân tiến hành các cuộc cải cách hành chính, điều chỉnh địa giới ở một số địa phương, xóa bỏ cấp phủ trung gian giữa tỉnh và huyện, Từ Sơn lúc này gọi là huyện Đông Ngàn Năm 1925 lại đổi thành phủ Từ Sơn Phủ Từ Sơn thời kỳ này chỉ còn lại 10 tổng là Dục Tú, Hạ Dương, Hà Lỗ, Hội Phụ, Mẫn Xá, Nghĩa Lập, Phù Chẩn, Phù Lưu, Tam Sơn, Yên Thường

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, các đơn vị hành chính dưới tỉnh có: huyện, xã, bãi bỏ phủ

Thi hành quyết định của Chính phủ ngày 08/6/1961, Uỷ ban hành chính tỉnh Bắc Ninh đã bàn giao cho Uỷ ban hành chính thành phố Hà Nội các xã thuộc huyện Từ Sơn được cắt về ngoại thành Hà Nội Về huyện Đông Anh là

Trang 29

các xã Liên Hà, Vân Hà, Mai Lâm, Đông Hội, Dục Tú Về huyện Gia Lâm là các xã Đình Xuyên, Ninh Hiệp, Tiền Phong, thị trấn Yên Viên, Dương Hà

Đến ngày 14/3/1963, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 25/QĐ sáp nhập 2 huyện Tiên Du và Từ Sơn thành huyện Tiên Sơn, đồng thời 2 xã Đông Thọ và Văn Môn được chuyển sang Yên Phong, 2 xã Tương Giang và Phú Lâm của huyện Yên Phong được chuyển về huyện Tiên Sơn

Tháng 9/1999, huyện Tiên Sơn được tách ra thành hai huyện Từ Sơn và Tiên Du

Theo Nghị định số 01/NĐ-CP ngày 24/9/2008 của Thủ tướng Chính phủ

về việc thành lập thị xã Từ Sơn, thành lập các phường thuộc thị xã Từ Sơn với

12 đơn vị hành chính: 7 phường gồm Đông Ngàn, Đồng Nguyên, Tân Hồng, Đình Bảng, Châu Khê, Đồng Kỵ, Trang Hạ và 5 xã là Hương Mạc, Phù Khê, Tương Giang, Tam Sơn, Phù Chẩn Tổng diện tích tự nhiên của thị xã là 61,33

km2 (chiếm 7,63% diện tích tự nhiên của tỉnh)

Hiện nay, thị xã Từ Sơn là đô thị loại IV có tiềm năng phát triển với các chỉ tiêu phát triển kinh tế đứng thứ 2 sau thành phố Bắc Ninh Song song với quá trình CNH – HĐH, thị xã Từ Sơn cũng đã có những bước tiến dài trong lĩnh vực ĐTH Năm 1999, toàn huyện Từ Sơn mới có 3,4% dân số đô thị (tương ứng với 3.944 người), năm 2005 là 3,1 % (tương ứng với 3.991 người) nhưng đến năm 2010, sau khi lên thị xã và trở thành đô thị loại IV thì dân số đô thị tăng lên nhanh chóng, đạt 61,6% (tương ứng với 88.212 người)

Như vậy, thị xã Từ Sơn là khu vực có lịch sử phát triển lâu đời – vùng đất

“địa linh nhân kiệt”, giàu truyền thống yêu nước và cách mạng, nơi phát tích vương triều nhà Lý tạo dựng lên Nhà nước Đại Việt, mảnh đất nổi tiếng là “đất trăm nghề”, …nên từ rất sớm nơi đây đã có con người sinh sống với mật độ dân

cư ngày càng cao và với cơ sở hạ tầng khá phát triển, là tiền đề cho quá trình đô thị hóa thời kỳ đổi mới

2.2 Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến quá trình đô thị hóa ở thị xã Từ Sơn

2.2.1 Vị trí địa lý

Thị xã Từ Sơn nằm ở phía Tây tỉnh Bắc Ninh, cách trung tâm tỉnh 13 km

về phía Tây Nam, cách thủ đô Hà Nội 18 km về phía Đông Bắc Toạ độ địa lý của thị xã nằm trong khoảng:

Trang 30

- Phía Nam giáp huyện Gia Lâm - TP.Hà Nội

- Phía Đông: giáp huyện Tiên Du

- Phía Tây: giáp huyện Gia Lâm, Đông Anh - TP.Hà Nội

Địa bàn thị xã có Quốc lộ 1A, 1B và đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn chạy qua Việc đầu tư xây dựng, mở rộng nâng cấp tỉnh lộ 287 nối QL1A với QL38

và thông thương với sân bay quốc tế Nội Bài là cơ hội mới để Từ Sơn tiếp cận nhanh hơn với các địa phương trong nước và quốc tế

Hệ thống các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ cùng với hệ thống các tuyến đường nội thị hình thành nên mạng lưới giao thông rất thuận lợi, tạo cho thị xã có thế

mạnh trong việc giao lưu kinh tế, văn hóa và tiêu thụ sản phẩm

Từ Sơn là một thị xã đồng bằng, đất đai màu mỡ, hệ thống thuỷ lợi tương đối hoàn chỉnh thuận lợi cho việc phát triển thâm canh lúa chất lượng cao Là thị xã có truyền thống cách mạng và văn hóa lâu đời với nhiều di tích lịch sử văn hóa: Đền Đô, Đền Bính Hạ, Đềm Đầm, Chùa Tiêu, Chùa Ứng Tâm Từ Sơn còn là thị xã có các làng nghề truyền thống như: nghề sơn mài Đình Bảng, mộc mỹ nghệ Phù Khê, Đồng Kỵ, rèn sắt Đa Hội, dệt Tương Giang…

Với vị trí địa lý như trên tạo điều kiện thuận lợi cho Từ Sơn trong giao lưu kinh tế, mở rộng thị trường, thu hút vốn đầu tư phát triển công nghiệp, thương mại và dịch vụ, khai thác lợi thế nguồn nhân lực để phát triển sản xuất hàng hóa

Trang 31

Hình 2.1 Bản đồ hành chính thị xã Từ Sơn

Trang 32

2.2.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên

Số giờ nắng trung bình các tháng/năm 139,32 giờ, số giờ nắng tháng thấp nhất 46,9 giờ (tháng 2), tháng có số giờ nắng cao nhất 202,8 giờ (tháng 7) Tổng

số giờ nắng trong năm 1671,9 giờ

Độ ẩm không khí trung bình năm 84%, trong đó tháng có độ ẩm không khí lớn nhất là 88% (tháng 3), tháng có độ ẩm không khí thấp nhất 70% (tháng 12)

Nhìn chung Từ Sơn có điều kiện khí hậu thuận lợi có thể phát triển một

nền nông nghiệp đa dạng và phong phú Yếu tố hạn chế lớn nhất là mưa lớn tập

trung theo mùa thường gây ngập úng các khu vực thấp trũng và uy hiếp các công trình thuỷ lợi gây khó khăn cho việc tăng vụ mở rộng diện tích

b) Địa chất, địa hình

* Địa chất

Đặc điểm địa chất thị xã Từ Sơn tương đối đồng nhất Nằm gọn trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng nên Từ Sơn mang những nét đặc trưng của cấu trúc địa chất sụt trũng sông Hồng, trong khối kết tinh ackei – paleozoi Mặt khác, do nằm trong miền kiến tạo Đông Bắc nên có những nét mang tính chất của vùng Đông Bắc Trải qua giai đoạn phát triển tam giác châu và hiện nay đang trong giai đoạn phát triển của đồng bằng bồi tích phù sa sông Quá trình bồi lấp của đồng bằng tuy chưa hoàn thiện, nhưng hiện đã bị ngừng do hệ thống

đê ngăn lũ dọc các sông lớn

* Địa hình

Do nằm trong vùng đồng bằng Sông Hồng nên địa hình Từ Sơn khá bằng phẳng Hầu hết diện tích đất trong thị xã đều có độ dốc < 30 Địa hình

Trang 33

vùng bằng có xu thế nghiêng ra biển theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Độ cao trung bình 2,5 – 6,0 m so với mặt nước biển

Nhìn chung địa hình của thị xã thuận lợi cho việc phát triển mạng lưới giao thông, thuỷ lợi, xây dựng cơ sở hạ tầng, mở rộng mạng lưới khu dân cư, các khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và kiến thiết đồng ruộng tạo ra những vùng chuyên canh lúa chất lượng cao, phát triển rau màu và cây công nghiệp ngắn ngày

c) Tài nguyên nước

- Nguồn nước mặt: Từ Sơn có nguồn nước mặt tương đối dồi dào, bao gồm: sông Ngũ Huyện Khê, ngòi Ba Xã và hàng trăm ha mặt nước ao hồ Sông Ngũ Huyện Khê là nguồn nước mặt chủ yếu của thị xã Từ Sơn và là ranh giới với huyện Yên Phong Đoạn sông Ngũ Huyện Khê chảy qua phía Nam thị xã từ phường Châu Khê qua phường Đồng Kỵ, xã Hương Mạc, xã Tam Sơn rồi chảy sang huyện Yên Phong, dài khoảng 10km Sông Ngũ Huyện Khê nối liền sông Cầu, rất thuận lợi cho tưới tiêu Tuy nhiên sông Ngũ Huyện Khê là con sông phải chịu tiếp nhận nước thải nhiều nhất từ các làng nghề trên địa bàn tỉnh Ước tính tổng lượng nước thải xả xuống dòng sông là 20.000(m3/ngày), chất lượng nước sông đã bị xuống cấp nghiêm trọng, dòng sông trở thành một mương thoát nước thải của làng nghề

Hệ thống sông ngòi, kênh mương cùng với số lượng ao hồ hiện có tạo điều kiện cung cấp nước ngọt quanh năm cho sản xuất, sinh hoạt cũng như cải tạo đất

- Nguồn nước ngầm: Qua thực tế sử dụng của người dân trong thị xã cho thấy mực nước ngầm có độ sâu trung bình từ 2- 5 m, chất lượng nước tốt, có thể khai thác phục vụ sinh hoạt và tưới cho các cây trồng tại các vườn gia đình trong mùa khô, góp phần tăng sản phẩm và thu nhập cho nông dân

d) Tài nguyên đất

Tính đến ngày 1/1/2010 tổng diện tích đất tự nhiên của thị xã là: 6.133,23

ha, trong đó:

- Đất nông nghiệp: 3.172,46 ha, chiếm 51,73%

- Đất phi nông nghiệp: 2.939,94 ha, chiếm 47,93%

- Đất chưa sử dụng: 20,83 ha, chiếm 0,34%

Về lý tính: Đa phần đất có thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt

nhẹ, có kết cấu viên hạt dung tích hấp thụ cao Đất có ưu thế trong thâm canh lúa,

Trang 34

Về hóa tính: Tỷ lệ mùn ở mức trung bình đến khá Đạm tổng số khá đến giàu Lân tổng số và lân dễ tiêu nghèo, kali từ nghèo đến trung bình Độc tố trong đất hầu như chỉ có ở đất gley bao gồm các dạng khí CH4, H2S…

2.2.3 Các nhân tố kinh tế - xã hội

Trong quá trình ĐTH, các nhân tố tự nhiên thường ảnh hưởng lớn đến việc tạo nên những nét riêng biệt về kiến trúc cảnh quan của một đô thị, nhưng

sự thay đổi này diễn ra chậm Trong thời kỳ đổi mới, các nhân tố KT – XH có tác động mạnh mẽ, mang tính quyết định đến tốc độ ĐTH ở thị xã Từ Sơn

a) Dân cư – lao động

- Quy mô dân số của toàn thị xã ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô dân số

đô thị Dân số của thị xã tính đến 31/12/2010 là 143.105 người (tăng 1,25 lần so với năm 1999), chiếm 14% dân số của toàn Bắc Ninh và 0,17% dân số toàn quốc

- Quá trình phát triển dân số dẫn đến những biến động về quy mô dân số

đô thị: Tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên của thị xã Từ Sơn cao hơn so với toàn tỉnh

và cả nước Năm 2010, tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên của thị xã là 1,5% (Bắc Ninh 1,24%, cả nước 1,03%)

Bảng 2.1 Gia tăng dân số tự nhiên của thị xã Từ Sơn

giai đoạn 1999 - 2010

Năm Dân số trung

bình (người)

Tỷ xuất sinh (%o)

Tỷ xuất tử (%o)

Gia tăng tự nhiên (%)

Nguồn: Phòng thống kê Từ Sơn 2000, 2005, 2010

- Nguồn lao động của thị xã ảnh hưởng đến quy mô và chất lượng nguồn lao động trong đô thị Năm 2010, số người trong độ tuổi lao động của Thị xã là

91.550 người (chiếm 64% số dân của toàn thị xã); trong cơ cấu lao động, khu vực nông nghiệp còn chiếm tỉ trọng khá cao (36%)

Chất lượng nguồn nhân lực của thị xã luôn ở mức cao so với bình quân chung của tỉnh Trong cơ cấu trình độ chuyên môn, cứ 1 lao động có trình độ Cao đẳng, Đại học trở lên thì có 1,7 lao động Trung học chuyên nghiệp và 13

Trang 35

lao động Sơ cấp và Công nhân kỹ thuật (tỷ lệ: 1; 1,7; 13); so với chung toàn tỉnh

là (1; 1,6; 5,8) và chuẩn quốc tế là (1; 4; 10) [25]

b) Sự phát triển kinh tế của Thị xã Từ Sơn

Sự phát triển kinh tế là yếu tố có tính chất quyết định đến sự phát triển đô thị, hình thành nên chức năng của đô thị Đặc biệt là sự phát triển của ngành công nghiệp và dịch vụ Sự phát triển nền kinh tế bắt nguồn từ quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa là tiền đề cho quá trình đô thị hóa

Giá trị tổng sản phẩm theo giá thực tế của cả nền kinh tế thị xã và của từng ngành có xu hướng tăng Năm 2010, giá trị thực tế của nền kinh tế thị xã đạt 8.232,8 tỉ đồng (gấp 12,1 lần giá trị năm 1999) Trong đó, ngành công nghiệp có giá trị cao nhất 4.752 tỉ đồng, sau đó là ngành dịch vụ 3.333,7 tỉ đồng, ngành nông nghiệp 174,1 tỉ đồng

Bảng 2.2 Giá trị tổng sản phẩm theo giá thực tế phân theo

khu vực kinh tế (Đơn vị: tỉ đồng)

xã, 10.214 hộ kinh tế sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp (CN - TTCN)

và 9 cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài, đã giải quyết việc làm thường xuyên cho 43.645 lao động, giá trị sản xuất CN – TTCN năm 2009 ước đạt 3.569,5 tỉ đồng,

Trang 36

Đến nay, thị xã có 11 khu, cụm công nghiệp, tăng 5 khu, cụm công nghiệp

so với năm 2005 Trong đó, 7 cụm công nghiệp đang hoạt động hiệu quả, điển hình như: Cụm công nghiệp sản xuất sắt thép Châu Khê 1, cụm công nghiệp sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Quang, cụm CN đa nghề Đình Bảng; cụm CN-TTCN trung tâm thị xã

Sự tăng trưởng của ngành CN - TTCN của thị xã đã chiếm một tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế Sự hình thành và phát triển của một số khu công nghiệp (KCN), cụm công nghiệp (CCN) đã có tác động mạnh mẽ đến khả năng phát triển của các ngành và một số loại hình dịch vụ khác, làm cho cơ cấu kinh tế của thị xã có sự chuyển dịch đúng hướng, phát huy được hiệu quả và tạo tiền đề đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, từ đó thúc đẩy quá trình đô thị hóa của thị xã

d) Đường lối chính sách

Lãnh đạo thị xã đã nghiên cứu, triển khai và cụ thể hóa hàng loạt các chính sách phát triển đúng đắn, nhất quán:

- Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho quá trình phát triển KT - XH

- Coi phát triển công nghiệp là nền tảng, đồng thời tiếp tục khôi phục, cải thiện các làng nghề truyền thống và tiểu thủ công nghiệp; đầu tư phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa; quy hoạch xây dựng các cụm, khu công nghiệp

- Không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho nguồn lao động của thị xã, đồng thời còn hình thành được một đội ngũ doanh nhân có trình

độ nhất định, có kinh nghiệm và năng động trong việc khai thác các cơ hội kinh doanh trên nhiều lĩnh vực

- Khai thác triệt để các nguồn nội lực trong thị xã và mở cửa mạnh mẽ để thu hút nguồn lực từ ngoài thị xã; tạo được môi trường đầu tư có tính cạnh tranh cao so với các địa phương lân cận (ngoài những chính sách chung của nhà nước, thị xã Từ Sơn còn ban hành nhiều ưu đãi riêng cho các nhà đầu tư) từ đó thu hút được nhiều dự án đầu tư (đặc biệt là đầu tư trực tiếp nước ngoài)

- Không ngừng hoàn thiện môi trường thể chế, cải cách hành chính để nâng cao hiệu quả và hiệu lực của quản lý Nhà nước trên địa bàn

e) Vốn đầu tư và các dự án phát triển đô thị

Tổng số vốn đầu tư phát triển thị xã tăng nhanh là điều kiện thuận lợi để thực hiện có hiệu quả các mục tiêu phát triển của đô thị: năm 2010 là 4.003 tỷ đồng, tổng vốn đầu tư tăng 14 lần so với năm 2000

Trang 37

Các dự án đầu tư có ý nghĩa lớn trong việc phát huy thế mạnh của khu vực đô thị và khai thác các nguồn lực phát triển đô thị từ bên ngoài Kể từ khi

dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) đầu tiên được cấp phép và triển khai từ năm 2003 đến hết năm 2010, thị xã Từ Sơn đã có 27 dự án được cấp phép (chiếm 31,4% số dự án FDI của toàn tỉnh Bắc Ninh) với tổng số vốn đăng ký là 98 triệu USD Đồng thời, thị xã đã thu hút hàng trăm dự án đầu tư trong nước vào các khu công nghiệp tập trung với tống số vốn đăng ký lên tới gần 2000 tỷ đồng

2.3 Đặc điểm quá trình đô thị hóa ở Thị xã Từ Sơn

2.3.1 Số dân thành thị tăng nhanh

Thị xã Từ Sơn có số dân thành thị vào loại cao ở trong tỉnh Bắc Ninh (đứng thứ 2 sau thành phố Bắc Ninh) Năm 1999, khi chưa nâng cấp lên thị xã thì dân số thành thị trên địa bàn mới chỉ có 3.944 người (chiếm 3,4% tổng dân

số của khu vực Từ Sơn) Năm 2008, được nâng nâng cấp thành thị xã, trở thành

đô thị loại IV thì quy mô dân thành thị của Từ Sơn tăng lên nhanh chóng, đạt 87.069 người vào năm 2009 và 88.212 người vào năm 2010 (chiếm 61,6% tổng dân số của thị xã Từ Sơn và 32,9% dân số thành thị của toàn tỉnh Bắc Ninh)

Bảng 2.3 Quy mô dân thành thị của thị xã Từ Sơn

giai đoạn 1999 – 2010

(Người)

Dân số thành thị (Người)

Trang 38

Nhìn chung, số dân thành thị của thị xã Từ Sơn giai đoan 1999 – 2010 là

có xu hướng tăng lên, đặc biệt tăng lên nhanh chóng từ sau khi huyện Từ Sơn được nâng cấp lên thị xã và là đô thị loại IV Cụ thể: năm 1999, dân số thành thị đạt 3.944 người, chiếm 3,4% tổng dân số của huyện Từ Sơn đến năm 2010 tăng lên 88.212 người (tăng gấp 22,4 lần so với năm 2010) chiếm 61,6% tổng dân số của thị xã Từ Sơn Theo dự báo đến 2020, sô dân thành thị của thị xã Từ Sơn sẽ

là 163.716 người, chiếm 78,6% dân số của toàn thị xã Từ Sơn

Dân số thành thị của thị xã từ Sơn tăng do tác động đồng thời của các quá trình gia tăng tự nhiên, chuyển cư và việc thành lập thị xã Từ Sơn (24/09/2008) Trong đó, dân thành thị trên địa bàn tăng đột biến từ 4.153 người (năm 2008) lên 88.212 người (năm 2010) chủ yếu là do việc thành lập thị xã Từ Sơn với 7 phường và 5 xã

2.3.2 Mức độ đô thị hóa cao so với trong toàn tỉnh Bắc Ninh

Số dân thành thị tăng nhanh đã làm cho mức độ đô thị hóa trên địa bàn thị

xã Từ Sơn ngày càng tăng cao

Bảng 2.4 Mức độ đô thị hóa của thị xã Từ Sơn giai đoạn 1999 – 2010

Đơn vị:%

NNăm 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 Mức

độ

ĐTH

3,4 3,2 3,0 3,1 3,1 3,1 3,1 3,2 3,2 3,1 61,7 61,6

Nguồn: Phòng thống kê thị xã Từ Sơn 1999, 2005, 2010

Ta thấy, mức độ đô thị hóa của thị xã Từ Sơn từ năm 1999 đến năm 2010

có thể chia làm 2 giai đoạn: giai đoạn 1999 – 2005, thị xã Từ Sơn có mức độ đô thị hóa thấp và có xu hướng giảm từ 3,4% (năm 1999) xuống còn 3,1% (năm 2005); giai đoan 2006 – 2010, thị xã Từ Sơn có mức độ đô thị hóa ngày càng tăng cao, từ 3,2% (năm 2006) tăng lên 61,6% (năm 2010) Nguyên nhân là do việc thành lập thị xã Từ Sơn và thành lập các phường trong thị xã đã khiến cho

tỷ lệ dân thành thị ngày càng cao

Bảng 2.5 Mức độ đô thị hóa của thị xã Từ Sơn so với các khu vực khác trong tỉnh Bắc Ninh, năm 2010

Khu vực Tổng dân số

(Người)

Dân số thành thị (Người)

Mức độ đô thị hóa (%)

Trang 39

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bắc Ninh 2010

Ta thấy, thị xã Từ Sơn có tỷ lệ đô thị hóa tương đối cao so với các khu vực khác trong tỉnh Năm 2010, thị xã Từ Sơn có tỷ lệ đô thị hóa là 61,6%, cao thứ 2 sau thành phố Bắc Ninh (thành phố Bắc Ninh có mức độ đô thị hóa năm

2010 là 71,6%), cao hơn so với mức trung bình của toàn tỉnh và cao hơn nhiều

so với các huyện khác trong tỉnh

Trên cơ sở sử dụng chỉ số đô thị - nông thôn đã phân tích trong chương 1,

đề tài tiến hành phân tích xu hướng biến đổi của chỉ số này dựa trên số liệu thống kê của thị xã Từ Sơn giai đoạn 1999 – 2010

0 0.2

0.4

0.6

0.8

1 1.2

Nguồn: Phòng thống kê thị xã Từ Sơn năm 1999, 2005, 2010

Biểu đồ trên cho thấy chỉ số đô thị - nông thôn của thị xã Từ Sơn có sự biến đổi lớn từ từ năm 2009 đến nay Trong giai đoạn từ 1999 – 2008, chỉ số đô thị - nông thôn ở dưới mức 0,2% Kể từ năm 2009 trở đi, chỉ số này tăng lên và đạt giá trị là 1,6% Nguyên nhân của sự tăng đột biến này là do thành lập thị xã

Từ Sơn và thành lập các phường trong thị xã đã khiến cho tỷ lệ dân thành thị ngày càng cao Xu hướng biến đổi của chỉ số này cho thấy quá trình đô thị hóa đang diễn ra trên địa bàn thị xã Từ Sơn có biến đổi nhanh chóng trong vòng 10 năm trở lại đây Những tác động của quá trình đô thị hóa tới biến đổi kinh tế - xã hội của thị xã Từ Sơn sẽ được phân tích, đánh giá trong phần tiếp theo của đề

Trang 40

sẽ tăng lên là 3,7% Như vậy trong tương lai tỷ lệ dân thành thị của khu vực sẽ còn cao hơn nữa

2.3.3 Dân cư tập trung đông ở khu vực nội thị

Mật độ dân số trên toàn thị xã Từ Sơn vào loại cao so với các khu vực khác trong tỉnh Năm 2010, mật độ dân số toàn thị xã là 2.364 người/km2, tăng 1,24 lần so với mật độ dân số của thị xã năm 2000 Mật độ dân số tăng nhanh chủ yếu là do tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên cao (năm 2010 là 1,5%, đứng thứ 2 trong tỉnh sau huyện Yên Phong), sự phát triển của các khu công nghiệp – TTCN đã thu hút lực lượng lao động ở các khu vực lân cận làm gia tăng dân nhập cư đến địa bàn, trong khi đó diện tích đất tự nhiên của khu vực hầu như không có gì thay đổi trong vòng 10 năm

Dân cư thị xã Từ Sơn phân bố không đồng đều, tập trung đông ở khu vực nội thị và thưa thớt ở khu vực ngoại thị Năm 2010, khu vực nội thị (chiếm 61,7% dân số toàn thị xã) có mật độ dân số trung bình 2.752 người/km2, khu vực ngoại thị (chiếm 38,3% dân số) có mật độ trung bình 1.875 người/km2

Khu vực nội thị 12.540 12.307 2.714 2.752 -9.788

Khu vực ngoại thị 1.860 1.914 1.851 1.875 +15

Nguồn: Phòng thống kê thị xã Từ Sơn 2000, 2005, 2010

Phân bố dân cư có xu hướng thay đổi là giảm mật độ dân số ở khu vực đô thị cũ, từ 12.540 người/km2

(năm 2000) xuống còn 12.307 người/km2 (năm 2003); tăng mật độ dân số ở khu vực nội thị mới, từ 2.714 người/km2

(năm 2009) lên 2.752 người/km2

(năm 2010) Mật độ dân số giữa khu vực đô thị mới

và cũ chênh lệch nhau khá lớn (- 9.788) Nguyên nhân là do sau khi trở thành thị

xã, thành lập thêm 1 số phường mới đã làm cho diện tích khu vực nội thị được

mở rộng nên mật độ dân số ở khu vực đô thị mới giảm đi nhiều so với khu vực

đô thị cũ

Trên cơ sở những số liệu thu thập và xử lý, tác giả đã xây dựng bản đồ mật độ dân số phân theo các xã, phường trên địa bàn thị xã Từ Sơn, giai đoạn

2000 – 2010

Ngày đăng: 03/11/2015, 04:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Bản đồ hành chính thị xã Từ Sơn - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học phục vụ phát triển bền vững làng nghề quảng bố, xã quảng phú, huyện lương tài, tỉnh bắc ninh
Hình 2.1. Bản đồ hành chính thị xã Từ Sơn (Trang 31)
Bảng 2.4. Mức độ đô thị hóa của thị xã Từ Sơn giai đoạn 1999 – 2010 - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học phục vụ phát triển bền vững làng nghề quảng bố, xã quảng phú, huyện lương tài, tỉnh bắc ninh
Bảng 2.4. Mức độ đô thị hóa của thị xã Từ Sơn giai đoạn 1999 – 2010 (Trang 38)
Hình 2.4. Bản đồ mật độ dân số phân theo xã, phường - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học phục vụ phát triển bền vững làng nghề quảng bố, xã quảng phú, huyện lương tài, tỉnh bắc ninh
Hình 2.4. Bản đồ mật độ dân số phân theo xã, phường (Trang 42)
Bảng 3.5 Thống kê chỉ số đa dạng trong nông nghiệp phân theo phường, xã - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học phục vụ phát triển bền vững làng nghề quảng bố, xã quảng phú, huyện lương tài, tỉnh bắc ninh
Bảng 3.5 Thống kê chỉ số đa dạng trong nông nghiệp phân theo phường, xã (Trang 48)
Hình 3.1. Bản đồ đa dạng các loại cây trồng trên - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học phục vụ phát triển bền vững làng nghề quảng bố, xã quảng phú, huyện lương tài, tỉnh bắc ninh
Hình 3.1. Bản đồ đa dạng các loại cây trồng trên (Trang 49)
Hình 3.2. Bản đồ đa dạng các loại cây trồng trên - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học phục vụ phát triển bền vững làng nghề quảng bố, xã quảng phú, huyện lương tài, tỉnh bắc ninh
Hình 3.2. Bản đồ đa dạng các loại cây trồng trên (Trang 50)
Bảng 3.13. Hiện trạng sử dụng đất thị xã Từ Sơn (Tính đến ngày 01/01/2010) - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học phục vụ phát triển bền vững làng nghề quảng bố, xã quảng phú, huyện lương tài, tỉnh bắc ninh
Bảng 3.13. Hiện trạng sử dụng đất thị xã Từ Sơn (Tính đến ngày 01/01/2010) (Trang 58)
Bảng 3.14. Thống kê biến động đất theo mục đích sử dụng  trên địa bàn thị xã Từ Sơn giai đoạn 2000 - 2005 - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học phục vụ phát triển bền vững làng nghề quảng bố, xã quảng phú, huyện lương tài, tỉnh bắc ninh
Bảng 3.14. Thống kê biến động đất theo mục đích sử dụng trên địa bàn thị xã Từ Sơn giai đoạn 2000 - 2005 (Trang 59)
Bảng 3.16. Tổng hợp tình hình biến động đất trên địa bàn thị xã Từ Sơn - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học phục vụ phát triển bền vững làng nghề quảng bố, xã quảng phú, huyện lương tài, tỉnh bắc ninh
Bảng 3.16. Tổng hợp tình hình biến động đất trên địa bàn thị xã Từ Sơn (Trang 63)
Hình 3.3. Biểu đồ biến động một số loại đất trên địa bàn thị xã Từ Sơn, - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học phục vụ phát triển bền vững làng nghề quảng bố, xã quảng phú, huyện lương tài, tỉnh bắc ninh
Hình 3.3. Biểu đồ biến động một số loại đất trên địa bàn thị xã Từ Sơn, (Trang 64)
Hình 3.2. Bản đồ mật độ hữu hiệu phân theo thị trấn, xã - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học phục vụ phát triển bền vững làng nghề quảng bố, xã quảng phú, huyện lương tài, tỉnh bắc ninh
Hình 3.2. Bản đồ mật độ hữu hiệu phân theo thị trấn, xã (Trang 66)
Hình 3.3. Bản đồ mật độ hữu hiệu phân theo xã, phường của - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học phục vụ phát triển bền vững làng nghề quảng bố, xã quảng phú, huyện lương tài, tỉnh bắc ninh
Hình 3.3. Bản đồ mật độ hữu hiệu phân theo xã, phường của (Trang 67)
Bảng 3.21. Một số chỉ tiêu về y tế của thị xã giai đoạn 2000 - 2010 - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học phục vụ phát triển bền vững làng nghề quảng bố, xã quảng phú, huyện lương tài, tỉnh bắc ninh
Bảng 3.21. Một số chỉ tiêu về y tế của thị xã giai đoạn 2000 - 2010 (Trang 73)
Hình 3.6. Cơ cấu thu nhập bình quân đầu người của thị xã Từ Sơn - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học phục vụ phát triển bền vững làng nghề quảng bố, xã quảng phú, huyện lương tài, tỉnh bắc ninh
Hình 3.6. Cơ cấu thu nhập bình quân đầu người của thị xã Từ Sơn (Trang 79)
Hình 3.7. Chi tiêu cho đời sống bình quân đầu người/1 tháng theo giá thực tế  phân theo khoản chi trên địa bàn thị xã Từ Sơn giai đoạn 2004 - 2010 - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học phục vụ phát triển bền vững làng nghề quảng bố, xã quảng phú, huyện lương tài, tỉnh bắc ninh
Hình 3.7. Chi tiêu cho đời sống bình quân đầu người/1 tháng theo giá thực tế phân theo khoản chi trên địa bàn thị xã Từ Sơn giai đoạn 2004 - 2010 (Trang 79)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w