1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát các chỉ tiêu an toàn và hiệu lực của vacxin phòng bệnh xuất huyết truyền nhiễm thỏ

96 769 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 5,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Danh mục bảng Bảng 2.2 Các đặc điểm quyết định tính sinh miễn dịch 21 Bảng 4.1 Thời gian chết của thỏ thí nghiệm bị gây nhiễm virus RHD ở Bảng 4.2 Kết quả xác định hiệu giá virus bằng ph

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp I

Trang 2

Lời cam đoan

- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này

đ1 được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đ1 được chỉ rõ

về nguồn gốc

Tác giả luận văn

Lương Xuân Thế

Trang 3

Lời cảm ơn

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường ĐHNN 1, Khoa sau

đại học, Khoa chăn nuôi thú y cùng các thầy cô giáo trong nhà trường đ1 tận tình giảng dạy, tạo điều kiện cho tôi được tiếp cận với những kiến thức khoa học về nông nghiệp trong 2 năm học ở trường

Để hoàn thành tập luận văn này, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình của thầy hướng dẫn khoa học TS Trần Thị Liên, phó giám đốc Xí nghiệp thuốc thú y TW, thầy PGS-TS Trương Quang, nguyên chủ nhiệm khoa chăn nuôi thú y

Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi luôn nhận được sự động viên giúp

đỡ, tạo điều kiện của Ban l1nh đạo Xí nghiệp thuốc thú y TW, Ban l1nh đạo Trung tâm nghiên cứu dê thỏ Sơn Tây; các cô, chú, anh, chị, em trong phân xưởng vacxin Siêu vi trùng, Vacxin Vi Trùng, phân xưởng Huyết thanh chăn nuôi, phòng giống kiểm nghiệm của Xí nghiệp thuốc thú y TW và Trung tâm nghiên cứu dê, thỏ Sơn tây cùng các bạn bè đồng nghiệp

Tôi xin bày tỏ tấm lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, người thân đ1 động viên giúp đỡ tôi vượt qua mọi khó khăn trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu thực hiện đề tài

Tác giả luận văn

Lương Xuân Thế

Trang 4

Môc lôc

2.1 LÞch sö vÒ bÖnh xuÊt huyÕt truyÒn nhiÔm thá (RHD) 3 2.2 T×nh h×nh nghiªn cøu bÖnh RHD trong vµ ngoµi n−íc 5 2.3 S¬ l−îc vÒ t×nh h×nh ch¨n nu«i thá ë ViÖt Nam 7 2.4 Virus häc bÖnh xuÊt huyÕt truyÒn nhiÔm thá 10 2.5 MiÔn dÞch chèng bÖnh xuÊt huyÕt truyÒn nhiÔm thá 18

2.7 DÞch tÔ häc bÖnh xuÊt huyÕt truyÒn nhiÔm thá 35

3 Néi dung, nguyªn liÖu vµ ph−¬ng ph¸p nghiªn cøu 45

4.1 KÕt qu¶ nghiªn cøu vÒ quy tr×nh s¶n xuÊt vacxin 52 4.2 PhÇn kÕt qu¶ nghiªn cøu vÒ kiÓm nghiÖm vacxin 55

Trang 5

4.2.4 Kết quả kiểm tra diễn biến hiệu giá kháng thể trong huyết thanh của thỏ sau

4.2.5 Kết quả xác định đường tiêm phòng có hiệu quả của vacxin RHD (dưới da cổ

Trang 6

Danh mục các chữ viết tắt

AND : Acid Deoxyribonucleic

(Phân tử AND bổ sung) EBHS : European Brown Hare Syndrome

(Hội chứng thỏ nâu Châu Âu ) EBHSV : European Brown Hare Syndrome Virus

(Virus gây ra hội chứng thỏ nâu Châu Âu)

(Ng−ng kết hồng cầu)

HI : Haemagglutination Inhibition

(ức chế ng−ng kết hồng cầu) OIE : Office International des Epizooties

(Tổ chức dịch tễ thế giới) PBS : Phosphate – Buferred – Saline

(Dung dịch muối đệm phốt phát) RHD : Rabbit haemorrhagic Disease

(Bệnh xuất huyết truyền nhiễm thỏ) RHDV : Rabbit haemorrhagic Disease Virus

(Virus gây bệnh xuất huyết truyền nhiễm thỏ) RT-PCR : Reserse Transcriptase – Polymerase Chain

Reaction (Phản ứng chuỗi polymerase phiên m1 ng−ợc)

Trang 7

Danh mục bảng

Bảng 2.2 Các đặc điểm quyết định tính sinh miễn dịch 21 Bảng 4.1 Thời gian chết của thỏ thí nghiệm bị gây nhiễm virus RHD ở

Bảng 4.2 Kết quả xác định hiệu giá virus bằng phản ứng HA trong

gan, thận thỏ được gây nhiễm virus ở các độ pha lo1ng khác

Bảng 4.4 Kết quả kiểm tra vô trùng của vacxin RHD 56 Bảng 4.5 Kết quả kiểm tra an toàn của vacxin RHD 57

Bảng 4.7 Thời gian chết ở thỏ đối chứng sau khi công cường độc virus

Bảng 4.8 Kết quả bệnh tích thỏ đối chứng chết sau khi công cường

Bảng 4.9 Kết quả kiểm tra hiệu giá kháng thể thụ động kháng RHDV

Bảng 4.10 Diễn biến hiệu giá kháng thể trong huyết thanh của thỏ (2

tháng tuổi) sau khi tiêm vacxin RHD ở các liều tiêm khác nhau 64 Bảng 4.11 Kết quả xác định đường tiêm phòng có hiệu quả của vacxin

Bảng 4.12 Kết quả khảo sát diễn biến hiệu giá kháng thể ở thỏ thịt ( 2

Bảng 4.13 Kết quả kiểm tra diễn biến hiệu giá kháng thể kháng virus

trong huyết thanh của thỏ bố mẹ ( 7,5 tháng tuổi ) được tiêm

Trang 8

Danh mục hình

Hình 2.1 Hình thái virus RHD nhìn dưới kính hiển vi điện tử 11 Hình 2.2 Triệu chứng bệnh xuất huyết truyền nhiễm trên thỏ 37 Hình 2.3 Bệnh tích của bệnh bại huyết thỏ (ở gan, và nội tạng) 38 Hình 4.1 Diễn biến hiệu giá kháng thể trung bình của 3 nhóm thỏ 63 Hình 4.2 Diễn biến hiệu giá kháng thể trung bình của 4 nhóm thỏ được

Hình 4.3 Sự biến động hiệu giá kháng thể trung bình của thỏ được

tiêm vacxin RHD ở các đường tiêm khác nhau 69 Hình 4.4 Diễn biến hiệu giá kháng thể trung bình của thỏ thịt được

tiêm vacxin RHD đầu tiên lúc 2 tháng tuổi 74 Hình 4.5 Diễn biến hiệu giá kháng thể trung bình của thỏ bố mẹ được

Trang 9

1 Mở đầu

1.1 Đặt vấn đề

Bệnh xuất huyết truyền nhiễm thỏ (Rabbit Haemorrhagic Disease –RHD) là một bệnh gây chết cấp tính và truyền nhiễm cao ở thỏ nuôi cũng như thỏ hoang dại, nguyên nhân gây ra bởi Calicivirus[48] Bệnh xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc vào năm 1984[42] và đến nay, bệnh có ở hầu hết các châu lục ở các nước có nghề nuôi thỏ phát triển và gây thiệt hại rất lớn Sự bùng nổ dịch đ1 được ghi nhận ở Trung Mỹ (Mexico và Cuba), các Tiểu Vương Quốc

ả Rập và Tây Bắc Phi Năm 2000 và 2001, ba vụ bùng nổ dịch độc lập đ1 diễn

ra ở Mỹ[48]

RHD được đặc thù bởi tỷ lệ ốm và tỷ lệ chết cao (40-90%) và lây lan rất nhanh, mạnh bởi sự truyền lây trực tiếp và gián tiếp của căn bệnh Sự truyền lây có thể diễn ra qua đường miệng, mắt hoặc mũi Khả năng truyền lây của RHD rất dễ dàng và thuận lợi nhờ sự ổn định cao và đề kháng của virus ngoài môi trường

Theo điều tra của Australia trong chương trình phòng chống bệnh này

đ1 thông báo chỉ trong vòng vài tháng bệnh xuất huyết truyền nhiễm thỏ đ1 giết chết 64 triệu thỏ được nuôi ở Italia [29]

ở nước ta, bệnh xuất hiện vào năm 2000 và được trung tâm chẩn đoán thú

y quốc gia xác định là bệnh xuất huyết do virus RHD[12] Đặc biệt, vào tháng 4 năm 2003 bệnh xuất hiện ở thỏ nuôi tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa, Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương, Lâm Đồng, Long An và Tiền Giang Hàng chục ngàn thỏ bị chết trong một khoảng thời gian rất ngắn gây thiệt hại và hoang mang cho người chăn nuôi thỏ [6]

Giai đoạn ủ bệnh khác nhau từ 1-3 ngày và chết thường xuất hiện trong

Trang 10

Tiêm phòng bằng vacxin và thực hiện chương trình an toàn sinh học là biện pháp lựa chọn duy nhất để phòng bệnh có hiệu quả Một số công trình nghiên cứu về vacxin đ1 được công bố như Vacxin vô hoạt [47], Vacxin Subunit (Boga.et al.1994), vacxin tái tổ hợp[40] Tuy nhiên, vacxin thường dùng phòng bệnh còn phụ thuộc vào đặc điểm dịch tễ từng vùng khác nhau Thỏ

được tiêm vacxin có miễn dịch sau 3-7 ngày và miễn dịch kéo dài từ 6 tháng

đến 1 năm [6]

Xí nghiệp thuốc thú y Trung ương đ1 nghiên cứu sản xuất vacxin phòng bệnh xuất huyết truyền nhiễm ở thỏ theo công nghệ sản xuất vacxin hiện hành trên thế giới, là loại vacxin vô hoạt, virus giống độc được gây nhiễm cho thỏ sau đó chọn thời điểm thích hợp giết thỏ, thu hoạch tổ chức gan, thận để sản xuất vacxin[11]

Đây là loại vacxin được sản xuất và đ1 bước đầu sử dụng để tiêm phòng cho thỏ nuôi tập trung ở các địa phương có hiệu quả tốt

Vacxin xuất huyết truyền nhiễm thỏ là loại vacxin mới được nghiên cứu sản xuất ở trong nước trong một thời gian tương đối ngắn cho nên có một số vấn đề về sử dụng vacxin chưa được hoàn thiện vì vậy chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Khảo sát các chỉ tiêu an toàn và hiệu lực của vacxin phòng bệnh xuất huyết truyền nhiễm thỏ”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

 Khảo sát lại chất lượng vacxin thông qua các chỉ tiêu vô trùng, an toàn, hiệu lực, trong đó tập trung vào việc xác định độ dài miễn dịch trên cơ sở xác định hiệu giá kháng thể của thỏ sau khi được tiêm phòng vacxin

 Xây dựng lịch tiêm phòng thích hợp cho thỏ các đối tượng

Trang 11

2 tổng quan tàI liệu

2.1 lịch sử về bệnh xuất huyết truyền nhiễm thỏ (RHD)

Bệnh xuất huyết truyền nhiễm thỏ (gọi tắt là RHD) được nhắc đến đầu tiên ở Trung Quốc năm 1984[42] Tuy nhiên, bệnh này được phát hiện từ một lô thỏ nhập khẩu vào Trung Quốc từ Châu Âu và đến giờ người ta vẫn cho rằng bệnh này có nguồn gốc từ các nước Châu Âu RHD được phát hiện ra ở Châu Âu vào năm 1987 và lan truyền sang Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha vào năm 1989 Bệnh bùng phát thành dịch và lan rộng tại Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha khiến 55% đến 75% số thỏ bị chết ở các nước này trong thời điểm đó Vào giữa thập niên 90 dịch bệnh lan truyền sang Australia làm cho 90% số lượng thỏ ở nước này bị chết ở Iberian Peninsula và Australia hậu quả của dịch bệnh RHD dường như nặng nề nhất tại các khu vực khô hạn

Tính đến thời điểm này, bệnh RHD đ1 có mặt ở hơn 40 nước trên toàn thế giới bao gồm phần lớn các nước Châu âu, Châu á và Châu Phi ở bán cầu Tây của thế giới, bệnh đ1 xuất hiện ở Cuba năm 1993 và người ta nghi ngờ rằng bệnh đ1 lan sang Bolivia sau đó ở Mexico, dịch bệnh bùng phát năm

1988 và đến năm 1992 mới bị dập tắt Năm 1995, do hậu quả từ một sơ xuất của phòng thí nghiệm ở miền Nam Australia đ1 làm lây nhiễm vius RHD ra môi trường, giết chết 10 triệu con thỏ trong vòng 8 tuần[35]

Bệnh được phát hiện ở Italy năm 1986 và từ đó lan rộng ra hầu hết các nước Châu Âu Virus này được phát hiện ở Pháp vào năm 1987, ở Đức năm

1989 và ở Thuỵ Điển năm1990

Dưới đây là danh sách các nước đ1 công bố có bệnh RHD

* ở Châu á: Trung Quốc, Hàn Quốc

Trang 12

* ở Châu Âu: Australia, Bỉ, Bosnia, Croatia, Cộng Hoà Xéc, Đan Mạch, Pháp, Lyrom, Anh, Đức, Hungary, Itali, Latvia, Luxemborg, Malta, Moldova, Balan, Bồ Đào Nha, Nga và các nước trong khối các nước thuộc liên bang Xô Viết cũ (như: Azerbaijan, Belarus, Georgia, Kazakhastan, Ukraine ), Serbia, Cộng Hoà Slovak, Tây Ban Nha, Thuỵ Điển, Lithuania, Slovenia, Ukraine

* ở Châu Phi và ấn độ Dương: Cameroon, Hy Lạp, Libya, Reunion Island, Tunisia, Zaire

* Ngoài ra, bệnh đ1 từng xuất hiện ở Mỹ, Mexico, Cuba và ở Bolivia người ta nghi ngờ là đ1 có bệnh nhưng chưa được xác nhận chắc chắn[29] RHD cũng có thể có ở nhiều nước khác nơi mà các thông tin chính thức

về nó chưa được công bố cho các tổ chức quốc tế như OIE

Bệnh RHD lan truyền nhanh trên một diện rộng ở hầu khắp các nước và hậu quả của bệnh này đối với loài thỏ trở nên rất nghiêm trọng và tàn khốc RHD đ1 giết hại đến 95% số thỏ ở các nước có bệnh, điển hình nhất là ở Australia

ở Châu Âu, bệnh thường xuất hiện với chu kỳ 2 năm một lần Lớp thỏ non từ 5 đến 8 tuần tuổi đ1 nhiễm virus thường không chết bởi bệnh này, ngược lại, trong chúng xuất hiện kháng thể do đó, chúng có khả năng miễn dịch với bệnh này Những con thỏ này sống sót và trở thành thế hệ thỏ bố mẹ trong vòng một năm tiếp theo đó Kháng thể từ thỏ bố mẹ có thể truyền sang cho thế hệ thỏ con Tuy nhiên, miễn dịch này thường không kéo dài trong vòng 12 tuần sau đó Vì vậy, thế hệ thỏ con tiếp theo trở nên dễ nhiễm bệnh và dịch RHD lại tái bùng phát[29]

* Tình trạng suy giảm về số lượng thỏ trên thế giới

Tuy thỏ có số lượng lớn nhất ở Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha nhưng số lượng thỏ cũng giảm mạnh vào thế kỷ 20 Ước tính chung số lượng thỏ ở Ibeian Peninsula hiện nay giảm đi 5% so với số lượng thỏ 50 năm về trước

Trang 13

Tương tự như vậy, người ta ước tính rằng chỉ trong vòng 30 năm trở lại đây số lượng thỏ đ1 giảm mạnh, đặc biệt ở Tây Ban Nha số lượng thỏ giảm tới 80% Hơn thế nữa, việc suy giảm này mang tính chất bất thường, tại một số vùng nơi được coi là có số lượng thỏ lớn đến giờ lượng thỏ giảm mạnh tới mức có nguy cơ tiệt chủng, tại một số vùng khác vẫn còn thỏ sinh sống nhưng với số lượng rất ít và với mật độ thưa thớt

Có ba nguyên nhân chính dẫn đến việc suy giảm số lượng thỏ mạnh ở Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha

- Thỏ chết do các dịch bệnh (trong đó chủ yếu là do bệnh xuất huyết truyền nhiễm)

- Thỏ bị bắn, giết do các hoạt động săn bắn khai thác của con người

- Suy giảm về chất lượng và số lượng môi trường sống [36]

ở Việt Nam, trong những năm qua theo thông báo của các nhà khoa học thì bệnh phát ra ở rất nhiều nơi từ các tỉnh phía Nam, đồng bằng sông Cửu Long đến các tỉnh phía Bắc từ những trại thỏ nuôi cá nhân cho đến những trại thỏ tập thể có quy mô đàn lớn (Trung tâm nghiên cứu dê, thỏ Ba Vì)[12] Thỏ

bị nhiễm bệnh với những triệu chứng lâm sàng, bệnh tích giống nhau và đều

được khẳng định là do giống virus Calici gây ra Bệnh làm chết hàng loạt thỏ, gây thiệt hại lớn về kinh tế

2.2 TìNH HìNH NGHIÊN CứU BệNH rhd Trong và ngoàI nước

ở Australia, các nghiên cứu để sản xuất vacxin chống lại bệnh RHD cũng được tiến hành với quy mô lớn, điển hình là nghiên cứu thuộc dự án

“Phòng thí nghiệm nghiên cứu về sức khoẻ động vật ở Australia (Australia Animal Health Laboratory – AAHL)

Năm 1989, tổ chức bảo vệ tự nhiên của Australia (Council of Nature Conservation Ministers – CONCOM) đ1 đề xuất về việc nghiên cứu vacxin

Trang 14

chống Calicivirus ở thỏ Một năm sau đó, CONCOM đ1 gây qũy cho các nhà virus học của AAHL để nghiên cứu vacxin chống bệnh này ở Châu Âu Kết quả là các nhà khoa học của tổ chức kiểm soát cây trồng và động vật đến từ miền Nam Australia cũng đ1 bắt tay vào nghiên cứu về bản chất của Calicivirus ở thỏ

Các nghiên cứu ban đầu này đ1 là nền tảng cho nghiên cứu tổng thể về Calicivirus ở thỏ của AAHL Dự án nghiên cứu này được chính thức thực hiện từ tháng 7 năm 1991 và kéo dài trong vòng 3 năm với tổng ngân sách cho dự án là khoảng 750.000 USD Giống Calicivirus ở thỏ được nhập về AAHL từ Cộng hoà Xéc vào năm 1991 Trước khi được đưa vào nghiên cứu, các nguyên liệu nhập khẩu đ1 được kiểm tra kỹ lưỡng và đảm bảo trong chúng không chứa bất kỳ một tác nhân gây hại nào khác để có thể đem lại kết quả nghiên cứu chính xác[29]

Calicivirus dùng trong nghiên cứu được lấy từ gan của những con thỏ nhiễm bệnh Nghiên cứu này được tiến hành với một nhóm thỏ đ1 phát bệnh tại AAHL Mục tiêu chính của dự án này là nhằm phát triển các thí nghiệm để giải đáp các vấn đề sau:

- Mức độ ảnh hưởng của virus đến thỏ ở các lứa tuổi khác nhau như thế nào?

- Liệu các thỏ ở Australia và NewZealand đ1 từng bị nhiễm các loại virus tương tự chưa và cơ thể chúng đ1 có kháng thể với các loại virus đó chưa?

- Thỏ nhà hay thỏ hoang d1 dễ cảm nhiễm với RHD hơn

Nghiên cứu này đ1 đưa ra các kết luận sau:

- Thỏ ở độ tuổi 5-8 tuần tuổi ít nhiễm virus hơn thỏ trưởng thành, tuy nhiên số virus đ1 nhiễm vào thỏ ở lứa tuổi này cũng đủ để giết chết thỏ khi thỏ trưởng thành

Trang 15

- Không có bằng chứng nào chứng tỏ rằng các thỏ ở Australia và ở NewZealand đ1 từng nhiễm các loại virus tương tự Điều này cũng có nghĩa là cơ thể chúng chưa từng sinh ra kháng thể chống lại virus này [36]

ở Việt Nam, cho đến nay, bệnh đ1 được nghiên cứu, tuy nhiên về lĩnh vực vacxin phòng bệnh chưa có công trình nào được công bố chính thức

2.3 Sơ lược về tình hình chăn nuôi thỏ ở Việt Nam

2.3.1 Một số giống thỏ ở Việt Nam

Thỏ thuần nội (Do trung tâm nghiên cứu Dê Thỏ Sơn Tây tạo giống)

- Thỏ Việt Nam đen: Màu lông và màu mắt đen tuyền, đầu nhỏ, mõm nhỏ, cổ nhỏ, thịt chắc ngon, trọng lượng trưởng thành 3,2 –3,5 kg, mắn đẻ, mỗi năm cho 7 lứa, mỗi lứa cho 6-7 con Loại thỏ này có sức chống đỡ bệnh tật tốt, thích nghi với điều kiện khí hậu cả nước, dễ nuôi

- Thỏ Việt Nam xám: Màu lông xám tro hoặc xám ghi, phần dưới ngực, bụng và đuôi màu trắng mờ, mắt đen, đầu to vừa phải, lưng hơi cong, khối lượng trưởng thành 3,5-3,8kg Loại thỏ này mỗi năm cho 6-7 lứa, mỗi lứa 6-7 con

Hai giống thỏ này phù hợp với điều kiện chăn nuôi gia đình, sử dụng làm nái nền lai với giống thỏ ngoại, nâng cao năng suất thịt, lông, da và dễ nuôi[14]

Trang 16

- Thỏ Panon: Nhập vào Việt nam năm 2000 từ Hungary, là một dòng của giống NewZealand, được chọn lọc theo tăng trọng lượng và khối lượng trưởng thành Vì vậy, ngoại hình giống NewZealand nhưng tăng trọng và khối lượng trưởng thành cao 5,5-6,2 kg/con

- Thỏ California: Nguồn gốc từ Mỹ, được tạo thành do lai giữa thỏ Chinchila, thỏ Nga và New Zealand, nhập vào Việt Nam năm 1978 và năm

2000, là giống thỏ cho thịt, khối lượng trung bình 4,5 – 5 kg, chân ngắn hơn thỏ New Zealand, lông trắng nhưng tai, mũi, bốn chân và đuôi có điểm màu

đen, vào mùa đông lớp lông đen sẫm hơn và nhạt dần vào mùa hè Giống thỏ này có khả năng sinh sản tương tự thỏ New Zealand, giống này cũng được nuôi nhiều ở Việt Nam[3]

- Thỏ lai: Cho thỏ đực ngoại New Zealand, Panon và California lai với thỏ cái Đen, Xám và thỏ cỏ cho con lai F1, F2 sức tăng trọng cao hơn thỏ nội

25 –30% và sinh sản cao hơn 15-20% Con lai thích ứng rất tốt với điều kiện chăn nuôi gia đình

2.3.2 Tình hình chăn nuôi thỏ trong nước

ở Việt Nam, nghề chăn nuôi thỏ đ1 có từ lâu đời nhưng chưa được quan tâm nhiều

Trang 17

Trước năm 1975, chăn nuôi thỏ chỉ tập trung ở các gia đình nuôi thỏ

có truyền thống tại các thành phố như Hà nội, Sài Gòn, Đà Lạt, Huế và một số gia đình vùng ngoại ô các thành phố lớn Sau ngày miền Nam giải phóng, chăn nuôi thỏ phát triển nhanh hơn, năm 1976 cả nước có 115.000 con thỏ, trong đó các tỉnh phía Nam có 93.000 con, năm 1982 cả nước có 200.000 con, miền Bắc có 90.000 con và số lượng này giảm xuống cho

đến đầu những năm 1990[4]

Những năm gần đây, chăn nuôi thỏ ở Việt Nam đang phát triển mạnh, nhu cầu tiêu thụ thịt thỏ trong nước liên tục tăng, do dịch cúm gia cầm nên người dân chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi từ chăn nuôi gà sang chăn nuôi thỏ Năm 2003, ước tính cả nước có trên 350 000 con thỏ, miền Bắc có gần 200.000 con Đồng thời việc nhập ba giống thỏ mới có năng suất cao từ Hungary về nuôi nhân thuần và làm tươi máu đàn thỏ New Zealand (nhập từ năm 1978) tại Trung Tâm Nghiên Cứu Dê và Thỏ Sơn Tây đem lại hiệu quả tốt, tăng năng suất đàn thỏ giống cũ lên 35-40%, đáp ứng nhu cầu con giống thỏ ngoại cao sản cho sản xuất nên đ1 thúc đẩy ngành chăn nuôi thỏ phát triển mạnh trong những năm qua trong phạm vi cả nước[3]

2.3.3 ý nghĩa kinh tế của việc chăn nuôi thỏ

Không giống như chăn nuôi lợn, gà, vịt (sử dụng 95 – 100% thức ăn tinh) thỏ có khả năng sử dụng nhiều thức ăn thô xanh trong khẩu phần Trong chăn nuôi công nghiệp, tỷ lệ thô xanh trong khẩu phần ăn của thỏ (tính theo vật chất khô) khoảng 50-55%, chất xơ trong khẩu phần 12-14% Trong chăn nuôi gia đình, tỷ lệ này còn cao hơn nhiều tới 65-80% Chăn nuôi thỏ vốn đầu tư ban đầu thấp, chuồng trại có thể tận dụng các vật liệu sẵn có, rẻ tiền để làm Chi phí để mua con giống ban đầu ít hơn nhiều so với các gia súc khác, phù hợp với khả năng của nhiều gia đình

Trang 18

Ngoài ra, chăn nuôi thỏ không mất nhiều thời gian, chủ yếu tận dụng lao động phụ (cụ già, cháu nhỏ, ) góp phần giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập trong gia đình

Thỏ sinh sản và phát triển nhanh, vòng đời sản xuất của thỏ ngắn (nuôi 3-3,5 tháng là giết thịt; 5-6 tháng bắt đầu sinh sản) nên thu hồi vốn nhanh thịt

và da thỏ có giá trị trong tiêu dùng và xuất khẩu Chăn nuôi thỏ có tác dụng tốt trong việc thực hiện mô hình VAC trong kinh tế hộ gia đình Thịt thỏ cân đối và giàu chất dinh dưỡng hơn các loại thịt gia súc khác Hàm lượng

đạm cao 21% (thịt bò 17%, thịt lợn 15%, thịt gà 21%), mỡ thấp: 10% (gà: 17%, bò: 25%, lợn: 29,5%), giàu chất khoáng: 1,2% (thịt bò: 0,8%, thịt lợn: 0,6%), hàm lượng Cholesteron rất thấp nên thịt thỏ là loại thực phẩm điều dưỡng được bệnh tim mạch, đặc biệt không có bệnh truyền nhiễm nào của thỏ lây sang người

ở Việt nam hiện nay do số lượng thỏ có hạn nên thịt thỏ mới chỉ để tiêu dùng trong nước nhưng trong tương lai chúng ta có thể chăn nuôi thỏ để xuất khẩu vì thị trường tiêu thụ là rất lớn

Ngoài ra thỏ là một loại gia súc rất mẫn cảm với điều kiện ngoại cảnh nên nó được dùng nhiều làm động vật thí nghiệm, động vật kiểm nghiệm thuốc và chế vacxin trong y học, thú y[3]

2.4 Virus học bệnh xuất huyết truyền nhiễm thỏ

2.4.1 Hình thái và cấu trúc virus

Tác nhân gây ra RHD là Calicivirus thuộc họ Caliciviridae và gần đây

được xác định thuộc giống Lagovirus (Teifke, 2002)[6]

Cơ sở xác định đầu tiên của virus là việc quan sát virus dưới kính hiển

vi điện tử[45]

Trang 19

Virion có đường kính 35-39nm, không có vỏ ngoài, bề mặt gồ ghề, có

32 gai hình chiếc cốc đặc trưng (Calici có nghĩa là cái cốc), với cấu trúc hình khối đối xứng, có thể quan sát thấy dưới kính hiển vi điện tử khi nhuộm âm bản [26]

Sau đó xác định tổ chức gen và trình tự nucleotit của virus Calicivirus

là virus sợi trần ARN có một gen ARN bọc trong một vỏ hai mươi mặt được tạo ra từ sự kết lại đa phương của một protein đơn[44]

Calicivirus có vỏ đơn chính polypeptit (60-70Kda) và một polypeptit nhỏ (15Kda) lõi gen ARN dài 7437 kb và gen phụ ARN 2,2[44], [45], [48]

Cấu tạo bộ gen: Genome cấu tạo từ phân tử ARN một sợi dương, phân

tử lượng khoảng 2,6-2,8 x 106 , có chuỗi poly-A ở đầu 3’ nhưng đầu 5’ thì không có cấu trúc mũ, liên kết với protein có phân tử lượng 10-15kDa là cần thiết cho tính cảm nhiễm của ARN[17]

Hình2.1 Hình thái virus RHD nhìn dưới kính hiển vi điện tử

2.4.2 Quá trình xâm nhập và nhân lên của virus

Virus không có các cơ quan tử nên chúng không có quá trình trao đổi chất, virus phải kí sinh nội tế bào rồi sử dụng nguyên liệu và các cơ quan tử của tế bào ký chủ để thực hiện quá trình sinh sản Từ một virus ban đầu xâm

Trang 20

nhập vào tế bào, sau một thời gian ngắn có hàng tỷ hạt virus mới được sinh

ra Trong quá trình này, virus tổng hợp các thành phần của chúng ở một số nơi trong tế bào, sau đó lắp ráp thành các hạt mới Vì quá trình sinh sản nhanh và theo lối công nghiệp hoá như vậy nên người ta gọi quá trình này là

sự nhân lên của virus

Quá trình nhân lên bắt đầu từ lúc hấp thụ lên bề mặt tế bào cho đến lúc virus thành thục chui ra khỏi tế bào

Toàn bộ thời gian này chia làm 5 giai đoạn:

2.4.2.1 Giai đoạn hấp thụ lên tế bào

Sau khi xâm nhập vào cơ thể kí chủ, virus theo máu hoặc dịch tiết đi lang thang khắp cơ thể đến các gian chất xung quanh tế bào, do kích thước nhỏ nên chúng luôn chuyển động Brown và va chạm vào mặt tế bào Nếu gặp những tế bào mà chúng thích ứng, trên bề mặt tế bào có những receptor phù hợp, virus sẽ hấp thụ lên tế bào đây là quá trình tương tác đặc hiệu giữa thụ thể của virus và thụ thể của tế bào thích ứng (như âm bản với dương bản)

Điều này giải thích tại sao mỗi loại virus chỉ thích ứng với một lọai tế bào nhất định

2.4.2.2 Giai đoạn xâm nhập vào tế bào

Tuỳ theo loại virus mà có những cơ chế xâm nhập khác nhau Các virus gây bệnh ở động vật, sau khi virus hấp thụ lên bề mặt của tế bào, tế bào mọc chân giả bao vây virus rồi đưa virus vào trong tế bào hoặc ẩn bào

Sau khi vào tế bào, virus không tự lột được vỏ capxit nhưng tế bào lại tiết enzim phân huỷ protein capxit làm giải phóng axit nucleic nhân nó lập tức biến mất trong khoảng từ vài phút đến vài giờ (người ta gọi giai đoạn này là giai đoạn biến mất)

Trang 21

ở Bactericphage virus dùng lông đuôi gắn lên bề mặt tế bào rồi tiết ra lyzozim làm tan màng tế bào vi khuẩn, đuôi của phage co lại, trụ đuôi chọc thủng màng nhiễm sắc thể và virus bơm axit nucleic vào tế bào, còn phần capxit nằm bên ngoài

2.4.2.3 Giai đoạn tổng hợp các thành phần của virus

Ngay sau khi xâm nhập vào trong tế bào vật chủ, mọi quá trình sinh tổng hợp các thành phần tế bào vật chủ (sự tổng hợp protein, ADN, ARN) bị

đình chỉ hoàn toàn và thay vào đó là quá trình sinh tổng hợp các thành phần của virus dưới sự điều khiển bởi mật m1 di truyền của virus và nguyên liệu dùng cho quá trình này là nguyên liệu sẵn có trong tế bào do tế bào cung cấp Quá trình này được chia làm 4 giai đoạn :

* Giai đoạn sao chép thông tin (bước sao sớm)

Để sự sao chép thông tin di truyền được thành công, trước tiên từ axit nucleic nhân virus Các ARN thông tin được tổng hợp trên khuôn mẫu axit nucleic nhân

Virus RHD chứa ARN thì khuôn để tổng hợp ARNtt là ARN

Nếu virus có ARN 2 sợi, chứa chức năng ARNtt là một sợi ARN mới

được tạo thành

ARNtt đảm nhiệm 2 nhiệm vụ :

- Làm khuôn để tổng hợp lên các axit nucleic mới

- Điều khiển quá trình tổng hợp protein

* Giai đoạn tổng hợp protein sớm

Thông tin di truyền từ axit nucleic virus được ARNtt chuyển sang riboxom có trong nguyên sinh chất của tế bào, quá trình sinh tổng hợp protein

Trang 22

diễn ra tại đây và sinh ra 2 loại protein sớm, gọi là sớm bởi vì nó xuất hiện đầu

tiên trong quá trình tái tạo virus gồm:

- Protein ức chế: Làm nhiệm vụ kìm h1m và đình chỉ mọi quá trình tổng

hợp của tế bào chủ

- Protein hoạt hoá: đó là enzimn ARN polymeraza có tác dụng xúc tác

trong quá trình tổng hợp axit nucleic virus

* Giai đoạn tổng hợp axit nucleic nhân virus

Virus chứa ARN quá trình này diễn ra trong nhân nguyên sinh chất tế

bào chủ

Sự tổng hợp ARN dưới xúc tác của ARN polymeraza, ARN của virus

được làm khuôn để tổng hợp lên sợi mới Sợi này được gọi là sợi âm còn sợi

cũ là sợi dương, 2 sợi này xoắn lại gọi là ARN dạng tái tạo

Từ ARN tái tạo, các sợi ARN dương mới được tạo thành

Những sợi ARN dương này được gọi là ARN dạng trung gian, nó có nhiệm vụ :

- Làm nhiệm vụ thông tin để tổng hợp lên protein cấu trúc

- Làm khuôn để tổng hợp các ARN mới

- Đó chính là nhân của virus mới

* Giai đoạn tổng hợp protein cấu trúc (protein muộn)

Gọi là protein muộn vì đây là bước cuối cùng của quá trình tổng hợp

các thành phần của virus, protein cấu trúc được sinh tổng hợp sau khi đ1 tổng

hợp axit nucleic nhân

Quá trình này xảy ra tại riboxom của tế bào, trên khuôn mẫu của ARN

thông tin của virus với các axit amin có trong tế bào đ1 được hoạt hoá và gắn

với ARN vận chuyển Quá trình sinh tổng hợp protein cấu trúc hoàn toàn

Trang 23

giống với mọi quá trình sinh tổng hợp protein khác diễn ra trong tế bào, chỉ khác là khuôn mẫu do ARNtt của virus quyết định

2.4.2.4 Giai đoạn lắp ráp

Giai đoạn này xảy ra ở gần màng tế bào

Axit nucleic và protein cấu trúc được tổng hợp ở những nơi khác nhau trong tế bào, chúng được dịch chuyển lại gần nhau và kết hợp với nhau tạo thành virus hoàn chỉnh

- Đa số các virus, sau khi các thành phần virus tổng hợp xong, các phân

tử protein va chạm với nhau, khi có va chạm đúng chúng sẽ liên kết tạo thành vòng cung capxit và axit nucleic được nhồi vào trong, sau đó vòng cung capxit

đóng lại tạo thành một hạt virus hoàn chỉnh Cùng một lúc có hàng vạn, hàng triệu virus mới được lắp ráp theo kiểu này

- Với những virus có vỏ, sau khi hình thành hạt virus, dưới tác dụng của màng nhân tế bào hoặc màng tế bào có những biến đổi đặc trưng của virus rồi tạo ra vỏ virus

2.4.2.5 Giai đoạn giải phóng virus ra khỏi tế bào

Sau khi được tái tạo, các virus ra khỏi tế bào theo 2 cơ chế sau:

- Cơ chế nổ tung: Dưới tác dụng của virus, màng tế bào bị phá vỡ, tế bào tan r1 hoàn toàn, virus ồ ạt ra khỏi tế bào và tiếp xúc xâm nhập vào tế bào khác

Nói chung các virus cường độc gây bệnh đều chui ra khỏi tế bào theo phương thức này Điều này giải thích tại sao bệnh do virus gây ra thường phá hủy các tổ chức nó thích ứng rất nhanh chóng

- Cơ chế từ từ: Virus tiết enzim chọc thủng một lỗ ở màng tế bào rồi theo đó từ từ chui ra Theo cơ chế này, tế bào nhiễm virus chỉ bị thương nhẹ,

Trang 24

Các virus nhược độc thường ra khỏi tế bào theo phương thức này

Ngoài hai cơ chế trên, một số loại virus có thể truyền từ tế bào những con bị nhiễm sang tế bào lành mà không cần chui ra bên ngoài do tế bào nhiễm và tế bào lành hình thành cầu nối nguyên sinh chất Cầu nối như một ống dẫn và virus theo đó truyền qua[8]

Tóm lại virus nhân lên trong tế bào chất Bên trong tế bào bị cảm nhiễm thường thấy ít nhất hai loại ARN một sợi đặc hiệu của virus ARN có kích thước genome có cơ năng mRNA của protein phi cấu trúc, còn ARN nhỏ, kích thước dưới genome là mRNA của protein capsid

Trong tế bào nhận thấy có 2 loại ARN 2 sợi và các ARN có những bộ phận đề kháng với enzym phân giải ARN (có lẽ là các thể trung gian đang tái sản) Ngoài ra còn có hai loại ARN một sợi có kích thước trung gian (4,8-4,2 kb) tồn tại nhưng cơ năng của chúng còn chưa rõ Tất cả các ARN virus này

đều có chuỗi poly-A Polypeptid của capsid là protein chủ yếu được tổng hợp, tiếp theo là một số polypeptid nào đó được tổng hợp nhưng mối quan hệ giữa các tiền chất này với sản phẩm cuối cùng thì chưa được rõ[17]

Virion thành thục trong tế bào chất ký chủ Virus trưởng thành được giải phóng sau khi làm tan tế bào [26]

Trang 25

2.4.3 HÖ thèng ph©n lo¹i virus

B¶ng 2.1 HÖ thèng ph©n lo¹i virus

serotyp Ký chñ tù nhiªn BÖnh (Swine) vesicular

exanthenma virus-virus

ban bäc n−íc (lîn)

H×nh thµnh bäng n−íc ë miÖng vµ ch©n

San Miguel sea lion

virus – virus s− tö biÓn

San Miguel

12

Thó ch©n v©y (s−

tö biÓn, h¶i cÈu ), lîn, c¸

H×nh thµnh bäng n−íc, s¶y thai

Feline calicivirus –

Calicivirus mÌo 1 Chã, mÌo

Viªm ®−êng h« hÊp d−íi, loÐt trong khoang miÖng, viªm l−ìi, tiªu ch¶y

Canine calicivirus chã 2 Chã

H×nh thµnh bäng n−íc ë c¬ quan sinh s¶n tiªu ch¶y Rabbit hemorrhagic

disease virus – virus

bÖnh xuÊt huyÕt thá

huyÕt ë gan, phæi

(Nguån: Gi¸o tr×nh vi sinh vËt häc thó y, 2002[17])

Hä Caliciviridae chØ gåm 1 chi, chi Calicivirus bao gåm 5 loµi virus Ngoµi ra, cßn cã nh÷ng virus cã h×nh th¸i gièng víi Calicivirus ë nhiÒu loµi thó, chim, l−ìng thª, bß s¸t, c«n trïng…nh−ng chi tiÕt th× cßn ch−a râ Nh÷ng

Trang 26

năm gần đây, nhờ phân tích sinh học phân tử tiến bộ, virus bệnh xuất huyết thỏ, virus viêm gan E của người và virus Norwalk được coi là những thành viên thuộc họ Caliciviridae[17]

2.4.4 Sức đề kháng của virus

RHDV rất ổn định và có sức đề kháng cao ở môi trường Khả năng lây nhiễm của virus không giảm khi xử lý bằng cloroform và trypsin, ở môi trường pH=3, hoặc đun nóng 500C/1h Virus tồn tại ít nhất 225 ngày trong huyễn dịch tổ chức giữ ở 40C, ít nhất 105 ngày trong trạng thái khô trên vải ở nhiệt độ phòng và

ít nhất 2 ngày ở 600C cả ở trong huyễn dịch tổ chức và trong trạng thái khô

Virus giữ tính lây nhiễm ở nhiệt độ thấp, rất ổn định trong môi trường

đông lạnh và tan băng RHDV bị vô hoạt bằng NaOH 10% (Natri Sodium), bằng formaldehyde 1-1,4 % và bằng 0,2- 0,5% β–pipriolatone ở 40C Những cách xử lý này không làm biến đổi tính chất kháng nguyên của virus[48]

2.5 Miễn dịch chống bệnh xuất huyết truyền nhiễm thỏ

Trang 27

Miễn dịch dịch thể đóng vai trò quan trọng cho thỏ chống lại virus gây bệnh RHD[48] Sau khi tiêm vacxin hoặc trong trường hợp nhiễm tự nhiên, kháng thể IgG tăng rất nhanh và đáp ứng miễn dịch có thể xác định bằng phương pháp huyết thanh học như kỹ thuật HI hay ELISA[41], [43] ở những thỏ con từ mẹ được tiêm vacxin hay nhiễm tự nhiên nhưng qua khỏi, kháng thể từ mẹ truyền qua con kéo dài đến 6 tuần, nhưng cá biệt đến 12 tuần (Cooke, 2002) Tuy nhiên hiệu giá kháng thể có được và sự tồn tại của nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác, trong đó hàm lượng kháng thể trong máu của thỏ mẹ có ý nghĩa rất quan trọng[6]

Một trong những trở ngại lớn nhất khi nghiên cứu bệnh của thỏ do Calicivirus là virus này không thể nhân lên trên phôi trứng hay trên môi trường tế bào Chính vì vậy, để sản xuất vacxin trong điều kiện trang thiết

bị còn hạn chế, cách tốt nhất là dùng phủ tạng thỏ (gan, thận) làm nguyên liệu để chế [43]

Kháng nguyên là một chất có khả năng kích thích cơ thể vật chủ hình thành một đáp ứng miễn dịch đặc hiệu Thuật ngữ kháng nguyên (Antigen) xuất phát từ cụm từ “tạo các kháng thể’’ (generation of antibodies) để chỉ các chất có tính chất như thế Các đáp ứng miễn dịch đặc hiệu cần các phân tử nhận biết như các phân tử kháng thể – cơ quan thụ cảm của các tế bào B – Nhận biết kháng nguyên hoặc một phần của phân tử kháng nguyên và kích thích đáp ứng của đáp ứng miễn dịch đặc hiệu (các tế bào B)

Thông thường, kháng nguyên là các protein lạ (hay còn gọi là protein ngoại lai, hoặc từng phần của phân tử protein đó) được thâm nhập vào cơ thể thông qua quá trình nhiễm trùng Tuy vậy, đôi khi protein của chính cơ thể

được thể hiện theo các cách thức không phù hợp tại một vị trí hoặc tại một thời điểm mà chúng thường không xuất hiện và vì thế chúng được hệ thống miễn dịch của chính cơ thế đó coi là các kháng nguyên lạ

Trang 28

Cũng cần phải nói rõ rằng bản thân các vi khuẩn hoặc virus không phải

là các kháng nguyên cả trên bề mặt và bên trong cấu trúc của chúng Các kháng nguyên như thế có thể được tách chiết riêng rẽ hoặc để nguyên vẹn cấu trúc nguyên thủy và được sử dụng làm vacxin phòng chống nhiễm trùng

Kháng nguyên được các tế bào lympho bào B nhận biết bằng các kháng thể bề mặt của chúng Quá trình nhận biết thành công sẽ dẫn đến sự phát triển của các clon đặc hiệu của các tế bào B đ1 nhận biết kháng nguyên Mặc dù các

tế bào T và các tế bào B có thể đáp ứng với cùng một kháng nguyên, nhưng thường chúng đáp ứng với các phần khác nhau của cùng một phần tử

Kháng thể có trên bề mặt của các tế bào B có khả năng nhận biết rất tốt các cấu trúc bậc ba của phân tử protein, nghĩa là phân tử protein đ1 gấp nếp Một phần cấu trúc của kháng nguyên được kháng thể hoặc cơ quan thụ cảm của tế vào B nhận biết được gọi là một epitope

Tùy thuộc vào kích thước của protein hoặc polysacharid, chúng có thể có hàng trăm epitope của tế bào B (được nhận biết bằng các kháng thể khác nhau)

* Các đặc tính của một kháng nguyên

- Tính sinh miễn dịch: Khả năng cảm ứng hình thành một đáp ứng miễn dịch được đặc trưng bằng sự hình thành các immunoglobulin đặc hiệu hoặc các lympho bào đ1 được kích thích một cách đặc hiệu

- Tính kháng nguyên: Là khả năng phản ứng và gắn kết với các immunoglobulin đặc hiệu hoặc với các thụ cảm quan của tế bào

- Tính sinh dị ứng: Khả năng kích thích hình thành các loại phản ứng dị ứng khác nhau và các tổn thương ở mô bào trên những con vật đ1 được mẫn cảm hoá

có các immunoglobulin đặc hiệu và các lympo bào đ1 được kích thích

Trang 29

Bảng 2.2 Các đặc điểm quyết định tính sinh miễn dịch

Mức độ phức tạp Các polimer có cấu trúc đơn giản khó có thể là

các kháng nguyên tốt Tính ổn định Tính ổn định về cấu trúc là đặc biệt quan trọng

Để một kháng nguyên có tính sinh miễn dịch, các phân tử phải có trọng l−ợng lớn, ổn định và phải phức tạp về mặt hoá học Nh− đặc điểm nêu trong bảng 2.2, kháng nguyên càng có trọng l−ợng phân tử lớn thì tính kháng nguyên càng cao

Ví dụ, Albumin huyết thanh có trọng l−ợng phân tử khoảng 60 Kda là một kháng nguyên mạnh, Agiotensin (1031 da) có tính kháng nguyên kém, còn phenylalamin (165 da) hoàn toàn không có tính kháng nguyên

2.5.3 Khác biệt giữa kháng nguyên và chất gây miễn dịch (sinh miễn dịch)

Tính kháng nguyên là khả năng kết hợp của điểm quyết định kháng nguyên (epitope) với kháng thể Một điểm quyết định kháng nguyên tách biệt, không có khả năng kích thích một đáp ứng miễn dịch nh−ng có khả năng kết

Trang 30

hợp với kháng thể đặc hiệu vì thế nó chỉ có tính kháng nguyên chứ không có tính sinh miễn dịch Để một điểm quyết định kháng nguyên có tính sinh miễn dịch nghĩa là có thể kích thích một đáp ứng miễn dịch, nó phải được gắn với một protein mang (carrier protein)

Hiểu về cơ sở phân tử của một đáp ứng miễn dịch được nâng cao nhờ các kết quả nghiên cứu trong vòng 20 năm trở lại đây về số lượng, kích thước, phân bố, bản chất hoá học và các tính đặc hiệu của các điểm quyết định kháng nguyên Nhiều số liệu cho thấy cảm ứng sinh đáp ứng miễn dịch dịch thể hoặc miễn dịch tế bào phụ thuộc một phần vào cấu trúc phân tử của kháng nguyên Một điểm quan trọng nữa cần ghi nhận là nhu cầu cấu trúc để có tính sinh miễn dịch khác với nhu cầu để có tính kháng nguyên[23]

Ví dụ, các protein đ1 biến tính thường có tính sinh miễn dịch kém hơn các protein tự nhiên Cũng tương tự như vậy, protein của vi khuẩn thường là các chất gây miễn dịch tốt hơn so với protein của huyết thanh nhưng lại ít có

sự sai khác về biểu hiện như là các kháng nguyên Trong khi đó sự tự kết dính của một protein thường liên quan tới sự thay đổi không đáng kể về tính kháng nguyên nhưng lại tăng đáng kể về tính sinh miễn dịch, cụ thể hơn: Mặc dù các vật là bị các tế bào trung tính và các tế bào thực bào đơn nhân “bắt” và “thực bào” nhưng rõ ràng là không phảt tất cả các chất đ1 được thực bào đều có khả năng kích thích cơ thể vật chủ hình thành một đáp ứng miễn dịch Có hai yếu

Trang 31

từ các nghiên cứu về khả năng của các mảnh kháng nguyên ức chế phản ứng của toàn bộ phân tử với kháng thể tương ứng của nó

- Kháng nguyên tổng hợp cung cấp nhiều thông tin về tương quan giữa cấu trúc kháng nguyên và sự hoạt hoá các lympho bào bởi vì ngày nay người

ta có thể tổng hợp một kháng nguyên với một cấu trúc như mong muốn để nghiên cứu một vấn đề cụ thể Tương quan giữa cấu trúc của một kháng nguyên và tính kháng nguyên của nó là phức tạp hơn đối với kháng nguyên là protein trong đó nó phụ thuộc vào mức độ, cấu trúc bậc ba của phân tử protein dạng sợi Tuy nhiên, có tình huống kháng nguyên trung gian giữa polysaccharid thẳng và các protein hình cầu bởi sự lặp lại của các acid amin trong chuỗi polypeptid Nghiên cứu về tính kháng nguyên của các protein hình cầu cũng phức tạp hơn vì không có các đoạn mà cấu trúc acid amin lặp lại

* Các yếu tố ảnh hưởng đến tính sinh miễn dịch

Các yếu tố liên quan thuộc về chất gây miễn dịch

- Tính lạ: Hệ thống miễn dịch thường phân biệt giữa “ cái của mình” và

“cái không phải của mình” và chỉ những phân tử “lạ” hay ngoại lai mới có tính sinh miễn dịch

- Kích thước: Không có một giá trị kích thước cụ thể nào để kết luận một chất có tính sinh miễn dịch hay không Tuy nhiên, nhìn chung phân tử có kích thước càng lớn thì tính sinh miễn dịch càng tăng

- Thành phần hoá học: Nhìn chung một chất càng phức tạp về mặt hoá học thì tính sinh miễn dịch càng lớn Các điểm quyết định kháng nguyên được tạo ra

từ cấu trúc bậc 1 của các phân tử/ gốc trong phân tử polyme hoặc bằng cấu trúc bậc 2 bậc 3 hoặc bậc 4 của phân tử Xét về bản chất hoá học các kháng nguyên là các phân tử protein có trọng lượng lớn (bao gồm các phân tử protein đ1 kết gắn với các phân tử khác như glycoprotein, lipoprotein và nucleoprotein) và các polysaccharid (bao gồm cả lipopolysaccharid) Các kháng nguyên protein và

Trang 32

polysaccharid này có trên bề mặt của virus và tế bào bao gồm các tế bào vi sinh vật (vi khuẩn, nấm, nguyên sinh động vật) và các tế bào của động vật

- Dạng vật lý: Nhìn chung các kháng nguyên dạng hạt có tính sinh miễn dịch cao hơn so với kháng nguyên hoà tan Các kháng nguyên đ1 bị biến tính

có tính sinh miễn dịch cao hơn so với kháng nguyên ở dạng tự nhiên

- Khả năng bị thoái hoá: Các kháng nguyên dễ dàng bị thực bào thường

có tính sinh miễn dịch cao Điều đó vì đối với hầu hết các kháng nguyên (các kháng nguyên phụ thuộc T) sự phát triển của một đáp ứng miễn dịch đòi hỏi kháng nguyên phải được thực bào, phải được chế biến và phải được trình diện tới các tế bào T hỗ trợ bằng các tế bào trình diện kháng nguyên (APC)

Các yếu tố liên quan đến hệ thống sinh học

- Các yếu tố di truyền: Một số chất có khả năng sinh miễn dịch đối với một loài vật nhưng lại không có khả năng đó đối với một loại khác Tương tự như vậy, một số chất có tính sinh miễn dịch trong một cá thể nhưng lại có thể không có khả năng sinh miễn dịch trong những cơ thể khác trong cùng một loài (nghĩa là có con vật có đáp ứng và có con vật không có đáp ứng) Một loài hoặc một cá thể có thể thiếu hoặc có các gen đ1 bị thay đổi mà chúng đ1 m1 hoá cho các thụ cảm quan đối với các kháng nguyên của tế bào B và tế bào T hoặc chúng có thể không có các gen tương ứng đối với các tế bào trình diện kháng nguyên để trình diện kháng nguyên tới tế bào T giúp đỡ

- Tuổi: Tuổi cũng có thể ảnh hưởng tới tính sinh miễn dịch Thông thường quá non hoặc quá già đều giảm khả năng hình thành đáp ứng miễn dịch khi phản ứng lại một kích thích của chất gây miễn dịch

Phương pháp sử dụng chất gây miễn dịch

- Liều lượng kháng nguyên: Liều sử dụng một chất gây miễn dịch có thể ảnh hưởng tới tính sinh miễn dịch của nó Có một liều kháng nguyên mà ở phía cận trên hoặc cận dưới của nó đáp ứng miễn dịch sẽ không cực thuận

Trang 33

- Đường sử dụng kháng nguyên: Thông thường đường tiêm dưới da là tốt hơn so với đường tiêm tĩnh mạch hoặc đường cho uống Đường sử dụng kháng nguyên cũng có thể làm thay đổi bản chất của đáp ứng miễn dịch

- Chất bổ trợ: Các chất có khả năng làm tăng đáp ứng miễn dịch đối với một chất gây miễn dịch được gọi là chất bổ trợ Tuy vậy, việc sử dụng các chất bổ trợ thường làm hạn chế bởi các tác dụng phụ không mong muốn như sốt và viêm

* Bản chất hoá học của các chất gây miễn dịch

- Protein: Phần lớn các chất gây miễn dịch là các protein Chúng có thể

là các protein thuần khiết hoặc cũng có thể là các glycoprotein hoặc lypoprotein Nói chung, các protein thường là các chất gây miễn dịch tốt

- Polysaccharid: Các polysaccharid và các lypopolysaccharid là chất gây miễn dịch tốt

- Các acid nucleic thường là các chất gây miễn dịch kém: Tuy nhiên chúng có thể trở nên có tính sinh miễn dịch khi chúng là chuỗi xoắn đơn hoặc khi được tạo phức hợp với protein

- Lypid: Nhìn chung, lypid không có tính sinh miễn dịch mặc dù chúng có thể là một hapten [23]

2.6 Vacxin trong kiểm soát bệnh động vật

Trang 34

Đi sâu vào tìm hiểu thấy rằng trong thời gian vắt sữa, những người công nhân này cũng mọc những nốt đậu, vết loét trên tay do bò sữa bị bệnh đậu truyền sang Từ quan sát thực tế trên, năm 1876 Gienne đưa ra nhận định rằng, virus đậu bò khi lây sang người đ1 tạo được trạng thái đặc biệt giúp cơ thể người không nhiễm virus đậu mùa Trạng thái đặc biệt này về sau được gọi là trạng thái miễn dịch của cơ thể

Từ nhận định của mình, Gienne đ1 dùng vẩy đậu bò, sấy khô, nghiền với nước muối sinh lý thành huyễn dịch, đem huyễn dịch này tiêm chủng cho người Tại vị trí tiêm chủng mọc lên những nốt đậu, phát triển và vỡ ra tạo nên những vết loét Vết loét nhanh chóng trở lại bình thường tạo nên những vết sẹo nhỏ Những người sau khi được chủng huyễn dịch đậu bò, suốt đời không mắc bệnh đậu mùa nữa

Từ thành công này, về sau các nhà khoa học đ1 phát triển, nghiên cứu

và tạo ra được nhiều loại vắc xin phòng bệnh cho người và gia súc như: Vacxin phòng bệnh viêm phổi và màng phổi của gia súc (Vinlem, 1852), vacxin dại, vacxin phòng bệnh lao cho người, vacxin nhiệt thán, vacxin phòng bệnh tụ huyết trùng gà, vacxin phòng bệnh đóng dấu (Luis Pasteur,

1822 – 1895)

Nhờ có vacxin phòng bệnh đ1 cứu hàng triệu người không chết vì bệnh

đậu mùa, bệnh dại, bệnh lao, Nhiều bệnh truyền nhiễm, nguy hiểm đối với con người và động vật được khống chế và từng bước được loại trừ khỏi từng phần của thế giới Tuy nhiên, cuộc đấu tranh với bệnh tật, đặc biệt là bệnh truyền nhiễm để bảo vệ sức khoẻ của con người và động vật vẫn còn khá gay

go, phức tạp, cho nên việc nghiên cứu, chế tạo các loại vacxin mới và cải tiến nâng cao hiệu lực phòng bệnh các loại vacxin đ1 có, vẫn còn đòi hỏi các nhà khoa học phải quan tâm

Theo thuật ngữ Luis Pasteur sử dụng từ năm 1885 thì “vacxin” chỉ dùng

để chỉ một chế phẩm sinh học được chế từ vi sinh vật, dùng gây miễn dịch

Trang 35

phòng bệnh truyền nhiễm Ngày nay, không chỉ có vacxin phòng bệnh truyền nhiễm mà còn có vacxin phòng bệnh ký sinh trùng, vì vậy thuật ngữ vacxin

được hiểu rộng hơn, đó là một chế phẩm sinh học chứa vật chất của mầm bệnh

được gọi là “kháng nguyên” khi đưa vào cơ thể người và động vật sẽ kích thích cơ thể tạo ra trạng thái miễn dịch giúp cơ thể chống lại mầm bệnh (Outteridge, 1985)

Từ những vacxin đơn giản dùng để phòng bệnh đầu tiên do Gienne, Luis Pasteur và các đồng nghiệp của ông chế tạo ra, đến nay sau gần 200 năm phát triển không ngừng, hầu hết các bệnh truyền nhiễm xảy ra ở người và

động vật đều đ1 có vacxin phòng bệnh Phần lớn các vacxin phòng bệnh cho người và động vật được chế tạo bằng kỹ thuật hiện đại, công nghệ cao (Phan Thanh Phượng, 2001) Để đáp ứng yêu cầu phòng bệnh ngày càng hoàn thiện, các vacxin sau khi đưa vào phục vụ công tác phòng bệnh luôn

được cải tiến về phương pháp chọn và tạo giống vi sinh vật, lựa chọn chất

bổ trợ thích hợp, lựa chọn công nghệ chế tạo nhằm mục đích nâng cao độ

an toàn, hiệu lực của vacxin, giảm giá thành sản phẩm, bảo quản dễ dàng, thuận tiện cho người sử dụng

Tiêu chí để chọn một loại vacxin tốt [46] phòng bệnh cho động vật cần phải đạt các yêu cầu sau

- Không được gây phản ứng toàn thân Có thể gây phản ứng cục bộ, những biểu hiện của phản ứng cục bộ phải biến mất sau 24 giờ sau khi tiêm phòng

- Hiệu lực phòng bệnh cao, kéo dài

- Sử dụng và bảo quản dễ dàng

- Giá thành rẻ[46]

2.6.2 Thành phần của vacxin

Vacxin bao gồm hai thành phần chính là kháng nguyên và chất bổ trợ

Trang 36

2.6.2.1 Kháng nguyên

Trước đây, kháng nguyên được quan niệm là một chất lạ có bản chất là Protein, khi đưa vào cơ thể, kích thích cơ thể sản sinh kháng thể đặc hiệu Kháng thể đặc hiệu sẽ trung hoà kháng nguyên đó

Ngày nay, nghiên cứu đáp ứng miễn dịch của cơ thể thấy rằng, khi cơ thể nhận được kháng nguyên không chỉ sản sinh kháng thể đặc hiệu (đáp ứng miễn dịch dịch thể) mà còn tạo ra một lớp tế bào mẫn cảm, tế bào này cũng có khả năng tạo phản ứng với kháng nguyên (miễn dịch tế bào) Vì vậy, theo Đỗ Trung Phấn (1979), Phan Thanh Phượng (1989) kháng nguyên được hiểu là chất khi đưa vào cơ thể sẽ kích thích cơ thể sản sinh kháng thể và tế bào mẫn cảm đặc hiệu chống lại sự xâm nhập và gây bệnh của mầm bệnh Khả năng kích thích sinh miễn dịch dịch thể và miễn dịch tế bào của kháng nguyên gọi

là tính kháng nguyên Tính kháng nguyên của một kháng nguyên trong vacxin mạnh hay yếu phụ thuộc vào tổng số nhóm quyết định kháng nguyên, trọng lượng phân tử, thành phần hoá học, cấu trúc lập thể và khả năng tích điện của các phân tử kháng nguyên Một kháng nguyên tạo miễn dịch phòng vệ tốt cho cơ thể, ngoài tính kháng nguyên mạnh cần phải có tính đặc hiệu cao Tính đặc hiệu của kháng nguyên phụ thuộc vào tính chất và cấu trúc của các nhóm quyết định kháng nguyên Tính đặc hiệu của kháng nguyên cao không chỉ đặc trưng đối với loài mà còn đặc trưng đối với cả type và subtype

2.6.2.2 Chất bổ trợ

Trong quá trình chế tạo, sử dụng vacxin thấy rằng nếu vacxin chỉ chứa kháng nguyên khi dùng tiêm phòng tạo hiệu lực bảo hộ thấp, không kéo dài, phản ứng xảy ra với tỉ lệ cao Nhưng khi cho thêm những chất không phải là kháng nguyên vào vacxin sẽ làm cho hiệu lực và thời gian bảo hộ của vacxin tăng lên Các chất đưa vào vacxin được gọi là chất bổ trợ của vacxin Vậy chất

bổ trợ của vacxin là những chất có hoạt tính kích thích miễn dịch không đặc

Trang 37

hiệu dùng bổ sung vào vacxin để nâng cao hiệu lực và độ dài miễn dịch (Ramon, 1931), chất bổ trợ của vacxin có 3 tác dụng[30]

- Hấp thu và lưu giữ kháng nguyên trong cơ thể lâu hơn, không bài thải nhanh kháng nguyên

- Tạo kích thích đáp ứng miễn dịch không đặc hiệu của cơ thể

- Giảm kích thích phản ứng của độc tố nếu có trong vacxin đối với cơ thể Căn cứ vào bản chất, thành phần cấu tạo của chất bổ trợ Phan Thanh Phượng (1985) chia chất bổ trợ đang được dùng trong chế tạo vacxin hiện nay thành các nhóm sau đây :

+ Chất bổ trợ vô cơ: bao gồm Hydroxit nhôm, Phốt phát nhôm, sulffat nhôm Kali, các loại thuốc nhuộm, than hoạt tính Các chất bổ trợ vô cơ thường hấp phụ kháng nguyên lên bề mặt để tăng cường độ kích thích đáp ứng miễn dịch của cơ thể, đồng thời giải phóng kháng nguyên từ từ vào hệ bạch huyết

để kéo dài thời gian kích thích đáp ứng miễn dịch của cơ thể Với mầm bệnh

có sản sinh độc tố, sau khi đ1 được vô hoạt (giải độc tố) cũng được chất bổ trợ hấp thu và giải phóng từ từ để hạn chế tác động gây phản ứng cục bộ và toàn thân

+ Chất bổ trợ hữu cơ bao gồm các loại dầu thực vật như: dầu hướng dương, dầu lạc, dầu oliu, mỡ động vật, các sản phẩm của dầu khoáng hoặc montanide 50 của Pháp Các chất bổ trợ hữu cơ khi hỗn hợp với kháng nguyên

sẽ tạo thành dạng nhũ tương nước trong dầu Dạng nhũ tương này có kháng nguyên nằm trong huyễn dịch dầu

Để khắc phục các nhược điểm của vacxin nhũ dầu trong nước dễ phân lớp, rít kim khi tiêm, người ta đ1 nghiêm cứu chế tạo loại vacxin nhũ tương kép nước trong dầu trong nước

Khi vacxin nhũ có chứa xác vi khuẩn (thường dùng xác vi khuẩn thuộc

họ Mycobacterium, đặc biệt là M.tubecullosis) được gọi là vacxin nhũ hoàn

Trang 38

toàn, vacxin nhũ không chứa xác vi khuẩn được gọi là vacxin nhũ không hoàn toàn

Tác dụng của chất bổ trợ dầu trong vacxin cũng tương tự như tác dụng của chất bổ trợ vô cơ

Nhờ các phức hợp nhũ kháng nguyên – dầu – nước mà kháng nguyên tự

do được giải phóng từ từ vào cơ thể để kích thích sản sinh kháng thể và tế bào miễn dịch đặc hiệu kéo dài Đồng thời các hạt nhũ cũng di chuyển từ chỗ tiêm vào hạch limpho hoặc đến các cơ quan có thẩm quyền miễn dịch để kích thích miễn dịch phi đặc hiệu

Kết quả là liều vacxin tiêm giảm, hiệu lực miễn dịch tăng cao, thời gian miễn dịch kéo dài[19]

2.6.3 Phân loại vacxin

Có nhiều cách phân loại vacxin như: Căn cứ vào hoạt tính của mầm bệnh, thành phần kháng nguyên có trong vacxin, công nghệ chế tạo vacxin 2.6.3.1 Phân loại vacxin căn cứ vào hoạt tính của mầm bệnh

Căn cứ vào hoạt tính của mầm bệnh chứa trong vacxin chia vacxin thành 2 loại

* Vacxin vô hoạt

- Vacxin vô hoạt là vacxin chứa kháng nguyên là mầm bệnh đ1 được làm vô hoạt bằng các yếu tố như nhiệt độ, sóng siêu âm, tia tử ngoại, bằng hoá chất (các loại thuốc nhuộm, các loại axít, phóc-môn) hoặc từng phần của mầm bệnh đ1 được chiết tách, tinh chế

Vacxin vô hoạt có ưu điểm độ an toàn cao, nhưng tạo miễn dịch phòng

hộ chậm (14-21 ngày), thời gian miễn dịch ngắn, hiệu lực phòng vệ hạn chế, liều tiêm vacxin lớn Để khắc phục các nhược điểm trên, căn cứ vào tính chất

Trang 39

kháng nguyên, mục đích sử dụng mà người ta bổ sung vào vacxin chất bổ trợ

để giảm tỷ lệ phản ứng, nâng cao và kéo dài thời gian khả năng tạo miễn dịch phòng vệ của vacxin

Vì vậy vacxin vô hoạt lại được chia ra: vacxin vô hoạt có chất bổ trợ và vacxin vô hoạt không có chất bổ trợ

+ Vacxin vô hoạt không có chất bổ trợ được gọi là vacxin Bacterin Thành phần của vacxin Bacterin chỉ chứa kháng nguyên tạo miễn dịch

Ưu điểm của vacxin bacterin là công nghệ chế tạo đơn giản phù hợp với các nước có công nghệ thấp, giá thành rẻ

Hạn chế của loại vacxin này là thời gian tạo miễn dịch ngắn (2 – 3 tháng), hiệu lực miễn dịch phòng vệ không cao (60-70%), tỷ lệ gây phản ứng khi tiêm cao Thường dùng chế tạo vacxin phòng các bệnh không đòi hỏi thời gian miễn dịch kéo dài, vacxin chế từ các chủng vi sinh vật độc lực thấp không sản sinh độc tố, vacxin cho qua đường miệng Hiện tại, vacxin bacterin còn tồn tại rất ít như vacxin E.coli cho uống phòng bệnh phân trắng và tiêu chảy lợn con

+ Vacxin vô hoạt có chất bổ trợ là loại vacxin trong thành phần của nó ngoài kháng nguyên đ1 vô hoạt còn được bổ sung chất bổ trợ

Trang 40

Vacxin vô hoạt có chất bổ trợ có ưu điểm rất an toàn Tuy hiệu lực được nâng cao hơn (80- 90%) và thời gian duy trì miễn dịch kéo dài hơn (4-6 tháng với bổ trợ vô cơ) và (9-12 tháng với bổ trợ hữu cơ) so với vacxin bacterin, nhưng vẫn kém vacxin nhược độc sống Thời gian tạo miễn dịch phòng vệ vững chắc vẫn chậm Thường dùng chế tạo vacxin phòng các bệnh đ1 được khống chế hoặc thanh toán, dùng tiêm phòng cho các vùng an toàn dịch bệnh, các cơ

sở chăn nuôi gia súc, gia cầm giống

Vacxin vô hoạt đang được dùng ngày càng rộng r1i trong nước và phát triển thay thế vacxin nhược độc, đặc biệt là vacxin vô hoạt có chất bổ trợ hữu cơ (vacxin nhũ hoá) Vacxin này cũng đang được dùng nhiều ở nước ta, nhưng phần lớn là bổ trợ vô cơ (bổ trợ keo phèn) như: vacxin phòng bệnh tụ huyết trùng gia súc, gia cầm, vacxin đóng dấu lợn vô hoạt (ĐDL1), vacxin phòng bệnh phù đầu lợn con

* Vacxin nhược độc

- Vacxin nhược độc là loại vacxin chứa kháng nguyên là mầm bệnh còn sống đ1 được làm nhược độc hoặc vô độc, nhưng không làm thay đổi tính kháng nguyên

Ưu điểm của vacxin nhược độc sống là tạo miễn dịch phòng hộ nhanh (7- 14 ngày), hiệu lực miễn dịch cao và kéo dài Tuy vậy, theo Egerton (2005), vacxin sống có thể gây phản ứng ở động vật được tiêm phòng với tỷ lệ cao, thậm chí có thể gây nên những ổ dịch địa phương sau khi tiêm vacxin do mầm bệnh trong vacxin tăng cường độc lực hoặc làm trỗi dậy các bệnh thể m1n tính, thể bệnh ẩn, thể mang trùng ở động vật được tiêm phòng Thường dùng chế tạo các loại vacxin phòng các bệnh do virus gây ra, sử dụng phòng các bệnh thường lưu hành, khi phòng chống dịch khẩn cấp Vacxin này ngày càng hạn chế sử dụng ở nước phát triển

Ngày đăng: 02/11/2015, 22:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Triệu An (1998), Miễn dịch học, NXB Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Miễn dịch học
Tác giả: Vũ Triệu An
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 1998
3. Đinh Văn Bình, Ngô Tiến Dũng (2005), Kỹ thuật nuôi thỏ ở nông hộ, NXB Lao động x1 hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi thỏ ở nông hộ
Tác giả: Đinh Văn Bình, Ngô Tiến Dũng
Nhà XB: NXB Lao động x1 hội
Năm: 2005
5. Nguyễn Lân Dũng, Nguyễn Đăng Đức (1996), Một số ph−ơng pháp nghiên cứu vi sinh vật học, NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ph−ơng pháp nghiên cứu vi sinh vật học
Tác giả: Nguyễn Lân Dũng, Nguyễn Đăng Đức
Nhà XB: NXB Khoa học kỹ thuật
Năm: 1996
7. Nguyễn Văn Hoàn (1981), Hỏi đáp về nuôi thỏ, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về nuôi thỏ
Tác giả: Nguyễn Văn Hoàn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1981
8. Nguyễn Bá Hiên, Trần Thị Lan Hương (2006), Virus học đại cương, Tr−ờng ĐH Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Virus học đại cương
Tác giả: Nguyễn Bá Hiên, Trần Thị Lan Hương
Nhà XB: Tr−ờng ĐH Nông nghiệp I
Năm: 2006
10. Đặng Thế Huynh (1978), Truyền nhiễm học đại cương, Giáo trình bệnh truyền nhiễm gia súc, NXB Nông nghiệp, tr5-60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền nhiễm học đại cương
Tác giả: Đặng Thế Huynh
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1978
11. Trần Thị Liên (2006), Dự án sản xuất thử nghiệm vacxin vô hoạt phòng bệnh xuất huyết truyền nhiễm thỏ, Bộ Khoa học và công nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án sản xuất thử nghiệm vacxin vô hoạt phòng bệnh xuất huyết truyền nhiễm thỏ
Tác giả: Trần Thị Liên
Nhà XB: Bộ Khoa học và công nghệ
Năm: 2006
12. Phạm Thành Long, Ph−ơng Song Liên (2004), Phát hiện virus gây chết cấp tính cho đàn thỏ sinh sản ở trung tâm nghiên cứu dê, thỏ Sơn Tây, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, 11(1), tr95-96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát hiện virus gây chết cấp tính cho đàn thỏ sinh sản ở trung tâm nghiên cứu dê, thỏ Sơn Tây
Tác giả: Phạm Thành Long, Ph−ơng Song Liên
Nhà XB: Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y
Năm: 2004
15. Nguyễn Ngọc Nam (1983), H−ớng dẫn nuôi thỏ thịt, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: H−ớng dẫn nuôi thỏ thịt
Tác giả: Nguyễn Ngọc Nam
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1983
16. Nguyễn Vĩnh Ph−ớc (1976), Bệnh truyền nhiễm gia súc, NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh truyền nhiễm gia súc
Tác giả: Nguyễn Vĩnh Ph−ớc
Nhà XB: NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp
Năm: 1976
18. Nguyễn Quang Sức, Đinh Văn Bình (1993), Nuôi thỏ và chế biến sản phẩm ở gia đình, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi thỏ và chế biến sản phẩm ở gia đình
Tác giả: Nguyễn Quang Sức, Đinh Văn Bình
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1993
19. Lê Văn Tạo, Vacxin và sử dụng vacxin phòng bệnh động vật, Viện thó y Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vacxin và sử dụng vacxin phòng bệnh động vật
Tác giả: Lê Văn Tạo
Nhà XB: Viện thó y
20. Nguyễn Quang Thạch, Nguyễn Thị Lý Anh, Nguyễn Thị Ph−ơng Thảo (2005), Công nghệ sinh học nông nghiệp, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ sinh học nông nghiệp
Tác giả: Nguyễn Quang Thạch, Nguyễn Thị Lý Anh, Nguyễn Thị Ph−ơng Thảo
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2005
21. Nguyễn Nh− Thanh (1996), Miễn dịch học thú y, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Miễn dịch học thú y
Tác giả: Nguyễn Nh− Thanh
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1996
22. Nguyễn Nh− Thanh (2001), Vi sinh vật thú y, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi sinh vật thú y
Tác giả: Nguyễn Nh− Thanh
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2001
23. Tô Long Thành (2007), Miễn dịch học thực hành, Tạp chí Khoa học kü thuËt thó y, 14(3), tr71-77 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Miễn dịch học thực hành
Tác giả: Tô Long Thành
Nhà XB: Tạp chí Khoa học kü thuËt thó y
Năm: 2007
26. Phạm Văn Ty (2004), Virus học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Virus học
Tác giả: Phạm Văn Ty
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
4. Nguyễn Chu Chương (2003), Hỏi đáp về nuôi thỏ, NXB Nông nghiệp Khác
9. Mạnh Hùng (1972), Kỹ thuật nuôi thỏ, NXB Nông thôn Khác
13. Nguyễn Lương (1997), Dịch tễ học đại cương, Trường ĐH Nông Lâm, Thủ Đức Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.2 Triệu chứng bệnh xuất huyết truyền nhiễm trên thỏ - Khảo sát các chỉ tiêu an toàn và hiệu lực của vacxin phòng bệnh xuất huyết truyền nhiễm thỏ
Hình 2.2 Triệu chứng bệnh xuất huyết truyền nhiễm trên thỏ (Trang 45)
Hình 2.3 Bệnh tích của bệnh xuất huyết truyền nhiễm thỏ (ở gan, và nội - Khảo sát các chỉ tiêu an toàn và hiệu lực của vacxin phòng bệnh xuất huyết truyền nhiễm thỏ
Hình 2.3 Bệnh tích của bệnh xuất huyết truyền nhiễm thỏ (ở gan, và nội (Trang 46)
Sơ đồ sản xuất vacxin vô hoạt xuất huyết truyền nhiễm thỏ[11] - Khảo sát các chỉ tiêu an toàn và hiệu lực của vacxin phòng bệnh xuất huyết truyền nhiễm thỏ
Sơ đồ s ản xuất vacxin vô hoạt xuất huyết truyền nhiễm thỏ[11] (Trang 53)
Bảng 4.1 Thời gian chết của thỏ thí nghiệm đã gây nhiễm virus RHD ở - Khảo sát các chỉ tiêu an toàn và hiệu lực của vacxin phòng bệnh xuất huyết truyền nhiễm thỏ
Bảng 4.1 Thời gian chết của thỏ thí nghiệm đã gây nhiễm virus RHD ở (Trang 60)
Bảng 4.3  Kết quả gây nhiễm virus RHD cho thỏ - Khảo sát các chỉ tiêu an toàn và hiệu lực của vacxin phòng bệnh xuất huyết truyền nhiễm thỏ
Bảng 4.3 Kết quả gây nhiễm virus RHD cho thỏ (Trang 63)
Bảng 4.4 Kết quả kiểm tra vô trùng của vacxin RHD - Khảo sát các chỉ tiêu an toàn và hiệu lực của vacxin phòng bệnh xuất huyết truyền nhiễm thỏ
Bảng 4.4 Kết quả kiểm tra vô trùng của vacxin RHD (Trang 64)
Bảng 4.5  Kết quả kiểm tra an toàn của vacxin RHD - Khảo sát các chỉ tiêu an toàn và hiệu lực của vacxin phòng bệnh xuất huyết truyền nhiễm thỏ
Bảng 4.5 Kết quả kiểm tra an toàn của vacxin RHD (Trang 65)
Bảng 4.6 Kết quả kiểm tra hiệu lực vacxin RHD - Khảo sát các chỉ tiêu an toàn và hiệu lực của vacxin phòng bệnh xuất huyết truyền nhiễm thỏ
Bảng 4.6 Kết quả kiểm tra hiệu lực vacxin RHD (Trang 66)
Bảng 4.7 Thời gian chết  thỏ đối chứng sau khi - Khảo sát các chỉ tiêu an toàn và hiệu lực của vacxin phòng bệnh xuất huyết truyền nhiễm thỏ
Bảng 4.7 Thời gian chết thỏ đối chứng sau khi (Trang 67)
Bảng 4.8 Kết quả dấu hiệu bệnh tích thỏ đối chứng chết sau - Khảo sát các chỉ tiêu an toàn và hiệu lực của vacxin phòng bệnh xuất huyết truyền nhiễm thỏ
Bảng 4.8 Kết quả dấu hiệu bệnh tích thỏ đối chứng chết sau (Trang 68)
Hình 4.1 Diễn biến hiệu giá kháng thể trung bình của 3 nhóm thỏ    Vì vậy, cần phải đề ra lịch tiêm phòng cho thỏ con, hợp lý nhất là  lúc  thỏ  1,5-2  tháng  tuổi  để  thỏ  kịp  thời  có  đáp  ứng  miễn  dịch  kháng  lại  virus RHD - Khảo sát các chỉ tiêu an toàn và hiệu lực của vacxin phòng bệnh xuất huyết truyền nhiễm thỏ
Hình 4.1 Diễn biến hiệu giá kháng thể trung bình của 3 nhóm thỏ Vì vậy, cần phải đề ra lịch tiêm phòng cho thỏ con, hợp lý nhất là lúc thỏ 1,5-2 tháng tuổi để thỏ kịp thời có đáp ứng miễn dịch kháng lại virus RHD (Trang 71)
Hình 4.2 Diễn biến hiệu giá kháng thể trung bình của 4 nhóm thỏ đ−ợc - Khảo sát các chỉ tiêu an toàn và hiệu lực của vacxin phòng bệnh xuất huyết truyền nhiễm thỏ
Hình 4.2 Diễn biến hiệu giá kháng thể trung bình của 4 nhóm thỏ đ−ợc (Trang 74)
Hình 4.3 Sự biến động hiệu giá kháng thể trung bình của thỏ đ−ợc - Khảo sát các chỉ tiêu an toàn và hiệu lực của vacxin phòng bệnh xuất huyết truyền nhiễm thỏ
Hình 4.3 Sự biến động hiệu giá kháng thể trung bình của thỏ đ−ợc (Trang 77)
Hình 4.4 Diễn biến hiệu giá kháng thể trung bình của thỏ thịt đ−ợc - Khảo sát các chỉ tiêu an toàn và hiệu lực của vacxin phòng bệnh xuất huyết truyền nhiễm thỏ
Hình 4.4 Diễn biến hiệu giá kháng thể trung bình của thỏ thịt đ−ợc (Trang 82)
Hình 4.5 Diễn biến hiệu giá kháng thể trung bình của thỏ bố mẹ đ−ợc - Khảo sát các chỉ tiêu an toàn và hiệu lực của vacxin phòng bệnh xuất huyết truyền nhiễm thỏ
Hình 4.5 Diễn biến hiệu giá kháng thể trung bình của thỏ bố mẹ đ−ợc (Trang 86)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm