Mục tiêu và trình tự tổ chức công tác kiểm toán (1).docx
Trang 1Bài thuyết trình nhóm 8.1,2:
CHỦ ĐỀ:
Tổ chức công tác kiểm toán
Chuẩn bị kiểm toán
Kiểm toán căn bản
Trang 2Hà Nội, năm 2012
Các thành viên trong nhóm
Trang 3Mục tiêu và trình tự tổ chức công tác kiểm toán 3
I Khái niệm chung về tổ chức 3
II Tổ chức công tác kiểm toán 3
CHUẨN BỊ KIỂM TOÁN 11
I Khái niệm 11
II Các công việc chủ yếu 12
1 Xác định mục tiêu phạm vi kiểm toán 13
2 Chỉ định người phụ trách công việc kiểm toán và chuẩn bị các điều kiện vật chất cơ bản 16
3 Thu thập thông tin 17
4 Lập kế hoạch kiểm toán 27
5 Xây dựng chương trình kiểm toán 29
Quá trình chuẩn bị kiểm toán báo cáo tài chính của AASC 31
Thủ tục kiểm toán 38
Trang 4M c tiêu và trình t t ch c công tác ki m ục tiêu và trình tự tổ chức công tác kiểm ự tổ chức công tác kiểm ổ chức công tác kiểm ức công tác kiểm ểm toán
Khái niệm: Tổ chức nói chung là mối liên hệ giữa các yếu tố trong một hệthống theo một trật tự nhất định
- Mục tiêu của tổ chức: tạo ra mối liên hệ giữa các yếu tố trong một hệ thốngtheo một trật tự xác định
- Mức độ của mối liên hệ: xác định qua biên độ giao động từ 0 → 1
+ Ở mức độ 0: các yếu tố trong hệ thống không tồn tại bất kỳ mối liên hệ nào
Hệ thống rơi vào tình trạng tan rã hay vô tổ chức
+ Ở mức độ 1: ngược lại, các yếu tố quan hệ chặt chẽ, khoa học
đó là nghệ thuật của tổ chức Mặt khác, là một khoa học, tổ chức kiểm toán cũngcần và có thể khái quát các cách kết hợp theo các trình tự khoa học chung giữa cácyếu tố trong thực tiễn kiểm toán
Trang 5Như vậy, tổ chức công tác kiểm toán vừa mang tính khoa học vừa mang tínhnghệ thuật :
+ Tính khoa học : quy trình kỹ thuật được thực hiện một cách tuần tự và lôgíc
+ Tính nghệ thuật : tính linh hoạt và sáng tạo trong thực hiện kiểm toán tức làcác cách kết hợp các yếu tố khác nhau và mang lại hiệu quả khác nhau
2 Mục tiêu của tổ chức công tác kiểm toán
Mục tiêu của tổ chức công tác kiểm toán hướng tới việc tạo ra mối liên hệkhoa học và nghệ thuật các phương pháp kỹ thuật kiểm toán dùng để xác minh vàbày tỏ ý kiến về đối tượng kiểm toán
Một cuộc kiểm toán chỉ có thể thực hiện thành công nếu đối tượng kiểm toánđược xác định thống nhất giữa chủ thể và khách thể kiểm toán, trong đó chủ thểkiểm toán được xác định rõ mục tiêu và phạm vi kiểm toán và kết hợp khéo léo cácphương pháp kĩ thuật theo trình tự kiểm toán trong khuôn khổ những cơ sở pháp lýnhất định để thực hiện cuộc kiểm toán, thỏa mãn nhu cầu khách thể kiểm toán vàcác bên quan tâm Theo đó, tổ chức kiểm toán là một vấn đề cơ bản, có ý nghĩaquyết định sự thành công và tính hiệu quả thực hiện một cuộc kiểm toán
3 Các mối liên hệ trong kiểm toán
Trang 6Thực trạng
hoạt động
tài chính
CÁC PHÂN HÀNH KIỂM TOÁN
Vật tư Nghiệp vụ kinh doanh
Tuân thủ Mục
tiêu kiểm toán
Thông tin Quy tắc Hiệu quả Hiệu năng
Độc lập
Nhà nước
Trang 7- Phân tích các mối liên hệ trong kiểm toán:
Xuất phát từ yêu cầu của quản lý và phục vụ cho nhu cầu quản lý, kiểm toánđược hình thành với 2 chức năng cơ bản là xác minh và bày tỏ ý kiến Vớitừng chức năng của mình, kiểm toán có thể thực hiện các loại dịch vụ khácnhau như với chức năng xác minh - khẳng định mức độ trung thực của tàiliệu, tính pháp lý của việc thực hiện các nghiệp vụ hay việc lập các bảngkhai tài chính - các công ty kiểm toán có thể cung cấp các dịch vụ khácnhau như tư vấn tài chính, tư vấn quản lý… Cơ sở để thực hiện các chứcnăng kiểm toán này phải dựa trên đối tượng kiểm toán mà ta không thểkhông đề cập đến đây đó là thực trạng hoạt động tài chính của khách thểkiểm toán Đây là đối tượng chung của kiểm toán, là cơ sở để kiểm toánviên xây dựng hệ thống phương pháp kiểm toán phù hợp
Trong đó, thực trạng tài sản và nghiệp vụ tài chính là một trong những đốitượng cụ thể của kiểm toán Do tài sản tồn tại dưới nhiều hình thái vật chấtkhác nhau, được lưu trữ dưới nhiều dạng khác nhau, thường xuyên vậnđộng, mà quá trình vận động của tài sản tạo thành các nghiệp vu khác nhau.Mặt khác sự đa dạng về loại hình các nghiệp vụ cũng như đặc tính của tàisản chứa đựng trong các nghiệp vụ nên đòi hỏi phải chia công tác kiểm toáncác nghiệp vụ này thành những phân hành kiểm toán khác nhau Có thểphân chia đối tượng kiểm toán thành các phần hành theo 2 cách thông dụng
Đó là phân chia theo các khoản mục trên bảng khai tài chính hay theophương pháp chu trình Phân chia khoản mục là cách chia máy móc từngkhoản mục hay nhóm khoản mục trong các bảng khai tài chính thành mộtphần hành Phân chia theo chu trình là cách chia căn cứ vào mối liên hệ chặtchẽ lẫn nhau giữa các khoản mục, các quá trình cấu thành các yếu tố trongmột chu trình chung của hoạt động tài chính Bao gồm nghiệp vụ về kinhdoanh, nghiệp vụ tiền mặt, nghiệp vụ tài chính…Việc phân chia thành cácphần hành như vậy giúp cho công tác kiểm toán tiến hành dễ dàng, tránhnhầm lẫn sai sót, không mất nhiều thời gian
Trang 8 Tùy theo mục đích của khách thể kiểm toán và kiểm toán viên tiến hànhcác loại hình kiểm toán khác nhau, hướng đến các đối tượng cụ thể, mụctiêu cụ thể tùy theo loại hình kiểm toán.
Mặt khác, để thực hiện được các chức năng của mình, đòi hỏi các kiểm toánviên phải vận dụng các phương pháp kiểm toán khác nhau trong từngtrường hợp cụ thể Ví dụ như với các loại bằng chứng kiểm toán nằm trênchứng từ thì kiểm toán viên có thể sử dụng phương pháp cân đối và phântích,…
khác nhau, đơn vị đó có thể thuê một công ty kiểm toán bên ngoài tiến hànhkiểm toán trong đơn vị của mình (ngoại kiểm) hay họ có thể sử dụng ngaynguồn lực của mình để tiến hành kiểm toán (nội kiểm)
Tùy thuộc vào việc lựa chọn loại hình kiểm toán là nội kiểm hay ngoại kiểm
mà chủ thể kiểm toán có thể cung cấp cho các đơn vị kiểm toán những dịch
vụ khác nhau:
- Nếu tiến hành nội kiểm thì nhằm phục vụ nhu cầu quản lý nội bộ đơn vị, chủthể kiểm toán có thể cung cấp các dịch vụ kế toán hay thuế, tư vấn quản lýdoanh nghiệp
- Nếu là ngoại kiểm thì chủ thể kiểm toán có thể cung cấp dịch vụ tư vấn tàichính hay tư vấn quản lý…
4 Các yếu tố quyết định đến trình tự kiểm toán
+ Tính quy luật chung: Tùy theo đối tượng cụ thể như là các nghiệp vụ cụ thể
hay các bảng khai tài chính mà trình tự kiểm toán khác nhau
Nếu đối tượng là các nghiệp vụ, kiểm toán đi từ cụ thể đến tổng quát nên
phương thức kết hợp các phương pháp kiểm toán thường bắt đầu từ đối chiếu đếnđiều tra… kiểm tra cân đối tổng hợp Nếu các nghiệp vụ đã được phản ánh trongchứng từ và tài liệu kế toán thì trình tự kiểm toán theo trình tự kế toán
Nếu đối tượng là các bảng khai tài chính, kiểm toán thường bắt đầu bằng kiểm
toán cân đối tổng quát, qua đối chiếu các khoản mục có liên quan đến điều tra hoặc
Trang 9kiểm kê hay thử nghiệm khi cần thiết Nếu giới hạn ở kiểm toán chứng từ thì kiểmtoán các bảng khai tài chính có trình tự ngược với trình tự kế toán
+ Tuy nhiên, “cái riêng” ở đây là tùy phạm vi kiểm toán và quan hệ giữa chủ
thể với khách thể kiểm toán, trình tự chung của kiểm toán cũng thay đổi với mụctiêu bảo đảm hiệu quả kiểm toán
Kiểm toán hoạt động, do đặc điểm, vị trí từng loại nghiệp vụ rất khác nhau
nên phạm vi kiểm toán chung – và kéo theo trình tự kiểm toán các nghiệp vụ nàyrất khác nhau VD, nghiệp vụ về tiền mặt do tính gọn nhẹ dễ di chuyển, dễ bảoquản với cương vị thanh toán, do tính biến động thường xuyên và mật độ lớn của
nó và do vận động của tiền tệ là bộ mặt của hoạt động ở đơn vị kiểm toán… nênthông thường phải tiến hành kiểm toán toàn diện Khi đó trình tự kiểm toán chứng
từ thường phù hợp với trình tự kế toán Ngược lại, hàng tồn kho, tài sản cố địnhthường bao gồm nhiều loại cụ thể, mỗi loại có khối lượng lớn được bảo quản ởnhiều kho, bãi khác nhau Kiểm toán thông thường lại đi từ điều tra sơ bộ, chọnmẫu kiểm toán, kiểm kê và đối chiếu sổ kế toán…
Tương tự, kiểm toán bảng khai tài chính không phải có trình tự như nhau
cho mỗi lần kiểm toán ở một cương vị cụ thể với điều kiện và lực lượng kiểm toán
cụ thể Do khách thể của kiểm toán tài chính rất đa dạng: có thể là Bộ, tỉnh, huyện,
xã, các cấp ngân sách nhà nước; có thể là các doanh nghiệp có ngân sách riêng vàcác khách thể tự nguyện khác Đặc biệt với các khách thể và đối tượng phức tạphoặc có nhiều thế lực cản trở hay cố tình giấu diếm, vi phạm…trình tự công táckiểm toán cũng phải hết sức linh hoạt, sáng tạo
Hơn nữa, trong khu vực nhà nước, kiểm toán tài chính thường kết hợp chặt chẽvới kiểm toán hoạt động và kiểm toán tuân thủ để hình thành kiểm toán liên kết.Trường hợp này các trường hợp ngược- xuôi của kiểm toán so với trình tự kế toánphải được kết hợp chặt chẽ Chẳng hạn, kiểm toán ngân sách nhà nước cuối kỳtrình tự kiểm toán phổ biến là ngược với trình tự kế toán trong khi công việc của
Trang 10kiểm soát viên nhà nước đặt tại đơn vị nói chung phải thực hiện đồng thời với trình
tự kế toán
5 Quy trình tổ chức công tác kiểm toán
Tuy trình tự của bản thân công tác kiểm toán khác nhau song trong mọi trườnghợp, tổ chức kiểm toán đều phải được thực hiện theo một quy trình chung với 3bước cơ bản:
Bước 1: Chuẩn bị kiểm toán bao gồm tất cả các công việc khác nhau nhằm tạođược cơ sở pháp lý, kế hoạch kiểm toán cụ thể và các điều kiện vật chất cho côngtác kiểm toán
Bước 2: Thực hành kiểm toán bao gồm tất cả các công việc thực hiện chứcnăng xác minh của kiểm toán để khẳng định được thực chất của đối tượng vàkhách thể kiểm toán cụ thể
Bước 3: Kết thúc kiểm toán bao gồm các công việc đưa ra kết luận kiểm toán,lập báo cáo kiểm toán và giải quyết các công việc phát sinh sau khi lập báo cáokiểm toán
Để thực hiện quy trình kiểm toán với 3 bước cơ bản nêu trên, khái niệm “ Cuộckiểm toán” phải bao hàm đầy đủ các yếu tố sau:
Đối tượng kiểm toán
Mục tiêu và phạm vi kiểm toán
Chủ thể kiểm toán
Khách thể kiểm toán
Phương pháp áp dụng trong kiểm toán và cơ sở pháp lý thực hiện kiểm toánThời hạn kiểm toán
Trang 11Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, hoạt động kiểm toán nói chung là nhữnghoạt động còn tương đối mới mẻ Trong khi đó hành lang pháp lý cho hoạt độngkiểm toán chưa đầy đủ, nội dung, quy trình cũng như phương pháp được vận dụngtrong các cuộc kiểm toán của Việt Nam mới ở giai đoạn đầu Do vậy, kế hoạchkiểm toán cần được coi trọng để đảm bảo chất lượng và hiệu quả của cuộc kiểmtoán Thực tiễn hoạt động kiểm toán ở nước ta trong những năm vừa qua cho thấy
kế hoạch kiểm toán được lập đầy đủ và chu đáo là một trong những nhân tố hàngđầu đưa đến sự thành công của cuộc kiểm toán cũng như dẫn đến sự thành côngcủa các doanh nghiệp
CHU N B KI M TOÁN ẨN BỊ KIỂM TOÁN Ị KIỂM TOÁN ỂM TOÁN
Chuẩn bị kiểm toán là bước công việc đầu tiên của tổ chức công tác kiểm toánnhằm tạo ra tất cả tiền đề và điều kiện cụ thể trước khi thực hành kiểm toán Đây làcông việc có ý nghĩa quyết định chất lượng kiểm toán
Vị trí vai trò của chuẩn bị kiểm toán trong một cuộc kiểm toán: Vì giai đoạnchuẩn bị là giai đoạn đầu tiên trong một cuộc kiểm toán, nó chuẩn bị đầy đủ về mặtvật chất, con người để tiến hành một cuộc kiểm toán nên có vai trò quan trọng, chiphối tới chất lượng và hiệu quả chung của toàn bộ cuộc kiểm toán Cụ thể:
Chuẩn bị kiểm toán giúp kiểm toán viên thu thập được các thông tin đầy đủ
và có giá trị làm cơ sở để đưa ra các ý kiến xác đáng về Báo cáo tài chính,
từ đó giúp các kiểm toán viên hạn chế những sai sót, giảm thiểu trách nhiệmpháp lý, nâng cao hiệu quả công việc và giữ vững được uy tín nghề nghiệpđối với khách hàng, giữ vững tiếng tốt trong cộng đồng nghề nghiệp
cũng như phối hợp hiệu quả với các bộ phận có liên quan như bộ phận:kiểm toán nội bộ, các chuyên gia bên ngoài Đồng thời qua sự phối hợphiệu quả đó, kiểm toán viên có thể tiến hành cuộc kiểm toán theo đúng
Trang 12chương trình đã lập với các chi phí ở mức hợp lý, tăng cường sức cạnhtranh cho công ty kiểm toán và giữ uy tín với khách hàng.
tránh xảy ra những bất đồng đối với khách hàng Trên cơ sở kế hoạch kiểmtoán đã lập, kiểm toán viên thống nhất với các khách hàng về nội dung côngviệc sẽ thực hiện, thời gian tiến hành kiểm toán cũng như là trách nhiệm củamỗi bên… Điều này tránh xảy ra những hiểm lầm đáng tiếc giữa hai bên.Việc tránh xảy ra những bất đồng với khách hàng có tầm quan trọng vớiviệc duy trì quan hệ tốt với khách hàng và tạo điều kiện thực hiện cuộckiểm toán có chất lượng
Thí dụ, giả sử kiểm toán viên thông báo cho khách hàng là cuộc kiểm toánhoàn tất trước ngày 31/8 những sẽ không hoàn thành trước tháng 9 do sự bố tríkhông đầy đủ nhân viên Khách hàng có khả năng bị vỡ kế hoạch vì công ty kiểmtoán và thậm chí có thể kiện công ty kiểm toán vì vi phạm hợp đồng
Các công việc chủ yếu cần thực hiện khi chuẩn bị kiểm toán là:
L p k ho ch ki m toánập kế hoạch kiểm toán ế hoạch kiểm toán ạch kiểm toán ểm toán căn bản
Thu th p thông tin ập kế hoạch kiểm toán
Ch đ nh ngịnh người phụ trách công việc kiểm toán và chuẩn bị các điều ười phụ trách công việc kiểm toán và chuẩn bị các điều i ph trách công vi c ki m toán và chu n b các đi u ụ trách công việc kiểm toán và chuẩn bị các điều ệc kiểm toán và chuẩn bị các điều ểm toán căn bản ẩn bị các điều ịnh người phụ trách công việc kiểm toán và chuẩn bị các điều ều
ki n v t ch t c b nệc kiểm toán và chuẩn bị các điều ập kế hoạch kiểm toán ất cơ bản ơng trình kiểm toán ản
Xác đ nh m c tiêu ph m vi ki m toánịnh người phụ trách công việc kiểm toán và chuẩn bị các điều ụ trách công việc kiểm toán và chuẩn bị các điều ạch kiểm toán ểm toán căn bản
Trang 131 Xác định mục tiêu phạm vi kiểm toán
a Mục tiêu kiểm toán:
Là đích cần đạt tới đồng thời là thước đo kết quả kiểm toán cho mỗi cuộc kiểmtoán cụ thể Với tư cách là đích đến cũng như thước đo kết quả, mục tiêu kiểm toánphải được xác định cụ thể và chính xác Đây là yêu cầu đầu tiên đối với công việckiểm toán Mục tiêu kiểm toán có thể biểu hiện trong kế hoạch, hợp đồng hay lệnhkiểm toán
Mục tiêu chung của kiểm toán phải gắn chặt với mục tiêu yêu cầu của quản lý
Vì vậy trước hết mục tiêu của kiểm toán phải tùy thuộc vào quan hệ giữa chủ thể
và khách thể của cuộc kiểm toán, tùy thuộc vào loại hình kiểm toán
Các lĩnh vực kiểm toán khác nhau có các mục tiêu kiểm toán khác nhau:
Kiểm toán thông tin: mục tiêu là hướng vào đánh giá tính trung thực và hợppháp của các tài liệu thông tin và tạo niềm tin cho những người quan tâmđến tài liệu kế toán
Kiểm toán tính quy tắc: mục tiêu là hướng vào đánh giá tình hình thực hiệncác chế độ, thể lệ luật pháp của Nhà nc và các quy định của đơn vị
Kiểm toán hiệu quả: Hướng tới việc đánh giá sức sinh lời của vốn
Kiểm toán hiệu năng: hướng tới việc đánh giá các lợi ích xã hội, lợi ích kinh
tế của các chương trình dự án cụ thể
Từ đó khi cụ thể thành các loại hình kiểm toán: kiểm toán tài chính, kiểm toánhoạt động hay tuân thủ thì cũng có những mục tiêu tương ứng:
thông tin trên Bảng khai tài chính
toán nhằm nâng cao tính hiệu quả và hiệu năng của từng hoạt động vànghiệp vụ của đơn vị được kiểm toán
Trang 14 Kiểm toán tuân thủ: Hướng tới đánh giá mức độ tuân thủ chế độ, thể lệ, luậtpháp của Nhà nước hoặc nội quy của đơn vị được kiểm toán.
Ví dụ: Chuẩn mực 200 – Hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam quy định:
“Mục tiêu của kiểm toán báo cáo tài chính là giúp cho kiểm toán viên và công tykiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng báo cáo tài chính có được lập trên cơ sởchuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận), có tuân thủ phápluật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu haykhông?
Mục tiêu của kiểm toán báo cáo tài chính còn giúp cho đơn vị được kiểm toánthấy rõ những tồn tại, sai sót để khắc phục nhằm nâng cao chất lượng thông tin tàichính của đơn vị.”
Trong khi đó, quan hệ giữa chủ thể và khách thể của kiểm toán thì lại phụ
thuộc trước hết vào bộ máy kiểm toán (chủ thể kiểm toán): kiểm toán Nhà nước,kiểm toán độc lập hay kiểm toán nội bộ
Ngược lại, với các khách thể kiểm toán khác nhau (khách thể trực tiếp hay giántiếp, bắt buộc hay tự nguyện, cũ hay mới….) cũng dẫn đến các mối quan hệ giữachủ thể và khách thể kiểm toán riêng biệt Tùy thuộc vào mối quan hệ này mà đặt
ra những yêu cầu quản lý riêng, từ đó ta có được mục tiêu của cuộc kiểm toán.Ex: Khi chủ thể kiểm toán là kiểm toán Nhà nước với các khách thể kiểm toán
là các đơn vị sự nghiêp thì mục tiêu cuộc kiểm toán nghiêng về tính hiệu năng hơncả:
- Xác nhận về tính đúng đắn, trung thực của các báo cáo quyết toán, báo cáo tàichính trong kiểm toán báo cáo tài chính
- Kiểm tra, đánh giá và xác nhận việc tuân thủ pháp luật, nội quy, quy chế màđơn vị được kiểm toán phải thực hiện
- Đánh giá tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong quản lý và sử dụng ngân
sách, tiền và tài sản nhà nước
Trang 15- Thông qua hoạt động kiểm toán để chỉ ra và kiến nghị với đơn vị được kiểmtoán về các sai phạm và biện pháp khắc phục; chấn chỉnh công tác quản lý tàichính - kế toán, công tác quản lý hoạt động của đơn vị; kiến nghị với cấp có thẩmquyền xử lý các vi phạm chế độ kế toán, tài chính của Nhà nước; đề xuất với Chínhphủ và cơ quan liên quan những kiến nghị sửa đổi, cải tiến cơ chế quản lý tài chính
- kế toán nhằm bảo đảm các nguồn lực tài chính công được sử dụng tiết kiệm và
có hiệu quả cao nhất.
Tóm lại nói một cách khác thì để xác định mục tiêu kiểm toán thì trước hếtphải hiểu rõ loại hình kiểm toán cũng như mối quan hệ giữa khách thể và chủ thểkiểm toán Từ đó mới xác định kiểm toán để làm gì? Kiểm toán phục vụ nhu cầucủa ai? Cũng như xác định các mục đích phụ khác nếu có
b Phạm vi kiểm toán:
Là sự giới hạn về không gian và thời gian của đối tượng kiểm toán Thôngthường, phạm vi kiểm toán sẽ đi đôi với mục tiêu kiểm toán Mỗi mục tiêu kiểmtoán khác nhau sẽ đòi hỏi một phạm vi kiểm toán khác nhau
Giới hạn không gian được nhắc đến ở đây chính là giới hạn về nội dung và đốitượng kiểm toán, số đơn vị cần tiến hành kiểm toán
Ex: nếu kiểm toán BCTC thì phải xác định đối tượng kiểm toán sẽ chỉ là Bảngcân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệhay toàn bộ bảng khai tài chính Hay với kiểm toán nghiệp vụ thì đó là nghiệp vụnào, tất cả các nghiệp vụ hay chỉ nghiệp vụ về kho, két, thù lao, thậm chí phải chỉ
rõ kho nào, két nào và thù lao ở đơn vị cụ thể nào
Cùng với việc cụ thể hóa về đối tượng, phải cụ thể hóa về khoảng thời gianthuộc phạm vi kiểm toán (tháng, quý, năm) nhằm nâng cao chất lượng của kết quảkiểm toán Giới hạn về thời gian bao gồm việc xác định thời kỳ kiểm toán, xácđịnh rõ niên độ kế toán (năm tài khóa) hoặc khoảng thời gian từ khi bắt đầu cho tớikhi kết thúc của chương trình, dự án hay công trình xây dựng cơ bản
Trang 16Tại sao lại cần xác định mục tiêu phạm vi kiểm toán khi bắt đầu chuẩn bị kiểmtoán? Chuẩn bị kiểm toán là bước tạo tiền đề và điều kiện cụ thể trước khi thựchành kiểm toán Chỉ khi xác định được mục tiêu và phạm vi kiểm toán chủ thểkiểm toán mới có cơ sở để xây dựng kế hoạch kiểm toán và tiến hành thực hiệnkiểm toán.
2 Chỉ định người phụ trách công việc kiểm toán và chuẩn bị các điều kiện vật chất cơ bản
Tùy vào mục tiêu và phạm vi kiểm toán, cần chỉ định người chủ trì cuộc kiểmtoán Ngoài việc phụ thuộc và mục tiêu và phạm vi kiểm toán, người phụ trách cònphải tương xứng với vị trí, yêu cầu, nội dung và tinh thần của cuộc kiểm toán cũngnhư phù hợp với tính chất hoạt động của dơn vị được kiểm toán Việc chỉ địnhngười phụ trách cũng có ý nghĩa quan trọng, ảnh hưởng không nhỏ đến sự thànhcông của cuộc kiểm toán Chính vì vậy, đã được ghi trong nhóm chuẩn mực chung-chuẩn mực đầu tiên trong 10 chuẩn mực kiểm toán được chấp nhận phổ biếnGAAS Cụ thể:
1 Việc kiểm toán phải do một người hay một nhóm người được đào tạo nghiệp
vụ tương xứng và thành thạo chuyên môn như một kiểm toán viên thực thụ
2 Trong tất cả các vấn đề liên quan tới cuộc kiểm toán, kiểm toán viên phảigiữ một thái độ độc lập
3 Kiểm toán viên phải duy trì sự thận trọng nghề nghiệp đúng mực trong suốtcuộc kiểm toán
Các điều kiện vật chất cơ bản: Để thực hiện thành công một cuộc kiểm toán,trưởng đoàn kiểm toán phải chuẩn bị tương đối đầy đủ điều kiện vật chất cho các
tổ, các kiểm toán viên như đối với từng tổ kiểm toán phải có:
việc của đoàn
Trang 17 Giấy giới thiệu hoặc chứng nhận
toán, phương tiện kiểm kê thích ứng với từng loại vật tư đá quý…
Chi phí ăn ở, đi lại,…
3 Thu thập thông tin
Ở bước chuẩn bị, thu thập thông tin chỉ hướng tới việc đưa ra các bước quyếtđịnh về kiểm toán (kể cả lập kế hoạch kiểm toán) mà chưa đặt ra mục đích thu thậpbằng chứng cho kết luận kiểm toán Do vậy nhiệm vụ thu thập thông tin ở bướcnày cần đặt ra tương ứng với phạm vi và mục tiêu kiểm toán song cần quan tâmđến chiều rộng hơn là chiều sâu
Thông tin cần thiết cho chuẩn bị kiểm toán bao gồm:
a Các thông tin liên quan đến ngành nghề lĩnh vực hoạt động, các thông tin sơ
bộ về của khách thể kiểm toán
Những hiểu biết về ngành nghề hoạt động là cơ sở quan trọng để kiểm toánviên đưa ra các xét đoán chuyên môn Giúp kiểm toán viên thực hiện kiểm toán vớitính thận trọng nghề nghiệp đúng mức Mức độ hiểu biết và việc sử dụng các hiểubiết này một cách hợp lý sẽ trợ giúp kiểm toán viên trong các công việc:
ngành tới đơn vị
Đánh giá rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát;
(hoặc người đứng đầu);
Lập kế hoạch và thực hiện công việc kiểm toán một cách hiệu quả;
đó trong quá trình kiểm toán;
Đánh giá về sự đầy đủ và tính thích hợp của các bằng chứng kiểm toán;
Trang 18Thí dụ, giả sử bạn đang thực hiện kiểm toán một quỹ tương trợ đang có nhữngkhoản đầu tư đáng kể vào kĩ nghệ dầu hỏa và chất đốt Để thực hiện một cuộckiểm toán đầy đủ thì điều quan trọng là bạn phải có môt hiểu biết đầy đủ về cácquỹ tương trợ lẫn về kỹ nghệ dầu hỏa và khí đốt một sự hiểu biết hợp lý về ngànhkinh doanh của khách hàng đã được quy định trong SAS 22 (AU 311) )(chuẩn mựckiểm toán quốc tế) ( SAS 22 Planning and Supervision AU 311A RelatedInterpretations)
Các thông tin sơ bộ về đơn vị
Loại thông tin này cho phép kiểm toán viên có cái nhìn sơ bộ về khách thểkiểm toán giúp cho việc đánh giá rủi ro trong kiểm toán và các vấn đề trọng yếucần cân nhắc khi lập kế hoạch
Quá trình hình thành và những thay đổi về tổ chức, mô hình, tính chất hoạtđộng của đơn vị
Mục tiêu hoạt động chủ yếu, chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức
động; những nghiệp vụ kinh doanh chính, các dịch vụ; quy trình nghiệp vụ;chế độ kế toán và phương pháp xử lý thông tin kế toán
Điều lệ tổ chức và hoạt động; Quy chế quản lý tài chính, tín dụng, các vănbản pháp quy khác có liên quan đến quản lý và phân cấp quản lý tài chính,
tình hình tài chính của đơn vị: Tình hình môi trường kinh tế, xã hội, môitrường hoạt động của tổ chức và các chính sách, luật pháp, đánh giá sơ bộ
Trang 19những thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến tình hoạtđộng và BCTC của đơn vị.
một số năm trước đó (theo số báo cáo của đơn vị): Chi tiết theo từng loạihình đơn vị
Lấy ví dụ, trong phạm vi kiểm toán tài chính: Trong chuẩn mực kiểm toán ViệtNam số 310 – Hiểu biết về tình hình kinh doanh có đề cập: “Để thực hiện kiểmtoán Báo cáo tài chính, kiểm toán viên phải có hiểu biết về tình hình kinh doanh đủ
để có thể nhận thức và xác định các sự kiện, nghiệp vụ và thực tiễn hoạt động củađơn vị được kiểm toán mà theo đánh giá của kiểm toán viên có thể ảnh hưởngtrọng yếu đến Báo cáo tài chính, đến việc kiểm tra của kiểm toán viên, hoặc đếnbáo cáo kiểm toán”
Những nội dung cụ thể kiểm toán viên phải hiểu biết về tình hình kinh doanhcủa khách thể kiểm toán được quy định trong chuẩn mực 310, bao gồm:
- Hiểu biết chung về nền kinh tế: Thực trạng nền kinh tế; lãi suất và lạm phát; các chính sách của Chính phủ; biến động thị trường chứng khoán và các tỷ
lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh của đơn vị được kiểm toán;
tỉ giá hối đoái,
- Môi trường và lĩnh vực hoạt động:
+ Thị trường và cạnh tranh;
+ Đặc điểm hoạt động kinh doanh (liên tục hay theo thời vụ);
+ Các thay đổi trong công nghệ sản xuất, kinh doanh;
+ Rủi ro kinh doanh (Công nghệ cao, thị hiếu thị trường, cạnh tranh, );
+ Sự thu hẹp hay mở rộng quy mô kinh doanh;
+ Các điều kiện bất lợi (Cung, cầu tăng hoặc giảm, chiến tranh, giá cả, );
Trang 20+ Các tỷ suất quan trọng và các số liệu thống kê về hoạt động kinh doanh hàng năm;
+ Chuẩn mực, chế độ kế toán và các vấn đề liên quan;
+ Các quy định pháp luật và các chính sách, chế độ cụ thể có liên quan;
+ Các nguồn cung cấp (Ví dụ: Hàng hóa, dịch vụ, lao động, ) và giá cả.
- Nhân tố nội tại của đơn vị được kiểm toán
+ Các đặc điểm quan trọng về sở hữu và quản lý:
hội đồng quản trị; giám đốc và bộ máy điều hành;
loại hình doanh nghiệp
Lĩnh vực, phạm vi và đối tượng được phép kinh doanh;
Thời hạn được phép hoạt động;
Sơ đồ tổ chức bộ máy sản xuất, kinh doanh; bộ máy quản lý;
Các mục tiêu quản lý và kế hoạch chiến lược;
+ Tình hình kinh doanh của đơn vị:
- Đặc điểm và qui mô hoạt động sản xuất, kinh doanh;
- Các điều kiện sản xuất, kho bãi, văn phòng;
b Tìm hiểu về hệ thống kế toán, kiểm soát nội bộ:
Việc nghiên cứu cơ cấu kiểm soát nội bộ của khách hàng và kết quả đánh giárủi ro kiểm toán rất quan trọng đối với kiểm toán viên và được đặc biệt xem nhưmột chuẩn mực kiểm toán đã được thừa nhận
Trang 21SAS 55(AU 320) quy định là kiểm toán viên phải đạt được một sự hiểu biết về
cơ cấu kiểm soát nội bộ của công ty khách hàng của mọi cuộc kiểm toán Mức độhiểu biết đó phải đủ để lập kế hoạch đầy đủ cho cuộc kiểm toán
Hay Chuẩn mực số 400 – Hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam quy địnhKiểm toán viên phải có đủ hiểu biết về hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội
bộ của khách hàng để lập kế hoạch kiểm toán tổng thể và chương trình kiểm toánthích hợp, có hiệu quả
Hệ thống kiểm soát nội bộ: Là các qui định và các thủ tục kiểm soát do đơn vịđược kiểm toán xây dựng và áp dụng nhằm bảo đảm cho đơn vị tuân thủ pháp luật
và các qui định, để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót; đểlập báo cáo tài chính trung thực và hợp lý; nhằm bảo vệ, quản lý và sử dụng cóhiệu quả tài sản của đơn vị
Việc tìm hiểu hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị đượckiểm toán và việc đánh giá rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát sẽ giúp cho kiểmtoán viên:
- Xác định được phạm vi kiểm toán cần thiết đối với những sai sót trọng yếu cóthể tồn tại trong báo cáo tài chính;
- Xem xét những nhân tố có khả năng gây ra sai sót trọng yếu;
- Xây dựng các thủ tục kiểm toán thích hợp
Khi tìm hiểu hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ để lập kế hoạchkiểm toán, kiểm toán viên sẽ hiểu biết được việc thiết kế và thực hiện của hệ thống
kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng Điều đó giúp cho kiểm toánviên xác định được khối lượng các nghiệp vụ kinh tế tài chính cần được kiểm tracũng như việc thiết lập các thủ tục kiểm tra cần thiết
Hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán,các thủ tục kiểm soát và bộ phận kiểm toán nội bộ nếu có
Trang 22Kiểm toán viên phải thu thập thông tin, đảm bảo sự hiểu biết về hệ thống kiểmsoát nội bộ của khách hàng:
* Môi trường kiểm soát: Bao gồm toàn bộ nhân tố bên trong và bên ngoài đơn
vị có tính môi trường tác động đến việc thiết kế, hoạt động và xử lí dữ liệu cùa cácloại hình kiểm soát nội bộ, chủ yếu liên quan đến quan điểm, thái độ, nhận thứccũng như hành động của các nhà quản lí trong doanh nghiệp
Để đánh giá môi trường kiểm soát, kiểm toán viên cần thu thập những yếu tố
về môi trường kiểm soát:
- Chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc và các phòng banchức năng của đơn vị;
- Tư duy quản lý, phong cách điều hành của thành viên Hội đồng quản trị vàBan Giám đốc;
- Cơ cấu tổ chức và quyền hạn, trách nhiệm của các bộ phận trong cơ cấu đó;
- Hệ thống kiểm soát của Ban quản lý bao gồm tất cả các bộ phận quản lý,kiểm soát, chức năng của kiểm toán nội bộ, chính sách và thủ tục liên quan đếnnhân sự và sự phân định trách nhiệm;
- Ảnh hưởng từ bên ngoài đơn vị như chính sách của Nhà nước, chỉ đạo củacấp trên hoặc cơ quan quản lý chuyên môn;
-
* Hệ thống kế toán: Là các qui định về kế toán và các thủ tục kế toán mà đơn
vị được kiểm toán áp dụng để thực hiện ghi chép kế toán và lập báo cáo tài chính
Hệ thống kế toán bao gồm hệ thống chứng từ và kế hoạch luân chuyển chứng từ,
hệ thống tài khoản kế toán, hệ thống sổ kế toán và hệ thống bảng tổng hợp, cân đối
kế toán, trong đó qúa trình lập và luân chuyển chứng từ đóng vai trò quan trọngtrong công tác KSNB doanh nghiệp Mục đích của một hệ thống kế toán là để nhậnbiết, thu thập, tính toán, phân loại, ghi sổ, tổng hợp và lập báo cáo về các nghiệp
vụ kinh tế phát sinh trong phạm vị tổ chức đó