1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tap bai giảng phan triết học môn những nguyên lý 2014 copy

89 428 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 850 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 Chương Mở đầu (4 giờ) 2 2 Chương 1. Triết học duy vật biện chứng về tự nhiên (7 giờ) 17 3 Chương 2. Triết học duy vật biện chứng về tư duy (8 giờ) 33 4 Chương 3. Triết học duy vật biện chứng về xã hội (10 giờ) 64 5 Câu hỏi ôn thi Phần triết học, môn Những Nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa MácLênin 89 6 Một vài câu chuyện triết lý 9092 CHƯƠNG MỞ ĐẦU. NHẬP MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁCLÊNIN I. KHAI LƯỢC VỀ CHỦ NGHĨA MÁCLÊNIN 1. Chủ nghĩa MácLênin và ba bộ phận cấu thành a. Chủ nghĩa MácLênin Định nghĩa. Chủ nghĩa MácLênin là “hệ thống các quan điểm và học thuyết” triết học, kinh tế chính trị, chủ nghĩa xã hội khoa học và chính trịxã hội do C.Mác và Ph.Ăngghen soạn ra vào những năm 4095 của t.k XIX; V.I.Lênin bảo vệ, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác vào điều kiện nước Nga những năm 18931924; Nguyễn Ái Quốc tiếp thu và vận dụng chủ nghĩa MácLênin vào cách mạng Việt Nam (19201969). Tại Đại hội VII (năm 1991), Đảng CSVN khẳng định “lấy chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động . Vai trò của chủ nghĩa MácLênin 1) Vai trò khoa học. Các bộ phận của chủ nghĩa MácLênin giúp trang bị thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận biện chứng duy vật để có nhận thức khoa học và hoạt động thực tiễn cách mạng; 2) Vai trò ý thức hệ. Là khoa học về sự nghiệp tự giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động và giải phóng con người; về những quy luật chung nhất của cách mạng xã hội chủ nghĩa, xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa MácLênin có vai trò hệ tư tưởng khoa học của giai cấp công nhân; Có thể nói, chủ nghĩa MácLênin là học thuyết về phương thức tồn tại và phát triển xã hội trong điều kiện xã hội có phân hóa giai cấp; bởi vậy, nó “cung cấp cho loài người và nhất là cho giai cấp công nhân, những công cụ nhận thức vĩ đại” và “kiên định chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng” trong điều kiện xã hội đó. b. Ba bộ phận lý luận cơ bản cấu thành chủ nghĩa MácLênin Chủ nghĩa MácLênin hình thành trên cơ sở kế thừa và phát triển biện chứng những tinh hoa tinh thần của nhân loại, được tích lũy trong lịch sử tư tưởng tây Âu trong hơn 2500 năm, bắt đầu từ Hy Lạp cổ đại (t.k VI tr.c.n) cũng như khái quát điều kiện kinh tếxã hội các nước Đức, Pháp, Anh thế kỷ XVIIIXIX. Nội dung chủ nghĩa MácLênin hết sức phong phú, bao quát nhiều lĩnh vực với những giá trị lịch sử, thời đại và khoa học to lớn; nhưng triết học MácLênin, kinh tế chính trị MácLênin và chủ nghĩa xã hội khoa học là những bộ phận quan trọng nhất: Triết học MácLênin nghiên cứu những quy luật chung nhất về sự vận động, phát triển của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy; Kinh tế chính trị MácLênin nghiên cứu những quy luật kinh tế của quá trình vận động, phát triển, diệt vong tất yếu của hình thái kinh tếxã hội tư bản chủ nghĩa và sự ra đời tất yếu của hình thái kinh tếxã hội cộng sản chủ nghĩa; Chủ nghĩa xã hội

Trang 1

CHỮ ĐỒNG NGHĨATriết học Mác-Lênin Triết học duy vật biện chứng

Chủ nghĩa duy vật biện chứng Triết học duy vật biện chứng về tự nhiên

Chủ nghĩa duy vật lịch sử Triết học duy vật biện chứng về xã hội/Triết

học chính trị/quan niệm duyvật về lịch sửPhép biện chứng duy vật Triết học duy vật biện chứng về nhận thức/

Lý luận nhận thức&Phép biện chứng duy vật

LLSX, QHSX, CSHT, KTTT Lực lượng sản xuất; Quan hệ sản xuất; Cơ sở

hạ tầng; Kiến trúc thượng tầngĐảng, Đảng ta, Đảng CSVN Đảng Cộng sản Việt Nam

C.Mác và Ph.Ăngghen:Toàn tập, 2004 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính

trị Quốc gia, Hà Nội, 2004

V.I.Lênin: Toàn tập, 2005 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia,

2 Chương 1 Triết học duy vật biện chứng về tự nhiên (7 giờ) 17

3 Chương 2 Triết học duy vật biện chứng về tư duy (8 giờ) 33

4 Chương 3 Triết học duy vật biện chứng về xã hội (10 giờ) 64

5 Câu hỏi ôn thi Phần triết học, môn Những Nguyên lý cơ bản của

chủ nghĩa Mác-Lênin

89

Trang 2

CHƯƠNG MỞ ĐẦU NHẬP MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN

I KHAI LƯỢC VỀ CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN

1 Chủ nghĩa Mác-Lênin và ba bộ phận cấu thành

a Chủ nghĩa Mác-Lênin

- Định nghĩa Chủ nghĩa Mác-Lênin là “hệ thống các quan điểm và học thuyết”1

triết học, kinh tế chính trị, chủ nghĩa xã hội khoa học và chính trị-xã hội do C.Mác vàPh.Ăngghen soạn ra vào những năm 40-95 của t.k XIX; V.I.Lênin bảo vệ, vận dụng vàphát triển chủ nghĩa Mác vào điều kiện nước Nga những năm 1893-1924; Nguyễn ÁiQuốc tiếp thu và vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin vào cách mạng Việt Nam (1920-1969).Tại Đại hội VII (năm 1991), Đảng CSVN khẳng định “lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động"2

- Vai trò của chủ nghĩa Mác-Lênin

1) Vai trò khoa học Các bộ phận của chủ nghĩa Mác-Lênin giúp trang bị thế giớiquan duy vật biện chứng và phương pháp luận biện chứng duy vật để có nhận thức khoahọc và hoạt động thực tiễn cách mạng;

2) Vai trò ý thức hệ Là khoa học về sự nghiệp tự giải phóng giai cấp vô sản, giảiphóng nhân dân lao động và giải phóng con người; về những quy luật chung nhất củacách mạng xã hội chủ nghĩa, xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, chủnghĩa Mác-Lênin có vai trò hệ tư tưởng khoa học của giai cấp công nhân;

Có thể nói, chủ nghĩa Mác-Lênin là học thuyết về phương thức tồn tại và phát triển xã hội trong điều kiện xã hội có phân hóa giai cấp; bởi vậy, nó “cung cấp cho loài

người và nhất là cho giai cấp công nhân, những công cụ nhận thức vĩ đại”3 và “kiên địnhchủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam chohành động của Đảng”4 trong điều kiện xã hội đó

b Ba bộ phận lý luận cơ bản cấu thành chủ nghĩa Mác-Lênin

Chủ nghĩa Mác-Lênin hình thành trên cơ sở kế thừa và phát triển biện chứngnhững tinh hoa tinh thần của nhân loại, được tích lũy trong lịch sử tư tưởng tây Âu tronghơn 2500 năm, bắt đầu từ Hy Lạp cổ đại (t.k VI tr.c.n) cũng như khái quát điều kiện kinhtế-xã hội các nước Đức, Pháp, Anh thế kỷ XVIII-XIX Nội dung chủ nghĩa Mác-Lêninhết sức phong phú, bao quát nhiều lĩnh vực với những giá trị lịch sử, thời đại và khoahọc to lớn; nhưng triết học Mác-Lênin, kinh tế chính trị Mác-Lênin và chủ nghĩa xã hội

khoa học là những bộ phận quan trọng nhất: Triết học Mác-Lênin nghiên cứu những quy

luật chung nhất về sự vận động, phát triển của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã

hội và tư duy; Kinh tế chính trị Mác-Lênin nghiên cứu những quy luật kinh tế của quá

trình vận động, phát triển, diệt vong tất yếu của hình thái kinh tế-xã hội tư bản chủ nghĩa

và sự ra đời tất yếu của hình thái kinh tế-xã hội cộng sản chủ nghĩa; Chủ nghĩa xã hội

Trang 3

-khoa học- học thuyết chính trị-xã hội về con đường và quy luật chuyển hóa lên hình thái

kinh tế-xã hội cộng sản

- Sự khác nhau và thống nhất giữa các bộ phận của chủ nghĩa Mác-Lênin

+ Giữa các bộ phận trên của chủ nghĩa Mác-Lênin có sự khác nhau tương đối, thể

hiện ở chỗ, chủ nghĩa xã hội khoa học không nghiên cứu mọi quy luật xã hội tác độngtrong tất cả hoặc trong mọi hình thái kinh tế-xã hội như triết học duy vật biện chứng về

xã hội, mà chỉ nghiên cứu các quy luật đặc thù của sự hình thành, phát triển của hình tháikinh tế-xã hội cộng sản chủ nghĩa Chủ nghĩa xã hội khoa học cũng không nghiên cứumọi quan hệ kinh tế như kinh tế chính trị, mà chỉ nghiên cứu các quan hệ chính trị-xã hộicủa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản;

+ Giữa các bộ phận trên của chủ nghĩa Mác-Lênin có sự thống nhất tương đối, thể

hiện ở quan niệm duy vật về lịch sử mà nội dung chính của nó là do sự phát triển kháchquan của lực lượng sản xuất nên từ một hình thái kinh tế-xã hội này sinh ra một hình tháikinh tế-xã hội khác tiến bộ hơn và chính quan niệm này đã thay thế sự lộn xộn, tùy tiệntrong các quan niệm về xã hội của các học thuyết trước đó; thể hiện ở việc C.Mác vàPh.Ăngghen vận dụng thế giới quan duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật vàoviệc nghiên cứu kinh tế, từ đó sáng tạo ra học thuyết giá trị thặng dư để nhận thức chínhxác sự xuất hiện, phát triển và diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản Đến lượt mình,học thuyết giá trị thặng dư cùng với quan niệm duy vật về lịch sử đã đưa sự phát triểncủa chủ nghĩa xã hội từ không tưởng đến khoa học

2 Khái lược quá trình hình thành và phát triến của chủ nghĩa Mác (1837-1895)

a Điều kiện và những tiền đề cho sự ra đời của chủ nghĩa Mác

- Điều kiện kinh tế-xã hội

+ Điều kiện kinh tế Từ cuối t.kXVIII đến giữa t.kXIX, cách mạng công nghiệp ởnước Anh đã lan rộng ra nhiều nước tây Âu Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trởthành phương thức thống trị và thể hiện rõ sự hơn hẳn so với phương thức sản xuấtphong kiến, làm thay đổi sâu sắc cơ cấu xã hội, trong đó có sự hình thành các giai cấp vàxung đột giai cấp;

+ Điều kiện xã hội Trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã xuất hiệnmâu thuẫn giữa tính xã hội của quá trình sản xuất và trình độ phát triển ngày càng caocủa lực lượng sản xuất với hình thức sở hữu tư liệu sản xuất tư nhân và phân chia sảnphẩm xã hội bất bình đẳng Biểu hiện của mâu thuẫn này nằm ở:

Sản phẩm xã hội tăng lên nhưng “tự do, bình đẳng, bác ái” không thực hiện được.Bất công xã hội tăng, đối kháng xã hội thêm sâu sắc, khủng hoảng kinh tế năm 1825,người lao động bị bần cùng hoá vì bị bóc lột;

Đến những năm 40 của thế kỷ XIX, giai cấp vô sản đã trở thành lực lượng chínhtrị-xã hội độc lập và cũng đã ý thức được những lợi ích cơ bản của mình để tiến hànhđấu tranh tự giác chống giai cấp tư sản;

Mâu thuẫn giữa vô sản với tư sản đã chuyển thành đấu tranh giai cấp Khởi nghĩacủa thợ dệt Lyông (1831, 1834) là cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản với giai cấp tưsản; phong trào Hiến chương Anh (1830-1840) đã có tính quần chúng và có hình thứcchính trị Sự phát triển của giai cấp vô sản và cuộc đấu tranh của thợ dệt Xilêdi (1844) ở

3

Trang 4

xã hội khác nhau do phản ánh từ những lập trường giai cấp khác nhau; nhưng đều lý giải

về những khuyết tật của xã hội tư bản và nêu sự cần thiết phải thay thế xã hội tư bảnbằng xã hội sẽ hiện thực được lý tưởng tự do, bình đẳng, bác ái Đặc biệt xuất hiện nhiềuhọc thuyết về chủ nghĩa xã hội như chủ nghĩa xã hội phong kiến, chủ nghĩa xã hội tưsản, chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản, chủ nghĩa xã hội chân chính Đức v.v

Những vấn đề trên, nhất là vấn đề lực lượng nào sẽ đóng vai trò chính trong cuộcđấu tranh cho tương lai của nhân loại cần được soi sáng và giải đáp về mặt lý luận trênlập trường của giai cấp vô sản;

Đó là điều kiện kinh tế-xã hội cho sự xuất hiện của chủ nghĩa Mác và chủ nghĩaMác xuất hiện với tư cách là hệ tư tưởng khoa học của giai cấp vô sản- phong trào côngnhân đã bước sang giai đoạn phát triển mới về chất vì đã có lý luận khoa học và cáchmạng dẫn đường

- Tiền đề lý luận của chủ nghĩa Mác “Toàn bộ thiên tài của Mác chính là ở chỗ:

ông đã giải đáp được những vấn đề mà mà tư tưởng tiên tiến của nhân loại đã nêu ra Họcthuyết của ông ra đời là sự kế thừa thẳng và trực tiếp những học thuyết của các đại biểuxuất sắc nhất trong triết học, trong kinh tế chính trị học và trong chủ nghĩa xã hội”5

Từ nửa sau t.k XVIII, ở Tây Âu xuất hiện ba cường quốc với ba thế mạnh rõ nét.Vương quốc Anh vững bước trên con đường phát triển tư bản chủ nghĩa và là nơi phát

triển kinh tế chính trị học với các tên tuổi lớn như A.Xmít và Ricácđô; Cộng hòa Pháp,

nơi ghi dấu những chuyển biến xã hội mang tầm nhân loại, phát triển mạnh các học

thuyết và các trào lưu chính trị-xã hội, nổi bật là các nhà chủ nghĩa cộng sản không tưởng như X.Ximông, Phuriê; Vương quốc Phổ (Đức), trung tâm tri thức của châu Âu khi đó, diễn ra cuộc cách mạng trong lĩnh vực lý luận, với các đại diện của triết học cổ điển Đức, từ Cantơ đến Phoiơbắc

+ Kinh tế chính trị học Anh Xmít cho rằng chủ nghĩa tư bản tồn tại theo các quyluật kinh tế khách quan; lý luận về kinh tế hàng hóa, đặc biệt là lý luận giá trị thặng dưcủa ông là cơ sở của hệ thống lý luận kinh tế tư bản chủ nghĩa tạo cho C.Mác góc tiếpcận đúng khi nghiên cứu về phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Ricácđô thừa nhậncác quy luật khách quan của đời sống kinh tế xã hội, đặt quy luật giá trị làm cơ sở chotoàn bộ hệ thống kinh tế và kết luận chủ nghĩa tư bản tồn tại vĩnh cửu

+ Chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp với những phê phán xã hội tư bản và nhữngkhẳng định, dự báo về xã hội loài người, mà trước hết là khẳng định lịch sử loài người làmột quá trình tiến hóa không ngừng, chế độ sau tiến bộ hơn chế độ trước; cho rằng sựxuất hiện các giai cấp đối kháng trong xã hội tư bản là kết quả của sự chiếm đoạt; đồngthời phê phán trong chủ nghĩa tư bản con người bị bóc lột và lừa bịp, chính phủ khôngquan tâm tới dân nghèo Về một số đặc điểm của xã hội chủ nghĩa tương lai, các ông dựbáo đó là xã hội công nghiệp nhưng công nông nghiệp đều được khuyến khích, đa số

5 V.I.Lênin: Toàn tập, t.23, tr.49-50

4

Trang 5

-người lao động được bảo đảm những điều kiện vật chất cho cuộc sống v.v là cơ sở đểchủ nghĩa Mác phát triển thành lý luận cải tạo xã hội

+ Triết học cổ điển Đức là nguồn gốc lý luận trực tiếp của triết học Mác

Phép biện chứng của Hêghen phê phán phép siêu hình; coi phát triển là nguyên lý

cơ bản nhất với phạm trù trung tâm là tha hoá và coi tha hoá diễn ra trong cả tự nhiên, xãhội và tinh thần; nhưng phép biện chứng đó đi từ phạm trù “ý niệm tuyệt đối” nên duytâm C.Mác duy vật hóa những “hạt nhân hợp lý” của phép biện chứng Hêghen để xâydựng phép biện chứng duy vật với tư cách là công cụ nhận thức và cải tạo xã hội tư bản;

Triết học nhân bản của Phoiơbắc chứng minh thế giới là thế giới vật chất; cơ sởtồn tại của giới tự nhiên chính là giới tự nhiên không do ai sáng tạo ra và tồn tại độc lậpvới ý thức C.Mác đã kế thừa triết học Phoiơbắc bằng cách loại bỏ tính siêu hình và mởrộng triết học duy vật từ chỗ chỉ nhận thức tự nhiên sang nhận thức cả xã hội loài người,làm cho triết học duy vật trở nên hoàn thiện và triệt để;

- Tiền đề khoa học tự nhiên Trong những thập kỷ đầu t.k XIX, khoa học tự nhiên

có nhiều phát minh quan trọng, cung cấp tri thức khoa học để tư duy biện chứng vượt lêntính tự phát của tư duy biện chứng cổ đại, thoát khỏi tính thần bí của tư duy biện chứngduy tâm Đức để trở thành tư duy khoa học

+ Định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng của các nhà khoa học tự nhiên

như Lômônôxốp, Lenxơ (Nga), Maye (Đức), Gơrốp, Giulơôn (Anh), Cônđinhgơ (ĐanMạch) chứng tỏ lực cơ học, nhiệt, ánh sáng, điện tử, hoá học v.v không tách rời nhau màliên hệ với nhau và hơn thế nữa, trong những điều kiện nhất định, chúng chuyển hoá chonhau mà không mất đi Định luật này dẫn đến kết luận triết học, coi sự phát triển của vậtchất là quá trình vô tận thông qua vận động;

+ Thuyết tế bào (ra đời trong những năm 30 của t.k XIX) của Svannơ (sinh học)

và Sơlâyđen (thực vật học) được xây dựng nhờ các công trình nghiên cứu trước đó củaHúc (1665), Vonphơ, Gôriannhinốp (tự nhiên học), Púckin (sinh học) Thuyết này coi tếbào là cơ sở kết cấu và sự phát triển chung của cả thực vật và động vật; bản chất sự pháttriển của thực vật và động vật đều nằm trong sự hình thành, phát triển của tế bào Thuyếtnày xác định sự thống nhất về nguồn gốc và hình thức giữa động vật và thực vật; bác bỏquan niệm siêu hình về nguồn gốc và hình thức giữa thực vật với động vật;

+ Thuyết tiến hoá của Darwin (Anh), giải thích duy vật về nguồn gốc và sự phát

triển của các loài thực vật và động vật (1859), coi các loài thực vật và động vật đang tồntại được sinh ra bằng con đường tiến hóa Theo đó, sinh vật đơn bào phải đa bào hóa,trên cơ sở đa bào mới phân, tách thành các cơ quan khác nhau, giữa các cơ quan ngàycàng có sự phân công rành rọt, ngày càng chặt chẽ bởi sự chỉ huy ngày càng tập trungcủa hệ thần kinh Cứ thế mà tiến hóa từ thấp lên cao, và cuối cùng xuất hiện loài người

Về mặt xã hội, đấu tranh sinh tồn làm hệ thống tĩnh trở nên động, do vậy thuyết tiến hóađược lấy làm cơ sở tự nhiên của quan điểm đấu tranh là động lực phát triển xã hội vàtrong xã hội có giai cấp, hiển nhiên đó là đấu tranh giai cấp

Ý nghĩa triết học chung của những phát minh trên là "Quan niệm mới về giới tự

nhiên đã được hoàn thành trên những nét cơ bản: tất cả cái gì cứng nhắc đều bị tan ra,

tất cả cái gì là cố định đều biến thành mây khói, và tất cả những gì đặc biệt mà người ta

5

Trang 6

-cho là tồn tại vĩnh cửu thì đã trở thành nhất thời; và người ta đã chứng minh rằng toàn bộ

giới tự nhiên đều vận động theo một dòng và một tuần hoàn vĩnh cửu"6

b Các giai đoạn hình thành và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin

- Giai đoạn C.Mác và Ph.Ăngghen (1837/1842-1895)

+ Giới thiệu sơ lược về C.Mác và Ph.Ăngghen “C.Mác là con một nhà quý phái,Ph.Ăngghen là con một nhà tư bản, nhưng hai ông đã hoàn toàn dâng mình cho cáchmạng và trở thành những người sáng lập chủ nghĩa cộng sản”7

Tên đầy đủ là Karl Henrix Marx, cách đây (2014) 196 năm, ngày 5/5/1818, C.Mác

ra đời tại thành phố Tơria cổ kính bên dòng sông Môden, một nhánh của sông Ranh nổitiếng nước Đức, trong gia đình luật sư người Do thái có tư tưởng khai sáng và tự do; từtrần ngày 14/3/1883, an táng cùng gia đình tại nghĩa trang Khaighết, Luân Đôn

Ph.Ăngghen sinh ngày 28/11/1820 tại Bácmen, tỉnh Ranh, nước Đức trong gia đình tư

bản ngành dệt, bảo thủ về tư tưởng; từ trần ngày 5/8/1895 tại Luân Đôn Tro thi hài củaông được thả xuống eo biển gần Ixtôbôrn, phía Nam bờ nước Anh

Về bản chất, có thể chia chủ nghĩa Mác thành 1) Thời kỳ chuyển biến và đề xuấtcác nguyên lý của chủ nghĩa Mác; 2) Thời kỳ hình thành và phát triển các nguyên lýtrên; 3) Thời kỳ hoàn thiện giai đoạn C.Mác, Ph.Ăngghen của chủ nghĩa Mác

Về thời gian, có thể chia lịch sử chủ nghĩa Mác t.k XIX thành các thời kỳ tươngứng với bản chất (1837-1848), (từ 1848 đến Công xã Paris 1871), (1871-1895):

+ Thời kỳ chuyển biến tư tưởng và đề xuất các nguyên lý (1837-1848) gồm 1)

Quá trình chuyển biến tư tưởng (1837-1844), 2) Giai đoạn đề xuất những nguyên lýđầu tiên (1844-1848)

1) Quá trình chuyển biến tư tưởng từ lập trường duy tâm sang duy vật, từ tư tưởngdân chủ sang cộng sản của C.Mác, Ph.Ăngghen (1837-1844)

Sự chuyển biến này bắt đầu từ những bài viết của C.Mác đăng trên báo SôngRanh, bảo vệ lợi ích của những người lao động nghèo khổ, đấu tranh vì tự do và dânchủ; đánh dấu sự hình thành tư tưởng về vai trò lịch sử của giai cấp vô sản của ông Cáctác phẩm quan trọng trong giai đoạn này gồm:

Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen (5-10/1843) phê phán

những quan niệm duy tâm của Hêghen về xã hội và đi tới kết luận, không phải nhà nướcquy định xã hội công dân8, mà ngược lại, xã hội công dân quy định nhà nước có thể coiđây là điểm xuất phát của nhận thức duy vật về lịch sử của C.Mác

Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen Lời nói đầu (12/1843) phân

tích ý nghĩa và hạn chế của cuộc cách mạng tư sản mà ông gọi là "cuộc cách mạng bộphận", còn cuộc cách mạng vô sản được gọi là "cuộc cách mạng triệt để" và khẳng định

"cái khả năng tích cực" của cuộc cách mạng để thực hiện sự giải phóng con người chính

là giai cấp vô sản; nhấn mạnh ý nghĩa to lớn của lý luận trong sự gắn bó với phong tràocách mạng “Dĩ nhiên, vũ khí phê phán không thể thay thế cho sự phê phán bằng vũ khí,sức mạnh vật chất phải được lật đổ bằng chính ngay sức mạnh vật chất; nhưng lý luận

Trang 7

-cũng trở thành một sức mạnh vật chất khi nó thâm nhập vào quần chúng” và “Giống nhưtriết học thấy giai cấp vô sản là vũ khí vật chất của mình, giai cấp vô sản cũng thấy triếthọc là vũ khí tinh thần của mình”9

2) Giai đoạn đề xuất những nguyên lý đầu tiên (1844-1848)

Sự hình thành chủ nghĩa Mác được đánh dấu bằng những tác phẩm như Bản thảokinh tế-triết học năm 1844, Gia đình thần thánh (1845), Luận cương về Phoiơbắc (1845),

Hệ tư tưởng Đức (1845-1846) v.v; thể hiện rõ việc C.Mác và Ph.Ăngghen kế thừa tinhhoa triết học duy vật và phép biện chứng trong lịch sử tư tưởng để xây dựng các quanđiểm triết học duy vật và biện chứng Các tác phẩm trên tập trung phê phán kinh tế chínhtrị học đương thời10 và chế độ tư hữu để rút ra những vấn đề có ý nghĩa triết học và nhânvăn sâu sắc;

Các tác phẩm Sự khốn cùng của triết học (1847) và Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848) trình bày chủ nghĩa Mác trong hệ thống các quan điểm nền tảng với ba bộ

phận lý luận cấu thành Trong Tuyên ngôn , văn kiện có vai trò là cương lĩnh đầu tiên

của chủ nghĩa Mác, về triết học, coi sản xuất vật chất, xét đến cùng, là yếu tố quy định đời sống chính trị và tư tưởng của xã hội, của thời đại, về kinh tế, toàn bộ lịch sử xã hội

loài người là lịch sử các cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh giữa những giai cấp bị bóc lột

và những giai cấp đi bóc lột, giữa những giai cấp bị trị và những giai cấp thống trị, về chủ nghĩa xã hội khoa học, chỉ ra rằng cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống giai cấp

tư sản đã phát triển tới mức là giai cấp vô sản sẽ không thể lật đổ giai cấp tư sản, khôngthể tự giải phóng mình nếu không xóa bỏ chế độ tư hữu, xoá bỏ mọi giai cấp, giải phóngtoàn xã hội Các ông nêu dự báo về bản chất xã hội cộng sản tương lai "Thay cho xã hội

tư sản cũ với những giai cấp và những sự đối kháng giai cấp của nó, sẽ xuất hiện mộtliên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự docủa tất cả mọi người"11 Đây là dự báo xác định mục đích cuối cùng và đồng thời lànguyên tắc nhân đạo nhất của chủ nghĩa cộng sản

+ Thời kỳ hình thành và phát triển các nguyên lý của chủ nghĩa Mác (từ 1848 đến Công xã Paris 1871, gồm 1) Quá trình hình thành quan niệm duy vật về lịch sử trong

cách mạng dân chủ tư sản 1848-1852; 2) Sự phát triển chủ nghĩa Mác trong quá trìnhxây dựng kinh tế chính trị học những năm 50-60; 3)

1) Quá trình hình thành quan niệm duy vật về lịch sử trong cách mạng dân chủ tưsản 1848-1852;

Sau tháng 2/1848, C.Mác và Ph.Ăngghen đúc kết kinh nghiệm thực tiễn cáchmạng tư sản châu Âu (chủ yếu là ở Đức, Pháp) thành những tác phẩm có vai trò cơ sở lýluận cho những nguyên lý cơ bản của quan niệm duy vật về lịch sử; đưa phong trào côngnhân từ tự phát lên tự giác và chính trong quá trình đó, học thuyết của các ông cũng

không ngừng được phát triển Các tác phẩm Đấu tranh giai cấp ở Pháp, Ngày 18 tháng Sương Mù của Lui Bônapac, Phê phán Cương lĩnh Gôta v.v của C.Mác cho thấy việc

tổng kết thực tiễn và thành tựu khoa học có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát

triển tư duy lý luận Nhiều vấn đề, đặc biệt là vấn đề phương pháp luận duy vật biện

9 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, 2004, t.1, tr.589

10 Cho rằng, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa là bình thường, hợp lý và vĩnh cửu

11 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, 2004, t.4 tr.628

7

Trang 8

tế để thiết lập xã hội cộng sản Nội dung cơ bản nhất của Tư bản là xuất phát từ sự vậnđộng của kinh tế tư bản chủ nghĩa, C.Mác trình bày những nguyên lý triết học, kinh tế

chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học trên tinh thần biện chứng của sự phát triển lịch sử-xã hội Có thể khái quát nội dung Tư bản từ góc độ triết học hai vấn đề lớn là quan

niệm duy vật về lịch sử và phép biện chứng

Quan niệm duy vật về lịch sử trong Tư bản Xuất phát từ hai mặt của quá trình sản

xuất vật chất, quan niệm duy vật về lịch sử của C.Mác thể hiện ở phạm trù hình thái kinhtế-xã hội Phạm trù này coi quy luật vận động, phát triển của xã hội loài người bị quyđịnh bởi ba yếu tố cơ bản là lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất (yếu tố kinh tế) và kiếntrúc thượng tầng (yếu tố tinh thần); các yếu tố khác của xã hội (văn hóa, xã hội v.v) cũngchi phối tác động, nhưng trên cơ sở các yếu tố này; ông khẳng định “sự phát triển củacác hình thái kinh tế-xã hội là quá trình lịch sử-tự nhiên”13;

Phép biện chứng duy vật trong Tư bản là kết quả sự vận động nội tại của nội dung

tác phẩm Xuất phát từ việc nghiên cứu hàng hóa với tư cách là tế bào kinh tế của xã hội

tư bản, C.Mác dùng phương pháp lịch sử-lôgíc, trừu tượng-cụ thể để từng bước chỉ rabản chất của xã hội đó Theo đó, quá trình vận động, phát triển của nền sản xuất tư bảnchủ nghĩa là biểu hiện đa dạng, phong phú, phức tạp của một hệ thống, một phương thức

sản xuất; do vậy, lịch sử là bản thân quá trình sản xuất, lôgíc là bản chất của nền sản

xuất tư bản chủ nghĩa, là bóc lột giá trị thặng dư Về mối quan hệ biện chứng giữa cáitrừu tượng với cái cụ thể; C.Mác coi cái trừu tượng là sự phản ánh một mặt, một yếu tốcủa quá trình nhận thức đối tượng, còn cái cụ thể lý tính, về bản chất, là sự phản ánhkhái quát các thuộc tính của đối tượng trong tư duy Bởi vậy, sản xuất xã hội, biểu hiện

từ sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng đến bản chất nền kinh tế tư bản chủ nghĩacũng là con đường đi từ trừu tuợng đến cụ thể trong tư duy Các quy luật của phép biệnchứng như quy luật mâu thuẫn, lượng chất, phủ định đều được C.Mác vận dụng vào quátrình phân tích bản chất xã hội tư bản; thể hiện được sự thống nhất giữa nội dung vớiphương pháp; là phương pháp nhận thức thông qua sự vận động của nội dung

Đây là một trong những cống hiến của C.Mác Bằng phương pháp biện chứng duy

vật, C.Mác đã làm rõ quy luật vận động, phát triển của lịch sử xã hội loài người thôngqua việc phân tích nền kinh tế tư bản chủ nghĩa; ông chỉ ra điều bí mật quan trọng nhấtcủa phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, chỉ ra tính hai mặt của hàng hoá; coi sức laođộng là hàng hoá; phân chia tiền vốn thường xuyên và tiền vốn tạm thời v.v và đó lànhững cơ sở của học thuyết về giá trị thặng dư, cùng với quan niệm duy vật về lịch sử và

12 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, 2004 Các tập 23, 24, 25 (2 phần), 26 (3 phần)= 7 quyển

13 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, 2004, t.23, tr.21

8

Trang 9

-sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, là phát minh vĩ đại và quan trọng nhất của chủnghĩa Mác

3) Thời kỳ hoàn thiện giai đoạn C.Mác, Ph.Ăngghen (1871-1895);

Năm 1875, C.Mác viết Phê phán Cương lĩnh Gôta14 tác phẩm lý luận quan trọngsau Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản và Tư bản Trong tác phẩm, C.Mác làm sâu sắc vàphong phú thêm học thuyết về hình thái kinh tế-xã hội; phát triển thêm học thuyết về nhànước và cách mạng, khẳng định “Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủnghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia Thích ứng với thời

kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị, và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gìkhác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản”15;

Sự phát triển triết học Mác sau Công xã Pari (sau 1871) chủ yếu gắn với Ph.Ăngghen, người khái quát các thành tựu khoa học, phê phán các lý luận triết học duy tâm,siêu hình và những quan niệm duy vật tầm thường ở những người tự nhận là mácxítnhưng hiểu không đúng bản chất chủ nghĩa Mác Sau khi C.Mác qua đời, các tác phẩmcủa ông được Ph.Ăngghen hệ thống hóa; bổ sung ý kiến, giải thích một số luận điểm, có

ý nghĩa rất quan trọng trong việc phát triển chủ nghĩa Mác

Một số tác phẩm của Ph.Ăngghen thời kỳ này là Biện chứng của tự nhiên (1873 1886), Nguồn gốc của gia đình, của sở hữu tư nhân và của nhà nước (1884), LútvíchPhoiơbắc và sự cáo chung của nền triết học cổ điển Đức (1886), v.v Chống Đuyrinh(1876) của Ph.Ăngghen (riêng phần lịch sử kinh tế chính trị, Phần thứ hai, do C.Mácviết) được xuất bản 3 lần và chỉnh lý lại 3 chương để phổ biến dưới dạng bản thảo Sựphát triển của chủ nghĩa xã hội từ không tưởng đến khoa học Đây là tác phẩm được phổbiến rộng rãi nhất của chủ nghĩa Mác Sinh thời, C.Mác nhận xét, "Sự phát triển của chủnghĩa xã hội từ không tưởng đến khoa học" là " khái luận về chủ nghĩa xã hội khoahọc"16 Năm 1892, Ph.Ăngghen viết trong Lời mở đầu cho lần xuất bản bằng tiếng Đức

-và đặt tên tác phẩm là Về chủ nghĩa duy vật lịch sử Như vậy, cùng một tác phẩm nhưngtên gọi khác nhau là Cuộc đảo chính trong khoa học do Ngài Epghênhi Đuyrinh thựchiện; Sự phát triển của chủ nghĩa xã hội từ không tưởng đến khoa học và Về chủ nghĩaduy vật lịch sử Dựa vào đây, về sau người ta chia triết học Mác thành chủ nghĩa duy vậtbiện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

- Giai đoạn V.I.Lênin bảo vệ, vận dụng, phát triển chủ nghĩa Mác (1893-1924)

V.I.Lênin bảo vệ, bổ sung, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác trong cuộc đấutranh chống lại quan niệm duy tâm, xét lại và giáo điều; là sự tiếp tục và trở thành giaiđoạn mới của chủ nghĩa Mác để giải quyết những vấn đề cách mạng vô sản trong giaiđoạn chủ nghĩa đế quốc và bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga

+ Bối cảnh lịch sử và nhu cầu khách quan của việc bảo vệ chủ nghĩa Mác

Những năm cuối t.k XIX, đầu t.k XX, chủ nghĩa tư bản bước sang giai đoạn đếquốc, tinh vi, tàn bạo hơn; mâu thuẫn vốn có bộc lộ rõ hơn mà điển hình là mâu thuẫngiữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản Ở các nước thuộc địa, xuất hiện phong trào đấutranh chống đế quốc với sự thống nhất giữa cách mạng giải phóng dân tộc với cách

14 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, 2004, t.19

15 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, 2004, t.19, tr.47

16 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, 2004, t.19, tr.245

9

Trang 10

-mạng vô sản, giữa nhân dân các nước thuộc địa với giai cấp công nhân chính quốc.Nước Nga là trung tâm của phong trào này; giai cấp công nhân và nhân dân lao độngNga dưới sự lãnh đạo của Đảng Bôsêvích là ngọn cờ đầu của phong trào cách mạng thếgiới lúc bấy giờ

Cũng trong thời gian này, xuất hiện những phát minh vật lý làm đảo lộn căn bản

quan niệm duy vật ngàn đời về cái tạo ra thế giới Đây là cơ sở để chủ nghĩa Makhơ- một

hình thức triết học duy tâm chủ quan mà V.I.Lênin gọi là chủ nghĩa kinh nghiệm phêphán- tấn công chủ nghĩa Mác; một số nhà khoa học tự nhiên lệch lạc về thế giới quan,gây ảnh hưởng xấu trực tiếp đến nhận thức và hành động của phong trào cách mạng.Đồng thời, để bảo vệ địa vị và lợi ích giai cấp, những trào lưu tư tưởng như chủ nghĩakinh nghiệm phê phán, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa xét lại v.v ở nước Nga nhân danhđổi mới chủ nghĩa Mác để xuyên tạc và phủ nhận chủ nghĩa Mác

Trong bối cảnh như vậy, nhu cầu có những khẳng định kết luận về thế giới quan

và phương pháp luận triết học cho khoa học chuyên ngành; đấu tranh chống lại các tràolưu tư tưởng phản động và phát triển chủ nghĩa Mác đã được thực tiễn nước Nga đặt ra.Hoạt động lý luận của V.I.Lênin nhằm đáp ứng nhu cầu lịch sử đó

+ Nội dung V.I.Lênin bảo vệ, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác được chiathành ba thời kỳ, tương ứng với nhu cầu khách quan của thực tiễn cách mạng Nga

Trong thời kỳ 1893-1907, V.I.Lênin dùng lý luận chống lại phái dân túy17 thể hiện

rõ trong các tác phẩm Những “người bạn dân là thế nào” và họ đấu tranh chống nhữngngười dân chủ-xã hội ra sao? (1894) và tác phẩm Làm gì? (1902) Trong tác phẩm thứnhất, V.I.Lênin đã phê phán tính duy tâm của phái dân túy về những vấn đề lịch sử-xãhội và chỉ ra rằng, thông qua việc xóa nhòa ranh giới giữa phép biện chứng duy vật vớiphép biện chứng duy tâm của Hêghen, phái dân túy đã xuyên tạc chủ nghĩa Mác Đồngthời, tác phẩm cũng đưa ra nhiều tư tưởng về vai trò quan trọng của lý luận, thực tiễn vàmối quan hệ biện chứng giữa hai phạm trù này Trong tác phẩm Làm gì?, V.I.Lênin đãphát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác về các hình thức đấu tranh giai cấp của giai cấp

vô sản trước khi giành được chính quyền; trong đó các vấn đề về đấu tranh kinh tế, chínhtrị, tư tưởng được đề cập rõ nét; đặc biệt, V.I.Lênin nhấn mạnh quá trình hình thành hệ

tư tưởng của giai cấp vô sản Trước thềm cách mạng Nga 1905-1907, V.I.Lênin tậptrung viết về cơ sở thực tiễn của cuộc cách mạng được coi là cuộc tổng diễn tập cho cáchmạng Tháng Mười (Nga) năm 1917 Tác phẩm Hai sách lược của Đảng Dân chủ-Xã hộitrong cách mạng dân chủ (1905) phát triển chủ nghĩa Mác về những vấn đề như phươngpháp; nhân tố chủ quan và yếu tố khách quan; vai trò của quần chúng nhân dân; của cácđảng chính trị v.v trong cách mạng ở giai đoạn đế quốc chủ nghĩa

Trong thời kỳ 1907-1917, V.I.Lênin viết tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán (1909) Tác phẩm khái quát từ góc độ triết học những thành

tựu mới nhất của khoa học tự nhiên Đồng thời bảo vệ và tiếp tục phát triển chủ nghĩaMác; phê phán triết học duy tâm chủ quan (đặc biệt là của Makhơ và Avênariút) đangchống lại chủ nghĩa duy vật nói chung và chủ nghĩa duy vật biện chứng nói riêng với

17 Là phái theo tư tưởng tư sản duy tâm mà đại diện tiêu biểu là Mikhailốpxki, Bakumin và Plêkhnốp Quan điểm chính của phái này là tuyệt đối hóa vai trò cá nhân, lấy công xã nông thôn làm hạt nhân của chủ nghĩa xã hội; nông dân dưới sự lãnh đạo của trí thức là động lực chính của cách mạng và chủ trương dùng khủng bố cá nhân để đấu tranh

10

Trang 11

là cái có sau? Ngoài giới hạn đó, thì không còn nghi ngờ gì nữa rằng sự đối lập đó làtương đối"18 Ngoài ra, V.I.Lênin còn vận dụng phép biện chứng vào xây dựng họcthuyết phản ánh Đó là những vấn đề như chân lý, tính khách quan và tính cụ thể củachân lý; biện chứng giữa chân lý tuyệt đối với chân lý tương đối Đồng thời V.I.Lênincũng làm phong phú thêm chủ nghĩa Mác về thực tiễn, ông nhấn mạnh "Quan điểm củacuộc sống, của thực tiễn cần phải trở thành quan điểm đầu tiên và quan điểm cơ sở của

lý luận nhận thức"19 Bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác, V.I.Lênin cũng chỉ ra sự thốngnhất bên trong, không tách rời giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng với chủ nghĩa duy vậtlịch sử; sự thống nhất của những luận giải duy vật về tự nhiên, về xã hội, về con người

và tư duy Tác phẩm Bút ký triết học (1914-1916) của V.I.Lênin là những ghi chép và

nhận xét của ông về một số tác phẩm triết học Trong tác phẩm, ông tiếp tục khai thác

"hạt nhân hợp lý" của triết học Hê ghen để làm phong phú thêm phép biện chứng duyvật, đặc biệt là lý luận về sự thống nhất giữa các mặt đối lập Năm 1917, V.I.Lênin viếttác phẩm Nhà nước và cách mạng phân tích vấn đề nhà nước chuyên chính vô sản, bạolực cách mạng và vai trò của đảng công nhân và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hộiđược đề cập rõ nét Khi biết tin về cuộc cách mạng Tháng Hai năm 1917, V.I.Lênin lập

tức quay về Tổ quốc; ông viết cho báo Sự Thật Những bức thư gửi từ xa, trong đó nói về

tính tất yếu sự chuyển hoá từ cách mạng dân chủ tư sản sang cách mạng xã hội chủnghĩa và những vấn đề về bộ máy nhà nước của giai cấp vô sản Ngày 4/4/1917,

V.I.Lênin viết Luận cương Tháng Tư, trong đó khẳng định con đường đi đến thắng lợi

của cách mạng xã hội chủ nghĩa; đưa ra tư tưởng về nhà nước Xôviết, coi đó là hình thứccủa chuyên chính vô sản; vạch ra những nhiệm vụ chính trị và kinh tế mà nhà nước đóphải thực hiện và chỉ ra những nguồn gốc vật chất của chủ nghĩa xã hội được tạo ra do

sự phát triển của chủ nghĩa tư bản Trong tác phẩm Những người Bônsêvích có thể giữ vững được chính quyền nhà nước hay không? (10/1917), V.I.Lênin đã bảo vệ và phát

triển chủ nghĩa Mác về cách mạng chuyên chính vô sản; về con đường xây dựng xã hộikhông giai cấp và các giai đoạn phát triển của nó

Thời kỳ 1917-1924 Thắng lợi cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười (Nga)

năm 1917 mở ra thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội Sự kiện nàylàm nẩy sinh những nhu cầu mới về lý luận mà sinh thời C.Mác và Ph.Ăngghen chưanêu ra; V.I.Lênin tiếp tục tổng kết thực tiễn để đáp ứng nhu cầu đó bằng các tác phẩm

như Nhiệm vụ tiếp theo của chính quyền Xôviết (1918); Bệnh ấu trĩ “tả khuynh” trong phong trào cộng sản (1920); Lại bàn về công đoàn, về tình hình trước mắt và về những sai lầm của các đồng chí Tơrốtxki và Bukharin (1921) v.v Ông cho rằng việc thực hiện

kiểm tra, kiểm soát toàn dân; tổ chức thi đua xã hội chủ nghĩa là những điều kiện cầnthiết để chuyển sang xây dựng "chủ nghĩa xã hội kế hoạch" V.I.Lênin cũng nhấn mạnh

18 V.I.Lênin: Toàn tập, 2005, t.18, tr.173

19 V.I.Lênin: Toàn tập, 2005, t.18, tr.145

11

Trang 12

-tính lâu dài của thời kỳ quá độ, không thể tránh khỏi phải đi qua những nấc thang trêncon đường đó Trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội thời bình, V.I.Lênin nhận ra

sự nguy hiểm của việc áp dụng chính sách kinh tế cộng sản thời chiến trong điều kiện

hòa bình, Ông viết tác phẩm Về chính sách kinh tế mới (1921); trong đó, khẳng định vai

trò kinh tế hàng hóa trong điều kiện nền sản xuất hàng hoá nhỏ đang chiếm ưu thế trong

công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Trong những tác phẩm cuối đời như Về tập thể hoá nông nghiệp; Về cuộc cách mạng của chúng ta; Thà ít mà tốt, Cương lĩnh của chúng ta v.v, V.I.Lênin nhận thấy sự quan liêu đã bắt đầu xuất hiện trong nhà nước công

nông non trẻ nên đề nghị những người cộng sản cần thường xuyên chống ba kẻ thù chính

là sự kiêu ngạo, ít học và tham nhũng V.I.Lênin cũng chú ý đến việc chống giáo điềukhi vận dụng chủ nghĩa Mác "Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì

đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm, trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nềnmóng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa

về mọi mặt nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống"20

Di sản kinh điển của V.I.Lênin trở thành cơ sở cho việc nghiên cứu những vấn đề

lý luận và thực tiễn của đảng cộng sản Thiên tài về lý luận và thực tiễn của ông trongviệc kế thừa, bảo vệ và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác được những người cộng sản

đánh giá cao Họ đặt tên cho học thuyết của mình là chủ nghĩa Mác-Lênin

c Chủ nghĩa Mác-Lênin và thực tiễn phong trào cách mạng thế giới

Chủ nghĩa Mác-Lênin có những ảnh to lớn lên thực tiễn phong trào công nhân vànhân dân lao động thế giới “ nếu Cách mạng 1848 không phải là cuộc cách mạng xãhội chủ nghĩa thì ít ra nó cũng dọn đường, chuẩn bị địa bàn cho cách mạng xã hội chủnghĩa”21 Cách mạng tháng 3/1871 ở Pháp với nhà nước kiểu mới- nhà nước chuyênchính vô sản đầu tiên trong lịch sử nhân loại (Công xã Pari) được thành lập; tuy chỉ tồntại 71 ngày, nhưng là kinh nghiệm thực tiễn đầu tiên của lý luận cách mạng Tháng 8/

1903, đảng Bônsêvích Nga, được thành lập theo tư tưởng của chủ nghĩa Mác đã lãnh đạocuộc cách mạng 1905 và chỉ 14 năm sau (năm 1917), Đảng đó đã làm nên Cách mạng

Xã hội chủ nghĩa Tháng Mười (Nga) vĩ đại, mở ra kỷ nguyên mới cho sự phát triển của

xã hội loài người; chứng minh tính hiện thực của chủ nghĩa Mác-Lênin trong lịch sử.Thành lập Quốc tế Cộng sản III (1919-1943); Thành lập Liên bang Cộng hòa Xã hội chủnghĩa Xôviết (gọi tắt là Liênxô, 1922), đánh dấu sự liên minh giai cấp vô sản của 12quốc gia và năm 1940, Liênxô đã gồm 15 nước hợp thành Với sức mạnh của liên minh

đó, trong chiến tranh thế giới thứ II, Liênxô đã vừa bảo vệ được mình, vừa giải phóngcác nước đông Âu ra khỏi sự xâm lược của phátxít Đức Hệ thống xã hội chủ nghĩa gồmAnbani, BaLan, Bungari, CHDC Đức, Hunggari, Nam Tư, Liênxô, Rumani, Tiệp Khắc,CHDCND Triều tiên, Trung Quốc, Việt Nam, CuBa ra đời Sự kiện này đã cổ vũ phongtrào công nhân, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc vì hòa bình, dân tộc, dân chủ vàtiến bộ xã hội Đến tháng 12/1991, chủ nghĩa xã hội sụp đổ ở Liênxô và đông Âu; nhiềuđảng cộng sản tây Âu từ bỏ mục tiêu chủ nghĩa

20 V.I.Lênin: Toàn tập, 2005, t.4, tr 232

21 Lời tựa Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản viết cho bản tiếng Ý xuất bản năm 1893 của Ph.Ăngghen.

12

Trang 13

-Thời đại ngày nay là thời đại của những biến động sâu sắc Đặc điểm của nó là sựtương tác giữa hai quá trình cách mạng khoa học, công nghệ và cách mạng xã hội, tạonên sự biến đổi năng động của đời sống xã hội Sự biến đổi này đòi hỏi chủ nghĩa Mác-Lênin phải được bổ sung, phát triển, phải có những khái quát mới Chỉ có như vậy, chủnghĩa Mác-Lênin mới giữ được vai trò thế giới quan, phương pháp luận trong quan hệvới khoa học cụ thể và trong sự định hướng phát triển của xã hội

C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin không để lại cho những người cộng sản nóichung, những người cộng sản Việt Nam nói riêng những chỉ dẫn cụ thể về con đườngquá độ lên chủ nghĩa xã hội Các quốc gia, dân tộc khác nhau có những con đường đikhác nhau lên chủ nghĩa xã hội, bởi lẽ mỗi quốc gia, dân tộc đều có những đặc thù riêng

về điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, lịch sử, văn hoá “Để đạt mục đích chiến thắnggiai cấp tư sản thì đều giống nhau về bản chất, song mỗi nước lại hoàn thành quá trìnhphát triển ấy theo cách thức riêng của mình”22 và cách thức riêng đó “đòi hỏi phải ápdụng những nguyên tắc của chủ nghĩa cộng sản sao cho những nguyên tắc ấy được cảibiến đúng đắn trong những vấn đề chi tiết, được làm cho phù hợp, cho thích hợp với đặcđiểm dân tộc và đặc điểm nhà nước-dân tộc”23

Thực tiễn quá trình đổi mới đang đặt ra hàng loạt vấn đề mới và phức tạp về kinh

tế, chính trị, văn hoá và tuy những vấn đề đó không thể giải quyết được chỉ bằng lý luận,nhưng chắc chắn không thể giải quyết được nếu không có tư duy lý luận Mác-Lênin

II ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU HỌC TẬP, NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng, phạm vi học tập, nghiên cứu

Đối tượng, phạm vi học tập, nghiên cứu môn học Những Nguyên lý cơ bản củachủ nghĩa Mác-Lênin là những quan điểm và học thuyết của C.Mác, Ph.Ăngghen vàV.I.Lênin trong phạm vi ba bộ phận lý luận cấu thành chủ nghĩa Mác-Lênin;

a Với triết học Mác-Lênin, đó là những nội dung cơ bản của triết học duy vật biệnchứng; phép biện chứng duy vật là khoa học về tình trạng tồn tại của sự vật, hiện tượngtrong tự nhiên, xã hội và tư duy; đó là vai trò phương pháp và phương pháp luận và quanniệm duy vật về xã hội của triết học duy vật biện chứng;

b Với kinh tế chính trị Mác-Lênin, đó là những kiến thức cơ bản của kinh tếchính trị học, bao gồm học thuyết giá trị và giá trị thặng dư và chủ nghĩa tư bản độcquyền và chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước;

c Với chủ nghĩa xã hội khoa học, đó là những kiến thức cơ bản của chủ nghĩa xãhội khoa học, bao gồm sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và cách mạng xã hội chủnghĩa; một số vấn đề chính trị-xã hội có tính quy luật trong tiến trình cách mạng xã hộichủ nghĩa và chủ nghĩa xã hội trong hiện thực và triển vọng của nó

2 Mục đích và yêu cầu học tập, nghiên cứu

a Mục đích của việc học tập, nghiên cứu

- Học tập, nghiên cứu môn Những Nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin

nhằm xây dựng thế giới quan duy vật biện chứng, phương pháp luận biện chứng duy vật

và vận dụng sáng tạo những nguyên lý đó vào hoạt động nhận thức và thực tiễn;

22 V.I.Lênin: Toàn tập, 2005, t.41, tr.956

23 V.I.Lênin: Toàn tập, 2005, t.41 tr.956

13

Trang 14

- Học tập, nghiên cứu môn học Những Nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa -Lênin nhằm hiểu rõ cơ sở lý luận quan trọng nhất của Tư tưởng Hồ Chí Minh và Đườnglối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam;

- Học tập, nghiên cứu môn học Những Nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin nhằm giúp sinh viên hiểu rõ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam;

Mác Học tập, nghiên cứu môn học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa MácMác Lêninnhằm xây dựng niềm tin, lý tưởng cho sinh viên

b Một số yêu cầu cơ bản về phương pháp học tập, nghiên cứu

- Học tập, nghiên cứu môn học Những Nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Lênin cần theo phương pháp gắn những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-lênin vớithực tiễn đất nước và thời đại;

- Học tập, nghiên cứu môn học Những Nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin cần hiểu đúng tinh thần, thực chất của nó; tránh bệnh kinh viện, giáo điều tronghọc tập, nghiên cứu và vận dụng các nguyên lý đó trong thực tiễn;

Mác Học tập, nghiên cứu môn học mỗi nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa MácMác Lênintrong mối quan hệ với các nguyên lý khác; mỗi bộ phận lý luận cấu thành này phải gắnkết với các bộ phận lý luận cấu thành còn lại để thấy sự thống nhất của các bộ phận đótrong chủ nghĩa Mác-Lênin; đồng thời cũng nên nhận thức các nguyên lý đó trong tiếntrình phát triển của lịch sử tư tưởng nhân loại

Câu hỏi ôn tập chương

1 Chủ nghĩa Mác-Lênin và ba bộ phận lý luận cấu thành của nó? (định nghĩa; ba

bộ phận cấu thành; khái lược sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa Mác-Lênin)

2 Sự khác nhau và sự thống nhất tương đối giữa ba bộ phận lý luận cấu thành chủnghĩa Mác-Lênin? (sự khác nhau; sự giống nhau; vai trò của từng bộ phận đối với chủnghĩa Mác-Lênin)

3 Điều kiện, tiền đề ra đời chủ nghĩa Mác? (1 điều kiện, 2 tiền đề)

4 Tại sao chúng ta gọi chủ nghĩa Mác là chủ nghĩa Mác-Lênin? (V.I.Lênin bảo

vệ, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác)

5 Chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào cách mạng Việt Nam và thế giới?

6 Mục đích và yêu cầu của việc học tập, nghiên cứu môn học Những Nguyên lý

cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin?

PHẦN THỨ NHẤT

TRIẾT HỌC DUY VẬT BIỆN CHỨNG CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN

Triết học duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin là thuật ngữ dùng để chỉ

bộ phận triết học của chủ nghĩa Mác-Lênin Triết học đó có nhiều chức năng, nhưng

14

Trang 15

-được nhắc tới nhiều nhất là chức năng thế giới quan duy vật biện chứng và chức năngphương pháp luận biện chứng duy vật; chúng là cơ sở lý luận nền tảng của chủ nghĩaMác-Lênin Nắm vững hai chức năng này vừa là điều kiện tiên quyết để nghiên cứu toàn

bộ hệ thống lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, vừa là cơ sở để vận dụng sáng tạo và pháttriển hệ thống đó trong hoạt động nhận thức và giải quyết những vấn đề cấp bách màthực tiễn bản thân, của đất nước và thời đại đặt ra

Thế giới quan là hệ thống quan điểm về thế giới, về bản thân con người, về cuộc

sống và vị trí của con người trong thế giới ấy; thế giới quan không chỉ nêu quan điểmcủa con người về thế giới, mà còn chứng minh chúng bằng lý luận24 Nội dung thế giới

quan là sự hoà nhập giữa tri thức với niềm tin; trong đó, tri thức là cơ sở trực tiếp cho sựhình thành thế giới quan; niềm tin định hướng cho con người xây dựng lý tưởng hành

động Vai trò cơ bản của thế giới quan là định hướng cho hoạt động và quan hệ giữa cá

nhân, giai cấp, tập đoàn người, của xã hội nói chung với hiện thực Triết học là bộ phậnquan trọng nhất của thế giới quan, là hạt nhân lý luận của thế giới quan, bởi nó chi phốicác quan điểm còn lại;

Các loại thế giới quan (chia theo sự phát triển) 1) Thế giới quan huyền thoại làphương thức cảm nhận thế giới của người nguyên thuỷ, có đặc điểm là các yếu tố trithức và cảm xúc, lý trí và tín ngưỡng, hiện thực và tưởng tượng, thật và ảo, thần vàngười hoà quyện vào nhau thể hiện quan niệm về thế giới 2) Thế giới quan tôn giáo cóđặc điểm là niềm tin tôn giáo đóng vai trò chủ yếu, tín ngưỡng cao hơn lý trí, ảo lấn átthật, thần trội hơn người 3) Thế giới quan triết học thể hiện quan niệm về thế giới, vềcon người và mối quan hệ giữa chúng trong dạng hệ thống các khái niệm, phạm trù, quyluật như những bậc thang trong quá trình nhận thức Thế giới quan duy vật và thế giớiquan duy tâm là hai hình thức cơ bản của thế giới quan triết học

Hệ thống các quan niệm triết học, kinh tế và chính trị-xã hội được xây dựng từ lập

trường duy vật biện chứng là cơ sở khoa học của thế giới quan duy vật biện chứng và thế giới quan ấy thể hiện trong triết học, trước hết ở cách giải quyết vấn đề cơ bản của triết

học; theo đó vật chất (cái thứ nhất) có trước và quy định ý thức (cái thứ hai), cái thứ hai

tồn tại độc lập tương đối và tác động trở lại cái thứ nhất Trong lĩnh vực kinh tế, thế giới

quan duy vật biện chứng thể hiện ở chỗ coi lực lượng sản xuất (cái thứ nhất) quy địnhquan hệ sản xuất (cái thứ hai), cơ sở hạ tầng (cái thứ nhất) quy định kiến trúc thượngtầng (cái thứ hai), cái thứ hai tồn tại độc lập tương đối và tác động trở lại cái thứ nhất

Trong lĩnh vực xã hội, tồn tại xã hội (cái thứ nhất) quy định ý thức xã hội (cái thứ hai), ý

thức xã hội tồn tại độc lập tương đối và tác động trực tiếp hay gián tiếp trở lại tồn tại xãhội Thế giới quan duy vật biện chứng định hướng cho giai cấp công nhân và nhân dânlao động trong việc giải thích, nhận thức và cải tạo, xây dựng xã hội mới;

Phương pháp là cách thức con người dùng để thực hiện các mục tiêu trong cuộc

sống Khi đã xác định mục tiêu cần đạt được thì phương pháp là cái quyết định thànhcông khi thực hiện mục tiêu đó Phương pháp càng đúng thì khả năng đạt được mục tiêucàng cao và càng hiệu quả Sự đa dạng của đối tượng quy định sự đa dạng của phươngpháp; phương pháp, do sự quy định đó và còn tuỳ thuộc vào các tiêu chí khác, được chia

24 Từ điển Bách khoa toàn thư về triết học Nxb Từ điển Xôviết, Mátxcơva, 1989, tr.366, tiếng Nga

15

Trang 16

chân lý, bên cạnh việc xác định nền tảng thế giới quan của nó

Phương pháp biện chứng duy vật là hệ thống các nguyên tắc hình thành trên cơ sởcác nguyên lý, quy luật và phạm trù của phép biện chứng duy vật nói riêng và của toàn

bộ nội dung triết học duy vật biện chứng nói chung Những nguyên tắc này tác động,liên hệ qua lại, bổ sung cho nhau tạo thành công cụ hiệu quả trong hoạt động nhận thức

và thực tiễn Phương pháp biện chứng duy vật được sử dụng trong mọi ngành khoa học,trong mọi lĩnh vực của thực tiễn và có vai trò quyết định trong việc nghiên cứu và cải tạo

sự vật Vì vậy, nó được gọi là phương pháp phổ biến

Phương pháp luận là hệ thống những quan điểm, nguyên tắc xuất phát hướng dẫn

con người xác định, lựa chọn cũng như xác định phạm vi, khả năng áp dụng phươngpháp nhằm đạt hiệu quả tối đa Nói cách khác, phương pháp luận là lý luận, là khoa học

về phương pháp

Phương pháp luận biện chứng duy vật là hệ thống các nguyên tắc, phương pháp tổchức và xây dựng hoạt động lý luận và thực tiễn, đồng thời cũng là phương pháp luậncủa triết học duy vật biện chứng và các khoa học chuyên ngành Phương pháp luận biệnchứng duy vật thể hiện ở hệ thống quan điểm, nguyên tắc chỉ đạo sự tìm kiếm, xây dựng,lựa chọn và vận dụng các phương pháp trong hoạt động nhận thức và hoạt động thựctiễn Mỗi luận điểm của triết học duy vật biện chứng đồng thời là một nguyên tắc trongviệc xác định, lý luận về phương pháp Những nguyên tắc trên tạo khả năng cải tạo thếgiới, trở thành công cụ hữu hiệu trong hoạt động chinh phục tự nhiên và sự nghiệp giảiphóng con người của triết học duy vật biện chứng

Phương pháp và phương pháp luận có mối quan hệ vừa độc lập vừa thống nhất vớinhau Phương pháp là cách thức hoạt động nhận thức và thực tiễn cụ thể; còn phươngpháp luận là những nguyên tắc xuất phát hướng dẫn chủ thể xác định phương pháp đúng.Phương pháp luận, tuy nghiên cứu về phương pháp, nhưng không nhằm mục đích xâydựng phương pháp cụ thể mà chỉ nhằm rút ra những nguyên tắc chung cho việc xác định,lựa chọn và áp dụng phương pháp Phương pháp luận- thuần tuý lý luận, phương pháp-

cả lý luận và thực tiễn Bởi vậy, vừa không nên nhầm phương pháp với phương phápluận và cũng nên coi phương pháp thống nhất với phương pháp luận bởi, phương phápluận là cơ sở để nghiên cứu các phương pháp cụ thể, còn phương pháp cụ thể phải xuấtphát từ nguyên tắc của phương pháp luận

CHƯƠNG 1 CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG

(triết học duy vật biện chứng về tự nhiên)

I TRIẾT HỌC DUY VẬT VÀ TRIẾT HỌC DUY VẬT BIỆN CHỨNG

16

Trang 17

Tư tưởng triết học khởi nguồn là những vấn đề về thế giới mà con người đang sốngtrong đó, về mối quan hệ giữa con người với thế giới đó Bởi vậy, các “nhà thông thái”27

đi tìm các câu trả lời cho các câu hỏi như thế giới bao quanh con người là gì, có nguồngốc từ đâu? kết cấu và hình thức tồn tại của thế giới đó thế nào? con người là gì và mốiquan hệ giữa con người với thế giới xung quanh nó ra sao? đặc thù của ý thức, cảm xúc

là thế nào? v.v Bởi vậy, triết học được coi là triết học tự nhiên, là “khoa học của mọikhoa học”, còn nhà triết học được tôn vinh là nhà thông thái, đại diện cho trí tuệ xã hội;triết lý trở thành đặc quyền của một số ít người Nhận thức lý luận vượt lên hoạt độngthực tiễn, dần biến thành “nhận thức tự thân”, “nhận thức để nhận thức”, đối lập với thựctiễn, với ý thức đời thường

Các học thuyết triết học xuất hiện vào khoảng t.k X tr.c.n (Ấn Độ), t.k VIII tr.c.n(Trung Quốc), t.k X tr.c.n (Hy Lạp) Theo nghĩa chữ Hán, triết là vũ khí trí tuệ [miệng(dưới), chân tay (trái trên), vũ khí (phải trên)]; theo nghĩa chữ Ấn Độ, triết là Darshna(sự chiêm ngưỡng, suy ngẫm con đường đến chân lý, là sự hiểu biết nói chung); theonghĩa chữ Hy Lạp, triết là philosophya (yêu mến trí tuệ) Thuật ngữ triết học gặp đầutiên trong các tác phẩm của Pitago (571-447 tr.c.n), còn thuật ngữ triết học dùng để chỉhình thức đặc biệt của nhận thức, do Platôn (427-347 tr.c.n,) sử dụng đầu tiên;

Con đường từ thần thoại đến triết học, theo Hêghen, là con đường đi từ lý tínhhoang tưởng đến lý tính tư duy, từ hình thức diễn đạt thông qua biểu tượng đến hìnhthức diễn đạt bằng khái niệm28, triết học là tóm tắt thời đại bằng lý luận Nhưng do góc

độ tiếp cận, mục đích nhận thức khác nhau, cách hiểu triết học ngày càng khác nhau vàtriết học ra đời không có nghĩa thần thoại mất đi, mà xét theo cội nguồn, triết học ra đờinhư nỗ lực “tái thiết lại thần thoại bằng phương tiện của lý trí” ; thần thoại tiếp tục tồntại trong tôn giáo, nghệ thuật, văn học, nhưng được xét từ góc độ giá trị Đằng sau câuchuyện thần thoại là cả một triết lý sống, thể hiện những chuẩn mực, giá trị, những bàihọc đạo đức, nhân văn;

Đa số các nhà triết học phương Tây coi triết học (siêu hình học) là hình thức thể

hiện mối quan hệ giữa con người với thế giới bằng tư duy Cách hiểu này xuất phát từ

25 G.N.Machusin: Nguồn gốc loài người Nxb Mir, Mátxcơva & Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 1986

26 Sự phát hiện này được đúc kết trong Chu Dịch; trong đó nêu những quy luật vận động của tự nhiên Vận dụng Chu Dịch, người ta soạn ra sách y học (Nội kinh); địa lý học gọi là Kham dư thuật (thuật Phong thuỷ) v.v

27 Người Hy Lạp cổ đại gọi các nhà triết học là nhà thông thái

28 G.W.F.Hêghen: Toàn tập, t.IX, Mátxcơva, 1934, tr.14, tiếng Nga

17

Trang 18

-Arítxtốt (384-322 tr.c.n), người chia nhận thức bản chất sự vật thành hai phần: Nhậnthức bằng các (5) giác quan gọi là “vật lý học” hoặc “triết học thứ nhất” (về sau nhậnthức này do các khoa học chuyên ngành như vật lý, hóa học, sinh học v.v đem lại) Cònnhận thức bản chất sự vật bằng tư duy trưù tượng được gọi là “sau vật lý học” hay “siêuhình học” hoặc “triết học thứ hai” Điểm nổi bật của triết học phương Tây là đề cao, cólúc tuyệt đối hóa vai trò của nhận thức, tư duy; tạo nên tính duy lý đặc trưng

C.Mác coi “ mọi triết học chân chính đều là tinh hoa về mặt tinh thần của thời đại mình”29 Triết học chân chính là triết học được thực tiễn xã hội sinh ra, sống bằngthực tiễn xã hội và thực tiễn xã hội với toàn bộ tính sinh động, sự phức tạp chi phối nộidung, bản chất cũng như vị trí, vai trò của triết học trong đời sống xã hội đó Về phầnmình, “triết học không treo lơ lửng ở ngoài thế giới, cũng như bộ óc không tồn tại bênngoài con người ”30 mà cùng với các tư tưởng khác tạo nên diện mạo tinh thần của thờiđại, triết học góp phần vào sự phát triển của xã hội và vào giá trị chung của nhân loại

qua các chức năng của mình Còn “các triết gia không mọc lên như nấm từ trái đất; họ là

sản phẩm của thời đại mình, của dân tộc mình, mà dòng sữa tinh tế nhất, quý giá và vôhình được tập trung lại trong những tư tưởng triết học”31

Ở Việt Nam cũng có nhiều quan niệm khác nhau về triết học ”Phàm nói triết học

là nghĩ ngay đến một sự học chung, chủ cái đại thể, đại khái Khái niệm, nghiên cứu,suy nghĩ, thuyết minh, đó là bốn điều chính của sự triết học”32; ”triết học là hệ thống trithức chung nhất của con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giớiấy”33; “triết học là hệ thống các quan niệm chung nhất về thế giới; về con người trongthế giới đó; nó nghiên cứu các quan hệ nhận thức, giá trị, chính trị-xã hội, đạo đức vàthẩm mỹ”; “triết học là khoa học nghiên cứu những quy luật chung nhất về sự vận động

và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy; nghiên cứu con đường, phương pháp nhậnthức và biến đổi thế giới”; “triết học là hệ thống tri thức khái quát về thế giới với tư cách

là cái tổng thể, đi tìm các quy luật chung nhất chi phối cái tổng thể đó cũng như các yếu

tố (tự nhiên, xã hội, tư duy) của cái tổng thể đó, trong đó có bản thân con người” v.v.Như vậy, không có định nghĩa thống nhất về triết học, bởi đối tượng nghiên cứu mà triếthọc hướng đến thay đổi theo điều kiện sống của con người

Cấu trúc của triết học gồm các khoa học chuyên ngành thuộc ngành triết học làbản thể luận (lý luận về tồn tại), nhận thức luận (lý luận về nhận thức), lôgíc (khoa học

về tư duy), triết học lịch sử, đạo đức, luân lý, mỹ học v.v, hiện nay còn xuất hiện thêmcác chuyên ngành khoa học khác như đạo đức, triết lý kinh doanh, triết lý quyền lực v.v.Bởi vậy, khi nghiên cứu các học thuyết triết học, người ta thường tiếp cận chúng từ cácgóc độ 1) Vũ trụ luận (Bản thể luận), 2) Tri thức luận (Nhận thức luận), 3) Nhân sinhluận (Nhân sinh quan), 4) Chính trị luận (tư tưởng chính trị-xã hội) v.v Tư duy triết học

là tư duy lý luận, hình thành nhờ tổng kết kinh nghiệm, thành quả khoa học và văn hoá

nói chung Nhiệm vụ của triết học là tạo ra năng lực tư duy trừu tượng và cùng với

29 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, t.1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.157

30 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, t.1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.156

31 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, t.1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.156

32 Pham Quỳnh: Triết học là gì? Nam Phong Tạp chí, số 02, năm 1917, tr 97-100

33 Bộ Giáo dục và Đào tạo: Giáo trình Triết học Mác-Lênin Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 2002, tr.8

18

Trang 19

-những tri thức triết học, con người có thể tạo ra trí tưởng tượng trong hoạt động nhậnthức và thực tiễn cải tạo thế giới; và do vậy, sự ra đời, sự thay thế nhau của các họcthuyết triết học không tách rời nhu cầu khách quan, hiện thực của con người

Triết học duy vật biện chứng là khoa học nghiên cứu những quy luật chung nhất

về sự vận động, phát triển (tồn tại) của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tưduy; đồng thời tiếp tục làm rõ vấn đề về mối quan hệ giữa tư duy với tồn tại

Triết học duy vật biện chứng là công cụ lý luận bảo vệ quyền lợi và vạch hướng đicho cuộc đấu tranh tự giải phóng của giai cấp vô sản Cơ sở lý luận của học thuyết triếthọc-xã hội học này của C.Mác34 nằm trong triết học duy vật “phi truyền thống” được xây

dựng từ quan điểm dùng triết học để phát hiện quy luật phát triển khách quan của đời

sống xã hội thông qua các hoạt động của con người trong điều kiện sinh hoạt vật chất cụthể35 “Sự giải phóng người Đức là sự giải phóng con người Đầu não của sự giải phóng

ấy là triết học, trái tim của nó là giai cấp vô sản Triết học không trở thành hiện thực nếukhông xóa bỏ giai cấp vô sản; giai cấp vô sản không xóa bỏ được bản thân mình nếukhông làm cho triết học trở thành hiện thực”36 “Các nhà triết học đã chỉ giải thích thếgiới bằng nhiều cách khác nhau, song vấn đề là cải tạo thế giới”37; ”Chủ nghĩa duy vậthiện đại … không còn là một triết học nữa, mà là một thế giới quan; nó không cần phảiđược chứng thực và biểu hiện thành một khoa học đặc biệt nào đó của các khoa học, màđược chứng thực và biểu hiện trong các khoa học hiện thực”38 v.v

b Vấn đề cơ bản của triết học

- Khái niệm vấn đề cơ bản của triết học

+ Mọi vấn đề có nội dung triết học chỉ khi nó được nghiên cứu và giải đáp từ góc

độ mối quan hệ giữa tư duy với tồn tại Ngay từ thời cổ đại, con người đã gặp vấn đề về

mối quan hệ giữa linh hồn với thể xác của mình Phải chăng giữa linh hồn với thể xác có

sự cách biệt và thể xác sẽ mất đi theo thời gian, còn linh hồn thì tồn tại vĩnh viễn? Đếnkhi triết học ra đời thì vấn đề đó vẫn được đặt ra nhưng ở tầm khái quát hơn- đó là mốiquan hệ giữa tâm với vật, giữa ý thức với vật chất, giữa chủ thể với khách thể v.v và cáchọc thuyết triết học ở mức độ này hay mức độ khác, vẫn phải giải quyết trước hết nhữngcâu hỏi xoay quanh vấn đề đó, biểu hiện ở chỗ, thế giới trong đầu óc con người có quan

hệ thế nào với thế giới tồn tại ngoài đầu óc con người? Con người thật có khả năng nhậnbiết được sự tồn tại của thế giới bên ngoài bằng tư duy của mình hay không? v.v

+ Bất kỳ một ngành khoa học nào cũng có hàng loạt vấn đề thuộc đối tượngnghiên cứu của mình; trong đó, có vấn đề đóng vai trò hỗ trợ, có vấn đề đóng vai tròquan trọng, lại có vấn đề đóng vai trò cực kỳ quan trọng đến mức nó là nền tảng, địnhhướng cho ngành khoa học ấy giải quyết những vấn đề còn lại Đó chính là vấn đề cơbản của một ngành khoa học Triết học cũng có hệ thống vấn đề của mình; trong đó, vấn

đề nền tảng, định hướng để giải quyết những vấn đề khác là vấn đề về mối quan hệ giữa

tư duy với tồn tại; giữa cái tinh thần với cái vật chất; giữa cái chủ quan với cái khách

34 V.I.Lênin: Toàn tập, 2005, t.1, tr.163

35 Những nội dung cơ bản của triết học Mác-Lênin qua các tác phẩm kinh điển Nxb CAND, Hà Nội, 2001, tr.4-5

36 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập/C.Mác: Góp phần phê phán triết học pháp quyền Heghen Lời nói đầu, t.1, tr.589-590

37 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập/C.Mác: Luận cương về Phoiơbắc, t.42, tr.377

38 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập/Ph.Ăngghen: Chống Đuyrinh (1878), t.20, tr.197

19

Trang 20

-quan Bởi vậy, trong tác phẩm Lútvích Phoiơbắc và sự cáo chung của nền triết học cổđiển Đức (1886), Ph.Ăngghen coi “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của

triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại39”40;

+ Như vậy, vấn đề cơ bản của triết học là những vấn đề 1) rộng nhất, chung nhất

đóng vai trò nền tảng, định hướng để giải quyết những vấn đề khác của triết học 2) nếukhông giải quyết được vấn đề này thì không có cơ sở để giải quyết các vấn đề khác, ítchung hơn của triết học 3) giải quyết vấn đề này như thế nào thể hiện thế giới quan củanhà triết học và thế giới quan đó là cơ sở tạo ra phương hướng nghiên cứu và giải quyếtnhững vấn đề còn lại của triết học;

- Nội dung (hai mặt) và ý nghĩa (phân chia các trường phái, học thuyết, nhà triết học) của nội dung vấn đề cơ bản của triết học

+ Mặt thứ nhất (mặt bản thể luận) vấn đề cơ bản của triết học giải quyết mối quan

hệ giữa vật chất với ý thức Mối quan hệ này thể hiện ở ”cái gì có trước và quy định cái

gì?”- thế giới vật chất có trước, sinh ra và quy định thế giới tinh thần; hoặc ngược lại, thếgiới tinh thần có trước, sinh ra và quy định thế giới vật chất Có nhiều cách giải quyết

mặt thứ nhất này tạo ra sự khác biệt mang tính nguyên tắc giữa triết học duy vật với triết

học duy tâm; giữa triết học nhất nguyên với triết học nhị nguyên

Cách giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học là cơ sở phân chia các nhà

triết học và các học thuyết của họ thành hai trường phái đối lập nhau là duy vật lis) và duy tâm (idealis) triết học "Những người khẳng định rằng, tinh thần tồn tại trước

(materia-tự nhiên - tạo nên phái duy tâm Những người cho rằng, cơ sở ban đầu là (materia-tự nhiên, gianhập vào các trường phái khác nhau của chủ nghĩa duy vật"41 Từ thời cổ đại đến nay,

trường phái duy tâm triết học tồn tại trong hai hình thức duy tâm khách quan và duy tâm chủ quan; trường phái duy vật triết học tồn tại trong ba hình thức duy vật cổ đại, duy vật thế kỷ XVII-XVIII và duy vật biện chứng Cuộc đấu tranh giữa hai trường phái triết học duy tâm, duy vật nói chung và của các trào lưu triết học khác nói riêng, là biểu hiện mặt

tư tưởng của cuộc đấu tranh giai cấp và cuộc đấu tranh đó phản ánh tồn tại xã hội của

các giai cấp, tầng lớp nhân dân trong xã hội, tạo nên nội dung chính của lịch sử triết học;

Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức còn được hiểu là cách nhận thức 1) tính thứnhất của vật chất; tính thứ hai của ý thức 2) tính thứ nhất của ý thức; tính thứ hai của vậtchất Hai cách này đều thừa nhận tính thứ nhất của một nguyên thể (hoặc vật chất, hoặc

ý thức) và thuộc về triết học nhất nguyên (còn gọi là nhất nguyên luận) 3) Vật chất và ý

thức tồn tại hoàn toàn độc lập với nhau Cách giải quyết này không thừa nhận tính thứ

nhất, tính thứ hai của một nguyên thể nào, thuộc về triết học nhị nguyên (còn gọi là nhị

nguyên luận) Triết học nhị nguyên giải thích thế giới từ hai xuất phát điểm, thế giới vậtchất sinh ra từ nguyên thể vật chất, thế giới tinh thần sinh ra từ nguyên thể tinh thần v.v;

+ Mặt thứ hai (mặt nhận thức luận) vấn đề cơ bản của triết học giải quyết mốiquan hệ giữa khách thể với chủ thể nhận thức, tức trả lời câu hỏi liệu con người có khả

39 Lưu ý rằng tồn tại không hoàn toàn đồng nhất với vật chất (tồn tại gồm vật chất- cái có sẵn trong tự nhiên và vật chất do con người tạo ra; tồn tại của tinh thần (ý thức); tồn tại của con người- gồm phần vật chất và phần tinh thần) Khái niệm tồn tại được đồng nhất với vật chất ở đây chỉ có nghĩa là cái không phải tinh thần, mà đối lập với tinh thần

40 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, 2004, t.21, tr.403

41 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, 2004, t 21, tr 283

20

Trang 21

2 Triết học duy vật biện chứng- hình thức cao nhất của triết học duy vật

Trong lịch sử triết học, triết học duy vật đã tồn tại trong ba hình thức cơ bản

- Hình thức cơ bản thứ nhất là triết học cổ đại duy vật chất phác, ra đời do kết quả

nhận thức trực quan, coi vật chất chỉ là một hay một số dạng cụ thể của vật chất của cácnhà triết học duy vật cổ đại Triết học duy vật này lấy tự nhiên để giải thích tự nhiên nên

có tác dụng chống huyền thoại, tôn giáo, duy tâm;

- Hình thức cơ bản thứ hai là triết học duy vật siêu hình t.k XV-XVIII và đạt đỉnh

cao ở t.k XIX, là kết quả sự tác động của những thành tựu trong lĩnh vực cơ học lên tưduy các nhà triết học Theo đó, thế giới như một cỗ máy khổng lồ mà mỗi bộ phận của

nó tồn tại trong trạng thái cô lập nhau và không vận động, phát triển Hình thức triết họcduy vật này có tác dụng chống lại duy tâm, tôn giáo thời Trung cổ và là cơ sở lý luậncho những nghiên cứu từng bộ phận riêng lẻ (vật lý, hóa học ) của thế giới tổng thể;

- Hình thức cơ bản thứ ba là triết học duy vật biện chứng

Triết học duy vật biện chứng (triết học Mác-Lênin) là triết học duy vật, bởi triết

học đó coi ý thức là tính chất của dạng vật chất có tổ chức cao là não người Nhiệm vụ

của não người là phản ánh thế giới tự nhiên; sự phản ánh đó được gọi là biện chứng, bởi

nhờ nó mà con người nhận thức được mối quan hệ qua lại chung nhất giữa các sự vật,hiện tượng của thế giới; đồng thời nhận thức được rằng, sự vận động và phát triển củathế giới là kết quả của các mâu thuẫn đang tồn tại bên trong thế giới đang vận động đó

Được coi là hình thức cao nhất trong các hình thức triết học duy vật; bản chất củatriết học duy vật biện chứng thể hiện ở 1) Giải quyết duy vật, biện chứng vấn đề cơ bảncủa triết học 2) Thống nhất giữa triết học duy vật với phép biện chứng tạo nên triết họcduy vật biện chứng để không chỉ là lý luận giải thích, nhận thức, mà còn là phương phápcải tạo thế giới 3) Quan niệm duy vật về lịch sử là cuộc cách mạng trong lĩnh vực xãhội 4) Thống nhất giữa tính khoa học với tính cách mạng; lý luận với thực tiễn tạo nêntính sáng tạo của triết học Mác

- Ngoài ra, trong lịch sử phát triển của triết học duy vật còn có triết học duy vậttầm thường- coi ý thức cũng là một dạng của vật chất; trong lĩnh vực kinh tế, có triết họcduy vật kinh tế- coi kinh tế là cái duy nhất quyết định sự phát triển của xã hội v.v

II QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ VẬT CHẤT, Ý THỨC VÀ VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VỚI Ý THỨC

1 Vật chất

a Phạm trù vật chất

21

Trang 22

- Khái quát quan niệm của chủ nghĩa duy vật trước Mác về vật chất

Vật chất (materia- với nghĩa là chất, vật chất) là phạm trù triết học xuất hiện hơn

2500 năm trước và kể từ đó, diễn ra nhiều tranh luận giữa triết học duy vật với triết họcduy tâm xoay quanh nó Giống như các khái niệm, phạm trù triết học khác, sự phát triểncủa phạm trù vật chất gắn với hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người

+ Trong triết học duy vật chất phác cổ đại, các nhà triết học coi vật chất là những

Ở Hy Lạp cổ đại, các nhà triết học duy vật Talét (624-546 tr.c.n) coi vật chất là

nước; Anaximen (585-524 tr.c.n)- là không khí; Hêraclít (540-480 tr.c.n)- là lửa;

Anaxi-manđơrơ (610-540 tr.c.n)- là Apâyrôn Thành quả vĩ đại nhất của triết học duy vật HyLạp cổ đại về vật chất là thuyết nguyên tử của Lơxíp (500-440 tr.c.n) và học trò của ông

là Đêmôcrít (460-370 tr.c.n) Theo đó, nguyên tử là hạt nhỏ nhất không thể phân chiađược; là cái tạo ra mọi vật Thuyết nguyên tử này (tồn tại trong các học thuyết triết họcduy vật cho đến cuối t.k XIX đầu t.k XX) là một bước phát triển mới của triết học duyvật trên con đường hình thành phạm trù vật chất với tính cách là phạm trù triết học Sựgiải thích bản nguyên thế giới từ chính những yếu tố vật chất của thế giới về căn bản,dẫn đến việc kết thúc vai trò thống trị của thần thoại trong ý thức con người Lý trí thaythần Dớt, giới tự nhiên cởi dần lớp vỏ siêu nhiên;

+ Trong triết học duy vật siêu hình cận đại t.k XVII-XVIII, do cơ học phát triểnmạnh và chiếm ưu thế nên các quan niệm về vật chất cũng mang tính cơ học Niutơn(1642-1727) cho rằng khối lượng của các vật thể là phổ biến, bất biến, không phụ thuộcvào vận động nên đồng nhất khối lượng với vật chất; coi vận động vật chất chỉ là vậnđộng cơ học; nguồn gốc vận động vật chất là cái hích đầu tiên của Thượng đế;

+ Cuối t.k XIX đầu t.k XX, các phát minh vật lý bác bỏ quan niệm đồng nhất vậtchất với các dạng cụ thể của vật chất (hoặc với thuộc tính của vật chất) của các nhà triếthọc duy vật cổ đại và cận đại Năm 1895, Rơnghen phát hiện ra tia X là sóng điện từ cóbước sóng rất ngắn Năm 1896, Béccơren phát hiện ra hiện tượng sau khi bức xạ ra hạtAnpha, Urani chuyển thành nguyên tố khác Năm 1897, Tômxơn phát hiện ra điện tử vàchứng minh được điện tử là một trong những thành phần tạo nên nguyên tử Năm 1901,Kaufman đã phát hiện khối lượng của điện tử biến động và kết quả thực nghiệm cho thấykhối lượng của các điện tử tăng khi vận tốc của điện tử tăng Như vậy, các tính chất của

“vật chất” (như không biến đổi, nhỏ nhất, không thể phân chia v.v) trong các quan niệmcủa triết học duy vật cổ đại và cận đại bị vật lý học bác bỏ

Lợi dụng tình hình đó, triết học duy tâm cố ý giải thích sai lệch những phát minhtrên; thậm chí các nhà khoa học tự nhiên “giỏi về khoa học nhưng kém về triết học” cóquan điểm duy vật siêu hình chuyển sang quan điểm duy tâm Họ cho rằng “vật chất(được đồng nhất với nguyên tử) đã tiêu tan mất” nên nền tảng cơ sở để xây dựng triết

22

Trang 23

-học duy vật không còn, suy ra lý thuyết triết -học duy vật là sai v.v V.I.Lênin thấy cầnkhắc phục “cuộc khủng hoảng phương pháp luận vật lý”; tạo đà cho phát triển tiếp theocủa nhận thức duy vật biện chứng về vật chất, về những tính chất cơ bản của nó

- Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin; nội dung cơ bản và ý nghĩa của nó

Để phê phán tính siêu hình, chống lại tính duy tâm trong các quan niệm về vậtchất và làm rõ hơn quan điểm của triết học Mác về vật chất, trong tác phẩm Chủ nghĩaduy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán (1909), V.I.Lênin, cho rằng không phải “vậtchất tiêu tan” mà giới hạn hiểu biết của con người về vật chất bị “tiêu tan”; những phátminh trên không bác bỏ mà chỉ ra sự hiểu biết của con người về vật chất còn bị hạn chế;

+ Phát triển định nghĩa vật chất của Ph.Ăngghen “Vật chất, với tính cách là vậtchất, là một sáng tạo thuần túy của tư duy và là một sự trừu tượng Chúng ta bỏ quanhững sự khác nhau về chất của những sự vật, khi chúng ta gộp chúng, với tư cách lànhững vật tồn tại hữu hình, vào khái niệm vật chất Do đó khác với những vật chất nhấtđịnh và đang tồn tại, vật chất, với tính cách là vật chất, không có sự tồn tại cảm tính”42;V.I.Lênin định nghĩa “Материя- Это философская категория для обозначения объек-тивной реальности, которая дана человеку в ощущениях его, которая копируется,фотографируется, отображается нами ощущениями, существуя независимо от них-Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho conngười trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tạikhông lệ thuộc vào cảm giác”43

+ Những (ba) nội dung chính định nghĩa vật chất của V.I.Lênin

Nội dung thứ nhất của định nghĩa Vật chất là phạm trù triết học, vừa có tính trừu

tượng vừa có tính cụ thể a) Tính trừu tượng của phạm trù vật chất dùng để chỉ đặc tínhchung, bản chất nhất của vật chất b) Tính cụ thể của vật chất thể hiện ở chỗ, con ngườichỉ có thể nhận biết được vật chất bằng các giác quan của mình; chỉ nhận thức được vậtchất qua việc nghiên cứu các sự vật, hiện tượng vật chất cụ thể;

Tuy nhiên, 1) nếu tuyệt đối hóa tính trừu tượng của vật chất thì sẽ không thấy vậtchất ở đâu, rơi vào chủ nghĩa duy tâm 2) nếu tuyệt đối hóa tính cụ thể của vật chất thì sẽđồng nhất vật chất với các sự vật, hiện tượng vật chất cụ thể, nghĩa là lại quay lại vớinhận thức về vật chất của các nhà duy vật trước C.Mác;

Ý nghĩa của nội dung thứ nhất 1) Khắc phục quan niệm duy vật siêu hình, quy vậtchất về các dạng cụ thể của vật chất 2) Trong lĩnh vực xã hội, vật chất biểu hiện dướidạng những quan hệ vật chất, kinh tế và đó là cơ sở lý luận để giải thích các vấn đề củacuộc sống hiện thực (như mối quan hệ giữa vật chất, kinh tế (sản xuất) với tư tưởng,chính trị (quản lý sản xuất) cái nào quy định cái nào; sự tác động của cái bị quy định cóảnh hưởng đến sự vận động, phát triển của cái quy định hay không v.v)

Nội dung thứ hai của định nghĩa Vật chất là thực tại khách quan có đặc tính cơ

bản là tồn tại không phụ thuộc vào các giác quan (ý thức) của con người và được conngười nhận biết bằng cảm giác

Ý nghĩa của nội dung thứ hai 1) Vật chất có hai đặc tính cơ bản là tồn tại kháchquan và tính nhận biết; 2) Bằng cảm giác của mình, con người có khả năng nhận thức

42 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, 2004/Ph.Ăngghen: Biện chứng của tự nhiên t.20, tr.751

43 V.I.Lênin: Toàn tập, 2005, t.18, tr.151

23

Trang 24

-được các đặc tính cơ bản đó của các dạng vật chất cụ thể Đây là hai tiêu chí để phân biệt

cái gì là vật chất và cái gì không phải là vật chất

Nội dung thứ ba của định nghĩa 1) Các dạng cụ thể của vật chất gây nên cảm

giác 2) Ý thức chép lại, chụp lại, phản ánh chúng 3) Bằng các giác quan của mình, conngười có thể trực tiếp hoặc gián tiếp nhận biết thực tại khách quan; chỉ có những sự vật,hiện tượng chưa được nhận biết biết chứ không có gì không thể biết

Ý nghĩa của nội dung thứ ba 1) Bác bỏ quan niệm về ý thức của chủ nghĩa duytâm 2) Bác bỏ thuyết không thể biết

- Ý nghĩa của định nghĩa trên đối với nhận thức và hoạt động thực tiễn

+ Ý nghĩa thế giới quan của định nghĩa Định nghĩa đưa lại thế giới quan duy vật

biện chứng về vấn đề cơ bản của triết học Về mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học,

định nghĩa khẳng định vật chất có trước, ý thức có sau; vật chất là nguồn gốc khách quan

của cảm giác, của ý thức Về mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triết học, định nghĩa khẳng

định bằng ý thức của mình, con người có khả năng nhận thức thế giới vật chất nếu cókiến thức triết học, vật lý, hóa học, sinh học, y học, tâm lý học, cơ học v.v

+ Ý nghĩa phương pháp luận của định nghĩa được tạo nên từ mối quan hệ giữa vật

chất với ý thức Đó là nguyên tắc khách quan, chống bệnh chủ quan duy ý chí; phát huy

tính năng động chủ quan, chống bệnh bảo thủ, trì trệ, trông chờ, ỷ lại Nguyên tắc nàyyêu cầu trong hoạt động cần 1) Xuất phát từ khách quan nhưng tránh thụ động, trôngchờ, ỷ lại Do vật chất có trước ý thức, là nguồn gốc và quy định ý thức nên trong mọihoạt động cần xuất phát từ hiện thực khách quan, tôn trọng các quy luật tồn tại kháchquan của sự vật, hiện tượng 2) Thấy được tính năng động tích cực của ý thức để pháthuy tính năng động chủ quan nhưng tránh chủ quan duy ý chí mà biểu hiện là đề cao,tuyệt đối hoá vai trò, tác dụng của ý thức, cho rằng con người có thể làm được tất cả màkhông cần đến sự tác động của các quy luật khách quan, các điều kiện vật chất cần thiết

b Phương thức và hình thức tồn tại của vật chất

Triết học duy vật biện chứng coi mối quan hệ giữa vật chất với vận động, khônggian và thời gian như sau44:

- Định nghĩa "Vận động, hiểu theo nghĩa chung nhất,- tức được hiểu như là

phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất,- thì bao gồm tất

cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giảncho đến tư duy"45 Có thể nói, vận động là sự biến đổi nói chung, là phương thức tồn tại,

44 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.20, 2004, tr.519-540

45 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, 2004, t.20, tr.519

24

Trang 25

+ Vận động là một trong những thuộc tính cố hữu (vốn có) của vật chất nên mỗidạng vật chất cụ thể nào đó nhất định phải có thuộc tính này (vận động);

+ Vận động của các sự vật, hiện tượng do sự tác động lẫn nhau giữa chúng tạo ra+ Đứng im là một trong những hình thức vận động của các sự vật, hiện tượng; làđiều kiện để các sự vật, hiện tượng phân hóa

- Vận động là cái không thể sáng tạo ra và cũng không tiêu diệt được (vận động

tồn tại khách quan):

+ Vận động do người tạo ra chỉ là mô phỏng vận động vốn có (quả lắc, sóng nướcv.v có thể nhân tạo)

+ Vũ trụ là một hệ thống, một tập hợp các vật thể, tập hợp này tạo ra vận động;+ Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, Thuyết tế bào, thuyết tiến hóa v.v

là những minh chứng về vận động khách quan

+ Vận động còn là sự biến đổi cả về lượng và về chất của sự vật, hiện tượng;

- Các hình thức vận động cơ bản của vật chất

Tính muôn vẻ của thế giới vật chất thể hiện ở các hình thức vận động của nó;

trong đó có 5 hình thức vận động cơ bản: 1) vận động cơ giới là hình thức vận động đơn

giản nhất, như sự chuyển địch, thay đổi vị trí của các vật thể trong không gian; ở hìnhthức này sự tương tác, sự tiếp xúc giữa các vật thể là điều kiện trước tiên làm vật thể vận

động; 2) vận động vật lý (các quá trình tạo ra âm thanh, nhiệt, ánh sáng, điện, từ …); 3) vận động hóa học (các phản ứng hoá học, các quá trình hợp nhất hay phân giải các chất); 4) vận động sinh học (vận động trong sự sống hữu cơ, sự trao đổi chất giữa cơ thể

và môi trường ); 5) vận động xã hội (vận động diễn ra trong xã hội loài người bằng hoạt

động có ý thức của con người) Ph.Ăngghen không trực tiếp nêu khái niệm “vận động xãhội”, song có đề cập đến hình thức này khi phê phán Đuyrinh đã quy mọi hình thức vậnđộng về vận động cơ giới Ông cũng bác bỏ thuyết Đácuyn xã hội- chủ trương vận dụngcác quy luật sinh học vào việc giải thích các hiện tượng và các quá trình xã hội

Năm hình thức vận động cơ bản này có quan hệ chặt chẽ với nhau Một hình thức

vận động này được thực hiện là do có sự tác động qua lại với các hình thức vận độngkhác và luôn có khả năng chuyển hoá thành hình thức vận động khác Tuy vậy giữachúng có sự khác nhau về chất nên không thể quy hình thức vận động này vào/thànhhình thức vận động khác Mỗi sự vật, hiện tượng có thể gắn với nhiều hình thức vậnđộng nhưng bao giờ cũng đặc trưng bằng chỉ một hình thức vận động cơ bản Do vậy,cần nhận rõ sự thống nhất và khác nhau giữa các hình thức vận động; nhất là đối với cácvận động phức tạp như vận động sinh học, vận động xã hội

25

Trang 26

-Bằng việc phân loại các hình thức vận động như vậy, Ph.Ăngghen đã đặt cơ sởcho việc phân loại, phân ngành; hợp loại, hợp ngành khoa học Theo đó, mỗi ngành khoahọc nghiên cứu một hình thức vận động hoặc đồng thời nghiên cứu một số các hình thứcvận động liên quan Đồng thời, việc phân loại này còn là cơ sở để chống lại việc đánhđồng các hình thức vận động hoặc quy hình thức vận động này vào hình thức khác

- Đứng im tương đối Thế giới vật chất tồn tại trong trạng thái vận động không

ngừng, trong đó có trạng thái đứng im tương đối hay còn gọi là vận động cân bằng

Nên hiểu trạng thái đứng im chỉ xẩy ra đối với một hình thức vận động nào đó,trong một thời gian nào đó và trong một quan hệ nhất định nào đó Nếu vận động là tồntại trong sự biến đổi của sự vật, hiện tượng, thì đứng im tương đối là sự ổn định, sự bảo

toàn quảng tính của sự vật, hiện tượng Như vậy, có vận động trong cân bằng và có cân bằng trong vận động Khả năng đứng im tương đối của vật thể, khả năng cân bằng tạm

thời là những điều kiện chủ yếu của quá trình phân hóa vật chất, sự sống Sự cân bằng(đứng im) là trạng thái riêng biệt đối với từng sự vật trong những tương quan cụ thể.Tóm lại, đứng im là tương đối, là trạng thái đặc biệt của vật chất đang vận động;

- Vật chất với không gian và thời gian

+ Mọi sự vật, hiện tượng tồn tại khách quan đều có vị trí, hình thức kết cấu, độ dài

ngắn, cao thấp của nó- các thuộc tính đó gọi là không gian và không gian biểu hiện sự

cùng tồn tại và cách biệt giữa các sự vật, hiện tượng với nhau, biểu hiện quảng tính, trật

tự phân bố của chúng

+ Mọi sự vật, hiện tượng tồn tại trong trạng thái không ngừng biến đổi, nhanh,

chậm, kế tiếp nhau và chuyển hoá lẫn nhau- những thuộc tính đó gọi là thời gian và thời

gian là hình thức tồn tại của vật chất thể hiện ở độ lâu của sự biến đổi; trình tự xuất hiện

và mất đi của các sự vật, các trạng thái khác nhau trong thế giới vật chất; thời gian cònđặc trưng cho trình tự diễn biến của các quá trình vật chất, tính tách biệt giữa các giaiđoạn khác nhau của quá trình đó

Tuy đều là hình thức tồn tại của vật chất, nhưng không gian và thời gian có khác

nhau, ở chỗ, không gian có ba chiều rộng, cao và dài; còn thời gian chỉ có một chiều trôi

từ quá khứ tới tương lai

+ Những hình thức vận động của vật chất được thực hiện trong không gian và theothời gian; không có vật chất tồn tại bên ngoài không gian và thời gian Với ý nghĩa đó,trong tác phẩm Chống Đuyrinh, Ph.Ăngghen viết, “Các hình thức cơ bản của mọi tồn tại

là không gian và thời gian; tồn tại ngoài thời gian cũng vô lý như tồn tại ngoài khônggian”46 Thế giới không có gì ngoài vật chất đang vận động và vật chất đang vận độngkhông thể ở đâu ngoài không gian và thời gian47

Không gian, thời gian có tính khách quan; tính vĩnh cửu và tính vô tận-vô hạn

c Tính thống nhất vật chất của thế giới

Vấn đề tính thống nhất giữa các sự vật, hiện tượng muôn hình, muôn vẻ trong thếgiới khách quan luôn gắn với cách giải quyết vấn đề cơ bản của triết học Có hai khuynhhướng chính về vấn đề này Triết học duy tâm coi ý thức, tinh thần có trước, quy định

46 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, 2004, t.20, tr.78

47 V.I.Lênin: Toàn tập, 2005, t.18, tr.209-210

26

Trang 27

-vật chất thì tính thống nhất giữa các sự -vật, hiện tượng trong thế giới nằm trong tính tinhthần của nó Triết học duy vật biện chứng khẳng định bản chất của thế giới là vật chất;các sự vật, hiện tượng thống nhất với nhau ở tính vật chất Điều này thể hiện ở:

- Mọi sự vật, hiện tượng của thế giới đều có tính vật chất là tồn tại khách quan,

độc lập với ý thức của con người

- Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều là những dạng cụ thể của vật chất;

chúng đều mang đặc tính chung của vật chất (tồn tại vĩnh viễn, không bao giờ trở về số 0cũng như không mất đi); đều được sinh ra từ vật chất;

- Thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn và vô tận Trong thế giới đó không có gì khác

ngoài vật chất đang vận động, biến đổi và chuyển hoá theo những quy luật khách quanchung của mình;

- Tính thống nhất vật chất của thế giới thể hiện ở sự tồn tại của nó thông qua giới

vô cơ, hữu cơ trong bức tranh tổng thể về thế giới duy nhất; giữa vô cơ, hữu cơ có sựliên hệ tác động qua lại, chuyển hoá lẫn nhau, luôn vận động và phát triển Các quá trình

đó cho phép khẳng định sự thống nhất ở tính vật chất của thế giới trong các hình thức vàgiai đoạn phát triển, từ hạt cơ bản đến phân tử, từ phân tử đến các cơ thể sống, từ các cơthể sống đến con người và xã hội loài người;

Quan điểm về bản chất vật chất và tính thống nhất vật chất của thế giới của triếthọc duy vật biện chứng không chỉ định hướng việc giải thích tính phong phú, đa dạngcủa thế giới, mà còn định hướng nhận thức tính chất ấy trong quá trình hoạt động cải tạo

tự nhiên theo quy luật

2 Ý thức

Ý thức là một trong những phạm trù cơ bản của triết học, tâm lý học và xã hộihọc, dùng để chỉ tính tích cực ở mức độ cao nhất về tinh thần của con người với tínhcách là một thực thể xã hội Điểm đặc biệt của tính tích cực đó là sự phản ánh hiện thựckhách quan trong dạng hình ảnh do cảm giác mang lại và đến lượt mình, ý thức địnhhướng hoạt động thực tiễn của con người;

Triết học duy vật biện chứng khẳng định, ý thức là một phạm trù triết học dùng đểchỉ hoạt động tinh thần phản ánh thế giới vật chất diễn ra trong não người, được hìnhthành trong quá trình lao động và được diễn đạt nhờ ngôn ngữ

a Nguồn gốc của ý thức

- Nguồn gốc tự nhiên của ý thức (yếu tố cần = não + phản ánh)

+ Não người là sản phẩm quá trình tiến hoá lâu dài của thế giới vật chất, từ vô cơtới hữu cơ, chất sống (thực vật và động vật) rồi đến con người Là tổ chức vật chất cócấu trúc tinh vi; chỉ khoảng 370g nhưng có tới 14-15 tỷ tế bào thần kinh liên hệ với nhau

và với các giác quan tạo ra mối liên hệ thu, nhận đa dạng để điều khiển hoạt động của cơthể Hoạt động có ý thức của con người diễn ra trên cơ sở hoạt động thần kinh não bộ;

bộ não càng hoàn thiện, hoạt động thần kinh càng hiệu quả, ý thức con người càngphong phú và sâu sắc Điều này lý giải tại sao quá trình tiến hóa của loài người cũng làquá trình phát triển năng lực của nhận thức, của tư duy và tại sao đời sống tinh thần củacon người bị rối loạn khi não bị tổn thương

27

Trang 28

-+ Sự phản ánh của vật chất là một trong những nguồn gốc tự nhiên của ý thức.Mọi hình thức vật chất đều có thuộc tính phản ánh và phản ánh phát triển từ hình thứcthấp lên hình thức cao- tùy thuộc vào kết cấu của tổ chức vật chất

1) Định nghĩa Phản ánh là sự tái tạo lại những đặc điểm, tính chất của dạng vậtchất này (dưới dạng đã thay đổi) trong một dạng vật chất khác

Quá trình phản ánh bao hàm quá trình trao đổi thông tin, vật nhận tác động (cáiphản ánh là cái chứa đựng thông tin về những sự vật, hiện tượng) mang thông tin của vậttác động (cái được phản ánh là những sự vật, hiện tượng cụ thể của vật chất) và đây làvấn đề quan trọng để làm sáng tỏ nguồn gốc tự nhiên của ý thức

2) Các hình thức phản ánh a) Phản ánh của giới vô cơ (gồm phản ánh vật lý và

phản ánh hoá học) là những phản ánh thụ động, không định hướng và không lựa chọn b)

Phản ánh của thực vật là tính kích thích c) Phản ánh của động vật đã có định hướng, lựa

chọn, nhờ đó mà động vật thích nghi với môi trường sống Trong phản ánh của động vật

có phản xạ không điều kiện (bản năng); phản xạ có điều kiện (tác động thường xuyên) ở động vật có thần kinh trung ương tạo nên tâm lý Hình thức phản ánh cao nhất (phản ánh

năng động, sáng tạo) là ý thức của con người, đặc trưng cho dạng vật chất có tổ chức cao

là não người Tóm lại, sự phát triển của các hình thức phản ánh gắn với các trình độ tổchức vật chất khác nhau và ý thức nảy sinh từ các hình thức phản ánh đó;

Quan điểm trên của triết học duy vật biện chứng về ý thức chống lại quan điểmcủa triết học duy tâm tách rời ý thức khỏi hoạt động của não người, thần bí hoá ý thức;đồng thời chống lại quan điểm của triết học duy vật tầm thường cho rằng não tiết ra ýthức tương tự như gan tiết ra mật

- Nguồn gốc xã hội của ý thức (yếu tố đủ = lao động + ngôn ngữ)

+ Lao động là hoạt động có mục đích, có tính lịch sử-xã hội của con người nhằm

tạo ra của cải vật chất để tồn tại và phát triển; đồng thời lao động cũng tạo ra đời sống tinh thần phong phú và hơn thế nữa, lao động giúp con người hoàn thiện chính mình Sự

hoàn thiện của đôi tay, biết chế tạo công cụ trong quá trình lao động làm cho ý thứckhông ngừng phát triển (bằng cách tích lũy kinh nghiệm), tạo cơ sở cho con người nhậnthức những tính chất mới (được suy ra từ những kinh nghiệm đã có) về đối tượng laođộng; dẫn đến năng lực tư duy trừu tượng, khả năng phán đoán, suy luận dần được hìnhthành và phát triển ”Trước hết là lao động, sau lao động và đồng thời với lao động làngôn ngữ, đó là hai sức kích thích chủ yếu đã ảnh hưởng đến bộ óc của con người, làmcho bộ óc đó dần dần chuyển thành bộ óc của con người”48

+ Ngôn ngữ (tiếng nói, chữ viết) Trong quá trình lao động con người liên kết vớinhau, tạo thành các mối quan hệ xã hội tất yếu và các mối quan hệ này giữa các thànhviên xã hội không ngừng được củng cố và phát triển dẫn đến nhu cầu cần thiết “phải traođổi với nhau điều gì đấy” nên ngôn ngữ xuất hiện Ngôn ngữ ra đời lại trở thành “cái vỏvật chất của ý thức”, thành phương tiện thể hiện ý thức Nhờ ngôn ngữ, con người lýluận hoá những kinh nghiệm để truyền lại cho nhau Ngôn ngữ là sản phẩm của laođộng, đến lượt nó, ngôn ngữ lại thúc đẩy lao động phát triển

b Bản chất và kết cấu của ý thức

48 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, 2004, t.20, tr.646

28

Trang 29

- Bản chất của ý thức Điểm xuất phát để hiểu bản chất của ý thức là sự khẳng

định ý thức là sự phản ánh, là hình ảnh phi cảm tính về sự vật, hiện tượng cảm tính Bảnchất của ý thức thể hiện qua những điểm sau đây:

+ Ý thức là hình ảnh chủ quan của/về thế giới khách quan bởi hình ảnh thế giới

trong não là sự phản ánh thế giới khách quan, nhưng thế giới ấy không nguyên vẹn như

nó vốn có, mà đã bị cái chủ quan cải biến bởi tâm tư, tình cảm, nguyện vọng, nhu cầuv.v của con người Ý thức “chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óccon người và được cải biến đi ở trong đó”49;

+ Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo Năng động ở chỗ, ý thức chỉ phản

ánh sự vật, hiện tượng theo nhu cầu, mục đích và trong sự phản ánh đó, khi bản chất,quy luật vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng được nắm bắt; khả năng vượttrước của ý thức tạo nên những dự báo về những tác động tốt, xấu lên kết quả hoạt động

mà con người đang hướng tới Có dự báo đó, sự phản ánh sáng tạo của ý thức thể hiện ở

chỗ con người điều chỉnh chương trình hành động của mình (xây dựng các mô hình, đề

ra phương pháp thực hiện) cho phù hợp với dự kiến xu hướng phát triển của sự vật, hiệntượng nhằm đạt kết quả tối ưu Nhờ tính sáng tạo, ý thức không chỉ phản ánh thế giớikhách quan, mà còn định hướng tạo ra thế giới khách quan (là những vật thể nhân tạonhư nhà ở, đường xá, phương tiện di chuyển, ngôn ngữ trao đổi, máy tính là công cụ laođộng v.v);

+ Ý thức là hiện tượng xã hội và có bản chất xã hội Sự ra đời và tồn tại của ý

thức gắn với hoạt động thực tiễn; chịu sự chi phối vừa của các quy luật sinh học, vừa củacác quy luật xã hội; do nhu cầu giao tiếp và các điều kiện sinh hoạt xã hội quy định Ýthức sáng tạo lại hiện thực theo nhu cầu bản thân và thực tiễn xã hội Ở các thời đại khácnhau, thậm chí ở cùng một thời đại, sự phản ánh (ý thức) về cùng một sự vật, hiện tượng

có khi khác nhau do điều kiện vật chất và tinh thần quy định chủ thể nhận thức;

+ Có thể khái quát quá trình ý thức vào ba giai đoạn 1) Trao đổi thông tin (hai

chiều) giữa chủ thể nhận thức với khách thể phản ánh, định hướng và chọn lọc các thôngtin cần thiết 2) Mô hình hoá đối tượng phản ánh trong tư duy ở dạng hình ảnh tinh thần,tức sáng tạo lại khách thể phản ánh thành ý tưởng phi vật chất 3) Chuyển mô hình từ tưduy ra hiện thực, tức thông qua hoạt động thực tiễn, chuyển ý tưởng tinh thần trong tưduy thành sự vật, hiện tượng hiện thực Trong giai đoạn này, ý thức định hướng lựa chọnphương pháp, công cụ tác động vào đối tượng nhằm thực hiện mục đích của mình;

Có thể nói, ý thức phản ánh hiện thực, ngôn ngữ (tiếng nói, chữ viết, ký hiệu v.v,

là một dạng cụ thể của vật chất) dùng để diễn đạt hiện thực

- Kết cấu của ý thức vô cùng phức tạp

+ Theo chiều ngang, ý thức gồm các yếu tố cấu thành như tình cảm, ý chí, tri thức,trong đó tri thức là yếu tố quan trọng nhất

Tình cảm (tâm trạng, ước vọng, ý chí, nghị lực v.v) biểu hiện thái độ con người.

Là hình thức đặc biệt của sự phản ánh (giữa con người với nhau, giữa con người với thếgiới khách quan và với bản thân mình), tình cảm là yếu tố quan trọng điều chỉnh hoạtđộng Tình cảm có tính chủ động và tính thụ động Có nhiều hình thức tình cảm, như

49 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, 2004, t.23, tr.35

29

Trang 30

-tình cảm đạo đức, -tình cảm thẩm mỹ, -tình cảm tôn giáo v.v Khi kết hợp với tri thức, -tìnhcảm tạo nên niềm tin (mà nền tảng đạo đức của niềm tin là quan trọng);

Ý chí là khả năng huy động tối cao sức mạnh tinh thần của con người Nhờ có ý

chí, con người tự đấu tranh với mình và ngoại cảnh để khắc phục những cản trở trongquá trình hiện thực hóa mục đích Có thể coi ý chí điều chỉnh hành vi con người tự giáchướng tới mục đích; tự làm chủ bản thân và quyết đoán trong hành động theo niềm tin

“Ý thức, ý chí, nhiệt tình và trí tưởng tượng của hàng chục triệu người được cuộc đấutranh giai cấp quyết liệt nhất khích lệ”50;

Tri thức (sự hiểu biết về các lĩnh vực) là kết quả quá trình nhận thức của con

người, tái hiện trong tư duy những thuộc tính, những quy luật của thế giới và diễn đạt

chúng bằng ngôn ngữ Tri thức là phương thức tồn tại của ý thức và là điều kiện để ý

thức phát triển “Phương thức mà theo đó ý thức tồn tại và theo đó một cái gì đó tồn tạiđối với ý thức là tri thức Tri thức là hành vi duy nhất của ý thức Cho nên một cái gì đónảy sinh ra đối với ý thức chừng nào ý thức biết cái đó”51 Tri thức có nhiều loại (tri thức

về tự nhiên, về xã hội, về con người); nhiều cấp độ [tri thức thường (cảm tính, kinhnghiệm, tiền khoa học), tri thức khoa học (lý tính, lý luận và khoa học)] v.v

+ Theo chiều dọc, ý thức bao gồm tự ý thức, vô thức và tiềm thức

Tự ý thức là nhận thức về bản thân mà nhờ đó, con người nhận thức về mình là

một thực thể đang tồn tại, hoạt động có cảm giác, có tư duy, có các hành vi đạo đức phùhợp với quy tắc, chuẩn mực mà xã hội đặt ra Trình độ tự ý thức nói lên trình độ pháttriển của nhân cách, làm chủ bản thân của con người;

Vô thức (xuất hiện do bản năng và rèn luyện) là trạng thái tâm lý nằm ngoài phạm

vi của lý trí mà ý thức không kiểm soát được trong thời gian nhất định Trong đời sốnghàng ngày, có những hành vi, thái độ ứng xử của con người không chịu sự điều khiểncủa ý thức và biểu hiện ở nhiều hiện tượng khác nhau như thôi miên, giấc mơ, nhỡ lời,nói nhịu v.v Vô thức có vai trò giải toả những ức chế của hoạt động thần kinh, góp phầnlập lại cân bằng trong hoạt động tinh thần của con người;

Tiềm thức là những tri thức mà con người đã có từ trước và đã trở thành bản năng,

kỹ năng nhưng nằm trong tầng sâu của ý thức, là ý thức dưới dạng tiềm ẩn, do đó tiềmthức có thể gây ra các hoạt động tâm lý, nhận thức mà con người không cần kiểm soátchúng một cách trực tiếp Tiềm thức có vai trò quan trọng trong hoạt động tâm lý hàngngày và trong tư duy khoa học (góp phần làm giảm sự quá tải của não trong việc xử lýtài liệu, thông tin, dữ kiện v.v);

Các yếu tố cơ bản trên của ý thức có mối quan hệ tác động qua lại với nhau,nhưng tri thức là yếu tố quan trọng nhất của ý thức bởi tri thức không chỉ là phương thứctồn tại của ý thức, mà còn định hướng sự phát triển và quy định mức độ biểu hiện củacác yếu tố khác cấu thành ý thức

3 Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất với ý thức

a Vai trò của vật chất đối với ý thức

- Vật chất là cái thứ nhất, có trước; ý thức là cái thứ hai, có sau;

50 V.I.Lênin: Toàn tập, 2005, t.41, tr.101

51 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, 2004, t.42, tr 236

30

Trang 31

- Tồn tại xã hội (một hình thức vật chất trong lĩnh vực xã hội) quyết định ý thức

xã hội (một hình thức ý thức trong lĩnh vực xã hội)

- Hình thức biểu hiện của ý thức là ngôn ngữ (một dạng cụ thể của vật chất)

b Vai trò của ý thức đối với vật chất (thể hiện ở sự tồn tại độc lập tương đối và

tác động ngược lại của ý thức đối với vật chất)

- Ý thức tồn tại độc lập so với vật chất: Ý thức phản ánh vật chất, nhưng cũng cóthể vượt trước (đôi khi lý luận nằm chờ thực tiễn), hoặc lạc hậu so với thực tiễn (đôi khithực tiễn nằm chờ lý luận);

- Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất thể hiện ở chỗ, khi ý thức/lý luận

đã thâm nhập vào quần chúng và được quần chúng sử dụng định hướng hoạt động nhậnthức và thực tiễn;

+ Sự tác động của ý thức đối với vật chất có thể theo hướng tích cực (khai thác,

phát huy, thúc đẩy được sức mạnh vật chất tiềm năng hoặc những biến đổi điều kiện,

hoàn cảnh vật chất theo nhu cầu con người) thể hiện qua việc ý thức hướng dẫn con

người trong thực tiễn Sự hướng dẫn đó xuất hiện ngay từ lúc con người xác định đốitượng, mục tiêu, phương hướng và phương pháp thực hiện mục tiêu đề ra Trong giai

đoạn này, ý thức cung cấp cho con người những thông tin cần thiết về đối tượng, về các quy luật khách quan và hướng dẫn con người phân tích, lựa chọn khả năng vận dụng

những những quy luật đó trong hành động và thông qua các hoạt động đó mà tác độnggián tiếp lên thực tại khách quan;

+ Sự tác động của ý thức đối với vật chất có thể theo hướng tiêu cực (làm suy

giảm, hao tổn sức mạnh vật chất, kìm hãm quá trình phát triển kinh tế-xã hội, gây ảnhhưởng xấu đến đời sống) thể hiện qua việc ý thức có thể kìm hãm sức mạnh cải tạo hiệnthực thực khách quan của con người, nhất là trong lĩnh vực xã hội, trước hết do sự phảnánh không đầy đủ về thế giới đó dẫn đến những sai lầm, duy ý chí;

- Những yếu tố ảnh hưởng đến sự tác động của ý thức đối với vật chất 1) Tínhkhoa học của ý thức càng cao thì tính tích cực của ý thức càng lớn Do vậy, ý thức cầnphản ánh đúng hiện thực, đúng quy luật khách quan tạo nhận thức đúng, vận dụng đúng

và hành động phù hợp quy luật khách quan 2) Sự tác động của ý thức đối với vật chấtcòn phụ thuộc vào mục đích sử dụng ý thức;

Dù tác động thế nào, bản thân ý thức không trực tiếp thay đổi được hiện thực mà

phải thông qua hoạt động của con người Sức mạnh của ý thức tùy thuộc vào mức độ nó

thâm nhập vào quần chúng, vào các điều kiện, hoàn cảnh khách quan mà trong đó, ýthức được thực hiện và chỉ có như vậy, ý thức mới trở thành lực lượng sức mạnh vật chất

c Ý nghĩa phương pháp luận của mối quan hệ giữa vật chất với ý thức

31

Trang 32

-Từ nội dung trên, rút ra nguyên tắc tôn trọng khách quan, chống bệnh chủ quan duy ý chí, nôn nóng; phát huy tính năng động chủ quan, chống bệnh thụ động, trông

chờ, ỷ lại trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn Nguyên tắc này yêu cầu

- Mọi mục tiêu hoạt động của con người đều cần xuất phát từ điều kiện, hoàn cảnh thực tế, chú trọng điều kiện vật chất, kinh tế; đều cần tuân theo các quy luật khách quan

của sự vật, hiện tượng; muốn cải tạo sự vật, hiện tượng cần xuất phát từ bản thân sự vật,

hiện tượng Chống tư tưởng chủ quan duy ý chí, nôn nóng, thiếu kiên nhẫn mà biểu hiện

của nó là tuyệt đối hoá vai trò, tác động của con người; cho rằng con người có thể làmđược tất cả những gì mình muốn mà không cần chú ý đến sự tác động của quy luậtkhách quan, của các điều kiện vật chất cần thiết;

- Phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức là nhấn mạnh tính độc lập tương

đối, tính tích cực và năng động của ý thức đối với vật chất bằng việc tăng cường rènluyện, bồi dưỡng tư tưởng, có ý chí phấn đấu vươn lên, tu dưỡng đạo đức v.v nhằm xây

dựng lối sống tinh thần lành mạnh Chống thái độ thụ động, trông chờ, ỷ lại hoàn cảnh

khách quan dễ rơi vào chủ nghĩa duy vật siêu hình, chủ nghĩa duy vật tầm thường: tuyệtđối hóa vật chất; coi thường tư tưởng, tri thức rơi vào thực dụng v.v./

Câu hỏi ôn tập

1 Triết học là gì? Vấn đề cơ bản của triết học? (khái niệm; định nghĩa; nội dung;triết học duy vật, duy tâm; triết học nhất nguyên, nhị nguyên Thuyết có thể biết; khôngthể biết và hoài nghi luận; biện chứng và siêu hình)

2 Bản chất, nội dung của triết học duy vật biện chứng? (duy vật biện chứng về tựnhiên, duy vật biện chứng về tư duy, duy vật biện chứng về xã hội)

3 Định nghĩa, nội dung và ý nghĩa định nghĩa vật chất của V.I.Lênin? (các quanniệm về vật chất trong triết học duy vật trước Mác; các phát minh trong vật lý học cuốit.k XIX, đầu t.k XX; định nghĩa vật chất của V.I.Lênin; các nội dung cơ bản của địnhnghĩa; ý nghĩa thế giới quan và phương pháp luận của định nghĩa)

4 Các hình thức và phương thức tồn tại của vật chất? (định nghĩa vận động, cáchình thức vận động của vật chất Không gian và thời gian với vận động của vật chất)

CHƯƠNG 2 LÝ LUẬN NHẬN THỨC VÀ PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

(Triết học duy vật biện chứng về tư duy)

I PHÉP BIỆN CHỨNG VÀ PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

1 Phép biện chứng và các hình thức cơ bản của phép biện chứng

32

Trang 33

-a Khái niệm phép biện chứng

Trong triết học, từ thời cổ đại đến nay, cuộc tranh luận về bản nguyên của thế giới

(cái gì tạo ra thế giới tạo ra triết học duy vật, duy tâm; nhất nguyên, nhị nguyên) diễn ra

đồng thời với cuộc tranh luận về trạng thái tồn tại của thế giới (tạo ra quan điểm/phương pháp siêu hình, quan điểm/phương pháp biện chứng) Vấn đề trạng thái tồn tại của thế

giới thể hiện bằng các câu hỏi như: các sự vật, hiện tượng quanh ta và cả bản thân chúng

ta tồn tại trong trạng thái liên hệ qua lại, quy định, chuyển hoá lẫn nhau và luôn vậnđộng, phát triển hay tồn tại trong trạng thái hay tách rời, biệt lập nhau và đứng im, khôngvận động? Có nhiều quan điểm về vấn đề này, nhưng có hai quan điểm chính đối lập làsiêu hình và biện chứng

- Thuật ngữ “Siêu hình” có gốc từ tiếng Hy Lạp metaphysique (với nghĩa là

những gì “sau vật lý học”) Trong triết học duy vật biện chứng, siêu hình được hiểu là

quan điểm coi sự vật, hiện tượng và sự phản ánh chúng tách rời, biệt lập nhau và không vận động, biến đổi Phương pháp siêu hình xuất phát từ chỗ, muốn nhận thức được sự

vật, hiện tượng nào đó, trước hết phải tách nó ra khỏi những mối liên hệ với các sự vật,hiện tượng khác và nhận thức nó ở trạng thái không biến đổi trong khoảng không gian vàthời gian xác định

Đặc điểm của phương pháp siêu hình là tính một chiều, tuyệt đối hoá mặt này hay

mặt kia; chỉ dựa trên những phản đề tuyệt đối không dung hoà, có là có, không là không;hoặc tồn tại hoặc không tồn tại; sự vật, hiện tượng không thể vừa là nó lại vừa là cáikhác nó, cái khẳng định và cái phủ định tuyệt đối bài trừ lẫn nhau theo nghĩa “ hoặc

là hoặc là ” Do vậy, phương pháp siêu hình chỉ có khả năng và giá trị khi nghiêncứu cái riêng, từng lĩnh vực; bỏ khâu trung gian, chuyển hoá Vì vậy, kết quả nghiên cứucủa phương pháp này không thể phản ánh đầy đủ bản chất sự vật, hiện tượng; không thểphát hiện cái chung, cái có tính quy luật tác động trong các lĩnh vực mà các khoa họcchuyên ngành nghiên cứu;

Từ giữa t.k XVIII, cùng với sự phát triển của khoa học tự nhiên và nhận thức củacon người, việc nghiên cứu thế giới từ giai đoạn sưu tầm, phân tích, thu thập tri thức về

các sự vật, hiện tượng riêng lẻ, tách rời, không vận động chuyển sang giai đoạn tổng

quát, nghiên cứu quá trình phát sinh, tồn tại, phát triển, diệt vong của sự vật, hiện tượngthì quan điểm và phương pháp siêu hình không còn đáp ứng được yêu cầu của nhận thứctổng quát, bị quan điểm và phương pháp biện chứng vượt qua

- Thuật ngữ “Biện chứng” Xôcrát (469-399 tr.c.n) là người đầu tiên sử dụng

thuật ngữ “biện chứng” (Dialektike) với nghĩa là nghệ thuật hướng các bên đang cùngquan tâm tới vấn đề đang tranh luận với mục đích đạt được chân lý bằng cách đối lập các

ý kiến của họ Platôn (427-347 tr.c.n) coi phép biện chứng là nghệ thuật, là thao tác lôgíc

phân chia và gắn kết các khái niệm bằng công cụ hỏi-đáp để xác định đúng nội dung các

khái niệm đó Arixtốt (384-322 tr.c.n) nêu tư tưởng về phạm trù, quy luật, đặc biệt là

lôgíc để xây dựng các hình thức cơ bản của tư duy Theo cách hiểu hiện đại, xuất phát từ

Hêghen, phép biện chứng vừa là khoa học về phương pháp tư duy (khoa học lôgíc), vừa là học thuyết về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển C.Mác kế thừa và cải tạo phép biện

chứng Hêghen, xây dựng phép biện chứng duy vật (thể hiện rõ nhất trong bộ Tư bản)

33

Trang 34

-thành phương pháp nghiên cứu xã hội tư bản Thuật ngữ phép biện chứng như vậy đã vượtkhỏi ý nghĩa ban đầu của nghệ thuật đôi thoại, trở thành phương pháp và học thuyết triếthọc tìm hiểu quá trình vận động, phát triển mang tính quy luật của sự vật, hiện tượng

+ Tuy nhiên, có thể coi Hêraclít (520-460 tr.c.n) là người đặt nền móng cho tư

tưởng biện chứng, nẩy sinh với mục đích chỉ ra bức tranh tổng thể về trạng thái tồn tạicủa thế giới Rằng, thế giới vật chất thì tồn tại ở dạng tĩnh, đứng im, còn mọi sự vậnđộng, biến đổi đều bắt nguồn từ sự vận động vĩnh viễn của dạng vật chất cụ thể Rằng,các dạng vật chất cụ thể tồn tại trong sự hình thành, vận động vĩnh viễn, giống như sựchuyển động, trôi đi, chảy đi của nước trong một dòng sông Với hình tượng đó, Hêraclítmuốn nói rằng, mọi sự vật diễn ra trong thế giới không hỗn độn, mà tuân theo tính quy

luật, trật tự, chuẩn mực; chúng được lý trí nhận biết (con người không nhìn quy luật, mà nhận thức quy luật); đồng thời con người hình dung thế giới này như ngọn lửa thiêng,

sống động, bùng cháy và tắt đi theo quy luật

Quy luật thứ nhất chỉ rõ, mọi sự vật đều nằm trong sự sinh thành, phát triển và

diệt vong; bởi thế nên “không thể tắm hai lần trong cùng một dòng sông, bởi vì mỗi lầnbước xuống sông, ta lại tiếp xúc với dòng nước mới”;

Quy luật thứ hai nhấn mạnh tính thống nhất và đa dạng của thế giới Thế giới

thống nhất trong sự tự triển khai các mặt đối lập Hư vô chỉ là “cái khác” của tồn tại, tínhchủ quan là “cái khác” của tính khách quan, mọi thứ đều hợp nhất và mọi hợp nhất đều

phân đôi Sự vật vừa có vừa không, vừa tồn tại vừa không tồn tại Vũ trụ thống nhất

trong tính đa dạng, ở đó sự tác động qua lại và chuyển hóa của các mặt đối lập làm nênbản chất của sinh thành, phát triển, diệt vong của các sự vật, hiện tượng của vũ trụ;

Quy luật thứ ba nói về tính tương quan, sự vật đặt trong những tương quan khác nhau “biểu lộ” khác nhau trước chủ thể Chẳng hạn mật ngọt đối với người bình thường, nhưng đắng đối với người bệnh; nước biển đối với sinh thể này là môi trường sống, nhưng đối với sinh thể kia lại độc hại; vàng đối với người là quý, nhưng đối với loài vật lại vô giá trị v.v

Ở phương Đông, quan niệm về nhân duyên, vô ngã, vô thường của triết học Phậtgiáo chứa đựng nhiều tư tưởng biện chứng sâu sắc Trong thuyết Âm-Dương, Âm vàDương tồn tại trong mối liên hệ quy định lẫn nhau tạo ra sự thống nhất giữa cái bất biếnvới cái biến đổi; giữa cái duy nhất với cái số nhiều Trong thuyết Ngũ hành, năm yếu tốKim-Mộc-Thuỷ-Hoả-Thổ tồn tại trong mối liên hệ tương sinh, tương khắc; chúng ràngbuộc, quy định lẫn nhau, tạo ra sự biến đổi trong mọi sự vật Lão Tử (t.kVI tr.c.n) coimọi sự vật đều bị chi phối bởi hai luật quân bình và phản phục v.v;

Như vậy, phép biện chứng cổ đại coi thế giới là một chỉnh thể thống nhất; giữacác bộ phận của thế giới có mối liên hệ lẫn nhau, không ngừng vận động, phát triển,

Người ta gọi đây là phép biện chứng mộc mạc, chất phác cổ đại

+ Phép biện chứng duy tâm trong triết học cổ điển Đức ra đời vào cuối t.k XVIII,đầu t.k XIX; khởi đầu từ Cantơ (1724-1804), qua Phíctơ (1762-1814), Sêlinh (1775-1854) và phát triển đến đỉnh cao cả về hình thức lẫn nội dung trong phép biện chứng củaHêghen (1770-1831), người đã "lần đầu tiên đặt toàn bộ thế giới tự nhiên, thế giới lịch

sử và thế giới tinh thần vào quá trình, nghĩa là trong sự vận động, thay đổi, cải biến và

34

Trang 35

-phát triển không ngừng, và thử mở ra mối liên hệ bên trong sự vận động và -phát triểnđó"52 Về hình thức, phép biện chứng của Hêghen bao quát cả ba lĩnh vực, bắt đầu từ các

phạm trù lôgíc đến lĩnh vực tự nhiên, tinh thần và kết thúc bằng biện chứng toàn bộ quá

trình lịch sử Về nội dung, Hêghen đặt ra các khái niệm tồn tại, bản chất và khái niệm 1)

Tồn tại là cái vỏ bên ngoài, trực tiếp, nông nhất mà con người có thể cảm giác và được

cụ thể hoá trong các phạm trù chất, lượng và độ 2) Bản chất là tầng gián tiếp của thếgiới, không thể nhận biết được bằng cảm giác, tồn tại trong sự mâu thuẫn đối lập vớichính mình và được thể hiện trong các phạm trù hiện tượng-bản chất, hình thức-nộidung, ngẫu nhiên-tất yếu, khả năng-hiện thức v.v 3) Khái niệm (mà hiện thân của nó làgiới hữu cơ, sự sống) là sự thống nhất giữa tồn tại với bản chất, là cái vừa trực tiếp (cóthể cảm giác được), vừa gián tiếp (không thể cảm giác được) và được thể hiện trong cácphạm trù cái phổ quát, cái đặc thù, cái đơn nhất Phép biện chứng trong giai đoạn này là

sự phát triển, chuyển hoá từ cái trừu tượng đến cái cụ thể, từ chất này sang chất kia đượcthực hiện nhờ giải quyết mâu thuẫn Phát triển được coi là sự tự phát triển của ý niệmtuyệt đối, từ tồn tại đến bản chất, từ bản chất đến khái niệm, trong đó khái niệm vừa làchủ thể, vừa là khách thể, đồng thời là ý niệm tuyệt đối Hêghen coi phát triển là nguyên

lý cơ bản nhất của phép biện chứng với phạm trù trung tâm là tha hoá và khẳng định thahoá được diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc trong cả tự nhiên, xã hội và tinh thần

Các nhà biện chứng cổ điển Đức, mà Hêghen là điển hình, đã áp dụng phép biện

chứng vào nghiên cứu các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội và qua đó, xây dựng

được hệ thống phạm trù, quy luật có lôgíc chặt chẽ của nhận thức tinh thần, và trongnghĩa nào đó, của cả hiện thực vật chất Đó là những “hạt nhân hợp lý” và “lấp lánhmầm mống phôi thai của chủ nghĩa duy vật” là “đã trở lại phép biện chứng, coi nó nhưmột phương pháp xem xét đối lập với phương pháp siêu hình t.k XVII, XVIII”53 Ph.Ăng

ghen coi đây là “hình thức thứ hai của phép biện chứng, hình thức quen thuộc nhất với

các nhà khoa học tự nhiên Đức, là triết học cổ điển Đức từ Cantơ đến Hêghen”54

Hạn chế của phép biện chứng duy tâm trong triết học cổ điển Đức nằm ở chỗ, đây

mới chỉ là những phỏng đoán tài tình về “biện chứng của sự vật trong biện chứng của

khái niệm”55 chỉ là biện chứng của tư duy thuần tuý (biện chứng chủ quan) mà coi nhẹbiện chứng của thế giới vật chất (biện chứng khách quan) Do vậy, khi khoa học pháttriển sang giai đoạn tổng quát, nghiên cứu quá trình phát sinh, phát triển của sự vật, hiệntượng từ quan điểm duy vật, tất yếu nó sẽ bị thay thế bằng phép biện chứng duy vật củatriết học duy vật biện chứng

+ Phép biện chứng duy vật C.Mác, Ph.Ăngghen và sau là V.I.Lênin đã khắc phục

được tính trực quan, tự phát của phép biện chứng trong triết học cổ đại và tính duy tâm

của phép biện chứng trong triết học cổ điển Đức; đã kế thừa và phát triển sáng tạo

những giá trị trong phép biện chứng duy tâm của Hêghen; để tạo ra phép biện chứng tự

giác, duy vật; thành khoa học nghiên cứu trạng thái tồn tại (mối liên hệ phổ biến và sự

Trang 36

-vận động, phát triển) của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy Đây là

hình thức phát triển cao nhất của phép biện chứng trong lịch sử nhận thức triết học

b Biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan

- Biện chứng khách quan là thuật ngữ dùng chỉ biện chứng của sự vật, hiện tượng

tồn tại trong thế giới bao quanh con người Những vấn đề nền móng, bản chất của biệnchứng khách quan là các trình độ của các tổ chức vật chất; là các hình thức vận độngkhác nhau về chất được quy định bằng những thay đổi về lượng; là sự hình thành sựsống và xuất hiện dạng vật chất biết tư duy; là sự chuyển hoá từ tự nhiên vào xã hội

Biện chứng khách quan thể hiện trong khoa học tự nhiên bằng quy luật bảo toàn và

chuyển hoá năng lượng; thuyết tiến hoá; thuyết tế bào; hệ thống tuần hoàn các nguyên tố

hoá học; thuyết tương đối; thuyết lượng tử; học thuyết về gien v.v Trong xã hội, vấn đề quan trọng nhất là biện chứng giữa chủ thể với khách thể trong lịch sử; mối quan hệ tác động qua lại giữa xã hội với tự nhiên; giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất; giữa

cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng; chỉ ra mỗi giai đoạn trong quá trình phát triển

xã hội đều mang tính kế thừa và là quá trình lịch sử-tự nhiên

- Biện chứng chủ quan chỉ tư duy biện chứng và biện chứng của tư duy; một mặt, phản ánh quá trình biện chứng của giới tự nhiên, mặt khác phản ánh quá trình biện

chứng của tư duy (qua các giai đoạn nhận thức) Những nguyên lý, quy luật, phạm trùcủa phép biện chứng duy vật phản ánh bản chất thế giới khách quan mà “từ trong lịch sửcủa giới tự nhiên và lịch sử của xã hội loài người mà người ta rút ra được các quy luậtcủa biện chứng”56 Lý luận nhận thức duy vật biện chứng khẳng định tư duy con người

và thế giới khách quan cùng tuân theo một loại quy luật, bởi vậy biện chứng khách quan

và biện chứng chủ quan không mâu thuẫn với nhau

- Mối quan hệ giữa biện chứng khách quan với biện chứng chủ quan “Biện chứng

gọi là khách quan thì chi phối toàn bộ giới tự nhiên, còn biện chứng gọi là chủ quan, tức

tư duy biện chứng, thì chỉ là phản ánh sự chi phối trong toàn bộ giới tự nhiên, của sự vậnđộng thông qua những mặt đối lập, tức là những mặt, thông qua sự đấu tranh thườngxuyên của chúng và sự chuyển hoá cuối cùng từ mặt đối lập này thành mặt đối lập kia,tương tự với những hình thức cao hơn, đã quy định sự sống của giới tự nhiên”57

2 Phép biện chứng duy vật

- Định nghĩa Hêghen coi “Phép biện chứng là … linh hồn vận động của mọi sự

triển khai tư tưởng một cách khoa học và là nguyên lý duy nhất mang vào nội dung củakhoa học mối liên hệ nội tại và tính tất yếu”58, Ph.Ăngghen coi “Phép biện chứng là khoahọc về sự liên hệ phổ biến”59, “là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vậnđộng và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”60, V.I.Lênin gọi

“Phép biện chứng, tức là học thuyết về sự phát triển, dưới hình thức hoàn bị nhất, sâusắc nhất và không phiến diện, học thuyết về tính tương đối của nhận thức của con ngườiphản ánh vật chất luôn luôn phát triển không ngừng”61, Hồ Chí Minh đánh giá “Chủ

Trang 37

-nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng”62 Như vậy, có thể coi phépbiện chứng duy vật là khoa học nghiên cứu những mối liên hệ và quy luật phổ biến của

sự vận động, phát triển của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy

- Một số đặc trưng cơ bản của phép biện chứng duy vật:

+ Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất giữa thế giới quan duy vật với

phương pháp biện chứng; giữa lý luận nhận thức với lôgíc biện chứng tạo nên công cụkhông những để giải thích thế giới, mà còn nhận thức và cải tạo thế giới, là “phươngpháp mà điều căn bản là nó xem xét những sự vật và những phản ánh của chúng trong tưtưởng, trong mối liên hệ qua lại lẫn nhau giữa chúng, trong sự ràng buộc, sự vận động,

sự phát sinh và sự tiêu vong của chúng”63;

+ Nội dung phép biện chứng duy vật gồm hệ thống các nguyên lý, quy luật, phạm

trù, phản ánh sự vận động khách quan của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội

và tư duy nên các quy luật của phép biện chứng duy vật vừa là quy luật của thế giớikhách quan, vừa là quy luật của nhận thức “Phép biện chứng đã được coi là khoa học vềnhững quy luật phổ biến nhất của mọi vận động Điều đó có nghĩa là những quy luật ấyphải có hiệu lực đối với vận động trong giới tự nhiên và trong lịch sử loài người cũngnhư với vận động của tư duy Một quy luật như thế có thể nhận thức trong hai lĩnh vựccủa ba lĩnh vực đó, hay thậm chí trong cả ba lĩnh vực”64

+ Phép biện chứng duy vật khẳng định, tư duy biện chứng không chỉ thấy sự vật

cá biệt, mà còn thấy các mối quan hệ lẫn nhau giữa chúng; không chỉ thấy sự tồn tại, màcòn thấy cả sự sinh thành và sự tiêu vong, không chỉ thấy trạng thái tĩnh, mà còn thấy cảtrạng thái động của chúng Do vậy, phép biện chứng duy vật thừa cả cái “hoặc là hoặclà ”, cả cái “vừa là vừa là ”;

+ Sự thống nhất giữa tính khoa học với tính cách mạng, giữa lý luận với thực tiễn

tạo nên sự phản ánh đúng quy luật, ủng hộ sự vận động, phát triển hợp quy luật

- Vai trò cơ bản của phép biện chứng duy vật

+ Phép biện chứng nghiên cứu mối liên hệ và quy luật phổ biến của sự vận động,

phát triển của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy;

+ Phép biện chứng duy vật là bước nhảy về chất trong lĩnh vực nhận thức; vừa

khắc phục được hạn chế tự phát, trực quan của phép biện chứng cổ đại, vừa đẩy lùi phépsiêu hình cận đại (t.k XVII-XVIII), vừa cải tạo được phép biện chứng duy tâm trong triết

học cổ điển Đức (t.k XVIII-XIX) để trở thành phương pháp luận chung nhất cho hoạt

+ Phép biện chứng duy vật đem lại tính tự giác cao trong hoạt động của con

người Mỗi nguyên lý, quy luật, phạm trù của phép biện chứng đều được xây dựng từ lậptrường duy vật; mỗi luận điểm của phép biện chứng là kết quả cuối cùng của sự nghiên

62 Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 1997, tr.43

63 V.I.Lênin: Toàn tập, 2005, t.29, tr.155

64 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, 2004, t.20, tr.766 -768

37

Trang 38

-cứu, được rút ra từ giới tự nhiên và trong lịch sử xã hội loài người; được luận giải trên

cơ sở khoa học; được chuẩn bị bằng sự phát triển trước đó của khoa học tự nhiên Vìvậy, phép biện chứng duy vật đã đưa phép biện chứng từ tự phát đến tự giác

II NỘI DUNG PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

Nhằm đáp ứng việc nghiên cứu mọi đối tượng và để từ đó rút ra được những quy

luật của mình, nội dung phép biện chứng duy vật gồm hai nguyên lý, sáu cặp phạm trù

và ba quy luật cơ bản Hai nguyên lý khái quát chung tính biện chứng của thế giới; các

cặp phạm trù phản ánh mối liên hệ, sự tác động biện chứng giữa các mặt của sự vật, hiệntượng có tính quy luật trong từng cặp; còn các quy luật cơ bản nghiên cứu các mối liên

hệ và khuynh hướng phát triển của thế giới sự vật, hiện tượng để chỉ ra nguồn gốc, cáchthức và khuynh hướng của sự vận động, phát triển

1 Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật

a Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

- Khái niệm mối liên hệ phổ biến

+ Định nghĩa Trong phép biện chứng duy vật, mối liên hệ phổ biến là khái niệmdùng để khái quát sự quy định, tác động, chuyển hoá lẫn nhau giữa các yếu tố, các mặttạo nên sự vật, hiện tượng; giữa sự vật, hiện tượng này với sự vật, hiện tượng khác; giữaquá trình trước với quá trình sau; giữa giai đoạn này với giai đoạn khác trong thế giớiluôn vận động, phát triển;

+ Cơ sở lý luận của mối liên hệ phổ biến là tính thống nhất vật chất của thế giới;theo đó, các sự vật, hiện tượng trong thế giới dù nhiều và đa dạng, khác nhau đến thếnào đi chăng nữa, thì chúng cũng chỉ là những dạng vật chất cụ thể khác nhau của thếgiới vật chất duy nhất;

+ Các hình thức của mối liên hệ Có nhiều mối liên hệ: mối liên hệ gián tiếp, mốiliên hệ trực tiếp, mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bên ngoài, mối liên hệ bản chất, mốiliên hệ không bản chất v.v

+ Muốn nhận thức bản chất các mối liên hệ, trong hoạt động nhận thức cần có

quan điểm toàn diện, trong hoạt động thực tiễn cần có nguyên tắc toàn diện Đồng thời,

mối liên hệ diễn ra trong những điều kiện, hoàn cảnh, không gian, thời gian cụ thể; do

vậy, cũng cần có quan điểm và nguyên tắc lịch sử-cụ thể khi nhận thức bản chất các mối

liên hệ Có như vậy mới vừa nhận thức được bản chất sự vật, hiện tượng trong từng giaiđoạn tồn tại và trong cả quá trình hình thành, tồn tại, phát triển và chuyển hóa, từ đó cókhả năng dự báo các mối liên hệ kế tiếp của chúng theo hướng, hình thức nào đó

- Tính chất của mối liên hệ phổ biến

+ Tính khách quan Mối liên hệ của thế giới có tính khách quan Có mối liên hệgiữa cái vật chất với cái tinh thần, có mối liên hệ giữa các hiện tượng tinh thần với nhauv.v Các mối liên hệ, tác động đó, suy cho đến cùng, đều là sự phản ánh mối liên hệ lẫnnhau giữa các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan;

+ Tính phổ biến Mối liên hệ qua lại, quy định, chuyển hoá lẫn nhau không nhữngdiễn ra ở mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, trong xã hội, trong tư duy, mà còn diễn

ra đối với các mặt, các yếu tố, các quá trình của mỗi sự vật, hiện tượng;

38

Trang 39

-+ Tính đa dạng, phong phú Có mối liên hệ về không gian và cũng có mối liên hệ

về thời gian giữa các sự vật, hiện tượng; Có mối liên hệ chung tác động lên toàn bộ haynhững lĩnh vực rộng của thế giới; có mối liên hệ riêng chỉ tác động trong từng lĩnh vực,từng sự vật và hiện tượng cụ thể Có mối liên hệ trực tiếp giữa nhiều sự vật, hiện tượng,nhưng cũng có những mối liên hệ gián tiếp v.v chúng giữ những vai trò khác nhau trongviệc quy định sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng;

Nhờ các tính chất trên, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến khái quát được toàn

cảnh thế giới trong những mối liên hệ chằng chịt giữa các sự vật, hiện tượng của nó.

Tính vô hạn của thế giới khách quan; tính có hạn của sự vật, hiện tượng trong thế giới đóchỉ có thể giải thích được trong mối liên hệ phổ biến, được quy định bằng nhiều mối liên

hệ có hình thức, vai trò khác nhau

- Ý nghĩa phương pháp luận

Từ nội dung nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật, rút

ra nguyên tắc toàn diện chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn.

Nguyên tắc này yêu cầu xem xét sự vật, hiện tượng 1) trong chỉnh thể thống nhấttất cả các mặt, các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính, các mối liên hệ của nó 2) trongmối liên hệ giữa sự vật, hiện tượng này với sự vật, hiện tượng khác và với môi trườngxung quanh, kể cả các mặt của các mối liên hệ trung gian, gián tiếp 3) trong không gian,thời gian nhất định, tức là cần nghiên cứu quá trình vận động của sự vật, hiện tượngtrong quá khứ, hiện tại và phán đoán cả tương lai của nó;

Nguyên tắc toàn diện đối lập với nguyên tắc phiến diện chỉ thấy mặt này mà

không thấy mặt khác; hoặc chú ý đến nhiều mặt nhưng lại xem xét dàn trải, không thấymặt bản chất của sự vật, hiện tượng rơi vào thuật nguỵ biện (cố ý đánh tráo các mối liên

hệ cơ bản thành không cơ bản hoặc ngược lại) và chủ nghĩa chiết trung (lắp ghép vônguyên tắc các mối liên hệ trái ngược nhau vào một mối liên hệ phổ biến);

Từ nội dung nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật còn

rút ra nguyên tắc lịch sử-cụ thể chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn.

Nguyên tắc này yêu cầu xem xét sự vật, hiện tượng trong những mối liên hệ cụ thể, cótính đến lịch sử hình thành, tồn tại, dự báo xu hướng phát triển của nó;

Cơ sở lý luận của nguyên tắc này là không gian, thời gian với vận động của vậtchất, là quan niệm chân lý là cụ thể và chính nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

b Nguyên lý về sự phát triển

- Khái niệm phát triển

Trong phép biện chứng duy vật, sự quy định, tác động, chuyển hoá lẫn nhau giữa

các sự vật, hiện tượng làm cho chúng vận động, biến đổi; trong đó, vận động, biến đổi theo hướng đi lên gọi là phát triển;

Có thể coi phát triển là quá trình vận động đi từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phứctạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn;

Quá trình phát triển vừa diễn ra dần dần, vừa nhảy vọt làm cho sự vật, hiện tượng

cũ mất đi, sự vật, hiện tượng mới về chất ra đời;

Nguồn gốc của sự phát triển nằm ở mâu thuẫn bên trong của sự vật, hiện tượng; là

sự thống nhất giữa phủ định những yếu tố không còn phù hợp và kế thừa những yếu tố

39

Trang 40

+ Tính phổ biến Sự phát triển diễn ra trong cả tự nhiên, xã hội và tư duy;

+ Tính kế thừa Sự vật, hiện tượng mới ra đời từ sự vật, hiện tượng cũ; có kế thừa,chọn lọc và cải tạo các yếu tố còn thích hợp, chuyển vào sự vật, hiện tượng mới; loại bỏcác yếu tố đã lạc hậu của sự vật, hiện tượng cũ cản trở sự phát triển;

+ Tính đa dạng, phong phú Tuy sự phát triển diễn ra trong mọi lĩnh vực, nhưngmỗi sự vật, hiện tượng lại có quá trình phát triển không giống nhau Tính đa dạng vàphong phú của sự phát triển còn phụ thuộc vào không gian và thời gian, vào các yếu tố,điều kiện tác động lên sự phát triển đó

- Ý nghĩa phương pháp luận

Muốn nhận thức đúng bản chất sự phát triển, trong hoạt động nhận thức cần có

quan điểm phát triển, trong hoạt động thực tiễn cần có nguyên tắc phát triển Đồng thời,

bởi sự phát triển diễn ra trong những điều kiện, hoàn cảnh, không gian, thời gian cụ thể;

do vậy, cũng cần có quan điểm lịch sử-cụ thể trong nhận thức sự phát triển của sự vật,

hiện tượng Có như vậy mới nhận thức được bản chất sự vật, hiện tượng trong từng giaiđoạn và trong cả quá trình hình thành, tồn tại, phát triển và chuyển hóa, từ đây tạo khảnăng dự báo hướng, hình thức vận động, phát triển tiếp theo của sự vật, hiện tượng

Nguyên tắc phát triển yêu cầu khi nghiên cứu cần:

+ Đặt sự vật, hiện tượng nghiên cứu trong sự vận động; phát hiện được xu hướng

biến đổi, phát triển của nó để không chỉ nhận thức sự vật, hiện tượng ở trạng thái hiệntại, mà còn dự báo được khuynh hướng phát triển trong tương lai của nó;

+ Nhận thức được phát triển là quá trình trải qua nhiều giai đoạn, từ thấp đến cao,

từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện Mỗi giai đoạn phát triển cónhững đặc điểm, tính chất, hình thức khác nhau nên cần tìm những hình thức, phươngpháp tác động phù hợp để hoặc thúc đẩy, hoặc kìm hãm sự phát triển đó;

+ Trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn phải nhạy cảm, sớm phát hiện và ủng hộ sự vật, hiện tượng mới hợp quy luật, tạo điều kiện cho nó phát triển;

chống lại quan điểm bảo thủ, trì trệ, định kiến v.v bởi nhiều khi sự vật, hiện tượng mớithất bại tạm thời, tạo nên con đường phát triển quanh co, phức tạp;

+ Trong quá trình thay thế sự vật, hiện tượng cũ bằng sự vật, hiện tượng mới phải biết kế thừa những yếu tố tích cực đã đạt được từ cái cũ và phát triển sáng tạo chúng

trong điều kiện mới

Tóm lại, nguyên tắc phát triển cho rằng, nếu muốn nắm được bản chất, nắm đượckhuynh hướng phát triển của sự vật, hiện tượng cần "phải xét sự vật trong sự phát triển,trong sự tự vận động trong sự biến đổi của nó"65

2 Các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật

65 V.I.Lênin: Toàn tập, 2005, t.42, tr.364

40

Ngày đăng: 02/11/2015, 22:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w