PHẦN 1 : ĐẶT VẤN ĐỀ1.1Lý do chọn đề tài: Ấn Độ- một trong những quốc gia châu Á đạt được nhiều thành tựu trong pháttriển kinh tế, với các mục tiêu cơ bản là tăng trưởng vững chắc, hiện đ
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC
PHẦN 1 : ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Lý do chọn đề tài
1.2 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
1.3 Phương pháp nghiên cứu
1.4 Đối tượng và phạm vi
1.5 Nguồn số liệu
PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Khái niệm về nông nghiệp, nông thôn
2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp
2.2.1 Các yếu tố tự nhiên
2.2.2 Các yếu tố kinh tế xã hội
PHẦN 3 : TỔNG QUAN NỀN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP ẤN ĐỘ 3.1.Khái quát Ấn Độ 3.1.1 Vị trí địa lý
3.1.2 Điều kiện tự nhiên
3.2 Sự phát triển nền kinh tế nông nghiệp ở Ấn Độ 3.2.1 Các cuộc cách mạng nông nghiệp ở Ấn Độ
3.2.1.1 Cách mạng xanh lần một
3.2.2.2 Cách mạng xanh lần hai
Trang 23.2.2.3 Cách mạng trắng
3.3 Các cuộc cải cách kinh tế ở Ấn Độ từ năm 1991 đến nay
3.3.1 Cải cách kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệp giai đoạn 1991-1999
3.3.2 Cải cách kinh tế lần hai – Kinh tế nông nghiệp Ấn Độ từ năm 2000 đến nay
3.3.3 Công nghệ hoá trong nông nghiệp Ấn Độ
3.3.4 Kết quả đạt được
3.3.4.1 Những thành tựu đạt được trong các công cuộc cải cách
3.3.4.2 Những hạn chế trong quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp Ấn Độ
PHẦN 4 : KẾT LUẬN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC + DANH SÁCH NHÓM
Trang 3PHẦN 1 : ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1Lý do chọn đề tài:
Ấn Độ- một trong những quốc gia châu Á đạt được nhiều thành tựu trong pháttriển kinh tế, với các mục tiêu cơ bản là tăng trưởng vững chắc, hiện đại hóa nền kinh tế,
tự lực tự cường, công bằng xã hội, xóa bỏ đói nghèo…Ấn Độ - xét một cách tương đối –
là nền kinh tế lớn thứ tư nếu tính theo ngang giá sức mua hay tốc độ phát triển kinh tếnhanh thuộc hàng thứ hai trên thế giới Tuy nhiên, dân số khổng lồ ( hơn 1 tỷ người ) vôtình là áp lực kiềm hãm phần nào nỗ lực thay đổi và phát triển của Ấn Độ Theo đó, thunhập bình quân đầu người ở Ấn Độ dưới sự ảnh hưởng này cũng không có sự tăng trưởngtương xứng với quy mô vốn có của nền kinh tế và vì thế, Ấn Độ chỉ được xếp vào hạngquốc gia đang phát triển
Mặc dù vậy, mở một góc nhìn khác, phân tích các kế hoạch kinh tế của Ấn Độ, dễdàng thấy được sự mềm dẻo, linh hoạt, không rập khuôn, phản ánh rõ tính tự chủ caotrong quá trình vận hành, xây dựng và phát triển đất nước Các chương trình kinh tế đượckết hợp một cách nhuần nhuyễn, khéo léo cùng với các chiến lược chính trị, các chínhsách xã hội…đã là những công cụ hiệu quả tác động không nhỏ đến sự vận động pháttriển chung của Ấn Độ, góp phần nâng cao tầm cỡ và vai trò của Ấn Độ trên trườngquốc tế
Sẽ là thiếu sót lớn khi không đề cập đến sự phát triển và niềm tự hào mang tênnông nghiệp trong những thành tựu đã đạt được của Ấn Độ Được tự nhiên ưu đãi, Ấn Độ
có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp và thực tế, nông nghiệp là cái nôitruyền thống, đã và vẫn đang nuôi dưỡng hàng tỷ nhân dân Ấn Độ, là điều thần kỳ vàphần không thể tách rời khỏi nền kinh tế của đất nước bên bờ sông Ấn Ngành nôngnghiệp của Ấn Độ đóng góp đến hơn 20% vào tổng sản phẩm quốc nội GDP và 16% chodoanh thu xuất khẩu
Ấn Độ được biết đến như một trong những quốc gia sản xuất nông nghiệp hàngđầu, là nước sản xuất mía đường lớn thứ hai thế giới; sản xuất và tiêu dùng chè nhiều nhất
Trang 4(chiếm 28% sản lượng và 13% về buôn bán trên thế giới); đứng thứ sáu về sản xuất càphê, đứng thứ ba về sản xuất thuốc lá, đứng đầu về sản xuất rau, thứ hai về hoa quả; năngsuất cao su cũng thuộc vào loại cao nhất…Kể ra những thành tựu trên để thấy, Ấn Độ lànước sản xuất nông nghiệp hiệu quả
Đặt Ấn Độ trong những phác họa quá khứ, trong bối cảnh thực tại và cả địnhhướng về tương lai, vì đâu và làm cách nào mà kinh tế nông nghiệp Ấn Độ, như một phépmàu, lại có thể phát triển vượt bậc, đưa Ấn Độ trở thành một trong những quốc gia đứngđầu trong các nước đang phát triển? Và Việt Nam – một đất nước đi lên từ nông nghiệp,liệu có học hỏi được điều gì từ thành công đó không? Chính bởi tính hấp dẫn của vấn đề
này nên nhóm chúng tôi đã quyết định thực hiện đề tài: “Mô hình kinh tế nông nghiệp,
nông thôn tại Ấn Độ” cho tiểu luận môn học của mình
1.2Mục đích và nhiệm vụ của đề tài:
- Mục đích nghiên cứu: tìm hiểu và đưa ra những con số thống kê cũng như
phát triển mô hình kinh tế nông nghiệp trong suốt thời gian phát triển ở Ấn Độ,tìm hiểu cách thức thực hiện, chính sách, các cuộc cải cách hay các cuộc cáchmạng nông nghiệp cũng như các thành tựu đạt được tại Ấn Độ, đồng thời đề tàicũng phân tích các thất bại trong quá trình phát triển đấy và đưa ra một số bàihọc kinh nghiệm đối với các nước đang phát triển khác, trong đó có Việt Nam
Các cuộc cải cách cũng như các cuộc cách mạng nông nghiệp tại Ấn Độ
Kết quả đạt được từ các chính sách trên
Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
1.3Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Trang 5- Đối tượng nghiên cứu: nền kinh tế nông nghiệp, nông thôn cũng như cơ sở lýluận của nó ở Ấn Độ, và không phải chỉ hạn định trong một khoảng thời giannhất định nào cả mà nó luôn luôn biến động không ngừng
- Phạm vi nghiên cứu: Do đây là một vấn đề khá rộng, khó nắm bắt được tìnhhình khái quát chung cho nhiều nhiều thời điểm và ở nhiều lĩnh vực khác nhau,
đề tài có những giới hạn sau:
Đề tài chỉ nghiên cứu nền kinh tế nông nghiệp cùng với quá trình phát triển của nóqua nhiều giai đoạn
Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở một quốc gia - Ấn Độ
Đề tài điều tra những số liệu liên quan đến nông nghiệp Ấn Độ trong khoảng thờigian sau độc lập tới nay
1.4Phương pháp nghiên cứu của đề tài:
Đề tài được nghiên cứu chủ yếu dựa vào phương pháp tổng hợp, phân tích cả địnhtính lẫn định lượng để xây dựng chính xác mô hình phát triển kinh tế nông nghiệp cũngnhư các thành tựu đạt được trong quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp tại Ấn Độ
Ngoài ra, đề tài còn áp dụng phương pháp biện chứng duy vật áp dụng trong kinh
tế chính trị Mác- Lênin: xem xét hiện tượng biến động của các lĩnh vực có liên quan vàchịu ảnh hưởng trong mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, và với các yếu tố kinh tếkhác, thường xuyên vận động, phát triển không ngừng
1.5Nguồn số liệu:
Những số liệu trong đề tài được thu thập qua các phương tiện thông tin đại chúng,qua các công trình nghiên cứu khoa học trước đó, và báo chí
Trang 6PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1Khái niệm về nông nghiệp, nông thôn
- Nông nghiệp, theo nghĩa hẹp là ngành sản xuất ra của cải vật chất mà con người phải
dựa vào quy luật sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm như lương thực,thực phẩm… để thỏa mãn các nhu cầu của mình Nông nghiệp theo nghĩa rộng còn baogồm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp Như vậy, nông nghiệp là ngành sản xuất phụ thuộc rấtnhiều vào tự nhiên Những điều kiện tự nhiên như đất đai, nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa,bức xạ mặt trời, … trực tiếp ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng cây trồng và vật nuôi.Nông nghiệp cũng là ngành sản xuất có năng suất lao động rất thấp, vì đây là ngành sảnxuất phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên, là ngành sản xuất mà việc ứng dụng tiến bộ khoahọc - công nghệ gặp rất nhiều khó khăn Ngoài ra sản xuất nông nghiệp thường gắn liềnvới những phương pháp canh tác, tập quán…
- Nông thôn, là những vùng nhân dân sinh sống bằng nông nghiệp, dựa vào tiềm năng
của môi trường trường tự nhiên để sinh sống và tạo ra của cải mới trong môi trường tựnhiên đó Từ hái lượm của cải tự nhiên sẵn có, dần dẫn tiến tới canh tác, tạo ra của cải đểnuôi sống mình
2.2Vai trò của nông nghiệp, nông thôn
Cung cấp lương thực, thực phẩm cho xã hội:
Nhu cầu ăn là nhu cầu cơ bản hàng đầu của con người Xã hội có thể thiếu nhiềuloại sản phẩm nhưng không thể thiếu lương thực, thực phẩm cho xã hội Do đó, việc thỏamãn các nhu cầu về lương thực, thực phẩm trở thành điều kiện khá quan trọng để ổn định
xã hội, ổn định kinh tế Sự phát triển của nông nghiệp có ý nghĩa quyết định đối với việcthỏa mãn nhu cầu này Bảo đảm nhu cầu về lương thực, thực phẩm không chỉ là yêu cầuduy nhất của nông nghiệp, mà còn là cơ sở phát triển các lĩnh vực khác của đời sống kinh
tế - xã hội
Trang 7 Cung cấp nhiên liệu để phát triển công nghiệp nhẹ:
Các ngành công nghiệp nhẹ như: chế biến lương thực, thực phẩm; chế biến hoaquả; công nghệ dệt, giấy, đường, … phải dựa vào nguồn nguyên liệu chủ yếu từ nôngnghiệp Quy mô, tốc độ tăng trưởng của các nguồn nguyên liệu là nhân tố quan trọngquyết định quy mô, tốc độ tăng trưởng của các ngành công nghiệp này
Cung cấp một phần vốn để công nghiệp hóa:
Công nghiệp hóa đất nước là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội Để công nghiệp hóa thành công, đất nước phải giải quyết rất nhiều vấn đề
và phải có vốn Là nước nông nghiệp, thông qua việc xuất khẩu nông sản, nông nghiệpnông thôn có thể góp phần giải quyết nhu cầu vốn cho nền kinh tế
Nông nghiệp, nông thôn là thị trường quan trọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ:
Với những nước lạc hậu, nông nghiệp, nông thôn tập trung phần lớn lao động vàdân cư, do đó đây là thị trường quan trọng của công nghiệp và dịch vụ Nông nghiệp,nộng thôn càng phát triển thì nhu cầu về tư liệu sản xuất như: thiết bị nông nghiệp, phânbón, thuốc trừ sâu càng tăng, đồng thời các nhu cầu về dịch vụ như vốn, thông tin, giaothông vận tải, thương mại… càng tăng Mặt khác, sự phát triển của nông nghiệp, nôngthôn làm cho mức sống, mức thu nhập của dân cư nông thôn tăng lên và nhu cầu của họ
về các loại sản phẩm công nghiệp như ti vi, tủ lạnh, xe máy… và nhu cầu về dịch vụ vănhóa, y tế, giáo dục… cũng ngày càng tăng
Phát triển nông nghiệp, nông thôn là cơ sở ổn định kinh tế, chính trị, xã hội:
Nông thôn là khu vực kinh tế rộng lớn, tập trung phần lớn dân cư của đất nước.Phát triển kinh tế nông thôn, một mặt đảm bảo nhu cầu lương thực, thực phẩm cho xã hội;nguyên liệu cho công nghiệp nhẹ, là thị trường của công nghiệp và dịch vụ… Do đó, pháttriển kinh tế nông thôn là cơ sở ổn định, phát triển nền kinh tế quốc dân Mặt khác, phát
Trang 8triển nông thôn trực tiếp nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho dân cư nông thôn Pháttriển nông nghiệp, nông thôn góp phần giữ gìn an ninh của tổ quốc.
2.3Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp
2.3.1 Các yếu tố tự nhiên
Đất đai: Đất đai là cơ sở đầu tiên, quan trọng nhất để tiến hành trồng trọt, chăn
nuôi Quỹ đất, tính chất đất và độ phì của đất có ảnh hưởng đến quy mô, cơ cấu, năng suất
và sự phân bố cây trồng, vật nuôi
Khí hậu: Sự phát triển và phân bố nông nghiệp chịu ảnh hưởng sâu sắc của các
yếu tố khí hậu Sự khác biệt về khí hậu giữa các nước, các vùng thường thể hiện trong sựphân bố của các loại cây trồng và vật nuôi
Thổ nhưỡng:Thổ nhưỡng là lớp đất có khả năng tái sinh sản thực vật Đó là kết
quả của những tác động giữa các yếu tố tự nhiên của một vủng đặc biệt là khí hậu nhamthạch phong hóa và địa hình tạo nên Trên những loại thổ nhưỡng khác nhau thường cónhững lớp thực vật thích ứng Do đó thỗ nhưỡng trở thành một trong những yếu tố tựnhiên quan trọng làm cơ sở cho sự phân bố các loại cây trồng
Nguồn nước: Nguồn nước trong các nơi chứa: sông, hồ, nước ngầm đóng vai trò
quan trọng đến sự phát triển và phân bố các loại cây trồng và vật nuôi, đặc biệt là các loạicây trồng, vật nuôi ưa nước Sông ngòi còn có tác dụng bồi đắp phù sa tạo nên các vủngđất trồng và nơi chăn nuôi mới
2.3.2 Các yếu tố kinh tế xã hội
Vấn đề tiếp cận thị trường: Theo Griffon, có một số vấn đề lớn khiến thị trường
trong khu vực kinh tế nông nghiệp kém phát triển:
Khó khăn trong tiếp cận thị trường vì ở vùng sâu vùng xa, dân cư thưa thớt, khốilượng giao dịch lại ít, khiến chi phí giao dịch bình quân tăng cao
Tính cứng nhắc trong nguồn cung nông sản, xuất phát chủ yếu từ tính dễ hỏng củachúng và nhu cầu thanh khoản của nông dân
Trang 9 Giá nông sản không ổn định do tính cứng nhắc của nguồn cung, nhu cầu theo mùa
vụ, các chính sách dự trữ của tư nhân và nhà nước biến động
Tiềm năng năng suất thấp do thiếu đầu tư và tâm lý sợ rủi ro của nông dân trướcnhu cầu thay đổi lớn của một phương thức canh tác
Vì những tính chất trên mà thị trường trong khu vực nông nghiệp tự nó khó pháttriển, và nông dân vì thế mà cũng khó có điều kiện tiếp cận thị trường và môi trường thểchế thân thiện thị trường Kết quả là, các nông hộ vừa thiếu nguồn lực cho sản xuất vừaphải đối diện với các điều kiện khó khăn trong khâu lưu thông
Vấn đề cơ sở hạ tầng: Cơ sở hạ tầng kém phát triển ở nông thôn của các nước
đang phát triển cũng là một vấn đề đặc thù, và điều này hạn chế hiệu quả và năng suất củasản xuất nông nghiệp Hiệu quả và năng suất thấp là một nhân tố kìm hãm đầu tư Nhưvậy có thể nói cơ sở hạ tầng kém phát triển là một nhân tố kìm hãm sự phát triển của khuvực nông nghiệp
Vấn đề nghiên cứu phát triển: Các lý thuyết tăng trưởng chung đều đề cao sự phát
triển của tri thức và công nghệ với tư cách là động lực chính cho quá trình tăng trưởng dàihạn Lĩnh vực nông nghiệp cũng không phải là ngoại lệ Do đó, việc thúc đẩy phát triểnnghiên cứu trong lĩnh vực nông nghiệp có vai trò sống còn đối với các nước đang pháttriển
Trang 10PHẦN 3 : TỔNG QUAN NỀN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP ẤN ĐỘ3.1 Khái quát Ấn Độ
3.1.1 Vị trí địa lý
Phạm vi lãnh thổ
Ấn Độ bao gồm một phần lớn của tiểu lục địa Ấn Độ nằm trên mảng kiến tạo Ấn Độ,phần phía Bắc của mảng Ấn-Úc Ấn Độ có bờ biển dài 7.516 km, phần lớn Ấn Độ nằm ởbán đảo Nam Á vươn ra Ấn Độ Dương Ấn Độ giáp Biển Ả Rập về phía Tây Nam vàgiáp Vịnh Bengal về phía Đông và Đông Nam Ấn Độ có diện tích 3.287.263 km², xếpthứ 7 trên thế giới về diện tích, trong đó phần đất liền chiếm 90,44%, diện tích mặt nướcchiếm 9.56% Ấn Độ có biên giới trên đất liền giáp với Bangladesh (4.053 km), Bhutan(605 km), Myanma(1.463 km), Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (3.380 km), Nepal (1690km) và Pakistan (2.912 km) Về phía Tây của quốc gia này là sa mạc Thar, một hoangmạc hỗn hợp đá và cát Biên giới phía Đông và Đông Bắc của quốc gia này làdãy Himalayas Về mặt hành chính, Ấn Độ được chia thành 28 bang, và 7 lãnh thổ liênbang được chính quyền liên bang quản lý Các đơn vị hành chính này được phân chia chủyếu theo biên giới dân tộc và ngôn ngữ hơn lý do địa lý
Trang 11kích thước khổng lồ của những dãy núi trong dãy Himalaya, hãy so với Aconcagua, trongdãy Andes, với độ cao 6.962 m, là đỉnh cao nhất bên ngoài Himalaya, trong khi hệ thốngnúi Himalaya có trên 100 núi khác nhau vượt quá 7.200 m Dãy Himalaya trải khắp 7quốc gia: Bhutan, Trung Quốc, Ấn Độ, Nepal, Pakistan, Myanma và Afghanistan Nócũng là nơi khởi nguồn của 3 hệ thống sông lớn trên thế giới, đó là lưu vực các sôngnhư sông Ấn, sông Hằng-Brahmaputra và sông Dương Tử Khoảng 750 triệu người sốngtrên lưu vực của các con sông bắt nguồn từ dãy Himalaya, tính luôn cả Bangladesh Hệđộng và thực vật của Himalaya biến đổi theo khí hậu, lượng mưa, cao độ, và đất Khí hậuthay đổi từ nhiệt đới ở chân núi đến băng và tuyết vĩnh cửu ở những đỉnh cao nhất Lượngmưa hàng năm tăng từ tây sang đông dọc theo sười phía nam của dải núi Sự đa dạng vềkhí hậu, cao độ, lượng mưa, và đất đai tạo điều kiện cho nhiều quần xã động - thực vậtphát triển Ví dụ như ở những cao độ rất cao (áp suất thấp) cùng với khí hậu cực lạnh chophép các sinh vật chịu được điều kiện sống rất khắc nghiệt sống sót Himalaya là mộttrong những dải núi trẻ nhất trên trái đất và bao gồm chủ yếu là các đá trầm tích và đábiến chất được nâng lên Theo học thuyếtkiến tạo mảng, sự hình thành của nó là kết quảcủa sự va chạm lục địa hoặc tạo núi dọc theo ranh giới hội tụ giữa mảng Ấn-Úc và mảngÁ-Âu Dải núi này được xem là núi nếp uốn Sự va chạm bắt đầu vào Creta thượng cáchđây khoảng 70 triệu năm, khi mảng Ấn-Úc chuyển động về phía bắc với vận tốc khoảng
15 cm/năm và va chạm với mảng Á-Âu.Cách đây khoảng 50 triệu năm, mảng Ấn-Úc này
đã đóng kín hoàn toàn đại dương Tethys, sự tồn tại của đại dương này được xác địnhthông qua các đá trầm tích lắng đọng trên đáy đại dương, và các núi lửa ở rìa của nó Vìcác trầm tích này nhẹ nên nó được nâng lên thành núi thay vì bị chìm xuống đáy đạidương Mảng Ấn-úc tiếp tục di chuyển theo chiều ngang bên dưới cao nguyên ThanhTạng làm cho cao nguyên này nâng lên Cao nguyên Arakan Yoma ở Myanmar và quầnđảo Andaman và Nicobar thuộc vịnh Bengal cũng được hình thành do sự va chạm này.Vùng đồng bằng Ấn-Hằng phì nhiêu chiếm phần lớn ở phía Bắc Đồng bằng Ấn-hằng, tạothành bởi hệ thống sông Ấn và Hằng–Brahmaputra Sông Hằng chảy song song với dãyHimalaya, từ Jammu và Kashmir ở phía tây đến Assam ở phía đông và có lưu vực chiếm
Trang 12phần lớn phía bắc và đông Ấn Độ Đồng bằng có diện tích 700.000 km² (270.000 mi²) cóchiều rộng lên đến hàng trăm ki-lô-mét Các sông lớn của đồng bằng là sông Hằng vàsông Ấn cùng các chi lưu của chúng như; Beas, Yamuna, Gomti, Ravi, Chambal, Sutlej
và Chenab Đồng bằng Ấn-Hằng hay Các đồng bằng Miền Bắc hay Đồng bằng sông Bắc
Ấn Độ là một đồng bằng lớn và màu mỡ bao gồm phần lớn phần phía bắc và đông của Ấn
Độ, các phần đông dân nhất của Pakistan, nhiều phần của miền nam Nepal và gần nhưtoàn bộBangladesh Đồng bằng được đặt theo tên sông Ấn (Indus) và sôngHằng (Ganges), hai hệ thống sông tạo nên nó Đồng bằng là khu vực đông dân cư nhất
trái đất, là nơi sinh sống của gần 1 tỉ người (khoảng 1/7 dân số toàn cầu) trên một diệntích 700.000 km² (270.000 mi²).Rìa phía nam của đồng bằng được giới hạnbằng Vindhya- và dãy núi Satpura, cùng cao nguyên Chota Nagpur Ở phía tây là caonguyên Iran
Phía Nam: Cao nguyên Đê-can rộng lớn, nằm giữa hai dãy núi Gát Tây và Gát Đông Khíhậu khô hạn, ít có giá trị nông nghiệp Hai dải đồng bằng nhỏ hẹp dọc ven biển, đất đaitương đối màu mỡ có giá trị về nông nghiệp
Khoáng sản
Là một quốc gia có nhiều khoáng sa Là một quốc gia có nhiều khoáng sản như Quạngsắt, dầu mỏ, than đá, crôm, sản lượng khai thác ngày một tăng Theo các số liệu thống kê
Trang 13của Steelguru, trong tháng 12 năm 2011, Ấn Độ đã tăng sản lượng than khai thác lên
11,45%, tới 53,6 triệu tấn Các khoáng sản kim loại khác cũng có sản lượng gia tăng đáng
kể như: sản lượng khai thác đồng trong giai đoạn báo cáo tăng 23,13%, lên tới 13 nghìntấn, quặng sắt tăng 8,97%, lên 13,6 triệu tấn và quặng bauxite cũng tăng9,34%,đến1,111triệutấn Sản lượng kẽm tinh quặng trong tháng mười hai tăng 0,71%, lên
136 nghìn tấn; quặng chì tăng 8,03%, đến 15 tấn và quặng mangan tăng 2,5%, lên 181nghìn tấn, điều này đã góp góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế của Ấn Độ
3.2 Sự phát triển nền kinh tế nông nghiệp ở Ấn Độ
3.2.1 Các cuộc cách mạng nông nghiệp ở Ấn Độ
3.2.1.1Cách mạng xanh lần một
a, Cách mạng xanh là gì ?
Cách mạng xanh là một thuật ngữ dùng để mô tả sự chuyển đổi nền nông nghiệp trên
khắp thế giới đã dẫn đến các gia tăng đáng kể sản lượng nông nghiệp giữa thập niên
1940 và thập niên 1960 Công cuộc chuyển đổi này đã diễn ra do kết quả của các chươngtrình nghiên cứu và mở rộng quy mô nông nghiệp, phát triển hạ tầng, được thúc giục vàphần lớn được cung cấp ngân quỹ bởi Rockefeller Foundation, cùng với FordFoundation và các cơ quan chính khác.[1] Cuộc cách mạng xanh trong ngành nông nghiệp
đã giúp sản lượng nông nghiệp theo kịp sự tăng trưởng dân số
b, Cuộc cách mạng xanh ở Ấn Độ.
Nông Nghiệp ở Ấn Độ vào những năm trước khi thực hiện cách mạng xanh: Không sảnxuất đủ lương thực nan đói, bệnh tật nạn đói đang de dọa tàn phá đất nước này Ấn Độtrở thành trung tâm chết đói của thế giới Nguyên nhân chủ yếu là kĩ thuật canh tác lạchậu, phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, và chế độ chiếm hữu ruộng đất thì còn quá nặng nề.Cách mạng xanh ở Ấn Độ
Nội dung: Cách mạng Xanh có hai nội dung quan trọng hỗ trợ và bổ sung cho nhau là tạo
ra những giống mới và năng suất cao chủ yếu là cây lương thực và sử dụng tổ hợp các biện pháp kỹ thuật để phát huy khả năng của các giống mới , quản lý và điều phối nguồn nước tưới tiêu bao gồm chuyển nước từ miền bắc xuống miền tây và miền nam
Trang 14Cuộc Cách mạng Xanh được bắt đầu ở Mêhico cùng với việc hình thành một tổ chức nghiên cứu quốc tế là: "Trung tâm quốc tế cải thiện giống ngô và mì CIMMYT và Viện nghiên cứu quốc tế về lúa ở Philippin - IRRI VÀ Ở ẤN ĐỘ - IARI".
Mục đích : Nâng cao năng suất cây trồng, tăng sản lượng lương thực phát triển kinh tế
nông nghiệp theo chiều sâu nhằm giải quyết nan đói ở Ấn Độ vào những năm trước khi thực hiện cuộc cách mạng, đồng thời bảo đảm thu nhập tốt và bình đẳng hơn cho người nông dân
Những thành quả đạt được : Cách mạng Xanh giúp Ấn Độ tăng 4 lần sản lượng lương
thực, Ấn Độ từ một nước luôn có nạn đói kinh niên, không sao vượt qua ngưỡng 20 triệutấn lương thực, thành một đất nước đủ ăn và còn dư để xuất khẩu với tổng sản lượng kỷlục là 60 triệu tấn/năm Năm 1963, do việc nhập nội một số chủng lúa mì mới của Mêhico
và xử lý chủng Sonora 64 bằng phóng xạ đã tạo ra Sharbati Sonora, hàm lượng protein vàchất lượng nói chung tốt hơn cả chủng Mêhico tuyển chọn Đây là một chủng lúa mì lùn,thời gian sinh trưởng ngắn Sản lượng kỷ lục của lúa mì ở ấn Độ là 17 triệu tấn vào nhữngnăm 1967 - 1968 Ngoài ra, những loại cốc khác, nhờ tạo giống mới cũng đã đưa đếnnăng suất kỷ lục Bajra, một chủng kê có năng suất ổn định 2500 kg/ha, ngô cao sản năngsuất 5000 - 7300 kg/ha Lúa miến (Sorga) năng suất 6000 - 7000 kg/ha với những tính ưuviệt như chín sớm hơn, chống chịu sâu bệnh tốt hơn hẳn so với các chủng địa phương.Đặc biệt lúa gạo, trồng trên diện tích rộng ở Ấn Độ - trên 35 triệu ha, nhưng năng suấttrung bình chỉ đạt 1,1 tấn/ha Với Cách mạng Xanh, giống IR8 đã tạo ra năng suất 8 - 10tấn/ha Một điều đáng lưu ý là Cách mạng Xanh ở Ấn Độ không những đem đến chongười dân những chủng cây lương thực có năng suất cao, mà còn cải thiện chất lượngdinh dưỡng của chúng gấp nhiều lần Ví dụ chủng Sharbati hạt vừa to, vừa chắc, chứa16% protein, trong đó 3% là lizin Do tiếp tục cải tiến và tuyển lựa giống nên có nơichủng này đã cho 21% protein
Những hạn chế của cuộc cách mạng xanh Từ góc độ văn hóa, chúng tôi xin nêu ra một
số mặt tiêu cực của cách mạng xanh lần thứ nhất đối với môi trường và con người
Có lẽ tác hại dễ thấy nhất của cách mạng xanh mà lâu nay các nhà nghiên cứu trên thế
giới, nhất là từ giới nghiên cứu Âu - Mỹ đã nói nhiều, đó là tác hại làm môi trường tự
nhiên bị suy kiệt, phá hoại từ đó góp phần cùng với các nhân tố khác dẫn đến sự biến
Trang 15đổi khí hậu theo hướng bất lợi cho cuộc sống con người Hiện tượng này diễn ra trên
nhiều lĩnh vực khác nhau
- Trước nhất, do nhu cầu lương thực nên diện tích canh tác được mở rộng, nhiều nơi rừng
bị chặt phá để lấy đất trồng lương thực, nhất là việc sử dụng vô hạn các loại phân bón vô
cơ, thuốc trừ sâu đã làm đất đai bị bị bào mòn, vô cơ hóa, độ phì bị suy giảm, tính đa dạngsinh học của đất trồng trọt bị suy kiệt Đây là cuộc chạy đua không có hồi kết thúc, mộtvòng luẩn quẩn không có lối ra: càng đẩy mạnh trồng trọt, tăng vụ, đầu tư phân bón nhiều
để tăng năng suất thì càng làm đất đai suy kiệt, càng phải đầu tư vào đất phân và thuốc trừsâu với mức độ cao hơn và do vậy sự thoái hóa của đất càng nhanh hơn Nhiều nơi trênthế giới sau một thời kỳ canh tác, đất bị thoái hóa, bạc mầu, sa mạc hóa, không thể gieotrồng được nữa Người ta càng tăng tốc độ phá rừng để lấy đất canh tác, rừng trên hànhtinh bị thu hẹp, càng ảnh hưởng trực tiếp tới biến đổi khí hậu Thí dụ, ở Ấn Độ tốc độcách mạng xanh đẩy mạnh thì diện tích đất đai bị sa mạc hóa cũng tăng rất nhanh Đấy làchưa kể, cùng với quá trình công nghiệp hóa, nhiều đất đai nông nghiệp bị thu hẹp lạiphục vụ cho mở rộng các chương trình sản xuất công nghiệp, cho mở mang phát triển đôthị, du lịch, phục vụ đời sống thị dân
- Nền nông nghiệp truyền thống, về cơ bản, dựa trên hệ canh tác tự túc, tức là sau quá
trình canh tác, thông qua các kỹ thuật luân canh, hưu canh, xen canh và gối canh, đất đai
tự hồi phục, không hoặc ít cần sự đầu tư, bổ sung từ bên ngoài, nay nền nông nghiệp
chuyển hẳn sang hệ canh tác bổ sung - bổ sung phân bón và các loại thuốc bảo vệ thực
vật, nên đã phá vỡ cấu trúc tự nhiên của đất canh tác, làm suy giảm độ màu, mùn và sựthông thoáng của đất Đấy là chưa kể tới việc do đưa vào quá nhiều phân bón vô cơ, thuốcbảo vệ thực vật đã tiêu diệt hệ vi khuẩn có lợi cho cây trồng, phá vỡ hệ canh tác đa canh,luân canh, xen canh, gối canh
- Nông học hiện đại chứng minh rằng, việc trồng trọt độc canh sẽ dẫn tới làm nghèo độphì của đất, giảm năng xuất cây trồng, không thể thực hiện được hệ canh tác xen canhgiữa các loại cây trồng, giữa cây trồng và vật nuôi Thí dụ, vào các thập kỷ 60 - 70 trở vềtrước, người Thái, Tày, Mường ở Việt Nam thường kết hợp trồng lúa và nuôi cá ruộng,nay do tăng vụ, dùng phân hóa học, đặc biệt là thuốc trừ sâu đã phá vỡ sinh thái đồngruộng, không thể nuôi cá kết hợp với trồng lúa nữa Đấy là chưa kể cả hệ thống sông suối
Trang 16cũng bị ảnh hưởng, làm suy giảm đáng kể các loài thủy sản, làm mất đi một nguồn đạmthủy sản vẫn thường phục vụ cho bữa ăn hằng ngày của nông dân.
Việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới trong canh tác nông nghiệp, nhất là kỹ thuậtdùng phân hóa học và các loại thuốc trừ sâu, việc đưa các giống mới vào trồng trọt và
cùng với nó là các biện pháp kỹ thuật đi kèm, thực sự đã đưa đến việc phá vỡ hệ thống
tri thức bản địa lâu đời của người nông dân, vốn được tích lũy qua bao thế hệ về môi
trường, khí hậu, đất đai canh tác, cùng với nó là các biện pháp kỹ thuật trong trồng trọt,trong lựa chọn tập đoàn cây trồng, phòng trừ sâu bệnh, trong thu hoạch lúa và hoa mầu vàviệc bảo quản sau thu hoạch Tất nhiên, khi áp dụng các giống cây trồng mới nhập ngoạithì tri thức bản địa về cây trồng và kỹ thuật trồng trọt cũng bị thay đổi theo Sự mất mát
và đứt gãy đó là quá lớn dẫn đến sự học hỏi và trao truyền kiến thức địa phương bị đứtđoạn, trong khi người bản xứ lại chưa kịp tiếp thu các kỹ thuật mới Cách học hỏi và traotruyền kiến thức về nông học bây giờ cũng ít nhiều thay đổi theo cách huấn luyện nhữngngười trẻ tuổi, cách trao truyền thế hệ thông qua thực hành trong môi trường gia đìnhcũng bắt đầu suy giảm, khiến ở một số nơi, như ở nông thôn Việt Nam từ chỗ người tađịnh giá trị "Lão nông tri điền" thì nay thành "Lão nông bất tri điền"
- Không những kho vốn tri thức bản địa về nông học bị phá vỡ, mai một, mà cả một kho tàng nguồn gen các tập đoàn cây trồng, vật nuôi bản địa cũng bị mất Như chúng ta đều
biết, ở mỗi tộc người hay địa phương, việc lựa chọn giống cây trồng thích hợp là quá trìnhkéo dài hằng nghìn năm, từng loại phù hợp với các chất đất, khí hậu, thổ ngơi, vừa chonăng suất ổn định vừa tạo chất lượng tốt nhất Khi trồng các loại cây trồng này, người địaphương tính toán đến các kỹ thuật chăm sóc sao cho hạn chế đầu tư, các biện pháp kỹthuật đơn giản, ít dùng các loại phân bón, thuốc trừ sâu làm tổn hại đến đất và môi trường.Sản phẩm cây trồng vừa ngon vừa bảo đảm chất lượng Thí dụ, ở Việt Nam, các loại lúanổi tiếng, như nếp cái hoa vàng, tám thơm, gạo dự nổi tiếng thơm ngon, các giống vậtnuôi như gà ri, lợn ỉ rất ngon thịt, tuy năng suất có bị hạn chế
- Đối với những cư dân canh tác nương rẫy, tập đoàn các giống lúa, hoa mầu rất phongphú, tính ra tới hàng mấy chục loại, mỗi năm gia đình gieo trồng tới 5 - 6 loại khác nhauphù hợp với từng mảnh đất trên sườn núi hay dưới chân núi thấp, nắng nhiều, chịu gióhay có độ che phủ, nơi khuất gió, thời gian canh tác dài hay ngắn Nay với giống lúa mới,