Qua các kết quả nghiên cứu thì những biện pháp sử dụng phân bón và cách bón phân truyền thống hiệu suất sử dụng phân thấp là do việc mất ñạm qua các con ñường: - Do bốc hơi tự do dưới dạ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP I
- -
Ng« b¸ bang
Nghiªn cøu thiÕt kÕ m¸y bãn ph©n viªn nÐn
Phôc vô cho canh t¸c c©y cãi
Trang 2LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là hoàn toàn trung thực chưa hề ñược sử dụng ñể bảo vệ bất kỳ một công trình nghiên cứu hay một học vị nào
Tôi xin cam ñoan rằng, mọi sự giúp ñỡ cho việc hoàn thành luận văn này ñều ñã ñược cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này ñều ñã ñược chỉ rõ nguồn gốc
Trang 3LỜI CẢM ƠN
ðể có ñược luận văn này, tôi ñã trải qua hai năm học tập tại Trường ðại học Nông nghiệp I Hà Nội, dưới sự quản lý của khoa Sau ñại học và khoa Cơ ñiện Tôi ñã tiếp thu ñược các kiến thức khoa học qua sự truyền ñạt của các thầy, cô giáo của Trường ðại học Nông nghiệp I Hà Nội, Trường ðại học Bách khoa Hà Nội và Viện Cơ ñiện Nông nghiệp thuộc Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn
Nhân dịp này tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo và ñội ngũ cán
bộ, công nhân viên ñã giảng dạy, quản lý và quan tâm giúp ñỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại Trường:
- Tôi xin trân trọng cảm ơn thầy giáo Tiến sĩ ðỗ Hữu Quyết ñã tận tình hướng dẫn, giúp ñỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
- Tôi xin trân trọng cảm ơn tập thể các thầy, cô giáo trong bộ môn Cơ học kỹ thuật khoa Cơ ñiện của Nhà trường ñã ñóng góp ý kiến, giúp ñỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự cộng tác và giúp ñỡ nhiệt tình của những người thân trong gia ñình cùng nhân dân ñịa phương xã Thanh Hồng, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương và các Kỹ sư, Sinh viên khoa Cơ ñiện Trường ðại học Nông nghiệp I ñã giúp ñỡ tôi trong quá trình nghiên cứu thực nghiệm ñể hoàn thành nhiệm vụ của luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn những người thân trong gia ñình, tập thể lãnh ñạo và ñội ngũ các thầy, cô giáo, cán bộ, công nhân viên Trường Cao ñẳng nghề Cơ ñiện - Xây dựng và Nông lâm Trung Bộ cùng bạn bè, ñồng nghiệp ñã tạo các ñiều kiện thuận lợi ñể tôi hoàn thành nhiệm vụ của khoá học
Tác giả luận văn
Ngô Bá Bang
Trang 42.3 Nghiên cứu nguyên lý làm việc và kết cấu một số loại máy gieo và
máy bón phân
28
2.3.1 Nghiên cứu nguyên lý làm việc và kết cấu một số loại máy gieo 29
2.3.2 Nghiên cứu nguyên lý làm việc và kết cấu một số loại máy bón 33
3 ðỐI TƯỢNG, ðỊA ðIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 39
Trang 53.2 ðỊA ðIỂM NGHIÊN CỨU 39
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu ño ñạc ñể ñánh giá kết quả thí nghiệm 78
4.1 MỘT SỐ THÔNG SỐ CƠ BẢN CỦA RUỘNG CÓI Ở THỜI KỲ BÓN PHÂN 92 4.2 MỘT SỐ THÔNG SỐ CƠ BẢN CỦA VIÊN PHÂN DÙNG CHO MÁY DÚI 92 4.3 YÊU CẦU KỸ THUẬT ðỐI VỚI KHÂU DÚI PHÂN VIÊN CHO CÓI 92 4.4 LỰA CHỌN NGUYÊN LÝ LÀM VIỆC VÀ KẾT CẤU CỦA MÁY 93
4.4.2 Lựa chọn nguyên lý làm việc và kết cấu của máy dúi 94
4.4.3 Lựa chọn nguyên lý làm việc và kết cấu từng bộ phận làm việc chính 96 4.5 XÁC ðỊNH KÍCH THƯỚC CƠ BẢN VÀ THIẾT KẾ CÁC BỘ PHẬN LÀM 106
4.5.7 Quy trình chăm sóc, bảo dưỡng và vận hành máy dúi 124
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Phân bổ diện tích trồng cói theo các ñịa phương 9 Bảng 2.2 Sản lượng cói phân theo các ñịa phương 10 Bảng 2.3 Năng suất cói phân theo các ñịa phương 11 Bảng 2.4 Thí nghiệm về mực nước ở ruộng cói mới cấy 19 Bảng 2.5 Ảnh hưởng của mức nước tưới ñến ñẻ nhánh của cây cói 19 Bảng 2.6 Các nguyên nhân làm giảm hiệu lực của phân bón 21
Bảng 2.8 Ảnh hưởng của liều lượng ñạm và thời gian bón thúc ñến năng suất cói 25
Bảng 3 3 Số liệu xác ñịnh ñộ sâu thân ngầm và sự phân bố của rễ cói theo chiều sâu 45
Bảng 3.5 Số liệu lực cản khi dúi riêng ống bao ngoài có ñầu bằng và ñầu vát
tại vị trí có giá trị max tại chân ruộng nền mềm
50
Bảng 3.6 Số liệu lực cản khi dúi riêng ống bao ngoài có ñầu bằng và ñầu vát
tại vị trí có giá trị max tại chân ruộng nền cứng
51
Bảng 3.7 Số liệu và lực cản khi dúi riêng ống có xẻ rãnh (không vát và có vát)
tại các vị trí có lực cản max trên chân ruộng mềm
53
Bảng 3.8 Số liệu và lực cản khi dúi riêng ống có xẻ rãnh (không vát và có vát)
tại các vị trí có lực cản max trên chân ruộng cứng hơn
54
Bảng 3.9 Số liệu xác ñịnh lực cản khi dúi viên phân trong lòng ống bao ngoài
với hai loại ống bao ngoài (không xẻ rãnh) và ống bao ngoài (có xẻ rãnh) tại
ba vị trí trên chân ruộng cứng
Trang 7Bảng 3.13 Xác ñịnh lực cản cắt trên lưỡi rạch nghiêng một góc với phương
thẳng ñứng trên nền ruộng mềm
55
Bảng 3.14 Xác ñịnh lực cản cắt cắt trên lưỡi rạch nghiêng một góc với
phương thẳng ñứng trên nền ruộng cứng
66
Bảng 3.15 Xác ñịnh ñộ trượt và lực cản lăn của bánh xe khi lưỡi rạch không
tiếp xúc với ñất (khối lượng công cụ thí nghiệm 54 kg)
68
Bảng 3.16 Kết quả thí nghiệm ño ñộ trượt của bánh xe và lực cản cắt của ñất
với các mức khối lượng chất thêm (55, 75, 95 và 115) kg
72
Bảng 3.17 Kết quả thí nghiệm ño ñộ trượt của bánh xe và lực cản cắt của ñất
với các mức khối lượng chất thêm (135, 155, 175, 195) kg
Bảng 4.3 Lực kéo danh nghĩa (PkH) ở các số truyền của tầng nhanh 122
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 2.1 Sơ ñồ nguyên lý của máy gieo hạt kiểu rung 30 Hình 2.2 Sơ ñồ nguyên lý bộ phân gieo kiểu trục cuốn 31 Hình 2.3 Bộ phân gieo kiểu ñĩa ở máy gieo CKHK-6 32 Hình 2.4 Bộ phân gieo kiểu ñĩa ở máy gieo CKΓK-6 32
Hình 2.7 Sơ ñồ nguyên lý bộ phận bón trực tiếp kiểu piston 36 Hình 2.8 Kết cấu máy bón phân viên dạng gần tròn (cầu) 38
Hình 3.1 Một góc bề mặt ruộng cói sau khi thu hoạch 41 Hình 3.2 Sơ ñồ xác ñịnh mức ñộ phẳng của mặt ruộng 42
Hình 3.15 Ống dúi ñầu bằng, ñầu vát có xẻ rãnh 55 Hình 3.16 Ống dúi ñầu bằng, ñầu vát không xẻ rãnh 55 Hình 3.17 Ống ñể dúi viên phân khi dúi viên phân tự do 57 Hình 3.18 Thí nghiệm xác ñịnh lực cản và ñộ vỡ của viên phân khi dúi
viên phân tự do
57
Trang 9Hình 3.19 Viên phân sau khi dúi 57
Hình 3.21 Lưỡi cắt ñể xác ñịnh lực cản cắt lớp rễ cây theo phương thẳng ñứng 60
Hình 3.23 Lưỡi cắt ño lực cản cắt của lớp rễ cói theo phương thẳng ñứng 60 Hình 3.24 Sơ ñồ xác ñịnh lực cản cắt của lớp rễ cói theo phương thẳng ñứng 60 Hình 3.25 Mặt cắt ngang của rãnh sau khi rạch bằng dụng cụ rạch rãnh thẳng 62 Hình 3.26 Sơ ñồ ño lực cản cắt của lưỡi rạch rãnh 62
Hình 3 29 Sơ ñồ bố trí các thí nghiệm ño lực cản và ñộ trượt của bánh xe 67 Hình 3.30 Gia công các bộ phận của công cụ thí nghiệm 68 Hình 3.31 ðo ñộ trượt của bánh xe trên nền ruộng 68 Hình 3 32 Xác ñịnh lực cản và ñộ trượt của bánh xe khi rạch rãnh trên mặt ruộng 69 Hình 3 33 Xác ñịnh giá trị lực cản và ñộ trượt của bánh xe khi tăng thêm khối lượng 69
Hình 3.35 ðo lực cản cắt của ñất ruộng cói khi khối lượng nhỏ 71 Hình 3.36 ðo lực cản cắt của ñất ruộng cói khi tăng thêm khối lượng 71 Hình 3.37 Hình dạng, kích thước của viên phân nén dạng quả bàng 74
Hình 3 40 Nguyên lý ép viên phân dạng gần tròn (cầu) 75
Hình 3.43 ðồ thị quan hệ ñộ trượt và khối lượng công cụ 91
Hình 4.2 Sơ ñồ nguyên lý làm việc của máy bón phân viên nén trên ruộng cói 95 Hình 4.3 Sơ ñồ cấu tạo và nguyên lý làm việc bộ phận cung cấp viên phân 97
Trang 10Hình 4.5 Bón viên phân trong lòng ống bao ngoài không xẻ rãnh 100 Hình 4.6 Bón viên phân trong lòng ống bao ngoài xẻ rãnh 100 Hình 4.7 Thí nghiệm xác ñịnh lực cản cắt trung bình của lớp rễ cây theo
phương thẳng ñứng (phương pháp rạch kiểu thuổng)
Trang 11PHỤ LỤC
Số hiệu Tên bản vẽ Trang
Hình P.1 Bản vẽ thiết kế bộ phận cung cấp hai phía
Hình P.1.5 Bản vẽ thiết kế thùng chứa viên phân trái
Hình P.1.1 Bản vẽ thiết kế ñĩa cung cấp
Hình P.1.2 Bản vẽ thiết kế vỏ ñĩa cung cấp phải
Hình P.1.3 Bản vẽ thiết kế vỏ ñĩa cung cấp trái
Hình P.1.9 Bản vẽ thiết kế của ñĩa khuấy ñảo viên phân
Hình P.1.14 Bản vẽ thiết kế trục cung cấp viên phân
Hình P.1.14.a Bản vẽ thiết kế ñĩa hãm
Hình P.1.11 Bản vẽ thiết kế ống dẫn phân trên lưỡi rạch phải
Hình P.1.11.a Bản vẽ thiết kế chụp ñầu ống dẫn phân
Hình P.1.11.b Bản vẽ thiết kế phễu ñón phân
Hình P.1.12 Bản vẽ thiết kế ống dẫn phân trên lưỡi rạch trái
HìnhP.2.3 Bản vẽ thiết kế lưỡi rạch phải
HìnhP.2.4 Bản vẽ thiết kế ống trụ lưỡi rạch phải
HìnhP.2.5 Bản vẽ thiết kế ống trụ lưỡi rạch trái
Trang 12Hình P.2.17 Bản vẽ thiết kế giá ñỡ bánh xe lấp nén (giá ñỡ nhánh dúi)
Hình P.3 Bản vẽ thiết kế cụm bánh xe máy dúi (cụm trục-bánh xe chủ ñộng)
Hình P.3.1 Bản vẽ thiết kế vành bánh xe máy dúi (vành bánh xe chủ ñộng)
Hình P.3.2 Bản vẽ thiết kế mấu bám
Hình P.3.3 Bản vẽ thiết kế trục bánh xe máy dúi
Hình P.3.4 Bản vẽ thiết kế moay ơ bánh xe máy dúi
Hình P.3.5 Bản vẽ thiết kế bánh tựa ñồng (bánh xe máy dúi)
Hình P.3.6 Bản vẽ thiết kế vành bánh tựa ñồng
Hình P.3.7 Bản vẽ thiết kế ñĩa ghép bánh tựa ñồng
Hình P.3.8 Bản vẽ thiết kế moay ơ bánh tựa ñồng
Hình P.4.1 Bản vẽ thiết kế ñĩa xích Z16 trên trục bánh xe
Hình P.4.2 Bản vẽ thiết kế ñĩa xích Z18 trên trục bánh xe
Hình P.4.3 Bản vẽ thiết kế moay ơ ñĩa xích trên trục bánh xe
Hình P.5 Bản vẽ thiết kế khung chính (BVL máy dúi 4 hàng - khung chính)
Hình P.5.1 Bản vẽ thiết kế dầm khung chính máy
Hình P.5.2 Bản vẽ thiết kế thanh dọc khung máy
Hình P.5.3 Bản vẽ thiết kế thanh dọc giữa khung máy
Hình P.5.4 Bản vẽ thiết kế tấm bắt ñiểm treo dưới
Trang 13Hình P.6 Bản vẽ thiết kế khung và cơ cấu treo (BVL-khung và cơ cấu treo)
Hình P.6.1 Bản vẽ thiết kế khung thanh treo (thanh treo ñứng)
Hình P.6.2 Bản vẽ thiết kế khung thanh treo trên (thanh treo trên)
Trang 141 MỞ đẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA đỀ TÀI
Phát triển nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ mới theo hướng công nghiệp hoá, hiện ựại hoá là một chủ trương lớn của đảng và Nhà nước ta Hiện nay, nước ta vẫn là một quốc gia nông nghiệp, kết cấu hạ tầng còn thấp kém Quy mô công nghiệp nông thôn nhìn chung trên cả nước còn nhỏ bé Theo con số thống kê tại một số tỉnh thì công nghiệp nông thôn chỉ chiếm khoảng 10% giá trị sản xuất đáng lưu ý là trong các mặt hàng xuất khẩu ở khu vực nông thôn thì nông sản ựang chiếm ưu thế Nhưng sức cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam còn kém (khoảng 60% ựược bán với giá thấp hơn từ 10 ựến 15% so với cùng loại của các nước trong khu vực) Vì vậy, khả năng tiêu thụ hàng nông sản Việt Nam còn bị hạn chế Về cơ bản các mặt hàng xuất khẩu nông sản của ta vẫn là dưới dạng thô (chiếm khoảng 90%), chưa qua chế biến bởi giá thành sản xuất nông sản thô còn rất cao, chất lượng thấp, khả năng bảo quản kém
Sau hơn 20 năm thực hiện ựường lối ựổi mới của đảng, nông nghiệp nước ta ựã
có bước tiến vượt bậc, bộ mặt kinh tế-xã hội nông thôn có những thay ựổi căn bản: sản xuất nông nghiệp mang tắnh hàng hoá hơn, tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ trong cơ cấu kinh tế nông thôn có xu hướng tăng dần trong những năm gần ựây Nhìn chung năng suất lao ựộng của nông nghiệp, nông thôn nước ta vẫn còn thấp hơn so với các nước trong khu vực Sản xuất nông nghiệp vẫn còn mang tắnh tự phát, manh mún, nhỏ lẻ, chưa hình thành ựược các vùng sản xuất hàng hoá lớn mang tắnh bền vững theo hướng chuyên môn hoá với công nghệ, kỹ thuật hiện ựại, cung cấp những sản phẩm chất lượng cao, ựảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm với giá thành hợp lý ựáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, nhất là ở thị trường các ựô thị lớn và xuất khẩu
Một thế mạnh hiện nay của khu vực kinh tế nông thôn ựã sản xuất ra các mặt hàng thủ công-mỹ nghệ tạo ấn tượng tốt ở thị trường trong nước và thế giới trong ựó có nhiều mặt hàng ựược chế biến từ cây cói Ngày nay nước ta ựã chắnh thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì các sản phẩm xuất khẩu cũng có sự tham gia ựáng
Trang 15kể của các mặt hàng chế biến từ cây cói
Bón phân là một trong những biện pháp kỹ thuật ñược thực hiện phổ biến, thường mang lại hiệu quả lớn, nhưng cũng chiếm phần khá cao trong chi phí sản xuất nông nghiệp ðể ñảm bảo năng suất, chất lượng cho cây trồng nói chung, cây cói nói riêng, hàng năm cần phải bón phân Việc bón phân cho cây cói theo phương pháp truyền thống là bón vãi không ñem lại hiệu quả cao
Qua các kết quả nghiên cứu thì những biện pháp sử dụng phân bón và cách bón phân truyền thống hiệu suất sử dụng phân thấp là do việc mất ñạm qua các con ñường:
- Do bốc hơi tự do dưới dạng NH3;
- Do rửa trôi theo dòng nước;
- Do rửa trôi theo chiều sâu, nhất là dạng nitrat (NO3);
- Bay hơi dưới dạng N2 do hiện tượng phản nitrat hoá;
- Do sự tranh chấp dinh dưỡng của cỏ dại mọc trên lớp ñất mặt;
- Không ñược hấp phụ trong keo ñất
ðể hạn chế việc mất ñạm, nâng cao hiệu quả bón phân cho cây trồng, rất cần thiết phải bón phân một cách hợp lý: bón ñúng loại phân, bón ñúng lượng phân, bón ñúng lúc, ñúng ñối tượng, ñúng cách và cân ñối mới nhằm khắc phục sự lãng phí như hiện nay ñồng thời ñảm bảo tăng năng suất, chất lượng cây trồng với hiệu quả kinh tế cao, hạn chế tối ña các hậu quả tiêu cực cho nông sản và môi trường sinh thái Bón phân sâu theo ñiểm ở dạng viên là một phương pháp bón phân mới, có thể ñáp ứng các yêu cầu trên
Phương pháp bón phân sâu trong ñất ñã ñược nghiên cứu và áp dụng từ những năm 1930 trên thế giới Trong những năm 70 của thế kỷ XX, Việt Nam cũng ñã áp dụng phương pháp này ñể bón cho lúa nhưng chưa ñược áp dụng phổ biến vì tốn nhiều lao ñộng thủ công, hiệu quả không cao (Nguyễn Tất Cảnh 2006, Sử dụng phân viên nén trong thâm canh cây lúa, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội)
Bón phân sâu theo ñiểm ở dạng viên là một phương pháp bón phân hợp lý mang
Trang 16lại hiệu quả sử dụng phân bón cao, là một phương pháp mới ựã ựược thử nghiệm cho cây lúa ở các tỉnh Miền Trung nước ta bao gồm Thanh Hoá, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam và từ năm 2003 mở rộng ra các tỉnh Lào Cai, Hà Tây, Hà Giang v.vẦ Phương pháp này có nhiều ưu ựiểm nổi bật sau:
- Tiết kiệm từ 30%-35% lượng phân ựạm so với cách bón vãi thông thường;
- Chỉ bón một lần cho cả vụ, ựơn giản, dễ làm, tốn ắt công lao ựộng;
- Bón phân viên nén sâu không phụ thuộc vào thời tiết, ựảm bảo cho việc bón ựúng lúc;
- Bón phân viên nén sâu còn cho phép cân ựối ựược những lượng nhất ựịnh với
tỷ lệ nhất ựịnh giữa các chất, phù hợp với nhu cầu sinh trưởng của từng loại cây;
- Giảm sâu bệnh và cỏ dại, hạn chế phun thuốc bảo vệ thực vật, tiết kiệm chi phắ, an toàn cho người lao ựộng, giảm tác hại ựến môi trường sống;
- Tăng năng suất từ 10%-20% so với bón phân vãi;
- Nâng cao phẩm cấp của nông sản;
- Hạ giá thành nông sản phẩm, thúc ựẩy công nghiệp chế biến nông sản phát triển;
- Góp phần làm thay ựổi thói quen sử dụng phân bón không hợp lý của nông dân;
- Tăng thu nhập, cải thiện ựời sống, ựiều kiện làm việc và góp phần từng bước ựổi mới bộ mặt nông thôn
Phương pháp này ựã ựược nhiều tổ chức quốc tế ựề nghị áp dụng trên diện rộng,
ựã ựược nhiều nông dân ở các nước Nam và đông Nam châu Á chấp nhận Tuy nhiên mức ựộ chấp nhận còn phụ thuộc vào: ựiều kiện khắ hậu và ựiều kiện kinh tế xã hội, mối quan tâm của xã hội về ựộ sạch của sản phẩm, về vấn ựề ô nhiễm môi trường và giá phân bón
Việt Nam là một nước phải nhập khẩu phân bón Hàng năm nước ta nhập khoảng 90-93% lượng phân ựạm, 30-35% lượng phân lân, 100% lượng phân kali Tuy
Trang 17vậy trong sử dụng phân bón, nông dân còn dùng rất lãng phí, do thiếu kiến thức, do quan niệm sai lầm, do chưa hiểu biết tác dụng to lớn của việc bón phân hợp lý Chính
vì vậy, hiện nay hiệu suất sử dụng phân ñạm chỉ ñạt mức 35- 40%, phân lân và kali ñạt khoảng 50% Như vậy, nếu chỉ tính riêng phân urê: hàng năm chúng ta bón khoảng 2 triệu tấn, thì ñã bị lãng phí khoảng 1,2-1,3 triệu tấn Do vậy chỉ cần tăng ñược hiệu suất
sử dụng thêm 5% thì hàng năm chúng ta ñã tiết kiệm ñược ít nhất 100.000 tấn phân urê (ðường Hồng Dật (2003), Sổ tay hướng dẫn sử dụng phân bón, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội)
Trước những yêu cầu ñặt ra ở trên, lĩnh vực cơ khí hoá, ñiện khí hoá là một mắt xích quan trọng, cần phải tổ chức nghiên cứu, thiết kế, chế tạo các loại công cụ, thiết
bị, máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp nói chung, phục vụ cho canh tác của từng loại cây nói riêng là một việc rất cần thiết nhằm từng bước cơ giới hoá một cách ñồng
bộ trong sản xuất nông nghiệp, góp phần thúc ñẩy tiến trình thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện ñại hoá nông nghiệp, nông thôn của ðảng và Nhà nước
ta trong giai ñoạn hiện nay Trước những ñòi hỏi và nhu cầu của thực tiễn sản xuất nêu trên, ñồng thời ñược sự giúp ñỡ của TS ðỗ Hữu Quyết chúng tôi tiến hành thực hiện
ñề tài: “Nghiên cứu thiết kế máy bón phân viên nén phục vụ cho canh tác cây cói ”
1.2 MỤC TIÊU
+ Nghiên cứu thiết kế máy bón phân viên nén xuống ruộng cói sau khi thu hoạch phục vụ cho canh tác cây cói:
- Xác ñịnh ñược nguyên lý bón viên phân phù hợp với ñòi hỏi thực tiễn;
- Tính toán, thiết kế máy bón viên phân cho ruộng cói sau khi thu hoạch sử dụng viên phân dạng gần tròn (cầu);
- ðảm bảo năng suất của máy: 0,60 ñến 0,80 ha/ giờ
+ ðảm bảo các yêu cầu kỹ thuật bón phân:
- Vận tốc máy 5-7 km/ giờ;
- Mật ñộ: 25 x 25 cm ñến 30 x 30 cm;
Trang 18- Thời gian bón: vụ mùa bón sau khi thu hoạch, vụ chiêm có thể bón sau khi thu hoạch một thời gian (kể cả khi cây cói có thể ñã mọc cao khoảng 30-40 cm)
+ Dễ dàng ñiều chỉnh ñược khoảng cách hàng với hàng và giữa các viên phân liền kề nhau trong từng hàng ñể bảo ñảm mật ñộ bón
+ ðộ sâu bón phân không nông hơn 5 cm và không sâu quá 7 cm
+ Không làm biến ñổi hình dạng của viên phân nén, không ñược bón sót, không bón chập nhiều viên phân tại một vị trí
+ Thích ứng với nhiều chân ruộng, ñiều chỉnh và chăm sóc dễ dàng
+ Dễ chế tạo, giá thành rẻ phù hợp với khả năng kinh tế của người nông dân
1.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ðỀ TÀI
Cây cói ñã và ñang là cây xoá ñói, giảm nghèo của nhiều ñịa phương trên toàn quốc, ñóng vai trò quan trọng trong ñời sống dân sinh và trong nền công nghiệp nước
ta
Từ bao ñời nay các loại chiếu cói, bao bì cói, bị cói, nón cói, mũ cói , là những sản phẩm do các làng nghề truyền thống sản xuất từ cây cói ñã ñi vào cuộc sống và trở nên rất quen thuộc với người dân Việt Nam Gần ñây và nhất là những năm tới do nước
ta ñã chính thức gia nhập WTO nên nhu cầu nguyên liệu từ cây cói càng trở thành vấn
ñề quan trọng cần ñược các tổ chức, cá nhân và ban ngành các cấp quan tâm thoả ñáng nhằm không ngừng nâng cao năng suất, sản lượng, chất lượng, giảm chi phí sản xuất,
hạ giá thành sản phẩm Trong ñó việc áp dụng phương pháp bón phân hợp lý thông qua con ñường cơ giới hoá (bằng máy bón phân viên nén, sử dụng viên phân dạng gần tròn)
là hết sức cần thiết nhằm ñạt các mục tiêu nói trên
Trong việc bón phân cho lúa hiện nay máy bón phân sử dụng viên phân nén gần tròn thay cho viên phân hình “quả bàng” ñã làm việc tốt, ñáp ứng các yêu cầu nông học, bộ phận cung cấp làm việc tốt không bị kẹt, tắc; không bị tạo vòm trong thùng chứa; viên phân nén di chuyển linh ñộng trong hệ ống dẫn Do vậy, cần ñầu tư nghiên cứu bộ phận bón và lấp nén viên phân cho ruộng cói vì ñặc ñiểm của ruộng cói khác
Trang 19nhiều so với ruộng lúa
Việc tiến hành cơ giới hóa khâu bón phân viên nén bón sâu cho ruộng cói sau khi thu hoạch là rất cần thiết vì ngoài việc tăng hiệu lực phân bón, tiết kiệm phân, nâng cao chất lượng sản phẩm cói, hạ giá thành nguyên liệu ., còn giải quyết tốt vấn ñề căng thẳng lao ñộng ở mùa thu hoạch trong khi diện tích trồng cói trên cả nước là khá lớn
Việc dùng máy bón phân viên sử dụng viên phân dạng gần tròn ngoài những hiệu quả kinh tế trong canh tác cây cói còn góp phần làm thay ñổi nhận thức và phương pháp bón phân không phù hợp của nông dân như hiện nay, chuyển dần sang phương pháp bón phân cân ñối, tích cực ., góp phần xây dựng nền nông nghiệp bền vững Song việc nghiên cứu, thiết kế chế tạo công cụ và máy bón phân cho cói có nhiều khó khăn trở ngại do chưa có máy móc, công cụ, thậm chí chưa có tổ chức hay cá nhân nào ñặt vấn ñề nghiên cứu, thiết kế, chế tạo; người nông dân phải bón phân bằng lao ñộng thủ công nên hiệu suất sử dụng phân bón thấp, chất lượng bón không ñảm bảo yêu cầu, mức ñộ không ñồng ñều cao, không ñảm bảo thời vụ; làm cho chất lượng và năng suất cói thấp, giá thành sản phẩm cao và còn gây ô nhiễm môi trường sống
Vì vậy, việc nghiên cứu thiết kế máy bón phân viên nén phục vụ cho canh tác cây cói là một yêu cầu bức thiết của thực tiễn sản xuất
1.4 TÓM TẮT NỘI DUNG LUẬN VĂN
Nội dung ñề tài gồm 5 phần như sau:
1 Mở ñầu
2 Tổng quan nghiên cứu
3 ðối tượng, ñịa ñiểm, nội dung và phuương pháp nghiên cứu
4 Tính toán thiết kế máy bón phân viên nén
5 Kết luận và kiến nghị
Trang 202 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÂY CÓI
2.1.1 ðặc ñiểm sinh trưởng
Nghề trồng và chế biến cói ñã từ bao ñời nay gắn bó với ñời sống người dân và nông thôn Việt Nam Nhiều làng nghề thủ công có tính truyền thống ñã tạo ra những sản phẩm mỹ nghệ ñặc sắc từ cây cói như những lá chiếu cải, chiếu ñậu màu sắc rực rỡ hay trắng ñều, những chiếc làn cói nhiều kiểu dáng, những chiếc hộp, khay cói, thảm cói, dày dép cói kỹ thuật tinh xảo, mẫu mã ñẹp nổi tiếng trên thị trường trong nước
và thế giới Như thế cây cói ñã và ñang là cây xoá ñói, giảm nghèo của nhiều ñịa phương trên toàn quốc, ñóng vai trò quan trọng trong ñời sống dân sinh và trong nền công nghiệp nước ta
Cói là cây thân thảo sống nhiều năm, ít khi một năm, bao gồm cả cói trồng và cói mọc dại, cói trồng có hai loài chính: (1) cói bông trắng (cyperus tagetiformis roxb), còn gọi
là “búp ñòng khoang cổ” (cyperus tojet touris), thân tương ñối tròn, dáng mọc hơi nghiêng, hoa trắng, cao từ 1,5-2,0 m, sợi chắc, trắng và bền, nắng suất cao từ 54-95 tạ/ha, thời gian sinh trưởng từ 100-120 ngày, ñây là loài có phẩm chất tốt, thích hợp cho xuất khẩu; (2) cói bông nâu (cyperus corymbosus roxb), thân to, hơi vàng, hoa nâu, dáng mọc ñứng, cứng cây, ñẻ yếu, sợi chắc song không trắng, cây cao khoảng 1,4-1,8
m phẩm chất tốt nhưng không ñược người dùng ưa chuộng
Nhiệt ñộ thích hợp cho cói sinh trưởng là 22-28oC, ở nhiệt ñộ thấp cói chậm phát triển, khi nhiệt ñộ thấp hơn 12oC cói ngừng sinh trưởng, nếu cao hơn 35oC ảnh hưởng ñến sự sinh trưởng của cói ñặc biệt là vào giai ñoạn cuối của cói Ở mức nhiệt
ñộ cao cói nhanh xuống bộ (héo dần từ ngọn xuống dưới), ñộ ẩm không khí thích hợp cho sinh trưởng trên dưới 85% Cói cần nhiều ánh sáng ở thời kỳ ñẻ nhánh, sau khi ñâm tiêm và lá mác ñã xoè, cói là cây chịu mặn và cần có ñộ mặn thích hợp ñể ñảm bảo chất lượng sản phẩm, cói thường là cây trồng ñầu tiêu trên vùng ñất mặn, trong kế hoạch cải tạo ñất mặn cói có thể trồng thích nghi trên nhiều loại ñất: ñất mặn, ñất ngọt,
Trang 21chân cao, chân trũng, bãi bồi ven sông, ven biển Song thắch hợp nhất là trồng trên loại ựất thịt phù sa màu mỡ ven biển hoặc là ven sông nước lợ ựộ sâu tầng ựất 40-50 cm trở lên, ựộ chua pH= 6,0-7,0, ựộ mặn 0,1-0,2% và thoát nước tốt
Nước cũng là một nhân tố quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp ựến sinh trưởng và phát triển của cây cói Trong cây cói nước chiếm từ 80-88%, do vậy nước là nhu cầu quan trọng ựể cói sinh trưởng, phát triển Nếu ở thời kỳ ựẻ nhánh cói bị hạn hay úng sẽ
ựẻ kém, ruộng cói bị thưa cây làm năng suất giảm Ở thời kỳ cói vươn cao cói cần nhiều nước, ựặc biệt là sau khi mưa dông cói vươn lên mạnh Vào mùa hanh khô (tháng 1,2,3), ựồng cói thường khô thiếu nước, nếu không ựáp ứng ựủ nhu cầu nước trong thời kỳ này cói xấu hẳn và hầu như ngừng sinh trưởng Nếu gặp ngập úng, nước
tù hãm lâu làm cho cói ựen gốc, phẩm chất kém Nước mặn hay ngọt ựều ảnh hưởng nhất ựịnh ựến chất lượng của cói
Nước có ựộ mặn vừa phải cói mới ựanh cây, nhưng mặn quá cói cũng không phát triển ựược, cói chỉ phát triển tốt ở ựộ mặn từ 0,2% trở xuống, ở ựộ mặn 0,4% các quá trình sinh trưởng phát triển bắt ựầu giảm, từ nồng ựộ 0,8-1,0% cói phát triển rất yếu và khi ựộ mặn >1,0% cây cói bắt ựầu chết Nhưng thân ngầm có sức chịu mặn cao nên vẫn tồn tại do vậy cói bãi nước mặn thường chỉ thu hoạch ựược một vụ vào mùa nước ngọt
Nước ngọt giúp cây cói mọc nhanh, bốc mạnh, nhưng nước ngọt làm cho cói to cây, xốp ruột, cói ựồng thường to hơn cói bãi một phần do ựiều kiện chăm sóc thuận lợi hơn song chủ yếu là do nước ựã bớt mặn hơn (http://dictionary.bach khoa toan thu gov.vn/)
2.1.2.Phân bố
Trên thế giới, cói có nguồn gốc từ vùng đông Nam Á, nhưng hiện nay vùng phân bố ựã ựược mở rộng, phắa Tây tới irac, Ấn độ, phắa Bắc tới Nam Trung Quốc; phắa Nam tới châu Úc và Inựônêsia Cói cũng ựã ựược di nhập vào Braxin ựể làm nguồn nguyên liệu cho ựan lát
Trang 222.1.3 Tình hình sản xuất cói ở Việt Nam
Bảng 2.1 Phân bổ diện tích trồng cói theo các ñịa phương
ðơn vị tính: ha
Năm T
T Tỉnh/Thành phố 2001 2002 2003 2004 2005
Cả nước 9.700 12.300 13.987 12.711 12.859 Miền Bắc 5.600 7.600 8.471 7.790 7.790
Trang 23Bảng 2.2 Sản lượng cói phân theo các ñịa phương
(Nguồn TCTK (2006) http://www.mard.gov.vn/fsiu/ dat trong trot /2001-2005/ cay
cong nghiep hang nam 2001-2005/ nang suat coi 2001-2005 phan theo dia phuong.xls)
Trang 24Bảng 2.3 Năng suất cói phân theo các ñịa phương
Trang 25Cây cói ñã và ñang ñóng vai trò quan trọng trong ñời sống dân sinh và trong công nghiệp nước ta Cói có thể trồng ñược ở tất cả các vùng ñất hoang hoá, ñất bị ngập úng, nhiễm mặn, nhiễm phèn nên tiềm năng mở rộng diện tích rất lớn Tuy nhiên việc phát triển diện tích trồng cói có liên quan chặt chẽ ñến giá cả thị trường Việt Nam
có 26 tỉnh, thành phố ven biển trồng cói Vùng cói tập trung nhất của Việt Nam là các tỉnh ñồng bằng duyên hải Bắc Bộ: Nam ðịnh, Hà Nam, Ninh Bình, Thái Bình, Hải
Dương, Hưng Yên, Hải Phòng và Thanh Hoá, chiếm 50% diện tích cói cả nước với
khoảng hai vạn nông dân sản xuất trên hơn 7 nghìn ha, hàng năm thu 5 vạn tấn cói và trên 7 vạn lao ñộng làm nghề chế biến cói (làm sợi, dệt chiếu, làm các ñồ mĩ nghệ) Chu kì kinh tế của cói ở Miền Bắc Việt Nam: ruộng cói trồng một lần, cho thu hoạch
10 năm trở lên mới trồng lại Nhân giống vô tính Ở Miền Bắc Việt Nam có 2 vụ cói ñồng: vụ chiêm (tháng 2-3), vụ mùa (tháng 7-8); cói bãi trồng tháng 5 ñến tháng 6 khi bắt ñầu có nước lũ, ñộ mặn giảm (http:// www.thanhhoa.gov.vn/c/portal/login) Phần diện tích còn lại phân bố ở một số tỉnh duyên hải Miền Trung và ñồng bằng Nam Bộ Từ khi có cơ chế cho phép người nông dân chuyển ñổi cơ cấu cây trồng thì diện tích sản xuất cói ở một số tỉnh bị thu hẹp nhường chỗ cho một số loại cây ăn quả
và có nơi còn sử dụng vào việc nuôi trồng thuỷ sản Nhưng những năm gần ñây và hiện nay các làng nghề truyền thống ñã ñược khôi phục và ñẩy mạnh sản xuất thì các mặt hàng thủ công mỹ nghệ không những chỉ ñáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước mà còn
mở rộng thị trường ra hầu khắp các châu lục trên thế giới ðiều ñó làm tăng giá trị nông sản, tăng thu nhập, cải thiện ñời sống cho người nông dân Chính vì vậy ñã làm diện tích cây trồng nói chung, trong ñó có cây cói nói riêng ñược khôi phục và gia tăng trong những năm vừa qua
Nghề chế biến các mặt hàng mỹ nghệ từ cây cói phục vụ tiêu dùng trong nước, nhất là ñể xuất khẩu ngày càng phát triển mạnh, ñời sống của người chế biến cói ngày càng ñược nâng lên, trong khi ñó người trồng cói lại thu nhập thấp, ñời sống của một số
bộ phận bấp bênh Có rất nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân chủ yếu vẫn là do giá
Trang 26cói không ổn ñịnh "ðược mùa mất giá, ñược giá mất mùa", khi thì bị tư thương ép giá…Trong khi ñó cơ sở vật chất, quy mô vốn ñầu tư nhỏ, năng lực và trình ñộ quản lý còn yếu, thiếu ñầu tư vào các giải pháp khoa học kỹ thuật: thuỷ lợi hoá, cơ giới hoá, ñiện khí hoá và sinh học hoá phục vụ canh tác cói hầu như rất ít hoặc chưa có Người dân chủ yếu dùng lao ñộng thủ công, trông chờ vào tự nhiên là chính, ñầu tư phân bón
ít, bón phân không hợp lý, không ñúng cách…, dẫn ñến giá thành sản phẩm cao Chính
vì vậy diện tích trồng cói giảm, tuy nhiên trong vài năm trở lại ñây có tăng trở lại song sản lượng và năng suất cói bình quân trên cả nước lại giảm sút
Tuy nhiên theo ông Hồ Công Nguyên, Trưởng phòng nông nghiệp huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long cho biết, bằng phương pháp thâm canh như hiện nay, bình quân chi phí ñầu tư cả năm cho cây cói là 32,4 triệu ñồng/ha, năng suất thu hoạch 24 tấn/ha/ năm, thu nhập từ 80 ñến 105 triệu ñồng/ha, trừ chi phí, nông dân còn lời trên 70 triệu ñồng, nếu sơ chế thành lõi cói cho giá trị lên ñến 113 triệu ñồng/ha Hiệu quả từ cây cói
cho lợi nhuận cao gấp 6-7 lần so với trồng lúa trên cùng một ñơn vị diện tích (Nguồn: Thông tấn xã Việt Nam 15/09/2006)
Nhiều cuộc ñiều tra tổng kết về vai trò của phân bón với cây trồng ở khắp nơi trên thế giới ñều cho thấy trong số các biện pháp kỹ thuật trồng trọt liên hoàn, bón phân luôn là biện pháp kỹ thuật có ảnh hưởng lớn nhất, quyết ñịnh nhất ñối với năng suất và sản lượng cây trồng Bón phân cân ñối cho cây trồng không chỉ tăng năng suất và phẩm chất nông sản, ổn ñịnh và tăng ñộ phì nhiêu của ñất, tăng thu nhập cho người sản xuất
mà còn là biện pháp hạn chế sâu bệnh hại cây trồng Bón phân sâu theo ñiểm ở dạng viên là một phương pháp bón phân hợp lý mang lại hiệu quả sử dụng phân bón cao góp phần hạ giá thành sản phẩm, thúc ñẩy sản xuất phát triển
2.1.4 Sự sinh trưởng và phát triển của cây cói
Thời gian sinh trưởng của cây cói (từ thân khí sinh phát triển ñến khi ra hoa, xuống bộ, bị chết) vòng ñời chỉ trong phạm vi 3-4 tháng, sang tuổi thọ phần thân ngầm lại kéo dài ñến vài chục năm Sự sinh trưởng, phát triển và chất lượng cói thay ñổi tuỳ
Trang 27theo ñiều kiện canh tác, tính chất ñất, ñộ phì của ñất
ðất màu mỡ thì thân ngầm to, dài, thân khí sinh trưởng to và thấp Nếu ñất có
ñộ phì cao và trồng dày thì thân ngầm phát triển, ñốt ngắn, cho thân khí sinh nhỏ và dài Kỹ thuật canh tác tốt có thể ñiều khiển cho thân khí sinh ñanh, tròn, tăng phẩm chất của cây cói Trồng cói vùng nước lợ cói dài và ñanh, nước ngọt làm cho cói cọng
to và dài Nếu bãi trồng cói thiếu nước thì cói khó ñâm tiêm nhưng mực nước cao lại ñâm tiêm kém Các giai ñoạn sinh trưởng và phát triển của cây cói bao gồm: giai ñoạn vươn dài của thân ngầm, giai ñoạn ñâm tiêm và quy luật ñẻ nhánh và giai ñoạn vươn cao
2.1.4.1 Giai ñoạn vươn dài của thân ngầm
Mỗi thân ngầm thường có 4 mầm trong ñó mầm 1 và 2 luôn luôn ở trạng thái hoạt ñộng, mầm 3 và 4 ở trạng thái ngủ ñược lá bẹ và lá vảy bảo vệ Khi gặp hoàn cảnh bất lợi như ngập nước, nồng ñộ muối cao thì mầm 1 và 2 bị ngập và chết còn mầm 3 và
4 thì an toàn, khi gặp ñiều kiện thuận lợi sẽ tiếp tục phát triển Sự vươn dài hay ngắn của thân ngầm là do miền sinh trưởng nằm phía dưới mỗi lóng ñược bảo vệ bởi lá bẹ hay lá vảy quyết ñịnh Lóng càng vươn dài thân ngầm càng dài Các yếu tố mật ñộ, ñất ñai, mực nước ñều ảnh hưởng trực tiếp ñến sự phát triển của thân ngầm Nếu ñất màu
mỡ, mật ñộ thưa, mực nước nông thì thân ngầm dài có khi tới 20 cm Ngược lại nếu mật ñộ dày, mực nước cao thì thân ngầm chỉ khoảng 1-2 cm
Thân ngầm sinh trưởng thích hợp nhất ở ñộ sâu 3-5 cm, ở ñộ sâu 15 cm thân ngầm sinh trưởng rất kém, chậm và gầy, có xu hướng vươn dài lên trên mặt ñất Trong thời gian 4 tháng ở mực nước nông thân ngầm phát triển dài tới 80-100 cm Ở ñiều kiện mực nước sâu cũng trong thời gian như vậy, thân ngầm chỉ dài khoảng 10-15 cm
Ở vùng có mực nước sâu, sau khi cắt, ruộng cói bị ngập nước lâu ngày làm cho các mầm 1 và 2 bị chết, nếu rút cạn nước cói mọc lên toàn cọng bé, ñó là do các mầm 3 và
4 phát triển thành Nồng ñộ muối khác nhau cũng ảnh hưởng ñến sự phát triển của mầm cói Nồng ñộ muối 0,50-0,80 % các mầm 1 và 2 bị ức chế dẫn ñến huỷ diệt Ở
Trang 28nồng ñộ 1,5-2,0 % mầm 1 và mầm 2 bị chết sau 1 tuần còn mầm 3 và mầm 4 sau ba tháng cũng bị chết
Trong sản xuất yêu cầu thân ngầm to ñể tích luỹ chất dinh dưỡng ñược nhiều về sau sẽ cho cói dài và dẻo, chất lượng tốt Còn ñộ vươn dài của lóng cần ngắn, càng ngắn sẽ cho nhiều tia mọc lên, thân khí sinh sẽ bé và dài Muốn vậy khi cấy mống cần phải ñảm bảo ñộ sâu hợp lý từ 3-4 cm, mức nước 2-3 cm, ñất có ñộ phì cao và khi nhổ mống cói cần bảo vệ mầm 1 và 2
2.1.4.2 Giai ñoạn ñâm tiêm và quy luật ñẻ nhánh
Thời kỳ ñâm tiêm của cói chiếm một thời gian dài trong quá trình sinh trưởng và phát triển Số lượng và chất lượng tiêm cói quyết ñịnh năng suất và phẩm chất cói Các biện pháp canh tác có ảnh hưởng quan trọng ñến sự ñâm tiêm của cói
Từ mầm 1 ở thân ngầm sẽ mọc ra 2 nhánh, hai nhánh mọc ra từ một thân mầm
sẽ tạo thành hai ngọn, khi các nhánh ñó nhô lên khỏi mặt ñất các lá mác vẫn chưa xoè
ra ñược gọi là sự ñâm tiêm, cói ñâm tiêm liên tục, nhưng cũng có ñợt cói ra rộ, thường
từ 23-25 ngày có một ñợt ñâm tiêm Trong ñiều kiện thời tiết thuận lợi (cói mùa) cứ
8-12 ngày lại có một ñợt ñâm tiêm Như vậy cói ñâm tiêm suốt 8-12 tháng trong năm Nhưng số lượng tiêm ra nhiều ít, tỷ lệ tiêm hữu hiệu cao hay thấp còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố: nhiệt ñộ thích hợp cho sự ñâm tiêm là 22-28oC, khi nhiệt ñộ nhỏ hơn
12oC tiêm hầu như không phát triển Những lứa tiêm ra vào tháng giêng, tháng hai chiều cao cũng chỉ phát triển tới 60-70 cm thì lụi (loại này chỉ dùng làm bổi) và dễ bị nấm vàng (phytoptora) Lứa tiêm hữu hiệu thường tập trung vào các ñợt cuối tháng ba ñầu tháng tư (cói chiêm) và vào tháng 7, tháng 8 (cói mùa) Lứa tiêm tháng 11 và tháng
12 nếu ñất ñai màu mỡ chăm sóc tốt sang tháng hai có thể thu ñược ðộ pH thích hợp
ñể cho cói ñâm tiêm khoẻ là 6,0-7,0 ñộ mặn 0,15% (Cl-) mực nước càng sâu thì sự ñâm tiêm càng bị hạn chế, càng chậm Nếu ruộng luôn ñủ ẩm thì sự ñâm tiêm càng cao, cói phát triển tốt nhất là cói ráo chân hoặc là 4 ngày ráo chân 1 ngày mực nước 5 cm cói sẽ hoàn thành ñâm tiêm sớm, số tiêm nhiều hơn Cấy mống càng sâu ngày ñâm
Trang 29tiêm xong càng lâu, bón phân NPK theo tỷ lệ thích hợp thì cói ñâm tiêm nhanh và khoẻ
Vụ cói chiêm tiêm hữu hiệu cao và ra rộ vào cuối tháng ba ñầu tháng tư là lúc nhiệt ñộ tăng dần và bắt ñầu có mưa tiết xuân phân nên cần bón phân trước thời kỳ ñâm tiêm mới có thể ñạt tỷ lệ tiêm hữu hiệu cao ðối với vụ mùa, tiêm hữu hiệu cao và
ra rộ vào cuối tháng bảy ñầu tháng tám do vậy cần bón phân trước tiết lập thu (7-8) mới có thể ñảm bảo tỷ lệ tiêm hữu hiệu cao
2.1.4.3.Giai ñoạn vươn cao
Giai ñoạn này bắt ñầu khi lá mác vượt quá 10 cm khỏi lá bẹ ðây là thời kỳ phát huy tác dụng tổng hợp của các yếu tố: Phân bón, nước, nhiệt ñộ và ánh sáng ñối với cây cói Trong năm, cói vươn cao mạnh nhất vào 2 thời kỳ: Thời kỳ ñầu vào khoảng trung tuần tháng tư, có mưa, nhiệt ñộ và ñộ ẩm tăng dần Thời kỳ thứ hai vào khoảng
hạ tuần tháng tám Trong khoảng thời gian 10 ngày từ 10-20 tháng tư cây cói tăng trưởng nhanh, vươn tới 40 cm sau ñó cói vẫn tiếp tục vươn cao nhưng giảm dần Các yếu tố nhiệt ñộ, lượng mưa, ñộ ẩm không khí, ánh sáng có ảnh hưởng trực tiếp ñến khả năng vươn dài của cói Trồng quá dày, cây cói dài, nhỏ cây, dễ ñổ Trồng với khoảng cách hợp lý ñảm bảo số tiêm/m2 vừa cho cói dài, phẩm chất tốt, chống lốp ñổ
2.2 CÁC BIỆN PHÁP CANH TÁC ðỐI VỚI CÂY CÓI
2.2.1 Giống cói
Trồng cói bằng thân ngầm là phương pháp duy nhất ñang áp dụng hiện nay, phải
sử dụng “mống cói” (tức thân ngầm có mang một ñoạn thân) ở những ruộng cói cũ ñể làm giống Chọn mống cói già có thân ngầm to khoẻ, bánh tẻ, dày mắt trên các ruộng cói ñã trồng ñược ít nhất 3 năm trở lên Muốn có mống cói già, sau khi cắt cói vụ mùa, tiếp tục chăm sóc ñến tháng 12, tháng giêng cói phát triển mạnh lúc này tiến hành nhổ mống rất tốt Nếu lấy cói bãi vào tháng 12 trồng trong thời gian này thì cói lên rất nhanh, phát triển tốt hơn mống cói ñồng Mống cói già ít bị bệnh nấm vàng, nên chọn mống già và chọn ở chỗ khô ráo, khi trồng mau bén chân, mau ñâm tiêm, phát triển tốt
Trang 30hơn là chọn mống ở nơi nước sâu, nước tù hãm Trước ñây thời gian tiến hành ñảo cói
có thể lên ñến 8-10 năm, nay bị rút ngắn xuống còn 4-6 năm do tình hình sâu bệnh hại ngày một gia tăng, mặt khác việc tuyển chọn giống cói ñể trồng do người dân tiến hành một cách tự phát chứ chưa có qui trình hướng dẫn cụ thể, năng suất và chất lượng cói không cao
2.2.2 Làm ñất trồng cói
Cói là cây phàm ăn, thích hợp ñược trên nhiều loại ñất mặn ngoài bãi hoặc trong ñồng, chân ñất ngọt, chân cao hay chân trũng, cói trồng 1 lần cho thu hoạch trong nhiều năm (mỗi năm 1-2 vụ) Do vậy, muốn cói ñạt năng suất cao, phẩm chất tốt cần chọn ñất tốt, màu mỡ ñể trồng cói
Làm ñất mới ñể trồng cói cần cày sâu 18-20 cm, tranh thủ bừa vỡ cho nước vào xăm xắp ñể cỏ mọc lên sau ñó bừa nhuyễn và cho ngập nước 7-10 ngày sau lại tiếp tục cày lật, lần này chỉ cày 13-15 cm, bừa vỡ lại cho nhừ cỏ, sau ñó cho ngập nước 10-15
cm trong khoảng 1 tuần sau ñó rút bớt nước ñể bừa cho phẳng mặt ruộng Tạo ruộng thành hình mu rùa ñể thoát nước, ráo chân, sau này cói sẽ trắng gốc, ñanh cây
ðối với những ruộng cói cũ, từ 4-6 năm tuổi hoặc lâu hơn, khi năng suất ñã giảm thấp người ta phải tiến hành ñảo cói Tuỳ theo ñiều kiện mà người dân có thể tiến hành các biện pháp làm ñất cho phù hợp như sau:
- ðảo cói: sử dụng một dụng cụ bằng tay gọi là “móng” ñể ñào ñất thành từng tảng có kích thước 20 x 20 cm và sâu 25-30 cm Sau ñó lật ngửa tảng ñất lên và cói ñược lật úp xuống phía dưới Biện pháp này tốn rất nhiều công lao ñộng, mặt ruộng sau khi tiến hành ñảo cói xong không ñược bằng phẳng gây ñọng nước ảnh hưởng ñến sinh trưởng và phát triển của cói sau này
- Lật nghiêng nền ñất trên ruộng cói: người dân tiến hành làm sạch mặt ruộng cói cũ, ñể nguyên gốc cói và tiến hành ñào ñất như trường hợp “ñảo cói”, sau ñó lật nghiêng tảng ñất 90o theo cùng một chiều và ñảm bảo các mặt nghiêng có phần gốc cói
Trang 31tạo thành hàng tưng tự như trồng cói So với phương pháp “ñảo cói” thì phương pháp này khó ñảm bảo mật ñộ cói theo yêu cầu, thời gian khai thác ruộng cói bị rút ngắn lại ñáng kể nhưng không tốn công chọn giống và trồng cói nên ñược những hộ nghèo và có ít lao ñộng áp dụng
- Một biện pháp thường áp dụng ñối với những vùng ñất cói có chân ruộng cao hơn so với mực nước biển, không thuận lợi cho việc tưới nước là ñào ñất chuyển ñi nơi khác ñể hạ thấp mặt bằng sau ñó mới tiến hành làm sạch ruộng ñể trồng cói ðây là cách làm tốn nhiều chi phí nhất nhưng người dân vẫn phải tiến hành làm vì chưa có giải pháp nào thay thế
- Ngoài ra một số ñịa phương còn phá cói cũ ñể trồng mới bằng biện pháp cày phá 2 lần, lần ñầu với ñộ sâu 4-5 cm ñể phơi hoặc ngâm ngập nước sau 2-3 tuần, cày lần hai sâu 10-15 cm rồi bừa nhuyễn, thu gom sạch gốc cói cũ sau ñó làm phẳng, tạo rãnh thoát nước xung quanh ruộng trước khi trồng cói mới Tóm lại việc ñảo cói hiện nay hoàn toàn dựa vào kinh nghiệm của người dân mà chưa có một cơ
sở khoa học nào ñể thực hiện Do vậy, các vấn ñề như yêu cầu kỹ thuật khâu làm ñất, thời vụ ñảo cói , trong thời gian tới cần ñược ñiều tra, ñánh giá, tổng kết và nghiên cứu
2.2.3 Tưới tiêu
Tục ngữ có câu: “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” do ñó tưới tiêu hợp lý là biện pháp quan trọng góp phần tăng hiệu quả sử dụng của phân bón, ñồng thời quyết ñịnh năng suất, chất lượng nông sản Theo Klaus Rohland-giám ñốc quốc gia của ngân hàng thế giới: 16 % diện tích cây trồng không có hệ thống tưới tiêu Trong sản xuất nông nghiệp nói chung, các loại cây trồng ñều cần có nước ñể sinh trưởng và phát triển, cây cói cũng không nằm ngoài ñặc ñiểm ñó Thậm chí cói rất cần nước, thiếu nước cói mọc kém, năng suất thấp Ngược lại, úng nước ảnh hưởng tới năng suất, phẩm chất cói Hoạt ñộng quản lý nước-tưới nước khi trời hạn, tháo rút nước khi trời mưa tuy không mất nhiều công sức nhưng phải tiến hành thường
Trang 32xuyên trong suốt quá trình cói sinh trưởng phát triển
Trong thời kỳ cói vươn cao cần giữ mực nước nông 2-3 cm Trong thời kỳ này cói rất cần nước ñể tăng trưởng về chiều cao và ñường kính thân Song nếu mực nước cao và thường xuyên ngập làm cho gốc cói nở to, mọng nước và ñen gốc, phẩm chất xấu do cói xuống bộ nhanh Tuy nhiên nếu chủ ñộng tưới nước kịp thời, ñộ mặn từ 0,08-0,25% thì cói sinh trưởng tốt nếu tưới nước có ñộ mặn nhỏ hơn 0,03% cói sinh trưởng rất tốt, cây cói to, dài, xanh song phẩm chất kém, giữ ñộ ẩm ở ruộng cói, chăm bón sớm và tận dụng nước mưa ñể tưới cũng tạo ñiều kiện ñể tăng năng suất cho cói Thời kỳ thu hoạch cần rút nước ra khỏi ruộng trước 10-15 ngày, nếu chưa thu hoạch nên ñể mực nước 3-5 cm ñể cho cói chậm xuống bộ
Bảng 2.4 Thí nghiệm về mực nước ở ruộng cói mới cấy
TT thí nghiệm Công thức bụi ñâm tiêm (ngày) Thời gian 100% số số tiêm / bụi Bình quân
(Nguồn: Uỷ ban nhân dân huyện Nga Sơn, Trường ðại học Nông nghiệp I, Tổ chức CODESPA, Hội thảo ñánh giá kết quả thử nghiệm phân viên nén bón sâu cho cói, ngày 09 tháng 08 năm 2007, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hoá)
Bảng 2.5 Ảnh hưởng của mức nước tưới ñến ñẻ nhánh của cây cói
(Nguồn: Anh Hương(1986), Cây cói, Nhà xuất bản Hải Phòng)
2.2.4 Phòng trừ sâu bệnh cho cói
Sâu, bệnh hại cói không chỉ làm giảm năng suất và chất lượng cói, tăng chi phí
Trang 33ñầu tư sản xuất của người dân mà nó còn gây ra những hậu quả nghiêm trọng về môi trường khi các loại thuốc trừ sâu ñược sử dụng
Cói là cây trồng ñặc trưng chủ yếu của vùng ñồng bằng ven biển, nơi mà các loài cây trồng như lúa, ngô, ñậu , ít có ñiều kiện sinh trưởng và phát triển Do vậy tính
ña dạng sinh học trên ñồng ruộng ở ñây là rất thấp Hơn nữa trong chu kỳ sản xuất cói luôn luôn tồn tại trên ñồng ruộng, vì vậy mà nguy cơ bùng phát sâu bệnh và dịch hại là rất lớn và khó kiểm soát kết quả ñiều tra ban ñầu về tình hình sâu bệnh cho thấy: Sâu ñục thân cói gây hại trong cả vụ cói chiêm và cói mùa, mức ñộ gây hại nặng nhưng trên diện hẹp Sâu tấn công vào phần non của cây, làm cho phần thân phía trên mặt ñất của cây cói bị chết Sâu ñục thân làm cho chất lượng cói giảm, năng suất cói giảm trung bình 5-7 % với mức ñộ gây hại trung bình
Vòi voi (thuộc bộ cánh cứng): sâu ăn thân ngầm của cói, làm cho cói bị chết thành chòm, khả năng ñâm tiêm, ñẻ nhánh giảm mạnh, năng suất cói giảm khoảng 5-7% và trên diện rộng Mặt khác loài gây hại này lại sống trong ñất nên rất khó tiêu diệt Hiện tại người dân thường dùng thuốc bột ñể rắc lên ñất cói ñể diệt trừ, hiệu quả có thể ñạt 70-80%
Sâu róm hại cói: ñối tượng này ăn lá và cắn phá thân cói làm giảm năng suất cói khoảng 5%, cói bị giòn và dễ gãy khi chẻ Ngoài ra nó còn gây ảnh hưởng ñến người thu hoạch cói do bị ngứa
Do sản xuất ñơn lẻ nên “mạnh ai nấy làm” ñã làm hạn chế hiệu quả của việc phòng trừ sâu bệnh, ñặc biệt là những bệnh dịch có khả năng lây lan trên diện rộng Theo kết quả ñiều tra của trường ðại học Nông nghiệp I, chi phí ñầu tư riêng cho tiền thuốc bảo vệ thực vật mỗi sào cói trung bình một vụ hết trung bình khoảng 57.600 ñồng ðây là một chi phí không nhỏ ñối với người dân ñặc biệt là những người dân nghèo trồng cói Bởi vậy vấn ñề sâu bệnh hại trong nông nghiệp nói chung và sâu, bệnh hại cói nói riêng cần ñược quan tâm một cách ñúng mức nhằm làm tăng năng suất, chất lượng và sản lượng cói, giảm thiểu ô nhiễm môi trường sống
Trang 342.2.5 Phân bón cho cói
2.2.5.1 Khái niệm về phân bón
Phân bón là các chất có chứa một hay nhiều chất dinh dưỡng khoáng cần thiết cho cây trồng, ñược bón vào ñất hay hoà vào nước phun trên lá, xử lý hạt giống, rễ và cây con, có tác dụng thúc ñẩy sự sinh trưởng, phát triển và cho năng suất của cây trồng Các loại phân bón phổ biến ñược chia thành 2 nhóm lớn: phân hữu cơ và phân hoá học; ngoài ra trong thực tế còn có một số phân khác như phân vi sinh vật và phân sinh hoá với số lượng không lớn
2.2.5.2 Vai trò của phân bón
Ngày nay khó có thể hình dung một nền nông nghiệp không có phân bón Sau hàng ngàn năm sử dụng phân bón, có thể tổng kết những lợi ích của việc bón phân hợp
lý trong trồng trọt như sau: Tăng năng suất và phẩm chất nông sản, ổn ñịnh và tăng ñộ phì nhiêu của ñất, tăng thu nhập cho người sản xuất
Bảng 2.6 Các nguyên nhân làm giảm hiệu lực của phân bón
(Phạm Xuân Vượng cùng nhóm tác giả (2007), Giáo trình An toàn Lao ñộng, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội)
Trang 35Trong mối quan hệ với các biện pháp kỹ thuật trồng trọt liên hoàn, sử dụng phân bón hợp lý là biện pháp kỹ thuật có ảnh hưởng lớn tới hiệu lực của các biện pháp kỹ thuật khác Bón phân cân ñối cho cây trồng không chỉ ñạt năng suất và hiệu quả sản xuất cao mà còn là biện pháp hạn chế sâu bệnh hại cây trồng Thực tế cho thấy không ít trường hợp sử dụng phân bón còn có thêm tác dụng trực tiếp là hoá chất bảo vệ thực vật Ngược lại các biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến cũng tạo ñiều kiện ñể phân bón phát huy hết hiệu quả, việc thực hiện không tốt các biện pháp kỹ thuật canh tác cũng có ảnh hưởng xấu ñến hiệu lực của phân bón Theo tổng kết của FAO có 10 nguyên nhân làm giảm hiệu lực phân bón, ñồng thời cũng là nguyên nhân ñể phân bón
có thể gây ảnh hưởng xấu tới môi trường
Bón phân cân ñối và hợp lý không chỉ làm tăng năng suất cây trồng mà còn làm tăng chất lượng sản phẩm, cụ thể làm tăng hàm lượng chất khoáng, protein, ñường và vitamin , cho sản phẩm ðiều này ñược thể hiện rõ trong nhiều công trình nghiên cứu
và thực tiễn sản xuất ở khắp nơi trên thế giới Tuy nhiên việc cung cấp thiếu chất dinh dưỡng cho cây, bón phân không cân ñối hoặc bón quá nhu cầu của cây ñều làm giảm chất lượng nông sản (Phạm Xuân Vượng cùng nhóm tác giả (2007), Giáo trình An toàn Lao ñộng, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội)
Trong mấy thập kỷ qua năng suất cây trồng ñã không ngừng tăng lên, ở ñây ngoài vai trò của giống mới còn có tác dụng quyết ñịnh của phân bón Tiềm năng năng suất của giống chỉ có thể ñược phát huy và cho năng suất cao khi ñược bón phân ñầy ñủ và hợp lý ðối với nền nông nghiệp thế giới, việc ra ñời của phân hoá học ñã làm năng suất cây trồng ở các nước Tây Âu tăng 50% so với năng suất ñồng ruộng luân canh cây
họ ñậu, ñến thời kỳ 1970-1985 năng suất lại tăng gấp ñôi so với năng suất ñồng ruộng trước chiến tranh thế giới thứ nhất Ấn ñộ là nước trong những năm 50 hầu như không dùng phân bón, sau ñó lượng phân bón ñược tiêu thụ tăng lên ñều ñặn qua các năm và ñạt 7,8 triêu tấn vào năm 1983-1984, nhờ ñó mà sản lượng ngũ cốc tăng từ 50 triệu tấn lên ñến 140 triệu tấn chỉ trong vòng 30 năm, chấm dứt nạn ñói triền miên cho Ấn ðộ
Trang 36(Vũ Hữu Yêm) Trồng trọt mà không bón phân sẽ làm cho ñất suy thoái ñi nhanh chóng vì vậy bản thân việc bón phân cho cây trồng ñã là một biện pháp làm ổn ñịnh môi trường ñất Bón phân còn có thể làm môi trường ñất tốt hơn, cân ñối hơn, ñặc biệt bón phân hữu cơ và vôi là biện pháp cải tạo môi trường ñất rất hiệu quả
Nhưng trong ñiều kiện bón phân thích hợp thì ñất có ñộ phì tự nhiên ban ñầu cao
có thể tăng thêm một phần so với trước còn ñất có ñộ phì tự nhiên ban ñầu thấp lại tăng rất mạnh và có khả năng ñưa năng suất xấp xỉ ñất có ñộ phì tự nhiên ban ñầu cao Tuy nhiên bón phân không hợp lý, không ñúng kỹ thuật (kể cả phân hoá học và phân hữu cơ) sẽ làm cho môi trường xấu ñi do các loại phân bón có thể tạo ra các chất gây ô nhiễm môi trường, ví dụ như: Việc bón thừa ñạm làm giảm tỷ lệ Cu trong chất khô của cỏ có thể gây vô sinh cho bò sinh sản Bón quá thiếu hoặc quá thừa ñạm làm cho tỷ lệ Riamflavin (vitaminB2) trong rau giảm, ñây là chất có khả năng chống lại các tác ñộng gây ung thư cho người của 4ñimethylamino-azobenzen Bón thừa Kali làm giảm lượng Mg có trong cỏ làm thức ăn gia súc, làm ñộng vật nhai lại dễ mắc bệnh co
cơ ñồng cỏ, mặt khác phân bón còn là nguồn gây nhiễm bẩn nitrat, phú dưỡng nguồn nước, hiệu ứng nhà kính, tích luỹ kim loại nặng trong ñất và nông sản… và như vậy từ
1 yếu tố từng là cứu tinh cho nhân loại, phân bón ñã và ñang bị coi như kẻ thù của môi trường Theo Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn, lượng phân bón chúng ta ñang dùng hiện nay còn ở mức thấp (dưới 200 kg NPK/ha) so với các nước như Hà Lan 758 kg/ha, Nhật Bản 430 kg/ha, Hàn Quốc 467 kg/ha và Trung Quốc 390 kg/ha Trong các loại phân ñược sử dụng thì phân ñạm dễ gây tác ñộng xấu tới môi trường hơn cả Các nghiên cứu nước ngoài ở vùng ôn ñới (sử dụng ñồng vị ñánh dấu) cho thấy
hệ số sử dụng chất dinh dưỡng của phân bón ñối với ñạm là 50-55 %, lân 40-50 %, kali 50-60 % (Xmirnop,1984) Còn ở Việt Nam các hệ số này còn thấp hơn, ví dụ ñối với lúa thì ñạm là 40 %, lân là 22 % và kali là 45 % (Trần Thúc Sơn,1998) Như vậy có hơn 50 % lượng ñạm, 50 % lượng kali và hơn 80 % lượng lân tồn dư trong ñất tiếp tục biến ñổi và trực tiếp hoặc gián tiếp gây ô nhiễm môi trường nói chung và môi trường
Trang 37ñất nói riêng Sự biến ñổi của phân ñạm khi bón vào ñất theo các hướng khác nhau, kết hợp với tuần hoàn của nó trong tự nhiên sẽ giải thích bản chất gây ô nhiễm của việc bón phân không hợp lý Ở Việt Nam, cho ñến nay chưa có nghiên cứu chính xác ñể khẳng ñịnh vấn ñề này
2.2.5.3 Bón phân cho cói
Lượng phân bón hoá học tiêu thụ hàng năm ở nước ta chủ yếu ñược sử dụng cho cây lúa, rau màu, cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả Riêng ñối với cây cói trong những năm gần ñây, người dân mới bắt ñầu áp dụng phân hoá học Tuy nhiên hiện chưa có loại phân chuyên dụng cho cói, người dân chỉ sử dụng các loại phân sẵn có trên thị trường, chủ yếu là phân ñạm Tuỳ theo thời vụ mà người dân áp dụng các mức bón và số lần bón phân khác nhau Phương pháp bón phân hoá học hiện ñang ñược áp dụng là phương pháp bón vãi truyền thống Với phương pháp này, việc bón phân phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thời tiết, chế ñộ tưới tiêu Thông thường người dân thường bón phân vào thời ñiểm trước cơn mưa ñối với cói không chủ ñộng ñược nước tưới hoặc bón vào buổi chiều mát ñối với những ruộng cói ñủ ẩm Gần 40% hộ dân bón phân ñạm với lượng bón khoảng 40 kg/sào và khoảng 30% hộ dân sử dụng phân NPK với lượng bón tới 50kg/sào cho cả vụ chiêm và vụ mùa
Bảng 2.7 Mức ñộ và số lần bón phân cho cói
Hoạt ñộng bón phân Vụ chiêm Vụ mùa cói 1 vụ/năm
1 Lượng và loại phân
bón mỗi loại ðạm urê: 40kg/sào hoặc phân NPK 50
kg/sào
ðạm urê: 35kg/sào hoặc phân NPK 40 kg/sào
ðạm urê: 30kg/sào hoặc phân NPK 40 kg/sào
Trang 38Do ñặc trưng của kỹ thuật tưới cho cói là “ tưới tràn-tháo kiệt”, nên biện pháp bón phân vãi dẫn ñến hiện tượng rửa trôi và bốc hơi Hơn nữa, do trồng cói liên tục trong nhiều năm, ruộng cói chỉ ñược làm ñất 1 lần khi trồng mới, bộ rễ cói phát triển mạnh, các lớp mầm cói mọc liên tục và có xu hướng cao dần lên ñã làm cho lớp ñất mặt bị chai cứng làm cho khả năng giữ phân của ñất giảm dần theo thời gian canh tác
Bảng 2.8 Ảnh hưởng của liều lượng ñạm và thời gian bón thúc ñến năng suất cói
Năng suất cói (kg/sào) Liều lượng
(Nguồn:Anh Hương (1986), Cây cói, Nhà xuất bản Hải Phòng)
Theo Anh Hương (1986): bón lót cho cói nhằm mục ñích nuôi dưỡng thân ngầm, nơi chứa chất dự trữ ñể nuôi thân khí sinh, là sản phẩm thu hoạch chủ yếu của ñồng cói Bón lót chủ yếu dùng phân chuồng và các loại phân hữu cơ khác ñã ủ hoai mục ñể diệt mầm cỏ dại và sâu bệnh Nếu chỉ bón lót ñạm, năng suất và hiệu quả kinh tế cao hơn so với ñối chứng, cói nhanh bốc, ñẻ nhiều, cây cao, tỷ lệ cói chẻ tăng, cói lâu xuống bộ Sau bón ñạm 7-10 ngày cây chuyển màu xanh rõ rệt, lá ngọn mọc dài ra, cây
có hướng trẻ lại Tuy nhiên bón càng nhiều ñạm cây càng mập, to và xanh xốp làm cho
Trang 39cói lâu khô, khó chẻ, nếu bón nhiều có thể làm cho cói bị lốp ñổ Bón lót lân cho cói, giai ñoạn ñầu cói phát triển nhanh sau chậm dần, cây cứng, ñanh dảnh, nhỏ cây, láng ñẹp nhưng không dài, dễ chế biến, phơi mau khô, tỷ lệ cói chẻ tăng Các công thức bón lót lân ñều làm cho cói chín sớm: bón lót 15 kg/sào, chín sớm 2 tuần, 10kg/sào làm cho cói chín sớm 5-7 ngày Như vậy bón lót lân cho cói có khả năng ñiều chỉnh ñược thời
vụ thu hoạch, giảm bớt ñược sự căng thẳng về lao ñộng mùa vụ, thuận lợi cho việc phơi cói và nhiều yếu tố có lợi khác
Ngoài ra những nguyên tố dinh dưỡng vi lượng như nguyên tố Cu, Fe, Mn, Mo,
B, Zn do cây có nhu cầu rất ít, nhưng không thể thiếu vì nó có ảnh hưởng nhiều ñến năng suất, phẩm chất cây trồng do vậy cũng cần bón cho cây thông qua các loại phân vi lượng
Bên cạnh ñó phân bón cũng có nhiều khả năng tạo các chất ñộc hại với môi
trường như các hợp chất ñạm hữu cơ, hợp chất hydrat cacbon…, dùng làm phân bón
trong quá trình phân giải chuyển hoá thành các chất khác nhau như (NH4)2CO3, NO3-, NH3, CH4 và CO2…Những chất này dễ dàng bị phân huỷ ñể giải phóng ở thể khí tạo mùi khai bay vào khí quyển, một số chất bị cuốn theo nước… Kết quả, vừa làm giảm hiệu lực của phân bón vừa có thể gây hại tới môi trường Vì vậy, khi bón vãi phân trực tiếp trên mặt ñất (không vùi phân vào ñất sau khi bón) có thể làm mất nhiều ñạm amôn, làm ô nhiễm môi trường (làm chua ñất), tích luỹ cadimi trong ñất và nông sản, tích luỹ nitrat trong nông sản, nước uống; gây ra phú dưỡng nguồn nước , nếu không ñược kiểm soát về số lượng, kỹ thật và phương pháp bón phân
Các loại phân ñạm ñều là những loại phân rất linh ñộng, dễ bị mất trong môi trường kiềm, khô hạn và nhiệt ñộ cao, bị rửa trôi hay bay hơi gây ảnh hưởng xấu tới hiệu quả của phân bón và môi trường Vì vậy, tránh bón vãi các loại phân ñạm trực tiếp trên mặt ñất Khi bón các phân ñạm amôn và urê cho lúa, cói cần bón sớm hơn, bón sâu vào tầng khử của ñất trồng lúa, cói ñể cây sử dụng thuận lợi, sau bón các loại phân này cần tìm cách vùi phân vào ñất
Trang 40Ngoài ra quá trình phản ñạm còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố: ñộ pH và nhiệt
ñộ, phản ñạm xảy ra mạnh trong ñất chua, nhiệt ñộ 60-65oC Vì vậy, do quá trình phản ñạm hoá mà ở ñất trồng cây trồng cạn thoát nước kém, bón nhiều phân amôn và phân urê thì việc mất ñạm ñạt 20-40% Còn ở ñất ngập nước như ñất lúa, cói quá trình phản ñạm có thể mất nhiều ñạm nếu bón không ñúng cách Bón phân ñạm amôn và urê vào tầng oxy hoá ñất lúa có thể làm mất 60-70% ñạm dưới cả 3 dạng NH3, N2O và N2 Ngoài ra do bón phân không cân ñối còn làm giảm hiệu quả của việc ñầu tư phân bón, làm cho ñất kiệt quệ và mất cân ñối dinh dưỡng, ñồng thời tạo ra hiện tượng dưỡng phú cục bộ về ñạm và lân trong nguồn nước mặc dù lượng tuyệt ñối bón vào ñất chưa nhiều ðiều này dẫn ñến một kiểu thoái hoá và ô nhiễm môi trường ñất do sử dụng phân bón không hợp lý nếu không có biện pháp khắc phục kịp thời thì sẽ rất khó khăn ñể tạo lập một nền nông nghiệp phát triển bền vững (Nguyễn Vy, 2003)
Bón phân vừa là biện pháp kỹ thuật vừa là yếu tố ñầu tư chi phí sản xuất chiếm tỷ
lệ khá lớn trong trong tổng chi phí sản xuất của người nông dân vì vậy việc sử dụng hiệu quả phân bón luôn là mong muốn của người nông dân ðể nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón và giảm thiểu tác ñộng xấu ñến môi trường ñất, nước và không khí của việc bón phân cần quan tâm xây dựng ñược một quy trình bón phân hợp lý Một quy trình bón phân hợp lý cho cây trồng sẽ hạn chế ñược ñến mức tối ña nguy cơ gây ô nhiễm môi trường từ phân bón trong sản xuất nông nghiệp Vì quy trình bón phân hợp
lý có xem xét chi tiết các nội dung cụ thể của việc bón phân: Loại phân bón, lượng phân bón, dạng phân bón và phương pháp bón phân trên cơ sở khảo sát các vấn ñề liên quan tới việc sử dụng phân bón là: ñặc ñiểm cây trồng, ñặc ñiểm ñất trồng, ñặc ñiểm khí hậu thời tiết, chế ñộ luân canh cây trồng, kỹ thuật trồng trọt, chế ñộ tưới và ñặc ñiểm của các loại phân bón ðể trên cơ sở ñó việc bón phân sẽ bón ñúng ñất, bón ñúng cây, ñúng thời gian, ñúng chủng loại, ñúng liều lượng và ñúng tỉ lệ với các phương pháp xử lý phù hợp Hạn chế phú dưỡng nguồn nước chủ yếu tập trung vào ngăn ngừa xói mòn và rửa trôi Bón ñạm vào tầng khử của ñất lúa, giữ ñạm dưới dạng NH4+, ngăn